Thứ Ba, 12 tháng 2, 2013

  
ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM 
TỪ CÁI NHÌN CỦA GIỚI NGHIÊN CỨU MỸ



Từ sau Đệ nhị thế chiến và chạy dài trong nhiều thập niên, chíến lược đối ngoại của Mỹ tại Á châu đòi hỏi lãnh đạo ba nuớc bị qua phân trên tuyến đầu Cọng sản – Tư Bản ở Tây Thái Bình dương  là Đài Loan, Nam Hàn và Nam Việt Nam, một điều kiện quan trọng trong “khế ước làm đồng minh” với Mỹ: Đó là chống và/hoặc chặn (confront and/or contain) Cọng sản một cách hữu hiệu. Hoàn tất được điều kiện đó, muốn gì Mỹ cũng cho, tồi tệ mấy Mỹ cũng chịu.
Do đó mà cũng như thái độ như đối với các nhà độc tài (nhưng đồng minh) ở Trung Đông và Nam Mỹ, chính quyền Mỹ không quan tâm đến, thậm chí nhiều lúc còn cổ vũ cho, hành động độc tài và thái độ cứng đầu của Park Chung Hee, tệ trạng tham nhũng và hệ thống đảng trị của Chiang Kai Shek, cơ chế  gia đình trị và chính sách Công giáo trị của Ngô Đình Diệm. Mỹ chỉ muốn và cần họ chống Cọng cho hữu hiệu, không hữu hiệu thì “đi chổ khác chơi”. 

Vì vậy mà ông Park thì làm Tổng thống được đến 18 năm (1961-1979), ông Chiang được đến 20 năm (1928-1948). Còn ông Ngô, mất lòng dân miền Nam, lại đặc biệt phản bội quân miền Nam bằng âm mưu thỏa hiệp với Hà Nội, là không những đạp lên Hiến pháp Đệ nhất Cọng hòa mà còn vi phạm trắng trợn điều khoản số một là “chống Cọng hữu hiệu” của khế ước với Mỹ, nên chỉ làm Tổng thống được 8 năm (1955-1963). Đó là lý do tiên quyết nhất và căn bản nhất vì sao Mỹ, tác nhân và nhà đầu tư duy nhất trong việc khai sinh và nuôi dưỡng chế độ Đệ Nhất Cọng hòa, cuối cùng đã phải đồng ý và ủng hộ quân dân miền Nam lật đổ ông Diệm, với giả định rằng lãnh đạo của một miền Nam không-Diệm sẽ chống Cọng hữu hiệu hơn. Đó là về phía Mỹ, còn từ quan điểm của quần chúng miền Nam sau nhiều năm là nạn nhân của chế độ, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã tóm tắt trong một câu rất ngắn mà thật tuyệt đối đúng: “Bảo là người Mỹ đã giết Diệm. Không! Diệm đã chết trong lòng dân tộc từ lâu. Mỹ chỉ đến lượm xác sống của y.”  [Trích từ Người Việt Đáng Yêu, (Lời Mở Đầu) Nhà xuất bản Sáng Tạo, Sài Gòn 1965]


 Ông Park (1917-1979)              
Ông Chiang (1887-1975)
    
 Ông Ngô (1901-1963), với Mỹ và Vatican
Khi nghiên cứu về ông Ngô Đình Diệm và chế độ của ông, một mảng tài liệu rất lớn không thể bỏ qua là số lượng đồ sộ của các tác gia Mỹ.  Google cụm từ “ngo dinh diem American author”, ta có đến 88,900 đường nối (tính đến 19-1-2013). Lý do đơn giản là vì ông Diệm, cũng như chế độ của ông, là xuất sinh từ Mỹ, được Mỹ ủng hộ triệt để và toàn diện, và Mỹ lại đóng một vai trò tuy gián tiếp nhưng quan trọng trong quá trình tan rã của chế độ nầy. Vòng quay “sinh ra - lớn lên - chết đi”, ba giai đoạn của một “đời” chế độ, đều có vai trò áp đảo của Mỹ!
 
Trong mảng tài liệu to lớn đó, chúng ta đặc biệt quan tâm đến những nghiên cứu của các học giả độc lập. Tư cách người trí thức Mỹ, kỹ năng nghiên cứu chuyên nghiệp, và không gian học thuật Mỹ đã cho phép những công trình của họ có độ tin cậy cao (khác hẳn với tuyệt đại đa số những bài viết “nghiên cứu” chỉ ở mức độ tuyên truyền xã ấp của người Mỹ gốc Việt ở hải ngoại, nhất là khi tác giả những “nghiên cứu” nầy lại có gốc gác đồng chí đồng đạo với chế độ cũ). Những tên tuổi lẫy lừng trong lãnh vực nghiên cứu về chủ đề Việt Nam nói chung, Ngô Đình Diệm nói riêng, như Malcolm Browne, Joseph Buttinger, Bernard Fall, Frances Fitzgerald, Cabot Lodge, Wayne Cole, David Halberstam, Stanley Karnow, Edward Lansdale, William Lederer, Michael MacClear, Avro Manhattan, Jerrold Schecter, Robert Scigliano, Robert Shaplen, Neil Sheehan, Denis Warner, … đã cống hiến những tác phẩm mà nay đã  trở thành kinh viện, và hầu hết được đưa vào danh sách tham chiếu của các chương trình giáo dục đại học tại Mỹ.
*     *
*
Chúng tôi xin chọn 20 tài liệu dưới đây, như một mẫu tiêu biểu, để qua đó xem giới học giả Mỹ (và 3 đồng nghiệp người Anh) đã mô  tả    đánh giá ông Diệm, và chế độ của ông, như thế nào.  Đồng thời, cũng để xem họ lý giải một số hiện tượng văn hóa, chính trị, quân sự … đã làm nền cho sự sụp đổ tất yếu của chế độ Diệm ra sao.
1-    "Vietnam: Crisis of Conscience" của Robert McAfee Brown, Abraham J. Heschel & Michael Novak, Associated Press, New York 1967, trang 30. Ông  Robert McAfee Brown là Tiến sĩ Tôn giáo ở Columbia University, giáo sư Stanford University, Mục sư Tin Lành.








Ký giả người Úc Denis Warner viết “Trong nhiều năm, cái chế độ bạo ngược chuyên chế mà Tây phương đồng minh với ở Saigon (chế độ Ngô Đình Diệm) thì còn tệ hơn là cái chế độ mà Tây phương đang chiến đấu để chống (chế độ CS)”.  Ông Diệm và gia đình ông ta đã giết hoặc lưu đày tất cả những khả th đối lập.  Ông Diệm đã “mất đi sự tin cậy và trung thành của dân chúng” như Bộ Trưởng McNamara đã nhận định ngày 26 tháng 3, 1964.
(The Australian writer Denis Warner wrote that "the tyranny the West allied with in Saigon was in many years worse than the tyranny it was fighting  against."  Diem and his family had murdered or exiled all potential  opposition. Diem had "lost the confidence and loyalty of his people," as Secretary McNamara put it on March 26, 1964.).
2-    "Fire In The Lake" của Frances Fitzgerald, Vintage Books, New York 1985, trang 134-139. Bà Frances FitzGerald là nhà báo (The New Yorker, Foreign Policy, …), nhà nghiên cứu, khôi nguyên hai giải thưởng báo chí Pulitzer và U.S. National Book Award in Contemporary Affairs. Bà từng là Phó Chủ tịch của tổ chức Văn bút Quốc tế PEN International.
Cái chất công giáo của ông Diệm, không hề mở mắt ông ta đến với những ý tưởng mới, mà chỉ thuyết phục ông ta là cai trị bằng nghi lễ và huấn thị đạo đức là có thể thành công, mà nó có vẻ như vậy trong các làng mạc ở miền Bắc và Trung sống trong cái vỏ bằng sắt và điều khiển bởi các linh mục.
Cái mà ông ta không ý thức được là cái kiểu cai trị thiển cận như vậy của các giáo xứ có thể thực hiện chỉ vì người Pháp đã bảo vệ họ và tổ chức nền hành chánh quốc gia.  Do đó, tham vọng của ông ta nhằm phục hồi xã hội cổ xưa giống như là của những tên thực dân Pháp, coi mình như cha người ta, đã chống những chương trình cải cách của những giới chức hành chánh nơi thành thị – sự khác biệt là trong khi người Pháp giữ lãnh vực hiện đại cho riêng họ thì ông Diệm không nhận ra được sự quan trọng của vấn đề hiện đại hóa.  Đối với ông ta, thế giới hiện đại là Sài-Gòn, cái thị trấn ký sinh trùng đó đã trở nên béo mập bởi máu của thôn quê và lợi lộc của Tây phương...
Những ký giả như Robert Shaplen đã chỉ trích ông Diệm, như làm cho những nông dân xa lánh vì những biện pháp đàn áp của ông ta.
Một số đông những giới chức và ký giả, kể cả những người có nhiều kinh nghiệm và có khuynh hướng chính trị khác nhau như Douglas Pike, Chester Bowles, và chuyên gia chống nổi loạn  người Anh, Robert Thompson, đều coi ông Diệm như là kẻ thù của chương trình chống Cộng.
Trong tất cả những năm cầm quyền, Ngô Đình Diệm chỉ có một đồng minh ở thôn quê, đó là những người Công giáo, đặc biệt nhất là những người di cư từ ngoài Bắc vào.  Ngay từ đầu, ông Diệm dùng trong bộ máy hành chánh phần lớn là những người Công giáo, và thiên vị các làng Công giáo đối với phần còn lại của quốc gia.  Những giới chức của ông Diệm, làm việc chặt chẽ với các linh mục, đem phần lớn viện trợ Mỹ cho các làng Công giáo, và phần lớn những nông sản.  Họ cho những người Công giáo quyền khai thác lâm sản và độc quyền sản xuất loại hàng hóa nông sản mới do các kỹ thuật gia Mỹ đưa vào giúp.  “Theo đạo có gạo mà ăn” là một câu tục ngữ khi xưa của người Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Dưới thời ông Diệm, người dân Việt đã phải theo cái lệnh này.  Đặc biệt ở miền Trung, hàng ngàn người, trong vài trường hợp hầu như toàn thể khu định cư, theo đạo để tránh những dịch vụ cỏ vê của chính phủ, hoặc để tránh biện pháp tái định cư trong vài vùng rừng rú hay sình lầy gian khổ – để giúp những người Công giáo lân cận. Nuôi người Công giáo trong sự tổn hại của phần còn lại của dân chúng, lẽ dĩ nhiên, là một chính sách thiển cận, nhưng ông Diệm không thấy một đường lối nào khác, và Mỹ cũng không đề nghị cho ông Diệm một đường lối nào khác.
 (Diem's Catholicism, far from opening him up to new ideas, only persuaded him that government by ritual and moral instruction could work, as indeed it seemed to in the ironclad, priest-ridden villages of the north and center.
 What he did not realize was that such parochial governments could operate merely because the French protected them and organized the administration of the country.  His ambition to restore the old society therefore resembled that of the paternalistic French colons who had opposed the reformist programs of the metropolitan administrators - the difference being that while the French wished to keep the modern sector for themselves, Diem did not recognize its importance.  For him, the modern world was Saigon, that parasite city that fattened from the blood of the countryside and the lucre of the West.
... Journalists, such as Robert Shaplen, criticized Diem for alienating the peasants by his oppressive measures.
 … A host of officials and journalists, including such experienced and politically diverse men as Douglas Pike, Chester Bowles, and the British counterinsurgency expert, Sir Robert Thompson saw Diem as the enemy of the anti-Communist project.
... In all the years of his reign Ngo Dinh Diem found only one ally in the countryside, and that was the Catholics, most particularly the northern refugees.  From the beginning he staffed his administration heavily with Catholics and favored the Catholic villages over all the rest.  The Diemist officials, working closely with the priests, saw to it that the Catholic villages took the bulk of US relief aid, the bulk of agricultural credit.
They gave the Catholics the right to take lumber from the national reserves and monopoly rights over the production of the new cash crops introduced by the American aid technicians.  "Turn Catholic and have rice to eat", went the old Vietnamese saying under the French regime.  Under Diem the South Vietnamese continued to follow the injunction.  In Central Vietnam particularly, thousands of people, in some cases virtually whole settlements, turned Catholics so as to escape the government corvés or to avoid resettlement - for the benefit of their Catholic neighbors - into some hardship zone of jungle and swamp.  To feed the Catholics at the expense of the rest of the population was, of course, a shortsighted policy, but Diem saw no alternative, and the Americans offered him none.).
3-    "Background to Vietnam" của Bernard Newman.  Signet Books, New York 1965, trang 117. Ông Bernard Newman là Sử gia người Anh, tác giả của hơn 100 công trình nghiên cứu và sáng tác.
Bất kể hiến pháp viết như thế nào, ông Diệm cai trị như là một nhà độc tài.  Triết lý chính trị của ông ta dẫn xuất từ một nhóm Công giáo Pháp, những người đã đặt ra thuyết Nhân Vị. Thuyết này nhấn mạnh đến nhân cách để chống với quan niệm đưa quần chúng vào kỷ luật của Cộng Sản. Chi tiết về thuyết này phức tạp, khó hiểu đối với mọi người trừ một triết gia.  Một chuyên gia Mỹ được mời đến để cố vấn cho hệ thống thuế má địa phương mô tả thuyết Nhân Vị như là “một pha trộn lộn xộn của những sắc lệnh của giáo hoàng và kinh tế mẫu giáo, tổ hợp với một sự nghi ngờ những tư nhân thương gia, một sự e ngại đầu tư ngoại quốc, và một quan niệm là không thể thành đạt được gì nhiều  ở Việt Nam nếu không có sự kiểm soát của chính phủ.”
Trên thực tế chính phủ đây là chính phủ Diệm.
... Ngày tháng qua, cách cai trị của ông Diệm càng ngày càng trở nên không thể chịu được, và tới năm 1963 ông ta là một nhà độc tài hoàn toàn, chỉ nghe những thân nhân trong gia đình.  Ông ta hoàn toàn xa lạ với quần chúng.  Người ta phàn nàn là ông ta đã trao những chức vụ tốt nhất cho người Công giáo: nhưng những người Công giáo là “người ngoại quốc” – những người di cư từ ngoài Bắc vào.  Sự bất mãn đưa đến phong trào chính trị của Phật Giáo.”
(Whatever the constitution might say, Diem ruled as a virtual dictator. His political philosophy was derived from a group of French Catholics, who formulated a doctrine known as Personalism.  It emphasises human dignity as opposed to the Communist concept of disiplined masses.  Its detail is complicated, and difficult of comprehension to all but a philosopher.  An American expert who was called in to advise on the local system of taxation described Personalism as "a confused mélange of papal encyclicals and kindergarten economics, combined with a suspicion of private businessmen, a fear of foreign capital, and an attitude that little could be accomplished in Vietnam without direct government control."
In practice, it meant government by Diem.
... With the passing months Diem's attitude became more intolerable, and by 1963 he was the complete dictator, seeking advice only from his immediate relatives.  He was completely aloof from the common people.  It was complained that he gave all the best posts and showed all the favor to Catholics: but the Catholics were "foreigners" - refugees from the North Vietnam. The resentment brought about the rise of a Buddhist political movement.).
4- "Backfire: Vietnam - The Myths That Made Us Fight, the Illusions That  Help Us Lose, The Legacy That Haunts Us Today" của Loren Baritz, Ballantine Books, New York 1985, trang 83-85.  Ông  Loren Baritz là Giáo sư, Viện trưởng Đại học Massachussett ở  Amherst, chuyên nghiên cứu về nguồn gốc văn hóa của chiến tranh Việt Nam.
Công giáo Việt Nam phát triển do chính sách  kỳ thị Phật Giáo một cách có hệ thống của ông Ngô Đình Diệm.  Người Công giáo được dùng trong các dịch vụ dân sự, trong khi những người Công giáo sống trong những làng mạc thường không bắt buộc phải làm những công việc nặng nhọc làm đường xá và những việc công cộng.  Không giống như những Chùa Phật Giáo, nhà thờ Công giáo được đặc quyền sở hữu tài sản đất đai, cũng như trong thời Pháp thuộc. Với thời gian, sự kỳ thị đối với tuyệt đại đa số dân chúng này đưa đến những phản đối chính trị  chống ông Diệm của những nhà sư Phật Giáo.
... Diệm làm cho người Mỹ khó chịu không chỉ vì đường lối cai trị của ông ta.  Ông ta thích thú trong việc đàn áp những đối lập chính trị mà ông ta đã bắt giữ lên tới 40,000 người.  Đầu năm 1959, ông Diệm hợp thức hóa sự tàn bạo của mình bằng sự thiết lập những tòa án quân sự để xử những đối lập chính trị và xử tử hình trong vòng ba ngày.  Những tòa án này bắt giữ, điều tra, và tuyên án những kẻ phạm tội.
Ông Diệm hăng say đóng cửa những nhà báo không ủng hộ ông ta.  Tệ hơn cả, ông ta dẹp bỏ cấp lãnh đạo trong các làng mạc và thay thế họ bằng những người của Diệm.  Ông ta đã trở thành một nhà độc tài.
(The Catholic Vietnamese thrived under Diem's systematic discrimination against the Buddhists.  The Catholics were preferred in the civil service, while those who lived in the villages were not always required to do the hard labor of building roads and other public works.  The Catholic Church, unlike the Buddhist Pagodas, had special rights to acquire and own property, as had been the case under the French.  In time, this discrimination against the vast majority of the country would lead to politically lethal protests against Diem by the Buddhist bonzes.
... Diem annoyed Americans not only because his personal way of doing things. He was an enthusiast when it came to repressing his political opponents, of whom he arrested upwards of 40,000.  In early 1959, Diem legalized his brutality by creating special military courts to try political opponents and to pass sentences of death in no more than three days.  These courts made the arrests, conducted the inquiries, and sentenced the guilty.
... Diem closed newspapers that did not support him with the requisite fervor. Worst of all, he destroyed the leadership in the villages and replaced it with his own appointees.  He had become a dictator.)
5.  "A Bright Shining Lie" của Neil Sheehan, Vintage Books, New York 1989, trang 143. Ông Neil Sheehan tốt nghiệp Harvard, Trưởng phòng Thông tấn xã UPI tại Việt Nam. Ông cũng là thông tín viên của The New York Times, khôi nguyên giải báo chí Putlizer và National Book Award.  
Lansdale để cho những tiên kiến của mình đưa tới những giả định sai lầm... Lansdale nghĩ rằng những người Công giáo di cư từ miền Bắc là những người yêu nước đã “chiến đấu giành lại sự tự do của đất nước từ người Pháp”.  Ông ta không nhìn thấy sự sai lầm nào trong vấn đề  Mỹ chỉ tin cậy vào sự trợ giúp đặc biệt của người Công Giáo.  Ông ta không nhìn thấy vấn đề có một người Công Giáo làm tổng thống của cái mà ông ta quan niệm là “Việt Nam Tự Do” là không thích hợp.
Công giáo Rô Ma là một thiểu số có nhiều tỳ vết ở Việt Nam.  Lansdale lo việc phân biệt giữa người Mỹ và những tên “thực dân” Pháp.  Điều ông ta làm là đưa ra sự phân biệt tuy chẳng có gì khác nhau.. Chỉ dựa vào người Công giáo giúp đỡ, và bằng cách đặt một người Công Giáo lên cầm quyền ở Saigon, ông ta đã chứng tỏ là Mỹ đã nhảy vào thay thế người Pháp.  Những người Việt Nam theo đạo Công giáo đã được người Pháp sử dụng như là một đạo quân thứ 5 để xâm nhập Việt Nam trước thời thuộc địa và những người Công Giáo đã được Pháp tưởng thưởng cho sự hợp tác của họ với những tên thực dân Pháp.  Người Công Giáo thường bị coi như là thuộc một tôn giáo”ngoại lai”, “không phải là Việt Nam”.  Với sự ra đi của người Pháp, hiển nhiên là người Công Giáo phải tìm một một ngoại bang khác để bảo vệ họ.  Họ nói với Lansdale những gì mà họ cho rằng Landale muốn nghe...
… Trong sự hướng dẫn ông Diệm của Lansdale đến thành công bằng cách diệt các giáo phái dựa trên lý thuyết Diệm là Magsaysay để lập một chính phủ tập trung quyền lực mới, không bao giờ Lansdale lại nghĩ rằng ông Diệm bắt đầu chính sách cai trị của mình bằng cách loại bỏ những người chống Cộng hữu hiệu nhất ở miền Nam.
Dòng họ Ngô Đình tiến tới sự áp đặt trên miền Nam Việt Nam cái tôn giáo Công giáo ngoại lai của họ, đảng Công giáo bảo thủ từ ngoài Bắc vào và từ vùng quê hương của họ ở miền Trung.  Ông Diệm và gia đình bổ nhiệm những sĩ quan chỉ huy đơn vị, những nhân viên hành chánh và cảnh sát bằng những người Công giáo, từ miền Bắc và từ miền Trung, quê hương của ông Diệm. Ông Diệm và gia đình bổ nhiệm những người Công giáo vào cấp chỉ huy quân đoàn, hành chánh và cảnh sát.  Nông dân ở miền đồng bằng sông Cửu Long thấy mình bị cai trị bởi những tỉnh trưởng, hạt trưởng, bởi những viên chức hành chánh ngoại lai và thường là cao ngạo và tham nhũng...
(Lansdale let his preconceptions lead him to false assumptions...Lansdale thought the Catholic refugees from the North were Vietnamese patriots who had "fought for their country's freedom from the French". He saw nothing wrong with the US singling out these Catholics for special assistance. He saw nothing inappropriate about having a Catholic as president of what he perceived to be a "Free Vietnam"
Roman Catholics were a tainted minority in Vietnam.  Lansdale was anxious to draw a distinction between Americans and French "colonialists."  What he did was to make the distinction one without a difference...By singling out the Catholics for help, and by putting a Catholic in office in Saigon, he announced that the US was stepping in to replace the French.  Vietnamese converts to Catholicism had been used by the French as a fifth column to penetrate precolonial Vietnam and then had been rewarded by the colonizer for their collaboration.  They were popularly regarded as a foreign-inspired, "un-Vietnamese" religious sect.  With the French leaving, the Catholics were naturally seeking another foreign protector.  They told Lansdale what they sensed he wanted to hear.
...  As Lansdale guided Diem to success in crushing the sects on the theory that Diem was the Magsaysay to form a new and central government, it would never have occured to Lansdale that Diem was beginning his rule by eliminating the most effective OPPONENTS of the Communists in the South.
...  The Ngo Dinhs proceeded to impose on South Vietnam what amounted to their own alien sect of Catholics, Northern Tories, and Central Vietnamese from their home region.  Diem and his family filled the officer corps of the army and the civil administration and the police with Catholics, Northerners, and Central Vietnamese they trusted.  The peasants of the Mekong delta found themselves being governed by province and district chiefs, and by civil servants on the province and district administrative staffs, who were outsiders and usually haughty and corrupt men.)
6.  "America in Vietnam" của John Guilmartin, United Press International/Bettmann, England 1991, trang 69. Ông John Guilmartin là Tiến sĩ Đại học Princeton, Giáo sư Lịch sử Quân sự tại Đại học Tiểu bang Ohio. Ông cũng là Trung tá Không quân tại chiến trường Việt Nam.

Những ảnh hưởng đối nghịch của sự thiếu khả năng và tính toán sai lầm của ông Diệm không chỉ chấm dứt ở sự thất bại về quân sự chống Việt Cộng.  Nghi ngờ tất cả những người không có cùng đức tin Công giáo của mình, và hoan hỉ với sự thành công trong việc dẹp bỏ các giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo, họ khởi sự chiến dịch chống Phật Giáo.
 (The adverse effects of the Diem's ineptitude and miscalculation did not end with military failure against the Viet Cong.  Suspicious of all who did not share their Catholic faith, and having enjoyed success in suppressing the Hoa Hao and Cao Dai, they embarked on an anti-Buddhist campaign.)
7.  "Vietnam: The Valor and the Sorrow" của Thomas D. Boettcher, Little Brown & Company, Boston 1985, trang 150. Ông Thomas D. Boettcher là chuyên gia nghiên cứu về Quân sử Mỹ. Hai tác phẩm best seller của ông là “Vietnam: The Valor and the Sorrow” và “First Call: The making of the Modern US Military”.
“Trong 10 đô la viện trợ thì 8 được dùng cho nội an chứ không dùng cho công tác chiến đấu chống du kích Cộng sản hay cải cách ruộng đất.  Ông Diệm lo lắng về những cuộc đảo chánh hơn là Cộng sản.
...Như là hậu quả của những biện pháp đàn áp càng ngày càng gia tăng, sự bất mãn của quần chúng đối với ông Diệm cũng càng ngày càng tăng, bất kể là toan tính của ông Diệm nhằm dập tắt sự bất mãn này trong mọi cơ hội.  Hàng triệu nông dân ở những vùng quê trở thành xa lạ đối với ông Diệm.  Không lạ gì, hoạt động của Cộng sản gia tăng cùng với sự bất mãn của quần chúng.  Và những biện pháp đàn áp của ông Diệm cũng gia tăng theo cùng nhịp độ.  Nhiều ngàn người bị nhốt vào tù.
Cho tới năm 1960, điều khác biệt duy nhất giữa hai chính quyền Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh là ở những lá cờ của họ.”
(Eight of ten American aid dollars went for internal security, not to fight Communist guerrillas or implement reforms such as land redistribution.  Diem was more worried about coups than Communists.
… As a consequence of his increasingly repressive internal measures, popular discontent with Diem gradually intensified, despite his attempt to squelch it at every opportunity.  The millions of peasants in the countryside became estranged from him..  Not surprisingly, Communist activity intensified as discontent increased.  And Diem's repressive measures increased accordingly. Thousands were put in jail..
By 1960, the only difference between the governments of Ngo Dinh Diem and Ho Chi Minh was their flags.)
8.  "The Indochine Story" của The Committee of Concerned Asian Scholars, A Bantam Book, New York 1970, trang 32 & 34. Committee of Concerned Asian Scholars (Ủy ban những học giả về Châu Á đang quan tâm) là một tập hợp các Giáo sư trẻ và sinh viên các Đại học có dạy “Á châu học” (Asian Studies) gồm Harvard, Stanford, University of Michigan, UC Berkeley, và Columbia University.
“Một nhân vật Mỹ ủng hộ ông Diệm lúc đầu kết luận:  Lạm dụng quyền lực, độc tài, tham nhũng, coi thường cấp dưới, và không đếm xỉa gì đến nhu cầu của dân chúng một cách ác độc, đó là tấm gương mà gia đình họ Ngô để cho những bộ trưởng, nhà lập pháp, tướng lãnh, tỉnh trưởng, trưởng làng mà họ Ngô dùng như những quân cờ noi theo.
Đàng sau gia đình nhà Ngô là Mỹ.  Ở dưới gia đình này chẳng có gì mấy.  Gia đình này đã trải cái bóng của họ trên xã hội Việt Nam; tuy nhiên cái rễ của họ thật sự chỉ cắm nông vào đất Việt.  Điều này định trước những phương pháp ông Diệm dùng để kiểm soát đất nước...  Chỉ có một đường lối:  đàn áp và củng cố quyền lực trong tay những anh em và thuộc hạ của ông ta.  Săn lùng toàn diện những người bất mãn được tổ chức ở thôn quê năm 1956, và tăng gia cường độ khi tình hình suy kém.
75 ,000 người hay hơn nữa bị giết trong chiến dịch này.  Còn nhiều người hơn nữa bị tống giam bởi  sắc lệnh số 6 của tổng thống, ký trong tháng 1, 1956.  Sắc lệnh nói: “Những cá nhân coi là nguy hiểm cho quốc phòng và an ninh chung có thể bị bắt giam trong những trại tập trung do lệnh của cơ quan hành pháp.  Tình trạng trong những trại tập trung của ông Diệm, chỉ bị phanh phui sau khi ông Diệm đổ, thật sự nhơ nhớp.  Cố ý để cho chết đói, cố ý làm cho mù, cố ý hành hạ..., danh sách này thật là dài.”
(An early American supporter of Diem concluded: Abuse of power, nepotism, corruption, contempt for inferiors, and cruel disregard of the needs of the people were the example set    by the Ngo's "Family" for the ministers, legislators, generals, province chiefs, and village commissioners whom they used as pawns.
Behind the family stood the US.  Below it stood very little at all.  It threw its shadow over all Vietnamese society; yet its roots penetrated shallowly indeed into Vietnamese soil.  This predetermined the methods by which Diem could extend his control over the country...Only one way was open: repression and further consolidation of power in the hands of his brothers and their followers...Full scale manhunts against dissidents were organized on the rural areas in 1956, and increased in later years as the situation deteriorated.
75,000 or more people were killed in this campaign.  As many or more were incarcerated under Presidential Ordinance No. 6, signed in January 1956 "Individuals considered dangerous to national defense and commun security," it said, could be confined by executive order in a "concentration camp." Conditions in Diem's "reeducation centers," brought to light only after his overthrow in 1963, were sordid indeed.  Deliberate starvation, deliberate blinding, deliberate maiming.  The list is long.")
9.  "The Story of Vietnam" của Hal Dareff, An Avon Camelot Book, New York 1966, trang 108. Ông  Hal Dareff  là một tác giả Mỹ độc lập. Ông viết nhiều đề tài và hai tác phẩm nỗi tiếng của ông là “The Story of Vietnam: A Background Book on the War in Southeast Asia” và “From Vietnam to Cambodia: A Background Book about the Struggle in Southeast Asia”.
“Nay ông Diệm đã thắng mọi kẻ thù, anh em nhà Diệm muốn chắc rằng không ai có thể bứng họ đi.  Ở ngoài mặt, Nam Việt Nam là một thể chế Cộng Hòa với một hiến pháp mới toanh hứa hẹn tự do và dân chủ cho quần chúng.  Tuy nhiên, thực tế thì lại trái ngược hẳn... Ông Nhu là cánh tay phải của ông Diệm. Ông ta tổ chức gian lận bầu cử, đưa vào quốc hội những tay sai của ông ta, và sai bọn Cần Lao đi rình mò khắp nước để kiếm những người chống đối ông ta.  
Chế độ Diệm bắt đầu thoái trào vào đầu năm 1963.  Tổng thống cai trị dân trong dinh thự của mình như là một thể chế quân chủ, cắt lìa khỏi quần chúng.  Sự thù ghét ông Diệm và gia đình ông ta gia tăng đến độ người ta có thể cảm thấy đầy trong bầu không khí ở Saigon.  Tin đồn về đảo chánh loan truyền trong thành phố hầu như hàng ngày.  Trong những hoàn cảnh như vậy, ông Diệm chỉ lo bám chặt vào quyền lực.  Cuộc chiến (chống Cộng) trở thành thứ yếu.  Sĩ quan được thăng cấp nếu giữ được mức tổn thất thấp.  Chỉ có một cách chắc chắn giữ được như vậy – không tác chiến.  Không tác chiến đã trở thành một cách sống đối với một số cấp chỉ huy và là cách duy trì địa vị.
 ... Cuộc tranh chấp giữa ông Diệm và các Phật tử đã được tích lũy kể từ ngày ông Diệm lên làm thủ tướng năm 1954.  Ông Diệm, một tín đồ Công giáo, đương nhiên là cảm thấy thoải mái hơn đối với những tín đồ Công giáo khác.  Nhiều chức vụ chỉ huy trong chính quyền và quân đội được trao cho những người Công giáo, những người này được đặc quyền đặc lợi  làm tiền trong những thương vụ của chế độ. Trong số 15 triệu dân ở miền Nam Việt Nam, hơn 1 triệu một chút là người Công giáo.  Phần còn lại, phần lớn là Phật tử, phẫn nộ vì chính sách thiên vị người Công giáo.  Sự đối xử khác biệt này còn trắng trợn hơn ở các tỉnh lỵ, nơi đây các linh mục địa phương và các giới chức chính quyền, hầu hết là Công giáo, có toàn quyền.  Khi các ấp chiến lược được dựng lên, những người Công giáo được miễn làm việc và những người phi-Công giáo bị đưa vào chỗ thay thế họ để làm những công việc lao dịch.  Những vùng đất mới được mở mang và phát triển, người Công giáo được chọn những miền đất phì nhiêu ở những miền duyên hải có an ninh.  Những đất đai dành cho Phật tử ở sâu trong nội địa, ở đây họ phải lao động dưới sự đe dọa của Việt cộng.   Nhiều Phật tử theo đạo để được sống dễ dàng hơn.”
 (Now that Diem had won out over all his foes, the brothers wished to make sur that no one else would unseat them.  On the surface, South Vietnam was a republic with a brand-new constitution promising freedom and democracy to its people.  In practice, however, the very opposite was true...Nhu was Diem's right arm...He fixed elections, packed the National Assembly with his henchmen and hirelings, and sent his Can Lao prowling the country in search for dissidents..
Twilight had begun to settle over the regime of Ngo Dinh Diem as the year 1963 began.  The president ruled in his palace like a monarch cut off from his people.  Hatred of him and his family mounted until the air of Saigon seethed with it.  Runors of plots and coups swirled through the city almost daily.  In these circumstances, Diem sought only to hold on to his power.  The war became secondary.  Officers were promoted when they kept the casualty lists down.  There was only one sure way to do that - not to fight.  Not fighting became a way of life with some commanders and a way of keeping their jobs.
... A showdown between Diem and the Buddhists had been building ever since he became premier in 1954.  Diem, a Catholic, naturally felt more at home with other Catholics.  Many of the leading posts in the government and army were held by Catholics, who were also privileged when it came to making money out of business deals engineered by the regime.
Of the 15 million people of South VN, a little more than a million were Catholic.  The rest, mainly Buddhist, resented the favoritism shown Catholics. The difference in treatment was even more blatant in the provinces where the local priests and government officials, mostly Catholic, too, were all-powerful.  When strategic hamlets were built, the Catholic inhabitants were exempted from working and non-Catholics were brought in to labor in their places.  When new land was opened for development, Catholics got the pick of the land in the safe coastal regions.  The land given to Buddhists was inland, where they would have to work under the menacing shadow of the Viet Cong.  Many Buddhists, seeing where the grass was greener, tried to become Catholics.)
10.  The Two Viet-Nams" của Bernard B. Fall, Frederik A. Praeger Publisher, New York 1967. Ông Bernard B. Fall là Sử gia, Chuyên gia chính trị học, tốt nghiệp Đại học John Hopkins, Giáo sư Đại học Howard. Ông cũng là Phóng viên chiến trường và là chuyên gia về Đông Dương trong hai cuộc chiến Pháp-Việt và Mỹ-Việt tại đấy.
 Trang 236: Tính hiếu chiến của ông Ngô Đình Diệm thuộc loại như thế này: Đức tin của ông ta ít có tính chất từ ái của các tông đồ hơn là tính hiếu chiến tàn nhẫn của  một  Đại Phán Quan Tây Ban Nha của Tòa Án Dị Giáo (Torquemada); và  Quan điểm của ông ta về chính quyền thì ít có tính chất của một tổng thống theo hiến định của một nước cộng hòa hơn là một bạo chúa theo truyền thống quan lại phong kiến . Một người Pháp theo Công Giáo khi nói chuyện với ông ta muốn nhấn mạnh về ảnh hưởng văn hóa Pháp đối với ông Diệm đã nhấn mạnh những từ như "tín ngưỡng của chúng ta",  thì ông Diệm thản nhiên trả lời rằng: "Ông biết mà, tôi tự coi tôi như là một người Công Giáo Tây Ban Nha",  có nghĩa là,  ông ta là một đứa con tinh thần (của Giáo Hội La Mã) của một đức tin hung hăng, hiếu chiến hơn là một tín đồ dễ dãi và khoan dung giống như người Pháp theo hệ phái Công Giáo Gallican." 
(Ngo Dinh Diem's militancy is of that kind: His faith is made less of the kindness of the apostles, than of the ruthless militancy of the Grand Inquisitor; and his view of government is made less of the constitutional strength of a President of the republic than of the petty tyranny of a tradition-bound mandarin. To a French Catholic interlocutor who wanted to emphazise Diem's bond with French culture by stressing "our common faith," Diem was reported to have answered calmly: "You know, I consider myself rather as a Spanish Catholic," i.e., a spiritual son of a fiercely aggressive and militant faith rather than of the easygoing and tolerant approach of Gallican Catholicism.)
Trang 250:   “Trong số những người lên cầm quyền cùng với ông Diệm năm 1954-55, KHÔNG MỘT NGƯỜI NÀO còn giữ chức vụ bộ trưởng khi Diệm bị giết năm 1963.  Một vài người bị lưu đày ở Pháp hoặc Mỹ, và một vài người rút lui với thái độ trông chờ ở Saigon.  Một sự dập theo những phương pháp toàn trị của Cộng sản là Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng của Ngô Đình Nhu.  Đảng này trở thành một hệ thống quyền lực hoàn toàn giống như của Cộng sản, với những thành viên mật và chỉ biết nhau trong những tổ 5 người, và những “nhóm hành động” có nhiệm vụ dẹp bỏ mau chóng và kín đáo những người đối lập...  Như vậy, chế độ Diệm sai lầm trong hai phương diện:  Quân đội không bao giờ thực sự hữu hiệu, và các sĩ quan ở quân đoàn thì không trung thành với những ông chủ dân sự  và nhắm mắt làm ngơ trước sự thất bại của chế độ.
Trong sự mô tả đảng Cần Lao, John C. Donnell định nghĩa Cần Lao như là “một đảng chính trị mạnh gồm những thành viên thường tin rằng mình thuộc những đảng chính trị khác và ngự trị những đảng này.”  Nói cách khác, những hoạt động trong hệ thống nội bộ của họ y hệt như của đảng Cộng sản: dò thám bạn bè, xâm nhập đồng minh, và hoạt động như “một quốc gia trong một quốc gia” trong chính guồng máy chính quyền của mình.  Nếu không còn cái gì khác, những điều trên có thể làm cho chế độ Nam Việt Nam mang nhãn hiệu một loại “dân chủ của quần chúng” chống-Cộng mà sự khác biệt lớn nhất đối với người anh em song sinh Cộng sản Bắc Việt Nam là thái độ hành trì Công giáo và là sở hữu chủ của những đồn điền cao su.”
(Of the men who came to power with Diem in 1954-55, NOT ONE still held a cabinet portfolio when he was murdered in 1963.  Some were sent into exile in France or the US, and a few simply retired and maintained a "wait-and-see" attitude in Saigon.  Another imitation of Communist totalitarian methods was Ngo Dinh Nhu's Can-Lao Nhan-Vi Cach Mang Dang, which became the perfect hierarchie paralle’le, with its secret membership and five-men cells whose members knew only each other, and "action groups" that could swiftly and quietly do away with bothersome oppositionists...As it was, the Diem regime erred on both counts: Its army never became really proficient, and its officer corps remained disloyal to its civilian masters and connived in their demise.
In his description of the Can Lao, John C. Donnell defined the Can-Lao as a "powerful elite political party whose members are commonly believed to belong to other political parties also and to dominate them."  In other words, it did within its own system exactly what a Communist Party would do: It spied on its own friends, infiltrated its own allies, and acted as a "state within a state" in its own government's machinery.  If nothing else, this would brand the South Vietnamese regime as a sort of anti-Communist "people's democracy" whose major difference from its Communist North Vietnam TWIN was its attitude toward the practice of Catholicism and the ownership of rubber plantations.)
11.  "An Eye For The Dragon" của Dennis Bloodworth; Farrar, Straus & Giroux, New York 1970, trang 209. Ông Dennis Bloodworth là Thông tín viên Viễn Đông của tạp chí Anh The Observer, ông là một chuyên gia về châu Á trong nhiều thập kỷ (1930-1970). Từ 1954 đến 1973, ông đặc biệt theo dõi tình hình Đông Dương, và cho ra đời tác phẩm An Eye for the Dragon: South-East Asia.

Cho tới năm 1963 mật vụ của ông Diệm đã bắt giữ hoặc đẩy vào tay những kẻ thù hầu như mọi người quốc gia có tên tuổi đã chiến đấu cho tự do của đất nước trong 20 năm trước.  Ông ta và gia đình đã đàn áp mọi đối lập, chất đầy nhà tù, bịt miệng báo chí, gian lận bầu cử, và bám vào quyền lực.” 
(... By 1963 Diem's secret police had picked up or pushed into the arms of his enemies nearly every prominent nationalist who had fought for the freedom of his country during the previous 20 years.  He and his familly suppressed all opposition, filled the jails, muzzled the press, rigged the elections, and clung to all power…)
12.  " Intervention and Revolution" của Richard J. Barnet, A Meridian Book, New York 1972, trang 233-235. Ông Richard J. Barnet là một Học giả, tốt nghiệp luật sư   Harvard Law School. Sáng lập viên Viện Nghiên cứu Institute for Policy Studies, đã từng là nhân viên Bộ Ngoại giao Mỹ và là thành viên của Council on Foreign Relations.
“Khuyến cáo rằng “nếu bầu cử được tổ chức ngày nay (1956) thì tuyệt đại đa số dân Việt sẽ bầu cho Cộng sản,” Cherne tuyên bố rằng uy tín của Mỹ ở Á Châu tùy thuộc vào sự ngăn chận cuộc bầu cử này.  Phương pháp giải quyết là củng cố lớp người Công giáo ở miền Nam Việt Nam, chỉ có những người này mới có lý do thuộc về lý tưởng chống Cộng.  Nhà văn Công giáo người Anh, Graham Greene, đã mô tả việc Mỹ sử dụng giáo hội Công giáo trong cuộc chiến tranh lạnh ở Việt Nam như sau:
Chính cái ý hệ Công giáo đã  làm cho chế độ của ông Diệm sụp đổ, vì sự sùng tín của ông ta đã bị các cố vấn Hoa Kỳ khai thác cho đến khi giáo hội Công giáo ở Việt Nam ở trong cơ nguy cùng chung số phận bất thiện cảm của người dân Việt đối với Mỹ...Những khoản tiền to lớn được dùng để tổ chức những cuộc đón tiếp quan khách ngoại quốc và tạo nên ý niệm giáo hội Công giáo là của Tây phương và là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh.  Trong những trường hợp hiếm hoi mà ông Diệm đi kinh lý những vùng trước đây bị Việt Minh chiếm, bao giờ cũng có một linh mục ở bên cạnh, và thường là một linh mục Mỹ...
 Điều quan tâm chính của chính quyền Diệm là sự an toàn của chính quyền.  Chính quyền Diệm sợ rằng cuộc bầu cử dự định tổ chức vào tháng 7, 1956 đưa đến sự thắng lợi của Hồ Chí Minh và chấm dứt quyền lực của những chính trị gia không Cộng sản..
Những ước tính của cơ quan tình báo quốc gia CIA, soạn trong tháng 2, 1957, mô tả chế độ Diệm như sau:
Chế độ Diệm phản ánh ý nghĩ của ông Diệm.  Một bộ mặt chính quyền đại diện cho dân được duy trì, nhưng thực chất chính quyền là độc tài.  Quyền lập pháp của quốc hội  bị hạn chế gắt gao; quyền tư pháp chưa phát triển và tùy thuộc quyền hành pháp; và những nhân viên trong ngành hành pháp không gì hơn là những tay sai của ông Diệm.  Không có một tổ chức đối lập nào, dù trung thành hay không, được phép thành lập, và mọi chỉ trích chính quyền đều bị đàn áp...Quyền lực và trách nhiệm tập trung nơi ông Diệm và một nhóm nhỏ gồm có những thân nhân của ông Diệm, những người quan trọng nhất là ông Nhu và ông Cẩn.”
Chế độ độc tài của ông Diệm, dựa trên một mạng lưới mật vụ, tòa án quân sự, và công chức tham nhũng, tuyên bố không những chiến đấu chống Cộng mà cho tới năm 1957 Cộng sản vẫn chưa có hoạt động gì, mà còn chống bất cứ nhóm nào không chắc là trung thành với ông Diệm.  Thật vậy, nhiều người không-Cộng-sản vào tù hơn là người Cộng sản.
 ... Sự chuyên chế của ông Diệm, sự thiên vị trơ trẽn của hắn đối với những người  Công giáo tị nạn từ ngoài Bắc vào so với phần còn lại của dân chúng, và sự bạo hành của hắn đối với mọi người không đồng quan niệm chính trị với hắn đã tạo nên một sự liên kết chống hắn mà hắn rất sợ.”
 (Warning that "if the elections were held today the overwhelming majority of Vietnamese would vote Communist," Cherne declared that American prestige in Asia was dependent upon preventing that result.  The answer was to strengthen the Catholic faction in South Vietnam, who alone among Vietnamese had ideological reasons to be against the communists.  The British Catholic writer Graham Greene has described the American use of the Catholic Church
in fighting the Cold War in Vietnam:
 It is a Catholicism which has helped to ruin the government of Mr. Diem, for his genuine piety...has been exploited by his American advisors until the Church is in danger of sharing     the unpopularity of the US...Great sums are spent on organized demonstration for the visitors, and an impression is given that the Catholic Church is occidental and an ally of the US in the     cold war.  On the rare occasions when Mr. Diem has visited the areas formerly held by the Viet Minh, there has been a priest at his side, and usually an American one.
... The major interest of the Diem government was its own security.  It feared that the elections scheduled for July, 1956, would spell a victory for Ho Chi Minh and the end of power for noncommunist politicians....
The CIA national intelligence estimates prepared in February, 1957, described the Diem regime in these words:
Diem's regime reflects his idea.  A facade of representative government is maintained, but the government is in fact essentially authoritarian.  The legislative powers of the National Assembly are strictly circumscribed; the judiciary is underdeveloped and subordinate to the executive; and the members of the executive branch are little more than the personal agents of Diem.  No organized opposition, loyal or otherwise, is tolerated, and critics of the regime are often repressed...The exercice of power and responsibility is limited to Diem and a very small circle mainly composed of his relatives, the most important being Nhu and Can.
... Diem's dictatorship, supported with a network of informers, military tribunals, and corrupt functionaries, declared war not only on the communists, who until 1957 were quiescent, but also against any group whose personal loyalty was not assured.  Indeed, more non-communists than communists ended up in Diem's jails.
... Diem's despotism, his shameless favoring of Catholic refugees from the North over the rest of the population, and his persecution of all political dissidents produced the coalition against him that he dreaded.)
13.  "Vietnam Revisited" của David Dellinger, trang 35. Ông David Dellinger tốt nghiệp Yale (Mỹ) và Oxford (Anh), ông cũng theo học tại Chủng viện Thần học Union Theological Seminary (New York). Là một Luật sư thuộc đảng Cọng hòa, ông còn là bạn của Tổng thống Calvin Coolidge. Ông là khôi nguyên giải thưởng Peace Abbey Courage of Conscience.

Ngay từ lúc đầu ông Diệm đã có khuynh hướng toàn trị và gia đình trị mà 8 năm sau dư luận quần chúng lên án chính quyền của ông ta. “Khuynh hướng toàn trị” của ông Diệm đã đưa đến việc thành lập một đảng chính trị riêng tư, đảng cần Lao, một đảng duy nhất. 
Đảng Cần Lao cũng phục vụ hắn như là mật vụ, dập theo khuôn mẫu của Nhật Bản trong Thế Chiến II – mà ông Diệm đã nghiên cứu kỹ chi tiết.
Như chúng ta đã thấy, đảng này đã giết hại 90,000 người và cầm tù 800,000 trong đó có nhiều người bị tra tấn.
 … Khi ông Diệm về Việt Nam năm 1954, một người Công giáo theo lệnh của một thế lực ngoại quốc về cai trị một nước mà 80% là Phật tử, CIA đã thuê vài trăm người để hoan hô hắn tại bến tàu.  
Nhưng cả CIA lẫn những giới chức Mỹ ủng hộ ông Diệm đều không làm sao làm ngược được sự kiện là ông Diệm không có sự ủng hộ của quần chúng, chính sách đàn áp đẫm máu của ông Diệm đối với từ các nhà sư Phật giáo và các tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài cho tới những nông dân yêu nước, giới tư sản tôn trọng luật pháp, trật tự và một chút công lý, và những tướng lãnh đối thủ – “kéo theo (và đã xảy ra) tất cả những khó khăn vì một con người với nhân cách như vậy.”
(From the very beginning Diem displayed that tendency toward autocracy and family rule for which the mass media would belatedly condemn his administration 8 years later.
Diem's "tendency toward autocracy" led to the formation of a private political party, the Can Lao, which was the only party.
The Can Lao also served as a secret police, modeled after the system the Japanese used in Vietnam during WWII - which Diem had studied in detail.
It also produced, as we have seen, the death of 90,000 opponents and the imprisonment of another 800,000, with many of them tortured...
... When Diem first arrived in Vietnam in 1954, a Catholic coming to rule at the behest of a foreign power in a country whose population was 80% Buddhists, the CIA had hired a crowd of several hundred "welcomers" to greet him at the dock.
But not even the CIA and Diem's more respectable US backers could permanently counteract his lack of an indigenous base, his bloody suppression of all opposition, from Buddhist monks and members of the Hoa Hao and Cao Dai indigenous religions to peasant patriots, bourgeois devotees of law, order and a modicum of justice, and rival generals - "all the difficulties the presence of such a personality would [and did] entail.")
14.  "Vietnam: Why Did We Go?" của Avro Manhattan, Chick Publication, California 1984, trang 56 & 89. Ông Avro Manhattan là một Triết gia và cũng là tác gia người Anh. Tốt nghiệp Đại học Sorbonne (Pháp) và London School of Economics (Anh), từng được Hoàng gia Anh phong tước Hiệp sĩ Knight of Malta. Ông là tác giả của hơn 20 cuốn sách, chủ yếu về Tòa thánh Vatican, trong  đó có 4 cuốn có liên hệ đến Việt Nam, mà cuốn được tham chiếu nhiều nhất là “Vietnam – Why Did We Go ?
Tổng thống Ngô Đình Diệm của Nam Việt Nam là một ngưòi theo đạo Công giáo cai trị Nam Việt Nam bằng một bàn tay sắt.  Ông ta thật tình tin rằng Cộng sản là ác và giáo hội Công giáo là duy nhất.  Ông ta đã được hồng y Spellman và giáo hoàng Pius XII  trồng vào cái ghế tổng thống.  Ông ta đã biến cải ngôi vị tổng thống thành một nhà độc tài Công giáo, tàn nhẫn nghiền nát những đối lập chính trị và tôn giáo.
Nhiều nhà sư Phật giáo tự thiêu để phản đối những sự bạo hành tôn giáo của ông ta.  Sự bạo hành kỳ thị đối với người phi-Công giáo, đặc biệt là các Phật tử, đã gây nên sự rối loạn trong chính phủ và trong quân đội thì quân nhân đào ngũ hàng loạt.  Điều này đưa đến sự can thiệp quân sự của Mỹ.
Trong chính sách khủng bố này ông ta được sự phụ giúp của hai người anh em Công giáo, người đứng đầu mật vụ (Ngô đình Nhu) và tổng giám mục ở Huế (Ngô đình Thục).
Người ta ghi nhận rằng, và những con số sau đây tuy không được chính quyền chính thức khẳng định nhưng có thể coi là đáng tin cậy, là trong thời gian kinh hoàng từ 1955 đến 1960 – ít nhất là có 24,000 người bị thương, 80,000 bị hành quyết hay bị ám sát, 275,000 người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn hoặc không, và khoảng 500,000 bị đưa đi các trại tập trung.  Đây chỉ là những con số ước tính bảo thủ, khiêm nhường.Đặt quyền lợi quốc gia ra đàng sau để đẩy mạnh quyền lợi tôn giáo của hắn, kết quả là tên độc tài Diệm đã đưa đất nước xuống vực thẳm.”
(President Ngo Dinh Diem of South Vietnam was a practicing Catholic who ruled South Vietnam with an iron fist.  He was a genuine believer in the evil of Communism and the uniqueness of the Catholic Church.  He had originally been "planted" into the presidency by Cardinal Spellman and Pope Pius XII.  He transformed the presidency into a virtual Catholic dictatorship, ruthlessly crushing his religious and political opponents.  Buddhist monks committed suicida by fire, burning themselves alive in protest against his religious persecutions.  His discriminatory persecution of non-Catholics, PARTICULARLY BUDDHISTS, caused the disruption of the government and mass desertions in the army.  This eventually led to US intervention in South Vietnam.
In this terrorization he was aided by his two Catholic brothers, the Chief of the Secret Police and the Archbishop of Hue.
... It has been reckoned, and the figures although lacking any official confirmation are considered to be concretly reliable, that during this period of terror - that is from 1955 to 1960 - at least 24,000 were wounded, 80,000 people were executed or otherwise murdered, 275,000 had been detained, interrogated with or without torture, and about 500,000 were sent to concentration or detention camps.  This is a conservative estimate.
... With the result that by relegating the interest of his country to the background, so as to further the interests of his religion, dictator Diem finally brought his land into the abyss.)
15. "Nobody Wanted War" của Ralph K. White, A Doubleday Anchor Book, New York 1970, trang 91. Ông Ralph K. White là Tiến sĩ Tâm lý học từ Stanford, giáo sư đại học Stanford, Cornell và Ohio State. Ông đã từng là chuyên gia phân tích của CIA, USIA, và  Bộ Ngoại giao Mỹ, và là tác giả của gần 10 tác phẩm về tác động tâm thần trong và sau chiến tranh.

“Ông Diệm, người em dở điên và vợ của y (Nhu và vợ), đã làm cho mọi nhóm quan trọng trong nước, kể cả nhóm chống Cộng thực tế nhất, nhóm này đã thấy rõ gia đình Diệm đã hạ thấp và làm yếu đi cuộc tranh đấu chống Cộng, và sau cùng cả những sĩ quan cao cấp trong quân đội, những người mà mọi tên độc tài không được lòng người phải trông cậy vào họ để sống còn, xa lìa.
Theo Malcolm Browne, chế độ Diệm đã bị cả nước oán ghét.  Nếu nhà Ngô còn cầm quyền cho đến ngày nay (1965) thì chắc chắn là Việt Nam sẽ hoàn toàn là Cộng sản.”
 
(Diem, his half-mad brother Nhu and his brother's wife had alineated one by one every important group in the country, including most of the realistic anti-Communists who saw how the Ngo family was debassing and weakening the anti-Communist struggle, and at last including the upper echelon of the armed forces, on which every unpopular dictator must rely for survival.
According to Malcolm Browne, there was a "sweeping hatred" of the regime throughout the country.  If the Ngo family had remained in charge there is little doubt that Vietnam would be entirely Communist today. (1965).)
16. "The Political Economy of Human Rights. Vol I" của Noam Chomsky and Edward S. Herman, Black Rose Books, Canada 1979, trang 30, 302-303. Ông Noam Chomsky là Tiến sĩ Ngôn ngữ học ở Đại học Pensylvania, giáo sư ở Viện Công nghệ MIT. Ông là cha đẻ một số lý thuyết triết học trong ngôn ngữ học và chính trị học, được mời giảng thuyết và nhận bằng tiến sĩ danh dự ở 37 Đại học, trong đó có 22 Đại học ngoại quốc trên 4 lục địa.

Joseph Buttinger, một cố vấn của ông Diệm lúc đầu và là người  đã bày tỏ sự ủng hộ ông Diệm nồng nhiệt nhất trong thập niên 1950, khẳng định rằng gọi ông Diệm là phát xít thì không thích hợp vì, tuy chế độ Diệm có tất cả những sự xấu xa của chế độ phát xít, ông Diệm thiếu cơ sở quần chúng mà Hitler và Mussolini đã có thể tập hợp được.
… Theo Jeffrey Race, một cựu cố vấn quân sự Mỹ cho Nam Việt Nam có rất nhiều tài liệu về lịch sử Việt Nam cận đại, chính quyền Diệm đã khủng bố người dân nhiều hơn là phong trào cách mạng nhiều – thí dụ, thủ tiêu các cựu kháng chiến quân Việt Minh, bắn pháo binh vào những “làng cộng sản” và bắt bớ những người “có thiện cảm với cộng sản”.  Cũng chính vì những chiến thuật đó mà lực lượng của phong trào cách mạng càng ngày càng gia tằng ở Long An từ 1960 đến 1963.
… Sử gia của Ngũ Giác Đài  viết về “bệnh gần như hoang tưởng của ông Diệm lo lắng về vấn đề an ninh,” đưa đến những chính sách “khủng bố toàn diện nông dân Việt Nam, và làm suy giảm trầm trọng sự ủng hộ chế độ của quần chúng.”
Sự dùng bạo lực quá mức và trả thù những người cựu kháng chiến của Diệm là sự vi phạm trắng trợn Hiệp Định Genève (Khoản 14c), cũng như là sự từ chối không thi hành điều khoản tổng tuyển cử trên toàn quốc (vào tháng 7, 1956) của Diệm.  Lý do chính mà Diệm từ chối không thi hành điều khoản này vào những năm 1955-56 (tổ chức và tổng tuyển cử trên toàn quốc) thật là hiển nhiên: viên quan lại ly hương nhập cảng từ Mỹ vào chỉ có một sự ủng hộ tối thiểu của quần chúng và ít có hi vọng thắng trong một cuộc tổng tuyển cử ... Ông Diệm là mẫu người điển hình của một tên bạo chúa phát xít, dùng khủng bố để bù đắp cho sự thiếu hụt sự ủng hộ của quần chúng ...”
(Joseph Buttinger, an early advisor to Diem and one of his most outspoken advocates in the 1950s, contends that the designation "fascist" is innapropriate for Diem because, although his regime had most of the vicious characteristics of fascisme, he lacked the mass base that a Hitler or Mussolini could muster.
... According to Jeffrey Race, a former US Army advisor in South Vietnam who had access to extensive documentation on recent Vietnamese history, ..the government terrorized far more than did the revolutionary movement - for example, by liquidations of former Vietminh, by     artillery and ground attacks on "communist villages" and by roundups of "communist sympathizers".  Yet it was just these tactics that  led to the constantly increasing strength of the revolutionary movement in Long An from 1960 to 1963.
... The Pentagon historian refers to "Diem's nearly paranoid preoccupation with security," which led to policies that "thoroughly terrified the Vietnames peasants, and detracted significantly from the regime's popularity."
... Diem's extensive use of violence and reprisals against former Resistance fighters was in direct violation of the Geneva Accords (Article 14c), as was his refusal to abide by the election proviso.  The main reason for Diem's refuse to abide by this mode of settlement in 1955-56 was quite evident: the expatriate mandarin imported from the US had minimal popular support and little hope for winning in a free election...Diem was a typical subfascist tyrant, compensating for lack of indigenous support with extra doses of terror...)
17.  "The American Pope" của John Cooney, A Dell Book, New York 1984, trang 309-312. Ông John Cooney là một Phóng viên báo Wall Street Journal, cũng là một trong 4 người đã từng trách nhiệm viết Tự truyện cho Hồng y Mỹ Francis Spellman, vị giáo chức Công giáo La Mã đở đầu cho ông Ngô Đình Diệm thâm nhập vào chính giới Mỹ và sau đó là Tổng Tuyên úy của Quân đội Mỹ tại Nam Việt Nam.

“Lập trường của (hồng y) Spellman về Việt Nam phù hợp với những mong ước của giáo hoàng.  Malachi Martin, một cựu tu sĩ dòng tên phục vụ tại Vatican trong những năm Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam, nói rằng giáo hoàng muốn Mỹ ủng hộ ông Diệm vì giáo hoàng đã bị người anh của ông Diệm, Tổng giám mục Thục, ảnh hưởng.  “Giáo hoàng quan tâm đến sự càng ngày càng thắng lợi của Cộng sản do đó làm suy yếu giáo hội,” Malachi xác nhận rằng: “Giáo hoàng ra lệnh cho Spellman khuyến khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam.”
Do đó Spellman xếp đặt một chiến dịch hòa điệu kỹ càng để dựng lên chế độ Diệm.  Qua báo chí và vận động trong hậu trường ở Washington, vấn đề đối đầu chống Cộng ở Đông Dương được phổ biến rộng rãi ở Mỹ.
Spellman và Kennedy cũng còn giúp lập lên một nhóm vận động hậu trường Washington.  Chủ trương của sự đồng minh này là chống Cộng và phát huy ý hệ Công giáo.
... Do đó, rất nhiều người Mỹ tin rằng Việt Nam là một quốc gia phần lớn là Công giáo.  Một phần của cái ấn tượng sai lầm này là kết quả của việc Diệm lên cầm quyền.  Với sự giúp đỡ của CIA tổ chức cuộc bầu cử gian lận năm 1955, ông Diệm hủy bỏ chế độ quân chủ và Bảo Đại bị cưỡng bức phải sống trong cảnh lưu đầy.  Cái màu sắc Công giáo đậm đà trong cuộc vận động hậu trường Việt Nam cũng góp phần tạo nên quan niệm sai lầm trên.  Còn một yếu tố khác là sự đặt mình vào trong đường lối trên của Spellman.
... Sự tuyên truyền của Spellman về bản chất Công giáo của chính quyền Diệm đã làm rõ rệt thêm hình ảnh không đẹp về vị thế của giáo hội ở Việt Nam.  Cái bản chất tôn giáo của chính quyền Diệm và những vấn đề chính quyền đó tạo ra đã được ghi nhận bởi Graham Greene, một tín đồ Ca Tô, trong một bài viết từ Saigon, in trong tờ London Sunday Times ngày 24 tháng 4, 1955:
“Một cuộc viếng thăm không thích hợp của Hồng y Spellman đã được tiếp nối bởi những cuộc viếng thăm của Hồng y Gillroy và Tổng Giám mục ở Canberra.  Những số tiền lớn lao đã được dùng để tổ chức những cuộc biểu tình đón tiếp những vị khách này, đưa ra một ấn tượng là giáo hội Ca Tô là của Tây phương và là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh.
... Nam Việt Nam, thay vì đối đầu với chế độ toàn trị của miền Bắc bằng những bằng chứng về tự do, lại rơi vào một chế độ độc tài bất hiệu lực: dẹp bỏ báo chí, kiểm duyệt chặt chẽ, lưu đầy bằng lệnh của chính quyền thay vì phải được xét xử ở tòa án.  Thật là bất hạnh khi một chính quyền như vậy lại đồng nhất hóa với một đức tin.  Ông Diệm rất có thể đã để lại trên đất nước có tinh thần khoan nhượng này một di sản chống-CaTô.”
 (Spellman's Vietnam stance was in accordance with the wishes of the Pope.  Malachi Martin, a former Jesuit who worked at the Vatican during the years of the escalating US committment to VN, said the Pope wanted the US to back Diem because the Pope had been influenced by Diem's brother, Archbishop Thuc. 
"The Pope was concerned about Communism making more gains at the expense of the Church," Martin averred. "He turned to Spellman to encourage American committment to Vietnam."
Thus Spellman embarked on a carefully orchestrated campaign to pop up the Diem regime.  Through the press and a Washington lobby, the problem of confronting anti-Communism in Indochina became widely known in America.
Spellman and Kennedy also helped form a pro-Diem lobby in Washington.  The rallying cries were anti_Communism and Catholicism.
... To a large extent, many Americans came to believe that Vietnam was a preponderantly Catholic Nation.  This misimpression resulted partly from Diem's emergence as ruler.  With the help of CIA-rigged election in 1955, Diem abolished the monarchy and Bao Dai was forced to live in exile.  The heavily Catholic hue to the Vietnam lobby also accounted for much of the widespread belief.  Still another factor was Spellman's identification with the cause.
 ... Spellman's propagandizing of the Catholic nature of Diem's regime reinforced a negative image of the Church's position in Vietnam.  The sectarian nature of Diem's government and the problems of that government were noted by the writer Graham Greene, himself a Catholic, in a dispatch from Saigon printed in the London Sunday Times on April 24, 1955:
An unfortunate visit by Cardinal Spellman has been followed by those of Cardinal Gillroy and the Archbishop of Canberra.  Great sums are spent on organizing demonstrations for the visitors, and an impression is given that the Catholic Church is occidental and an ally of the US in the cold war.
...The South, instead of confronting the totalitarian North with the evidence of freedom, has slipped into an inefficient dictatorship: newspapers suppressed, strict censorship, men exiled by administrative order and not by judgement of the courts.  It is unfortunate that a government of this kind should be identified with one faith.  Mr. Diem may well leave his tolerant country a legacy of anti-Catholicism.)
18.The Final Superstition” của Joseph L. Daleiden, Prometheus Books, New York, 1994, trang 62). Ông Joseph L. Daleiden là một Kinh tế gia Mỹ, chuyên gia phân tích các chính sách công cọng. Ông viết sách về nhiều lãnh vực, kể cả thần học, triết học và xã hội học. Hai tác phẩm khẳng định tên tuổi của ông trong giới học thuật là The Final SuperstitionThe Science of Ethics.
"Spelllman là người chủ chốt của giáo hoàng làm cho Mỹ tham chiến  sâu đậm ở Việt Nam.  Theo một bức thư chính thức của Vatican, giáo hoàng "dùng Spellman để khuyến khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam."
Mọi  viện trợ  nhân đạo  cho miền Nam đều đi qua các cơ sở của giáo hội Công Giáo và chỉ có những người Công Giáo là được ông Diệm  bổ nhiệm vào trong chính phủ.  Tuy rằng những chính sách như vậy đưa đến việc cải đạo hàng loạt, số tín đồ Công Giáo chỉ chiếm vào khoảng từ 12 tới 13 phần trăm của dân số miền Nam.  Không lạ lùng gì mà khối đa số Phật Giáo bất bình đưa đến việc công khai chống đối chính sách của ông Diệm.  Tình trạng ngày càng suy kém, ông Diệm đã dùng đến biện pháp bắt giữ hàng loạt, đàn áp Phật tử, đóng cửa chùa chiền và tu viện.  Qua kinh nghiệm quá khứ, Giáo hội chắc hẳn đã biết rằng sự đàn áp chỉ làm cho lý tưởng mạnh hơn.  Trước sự quan sát kinh hoàng của thế giới, giới Phật tử đã phải dùng tới hành động chống đối tiêu cực rốt ráo và nhiều tăng sĩ đã tự thiêu.  Trong những khoảng thời gian đáng sợ đó, tôi, một tín đồ Công Giáo, không nhớ có một lời chỉ trích chính sách của ông Diệm từ một linh mục hay giám mục Công Giáo  nào.  Tuy nhiên, sự việc đã lên quá mức đối với Tổng Thống John Kennedy, ông ta thôi không ủng hộ ông Diệm nữa.  Ít lâu sau đó ông Diệm bị hành quyết trong một cuộc lật đổ chính quyền.  Qua cái diễn tiến kinh khủng này vai trò của giáo hội đã theo đúng cái tiến trình lịch sử nhơ nhớp của giáo hội."
(Spellman was the papal point man to lead America into  deeper  involvement  in  Vietnam.  According  to  a Vatican official letter, the pope "turned to Spellman to encourage American commitment to Vietnam."
All US relief to the South was funneled through the Catholic Church's agencies and only Catholics were appointed to  government  positions by Diem.  Although these policies resulted in a wave of conversions, Catholics still made up only about 12 to 13 percent of the South Vietnamese population.  Not surprisingly, the resentment among the Buddhist majority soon resulted in their open resistance to Diem's policies.  As the situation deteriorated, Diem resorted to mass arrests and suppression of the Buddhists, closing shrines and monateries.  As the Church should have known from its own early experience, persecution can only strengthen a cause.  As a horrified world watched, the Buddhists resorted to the ultimate act of passive resistance and several monks set themselves ablaze.  During these terrible times, when I, too, was a Catholic, I don't recall one word of criticism of Diem's policies from a Catholic priest or bishop.  However, it finally became too much for President John Kennedy, who withdrew US support for Diem.  Diem was soon executed in a coup.  Throughout this dreadful ordeal the role of the Church followed true to the course of its sordid history.)
19.  "America's Longest War" của George C. Herring, John Wiley & Sons,  New York 1979, trang 62-65. Ông George C. Herring là Tiến sĩ Sử học tại University of Virginia. Ông là Giáo sư Danh dự về Lịch sử tại đại học University of Kentucky và giáo sư thỉnh giảng tại Trường Võ bị West Point. Là một chuyên gia về lịch sử bang giao quốc tế của Mỹ, ông chủ yếu đặt trọng tâm các nghiên cứu vào chủ đế Việt Nam. Ông được giải thưởng Robert Ferrell 2008 của “Hội các nhà Sử học về Bang giao Quốc tế của Hoa Kỳ” (SHAFR).
“Để làm vui lòng các cố vấn Mỹ, thỉnh thoảng ông Diệm cũng nói trên đầu môi chót lưỡi về dân chủ, nhưng trong thực hành hắn nắm lấy những quyền lực tuyệt đối.  Đích thân hắn ngự trị ngành hành pháp của chính phủ, dành cho ông ta và anh em mà ông ta đã đưa ba người vào nắm ba chức trong nội các có sáu bộ, mọi quyền quyết định.  
Sự tấn công dữ dội của ông Diệm vào những đối lập chính trị đã gây nên sự bất mãn trong các thành phố cũng như ở thôn quê.  Báo chí chỉ trích chính phủ bị đóng cửa ngay.. Dùng quyền hành trong các sắc lệnh của tổng thống, chính quyền Diệm đã lùa vào những “ trại cải huấn” nhiều ngàn người Việt Nam, cộng sản cũng như không cộng sản, những người bị coi như là đe dọa cho trật tự công cộng.  Chương trình cải huấn lúc đầu nhắm vào các thành phần kháng chiến Việt Minh ở lại miền Nam, nhưng rồi với thời gian chương trình này được áp dụng cho bất cứ ai dám chống đối chính quyền.
...”Chính quyền có khuynh hướng cai trị dân với lòng nghi ngờ và cưỡng bức”, một phúc trình tình báo của Mỹ kết luận năm 1960, và “đã được đáp ứng bởi thái độ bất thiện cảm và bất mãn của người dân”.   
(To please his American advisors, Diem occasionally paid lip-service to democracy, but in actual practice he assumed absolute powers.  He personally dominated the executive branch of government, reserving to himself and his brothers, three of whom were appointed to a cabinet of six, all power of decision-making.
... Diem's vigorous assault against political opponents spawned rising discontent in the cities as well as the countryside.  Newspapers which criticized the government were promptly shut down...Using authority handed down in various presidential ordinances, the government herded into "reeducation centers" thousands of Vietnamese, Communists and non-Communists alike, who were alleged to be threats to public order.  The reeducation program was originally aimed at the Viet Minh "stay-behinds," but in time it was extended to anyone who dared speak out against the government.
... The government "has tended to threat the population with suspicion or coerce it," an American intelligence report concluded in 1960, "and has been rewarded with an attitude of apathy or resentment.”)
20.  "Unwinding the Vietnam War: From War Into Peace" của Reese Williams, The Real Comet Press, Seattle 1987, trang 431. Ông Reese Williams là tác giả của một số sách nhưng ông được biết đến nhiều hơn cả qua vai trò Tổng biên tập của Tuyển tập Unwinding the Vietnam War: From War Into Peace của 25 học giả, nghệ sĩ, nhà báo, cựu chiến binh, người tị nạn…
Sau khi Pháp bị đánh bại và có vẻ như nền độc lập (của Việt Nam) sẽ tới, theo hiệp định Genève.  Nhưng thay vào đó Mỹ đã nhảy vào, quyết định là Hồ (Chí Minh) không được thống nhất đất nước đang tạm thời chia cắt, và những nông dân lại cảnh giác khi chúng ta ủng hộ một trong những tên độc tài đồi bại nhất của thời hiện đại – Thủ tướng Diệm, người chúng ta chọn.  Người nông dân cảnh giác  và co rúm người lại khi ông Diệm tàn nhẫn dẹp mọi đối lập, hỗ trợ những tên địa chủ bóc lột họ, và từ chối thảo luận với Bắc Việt về sự thống nhất của đất nước
 (After the French were defeated it looked as if independence would come again through the Geneva Agreements.  But instead there came the US, determined that Ho should not unify the temporarily divided nation, and the peasants watched again as we supported one of the most vicious modern dictators - our chosen man, Premier Diem.  The peasants watched and cringed as Diem ruthlessly routed out all opposition, supported their extortionist lanlords, and refused even to discuss reunification with the North.)
(From an address delivered by Dr. Martin Luther King in New York City on  April 4, 1967).
*      *
*
Trên đây chỉ là 20 lời phê phán điển hình về con người lãnh đạo Ngô Đình Diệm và chế độ Đệ Nhất Cọng hòa của một số trí thức Mỹ, trong số hàng trăm lời phê phán tương tự khác.  Chúng ta cũng nên để ý là hơn phân nửa số tài liệu trích dẫn ở trên được viết sau năm 1975.  
Nếu độc giả muốn đọc những lời phê phán của chính người Việt sống tại miền Nam Việt Nam từ sau 1954, xin tìm đọc Hồi ký chính trị Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (California, 1993) của cố Thiếu Tướng Đỗ Mậu, trong đó, ở phần cuối, có 100 lời phê phán của các nhân sĩ, chính trị gia, tướng lãnh, giáo sư đại học, nhà báo v.v... về ông Diệm và chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa.  Họ là những người có thẩm quyền để phê phán vì họ đã sống và quan sát trong thời kỳ đó, thậm chí họ còn là những người tham dự, trong hay ngoài, vào chế độ Diệm. Cuốn hồi ký chính trị này, viết bởi một người trong cuộc và một ký ức trải dài hơn 20 năm, với rất nhiều chi tiết lịch sử, vẫn là cuốn sách có giá trị nhất trong những cuốn viết về chế độ Ngô Đình Diệm. 

Tác giả cuốn khảo luận nỗi tiếng Viet Cong là Sử gia Douglas Pike, nguyên Giám đốc hai trung tâm  Indochina Archive Indochina Chronology  của Đại học  UC Berkeley, đã đánh giá hồi ký chính trị nầy là một tác phẩm lớn, mô tả chi tiết lịch sử nền Đệ Nhất Cọng hòa, với nhiều hồi tưởng và phân tích các biến cố lịch sử  (“A big book, this 1286-page autobiography of the well-known former ARVN general and GVN minister and vice-premier is also a detailed history of the Vietnamese first republic. There is a great deal of historical analysis here in addition to recounting of events” – Indochina Chronology, 1986).
Qua 20 lời phê phán của các tác giả ngoại quốc ở trên, chúng ta thấy nỗi bật hai điểm chính, phù hợp với những nghiên cứu khác và được chứng thực bởi thực tế lịch sử sau nầy:
■ Về cá nhân, ông Ngô Đình Diệm là người vô tài (giỏi xăm xoi chuyện nhỏ cụ thể nhưng lại lúng túng trước những chính sách vĩ mô lý thuyết), vô đức (thủ tiêu mạng sống của các nhà đối lập chính trị), nhu nhược (để cho anh em, gia đình và người đồng đạo khuynh loát chế độ và quốc gia). Được Hồng Y Spellman, với sự phụ giúp của ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles cùng một vài chính khách Công giáo Mỹ khác, theo lệnh của Vatican (Xem thêm Sắc lệnh năm 1949thông điệp Evengeli Praecones năm 1951 của Giáo hoàng Pius XII) đưa về cầm quyền ở Nam Việt Nam. 
Nhưng khi đã nắm được hoàn toàn quyền bính, thì chính cái bản chất Công giáo cuồng tín của ông Diệm đã quật ngược lại, làm hại đến bản thân ông, gia đình ông, tôn giáo ông và chế độ của ông.  Sách lược Công giáo hóa miền Nam (mà trước hết là Công giáo hóa bộ  máy công quyền) bằng thủ đoạn kỳ thị và tiêu  diệt các giáo phái khác của ông Diệm trong một nước mà Công giáo chỉ chiếm có 7% là một sách lược dại dột, một tự tử chính trị và một ô nhục văn hóa, dẫn đến sự oán ghét của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam (trong 7 năm làm tổng thống,1956-1963, ông bị 7 lần chống đối từ ôn hòa đến vũ lực, từ đảng phái đến quân đội, từ trí thức đến tôn giáo). 
Thế nước, Lòng dân: 1960 và 1963























■ Về chế độ Ngô Đình Diệm thì đó là một chế độ bạo ngược, chuyên chế, dùng bạo lực chính trị (của đảng Cần Lao) và công an mật vụ (7 cơ quan chìm nỗi và 2 nhà tù biệt giam P42 và 9-Hầm không nằm trong hệ thống tư pháp) để khống chế đời sống chính trị quốc gia, do đó không có sự hậu thuẫn của quần chúng.  Đó là một chế độ độc tài, Công giáo trị và gia đình trị, quyết liệt không chấp nhận sự hiện diện của đối lập chính trị, dù cùng mục tiêu chống Cọng. Xử dụng Lập pháp và Tư pháp như  công cụ, và xem nhân viên chính phủ và quân đội như gia nô trong nhà. Những thành quả  trong 4 năm đầu tiên (1955-1959) chủ yếu là nhờ kinh viện và quân viện dồi dào của Mỹ, nhưng càng về sau, chế độ Diệm càng thất bại trong quốc sách chống Cọng mà ông Diệm đã cam kết với Mỹ. Vì vậy mà đến tháng 10/1961, chỉ  mới hơn một năm sau khi “Mặt trận Giải phóng miền Nam” thành lập, tình hình an ninh quốc gia đã suy sụp tồi tệ đến nỗi ông Diệm phài tuyên bố “Tình trạng khẩn cấp trên toàn lãnh thổ” (sắc lệnh 209/TTP); và qua tháng 3/1962, ông Diệm đã phải gửi thông điệp cầu cứu với 92 quốc gia trên thế giới xin giúp Việt Nam Cọng hòa chống Cọng sản xâm lăng [“Những ngày Chưa quên” (Đại Nam, 1969) của Đoàn Thêm và “Vietnam History, Documents and Opinions” của Marvin E, Gettleman].
Nguyễn Kha
1/2013 [Có dùng data từ Internet]
VÀI BỨC ẢNH ĐỂ ĐỜI: 
NGÔ ĐÌNH DIỆM & BẢO ĐẠI 
 Lý Nguyên Diệu

Ngày 18/6/1954, dưới sức ép của cả Mỹ lẫn Pháp, Vua Bảo Đại ký Sắc lệnh 38QT ủy nhiệm toàn quyền Dân sự và Quân sự cho ông Diệm.

Một tuần sau đó, ông Diệm từ Pháp bay về Sài Gòn và ngày 7/7/1954, chính thức lên làm Thủ tướng.




 Hình trên: Vua Bảo Đại hồi loan và ở lại Việt Nam cho đến năm 1953.
Hình dưới: Tháng 6-1954, ông Diệm về nước trên máy bay Air France của Tây sau “bao năm  từng lê gót nơi quê người

Bốn tháng sau đó, theo khuyến cáo của Mỹ, ngày 10/11/1954, ông Diệm viết lá thư dưới đây bày tỏ lòng trung thành và tình vua tôi để yêu cầu “Hoàng Thượng” Bảo Đại trì hoản ngày về nước, nhưng thật ra là để Mỹ có thì giờ giúp ông Diệm tiến hành âm mưu lật đổ ông Bảo Đại, chính thức mở đầu quá trình thay con cờ Pháp bằng con cờ Mỹ tại Việt Nam.  [Có thể đọc thêm Giải phẩu một cuộc cướp ngai vàng của Chánh Đạo]

Cho nên gần một năm sau lá thư đầy tình nghĩa vua-tôi trung quân ái quốc đó, ngày 23/10/1955, trong một cuộc Trưng cầu Dân ý, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đánh bại Quốc trưởng Bảo Đại với tỷ số  98.2% (5,721,735 phiếu trên tổng số 5,828,857) nhưng cuộc trưng cầu dân ý xét ra có những sắp xếp gian lận.

Như vậy, rõ ràngnhà nho” Ngô Đình Diệm, từ rất sớm, đã lộ nguyên hình là kẻ phản thần với một cuộc Trưng cầu Dân ý gian trá bằng cách lạm dụng phương tiện của chính quyền và gian lận bầu cữ để thắng một đối thủ không được phép có mặt tại Việt Nam.

 Sau đây là Bản dịch nguyên văn lá thư ông Ngô Đình Diệm gởi Quốc trưởng Bảo Đại [Nguyên bản bằng Pháp ngữ]:

Kính gởi Hoàng thượng Bảo Đại
Quốc trưởng Việt Nam

Kính thưa Ngài,

Tôi thật vô cùng cảm kích trước những lời tin cậy và khích lệ đầy thương mến mà Ngài đã chỉ thị cho bào đệ Ngô đình Luyện truyền lại cho tôi.

Ngài đã biết rõ sự bất vụ lợi và lòng trung thành của dòng họ chúng tôi, trong quá khứ, đã phục vụ Tổ quốc và Hoàng triều như thế nào. Xin Ngài hãy tin tưởng rằng đến lượt tôi, tôi sẽ cố gắng tiếp tục phục vụ với tất cả sức lực và tâm hồn để xứng đáng với lòng tin cậy thân yêu mà Ngài đã dành cho.
Trong lúc có những giải thích đầy xuyên tạc của dư luận về sự mở rộng thành phần Nội các đã gây cho tôi quá nhiều phiền muộn, tôi muốn nói lên đây lòng tri ân của tôi về sự tín nhiệm của Ngài vẫn dành cho tôi.

Thật ra hoài bảo thân thiết nhất của tôi là nhận được sự chấp thuận của Quốc trưởng trong các đại sự của Quốc gia, về Binh bị, Ngoại giao, Xã hội, Tài chánh hay Hành chánh.
Chỉ có sự chỉ đạo khôn khéo và chỗ dựa vững chắc ở Quốc trưởng, tôi mới có thể thực thi được những quyền lực đầy đủ để giải quyết tất cả vấn đề có tầm vóc liên quan đến sự sống còn và tương lai của đất nước.

Những cải cách về Hiến pháp và Dân chủ phải được nhanh chóng thực thi theo đúng những lời tuyên bố của Ngài khi Ngài trở về sau chuyến lưu vong.
Nhưng quyền lực của Hoàng triều phải thật sự cứng rắn để bảo đảm trật tự và công bằng xã hội, kỷ luật quân đội, tôn trọng quyền lợi và tự do của dân.

Trình Ngài, chính trong tinh thần nầy mà tôi đã nhờ bào đệ Luyện thỉnh cầu Ngài hồi loan càng sớm càng tốt, miễn là không trở ngại đến việc chữa bệnh của Ngài ở Pháp.
Tiếc thay khi được tin nầy thì những xáo trộn những âm mưu chính trị không tránh được khi đất nước bị chia cắt, đã tăng lên gấp bội, vì những tham vọng và quyền lợi riêng tư đó đã lo sợ sự hiện diện của Hoàng thượng và sự củng cố chánh quyền của Ngài.

Là người chủ xướng sự hồi loan nhanh chóng của Ngài, thế mà tôi phải đau lòng thỉnh cầu ngài dời hoãn ngày về nước để cho tôi có đủ thời gian cần thiết để san bằng những trở ngại khó khăn và đánh tan một vài thái độ mâu thuẫn.
Sự mong đợi chuyến về của Hoàng thượng càng lớn khi tôi cần dựa vào sự minh triết của Hoàng thượng để giúp tôi, ngoài những việc khác, tái tổ chức và phát triển Hoàng Triều Cương Thổ mà Hoàng thượng đã tức thời quyết định cho sát nhập về với Việt Nam. Việc nầy đã được sự tán thành của toàn dân.
Tôi nghỉ rằng, thật ra các miền Cao nguyên đó, từ lâu đã được sự chăm lo ưu ái của Hoàng thượng, rồi đây sẽ được hưởng những lợi ích to lớn về một tổ chức xã hội, kinh tế và quân sự mà các ngành Hành chánh cao cấp sẽ được chính phủ bổ nhiệm sau khi được sự chấp thuận của Ngài.

Để kết thúc, tôi xin đươc phép nhắc lại sự cảm tạ của tôi về sự tiếp tục tín nhiệm mà Ngài đã dành cho.

Tình trạng đất nước, bị xâu xé và tàn phá bởi cuộc chiến lâu ngày nầy đã gây quá nhiều lo âu cho tôi, vì vậy những bằng chứng về lòng tin tưởng thương yêu của Hoàng thượng sẽ là một niềm khích lệ vô giá đối với tôi.
Xin được phép nhắc Ngài rằng khi nhận chức Thủ tướng chính phủ, tôi đã có xin Ngài hứa cho là trong trường hợp chính sách của tôi, nếu xét có bằng chứng có thể phương hại cho Tổ quốc, thì Hoàng thượng sẽ không để những tình cảm tốt đẹp dành cho tôi chi phối, mà sẽ cương quyết chối từ chính sách đó để cứu quốc dân.

Xin phép Ngài cho tôi được tin vào lời hứa đó, vì tôi phải có một chính sách cứng rắn và dũng cảm để đối phó với các sự xáo trộn chính trị và các liên hệ chằng chịt quá phức tạp của những quyền lợi lớn của cá nhân hay ngoại quốc gây ra.

Tôi sẽ làm chuyện nầy với lương tâm thanh thản vì tôi biết trước, nếu trường hợp gặp thất bại, Ngài sẽ sẵn sàng điều chỉnh tay lái khi cần.

Tôi trao thư nầy cho bào đệ Luyện để đệ trình lên Ngài với lòng trung thành tôn kính và thâm sâu của tôi.

Sài gòn, ngày 10 tháng 11 năm 1954
Ngô Đình Diệm”

Thượng thư Ngô Đình Diệm, bầy tôi trung thành của Hoàng Đế Bảo Đại
Nhờ xử dụng toàn bộ bộ máy công quyền để tiến hành chiến dịch bôi nhọ cá nhân vua Bảo Đại, ông Ngô Đình Diệm đã thắng … 98.2% số phiếu vào ngày 23-10-1955. (Thua suýt soát 99.3% của Saddam Hussein !)
Chưa lên làm Tổng thống mà đã gian lận phi dân chủ như thế, cho nên sau nầy khi có toàn quyền sanh sát trong tay, ông Diệm mới siết chặt nên độc tài Công giáo trị và Gia đình trị của mình. Thật thê thảm cho nền … Đệ nhất Cọng hòa !

Ông Diệm chểm chệ ngồi trên thuyền, để cho sĩ quan Quân lực VNCH bì bỏm lội nước đẩy thuyền.
Thế mà sau nầy, tại hải ngoại, đám tàn dư Cần Lao ác ôn nhà Ngô tạc tượng ông tay cầm gậy batoong, tay giơ cao mũ phớt không khác gì anh hề Charlot !
(“Tượng đài” ông Diệm trong vườn nhà netter có tên là “Ts Hồng Lĩnh Hồ Nam Trân” tại Thụy Sĩ)

Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013



LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐÃ THAY ĐỔI TRONG NGÀY NÀY

Gordon M. Goldstein

LGT - Luận điệu quen thuộc của thành phần gọi là “hoài-Ngô” tại hải ngoại  để lý giải tại sao chế độ Ngô Đình Diệm bị sụp đổ năm 1963 là vì Tổng thống Kennedy muốn đưa quân vào miền Nam Việt Nam, nhưng ông Diệm chống lại quyết định nầy nên bị ông Kennedy ra lệnh lật đổ.

Đây là một luận điệu cực kỳ giản lược (oversimplification) để vừa đánh bóng lãnh tụ vừa giải thích một chuổi biến cố lịch sử phức tạp mà không lý đến những yếu tố khác, nhất là yếu tố nội bộ của miền Nam Việt Nam.

Bảy cuộc chống đối chế độ của nhân dân miền Nam trong 8 năm cai trị (1955-1963), đàn áp và khống chế đối lập chính trị và kỳ thị tôn giáo, và cuối cùng là phản bội Hiến pháp khi thỏa hiệp với miền Bắc sau khi thảm bại trong công cuộc chống Cọng, ... đã không được thành phần “hoài Ngô” nầy nhắc đến. Xin đan cử 3 ông hoài-Ngô:

-          Các tài liệu phát hiện gần đây cho thấy Hoa Kỳ đã hoạch định cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm kể từ năm 1961, khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm từ chối không cho Hoa Kỳ đổ quân vào Việt Nam để mở rộng chiến tranh, và biến cố Phật Giáo vào tháng 5 năm 1963 được coi là một cơ hội tốt nhất để Hoa Kỳ thi hành quyết định của mình. (“Những Giờ Định Mệnh” - Tú Gàn, Sàigòn Nhỏ http://ngothelinh.tripod.com/NhungGioDinhMenh.html).

Tài liệu hoạch định nào? Của một Bộ (Ngoại giao?, Quốc phòng? CIA?) hay hoạch định cao cấp nhất của Tòa Bạch ốc ? Tại sao lại coi cuộc đấu tranh của Phật giáo, do chính ông Diệm chủ động phát khởi qua lệnh cấm treo cờ chứ không ai khác, lại là cơ hội cho “Mỹ đổ quân vào Việt Nam” ?

-          Tôi tán đồng lập trường của TT Ngô Đinh Diệm không chấp nhận cho quân đội Hoa Kỳ chiến đấu tại Việt Nam. Từ 1961, TT Diệm từ chối yêu sách của Hoa Kỳ (luật sư Joseph A. Amter, một tác giả phản chiến HK đã xác nhận trong cuốn "Vietnam Verdict A Citizen's History")". (Phỏng vấn ông Võ Như Nguyện , một cán bộ tâm phúc của ông Diệm thời chưa chấp chánh, của Từ Nguyên - Văn Nghệ Tiền Phong số 312).

Sách của Joseph Amter xác nhận như vậy vì đã được viết năm 1982. Ngược lại, hai cuốn sách “Lessons in Disaster” của Gordon M. Goldstein; và cuốn “Virtual JFK” cũa Giáo sư James Blight dựa trên những tài liệu được giải mật năm 2009 cho thấy 1 cách chính xác TT Kennedy không bao giờ muốn gửi quân tác chiến qua Việt Nam. Đây là lý do vì sao năm 1982, tác giả Amter đã viết mà không thể giải thích được ý kiến của McNamara và Tướng Taylor: “Again Kennedy dispatched McNamara and Taylor to Saigon (in 1963) to help him determine what to do next. Strangely enough, they brought back an optimistic report to the effect that the war was being won, and that if they could just get rid of Diem, a truly popular government could be organized around which all the South Vietnamese would rally. They predicted that if Diem was scuttled, the United States could begin withdrawing its troups almost immediately and that by 1965 a popular government would defeat the Communists and end the war.”]

-          “Thật vậy, năm 1963 Đại sứ Cabot Lodge ra mặt ủng hộ Phật giáo vì TT Diệm chống việc Mỹ hóa chiến tranh.” (Trích từ bài phỏng vấn cựu Đại tướng Cao Văn Viên của cựu Bộ trưởng Nội vụ thời Ngô Đình Diệm là ông Lâm Lễ Trinh ngày 27-1-2006 http://www.quocgiahanhchanh.com/mandamvoicuudaituong.htm ). Nếu hiểu “Mỹ hoá” là gửi lính Mỹ tác chiến vào VN thì ông cựu Đại tướng nầy hoàn toàn sai. Trước hết, trong tương quan Mỹ-Việt lúc bấy giờ, 16,000 ông Cố Vấn trong một quân đội “tân lập” từ kiểu-Pháp qua kiểu-Mỹ chính là những “bà Mụ” nắn nót hình hài của Quân đội rồi ! Thứ đến, cái quân đội của ông Cao Văn Viên tuy chưa được Mỹ hóa, nhưng đã “hồn Trương Ba, da hàng thịt” từ lâu rồi: Từ viên đạn đến lít xăng, từ lớp huấn luyện sĩ quan tham mưu cao cấp tại Mỹ đến bản đồ hành quân trên chiến trường, … đều được Made In USA.

Không những thành phần hoài-Ngô nầy giản lược hóa một biến cố lịch sử phức tạp như chính biến 1-11-1963 mà ngay chính luận điểm “chống Mỹ” họ đưa ra cũng dựa trên những thông tin thiếu sót và thậm chí sai sự thật.

Sự thật là trong năm 1963, trước sự lớn mạnh của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (ra đời 12/1960 ) và tình hình an ninh suy thoái đến độ chính phủ Diệm phải ban hành tình trạng khẩn cấp toàn quốc (10/1961 - Sắc lệnh 209/TTP) và kêu gọi 92 quốc gia trên thế giới giúp đở (3/1962), thì tuy có sự bất đồng trong quan điểm tiến hành chiến tranh tại Nam Việt Nam trong số những phụ tá của Tổng thống Kennedy, nhưng những tài liệu được phát hiện và giải mã mới đây nhất đều khẳng định rằng bản thân vị lãnh đạo tối cao và chung quyết của nước Mỹ đã không có ý định đưa quân vào Việt Nam trong năm 1963 đó. Ngược lại là khác, Tổng thống Kennedy còn cho chuẩn bị kế hoạch rút hết quân Mỹ, để cho Việt Nam tự chiến đấu một mình, không còn cả những “cố vấn”.

Như vậy thì ông Diệm “chống” ông Kennedy đưa quân Mỹ nào vào Việt Nam ?    

Bài viết dưới đây của Tiến sĩ Gordon Goldstein, Cố vấn về  những vấn đề An ninh cho Văn phòng Tổng Thư ký Liên Hiệp quốc và cũng là Diễn giả thỉnh giảng tại Brown University (Rhode Island), đã xác định điều nầy. Và chiến tranh Việt Nam, như sau nầy chúng ta biết, chỉ được Mỹ hóa từ thời ông Johnson, rồi được Việt Nam hóa dưới thời ông Nixon. Cho nên, giá ông Kennedy mà không bị ám sát thì ông đã rút quân, và người Mỹ có lẽ đã không có một cuộc chiến mà họ gọi là  Vietnam War !  

  

     LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐÃ THAY ĐỔI TRONG NGÀY NÀY
      Vụ ám sát Tổng thống Kennedy 45 năm trước đây đã Mỹ hóa chiến tranh Việt Nam


Gordon M. Goldstein

Los Angeles Times, 22-11-2008.


Vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy cách đây đúng 45 năm đã chấm dứt một cách đột ngột một thời kỳ mà những người ái mộ gọi là Camelot, một nhiệm kỳ Tổng thống đầy vẻ quyến rũ, thông minh, trí tuệ và cơ hội. Nhưng vụ ám sát cũng mang một hậu qủa sâu đậm: Ngày 22 tháng 11 năm 1963 là ngày có ý nghĩa sâu sắc nhất trong lịch sử của cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

Không ai có thể biết được chắc chắn là nếu Tổng thống Kennedy còn sống thì ông sẽ giải quyết cuộc khủng hoảng ở Việt Nam như thế nào. Nhưng rõ ràng là ông đã quyết tâm ngăn ngừa Việt Nam trở thành một cuộc chiến tranh của Mỹ và ông sẽ rút toàn quân Mỹ ra khỏi Việt Nam trong nhiệm kỳ thứ hai.

Vào thời điểm Kennedy nhận chức Tổng thống năm 1961, mức độ can thiệp của Mỹ ở Đông Nam Á được giới hạn trong viện trợ vũ khí và một số ít cố vấn quân sự. Nhưng chế độ Ngô Đình Diệm lúc ấy ở Nam Việt Nam đang phải trực diện với một lực lượng nổi dậy ngày càng gia tăng của Cọng sản và tại Mỹ, áp lực gửi quân qua Việt Nam càng lúc càng nặng.

Trong một năm, các cố vấn Tổng thống đã trình cho ông sáu đề nghị để Mỹ hóa cuộc chiến đó. Trong một phúc trình, Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, Ngoại trưởng Dean Rusk, và Tướng Tổng tham mưu Liên quân đã nhận định là sẽ rất khó mà ngăn chận được chuyện “mất miền Nam nếu áp dụng một biện pháp nào khác hơn là  đem vào Việt Nam một số lượng quân Mỹ đáng kể.

Các cố vấn của Tổng thống Kennedy đã nói với ông là phải cần hơn 200,000 quân tác chiến mới đủ để bảo vệ chế độ miền Nam. Cố vấn An ninh Quốc gia, McGeorge Bundy, tin chuyện gửi quân Mỹ qua Việt Nam là quan yếu. Ông giải thích cho người Tổng thống đầy hoài nghi này về một quốc gia Đông Nam Á khác mà Kennedy đã không muốn can thiệp: “Sau 1954, vương quốc Lào không còn thực sự là đồng minh của ta nữa, trong khi Việt Nam là đồng minh của ta theo ý muốn của họ.”

Nhưng Tổng thống Kennedy đã không tiếp nhận những ý kiến này. Từ rất lâu trước khi trở thành Tổng thống, ông đã tỏ rõ tại Quốc hội lập trường chống đối lại kinh nghiệm thảm khốc của thực dân Pháp tại Việt Nam và coi đó như một bài học để nước Mỹ không bao giờ nên tham chiến trên lãnh địa này. Trong mùa Hè 1961, Tổng thống Kennedy tuyên bố là ông đồng ý với kết luận của Tướng Douglas MacArthur khuyến cáo nước Mỹ không nên tham dự vào một cuộc địa chiến ở Á châu. Ông nhấn mạnh là ngay cả một triệu bộ binh Mỹ cũng không đủ để thắng trận ở đấy. Ông chỉ muốn viện trợ quân sự và huấn luyện và sẽ không ra lệnh gửi quân bộ binh qua đó.

Trong ba năm làm Tổng thống, đôi khi Kennedy cũng có vài tuyên bố hiếu chiến về Việt Nam. Ông cũng tăng số cố vấn quân sự và huấn luyện lên khoảng 16,000. Nhưng cả hai ông McNamara và Bundy đều tin là Tổng thống Kennedy sẽ không Mỹ hoá cuộc chiến ở Việt Nam – ngay cả với cái giá phải trả là miền Nam Việt Nam sẽ bị Cọng sản hóa.

Tổng thống Kennedy hiểu là khi nước Mỹ không thể ngăn chận được đường mòn Hồ Chí Minh – con đường xâm nhập và tiếp tế từ Bắc Việt - thì nước Mỹ không thể nào thắng được quân nổi dậy Cọng sản. Muà Xuân 1962, Tổng thống Kennedy đã nói với một phụ tá: “Con đường mòn Hồ Chí Minh đó vừa là lý do có sẵn để chúng ta leo thang chiến tranh vừa là lý do có sẵn để giúp chúng ta bào chữa khi bại trận.”  Tổng thống Kennedy nghi ngại đến nổi ông đã nói với Michael Forrestal, một phụ tá ở tòa Bạch Ốc, cơ may để thắng Việt Cộng chỉ là 1 trên 100.

Đầu năm 1963, Tổng thống Kennedy nói với Lãnh tụ phe Đa số ở Quốc hội, Thượng Nghị sĩ Mike Mansfield, người chống leo thang chiến tranh ở Việt Nam, là ông sẽ bắt đầu rút giảm số cố vấn quân sự ở Việt Nam năm 1965, khi ông khởi đầu nhiệm kỳ hai. Ông cũng đã tiết lộ chương trình rút quân này với Roswell Gilpatric, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Nhưng tấn thảm kịch cuối tháng 11 năm 1963 ở Dallas đã thay đổi tất cả. 

Ai cũng biết chuyện gì đã xảy ra sau cái chết của Tổng thống Kennedy. Lyndon B. Johnson ứng cử Tổng thống năm 1964 và tháng 8 năm đó, ông dùng một sự cố mơ hồ ở Vịnh Bắc Việt để được Quốc hội chấp thuận một nghị quyết không giới hạn cho phép tấn công Bắc Việt Nam. Ngày 8 tháng 3 năm 1965, Johnson gửi một toán 3,500 Thủy quân Lục chiến đầu tiên đến Việt Nam. Trong vài tháng sau đó, ông gửi thêm 175,000 quân chiến đấu.

Nếu Tổng thống Kennedy đã không bị ám sát, ông sẽ đi vào năm 1965 với vị thế mạnh. Trong nhiệm kỳ hai này, ông sẽ không còn lo lắng phải lấy lòng cử tri để kiếm phiếu. Ông cũng không có một chính sách tự do Xã Hội Vĩ Đại như Johnson để phải nịnh các dân biểu hầu được Quốc hội chấp thuận. Ông đã lập một thói quen bác bỏ ý kiến của các cố vấn khi cần thiết. Và trong 4 năm chót làm Tổng thống này, ông sẽ hành xử như một anh hùng đại thắng Nga Sô Viết trong cuộc khủng hoảng hỏa tiễn ở Cuba. Một thành công về mặt an ninh quốc gia giúp cho uy tín của ông gia tăng gấp bội.

Ông Bundy đã suy tưởng về qúa khứ: “Vì vậy Tổng thống Kennedy không cần phải chứng tỏ điều gì cả. Dù cho ông quyết định không gửi quân Mỹ qua Việt Nam để biến nó thành một cuộc chiến tranh của Mỹ, ông có thể chấp nhận mất Việt Nam mà không có hại gì.”

Sự kiện Tổng thống Kennedy, với tư cách là một Tổng Tư lệnh quân đội, đã không có được cơ hội để quyết định vai trò của nước Mỹ ở Việt Nam, đã làm cho thảm kịch của cái chết của ông trở nên bi thảm hơn và điều này cũng tô đậm di sản lớn lao của ông mà 45 năm sau, người ta vẫn còn thấy rất đáng kể. Khả năng phán xét của một Tổng chỉ huy quân lực, một trách nhiệm mà ông Barrack Obama sắp gánh vác, là yếu tố cơ bản để đem đến chiến tranh hay hòa bình.

Gordon M. Goldstein là tác giả cuốn sách vừa được Times Books xuất bản: « Bài Học Của Một Thảm Họa: McGeorge Bundy Và Con Đường Đến Chiến Tranh ở Việt Nam (Lessons in Disaster: McGeorge Bundy and the Path to War in Vietnam)


THE DAY VIETNAM CHANGED

Kennedy’s assassination 45 years ago today made it an American war.


The assassination of John F. Kennedy 45 years ago today brought an abrupt end to what his admirers called Camelot, a presidential era of glamour, intelligence, wit and possibility. But the murder had an even more profound consequence: Nov. 22, 1963, was the single most significant day in the history of the Vietnam War.

It’s not possible to know for certain how Kennedy would have managed the crisis in Vietnam had he lived. But it’s clear that he was determined to prevent Vietnam from becoming an American war and that he expected to withdraw fully during a second term.

At the point Kennedy assumed office in 1961, American military involvement in Southeast Asia was limited to arms shipments and a small number of advisors. But the South Vietnamese regime of Ngo Dinh Diem was facing an increasingly potent communist insurgency and, in the U.S., pressure was building to send in ground troops.

Over the course of the year, Kennedy’s advisors presented him with half a dozen or more proposals to Americanize the war. In one, Secretary of Defense Robert McNamara, Secretary of State Dean Rusk and the Joint Chiefs of Staff argued that it would be difficult to prevent “the fall of South Vietnam by any measures short of the introduction of U.S. forces on a substantial scale.”

Kennedy’s advisors told him that to defend the Saigon regime might take more than 200,000 combat troops. McGeorge Bundy, national security advisor, believed that committing American troops was vital. “Laos was never really ours after 1954,” Bundy explained to the skeptical president, invoking another Southeast Asian nation where Kennedy had resisted intervention. “Vietnam is and wants to be.”

Kennedy was not receptive. Long before becoming president, he had spoken out in Congress against the disastrous French experience in Vietnam, citing it as a reason the U.S. should never fight a ground war there. In the summer of 1961, he said he had accepted the conclusion of Gen. Douglas MacArthur, who counseled against a land war in Asia, insisting that even a million American infantry soldiers would not be sufficient to prevail. He would offer military aid and training to Saigon, but he would not authorize the dispatch of ground forces.

Over the three years of his presidency, Kennedy sometimes invoked hawkish rhetoric about Vietnam. He also increased the military advisors and training personnel there to roughly 16,000. But McNamara and Bundy both came to believe that Kennedy would not have Americanized the war – even if the price was communism in South Vietnam.

Kennedy realized that the inability of the United States to shut down the Ho Chi Minh Trail – the lines of infiltration and resupply from North Vietnam – would make it impossible to defeat the insurgency. “Those trails are a built-in excuse for failure,” Kennedy told an aide in the spring of 1962, “and a built-in argument for escalation.” Kennedy was so dubious he declared to White House aide Michael Forrestal that the odds against defeating the Viet Cong were 100 to 1.

In early 1963, Kennedy told Senate Majority Leader Mike Mansfield, who opposed increased U.S. involvement in Vietnam, that he would begin withdrawing advisors from South Vietnam at the beginning of his second term in 1965. Kennedy disclosed the same plan to Roswell Gilpatric, his deputy secretary of Defense. But the tragedy in Dallas in November 1963 changed everything.

What happened after Kennedy’s death is a familiar story. Lyndon B. Johnson ran for president in 1964, and in August of that year he used an ambiguous incident in the Gulf of Tonkin to extract an open-ended congressional authorization for military action against North Vietnam. On March 8, 1965, Johnson sent the first 3,500 Marines to Vietnam. Within months he had approved deploying 175,000 combat troops.

If Kennedy had lived, he would have enjoyed enormous advantages in 1965. In a second term, Kennedy would have been invulnerable to the electorate. He would not have had Johnson’s grand liberal agenda of Great Society legislation to ram through Congress. He had established a firm practice of overruling his advisors when necessary. And he would have entered his final four years as the champion of the Cuban missile crisis, a national security accomplishment that would have dramatically strengthened his hand.

 So he does not have to prove himself in Vietnam,” Bundy retrospectively argued. “He can cut the country’s losses then. He can do it by refusing to make it an American war.”

That Kennedy as commander in chief was not provided the opportunity to determine a different fate for the United States in Vietnam deepens the tragedy of his loss and also underscores his profound legacy, still richly relevant 45 years later: The judgment of the commander in chief, soon to be resting on the shoulders of President-elect Barack Obama, ultimately determines the difference between war and peace.

Gordon M. Goldstein is the author of “Lessons in Disaster: McGeorge Bundy and the Path to War in Vietnam,” recently published by Times Books.








Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013


MƯU TÍNH ĐƯA NHẤT LINH VÀO NHÀ THƯƠNG ĐIÊN

Vũ Cầm

Bài “Chúc thư văn học của Nhất Linh: Một cái chết định sẵn” của Nguyễn Văn Lục đăng trên VietWeekly ra ngày 20 tháng 3, 2008 là một “công trình nghiên cứu” rất lạ, không ra văn học, cũng chẳng giống y học (mặc dù có trưng ra vài từ y học), với một cung cách trình bày ngoắt ngoéo nhiều hậu ý.

Xin nói thẳng ra nhận xét chung đầu tiên: đây là một bài làm ra vẻ nghiên cứu, nhưng mục đích chính là để bôi đen chân dung một bậc hào kiệt của Việt Nam, chỉ vì người ấy dùng cái chết của mình chống đối chế độ Tổng thống Ngô Ðình Diệm. Và chống đối có kết quả: chỉ mấy tháng sau khi Nhất Linh tự tử, chế độ Diệm đã nhào đổ. Giai đoạn lịch sử ấy đã lùi xa cách đây 45 năm, bây giờ thì người ta có thể nhìn lại mọi sự một cách khách quan hơn, đánh giá lại nhiều sự việc. Chẳng hạn bản thân người viết những dòng này lúc đó là một học sinh Ðệ nhất Chu Văn An, đã cùng chúng bạn bãi khóa, biểu tình chống chính phủ để bênh vực Phật giáo với một lòng sục sôi căm ghét ông Diệm và gia đình ông; bây giờ lớn tuổi rồi, nhìn lại cá nhân ông Diệm thấy nhiều điểm đáng kính trọng, thấy thương ông. Nhưng đối với chế độ của ông thì nhận định của tôi vẫn không thay đổi, nghĩa là vẫn thấy nó tệ hại, không đoàn kết được (thực chất thì không bao giờ muốn đoàn kết) với các phần tử quốc gia uy tín khác chính kiến. Giết chóc, tù đày những thành phần quốc gia ưu tú là việc chế độ này đã làm, một cách liên tục trong chín năm cầm quyền. Nghĩ thật cám cảnh cho những chiến sĩ quốc gia chân chính trong truyền thống kẻ sĩ Việt Nam, phía bên kia thì bị phe cộng sản quốc tế giết hại, phía bên này thì bị chính quyền của một ông Tổng thống Thiên Chúa giáo trừ khử. Bi kịch này, mong có một dịp sẽ thảo luận kỹ hơn.

Ông Nguyễn Văn Lục, dưới cái áo khoác “nghiên cứu”, cố gắng phục hồi chế độ Diệm, không bằng lời lẽ ca tụng chế độ ấy, mà theo cách bôi đen những ai chống đối nó. Những kẻ cùng chí hướng với ông đã lắm phen nhục mạ tướng Dương Văn Minh và các tướng lãnh chủ mưu cuộc đảo chánh; dựng nên một màn hỏa mù cho người ta thấy, bằng những chứng cớ hoàn toàn bịa đặt, rằng tất cả các nhà sư tranh đấu hồi 1963 toàn là cán bộ cộng sản; thậm chí đã phao cái bí mật động trời này: trong các chùa có một bài thuốc bắc, khi uống vào thì toàn bộ hệ thống thần kinh con người bị tê liệt, và Thích Quảng Ðức đã được cho uống thang thuốc ấy trước khi tự thiêu. Họ hy vọng hình ảnh đại hùng, đại lực, đại từ bi trong truyền thống Phật giáo bỗng dưng sẽ bị xóa đi, làm tầm thường hóa đi, với cái bài thuốc quái đản này, thì cũng không khác hình ảnh “nướng thịt” do bà Ngô Ðình Nhu sáng tác ra. Những gì thuần túy có gốc rễ sâu xa của tâm thức Việt Nam có vẻ bị khinh miệt quá đáng bởi những yếu tố ngoại nhập, có thể vì ý thức ngoại lai thì không thể nào cảm nhận thấm thía được những giá trị truyền thống nghìn đời của một dân tộc.

Luận đề chính của ông Nguyễn Văn Lục là chứng minh nhà văn Nhất Linh không phải đã tự tử để lên án chế độ Diệm, mà đó là một cái chết đã được định sẵn, đến đúng thời điểm, hội đủ duyên thì nó xảy ra, thế thôi. Nếu thành công trong biện luận này, thì sẽ có một hệ luận tự nhiên hiện ra: chế độ của cụ Diệm rất tốt, nhà văn, nhà cách mạng nổi tiếng vào bậc nhất của Việt Nam là Nhất Linh đâu có chống đối gì chế độ ấy, chẳng qua ổng bị bệnh tâm thần mà tự tử vậy thôi.

Ông Lục đã làm một cuộc mổ xẻ rất “khoa học,” bằng cách trích dẫn tất cả những đoạn nói về nỗi buồn khổ thầm kín của Nhất Linh để làm tiền đề cho sự chẩn đoán của ông. Ðọc chúc thư văn học Nhất Linh viết đêm giao thừa Quý Tỵ 1953, trong đó có đượm vẻ bùi ngùi vì nhớ đến sự nghiệp xưa và các văn hữu đã khuất, ông Lục phê ngay: “Không khí chúc thư cho ta có cảm tưởng như thể của một người sắp ra đi, muốn nhắn nhủ lại (…) Trong bản chúc thư (…) đã có điểm dự báo về cái chết không tránh khỏi của ông sau này (…) Dẫn dần tới cái chết như một thứ định mệnh an bài. Không xảy ra cách này thì cũng xảy ra cách khác.” Trời đất, chẩn bệnh kiểu này thì nhìn đâu mà chẳng thấy “cái chết không tránh khỏi”! Chỉ một nỗi buồn nhớ rất thông thường trong giây phút giao thừa là giây phút nhiều cảm xúc tụ về, thế mà nhà phân tâm này đã đoán người này trước sau gì cũng chết! Thật chẳng khác gì cách nói của thầy bói: “Số cô có mẹ có cha, mẹ cô đàn bà cha cô đàn ông…, sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai…” Ðấy, mầm mống “ý định tự tử” của Nhất Linh đã manh nha một cách dứt khoát và rõ rệt như thế!

Rồi đến dẫn chứng lời kể của Nguyễn Tường Thiết rằng đã nghe Nhất Linh khóc trong đêm khuya, con mắt mọng nước của Nhất Linh theo trí nhớ của Nguyễn Thị Vinh v.v… đã giúp Nguyễn Văn Lục kết luận một cách chắc nịch rằng nhà văn đã bị bệnh tâm thần. Ðúng là Nhất Linh có nhiều nỗi buồn của riêng ông, mà với tâm hồn mẫn cảm của một nhà văn thì hẳn những nỗi buồn ấy càng lớn lao, nhưng gọi liền đó là bệnh tâm thần và kết luận “phải tự tử” thì ông thầy thuốc này chắc đã uống một thang thuốc… liều. Bởi vì Nhất Linh không phải là một người suốt đời buồn rũ rượi, không phải “thoạt đầu khi làm báo, ông lấy tên báo là Tiếng Cười, nhưng cả cuộc đời ông chỉ là những tiếng khóc” như Nguyễn Văn Lục đã chơi chữ để mô tả tính chất của ông. Hoàn toàn không phải như thế, Nhất Linh là một người rất hoạt động: khi làm báo, đã theo một phong cách vô cùng linh hoạt và hài hước, tờ Phong HóaNgày Nay có văn phong trong sáng vui vẻ, nhiều vui cười và tranh hí họa; thấy dân nghèo cuộc đời lầm than, ông tổ chức hoạt động xã hội, làm nhà ánh sáng cho dân; thấy nước nhà bị thực dân đô hộ, bèn đi hoạt động cách mạng để mưu tìm tự do cho dân tộc; ngay trong hoàn cảnh ẩn dật ông vẫn sống tích cực: vào rừng tìm lan, chơi nhạc, viết tiểu thuyết, xây dựng “ngôi nhà mơ ước”… Nhưng rồi ông đã hạ san, hoạt động văn hóa và chính trị trở lại, để đấu tranh với một chế độ quá nặng về gia đình và tôn giáo, không tạo được sự đoàn kết quốc gia. Một con người đầy ắp năng lực như thế mà dám bảo tâm thần suy nhược, lúc nào cũng chực tự tử! Ấy là vì ông Lục đã có chủ đích trước, kết luận đã có rồi, ông lặn lội đi tìm những chứng cứ để chứng minh cho cái định đề đã ra sẵn của mình, và dĩ nhiên ông sẽ lờ đi những yếu tố ngược lại, là sức sống tích cực trong con người Nhất Linh.

Ông viết: “Thất bại của ông thì nhiều, trải dài trong suốt cuộc đời làm chính trị khiến ông bị căn bệnh trầm uất triền miên. Depressive psychosis với ba giai đoạn phát triển tuần tự của bệnh từ Suicidal ideation, suicidal planning và cuối cùng suicidal attempt. Từ ý tưởng sang kế hoạch và sau cùng là thi hành.”

Tôi không tin ông Lục hiểu biết nhiều về bệnh lý học của bịnh tâm thần, ông chỉ lấy một ít kiến thức phổ thông qua sách vở, báo chí rồi đem “ứng dụng” vào một ca mà ông tự cho là mình hiểu rất rõ, rõ đến độ đã kết luận chắc nịch còn hơn thầy thuốc nữa!

Ông lại còn mang cuốn Bướm trắng ra để chứng minh cho lập luận của ông, chỉ vì trong đó nhân vật Trương trong một trạng thái tuyệt vọng đã nghĩ đến chuyện tự tử. Bướm trắng là một cuốn tiểu thuyết phân tích tâm lý hay nhất của Nhất Linh và cả của văn học Việt Nam, không làm gì có cái sắc thái u ám như ông Lục đã viết: “Ám ảnh về cái chết, về sự tự hủy như một cứu cánh đời sống, ám ảnh ông, bàng bạc trong các tác phẩm của ông, rõ rệt nhất là trong truyện Bướm trắng.” Phân tích nhiều trạng thái tâm lý khác nhau, trong đó có cả ý định tự tử của nhân vật vào một thời điểm không lối thoát, thì thiết tưởng nhà viết tiểu thuyết nào cũng có thể làm, ấy vậy mà ông Lục bám ngay vào chi tiết này, dùng nó làm công cụ để chứng minh cho luận đề “Nhất Linh muốn tự tử” của ông, tôi thấy ông Lục đã đi quá xa, trước sau ông bị một cái định kiến bám chặt vào đầu và chỉ chăm chăm đi tìm hai chữ “tự tử” trong bất cứ thứ gì Nhất Linh viết. Một người thưởng thức văn học bình thường thôi, chứ khoan nói là nghiên cứu văn học, không thể có một thái độ như vậy. Hơn nữa, nhận xét “ám ảnh về cái chết, về sự tự hủy như một cứu cánh đời sống, ám ảnh ông, bàng bạc trong các tác phẩm ông” có phải là điều có thật không? Nhưng ai đã đọc Nhất Linh, từ Ðoạn tuyệt, Lạnh lùng, Ðôi bạn, Nắng thu, Ði Tây, Hai buổi chiều vàng, Bướm trắng v.v… của giai đoạn Tự lực Văn đoàn, rồi Xóm Cầu Mới, Giòng sông Thanh Thủy của thập niên 1950, 60, có nhận ra điều mà ông Lục nói không? Với tư cách một độc giả bình thường, tôi phải khẳng định ngay rằng ông Lục đã nói ra những điều bịa đặt. Tác phẩm văn học của Nhất Linh, từ giai đoạn luận đề đả phá cái cũ, cổ xuý cái mới, cho đến giai đoạn đi sâu vào phân tích tâm lý, rồi mô tả cuộc sống phong phú muôn mặt chung quanh, đều trong sáng, tích cực, luôn cố gắng đạt đến chỗ cao hơn của nghệ thuật tiểu thuyết, chứ không hề bàng bạc về sự tự hủy, về cái chết (mặc dù tính cách này, giả dụ nếu có thật nơi một tiểu thuyết gia thì cũng không phải là một cái gì đáng chê trách, nếu ông hay bà ta viết hay).

Ông Lục đúng là đã “chẩn bệnh kiểu văn học”, trích đây một câu, kia một câu rồi ra… bệnh án. Theo lối này, nhiều lắm chỉ nên đặt ra như một giả thuyết khi trà dư tửu hậu, chứ viết ra những khẳng định về một nhân vật rất lớn của đất nước, giữa một giai đoạn lịch sử gay cấn như mùa hè năm 1963, thì tôi thấy thiếu đứng đắn.

Trên đây chỉ là nói qua cái ý đồ chính của ông Lục, khi đọc bài ông sẽ thấy rất nhiều chi tiết bộc lộ sự không đứng đắn khác của ông. Nói chung, mục đích của ông là cố ý “hạ” Nhất Linh, tạt một thùng hắc ín vào chân dung của nhà văn, nhưng đây đó vẫn điểm xuyết vài ngụy trang khen ngợi. Ðó là một cái mánh để tỏ ra mình “vô tư”, nhưng nếu đọc kỹ sẽ thấy tác giả rất thống nhất trong chủ ý của mình, “gài mìn bẫy” rất tinh vi khắp nơi.

Trong suốt gần một thập niên nhóm Tự lực Văn đoàn làm báo Phong Hóa rồi Ngày Nay, thỉnh thoảng có những bài phê bình, thường với phong cách chế giễu, trào lộng, đối với một vài tác phẩm đương thời, và xảy ra bút chiến, thế là ông Lục khẳng định ngay: “Chửi liên tiếp. Chửi tất cả. Kể cũng là lạ ở thời kỳ đó, người ta đã chửi nhau như thế.” Ðọc câu này, những người nhỏ tuổi chưa từng thấy báo Phong Hóa, Ngày Nay dám tưởng các báo này cũng giống như những “báo chợ”, “báo chửi” ở vùng Little Saigon ngày nay, vốn dùng chửi bới để… tiến thân và… làm giàu! Nghe ông Lục mô tả như thế, đám trẻ tuổi hẳn không ngờ Phong Hóa, Ngày Nay chính là những tờ báo quan trọng nhất trong thời kỳ trưởng thành của làng báo Việt Nam, cách đây bảy, tám mươi năm. Tôi đồ chừng ông Lục cũng chẳng đọc nhiều các tờ Phong Hóa, Ngày Nay (hoặc chẳng bao giờ đọc cả cũng nên!), chỉ xem những câu chuyện bút chiến trong các cuốn luận đề văn chương dành cho học sinh trung học thời trước 1975, rồi nói phịa ra thế thôi, chứ nếu có đọc thì chắc hẳn ông đã có một đánh giá khác (với điều kiện ông có khả năng để đánh giá).

Những chi tiết như những vệt sơn đen tình cờ kiểu đó còn nhiều, rải rác trong bài viết, cuối cùng sẽ cho một bức tranh rất nhiều vết nham nhở. Khi nói về tác phẩm Con trâu và tác giả Trần Tiêu, ông Lục đoán lý do Trần Tiêu không được Nhất Linh cho vào danh sách Tự lực Văn đoàn: “Có thể là vì lý do chính trị đã khiến Nhất Linh gạt tên Trần Tiêu ra khỏi Tự lực Văn đoàn? Nhưng phải giải thích làm sao trường hợp ba người ở lại hợp tác với cộng sản là Thế Lữ, Xuân Diệu và Tú Mỡ?” Thú thật đọc câu này tôi chưng hửng, vì phỏng đoán rồi kết nối việc nọ với việc kia một cách rất tầm phào. Tự lực Văn đoàn tự nó không phải là một đảng phái chính trị, thành viên của nó tùy khuynh hướng và hoàn cảnh về sau có người theo bên này, người theo bên kia, chuyện đó đâu có gì lạ, sao phải đặt một câu hỏi theo kiểu như vậy?

Mời bạn đọc xem tiếp đoạn này: “Nhất Linh đã tự tử. Sự lựa chọn đó phải chăng do những biến cố thời cuộc chính trị của những năm 1963 hay là một chọn lựa tiền định, tiềm ẩn? Thực tế ông đã để lại một thông điệp 72 chữ mà nhiều người có thể lặp lại một cách thuộc lòng như: Ðời tôi để lịch sử xử. Nhưng lịch sử là ai? Ai xử? Xử như thế nào? Ðã xử chưa?” Thật là những câu hỏi dồn dập, gắt gao, nhưng lại làm cho tôi chưng hửng một lần nữa. Có thể nào một người Việt Nam có học lại không hiểu câu “đời tôi để lịch sử xử”, nhất là người viết câu đó sắp bị chế độ đem ra tòa để xử. Làm gì hùng hổ dồn một lô một lốc các câu hỏi mới nghe tưởng như trí thức lắm, “truy tìm sự thật” lắm, nhưng ngẫm lại đó chỉ là những cái đao, những cái búa bằng giấy bồi vung lên chỉ cốt làm người ta hoa mắt. Thật ra, chỉ có mấy tháng sau ngày 7 tháng 7 năm 1963 ấy thì lịch sử đã lên tiếng rồi, vào ngày 1 tháng 11. Ai xử ai, xử như thế nào, đã lộ rõ. Bây giờ ông Nguyễn Văn Lục có muốn “xử” lại ông Nhất Linh bằng cách cố tình bóp méo động cơ cái chết của ông để biện minh rằng chế độ Diệm rất là tốt đẹp, thì cũng đã trễ rồi, trang lịch sử ấy theo tôi đã được khẳng định, đã xong. Nguyên khí của nước Việt Nam truyền thống đã ra tay điều chỉnh những lệch lạc của một thời, đặt để lại những giá trị sâu xa bền vững của dân tộc nghìn năm vào trong tâm khảm của người dân.

Việc tờ Văn Hóa Ngày Nay phải đình bản vì chính quyền làm khó dễ việc phát hành đã đưa đến cụt vốn, điều này những người trong cuộc đã nói đến nhiều rồi. Và sự việc cũng dễ hiểu, trong cái bối cảnh hồi đó. Thế mà ông Lục đã ghép việc này với việc khác, để tạo ra một nghi vấn. Hãy đọc: “… ông Nhất Linh có tâm sự và cho biết do những khó khăn về tài chánh nên phải đình bản tờ báo. Và nếu như thế thì cắt nghĩa làm sao sự chết yểu của Hiện Ðại, Thế Kỷ 20 cũng trong thời kỳ đó? Dù mọi người hiểu rằng Hiện Ðại, Thế Kỷ 20 đóng cửa vì hết tài trợ. Tóm lại, Văn Hoá Ngày Nay đình bản vì thiếu tài chánh…” Ðộc giả chắc nhận ra cái ẩn ý của Nguyễn Văn Lục trong đoạn văn vừa rồi? Chỉ viết khơi khơi thôi, chẳng kết luận gì, nhưng cố tình gợi ý rằng tờ Văn Hóa Ngày Nay đã nhận tiền tài trợ của một cơ quan ngoại quốc nào đấy, như các tờ Hiện Ðại, Thế Kỷ 20. Báo hết tiền phải đóng cửa là chuyện thường xảy ra trong làng báo, nhất là những tờ bị chính quyền ra tay trù dập như Văn Hoá Ngày Nay. Thế mà ông Lục ghép ngay với các vụ tài trợ khác chẳng có dây mơ rễ má gì. Nếu có bằng cớ thì trưng ra, còn không có thì thôi đừng nói tới, đàng này biết là sự việc chẳng phải như vậy mà cứ nối kết với một sự việc khác để “gợi ý” cho người khác hiểu như thế, đó là trò thiếu lương thiện.

Có một đoạn văn trong bài của ông Lục đã làm cho tôi thực sự ngạc nhiên, đó là đoạn ông đả kích người khác thương tiếc Nhất Linh. Ông đã trích một đoạn văn diễn tả cảm xúc của một người đối với cái chết của Nhất Linh: “Riêng tôi, trên đường đi, tôi cảm nhận hơn một lần, hình như khi đưa tiễn Nhất Linh tôi đang đưa tôi, đang đưa một chặng đường văn học của quãng đời thanh xuân của mình (…)” rồi đả phá nó một cách phũ phàng không ngờ: “… loại văn chương ai điếu, thứ văn chương mà hễ có nhân vật nổi danh nào nằm xuống là phải có sẵn một bài tụng niệm sáo ngữ, để nhập cái chết của ông vào cuộc tranh đấu của Phật giáo chống chính quyền Ngô Ðình Diệm. (…) Ðó chỉ là thứ kèn trống đám ma, nói thì nghe xôn xao rộn rã nhưng không biết mình nói gì, viết gì.” Tôi thật sự ngạc nhiên về sự phẫn nộ của ông Lục. Người thương tiếc người, thì hãy để người ta khóc, việc gì đến ông? Sao ông xúc phạm người khác quá quắt như vậy, ông nhân danh cái gì? Trong di chúc của mình, Nhất Linh nói rõ ông theo gương Thượng tọa Thích Quảng Ðức chọn cái chết để phản đối chính quyền Ngô Ðình Diệm, chỗ đứng của ông hết sức rõ ràng, đâu có cần ai phải “nhập cái chết của ông vào cuộc tranh đấu Phật giáo”! Nhất Linh và Phật giáo đứng chung một chiến tuyến, bảo vệ cho tự do và truyền thống của dân tộc. Trong đám tang của Nhất Linh, trước khi hạ huyệt, linh mục Thanh Lãng và nhà văn Nhật Tiến đã đọc lời ai điếu - một hành vi can đảm giữa vòng vây của mật vụ thời ấy, nhất là cho nhà văn Nhật Tiến - ông Lục có dám coi đó là thứ “kèn trống đám ma” không? Ông có quyền nghiên cứu để chứng minh ông Nhất Linh bị bệnh tâm thần, nhưng ông cần phải tỏ ra có giáo dục, tôn trọng tình cảm của người khác đối với nhân vật lừng lẫy này. Chưa biết công trình của mình có ra cái gì, đã vội vùi dập người khác bằng những lời lẽ vô lễ và khiếm nhã, một người có tư cách không thể làm như vậy.

Tôi sẽ không viết về những đoạn trong phần Phụ lục, rình mò chuyện riêng tư, cũng với ý đồ bêu xấu Nhất Linh và các đồng chí của ông thuộc Việt Nam Quốc dân Ðảng, vì bà Trương Kim Anh đã nói đến. Tôi chỉ xin quay lại một chút với chủ đề chính của tác giả Nguyễn Văn Lục trước khi dừng bút. Ấy là vấn đề bệnh tâm thần. Ðể vô hiệu hóa hành vi, ngôn ngữ của kẻ nào, điều dễ nhất là nói người đó điên. Khi thuyết phục được mọi người rằng một ai đó có bệnh tâm thần là đã có thể hư vô hóa người ta. Không một cái gì thuộc về người ấy còn có giá trị với đời sống bình thường của chúng ta nữa. Nguyễn Văn Lục đã khổ công tạo ra một Nhất Linh bị bệnh tâm thần để triệt hạ ông, và tưởng như thế là một phát minh mới mẻ lắm. Không, Đảng Cộng sản Nga đã chơi cái trò đó nhiều rồi. Những ai thuộc giới trí thức mà chống đối chế độ, thay vì bắt giam tra tấn đánh đập nhiều khi chỉ càng làm người ấy nổi bật lên vì sự can đảm, chỉ cần tống vào nhà thương điên là người ấy không còn tư cách làm người nữa trước mắt xã hội.

Nguyễn Văn Lục mưu đồ cho Nhất Linh vào nhà thương điên. Nhưng người điên, ở đây là ai?

© 2008 talawas
ĐÁM TANG NHẤT LINH