Hiển thị các bài đăng có nhãn lâm lễ trinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lâm lễ trinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015


NGUYÊN TRƯỞNG
ĐOÀN CÔNG TÁC ĐẶC BIỆT MIỀN TRUNG
DƯƠNG VĂN HIẾU LÊN TIẾNG

Lâm Lễ Trinh

Ông Lâm Lễ Trinh, nguyên Bộ trưởng Bộ Nội Vụ thời Đệ Nhất Cọng Hòa

LGT - Bài viết dưới đây cần được đọc một cách thận trọng vì ba lý do: (i) Đối tượng phỏng vấn là ông Dương Văn Hiếu, một người làm nghề tình báo của chế độ Ngô Đình Diệm, đối tượng nầy được chọn để phục vụ cho nỗ lực phục hồi chế độ Diệm của một số phần tử hoài-Ngô tại hải ngoại, (ii) Cuộc phỏng vấn có tính riêng tư, không được công khai hóa hoặc có sự tham dự của chứng nhân, và (iii) Người phỏng vấn là ông Lâm Lễ Trinh, vốn là cựu Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ cũng của chế độ Ngô Đình Diệm, đã từng có nhiều cuộc phỏng vấn khác mà tính khách quan đã bị nhiều người đặt vấn đề.

Tuy nhiên, thấp thoáng đàng sau cuộc phỏng vấn nầy, có nhiều chỉ dấu cho ta thấy những điều mà chế độ Diệm đã bị phê phán là không có gì sai: Đó là hiện tượng tập trung quyền lực quốc gia vào tay anh em nhà Ngô mà ta gọi là “gia đình trị”, đó là những mâu thuẩn quyền lực của nhóm chop bu nhà Ngô giữa hai ông Nhu và Cẩn (và những bóng “áo đen” của cha cố), và đó là chính sách công an trị thông qua nhiều bộ máy mật vụ để đàn áp đối lập từ Huế đến Sài Gòn.
Nam Giao cho đăng lại nguyên văn bài nầy (2015) như một tài liệu từ một nhân chứng - Những sai lầm dễ dàng phát hiện về ngày tháng, tên người và tên tổ chức là của hai tác giả Lâm Lễ Trinh / Dương Văn Hiếu. Phần nhấn mạnh (màu vàng) là của NG.     

Sự tịnh khẩu từ 1963 cho đến nay của ông Dương Văn Hiếu, nguyên Trưởng đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung thời Đệ nhứt Cộng hoà Việt Nam, là một cuộc hành trình xuyên sa mạc dài trên bốn thập niên. Tác giả bài này đã liên lạc lại được với ông Hiếu hiện định cư tại San Jose, Californie. «Con người biết quá nhiều, L’homme qui en savait trop» và từng bị gán biệt danh «Hùm Xám của Chế độ» đã chấp nhận trả lời nhiều câu hỏi của chúng tôi liên hệ đến một giai đoạn chính trị cực kỳ sôi động trong cuộc chiến tranh tình báo chống Bắc Việt từ 1954 cho đến tháng 11.1963.
Sau vụ đảo chính lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông Hiếu bị Hội đồng Quân Dân Cách mạng điều tra, đưa ra Côn đảo với một số nhân vật khác của Chính phủ củ và được trả tự do năm 1964. Đêm 28.4.1975, ông rời Việt Nam với đứa con trai đầu lòng trên một chiếc tàu Hải quân VN cùng với Trung tướng Nguyễn Văn Là, cựu Tổng Giám đốc Công An. Năm 1989, gia đình gồm có vợ và tám người con sau qua đoàn tụ với ông tại Hoa kỳ.
Ông Dương Văn Hiếu nay 81 tuổi, sức khoẻ không dồi dào như trước nhưng trí nhớ còn sắc bén khi nhắc đến ký ức xa xưa. Ông giới hạn hoàn toàn sự giao thiệp bên ngoài về mặt chính trị và đã từ chối mọi đề nghị phỏng vấn của báo chí. Sau đây là những điểm chính có thể tiết lộ trong cuộc nói chuyên có ghi âm giữa ông Dương Văn Hiếu (DVH) và tác giả (LLT).

- LLT: Xin ông vui lòng cho biết sơ lược, nếu được, những năm niên thiếu của ông và trường hợp nào ông tham gia ngành công an và được bổ nhiệm vào chức vụ Trưởng đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung (ĐCTĐMT). Chức vụ chót của ông trước cuộc đảo chính 1.11.1963 là gì ?
- DVH: Tôi sanh ra tại Hà Nam, Bắc Việt, trong một gia đình trung lưu làm ăn thành công. Tôi học tại trường trung học Louis Pasteur và Thăng Long, Hà Nội. Vừa lấy xong bằng diplôme d’Etudes primaires supérieures vào năm 1944-1945 thì Nhựt đảo chính Pháp. Tôi lập gia đình năm 1948, bố vợ tôi là bác sĩ Nguyễn Văn Tam từng phục vụ trong Liên khu 5 và cộng tác với Đức cha Lê Hữu Từ ở Phát Diệm. Sau Hiệp định Genève năm 1954, tôi được cụ Võ Như Nguyện, Giám đốc Công an Trung Phần, để ý trong một buổi học tập chính trị mà tôi là thuyết trình viên (về đề tài Điện Biên Phủ). Ông tuyển tôi vào ngành công an. Giữa 1957, tôi giữ chức Trưởng ban Khai thác Nha CA-CS Trung nguyên Trung phần. Khi ông Nguyễn Chử, một lãnh tụ Quốc Dân Đảng, thay thế cụ Nguyện, tôi trở thành Trưởng ty Công an Tỉnh Thừa Thiên và Đô thị Huế. Nhờ phá vở được trong vòng hai năm hệ thống điệp báo Cộng sản Khu 5 và mở rộng hoạt động ra đến các tỉnh Quảng trị, Quảng Ngải, Bình Thuận, Qui Nhơn..v..v.., tôi được ông Tỉnh trưởng Thừa Thiên Nguyễn Đình Cẩn và Đại biểu Chính phủ Miền Trung Hồ Đắc Khương giới thiệu nhiệt tình với Tổng thống Ngô Đình Diệm. Giữa 1957, tôi được bổ nhiệm Trưởng Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung (ĐCTĐBMT) để làm việc tại Sàigòn vào đầu năm 1958. Chủ đích của Đoàn là thi hành chính sách của Cố vấn Ngô Đình Cẩn mệnh danh «Chiêu mời (sau đổi thành Cải tạo) và Xử dụng các cán bộ cựu kháng chiến». Lúc đó tôi đã gia nhập đảng Cần Lao. Sau vụ đảo chính hụt của Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông và Phan Quang Đán ngày 11.11.1960, tôi làm Phụ tá cho Tổng Giám đốc Công an Nguyễn Văn Y, còn ông Nguyễn Văn Hay thì giữ chức Phó Tổng giám đốc Công an.(Vợ ông Hay là một người em bà con của tướng Dương Văn Minh)


- LLT: Có phải cùng một lúc, ba sĩ quan Cần Lao Nguyễn Văn Châu, Phạm Thư Đường và Lê Quang Tung cũng được đưa vào Nam. Châu trong chức Giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý, Bộ Quốc phòng; Đường, Phụ tá cho Trần Kim Tuyến, Sở Nghiên Cứu Xã hội Chính trị (SNCCTXH); và Tung, cầm đầu Lực lượng Đặc biệt? Ngoài ra, còn có Phan Ngọc Các, hoạt động cho cánh Cần Lao Ngô Đình Cẩn. Đoàn CTĐBMT đặt trụ sở tại đâu? có bao nhiêu nhân viên? chi phí họat động do cơ quan nào trang trải?

 - DVH: ĐCTĐBMT có trách vụ lo về tình báo chiến lược và phản gián, không liên hệ đến ba sĩ quan vừa kể và Phan Ngọc Các. Trụ sở của Đoàn đặt tại trại Lê Văn Duyệt, Sàigòn, gần Quân khu Thủ đô. Dưới quyền tôi, có tám nhân viên và hai thơ ký đánh máy. Chi phí hoạt động (lương bổng, đồ ăn, feuille de route.v.v...) do Phòng Hành chính của Phụ tá Nguyễn Thành tại Tổng Nha Công an cấp vì trên giấy tờ, tôi và các nhân viên được coi như vẫn thuộc Ty Công an Thừa Thiên. Đôi khi Đoàn cũng nhận được sự trợ giúp của Chánh Văn Phòng Đặc biệt Võ Văn Hải, với tiền lấy từ Quỷ đen của Tổng thống. Số tiền này không hệ trọng, chỉ có tính cách nâng đỡ tinh thần. Riêng cá nhân tôi không được cấp một nhà chức vụ. Tôi có mua một công xá gần nhà bí thơ Trần Sử ở khu Công Lý, Sàigòn. Đoàn không nhận một ngân khoản nào đến từ ông Ngô Đình Cẩn.
 
- LLT: Xin ông cho biết vài chi tiết hệ trọng trong hồ sơ Vũ Ngọc Nhạ (từng tự xưng là cố vấn của TT Diệm) và Huỳnh Văn Trọng (cố vấn của Tổng thống Thiệu)

- DVH: Nhạ không bao giờ làm cố vấn cho TT Diệm. ĐCTĐBMT đã bắt y thời Đệ nhứt Cộng Hòa như một cán bộ CS tép riu, một tiểu công chức tại Bộ Công Chánh. Nhạ mang nhiều tên khác: Vũ Đình Long, Hai Long, Ông Giáo, Thầy Bốn..v..v.. Còn Trọng thì bị dính trong vụ mệnh danh «Gián điệp Pháp ở Nhà hàng Morin Huế». Y đã trốn thoát qua Nam Vang. Sau 1963, trở về Sàigòn, y được Nhạ bố trí vào Dinh Độc lập. Chính Tổng trưởng Nội vụ Hà Thúc Ký đã thả Nhạ sau 1963. Nhạ tái hoạt động với cụm tình báo A 22 trong đó có Trọng và Lê Hữu Thúy tự Thắng. Linh mục Hoàng Quỳnh giới thiệu Nhạ cho Trần Ngọc Nhuận, cha sở nhà thờ Phú Nhuận, bạn thân của vợ chồng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

- LLT: ĐCTĐBMT có xử dụng «hầm» P42 – được báo giới ngoại quốc mô tả là «địa ngục trần gian»- để tra vấn các tù nhân hay không ?

- DVH: P42 là một biệt thự thuộc Bộ Canh nông nằm bên trong Sở Thú, Jardin botanique Sàigòn, dùng để nhốt một số can phạm chính trị đặc biệt. Đoàn chúng tôi không xử dụng vì có trại Lê Văn Duyệt rồi.

- LLT: Trong công tác, ông phúc trình cho ai? Tổng thống? Ông Nhu hay ông Cẩn? Ông có trao đổi tin tức, tài liệu gì với cơ quan CIA hay không? Mối giao hảo công vụ giữaĐCTĐBMT và Tổng Nha Công An, Sở NCXHCTcủa Trần Kim Tuyến, Tổng Nha An ninh Bộ Quốc phòng (Đỗ Mậu) và Lê Quang Tung ra sao?

- DVH: Tôi làm việc gần ông Nhu hơn. Khi có chuyện hệ trọng cần hỏi thêm, Tổng thống gọi tôi vào Dinh. Tôi chỉ gởi bản sao một vài phúc trình cho ông Cẩn. Trong những ngày cuối cùng trước đảo chính 1963, tôi bị ông Cẩn hiểu lầm “nhức đầu”. Ông Nguyễn Văn Minh, bí thơ ông Cẩn, và Trung tá Phạm Thư Đường, chánh văn phòng Cố vấn Nhu cũng ở trong hoàn cảnh đó. Tôi không bao giờ liên lạc với CIA. Tuy nhiên, sau vụ đảo chính 1.11.1963, bị Cách Mạng giam tại Chí Hoà, tôi mới được biết rằng tên Phan Khanh, phụ tá cho tôi, chiụ trách nhiệm về operations, được CIA móc nối. Khanh do ông Cẩn giới thiệu với tôi “vì biết võ”. Đại Tá Nguyễn Văn Y, Tổng Giám đốc Công An cũng như Trần Kim Tuyến (SNCCTXH), Lê Quang Tung (Lực lượng Đặc biệt) và Đỗ Mậu (An ninh Quân đội) không ưa tôi. Vợ ông Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương và bà Thiếu tướng Nguyễn Văn Là (tiền nhiệm ông Y tại Công An) đều không thích bà Tuyến vì tranh dành địa vị bên cạnh bà Nhu nên ảnh hưởng đến các ông chồng. Tôi tránh xen vào mê hồn trận này.Riêng về Đỗ Mậu, ông hận tôi vì ĐCTĐBMT đã phát hiện và bắt Thiếu úy Lê Hữu Thúy, một điệp viên VC được ông đặt làm Trưởng phòng An ninh tại Nha An ninh Quân đội.

- LLT: Phương pháp làm việc của ĐCTĐBMT có gì mới lạ? Hiệu quả công tác của Đoàn ra sao? Phản ứng của phía CS Bắc Việt như thế nào?

- DVH: Sau đây tóm tắc vài đặc điểm của Chính sách Cải tạo (đi đôi với việc thành lập Lực Lượng Võ Trang Nhân Dân): Trong các nhà tù không song sắt, Công an Mật vụ ăn, ở, học tập, chơi và sinh hoạt chung với cán bộ Việt cộng sa lưới. Các Toán trưởng thu thập những tờ khai báo của những cán bộ này nạp cho Ban cải tạo hay Ban nghiên cứu. Chúng tôi không bắt công khai mà tổ chức bắt bí mật; giữ kín hoàn toàn những trường hợp đầu hàng hay hợp tác; Đoàn chúng tôi đã tạo nên một màng lưới phục kích, bao vây các cán bộ từ chính đường giây giao liên và cơ sở cũ mà Cách mạng đã dày công tổ chức. Thay vì hỏi cung thông thường, chúng tôi áp dụng phương thức mạn đàm, trao đổi, tranh luận, khai thông tư tưởng, cởi mở với đối tượng. Nếu cần, mua chuộc, dụ dỗ chuyển hướng. Đối với những cán bộ CS ngoan cố, chúng tôi xử dụng tập thể CS cải tạo để khuyên nhũ lôi cuốn hoặc, theo đường lối “xa luân chiến”, giải thích chính sách chuyển hướng, tranh luận áp đảo các thắc mắc, phản ứng của người bị bắt…v..v..
Vì thời lượng buổi nói chuyện hôm nay giới hạn nên chúng tôi mong trở lại vấn đề phức tạp này trong một dịp khác. Để trả lời phần hai câu hỏi của Luật sư, ít nữa 4 quyển sách tịch thu được trong chiến khu VC cho thấy chúng rất e sợ “chính sách mới lạ, kỳ diệu và nguy hiểm” do ĐCTĐBMT áp dụng. Bốn quyển ấy mang tên “Đoàn Mật vụ của Ngô Đình Cẩn (tác giả Văn Phan), Đường Thời Đại (tác giả Đặng Đình Loan), Cuộc chiến tranh đặc biệt (hồi ký của Đinh Thị Vân) và Bội phản hay Chân chính (tiểu thuyết hồi ký của Dư Văn Chất). Với chính sách này, Đoàn chúng tôi bắt gọn được - vào hạ bán niên 1958 - hai màng lưới Tình báo Chiến lược và Quân báo CS từ Bến Hải vào đến Sàigòn.Trong tài liệu mệnh danh “Thư vào Nam” của Tổng bí thơ Lê Duẫn gởi tháng 7.1962 cho Nguyễn Văn Linh tức Mười Cúc, khi ấy Xứ Ủy Nam bộ, có đoạn viết: “Đã có lúc ở Nam Bộ cũng như ở khu 5 (Miền Trung), tình hình khó khăn đến mức tưởng như Cách mạnh không thể duy trì và phát triển được.”

- LLT: Vì sao (Nha sĩ dỏm và Play boy) Phan Ngọc Các, đại diện Cần Lao cho ông N Đ Cẩn tại Miền Nam, bị bắt? Ai bắt?
- DVH: Cố vấn Nhu ra lệnh cho Lê Quang Tung bắt vì Các làm tiền thương gia Hoa kiều Chợ Lớn, Các tuyển nạp đảng viên Cần Lao lung tung. Ông Cẩn rất bất mãn về chuyện Các bị bắt và bảo tôi thưa lại với ông Nhu phóng thích Các. Tung là người của ông Cẩn. Tôi có cảm nghĩ Tung và Tuyến theo dõi tôi còn (Nguyễn Văn) Y thì đố kỵ tôi.

- LLT: Thái Trắng (tức Lê Văn Thái, qua đời tại San Diego) và Thái Đen (tức Nguyễn Như Thái, biệt danh Đại tá Thanh Tùng) có làm việc cho ông hay không?

- DVH: Chỉ có Thái Đen cọng tác với tôi. Thái Trắng làm việc với Tuyến, y là bà con vợ trước (Đặng Tuyết Mai) của Nguyễn Cao Kỳ. Không biết tại sao Thái Đen lại mang biệt danh “Đại tá Thanh Tùng” vì y không bao giờ có chân trong Quân đội hay đồng hoá sĩ quan. Y phụ tá cho tôi về mặt hành chính, bị Toà lên án khổ sai chung thân, bị đưa ra Côn đảo về tội “bắt người trái phép” và được thả ra trước tôi. Thời Đệ nhị Cọng Hoà, hình như Nguyễn Ngọc Loan có xử dụng đương sự.

- LLT: Ông có thể cho biết tên và chức vụ của vài cán bộ cao cấp Việt Cộng bị ĐCTĐBMT bắt giữ?
- DVH: Có thể cho biết hai tên:

1-Trần Quốc Hương tự Mười Hương, Ủy viên Trung ương Đảng, người chỉ huy màng lưới Tình báo Chiến lược của Hà Nội tại Miền Nam. Y bị bắt lối năm 1958. Chính tôi đã đưa Hương ra Huế gặp bí mật hai ông Nhu và Cẩn ở Thuận An, trên một chuyến máy bay đặc biệt do Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ lái. Hương được Hội đồng Cách Mạng trả tự do tháng 5.1964. 
2- Đại tá Cộng Sản Lê Câu đã giúp tôi khám phá ra Phạm Bá Lương, Công cán Ủy viên của Bộ trưởng Ngoại giao Vũ Văn Mẫu. Lương ăn trộm và chuyển cho Hà Nội toàn bản chính kế hoạch kinh tế Staley-Vũ Quốc Thúc.Tôi gài bẩy bắt Lương khi y lên máy bay tại phi trường Tân Sơn Nhứt để đi Thái Lan vì công vụ. Ông Mẫu không hay biết lý do.


- LLT: Ông biết gì về đại tá Phạm Ngọc Thảo?

- DVH: Trong phạm vi trách nhiệm phản gián, tôi có theo dõi Phạm Ngọc Thảo. Tôi biết Thảo được Đức cha Thục giới thiệu vào Bảo An và Thảo có liên hệ chính trị với bác sĩ Tuyến trong những năm tháng chót trước cuộc binh biến 1.11.1963. Hình như Thảo có trình với Tổng thống Diệm rằng Đoàn Công tác của chúng tôi bám sát y. Tôi có dịp thưa với Tổng thống nên lưu ý đến Thảo vì Thảo có bà con làm việc cho Bắc Việt trong chức vụ hệ trọng. Tổng thống có vẻ suy tư và nói: tại sao không khai thác kinh nghiệm của Thảo trong lãnh vực ấp chiến lược và khu trù mật? 

- LLT: Khi xảy ra những biến động Phật giáo tại Huế năm 1963 thì ông ở đâu? Có trách vụ gì? Xin cho biết vài ý kiến về cuộc khủng hoảng Phật giáo.

- DVH: Lúc đó tôi công tác ở Sàigòn, tôi không liên hệ trực tiếp đến vụ Phật giáo. Tôi nhớ: Một hôm tôi vào trình việc trong Dinh (Độc Lập), Tổng thống than phiền rằng cụ vừa kinh lý khu Dinh điền Vị Thanh về, đi ngang một ngôi chùa, thấy cờ Phật giáo treo trên cột cao giữa sân chùa, còn Quốc kỳ thì bắng giấy, nhỏ cở bàn tay, dán trên trụ cột ngoài cổng, không ra thể thống gì cả. Khi về, Tổng thống có mời Đức Khâm Mạng Toà Thánh và ông Mai Thọ Truyền (một trong hai Phó Hội chủ Tổng Hội Phất giáo) vô cho biết tình trạng và yêu cầu lưu ý các giáo dân phải tôn trọng Quốc kỳ theo thể thức được Chính phủ quy định. Hai vị vừa kể hứa lưu ý giáo dân. Sau đó Tổng thống có ra lệnh miệng cho ông Đổng lý Văn phòng Quách Tòng Đức gởi công điện nhắc các Tỉnh. Không biết vì sao ông Đức để đến ngày chót trước Lễ Phật Đản 8.5.1963 mới gởi công điện. Tổng thống có kêu ông Đức vô hỏi, ông Đức xin từ chức, Tổng thống nói: công chuyện đổ bể như thế, xin thôi có ích chi?
Ngoài ra, lúc bị giam chung với tôi sau ngày 1.11.1963, Thiếu tá Đặng Sĩ, Tiểu khu trưởng kiêm Phó Tỉnh trưởng Thừa Thiên, nói với tôi rằng ông bị oan vì được Tướng Lê Văn Nghiêm, Tư lệnh Quân đoàn 1, Vùng 1 Chiến thuật, cho phép ông chiều ngày 8.5.1963, trước Đài Phát thanh Huế, dùng lựu đạn hơi để giải tán biểu tình. Không biết “bàn tay bí mật” nào đã vung một trái lưu đạn chiến đấu gây thiệt mạng cho 8 em bé và thương tích cho nhiều người khác. Sĩ bị Toà phạt khổ sai chung thân. Thượng tọa Trí Quang, làm việc cho CS, đóng vai trò hàng đầu trong vụ Phật giáo, lợi dụng mối giao hảo tốt với Cố vấn Cẩn. Sau 1975, tướng Nghiêm không bị làm khó vì đi đêm với Bắc Việt từ trước. Cũng như bác sĩ Lê Khắc Quyến, giám đốc Bênh viện Huế. Tổng giám mục Ngô Đình Thục hành động nóng nảy, Cố vấn Cẩn bị bó tay.

- LLT:Chuyện gì đã xảy ra cho Ông sau ngày đảo chính 1.11.1963 ?

- DVH: Tôi bị bắt cùng với hai phụ tá là Nguyễn Tư Thái (tức Thái Đen} và Phan Khanh. Ủy ban Điều tra tội ác - do một chính khách Hoà Hảo chủ tọa - thẩm vấn tôi về những tố cáo làm tiền, bắt người và thủ tiêu đối lập. Tôi còn nhớ bà góa phụ Đinh Xuân Quảng, vợ của một cựu Bộ trưởng thời Bảo Đại, thưa tôi đã tra khảo bà. Không có bằng chứng cụ thể. Tại Tổng Nha Công an, Tống Đình Bắc thay tôi. Y và Trần Bá Thành nắm trong tay nhật ký memories của tôi. Thành nằm vùng cho CS. Nếu tôi có giết bất cứ ai thì chắc chắn Tướng (Mai Hữu) Xuân đã “làm thịt” tôi rồi. Chính y cũng đã nói với tôi như vậy. Tuy nhiên, Toà án Cách mạng, do một Thẩm phán dân sự chủ tọa, (trong đó đại tá Dương Hiếu Nghĩa là một thành viên}, đã xử tôi khổ sai chung thân về tội “bắt người trái phép”. Trong vụ tảo thanh các chùa Phật ở Sàigòn, chính Cảnh sát Đô thành của Giám đốc Trần Văn Tư đã bắt các sư sải. Đoàn CTĐBMT đâu có nhân viên để làm chuyện đó. Trong các phiên xử khác, Tòa phạt từ tù đến khổ sai các ông Trần Kim Tuyến, Nguyễn Văn Y, Trần Văn Tư, Hà Như Chi, Nguyễn Lương, Ngô Trọng Hiếu, Cao Xuân Vỷ, Bùi Dzinh..v..v..Vợ tôi đã phải bán đôi bông tai 80.000 đồng và vay một số tiền khác để trả thù lao 100.000 đồng cho luật sư Vương Văn Bắc.

- LLT: Trong trường hợp nào ông và các nhân vật chế độ cũ được tự do? Vì sao? Riêng về ông, sau đó, có bị nhà chức trách làm khó dễ gì hay không?

- DVH: Không nhớ rõ ngày tháng nào năm 1964, một buổi sáng, Chính phủ cho ba chiếc máy bay Dakota DC3 ra Côn sơn chở tất cả tội nhân (lối 30, 40 người) về Sàigòn và chúng tôi được phóng thích. Một thời gian ngắn sau, tôi được giấy đòi của Công an, trung tá Nguyễn Mậu dẫn tôi đến trình diện với Tổng giám đốc Nguyễn Văn Hai. Tướng Hai đưa tôi bằng xe jeep đến Bộ Nội vụ trình diện với tướng Trần Thiện Khiêm. Ông Khiêm tiếp tôi nhã nhặn và “khuyên” tôi nên thủ phận làm ăn. Đây là một lời cảnh cáo rất rõ. Để nuôi sống gia đình, mỗi ngày tôi đi mua âu dược của các Viện bào chế, đóng thùng gởi ra Đà nẳng gởi bán tại Tiệm thuốc của dược sĩ Hà Thị Tiểu Hương.
Một hôm, năm 1968, thời Tổng thống Thiệu, Thái Đen (tưc Nguyễn Tư Thái, một cộng sự viên cũ trong ĐCTĐBMT), đến khoe với tôi rằng y “làm việc cho Toà Đại sứ Hoa ky’. Bất thần, lối một tuần sau, có giấy đòi tôi đến trình diện tại Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo, bến Bạch Đằng. Nơi đây, Đặc ủy trưởng Nguyễn Khắc Bình đề nghị tôi hợp tác với Phòng Nghiên cứu về Tình báo. Tôi xin vài ngày suy nghĩ. Tôi đến thỉnh ý Đức cha Nguyễn Văn Bình. Ngài khuyên tôi nên nhận để tránh mọi phiền toái. Tôi trả lời với tướng Bình tôi nhận, với điều kiện trả lại nhà cửa của tôi bị tich thâu oan và bạch hóa hồ sơ của tôi bị bôi bẩn trong một buổi họp báo. Ông Bình cho biết việc này cần có quyết định của Quốc hội và đòi hỏi thời gian. Vài bửa sau, Tướng Bình sai một sĩ quan cầm đến nhà tôi 40.000 đồng, nóí là giúp tôi trong cơn túng bấn. Để thoát mọi phiền nhiểu, tôi đành nhận cộng tác với Phủ. Tôi được cấp một văn phòng và một thơ ký đánh máy. Mỗi tháng tôi có phận sự đúc kết những tài liệu tình báo từ các Quân khu và viết bản phân tích trình thượng cấp: Một việc làm chán phèo! Tôi biết đây là một hình thức “giam lõng” và theo dõi tôi. Có một hôm, một người xưng tên Nguyễn Văn Canh đến văn phòng để xin phỏng vấn và lấy tài liệu soạn thảo luận án Tiến sĩ Luật. Một thời gian sau, tôi không đến làm việc nữa. Rồi Chính phủ Miền nam sụp đổ. (Giai đoạn Dương Văn Hiếu “bị cầm chân” tại Cục Trung ương Tình báo được tướng Nguyễn Khắc Bình, hiện ở San Jose, xác nhận.)

- LLT: Một số nhân vật đối kháng như Nguyễn Bảo Toàn, Tạ Chí Diệp và Vũ Tam Anh bị Đệ nhứt Cọng hoà thủ tiêu. Ông có thể cho biết cơ quan nào chịu trách nhiệm? Do lệnh của ai?
- DVH: ĐCTĐBMT không liên hệ. Chúng tôi không có trách nhiệm truy nả các phần tử đối lập. Sau 1975, một số sử liệu cho biết chính thẩm sát viên Khưu Văn Hai và đồng bọn trong Ban Cảnh sát Đặc biệt thuộc Tổng Nha Công An của đại tá Y đã giết N B Toàn và T C Diệp. Về Vũ Tam Anh, có thể là do tổ chức (Lực lượng Đặc biệt, trên nguyên tắc thuộc Bộ Quốc Phòng) của Lê Quang Tung. Tôi không nghĩ Tổng thống Diệm đã ra lệnh vì ông đã từ chối đưa ra Toà Hà Minh Trí là người ám sát hụt ông ở Ban Mê Thuột và ông cũng đã nhẹ tay với phi công Phạm Phú Quốc, người dội bom Dinh Độc Lập với Nguyễn Văn Cử.


- LLT: Ông biết gì về sự bội phản của Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần và Trần Kim Tuyến.

- DVH: Tôi nhớ có lần tôi phúc trình với Tổng thống tin đồn về Huê kiều Chợ Lớn mua licenses tại Bộ Kinh tế, Cụ nghe, trầm ngâm, không nói gì. Qua ông Thuần, CIA nắm hết tin tức về nội tình Chính phủ. Cụ có vẻ rất mến và tin tưởng ông Thuần. Về Bs Tuyến thì vào cuối 1962, ông Tuyến hoàn toàn thất sủng, không còn quyền gì, thay thế bởi đại tá Phạm Thư Đường. Bà Nhu rất ghét ông bà Tuyến.

- LLT: Ông nghĩ sao về tin ông Nhu có qua Paris điều đình với De Gaulle về chuyện trung lập hoá Việt Nam và gặp Xứ ủy Miền Nam, Ủy viên Bộ chính trị Bắc Việt Phạm Hùng tại rừng Tánh Linh, Long Khánh, để thương thuyết?

 - DVH: Tôi có nghe những tin ấy. Cá nhân tôi nghĩ chỉ đó là tin đồn. Một người quốc gia quyết liệt như Tổng thống Diệm không thể bắt tay với Cộng sản bất luận dưới hình thức nào vì Hiến pháp VN công khai phủ nhận Xã hội Chủ nghĩa và đặc biệt, vì Cộng sản đã giết dã man anh và cháu của Tổng thống. Đòn hiệp thương Nam-Bắc do ông Cố vấn Nhu tung ra có thể là một cách bắt bí Hoa kỳ. Không ngờ CIA đã biết rõ nội vụ. Ông Nhu đã chui vảo cái bẩy do chính ông giăng ra.
 
- LLT: Nhìn lui lại, ông nghĩ rằng thời Đệ nhứt Cộng hoà, đảng Cần Lao có thực lực trong quần chúng hay không? Việc đem tổ chức Cần lao vào Quân đội có lợi hay hại? Ông Nhu và ông Cẩn có hoàn toàn đồng ý với nhau về cách tổ chức và lãnh đạo đảng Cần Lao hay không? 
- DVH: Về mặt lý thuyết, Cần Lao dựa vào chủ nghĩa Nhân vị được ông cố vấn Ngô Đình Nhu nghiên cứu kỹ. Đảng Cần Lao, tiếc thay, thiếu một chính sách tuyển lựa, huấn luyện và xử dụng cán bộ hữu hiệu. Ngoài ra, còn vấn đề kỷ luật. Đa số đảng viên được chọn trong thành phần công chức có quyền và địa vị. Đảng không đi sâu vào đại chúng ở thành thị, đặc biệt ở nông thôn. Các khoá tu nghiệp về chủ thuyết Nhân vị do Đức cha Ngô Đình Thục tổ chức tại Vĩnh Long không đào sâu và giải quyết vấn đề. Tôi có dịp thuyết trình về đề tài này trong một phiên học tập về ấp Chiến lược ở Suối Lồ Ồ năm 1962. Sau đó, tôi có thỉnh cầu ông Nhu, với tư cách Tổng Bí thơ Cần Lao, ban huấn lệnh nhưng không thấy ông nói gì. Câu chuyện bỏ qua!

Ông Cẩn ít nặng về lý thuyết hơn ông Nhu. Ông Cẩn có vẻ chú trọng hơn về vấn đề cán bộ, thực tế hơn. Trong nội bộ Cần Lao cũng có nhiều nhóm: nhóm Bắc, nhóm Trung (của ông Cẩn), nhóm Trần Quốc Bửu (Tổng Liên Đoàn Lao Công), nhóm Tinh Thần (Nguyễn Tăng Nguyên), nhóm Nam kỳ Bộ (Huỳnh Văn Lang), nhóm Hà Đức Minh-Trần Văn Trai. Không thống nhứt. Ít khi thấy Tổng thống nhắc đến đảng Cần Lao. Tổng thống để ý đến Phong trào Cách Mạng Quốc gia. Cân Lao không có Ban Chấp hành Trung ương. Chỉ có Văn phòng Tổng Bí Thứ (ông Nhu) gồm có 5 Phòng trực thuộc. Tôi không nghĩ đem Cần Lao vào Quân đội hoàn toàn có lợi. Các tướng lãnh đóng vai trò cốt cán trong cuộc chính biến 1.11.1963 phần đông là đảng viên Cần Lao được Tổng thống tin dùng và bị Hoa kỳ mua chuộc.

- LLT: Về mặt tình báo, ĐCTĐBMT của ông, SNGCTXH của Tuyến, LLĐB của Lê Quang Tung và Nha An ninh Quân đội của Đỗ Mậu có dẫm chân với nhau hay không? Ông biết gì về giấc mơ của Trần Kim Tuyến - sau 1960 - cầm đầu một Bộ An Ninh thống nhất về một mối các cơ quan cảnh sát, tình báo chiến lược và phản gián quốc nội và quốc ngoại (gồm luôn Bộ Nội vụ)? Vì Tổng thống Diệm từ chối đề nghị này nên ông Tuyến bất mản và làm phản.
- DVH: Tôi nghĩ: không trùng dụng, không dẫm chân. Đoàn Công tác của chúng tôi, thật vậy, lo về phản gián, chống Cộng. Sở ông Tuyến chú trọng đến vấn đề tình báo nội an, đối lập trong xứ. Cơ quan của Đỗ Mậu phụ trách những gì liên hệ đến an ninh của Quân đội còn Lực lượng của Tung, gồm có một Trung đoàn, thì có trách vụ bảo vệ Tổng thống và các công thự. Tuy nhiên, trong những năm chót, Tung vượt quá quyền hạn của mình. Các cơ quan.không phối hợp chặt chẻ.

Tôi không biết gì về vấn đề Bộ An ninh nêu trên. Trong giai đoạn chót, Tổng thống, Đức Cha và hai ông Nhu, Cẩn không đồng nhứt tư tưởng, đặc biệt trong vụ khủng hoảng Phật giáo. Tổng Giám mục Thục xen vào việc treo cờ càng làm tình hình thêm rối ben. Mỹ quyết tâm lật đổ ông Diệm, thủ tiêu ông Nhu. Vì thế cuộc binh biến thành công. Đất nước phiêu lưu vào hổn loạn. 

Lâm Lễ Trinh
Thủy Hoa Trang – California, 11-2010
Nguồn:

Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2014


CHIẾN DỊCH HOÀNG DIỆU
VÀ SỰ THẬT VỀ KHO TÀNG BẢY VIỄN
(Hay Âm mưu Đánh tráo Lịch sử
của hai Luật gia Lâm Lễ TrinhNguyễn Văn Chức)

Trịnh Bá Lộc


Sau khi bị đẩy lui khỏi Đô Thành, Bảy Viễn rút quân về Rừng Sát, hy vọng có thể cố thủ cứ địa hiểm trở cũ của Bình Xuyên trước khi về đầu thú Pháp. Chỉ hai ngày sau khi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm công bố Hiến Ước Tạm thời và trở thành Tổng Thống VNCH, Đại Tá Dương Văn Minh hoàn tất vẻ vang chiến dịch Hoàng Diệu.

Từ sau ngày đoàn quân chiến thắng trở về Thủ Đô, không hiểu vì sao, thỉnh thoảng trên báo chí và trên các sách phổ biến sau khi Đại Tướng Dương Văn Minh qua đời, có nhiều nghi vấn được tung ra về việc kho vàng và tiền mặt tịch thâu được của Bảy Viễn. Ngày 29/6/2008 vừa qua, phóng viên của Đài Phát Thanh Hải Ngoại tại Washington DC. có đặt câu hỏi này và được Ông Trịnh Bá Lộc, nguyên Sĩ Quan Tùy Viên của Đại Tướng Dương Văn Minh giải thích và làm sáng tỏ vấn đề như sau:

Câu hỏi:
Có dư luận cho rằng trong thời kỳ dẹp loạn Bình Xuyên, ÐT Minh đã tịch thu được rất nhiều vàng bạc và tiền mặt của Bình Xuyên, nhưng ÐT đã không giao số chiến lợi phẩm này lại cho chính phủ Ngô Ðình Diệm, mà lại tẩu tán làm của riêng. Thưa Ông, ông có biết gì về chuyện này không ?

Trả lời:
Dư luận này bộc phát lần đầu tiên là vào năm 1971, khi Sài Gòn bắt đầu chuẩn bị cuộc tranh cử Tổng Thống. Khi Đại Tướng Dương Văn Minh vừa mới có đủ chữ ký giới thiệu của số Dân biểu và Thượng Nghị sĩ, theo luật đòi hỏi thời đó, thì trong mục chuyện phiếm, rất châm biếm, nhưng vô trách nhiệm, của báo Hoà Bình do Cha Trần Du (?) chủ trương, tác giả VIP KK viết về tin đồn này.
Dân Biểu Dương Văn Ba tường thuật lại cho Đại Tướng Dương Văn Minh và Bộ Tham Mưu chánh trị của ông biết. Giáo Sư Võ Văn Hải liền đề nghị cho tôi liên lạc thử với Thiếu Tá Đặng Văn Hoa, nguyên Chánh Văn Phòng của Trung Tướng Trần Văn Đôn trong thờì gian 1950-1960, để mượn tất cả các "cùi" (souches) chi phiếu trong chương mục Nha Tổng Giám Đốc Ngân khố, của văn phòng đặc biệt Phủ Tổng Thống, thời ông Diệm, do Giáo sư Hải phụ trách. Tôi liền nhớ ra các cùi chi phiếu này Thiếu Tá Đặng Văn Hoa đã giao lại tôi hồi tháng 11 năm 1963, nên tôi đã tìm và thấy trong một souche có ghi trị giá của nó, và bên cạnh có ghi rõ ràng như sau:" số tiền bán vàng tịch thâu của Bình Xuyên, Tổng Thống cho Cô Nhi Viện Quốc Gia Thủ Đức". Lập tức, luật sư Võ Văn Quan, đại diện Đại Tướng Dương Văn Minh, yêu cầu Báo Hòa Bình đăng bài đính chánh, và bài này có kèm theo phóng ảnh cùi chi phiếu nói trên.

Tôi cũng tự ý trao một bản cho ký giả Lê Hiền, báo Công Luận của Thượng Nghị Sĩ Tôn Thất Đính. Ngày hôm sau, nhật báo Công Luận đăng liền phía trên góc phải, và báo Hoà Bình cũng phải cải chánh, và đăng thư của Luật sư Quan bên cạnh mục thường xuyên của VIP KK.

Vào năm 2003 hoăc 2004 gì đó, sau khi Đại Tướng Dương Văn Minh qua đời, tập san "Con Ong" ở Houston, trong mục của VIP KK, lại đăng tải một bài tương tợ như thế. Lần này, chính Luật sư Nguyễn Văn Chức tự nhận mình là VIP KK.
Rồi Tiến Sĩ Lâm Lễ Trinh cũng bắt chước theo, bằng lời lẽ như sau: 

"...Với tư cách Bộ Trưởng Nội Vụ, tác giả bài này được chỉ thị đích thân điều tra mật về trường hợp tẩu tán kho vàng Bảy Viễn chứa trong một thùng kẽm lớn, theo phúc trình của Đại Tá Nguyễn Văn Y, Tỉnh Trưởng Chợ Lớn, Phụ Tá Hành Quân cho Ông Minh trong cuộc tảo thanh Rừng Sát. Người viết có mời Tướng Minh đến để giải thích. Vì lý do chính trị, hồ sơ tạm xếp. Bộ Tư Lệnh Hành Quân bị giải tán, tướng Minh được cử làm Cố Vấn Quân Sự Phủ Tồng Thống, một chức vụ tượng trưng"...(Về Nguồn, Trang 85).

Làm sao tôi phản bác lại bây giờ? Báo Hoà Bình và Công Luận năm 1971 cũng như làm sao tôi tìm lại được các cùi chi phiếu cũ? Rời khỏi Saì Gòn không kịp chuẩn bị, gia đình tôi bốn người, chỉ có bốn giỏ nhỏ, vì đi bằng trực thăng của Air America, đâu có ngày giờ nghỉ đến các cùi chi phiếu không còn giá trị thực tiển nữa?
      


May thay, một tình cờ hiếm có, tôi đọc được Quyển “1945-1964 Việc Từng Ngày - Hai Mươi Năm Qua”, của Ông Đoàn Thêm. Tác giả ghi lại rất trung thực, một cách phi chánh trị. Nhờ chức vụ cao cấp mà Ông đảm nhiệm tại Phủ Thủ Tướng và Phủ Tổng Thống thời Đệ  Nhất Cộng Hòa, nên gần như tất cả những gì xảy ra trong thời gian này, dù nhỏ hay lớn đều được ông ghi lại một cách chính xác, và có kèm theo ngày tháng rõ ràng. Thí dụ như nơi trang 198, Ông ghi:
25-6-1956: - không biết ai đề nghị làm lễ Thánh Bổn mạng T.T. Ngô Đình Diệm.
Sách này xuất bản lần đầu tiên tại Sài Gòn vào giữa thập niên 60, do Lãng Nhân đề tưạ, có đoạn viết: . . ."Soạn giả thừa biết rằng không thể nào kể hết các việc đáng chú trọng, và còn tự hạn chế vì phải thận trọng, nên chỉ ghi lại nếu thấy hội đủ những điều kiện sau:
- khi có ngày tháng đích xác;
- khi việc đã được nhiều người biết, đã xảy ra thật, hoặc ít nhất là được cơ quan ngôn luận loan truyền: nếu chỉ là tin đồn, soạn giả cũng ghi rõ"...

Và đây, điều quý giá mà tôi tình cờ đọc được nơi (2 dòng) cuối trang 191 và (3 dòng) đầu trang 192:

“3.3.1956 - Tổng số quân Pháp ở VN còn có trên 20.000, và sẽ triệt thoái dần.
- Thiếu-Tướng Dương-văn-Minh họp báo nói về các chiến-dịch miền Tây và sự hợp tác của Tướng Trần Văn Soái. Tướng Minh cho biết trong chiến-dịch Hoàng-Diệu, đã tịch thâu 20 kí vàng và 16 triệu 1/2 bạc, số tiền này sẽ dùng để xây cất một Cô-Nhi-Viện Quốc-Gia.”



Tôi đọc tới đọc lui nhiều lần hai trang này. Tôi sợ rằng mình nằm mơ. Tôi làm phóng ảnh gởi vài người bạn hỏi ý kiến, sợ mình hiểu lầm chăng? 

Như vừa trình với quí vị, Thiếu Tướng Dương Văn Minh đã công khai hóa chiến lợi phẩm này lối năm tháng sau khi hoàn tất chiến dịch Hoàng Diệu. Trước đó, vì tính cách giá trị to lớn, Ông phải tường trình lên các cấp chỉ huy theo hệ thống quân giai, với nhiều đề nghị khác nhau lên đến Tổng Thống VNCH đễ nhận quyết định tối hâu. Và chiến lợi phẩm bằng quí kim và tiền mặt đã phải được ghi rõ ràng trong báo cáo, nên không sợ bị thất thoát hoặc hư hại. Vào thời điểm nói trên, muốn tổ chức cuộc họp báo, các cấp chỉ huy trong quân đội, dù là Tư Lệnh Chiến dịch, đều phải được sự chấp thuận trước của Nha Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Quốc phòng, và với giá trị to lớn của vụ vàng và tiền mặt tịch thu trong chiến dịch Hoàng Diệu, dùng để xây Cô Nhi Viện Quốc Gia, phải do quyết định của Tổng Thống VNCH.

Hồi tháng 9 năm vừa qua, tôi được đọc tác phẩm "Can Trường Trong Chiến Bại” của Đô Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, cũng có một đoạn nói đến "Vụ Vàng Tiền Bình Xuyên" nơi trang 28, 29, 30, 31 nhưng dè dặt hơn.
Tôi viết thư và gởi cho tác giả xem những điều tôi nghiên cứu để phát biểu về vấn đề vàng Bình Xuyên. Tôi nghĩ rằng giữa hai quân nhân, giữa tình chiến hữu và nhứt là Ông đã từng là Sĩ Quan Tùy Viên của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tôi Tùy Viên của Đại Tướng Dương Văn Minh, hai lần giữ chức vụ cao nhứt của đất nước, vị Đô Đốc này và tôi dễ thông cảm hơn là đối với các chính trị gia chuyên nghiệp, có nhiều định kiến.

Và đúng như tôi đã nghĩ, dù Đô Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và tôi chưa hề quen biết, khi nhận điện thư của tôi là lúc Ông đang có mặt tại California vì việc hệ trọng, Ông vẫn tìm cách trả lời tôi ngày 10/6/2008:

“Anh Lộc thân,
Thành thật cám ơn anh Lộc đã làm việc hết sức chu đáo và vô cùng cảm động về sự chú ý đến Danh Dự của Quân đội, để cho tôi xem trước câu trả lời. Lý luận rất vững chắc. Sẽ có dịp hàn huyên thêm với anh”.
Thoại.

Vấn đề nơi đây là cách xử dụng chiến lợi phẩm vàng và tiền mặt, đã được phồ biến rộng rãi từ lâu, đáng lẽ VIP KK, tức Luật Sư Nguyễn Văn Chức, một chánh trị gia, và nhứt là Tiến Sĩ Lâm Lễ Trinh, Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút Tạp Chí Song Ngữ Anh-Pháp Human Rights-Droits de l'Homme từ 1996, Cố Vấn Mạng Lưới Nhân Quyền, phải biết từ lâu. Đáng lẽ họ phải làm việc có khoa học hơn, đàng này, lại làm một việc thiếu thận trọng, không công bằng và cẩu thả, thật không đúng tư cách của một Luật Sư, một Tiến sĩ Luật Khoa, Tiến Sĩ Giáo Dục.

Hơn nữa, nếu ông VIP KK Nguyễn Văn Chức bây giờ cũng chính là VIP KK của báo Hòa Bình ngày xưa, thì chắc chắn ông phải nhớ rằng chính tờ báo của ông đã phải đăng bài đính chánh, kèm theo vật chứng là phóng ảnh của các cùi chi phiếu. Thế mà ông vẫn diễn lại cái tuồng đặt điều vu khống, mà một lần, chính mình đã bị đímh chánh, thì không biết là vì lý do gì?

Tôi cũng xin được nói đôi điều về Ông Lâm Lễ Trinh:
- Ngày 13/4/1956, Ba Cụt bị bắt và trong phiên tòa xử án Ba Cụt, thì Thẩm phán Lâm Lễ Trinh được chỉ định diện Công Tố viên,
- Ngày 13/7/1956, Tướng Lê Quang Vinh bị hành quyết,
- Ngày 5/11/1956, L.S. Nguyễn Hữu Châu từ chức Bộ Trưởng Nội Vụ, Ông Lâm Lễ Trinh thay thế.
Như vậy, trong thời gian đó, ông Trinh đã là một nhân vật tên tuổi, đại diện pháp luật, chả lẽ ông không biết ít nhiều gì về cuộc họp báo ngày 3/3/1956?

Thôi, cứ cho rằng ông không còn nhớ chuyện xưa nữa đi, nhưng sao ông lại viết rằng khi được chỉ định đích thân điều tra vụ "tẩu tán kho vàng Bình Xuyên, Ông đã mời Tướng Minh đến để giải thích...". Đặt chuyện như vậy thì rõ ràng Ông quá coi thường sự hiểu biết của độc giả giới quân nhân. Một vụ hoàn toàn thuộc thẩm quyền của Quân Đội, có liên quan đến chiến lợi phẩm và một sĩ quan cấp tướng, không lẽ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và nhất là ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, lại không biết? Và, nếu cần điều tra một việc như thế, thì Ông Diệm chỉ cần chỉ thị cho người thật sự được Tổng Thống tín nhiệm, là Ông Bộ Trưởng tại Phủ Tổng Thống kiêm Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng Trần Trung Dung hoặc Ông Nguyễn Đình Thuần, mới hợp luật và hợp quân pháp. Bộ Quốc Phòng VNCH có hai Nha trực thuộc, là Nha Quân Pháp và Nha An Ninh Quân Đội, hai Nha này có đầy đủ thẩm quyền và phương tiện về nhân sự để điều tra một việc hệ trọng như vậy.

Tới đây tôi xin được có một lời nói thẳng với Ông Trinh rằng: dù Ông là Bộ Trưởng Nội Vụ mà ông muốn mời Tướng Minh đến để giải thích việc gì, ít nhất Ông Trinh phi xin phép Bộ Quốc Phòng, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đâu cần phải làm lòng vòng như thế.
Rồi Ông Lâm Lễ Trinh còn viết thêm: “Vì lý do chánh trị, hồ sơ tạm xếp. Bộ Tư  Lệnh Hành Quân giải tán, tướng Minh được cử làm Cố Vấn Quân sự tại Phủ Tổng Thống, một chức vụ tượng trưng…”
Ông Lâm Lễ Trinh quên rằng Ông bị mất chức Bộ Trưởng Nội Vụ ngày 18/10/1960, trong khi Bộ Tư Lệnh Hành Quân bị giải tán ngày 8/12/1962 để lấy quân số thành lập Bộ Tư Lệnh Lục Quân và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV.
Sau khi bị cách chức, ngày 8/4/64 Đại Sứ Lâm Lễ Trinh trở về Sài Gòn và tác phẩm của Ông Đoàn Thêm xuất bản lần đầu, năm 1965, tức là sau khi ông Trinh về nước, ông đã vô tình không hay biết. Tác phẩm này lại được tái bản tại Hoa kỳ nhiều năm trước khi Tiến Sĩ Trinh xuất bản Quyển Về Nguồn. Một Tiến Sĩ Luật khoa, đang viết lại một phần lịch sử của đất nước như ông Trinh, một lần nữa cũng không biết sự hiện hữu của một tài liệu có giá trị lịch sử như vầy?
Tôi đã mạng phép gởi phóng ảnh hai trang sách này đến Ông Hồng Phúc. Sách của Đoàn Thêm hiện lưu trữ tại thư viện thành phố Fort Smith, Arkansas (mả số 20075233).

Để kết thúc câu trả lời, tôi xin được nhắc nhở những người đang và đã vu khống kẻ khác, rằng: ngụy tạo sử sách cũng là làm chứng dối, và là một giáo dân, xin ông Francis Lâm Lễ Trinh nhớ lại lời Chúa đã dạy:  “18. Đừng giết người, đừng ngoại tình, đừng trộm cấp, đừng làm chứng dối”. Mathieu  19 (?).



Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013


TẠI SAO TỔNG THỐNG DIỆM KHÔNG CHO TƯỚNG TỬ TỘI LÊ QUANG VINH ĐƯỢC CHẾT TOÀN THÂY?
Và ai đã thủ tiêu thân xác của Ông?
 
Trịnh Bá Lộc

 
Tướng Lê Quang Vinh, tự Ba Cụt, là một anh hùng tạo thởi thế, xuất thân từ nông dân áo vải, tay lấm chân bùn, một tín đồ của Phật Giáo Hoà Hảo.

Vừa 20 tuổi, anh đã chạm phải với cái cảnh tang tóc của một xứ sở đang bị dày xéo xâm lăng của Thực dân Pháp. Lòng qủa cảm của một thanh niên đã hun đúc tinh thần yêu nước nồng nhiệt nên anh quyết tâm thành lập Bộ đội để đánh thực dân Pháp. Suốt 7 năm (1947-1954), những cuộc chiến đấu oai hùng của nghiã quân vang dội trong các tỉnh Châu đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sa Đéc đã làm cho Việt Minh Cộng Sản cũng như quân đội Pháp đều phải khiếp đảm. Vì có một thiên phú, tướng Ba Cụt có khả năng điều quân khiển tướng độc đáo đánh đâu thắng đó. Ngoài ra, tướng Ba Cụt có những đặc tính: Tiến quân anh đi trước, quân lui anh đi sau, và đối sử với binh sĩ với cấp trực thuộc như là thân nhân ruột thịt nặng về giáo dục, nhẹ về hình phạt, nhường cơm sẻ áo với chiến sị trong những cơn bị địch bao vây.

Năm 1954, sau khi ký hiệp định Genève, cụ Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh, chính ông Ngô Đình Nhu thân hành đến gặp tướng Lê Quang Vinh với ý định muốn lôi kéo Tướng Vinh vào phe để khống chế các lực lượng vũ trang của các giáo phái. Nhận thấy ý đồ bất chính của nhà Ngô, Tướng Lê Quang Vinh khẳng định sớm muộn gì Ông Diệm và Ông Nhu đi đến con đường độc tài, đó là hậu qủa vô cùng tai hại đưa đất nước Việt Nam đền bờ vực thẳm suy vong tạo cơ hội tốt cho CS trở lại thôn tính Miền Nam. Tướng Vinh rút vào bưng để phán đối. Sự rút quân của Tướng Vinh làm cho Ngô Đình Nhu vô cùng bực bội  và mưu toan thanh toán cho kỳ được người anh hùng trực tính này.

Cuối cùng Tướng Lê Quang Vinh bị bắt và bị xử tử tại Cần Thơ (13-7-1956).

  
Tướng Hòa Hảo Dân Xã đảng Lê Quang Vinh (1923-1956)
trong quân phục Đại Tá của Quân đội Quốc gia Việt Nam

 
Ngày 13.7.08  tới đây là ngày kỷ  niệm Tướng Hòa Hảo Dân Xã đảng Lê Quang Vinh tức Ba Cụt bị hành quyết tại Cần Thơ, 42 năm trước đây. Trong tác phẩm "Về Nguồn", tác giả Tiến sĩ Lâm Lễ Trinh có viết đoạn như sau:

"…Nhung đã chết một cách bí ẩn trong tù. Nguyên Đại tướng Khánh cho biết đã tìm thấy xác của Nhung treo cổ bằng giây thừng". (Nhung cũng là người được Dương Văn Minh giao phận sự thủ tiêu xác của Lê Quang Vinh tức Ba Cụt, lãnh tụ Hoà Hảo, sau án tử hình). (Về Nguồn trang 64).

 Đối với  đọc giả 60 hay trẻ hơn, đoạn văn ngắn ngủi trên đây chỉ tạo thêm thắc mắc hơn là dử kiện lịch sử. May thay, ngày 22.6.2008 vừa qua, ông Hồng Phúc của đài phát thanh (VN) Hải Ngoại tại Hoa Thịnh Đốn có nêu câu hỏi liên quan đến vụ án nầy với ông Trịnh Bá Lộc, nguyên sĩ quan Tùy viên của Đại tướng Dương Văn Minh từ năm 1958 đến chiều ngày 29.4.1975.

 
Dưới đây là trích đoạn bài phỏng vấn do ông Trịnh Bá Lộc gửi tới :

Hỏi : Trong vụ án Tướng Lê Quang Vinh, tức Ba Cụt của Hòa Hảo, bị xử tử tại Cần Thơ, cũng có dư luận cho rằng người cận vệ của Ðại tướng Minh, lúc bấy giờ là Ðại úy Nguyễn văn Nhung, đã bằm thây của Tướng Ba Cụt ra làm nhiều mảnh, sau khi thi thể ông này đã được chôn cất. Ông có biết chuyện này như thế nào không ?

Trịnh Bá Lộc:  Để có được một cái nhìn thuận lý về sự việc, tôi có 3 ý để thưa cùng quý vi: Trước hết là kể sơ lược về quá trình bắt giữ Tướng Lê Quang Vinh, thứ hai là các phiên tòa và bản án của tướng Lê Quang Vinh và cuối cùng là vấn đề thanh toán xác chết.


1.      Quá trình bắt giữ Tướng Lê Quang Vinh

Tướng Lê Quang Vinh tức Ba Cụt là lãnh tụ Hoà Hảo Dân Xã đảng đã bị phục kích bắt sống trong khuôn khổ chiến dịch Nguyễn Huệ vào năm 1956. Lúc nầy tôi chưa phục vụ dưới quyền chỉ huy của Đại tướng Dương Văn Minh. Tôi được biết qua báo chí lúc bấy giờ và theo lời thuật lại của  Đại úy Nguyễn Lể Trí và Đại úy Nhung khi tôi làm việc chung với những người nầy từ năm 1958. Ông Trí là em rể của bà Dương Văn Minh cũng là thuộc cấp của Đại tướng Minh từ các chiến dịch Hoàng Diệu, Nguyễn Huệ, Thoại Ngọc Hầu.  Chức vụ sau cùng của ông Trí là Cục Trưởng cục Xã Hội, hiện ông đang định cư ở California.

Ngoài ra, sau này tôi còn được biết thêm một cách chi tiết hơn, khi Đại tướng Minh sang Hoa Kỳ. Mặt khác tôi còn tìm thấy được những tài liệu rất đáng tin cậy đươc viết rõ ràng trong quyển "1945-1954 Việc Từng Ngày Hai Mươi Năm Qua". Tác giả là Đoàn Thêm.

Sau khi hoàn tất chiến dịch Hoàng Diệu, Thiếu tướng Dương Văn Minh được đề cử giữ chức vụ Tư lệnh chiến dịch Nguyễn Huệ từ ngày 1.1.1956 để đối phó với lực lượng Hòa Hảo, cụ thể là để thu phục các Tướng Lê Quang Vinh tức Ba Cụt và Tướng Trần Văn Soái tức Năm Lửa. Đại úy Trí, thuộc cấp tin cậy của Thiếu tướng Minh lúc bấy giờ, đã gây được sự tín nhiệm đặc biệt với  ông Phan Hà, bạn học cũ, của Đại úy Trí. Chỉ sau vài lần  trao đổi điều kiện với Đại diện của Thiếu tướng Minh, ông Phan Hà, Cố vấn của Tướng Năm Lửa, đã thuyết phục được bà Trần Văn Soái, nhủ danh Lê Thị Gấm, người được biết nhiều với biệt danh Phàn Lê Huê. Tuy là lãnh tụ của khối quân sự lớn nhứt của  Hoà Hảo, Tướng Trần Văn Soái lại chịu sự chi phối cứng rắn của phu nhân mình nhứt là các vấn đề tài chánh nên ông chấp thuận nhanh chóng những điều kiện do Bộ tư lệnh Chiến dịch đưa ra và được soạn thảo bởi Đại sứ Nguyễn Ngọc Thơ.

Ngày 8.3.1956 tại Cái Vồn, trước Thiếu tướng Dương Văn Minh, Tướng Trần Văn Soái, với 1.056 sĩ quan và 4.600 binh sĩ Hoà Hảo, làm lễ tuyên bố về hợp tác với Chánh phủ .

 
Thu phục xong Trần Văn Soái, Thiếu tướng Minh tiếp tục đối phó với  Tướng Lê Quang Vinh, tức Ba Cụt. Ông cũng rất muốn thâu phục Lê Quang Vinh nên đã  được sự giúp đở của Đại sứ Nguyễn Ngọc Thơ, qua trung gian của ông Giáo Huỳnh Kim Hoành, là cậu Tư cũng là thầy dạy học của Ba Cụt, tiếp xúc để thỏa hiệp với Ba Cụt nhưng không thành vì sự đòi hỏi quá đáng.  Lê Quang Vinh tức Ba Cụt muốn được nhìn nhận là Trung tướng quân đội VNCH, ngang hàng với Trung tướng Lê Văn Tỵ, Tổng tham mưu trưởng QLVNCH và sắc lệnh công nhận này phải ban hành trước ngày về hợp tác.

Tôi được Đai tướng Minh cho biết trong thời gian đó, Bộ tư lệnh Chiến Dịch xử dụng tối đa các đơn vị thuộc quyền, hành quân liên tục dọc theo vùng Thất sơn, Châu Đốc ngăn chận đường về núi Sam, Thường Phước, thuộc quận Hồng Ngự gần sát biên giới Kampuchia, là cứ địa an toàn của Ba Cụt.  Vì chiến thuật tấn công của TT Minh lúc đó là "chặn mất đường về hang của hổ, buộc hổ phải di động liên tục thì chắc chắn hổ phải sa lưới." Các Tiểu khu tại Miền Tây cũng nhận được lệnh của ông mở nhiều cuộc phục kích ngày và đêm trong vùng trách nhiệm của Tiểu khu để náo động tướng Ba Cụt.  Đúng như ý muốn của Thiếu tướng Dương Văn Minh, Tướng Lê Quang Vinh phải luôn luôn di động, không thể ở yên một nơi nào, nhứt là sau khi Tướng Trần Văn Soái đã quy thuận. Và cuối cùng hổ sa lưới thật:

Ngày 13.4.1956, Tướng Lê Quang Vinh tức Ba Cụt bị một tiểu đội Bảo An phục kích bắt sống tại Chắc Cà Đao, cách Long Xuyên 15 cây số, cùng với 5 hộ vệ. Trung sĩ Giàu chỉ huy tiểu đội nầy đã thuật lại rằng, tiểu đội của Ông đang phục kích từ khuya đêm 12 rạng 13.4.56, vào khoảng 6 giờ sáng, Ông thấy một toán người  từ một chiếc đò cập bến  để bước lên bờ. Ông hô to:  

- Ai đó! Đứng lại.

- Đừng bắn! Tôi là Ba Cụt đây! Tôi đầu hàng!

Sau nầy được báo chí hỏi, Thượng sĩ Giàu nhìn nhận là Ông có cảm giác rung sợ, nếu biết rõ trong toán người đó có Ba Cụt, không hiểu ông có phản ứng ra sao. Ông và Tiểu đội của Ông được thưởng 1 triệu  đồng trong một buổi lễ ngày 22.5.1956. Vào thời điểm đó tôi đang thụ huấn tại TVBLQ Dalat, sau khi trừ tiền cơm, chúng tôi lãnh được lối hơn 1.200đồng và 1 tô phở BẰNG chỉ có 5 đồng.

Bộ tư lệnh Chiến dịch liền giải Ba Cụt  về Cần Thơ rồi chuyển phạm nhân sang bộ Tư Pháp và bộ Quốc Phòng. Kể từ lúc đó, mọi quyết định về Ba Cụt đều thuộc hai bộ này còn Bộ tư lệnh Chiến Dịch của Thiếu tướng Minh chỉ yểm trợ tỉnh Cần Thơ trong việc bảo vệ an ninh khám đường mà thôi.

 
2.      Các phiên tòa và bản án của tướng Lê Quang Vinh

Ngày 11.6.1956: Tòa Sơ thẩm Đại hình họp tại Cần Thơ, với thành phần: Chánh án là ông Huỳnh Hiệp Thành, Đại diện Công tố viện là ông Biện lý Lâm Lễ Trinh, các Luật sư biện hộ bị can là ông Vương Quang Nhường, Lê Ngọc Chấn. Tòa tuyên án tử hình theo đề nghị của ông Biện lý  Lâm Lễ Trinh.

Bị can chống án:

- 25.6.1956: Toà Thượng thẩm Đại hình họp tại Cần Thơ với thành phần : Chánh án: Lê Văn Thu, Công tố viện: Lê Văn Tuấn, để phúc lại án Lê Quang Vinh và ngày 26.6.56, y án tử hình của toà Sơ Thẩm Đại hình Cần Thơ.

- 3.7.1956: Toà án Quân sự họp tại Cần Thơ để xét về khía cạnh an ninh quốc gia với thành phần Chánh án: Vũ Tiến Tuân, Ủy viên Chánh phủ: Thiếu tướng Mai Hữu Xuân, và  ngày hôm sau, 4.7.1956, tòa tuyên án Lê Quang Vinh: tử hình cộng thêm tước đoạt binh quyền và tịch thâu tài sản.

- Tử tội Lê Quang Vinh tự Ba Cụt  xin Tổng thống VNCH ân xá.

- Tổng thống Ngô Đỉnh Diệm bác đơn ân xá.

- Luật sư  Lê Ngọc Chấn thay mặt Lê Quang Vinh xin Tổng thống kiêm Tổng tư lệnh tối cao Q.Đ.V.N.C.H cho tử tội được bị xử bắn theo quân luật thay vì bị hành quyết bằng máy chém.

- Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng bác đơn xin nầy.

- Ngày 13.7.1956. Trung tá Lê Quang Vinh tự Ba Cụt, 32 tuổi, bị hành quyết tại nghĩa địa đường Hòa Bình, Cần Thơ bằng máy chém "guillotine" có từ thời Pháp thuộc, chở từ Sài Gòn xuống, đao thủ phủ là ông Đội Phước.

 
Vấn đề được đặt ra nơi đây:

■ Việc Luật sư Lê Ngọc Chấn, thay mặt tử tội Lê Quang Vinh, Trung tá Trừ bị quân đội Quốc gia Việt Nam (QGVN) kể từ ngày 14.1.54 dưới thời Thủ tướng Bửu Lộc, yết kiến Tổng thống để xin đặc ân cuối cùng là được xử bắn thay vì bị chém nhưng rồi Ba Cụt vẫn bị chặt đầu! Ai là người  có thẩm quyền chung quyết theo hiến pháp? 

Tôi muốn nói là có ai đó cứ một mực muốn Ba Cụt phải bị chặt đầu nên mới không ban cho đặc ân bị xử bắn mà đáng lý ra Ba Cụt phải đươc hưởng, vì tử tội đã từng là một sĩ quan Trung tá trừ bị, và hơn thế nữa là Đại tá giả định?  Tôi xin nhường quyền phán xét lại quí vị.


■ Cũng cần nói thêm một chi tiết khác: Ngày 17 tháng 3.1965, tất cả 3 bản án của toà án Quân sự và của toà Đại hình bị hủy bỏ do phán quyết của Phòng Tái Thẩm toà Thượng Thẩm Sài Gòn.

- Sau khi hoàn tất vụ án Ba Cụt, ông Biện lý Lâm Lễ Trinh, trở về Sài Gòn đảm nhận chức Tham lý, ngang hàng Thứ trưởng, rồi chức Bộ trưởng bộ Nội Vụ (thăng thưởng công lao?) thay thế ông Nguyễn Hữu Châu, từ chức kể từ ngày 5.11.1956.

- Còn Tướng Dương Văn Minh tiếp tục phục vụ tại Miền Tây, chỉ huy chiến dịch Thoại Ngọc hầu (8.6.1956) rồi được kiêm nhiệm thêm Tổng thư ký thường trực Quốc Phòng, trực thuộc Tổng thống phủ, Tư lệnh phân Khu Sàigon - ChợLớn sau nầy trở thành Biệt khu thủ đô (29.8.1956). Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu chấm dứt ngày 30.10.1956.

Tướng Lê Quang Vinh trước Toà Sơ thẩm đại hình Cần Thơ- Ông Lâm Lễ Trinh  (tại Mỹ)
 [“Ông tiến sĩ luật Francis Lâm Lễ Trinh đã trốn tránh câu hỏi, trong khi lại viết sách bẻ cong lịch sử. Vậy xin hỏi, có ai đó có thể trả lời thay cho ngài cựu Bộ trưởng bộ Nội vụ không ?”]

 
3.      Vấn đề thanh toán xác chết

Câu hỏi của quí đài có hai chữ "bằm thây". Hai chữ nầy, năm vừa qua, tôi cũng có nghe. Một người bạn của tôi thuật lại trong một dịp gặp gở với  người từng là cựu Sĩ quan Tuỳ viên của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho đến hết ngày 1.11.1963, trong lúc vui miệng đã kể lại, một hôm, tháp tùng Tổng thống đi kinh lý, người nầy được Ông Tỉnh trưởng Cần Thơ cho biết là xác Ba Cụt đã bị bằm ra.

Tôi không tận tai nghe được các cuộc đàm thoại nầy. Nhưng tôi biết chắc chắn vị Tỉnh trưởng Cần Thơ trong thời gian các chiến dịch Nguyễn Huệ và Thoại Ngọc Hầu cũng không ai khác hơn là vị Sĩ quan cao cấp có tên trong câu trả lời số 4. Tiết lộ của ông với sĩ quan Tùy viên của Tổng thống chỉ  là một hình thức báo cáo lệnh trên đã được thi hành, không phải là thưa gởi. Sau chiến dịch, vị Tỉnh trưởng nầy được thuyên chuyển làm Tỉnh trưởng Phước Tuy một thời gian khá lâu.

Trong sách của bà Trần Thị Hoa tự Phấn, phu nhân của Tướng Lê Quang Vinh, hiện định cư ở Houston, có viết ..."Khi đã chết rôì, thi thể Tướng Lê Quang Vinh còn bị hành hạ, chặt ra nhiều khúc cho tan nát, cho tuyệt diệt. Hành động nầy có làm cho  phía chiến thắng được thêm hả hê thoả mãn trong nềm kiêu hãnh tự hào chút nào không? Đối với phương Đông, đây là một điều bất nhân vô đạo. Phương Đông có truyền thống đạo học, kẻ  không theo Phật  cũng biết Nho. Không ai nở đối xử tàn tệ với người đã chết như thế... (trang 229).

Với ý đồ gì mà người lãnh đạo tối cao lại bắt phải thi hành bản án theo đúng kiểu như vây? Chúng ta hãy đọc trong "Hồi Ký Lê Quang Vinh” trang 228 để có thể tìm câu trả lời:  "chỉ có 90 ngày có lẻ còn ngắn hơn nếu kể từ ngày khởi đầu tố tụng. Rõ ràng là một cố ý chánh trị, một thái độ vội vã, cố tình đạt cho được mục tiêu thật mau lẹ, giống như một kẻ đã có ý định muốn bóp chết địch thủ ngay lập tức, để dứt khoát cho xong".

 
Và chúng ta nghĩ sao về sự kiên tử tội xin được xử bắn thay vì bị chém đứt đầu nhưng Tổng thống đã cương quyêt từ chối. Nêu Tổng Thống đúng là mẫu như ông Lâm Lễ Trinh ca ngợi trong Về Nguồn, trang 88 là "Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một tín đồ công giáo thuần thành, phân biệt tội phước..."  Vậy thì vì lý do gì ông lại lạnh lùng quyết tâm không cho Ba Cụt được chết toàn thây? Tại sao ông lại muốn công chúng  trước pháp trường tận măt chứng kiến Ba Cụt bị chặt ra làm hai khúc? Rồi theo như hồi ký Tướng Lê Quang Vinh,  thì tại sao người lãnh đạo tối cao lại không chỉ thị rõ rệt cho nhân viên thừa hành là phải chiếu theo luật pháp mà giao ngay xác chết hai mảnh lại cho thân nhân trước sự chứng kiến của  ông Chánh án Huỳnh Hiệp Thành, của Công tố viện Biện lý Lâm Lễ Trinh cũng như của báo chí, của công chúng với biên bản của Thừa phát lại?

Nếu thật sự có việc phi tán xác chết Ba Cụt thì rõ ràng vì có ai đó đã sợ rằng nơi chôn cất Tướng Lê Quang Vinh ngày nào đó sẽ trở thành một địa điểm hành hương của tín đồ Hòa Hảo.

 
Vậy thì câu hỏi là:

- Ai là  những người sợ nơi chôn cất Tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt ngày nào đó sẽ trở thành một địa điểm hành hương?

- Và nếu thât sự Thiếu tướng Dương Văn Minh đã chỉ thị cho ông Nhung làm việc này thì ông có lợi gì trong đó? hay chỉ  có hại mà thôi?

Ngoài ra, nếu muốn phân tích xem cho rõ "có phải Thiếu tướng Dương Văn Minh đã chỉ thị cho ông Nhung bầm thây Ba Cụt hay không" thì tôi xin được kể lại gút mắc của tôi về quyển sách Về Nguồn của ông Lâm Lễ Trinh. Bởi vì nếu chúng ta giải tỏa được gút mắc này thì đó chính là phần lớn sự thật về việc thủ tiêu xác Ba Cụt.

 
Có phải Thiếu tướng Dương Văn Minh đã chỉ thị cho ông Nhung bầm thây Ba Cụt hay không?

- Khoản đầu tháng 4 năm 2007, Giao Chỉ phổ biến trên Take2Tango, bài viết "Tác giả Lâm Lễ Trinh tại San Jose Từ Về Nguồn đến Thức Tỉnh..."

Khi đọc xong bài viết  nầy tôi liền gởi một điện thư đến tác giả để yêu cầu Ông giải thích cho thăc mắc của tôi về một đoạn trong tác phẩm của Ông. Đọan ấy như sau:

…"Nhung đã chết một cách bí ẩn trong tù. Nguyên Đại tướng Khánh cho biết đã tìm thấy xác của Nhung treo cổ bằng giây thừng". (Nhung cũng là người được Dương Văn Minh giao phận sự thủ tiêu xác của Lê Quang Vinh tức Ba Cụt, lãnh tụ Hoà Hảo, sau án tử hình). (Về Nguồn trang 64).

- Ngày 19.4.2007 tôi vừa gửi điện thư đến ông Lâm Lễ Trinh vừa gửi bằng thư "Ưu tiên" của Bưu điện có số chứng nhận đã giao số 0305 1720 0000 5965 4441  (Delivery Confirmation) ngày 21.4.2007 đến tư gia của Ông ở Huntington Beach, CA 92646 lúc 11:08am.

- Đến 13.5.07, không nhận được hồi âm nên tôi công khai hóa điện thư của tôi trên Take2tango.

Đại ý tôi đã viết cho ông Trinh như sau:

Một mặt tôi đưa ra những tài liệu nói rằng khi Lê Quang Vinh bị chém thì Công tố viên của toà Đại hình thuộc Bộ Tư Pháp VNCH có trách nhiệm thi hành bản án nầy. Và khi đó đại diện Bộ Tư Pháp  là ông Biện lý Lâm Lễ Trinh có trách nhiệm phải chứng kiến và xác nhận tội phạm là đúng thực là Lê Quang Vinh, cũng như ông Trinh phải xác nhận tội phạm thực sự đã bị chặt đầu và đã chết. Theo luật pháp thì Bộ Tư Pháp và ông Biện lý Lâm Lễ Trinh còn phải có trách nhiệm và cũng như có đầy đủ thẩm quyền quyết định một trong 2 việc:

- Hoặc là giao xác chết của tôị phạm (Tướng) Lê Quang Vinh lại cho thân nhân để mai táng,

- Hoặc là giữ xác chết hai mảnh, phần đầu và phần mình của (Tướng) Lê Quang Vinh rồi chôn cất tại nơi nào đó.

 
Mặt khác tôi đã nhắc lại  lời ông Lâm Lễ Trinh viết: "Nhung cũng là người được Dương Văn Minh giao phận sự thủ tiêu xác của Lê Quang Vinh tức Ba Cụt, lãnh tụ Hoà Hảo, sau án tử hình."

Và đã hỏi ông Trinh hai câu:

■ Câu thứ nhất: Ông là người có quyền quyết đinh về hậu sự của Lê Quang Vinh cho nên nếu Thiếu tướng Dương Văn  Minh đã thủ tiêu xác chết thì chắc chắn ông biết rõ ai đã ra lệnh này cho Thiếu tướng Dương Văn Minh? Bộ Tư Pháp hay Bộ Quốc Phòng? Nên nhớ là lúc bấy giờ Thiếu tướng Dương Văn Minh chỉ là Tư lệnh chiến dịch Thoại Ngọc Hầu thì Thiếu tướng Dương Văn Minh có thẩm quyền gì trong việc hành quyết Tướng Lê Quang Vinh để mà có thể giao phận sự thủ tiêu xác chết cho Đại úy Nhung?

■ Và câu hỏi thứ hai là:

- Sự hiện diện của ông Biện lý Lâm Lễ Trinh và ông Chánh án Huỳnh Hiệp Thành tại pháp trường Cần Thơ đã được phu nhân Tướng Lê Quang Vinh tức Ba Cụt xác nhận nơi trang 231 và 233, quyển Hồi Ký Tướng Lê Quang Vinh.

- Ông Lâm Lễ Trinh chính là người có quyền quyết định về số phận xác chết Tướng Lê Quang Vinh cho nên ông phải biết rõ là làm sao Đại úy Nhung có được xác chết để thủ tiêu? Ông Nhung đã khống chế ông để cướp đi xác chết hay là chính ông đã giao nó lại cho ông Nhung?

- Nếu là cướp xác thì tại sao ông lại im lặng trước một việc trọng đại như vây mà không báo cáo lên cho cấp trên? Và im lặng luôn cho đến bây giơ?

- Còn nếu chính ông giao xác chết đó cho ông Nhung thì tại sao ông lại làm như vây? Vì tuân theo lệnh của thượng cấp hay vì tự ý cá nhân?

 
Thưa quý vị thư của tôi đã đến tận tay Tiến sĩ Lâm Lễ Trinh nhưng Ông cứ bảo là không đọc được và yêu cầu gửi lại. Take2tango lại yêu cầu Ông vào website nầy để đọc, nhưng  tôi vẫn không thấy Ông trả lời.

Không bỏ cuộc, tôi đã lái xe đi Houston cách nơi tôi cư ngụ lối 530 miles để tham dự  buỏi Hội thảo bán sách cũa Tiến sĩ Trinh tổ chức vào chiều ngày 27.5.07.  Trong phần phát biểu ý kiến, tôi đã lập lại những câu hỏi như đã gởi ông hồi tháng Tư, nhưng người điều khiển chương trình đã cắt ngang khi tôi chưa đọc hết các câu hỏi của tôi. Tôi muốn nói rằng ông Lâm Lễ Trinh đã không muốn đọc và cũng không muốn nghe 2 câu hỏi trên của tôi. Tại sao lại như vây?

Tôi xin nhường câu trả lời lại cho quý thính giả.

Tôi tin rằng nếu ông Lâm Lễ Trinh chịu thành thật trả lời 2 câu hỏi trên của tôi thì vấn đề ai thủ tiêu và vì sao lại phải thủ tiêu xác Ba Cụt sẽ hoàn toàn được giải đáp. Tôi  vẩn còn giữ đoạn video nầy.

Nhưng tôi nghĩ rằng có lẽ sau khi hành hình Ba Cụt, Ông Biện lý Việt Nam Francis Lâm Lễ Trinh cũng muốn học theo Pilate là sai người đem nước đến để Ông rửa tay.

 
Trịnh Bá Lộc, 28.06.2008 
Nguyên sĩ quan Tùy viên của Đại tướng Dương Văn Minh.

[Source: Diễn đàn điện tử VN-Politics@yahoogroups.com Sat, Jun 28, 2008 at 8:11 PM ]