Hiển thị các bài đăng có nhãn 1-11-1963. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 1-11-1963. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2021

 

HAI NGÀY SÔI ĐỘNG CUỐI THÁNG 9 NĂM 1963:

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CỦA “MR. SMITH” VÀ “MR. R”

(Tài liệu Giải mật của CIA, Bộ Ngoại giao và Pentagon Papers)

Người dịch: Tâm Diệu, Trí Tánh, Nguyên Giác

Office of the Historian (Văn phòng Sử gia) là một cơ quan thuộc Bộ Ngoại giao Hoa kỳ, “theo luật định, chịu trách nhiệm về việc soạn thảo và phát hành tài liệu lịch sử chính thức của chánh sách ngoại giao Mỹ” trong Tổng tập FRUS (Foreign Relations of the United States), đã được giải mật.

 [The Office of the Historian is responsible, under law, for the preparation and    publication of the official documentary history of U.S. foreign policy in the "Foreign Relations of the United States" series].

 

Lời Giới Thiệu - Ngày 5 tháng 7 năm 1967, Quốc hội Mỹ khóa thứ 89 ban hành đạo luật “Freedom of Information Act (FOIA)” cho phép các tài liệu của chính phủ Mỹ có thể được giải mật (declassification) nếu vượt quá thời hạn 50 năm ban hành. Mục đích của  đạo luật nầy là  “… thúc đẩy trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của chính phủ bằng cách cung cấp một khung pháp lý cho các cá nhân có nhu cầu truy cập các tài liệu của chính phủ” (“The FOI Act promotes government accountability and transparency by providing a legal framework for individuals to request access to government documents”). 

Những tài liệu liên quan đến “Biến cố 1963” tại miền Nam Việt Nam, kéo dài từ lễ Phật Đản đến Chính biến 1-11-1963, thì nay đã đáp ứng điều kiện khung “thời gian 50 năm” nầy của đạo luật FOIA. Khối tài liệu đồ sộ nầy của chính quyền Kennedy (tại Washington cũng như tại Sài Gòn) được giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm kể từ giữa thập niên 2010’s, khi có một số sử gia Mỹ bắt đầu tìm cách nghiên cứu và đánh giá lại toàn bộ chiến tranh Việt Nam.

Hy vọng các thông tin được giải mật nầy, ít nhất là từ phía Mỹ, sẽ giúp các nhà viết sử có thêm tài liệu tham chiếu để thẩm định lại một cách chính xác và đúng đắn hơn về một giai đoạn bi hùng của lịch sử nước ta.

 

Vào cuối tháng 9 năm 1963, trong khuôn khổ chuyến viếng thăm Việt Nam để tìm hiểu (fact finding mission) của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara và Tướng Chỉ huy trưởng Liên quân Maxwell Taylor, có hai nhân vật được nhắc đến tên trong các văn kiện trao đổi giữa các giới chức lãnh đạo của Mỹ tại Sài Gòn và Washington. Họ được đặt bí danh là “Mr Smith” cho một nhà nghiên cứu người Mỹ  và  “Mr. R” cho một viên chức cao cấp người Việt thân tín bậc nhất của ông Diệm.

Cho đến nay, nhân thân của “Mr. Smith” vẫn chưa được tiết lộ, chỉ biết “lúc đó ở Sài Gòn, là một nhà nghiên cứu và là nhà văn về Việt Nam, trước đó là người ủng hộ Diệm nồng nhiệt cho tới lúc đó”. Còn “Mr. R”, thì bây giờ chúng ta biết rõ chính là ông Nguyễn Đình Thuần , Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống, kiêm Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng, tạm giữ chức Bộ trưởng Đặc nhiệm Phối hợp An ninh”. Bộ trưởng Thuần chính là người mà từ hai năm trước đó, đã theo lệnh TT Diệm, yêu cầu chính phủ Mỹ “Gửi quân Mỹ tác chiến hoặc quân Mỹ “cố vấn tác chiến” cho quân VNCH.” (Theo “The Pentagon Papers”, Ed. Bantam Books Inc., 1971, trang 40, trích từ Điện văn của Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn gửi bộ Ngoại Giao ngày 13 tháng 10, 1961)

 

Hai nhân vật nầy, trong những văn kiện trao đổi giữa Washington và Sài Gòn trong hai ngày 26 và 27/9/1963 đã được đề cập đến như  là đã cung cấp các thông tin được cập nhật, cũng như những phân tích và bình luận tình hình tại Nam Việt Nam. Đáng lưu ý là, những ý kiến của hai “Mr” nầy đã được đánh giá cao và góp phần định hình quyết sách của Mỹ trong thời gian sôi động đó, cũng như đã cảnh báo khá đúng phản ứng của hai ông Diệm Nhu sau nầy.    

 (Hình ảnh lấy từ Internet - Phần nhấn mạnh / in đậm là của blog Nam Giao - 1/2021)

 ------------------------------------------------------------------------------------------------

■ Ngày 26/9/1963. Từ CIA Sài Gòn gửi về trung ương Hoa Kỳ.

Sau đây là tóm tắt nội dung cuộc nói chuyện dài nửa giờ với Tướng Khiêm vào sáng ngày 26/9/1963 do Khiêm mời tới. Khiêm giải thích rằng Khiêm yêu cầu nói chuyện theo lệnh Tướng Dương Văn Minh, muốn tiếp tục liên lạc thế này. Khiêm nói về nội dung cuộc nói chuyện giữa Khiêm với Minh, chỉ với Minh thôi, và xin đừng để lộ ra. Tướng Khiêm nói Việt Cộng mới đây cho thấy sức mạnh ở chiến trường, nơi thiệt hại của quân đội VNCH lần đầu tiên nặng nề như của VC. Khiêm thêm rằng xuyên qua các chiến dịch mới đây chỉ huy do Đại Tá Phước của ARVN J-2 (Tình Báo Quân Đội, VNCH) cho thấy nhiều chứng cớ rằng VC đã rất mạnh, đã có kế hoạch kỹ lưỡng và có nguồn lực tại chỗ để nỗ lực tấn công Sài Gòn nếu có bất kỳ hỗn loạn nào xảy ra. Khiêm nói có biết phía "dân sự" cũng đang âm mưu đảo chánh, nhưng phía "dân sự" không biết gì về tình hình sức mạnh của Việt Cộng. Do vậy, nên các tướng (tức là, Minh, Khiêm và Khánh) quyết định hủy bỏ kế hoạch đảo chánh trong khi chờ chính phủ Diệm cải tổ theo yêu cầu của các tướng lãnh.

(Lời Người Dịch: Trong tuần lễ thứ nhì của tháng 9/1963, các tướng lo ngại Nhu sẽ thương thuyết với Hà Nội và sẽ từ từ nhuộm đỏ Miền Nam, nên đã đề nghị với TT Diệm cải tổ chính phủ, để quân nhân nắm chức Bộ Trưởng các Bộ Quốc Phòng, Bộ Nội Vụ, Bộ Tâm Lý Chiến và Bộ Giáo Dục. TT Diệm nói sẽ trả lời sau. Các tướng đề nghị với TT Diệm rằng, Bộ Quốc Phòng giao cho hoặc Tướng Minh, Đôn hoặc Khánh. Các tướng tiên đoán TT Diệm sẽ chọn Tướng Đôn nắm Bộ Trưởng Quốc Phòng. Đề nghị Tướng Tôn Thất Đính nắm Bộ Nội Vụ, và tin là TT Diệm sẽ đồng ý. Bộ Tâm Lý Chiến đề nghị hoặc Tướng Trần Tử Oai hay Lê Văn Kim. Bộ Giáo Dục, hoặc tướng Trần Văn Minh hoặc Phạm Xuân Chiểu.)

Tướng Khiêm tin rằng TT Diệm sẽ đồng ý. Khiêm dự trù rằng ngày 4/10/9163 sẽ là hạn chót của các tướng để TT Diệm chấp nhận thay đổi chính phủ, nếu không thì các tướng sẽ có kế hoạch khác. Các tướng tin rằng TT Diệm sẽ chấp thuận nội các chiến tranh đó, vì quân VC đã cho thấy họ có sức mạnh nguy hiểm là từ kết quả chính phủ Diệm-Nhu trong quá khứ đã có những sai lầm chính sách cho tới giờ này. Các tướng tin rằng nếu các bộ quan trọng thay đổi (tốt nhất là, Tướng Dương Văn Minh nắm Bộ Quốc Phòng, Tướng Trần Văn Đôn nắm Bộ Nội Vụ) thì đường dây chỉ huy các mặt trận, và xuống tới các tỉnh, huyện sẽ hiệu quả chống lại hiểm họa từ trong (nội bộ chính phủ Diệm-Nhu) cho tới ngoài là Bắc VN.

Diệm đã có một bước như các tướng muốn là mới vài ngày trước đã ký lệnh đưa Đại Tá Tung và Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt của Tung nằm trực tiếp dưới quyền Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH. Chưa rõ lệnh này hiệu quả ra sao. Diệm cũng có hành động khác làm hài lòng các tướng là đưa Bác sĩ Trần Kim Tuyến (chỉ huy mật vụ, an ninh) ra ngoài VN. Tướng Khiêm xem Tuyến là một trong những người của Nhu chịu trách nhiệm nhiều nhất về tính kém hiệu quả của các cơ quan dân sự trong cuộc chiến chống VC. Khiêm nói, nếu tân chính phủ cải tổ như ý các tướng, ảnh hưởng của Cố vấn Nhu đối với hướng đi của VN sẽ thành tối thiểu. (Nhận định từ CIA Sài Gòn: Chúng tôi không chia sẻ niềm tin của Khiêm rằng Diệm sẽ chấp thuận đề nghị trao các Bộ đó cho các tướng nắm giữ.)

Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara trong chuyến

Tham quan Tìm hiểu (Fact Finding Mission trip) vào tháng 9 năm 1963. 

■ Ngày 26/9/1963. Bản báo cáo của Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara. Viết từ Sài Gòn.

Nội dung: McNamara phỏng vấn Giáo sư Smith. Ghi chú cho biết, theo William P. Bundy, người tháp tùng McNamara tới Việt Nam, GS Smith là tên giả. Smith lúc đó ở Sài Gòn, là một nhà nghiên cứu và là nhà văn về Việt Nam, trước đó là người ủng hộ Diệm nồng nhiệt cho tới lúc đó. Bundy về sau nhớ lại rằng ý kiến của Smith ảnh hưởng mạnh vào McNamara. Sau đây là tóm lược bài phỏng vấn.

Smith, một giáo sư tại đại học hàng đầu American University, nói tiếng Việt lưu loát, học giả về Đông Phương, quen biết rộng với các lãnh đạo ở cả Nam và Bắc VN, công việc hàng ngày tiếp cận các bản chép lại các bài phát thanh của Bắc Việt và các lá thư cá nhân và các tài liệu khác được đưa lậu ra khỏi Bắc VN. Smith vừa hoàn tất chuyến thăm Nam VN, các lần viếng thăm trước đó là năm 1960 và 1953. Trong chuyến đi này, Smith không đi nhiều ra ngoài Sài Gòn. Smith nói với McNamara như sau.

Khi tới thăm Nam VN, Smith nghĩ rằng sẽ nguy hiểm nếu cuộc chiến chống Cộng không có TT Diệm. Sau nhiều tuần lễ ở đây, ông đổi ý kiến. Diệm già kinh khủng kề từ 1960, bây giờ trí não trì trệ. Nhu là người, với lưng đã bị đẩy vào tường; bản thân Nhu đã rơi vào tình trạng kinh hoàng và đã tới một giai đoạn phản ứng tuyệt vọng; và rồi, ngay cả với các thành phần không liên hệ tới chính trị tại Sài Gòn cũng lo sợ bị Nhu bắt giam.. Diệm sẽ không tồn tại quá 24 giờ nếu không có Nhu, người tiếp nhận các khoản tiền hối lộ và quấy động quyền lực để sống còn. Nhu sẽ không tồn tại quá 24 giờ nếu không có vẻ ngoài uy tín của Diệm. Họ cần nhau. Không thể làm cho chế độ cởi mở. Diệm không có khả năng thay đổi. Do vậy, Mỹ phải chọn giữa việc chiến thắng cùng với chế độ này, hay là ủng hộ sự thay đổi để có chế độ khác.

Trong nhiều năm, công chúng chỉ trích chế độ, nhưng là chỗ rieng tư. Bây giờ là chỉ trích công khai, từ người dân ngoài đường phố, và chỉ trích cũng công khai từ quân nhân và cảnh sát. Chế độ đàn áp Phật Tử đã gây bất mãn cho mọi thành phần người Việt. Họ kinh hoàng khi cảnh sát tấn công các chùa. Cả người Thiên Chúa Giáo cũng bất mãn như Phật Tử. Không có chuyện xô xát Phật Tử với giáo dân Thiên Chúa Giáo. Trong quá khứ chưa từng có giáo hội chính thức nào của Phật Giáo, thế rồi đột nhiên họ phải tổ chức lại, vv. Từ lâu đã có sự chống đối chế độ một cách tiêu cực khắp VN, nhưng đã hiển lộ ra quanh người Phật Tử sau khi xảy ra sự kiện Huế. Bây giờ, không chỉ là phong trào tôn giáo, mà còn là chính trị.

Điểm đầu tiên để nghiên cứu kỹ lưỡng là: Chúng ta có thể chiến thắng với chế độ Diệm không? GS Smith tin là không thể chiến thắng. Như vậy, là phải thay thế. Bất kỳ vận động nào tách rời chế độ đều rất rủi ro. Sinh viên và Phật Tử không thể lật đổ chính phủ. Chỉ có đảo chánh quân sự hay một cú ám sát mới hiệu quả, và một trong 2 viễn ảnh đó thế nào cũng sẽ xảy ra. Trong các viễn ảnh đó, Hoa Kỳ có 50% cơ may sẽ có được điều tốt đẹp hơn. Thompson tuần trước nói rằng chương trình Ấp Chiến Lược tiến triển khả quan; đài phát thanh Bắc Việt chỉ trích nặng nề nhất là chương trình đó. Qua các nguồn tin độc lập, Smith xác nhận rằng Nhu nói với phóng viên Alsop (của báo Washington Post) và rồi Alsop viết lên báo, và rằng Bắc Việt đã nói chuyện với Nhu xuyên qua người Pháp, như Nhu đã nói. Một Đại tá quân đội, bạn chung của Nhu và của GS Smith, nói rằng mới vài ngày trước, Nhu hỏi rằng quân đội VNCH sẽ phản ứng ra sao đối với việc thương thuyết hai miền. Đại Tá nói với Nhu rằng ông sẽ không sống sót quá 24 giờ sau khi khởi động thương thuyết như thế. Nếu CS chiếm trọn Miền Nam VN, sẽ không có lãnh tụ chính trị nào tại Châu Á còn tin vào thế giới Phương Tây nữa. Thực sự, mất lòng tin sẽ không riêng ở các lãnh đạo Châu Á. Chính phủ Mỹ không thể làm gì khác hơn là hoặc công khai ủng hộ Diệm, hoặc im lặng. Nếu Mỹ im lặng, sẽ có một cuộc đảo chánh có lẽ xảy ra trong vòng 4 tuần lễ nữa. Đó sẽ là ván cờ bạc để xem ai sẽ nắm quyền sau chế độ quân sự lâm thời.

Các giáo sư tại Đại Học Sài Gòn nói rằng đời sống y hệt như địa ngục. Nếu đại học mở cửa lại, sinh viên sẽ lại xuống đường và Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa sẽ cùng với sinh viên biểu tình. Nhu đan bắt giam nhiều người thêm, và căng thẳng không ngừng. Do vậy, tinh thần chiến binh cũng xuống. Gỡ bỏ thiết quân luật và giới nghiêm nhưng tăng tốc bắt giam. Thế là nhà tù đầy thêm. Nếu Mỹ âm mưu đảo chánh, thì lại thất bại, vì chính phủ mới sẽ bị tai tiếng  là búp-bê của Mỹ. VC chưa lợi dụng được bất ổn chính trị, và Bắc Việt đang thiếu lương thực thê thảm. Theo ý tôi (GS Smith), nếu chính phủ Mỹ không nói gì để ủng hộ chính phủ Diệm, sự bùng nổ sẽ xảy ra trong vòng 2 hay 3, hay 4 tuần lễ tới.

.

■ Ngày 27/9/1963. Bầu cử Quốc Hội VNCH trên toàn lãnh thổ Nam VN, với tiên đoán được là tỷ lệ đi bầu sẽ đông và đa số ứng cử viên là người của chính phủ Diệm. Bản ghi chú của Bộ Ngoại Giao Mỹ ghi rằng một ứng cử viên nổi tiếng với các quan điểm độc lập, Nguyễn Trân, bị chính phủ cho là bất hợp lệ. Không có nhà hoạt động đối lập nào được tranh cử. Có một số nghi ngờ rằng chính quyền gian lận bằng cách cấp cho các cá nhân tin cậy mỗi người nhiều hơn một phiếu bầu, và cũng gian lận bằng cách đếm sai, trong khi chính phủ có một danh sách các ứng cử viên được ưa thích sẵn và đã giúp cho các ứng cử viên này.

Các ứng cử viên thắng phiếu sẽ vào 123 ghế, trong đó có 60 ghế đương nhiệm (có 25 người đương nhiệm thất cử). Theo báo cáo của CAS, 96 ứng cử viên được chính phủ Diệm hỗ trợ đã thắng cử. Trong đó bao gồm 55 thành viên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia (NRM) và 19 phụ nữ, tất cả đều có lẽ là thành viên Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới (WSM). Mặt khác, dựa vào báo cáo CAS, có 15 trường hợp được chính phủ VN hỗ trợ nhưng thất cử (chính phủ VN giữ trung lập trong phần còn lại cùa các ứng cử viên). Chưa rõ tất cả nhóm 15 người thất cử này sẽ chấp nhận thua hay không, vì có tin vài người nộp đơn khiếu nại. Khuôn mặt mới có 2 đại biểu người gốc Hoa, và là lần đầu tiên người Hoa ở Chợ Lớn gia nhập chính trị VN. Vắng mặt trong Quốc Hội mới sẽ là các khuôn mặt tương đối độc lập, những người có khuynh hướng gần với nghiệp đoàn lao động, như Phạm Văn Tùng và Trần Sanh Bửu. Điều chú ý là, 2 người này thua phiếu 2 ứng cử viên gốc Hoa kia. Trong tình hình Quốc Hội cũ vốn đã bất lực, các nhân sự mới không có vẻ gì sẽ là vai trò sáng tạo. Các viên chức ngoại giao Hoa Kỳ không sẵn sàng chấp nhận con số do chính phủ VN đưa ra là 92.82% dân số đi bầu là khả tín, nhưng xác nhận rằng người dân đông đảo đi bầu, một phần vì áp lực từ các viên chức địa phương, một phần vì không khí lễ hội trong ngày bầu cử. 

Biết rằng Bộ Trưởng McNamara và Tướng Taylor sẽ đề nghị dùng chương trình viện trợ để áp lực TT Diệm, cho nên cả Đại sứ Lodge và Brent (Giám Đốc USOM) đều chống lại phương pháp đó. Lodge gửi điện văn lúc giữa trưa, nói rằng nếu Mỹ cắt giảm viện trợ sẽ làm đời sống người dân khổ hơn, và sẽ bất lợi cho cuộc chiến chống Cộng.

.

■ Ngày 27/9/1963. 6 p.m. Gửi từ Tòa Đại sứ về BNG. Ký tên Lodge. Hãy chuyển tới USIA cho Murrow.

Tôi đề nghị nghiên cứu tức khắc về khả năng làm một loạt chương trình trên đài VOA, sẽ nói bằng tiếng Việt trên làn sóng phủ khắp Nam VN đều đặn, trình bày các lý tưởng Hoa Kỳ như tự do phát biểu, tự do báo chí, quyền được ra tòa nếu bị bắt, phẩm chất cá nhân phải được tôn trọng, quyền tìm hạnh phúc, mọi người đều bình đẳng, chính quyền là đầy tớ của dân, vân vân. Hiện nay tất cả các nguyên tắc đều bị vi phạm tàn bạo ở VN. Thực sự, tôi vừa nhận được bản báo cáo khả tin về chuyện cảnh sát nửa đêm gõ cửa nhà dân và bắt đi các phụ nữ trong một gia đình về nhà giam để thẩm vấn (Xem khung chữ đính kèm).

Mục đích chiến dịch thông tin này để dân VN ý thức về quyền của họ, tới mức gây lo ngại cho Diệm-Nhu và sẽ giúp Mỹ có sức ép. Tôi tin rằng sức mạnh của lý tưởng chúng ta sẽ mạnh hơn là tiền hay là thế lực của chúng ta. Tôi có ý nghĩ trên vì tin rằng đài VOA có đông thính giả tại VN. Mecklin cũng nghĩ thế.

.

■ Từ Sài Gòn. Không ghi ngày. Bản báo cáo của Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara. Về buổi nói chuyện ngày 27/9/1963 với Richardson (Trưởng Phòng CIA Sài Gòn). Buổi nói chuyện dài 2 giờ đồng hồ. Sau đây là nhận xét của Richardson.

Khủng hoảng Phật Giáo chỉ là cao điểm của những bất mãn đã ẩn tàng từ lâu. Tương lai bất định, khó đoán. Tình hình bắt giam hàng loạt sinh viên là rất tệ hại. Các vụ bắt giam này có cả các con của các sĩ quan và các công chức cao cấp. Các vụ bắt trong đêm chỉ làm người dân căm ghét thêm. R (bí danh của Bộ Trưởng Nguyễn Đình Thuần) nói với Diệm rằng cứ mỗi viên chức trong nội các là đều có một khủng hoảng cá nhân. Điều R muốn nói chính là bầu không khí của những nỗi nghi ngờ. Họ kính trọng Diệm, nhưng không chịu nổi gia đình nhà Ngô. R đặc biệt lo sợ hành động của các cấp cao nhất trong quân đội. Hai lần trong vài ngày qua, R từ chối đề nghị rằng R sẽ lên nắm chức Tổng Thư Ký Hội Đồng Chính Phủ (Secretary General of the Council); Diệm nói như thế là đưa R vào chức Thủ Tướng, nhưng R nói R không thể chấp nhận chức vụ đó trong chính phủ này. R được báo cáo là R đang bị theo dõi, gia đình nhà Ngô nhìn R như một người Mỹ. R nói R không thấy có ai có đủ đạo đức cá nhân để thay thế Diệm, nhưng hướng đi mà Diệm và nhà Ngô đang dẫn đi sẽ đưa tới thảm họa. Diệm là người yêu nước nhưng gắn bó với gia tộc nhà Ngô. Quan hệ giữa các cố vấn quân sự Hoa Kỳ và người tương nhiệm (VN) là tốt, nhưng nếu bầu không khí nghi ngờ không hết, các cấp thấp phía người Việt sẽ rút ra khỏi quan hệ này -- R nói có thấy tiến trình xấu này. Richardson nói, "Tôi yêu cầu Bộ Trưởng hãy rất cứng rắn; đây là con đường duy nhất. Đừng cắt đứt viện trợ; chỉ treo viện trợ thôi." Diệm lo lắng về chuyện chậm trễ viện trợ thương mại. R nói, có 4 tướng xin được giữ chức trong nội các chính phủ. Họ rất nguy hiểm.

Ông Nguyễn Đình Thuần (thứ hai từ trái, ngồi bên mặt PTT Nguyễn Ngọc Thơ) trong một cuộc họp báo của Ủy ban Liên Bộ năm 1963. Vì ông Ngô Đình Diệm là Tổng thống nhưng kiêm nhiệm luôn chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng nên ông Thuần chỉ giữ chức “Bộ trưởng Phụ tá Quốc Phòng” kiêm nhiệm “Bộ trưởng Phủ Tổng thống”). - Hình của Lo Vinh, sưu tầm của southeastasiacollector.

Để cứu VN, chúng ta phải áp lực Diệm để buộc ngưng các biện pháp đàn áp dân và phải buộc Nhu ra đi. Nếu không, đảo chánh sẽ xảy ra và sẽ là thảm họa. Nhu là kẻ chủ mưu, chỉ huy trận tấn công các chùa. Đừng tin những gì nhìn thấy, vì người dân đang nổi giận. Chuỵện các sinh viên thì cực kỳ kinh hoàng. Trong thâm tâm, nhiều sĩ quan đã bất mãn lớn với chính phủ. Tư Lệnh Hải Quân, người đã cứu sinh mạng Diệm trong năm 1960, bây giờ không thuyết phục nổi chính thân phụ của mình về cái gì là tốt đẹp của chính phủ. Dân chúng ghét bà Nhu và cậu em (Trần Văn Khiêm). Nếu Nhu tìm cách nối ngôi Diệm, sẽ có chiến tranh liền. Không chỉ có chuyện bắt người ban đêm, cũng có chuyện Mật Vụ bắt cóc người. Có bao nhiêu người bị bắt, bao nhiêu được thả ra? Tôi không biết. Tổng Thư Ký tờ Trudo (Tự Do?), tờ báo bị nghi là ủng hộ người Mỹ, bây giờ đã bị bắt giam.

Nhiều thành viên nội các chính phủ đã chán rồi, muốn từ chức, nhưng nếu từ chức là sẽ có chuyện bất tường. Có 36 mật vụ trong nhà Mẫu [Ngoại trưởng] khi Mẫu tìm cách rời VN. R nói với Diệm: Tổng Thống không thể sống sót nếu không có viện trợ Mỹ. Đồng tiền sẽ sụt gíá, lúc đó đồng tiền đã sụt giá rồi. Khiêm, em trai bà Nhu và là chỉ huy cảnh sát bí mật, là một người điên khủng và bị ám ảnh tình dục. R nằm trong danh sách ám sát của Khiêm. Bộ Trưởng Kinh Tế, một tín đồ Thiên Chúa Giáo thuần thành, nói với R rằng ông không thể ngủ đêm qua khi nghĩ về các lời tuyên bố chống Mỹ của Nhu; ông tin rằng tuyên bố như thế thì phe hưởng lợi nhiều nhất là người Cộng sản và ông kết luận rằng hẳn là có một người Cộng sản phía sau Nhu. Bản báo cáo này có chữ ký được đánh máy của Bộ Trưởng Robert S. McNamara.

TDTTNG/202101

Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2019


BỐN BÀI LÀ CŨNG ĐỦ ĐỂ ĐÁNH GIÁ
ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
VÀ CHẾ ĐỘ ĐỆ NHẤT CỌNG HÒA
Sưu tầm của Kevin Trần

Xin giới thiệu 4 bài viết về ông Ngô Đình Diệm và chế độ Đệ Nhất Cọng Hòa (1956-1963):
:
1- Ngô Đình Diệm, Thời Chưa nắm Chính Quyền, 1897-1954
Tác giả: Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu (Texas, USA)
Bài nầy đề cập đến cội rễ Tôn giáo và nguồn gốc Chính trị của ông Diệm và Gia đình. Phải hiểu được hai gốc gác nầy thì mới giải thích được vì sao sau nầy, khi cầm quyền, ông Diệm mới là "con nuôi" của Mỹ, ông Diệm mới đàn áp đối lập chính trị, ông Diệm mới kỳ thị Phật giáo, và mới bị nhân dân miền Nam thù ghét. Bài có nhiều sử liệu quý giá của chính quyền Pháp.

2- Nhìn Lại Giai Đoạn Ngô Đình Diệm 
Tác giả: Nguyễn Gia Kiểng (Paris, France)
Bài nầy phân tích chính trị từ góc độ khoa học chính trị (political science). Bài viết có cấu trúc chặt chẻ và độ logic cao để đánh giá con người chính trị của Ngô Đình Diệm. Và qua đó, phê phán chế độ Đệ Nhất Cọng hòa. Điều đáng nói là tác giả Nguyễn Gia Kiểng vốn là một nhà lập thuyết Công giáo có trình độ, là một chính trị gia chuyên nghiệp và "được" những thành phần "chống đối" trong nước đánh giá cao vì khả năng lý luận của tác giả qua một số tác phẩm lập thuyết của ông ta.

3- Ngô Đình Diệm, Nước Bại Theo Một Người 
Tác giả: Hồ Sỹ Khuê (Paris, France)
Bài nầy phân tích đầy đủ nhất từ trước đến nay về con người Ngô Đình Diệm trong vai trò của một nhà lãnh đạo quốc gia. Bằng những chứng cớ bất khả phủ bác, tác giả đã chứng minh và lý giải vì sao ông Diệm đã thất bại toàn diện, không thực hiện được các mục tiêu tại miền Nam. Đây là tiếng nói có thẩm quyền vì tác giả đã từng là nhà lý thuyết chính trị, đóng góp vào việc thiết kế chính sách cho hai ông Diệm và Nhu từ những năm hai ông nầy mới lên nắm chính quyền (1954-1955).

4- Ông Ngô Đình Diệm Từ Cái Nhìn Của Giới Nghiên Cứu Mỹ 
Tác giả: Nguyễn Kha (California, USA)
Đây là bài tổng hợp và cập nhật một bài viết cũ của tác giả TCN bằng cách thêm một phần dẫn nhập, thay thế 6 tác giả mới, và giới thiệu thêm một phần phê phán của người Việt. Chế độ Diệm là "con đẻ" của Mỹ, lại cũng chính Mỹ góp phần vào việc chấm dứt chế độ Diệm, do đó, không thể hiểu biết và phê phán được chế độ Diệm nếu không nắm bắt được đánh giá của người Mỹ về chế độ đó.


Từ trái: Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu, Nguyễn Gia Kiểng, Hồ Sỹ Khuê, Nguyễn Kha


BỐN TUYÊN BỐ “LƯU XÚ VẠN NIÊN”
CỦA ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

Sưu tầm của Kevin Trần

Mỗi lãnh tụ lớn, nhất là lãnh tụ chính trị, sau khi qua đời thường để lại một số di sản cho hậu thế. Di sản đó có thể là thành quả của những chính sách, có thể là những dấu ấn chính trị lâu dài, cũng có thể là một số tư tưởng lập thuyết … Trong số di sản đó, nỗi bật nhất là những câu nói ngắn gọn và dễ nhớ, phản ảnh tâm nguyện hay lý tưởng hay nhân cách của vị lãnh tụ đó.
Ông Ngô Đình Diệm là Tổng thống đầu tiên của nước Việt Nam Cộng hòa. Là một lãnh tụ chính trị nên ông cũng để lại nhiều tuyên bố trong sự nghiệp chính trị của ông. Trong số đó có bốn tuyên bố “để đời” mà cho đến nay, hằng năm, vẫn được nhiều người chống đối cũng như bênh vực ông nhắc đến mỗi độ tháng Mười một về:

11-     Tuyên bố về quan điểm dụng nhân trong bộ máy cai trị quốc gia: “Chỉ có dân miền Trung mới có khả năng lãnh đạo quốc gia. Dân miền Bắc hợp với buôn bán, còn dân miền Nam chỉ làm tướng võ biền”
(xem Bách khoa Toàn thư Wikipedia tiếng Việt , tiểu mục “Câu Nói”)

22-     Tuyên bố về bản chất quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam t ại New York City ng ày 13-5-1957, xem miển Nam Việt Nam như một thuộc địa của Mỹ: “Liên quan tới vấn đề an ninh, biên giới của Mỹ không ngừng ở bờ biển Đại Tây dương và Thái Bình dương mà kéo dài, tại Đông Nam Á, tới sông Bến Hải, vốn chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến thứ 17, tạo thành cái biên giới đã bị đe dọa của Thế giới Tự do mà chúng ta đều trân trọng”
(xem Bách khoa Toàn thư Wikipedia tiếng Việt , tiểu mục “Câu Nói”)

33-     Tuyên bố về tương quan quyền lực giữa ông và bộ luật cao nhất của VNCH là Hiến Pháp: “Không nên tin có âm mưu trì hoãn giải quyết các vấn đề, sau lưng Phật giáo trong nước hãy còn có Hiến Pháp, nghĩa là có tôi”
Trích từ thông điệp sáng ngày 14-6-1963 của ông Diệm, sau một loạt các biến cố dẫn đến bế tắc giữa hai Ủy ban Liên Phái (của Phật giáo) và Ủy ban Liên Bộ (của chính phủ) trong quá trình đàm phán giải quyết những đòi hỏi tự do và bình đẳng tôn giáo của Phật giáo đồ.Nền dân chủ và nguyên tắc “Tam quyền phân lập” của chế độ Đệ Nhất Cọng Hòa bị vất vào sọt rác chỉ với một lời tuyên bố nầy của ông Diệm. (Xem thêm: Đánh giá Hiến pháp Đệ nhất Cọng hòa 1956)

44-     Lời nguyền trước tình hình bế tắc, dẫn đến tuyệt lộ trong hồi chung cuộc của một kiếp bạo chúa (“Tyrant”, từ của Nigel Cawthorne): “Tôi tiến thì theo tôi. Tôi lùi thì giết tôi. Tôi chết thì trả thù cho tôi”.
Ông Diệm lập lại câu nói của người đồng đạo là một vị Tướng Công giáo người Pháp Henri Duvergier vào tháng 4/1793 [vốn muốn bảo vệ Vương quyền Đế chế đang bị quân đội và nhân dân cách mạng Pháp đẩy vào tuyệt lộ]  để hô hào “trả thù cho tôi”. Lời nguyền đó đã được xem như một lời di chúc thiêng liêng, và cũng đã giúp giải thích vì sao hơn 50 năm sau, vẫn còn những kẻ đồng đạo tàn dư của ông Diệm kêu gọi hận thù …   
Chi tiết bốn tuyên bố nầy và rất nhiều tài liệu tham khảo / dẫn chứng đã được trình bày trong một bài viết công phu tại http://hoangnamgiao.blogspot.com/2017/01/bon-tuyen-bo-e-oi-cua-ong-ngo-inh-diem.html và được đọc trên YouTube https://www.youtube.com/watch?v=-o10sNcRtcg .

Bốn tuyên bố “để đời” của ông ở trên ít nhất cho ta biết gì về con người chính trị thật của ông Ngô Đình Diệm? Ông là người kỳ thị địa phương, ông là người phi dân tộc, ông là người phản dân chủ, và ông là người cổ súy hận thù. Thế mà ông Diệm đó đã từng làm “Ngô Tổng thống muôn năm” của nền Đệ Nhất Cọng Hòa. Và bây giờ đang được Công giáo Việt Nam lăng xăng dựng lại cái thây ma của ông để toan tính thực hiện mưu đồ chính trị trong ván bài của Đế quốc Vatican tại Việt Nam đấy!!!   

Kevin Trần
1-11-2019

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2019


CIA GIẢI MẬT HỒ SƠ VỀ CHÍNH BIẾN 1/11/1963
Ai Chỉ Thị, Ai Giết NĐ Diệm, NĐ Nhu?

Nguyên Giác sưu tầm

Một hồ sơ của Cục Trung Ương Tình Báo CIA mang mã số 80T01357A được giải mật và nhập vào Văn khố Quốc gia (NARA danh số 104-10214-10035) đã đưa ra một số chi tiết về những ngày sau khi chính phủ ông Ngô Đình Diệm tấn công các chùa VN, cho tới khi hoàn tất cuộc cách mạng của quân lực VNCH để lật đổ chế độ này. Hồ sơ nầy có tựa đề “DIEM REPORT (REPORT ON CIA AND U.S. GOVT INVOLVEMENT IN THE VIETNAMESE GENERALS’ COUP FO 1 NOVEMBER 1963” [Phúc trình về Diệm (Phúc trình về sự tham dự của CIA và Chính phủ Mỹ trong Cuộc Đảo chánh 1-11-1963].

Dưới đây là một số điểm đáng lưu ý trong hồ sơ này, ít thấy các tài liệu nghiên cứu của người Việt Nam nhắc đến:
● Hồ sơ mật CIA dài 48 trang, hoàn tất ngày 31/5/1967, đúc kết về cuộc đảo chánh 1/11/1963 tại Nam Việt Nam, đã được lưu trữ trên webpage của Văn Khố Quốc Gia (National Archives): https://www.archives.gov/files/research/jfk/releases/104-10214-10035.pdf
● Các tướng lãnh VNCH đã muốn đảo chánh từ nhiều năm trước 1963.
● Ban đầu, Mỹ chỉ muốn ông Diệm đưa ông Nhu ra khỏi trung tâm quyền lực lãnh đạo quốc gia, muốn ông Diệm trả tự do cho những người Phật tử phản kháng, muốn gỡ kiểm duyệt báo chí, muốn ban hành các quyền tự do căn bản đã bị thiết quân luật siết chặt. Mỹ nhận định cuộc chiến chống Cộng sẽ thảm bại vì chính phủ ông Diệm không còn uy tín trong lòng người dân VN.
● Thời gian quá ngắn để phái đoàn LHQ đi tìm sự thật về chế độ ông Diệm đàn áp Phật Giáo -- từ ngày 25/10 tới 31/10, chưa tới một tuần lễ, vì đảo chánh xảy ra ngày 1/11/1963. Phái đoàn bị chính phủ ông Diệm ngăn cản thăm Chùa Ấn Quang như lịch trình, phải dàn xếp sau đó mới được tới. LHQ không đưa ra kết luận vì chưa hoàn tất cuộc điều tra. (Xem chi tiết)
● CIA không liên hệ gì tới cuộc đảo chánh, bày tỏ thái độ không khuyến khích, không cản, chỉ quan sát.
● Tướng Dương Văn Minh và Tướng Trần Văn Đôn yêu cầu Mỹ đừng can thiệp vào nội bộ Việt Nam.
● Mỹ xin Tướng Đôn thông báo riêng cho Mỹ trong vòng 48 giờ trước đảo chánh, nhưng Tướng Đôn hứa sẽ chỉ thông báo 4 giờ trước. Cuối cùng, Tướng Đôn không thông báo trước. Khi đảo chánh nổ súng, mới thông báo.
● Các tướng không tin người Mỹ, sợ giờ chót Mỹ cứu chế độ ông Diệm, nên Tướng Đôn cho phụ tá tới đón quan chức CIA (Conein) vào bản doanh đảo chánh, sau đó Tướng Minh rút hết dây điện thoại trong bản doanh, chỉ liên lạc ra ngoài bằng radio của Tướng Minh. Cũng là hình thức giam lỏng, và xem Conein như con tin nếu Mỹ bênh ông Diệm.
● Quyết định giết hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu không phải quyết định riêng của cá nhân tướng lãnh nào. Hầu hết trong Hội Đồng Tướng Lãnh quyết định xử tử hai ông Diệm-Nhu.
● Đại Úy Nhung được trao nhiệm vụ xử tử hai ông Diệm và Nhu.
DIEM REPORT (REPORT ON CIA AND U.S. GOVT INVOLVEMENT IN THE VIETNAMESE GENERALS’ COUP FO 1 NOVEMBER 1963.
(Cục Trung Ương Tình Báo / CIA File Number 80T01357A, 05/31/1967)
Nha Văn Khố & Lưu Trữ / National Archives Records Administration
NARA Record Number 104-214-10035
.
(LƯỢC DỊCH HỒ SƠ CIA GIẢI MẬT, 104-10214-10035.PDF)
.
Tất cả các ngày dưới đây đều trong năm 1963.

→ ngày 8/5/1963:
Biểu tình bùng nổ ở Huế.

→ ngày 14/8/1963:
Thư nội bộ tình báo (OCI No. 2339/63): Có tin đồn sẽ có đảo chánh, nhưng chúng tôi (CIA) không có chứng cớ cụ thể gì về nhóm nào đang mưu tính gì.
→ ngày 21/8/1963:
Quân đội và cảnh sát tấn công nhiều chùa khắp VN. Ông Diệm ra lệnh thiết quân luật.
→ cùng ngày 21/8/1963:
Có tin về âm mưu đảo chánh. Conein (viên chức CIA tại Sài Gòn) gặp Tướng Trần Văn Đôn. Tướng Đôn đề nghị chính phủ Mỹ hỗ trợ cho một cuộc đảo chánh.
→ ngày 24/8/1963:
Điện tín Bộ Ngoại Giao Mỹ gửi về tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn (Deptel 243): Bộ Ngoại Giao thông báo cho Đại sứ rằng chính phủ Mỹ không chấp nhận tình hình quyền lực nằm trong tay ông Nhu. Nếu ông Diệm không muốn gạt bỏ ông Nhu, ông Diệm có thể phải ra đi. Đại sứ Mỹ được ủy quyền để:
(1) Thông báo chính phủ ông Diệm là phải ngưng đàn áp Phật Tử;
(2) Nói với các tướng lãnh liên hệ rằng chính phủ Mỹ sẽ không ủng hộ chế độ Diệm nếu có Nhu trong đó, và Mỹ sẽ ủng hộ trực tiếp chính phủ chuyển tiếp;
(3) và phải có tuyên bố tại Sài Gòn về việc gỡ bỏ tiếng xấu cho quân đội khi tấn công các chùa VN.
→ ngày 25/8/1963
Điện văn từ Sài Gòn (SAIG 0291):
Tướng Khánh muốn gặp Spera (viên chức CIA tại Sài Gòn) tức khắc. Trong buổi gặp, Tướng Khánh muốn bảo đảm Mỹ ủng hộ cuộc đảo chánh quân sự.
→ ngày 26/8/1963
(1) Điện tín CIA từ Sài Gòn (SAIG 0304): Sẽ không có viên chức Mỹ lộ diện trong đảo chánh. Conein sẽ gặp Tướng Khiêm, Spera sẽ gặp Tướng Khánh. Thông điệp chuyển cho các tướng: Mỹ không giúp gì hết cho ban đầu; thất bại hay thành công là chuyện các tướng.
(2) Điện tín từ Sài Gòn (SAIG 0330): Tướng Khánh nói chưa sẵn sàng; Tướng Khiêm nói sẽ bàn với Tướng Minh.
→ ngày 28/8/1963
(1) Điện văn từ Sài Gòn (SAIG 0363): Richardson (Trưởng Phòng CIA Sài Gòn) viết là tình hình hết cách trở lui, ông tin là các tướng sẽ đảo chánh và có cơ hội thành công.
(2) Tổng Thống Mỹ triệu tập buổi họp, trong đó một số viên chức Bộ Ngoại Giao nói rằng Mỹ không thể chiến thắng CS nếu còn hai ông Diệm-Nhu, nhưng Đại sứ Mỹ Nolting bênh ông Diẹm, nói ông Diệm là người duy nhất giữ cuộc chiến chống Cộng không trở ngại. Harriman (Thứ Trưởng Ngoại Giao) không đồng ý với Nolting.
→ ngày 29/8/1963:
Báo cáo từ CIA. Trưởng Phòng CIA Richardson chỉ thị Spera và Conein khi gặp Tướng Minh và Tướng Khiêm (trong ngày) là giữ lập trường không khuyến khích, cũng không lộ ý ngăn cản cuộc đảo chánh.
→ ngày 31/8/1963:
Có buổi họp do Phó TT Mỹ triệu tập với các viên chức về VN. Môt thư nội bộ CIA tóm lược rằng Mỹ không hài lòng chuyện ông Diệm-Nhu tấn công các chùa trên nhiều thành phố VN, cùng nhận định rằng chính phủ Diệm-Nhu không còn uy tín trong lòng dân VN để lãnh đạo và như thế cuộc chiến chống Cộng sẽ thất bại.
Bộ Ngoại Giao đề nghị Mỹ hỗ trợ cuộc đảo chánh của các tướng lãnh VNCH đang bất bình vì ông Diệm đàn áp Phật Giáo, cùng lúc Bộ Ngoại Giao Mỹ sẽ tìm nỗ lực thuyết phục ông Diệm hòa giải với Phật Giáo, trong khi vẫn giữ liên lạc với các tướng lãnh đê hỗ trợ nếu chỉ còn giải pháp duy nhất là lật đổ ông Diệm.
→ ngày 31/8/1963:
Điện văn CIA từ Sài Gòn (SAIG 0499): Cuộc đảo chánh hủy bỏ, vì các tướng cảm thấy không đủ quân lực kéo về cho cuộc đảo chánh.

→ ngày 2/9/1963:
(1) Điện văn CIA từ Sài Gòn (SAIG 0523): Richardson cho biết ông Diệm-Nhu biết rằng Hoa Kỳ khuyến khích các tướng làm cuộc đảo chánh.
(2) Báo Times of Vietnam (báo của hai vợ chồng ông Nhu) viết rằng CIA đang âm mưu và tài trợ một cuộc đảo chánh, đồng thời lên án Mỹ đang giúp ẩn náu một nhà sự (Thầy Trí Quang). Nội dung bài báo của ông Nhu lập tức được các báo lớn ở Hoa Kỳ dùng làm tin.
→ ngày 8/9/1963:
(1) Các báo Mỹ đăng tin rằng Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung (chủ lực tấn công các chùa VN ngày 21/8/1963) đang được CIA trả lương 3 triệu USD/năm và trong ngày 3/9/1963 (sau trận tấn công chùa) trả lương 250 ngàn USD.
(2) David Bell (Giám đốc cơ quan viện trợ USAID) trả lời phỏng vấn trên truyền hình rằng Quốc hội Mỹ có thể sẽ cắt giảm viện trợ nếu ông Diệm không đổi chính sách (để ngưng tấn công PG).
GHI CHÚ: Chính phủ Mỹ ngày 8/10/1963 nói rằng viện trợ đó (cho LLĐB) thực ra đã cắt giảm vài tháng rồi, nhưng việc lộ ra áp lực cắt giảm viện trợ là để các tướng VN tin rằng Mỹ thực sự có áp lực ông Diệm thay đổi. Điện văn (SAIG 0406) cũng ghi lời Tướng Minh nói với Spera và Conein khi 2 viên chức CIA này gặp Tướng Minh và Tướng Khiêm ngày 29/81963 rằng Mỹ cần chứng tỏ có lập trường khác bằng cách cắt giảm viện trợ để áp lực ông Nhu. Thực tế, Mỹ cắt viện trợ vài tháng, nhưng chính phủ ông Diệm-Nhu không đổi lập trường.
→ ngày 11/9/1963:
(1) Điện văn Đại sứ Lodge từ Sài Gòn (No. 478): Tình hình tệ hại nhanh chóng, tới lúc Mỹ cần cấm vận để làm chế độ ông Diệm sụp đổ để có chế độ khác lên.
(2) Tổng Thống Mỹ họp về VN. Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara nói Lodge có ít tiếp cận với Diệm và chưa bước ra khỏi Sài Gòn. McCone (Giám đốc Tình báo Trung ương DCI) nói là Mỹ cần nói nghiêm túc với ông Diệm, và Lodge nên đi một vòng miền quê VN xem cuộc chiến chống Cộng tới đâu để xem ảnh hưởng ngưng viện trợ. McCone cũng đề nghị Mỹ thuyết phục ông Nhu ra đi.

→ ngày 5/10/1963:
Điện văn CIA từ Sài Gòn (SAIG 1445): Gặp Conein, Tướng Minh nói ông không mong đợi Mỹ hỗ trợ cuộc đảo chánh, nhưng yêu cầu chính phủ Mỹ đừng cản trở kế hoạch đảo chánh của ông. Tướng Minh đưa ra ba viễn ảnh có thể có cho kế hoạch thay đổi chính phủ:
(a) ám sát hai ông Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn, giữ ông Ngô Đình Diệm trong ghế Tổng Thống;
(b) dùng nhiều đơn vị quân đội bao vây Sài Gòn; và
(c) chạm súng giữa quân đảo chánh và quân trung thành ông Diệm ở Sài Gòn.
→ cùng ngày 5/10/1963:
Điện văn Tổng Thống Mỹ gửi tới Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, viết rằng Mỹ không đưa  ra khuyến khích nào cho đảo chánh, nhưng yêu cầu giữ liên lạc với những người có thể sẽ là lãnh đạo tương lai nếu đảo chánh thành công.
→ ngày 8/10/1963 (DỊCH TOÀN VĂN):
Hội Đồng Khoáng Đại Liên Hiệp Quốc đồng ý gửi một phái đoàn tới khảo sát sự kiện ở Nam VN, điều tra về cáo buộc chính phủ đàn áp các Phật tử.
(Bình luận: Phái đoàn tìm hiểu sự kiện rời New York ngày 21/10/1963 và tới Sài Gòn ngày 24/10/1963. Phái đoàn gặp ông Nhu, rồi thăm Chùa Xá Lợi, nơi được xem là trung tâm Phật Giáo phản kháng, nhưng chỉ thấy trong chùa có 2 nhà sư và các cảnh sát chìm VN. Phái đoàn tính thăm Chùa Ấn Quang như kế hoạch, nhưng bị chính phủ Diệm ngăn cấm. Nhưng phái đoàn cũng dàn xếp được để tới Chùa Ấn Quang ngày 27/10/1963, và phỏng vấn Thầy Thích Tịnh Khiết trước mặt nhiều cảnh sát chìm. Cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963 của các tướng lãnh đã gián đoạn công việc của phái đoàn, và phái đoàn rời Nam VN ngày 3/10/1963.
(Đại Hội Đồng LHQ ngày 13/12/1963, không bỏ phiếu, đã chấp thuận ngưng điều tra việc đàn áp Phật tử tại Nam VN. Chủ Tịch Đại Hội Đồng là Rodriguez nói rằng chuyện chính phủ Diệm đàn áp Phật tử không còn là đề tài bởi vì chính phủ Diệm đã bị lật đổ.)
(Phái đoàn tìm sự kiện đưa ra bản phúc trình ngày 11/12/1963. Phúc trình không đưa ra kết luận, chỉ ghi các lời phỏng vấn đã thu góp được trong chuyến đi.)
→ ngày 10/10/1963:
Tóm lược chỉ thị (DIR 74228) của Đại sứ Mỹ với các nhân viên CIA: đừng khởi ý tìm gặp Tướng Minh và Tướng Đôn, nhưng nếu các tướng nói là muốn gặp, thì nhân viên CIA phải thỉnh ý Đại sứ.
→ ngày 23/10/1963:
Tướng Đôn đòi gặp Conein. Trong buổi gặp, Tướng Đôn nói các tướng quyết định sẽ đảo chánh trong vòng một tuần lễ sau ngày 26/10/1963. Tướng Đôn hứa sẽ cho Conein biết kế hoạch chính trị hậu-đảo chánh, chỉ để Đại sứ Mỹ xem thôi.
→ ngày 24/10/1963:
Conein hai lần gặp Tướng Đôn hôm 24/10/1963. Đôn nói đảo chánh sẽ xảy ra không trễ hơn ngày 2/11/1963. Tướng Đôn nói Hội Đồng Tướng Lãnh từ chối đưa kế hoạch chính trị hậu-đảo chánh cho Mỹ xem, nhưng đồng ý cho Tướng Đôn nói sơ lược với Conein.
→ ngày 25/10/1963:
Tổng Thống Mỹ họp. McCone (Giám đốc Tình báo Trung ương DCI) nói với Tổng Thống rằng:
(1) Đôn có thể bị Nhu dàn dựng;
(2) CIA không kiểm soát được, và do vậy rất ít trách nhiệm đối với tình hình [đảo chánh hay không];
(3) Đôn có thể đang tổ chức âm mưu đảo chánh, và có thể sẽ thành công;
(4) Chúng ta [tình báo Mỹ] đang đối phó tình hình tế nhị trong một cách thiếu chuyên nghiệp;
(5) Đảo chánh thành công sẽ dẫn tới phức tạp vì các tướng sẽ có dàn lãnh đạo [chính trị] yếu;
(6) Sau đảo chánh này có thể dẫn tới đảo chánh khác, và chính trị hỗn loạn sẽ làm thất bại cuộc chiến chống Cộng;
(7) Các nhân vật dân sự có năng lực điều hành chính phủ Nam VN có thể sẽ không được đưa vào chính phủ và để kiểm soát hiệu quả;
(8) Không thể thảo luận vấn đề chính trị quan trọng với ông Diệm được, vì chính sách ông này là "lạnh nhạt, không sai";
(9) Mỹ hoặc là phải làm việc với Diệm-Nhu, hoặc là phải có những bước mạnh hơn để lật đổ họ, và cũng không thể biết chính phủ kế tiếp có khá hơn hay không.
→  ngày 28/10/1963:
Tướng Đôn hỏi Đại sứ Mỹ là Conein có nói gì không. Đại sứ Mỹ nói có. Đôn nói rằng Mỹ chớ có can thiệp, mà cũng chớ có thúc đẩy đảo chánh. Đại sứ đồng ý.
→ cùng ngày 28/10/1963:
Tướng Đôn gặp Conein, yêu cầu Conein ở nhà từ ngày 30/10/1963 cho tới khi có thông báo mới. Conein xin được thông báo trước 48 giờ về cuộc đảo chánh. Tướng Đôn nói có thể sẽ chỉ thông báo trước 4 tiếng đồng hồ.
→ ngày 30/10/1963:
Điện văn CIA gửi từ Sài Gòn (SAIG 2063): Đại sứ Lodge nói, "...đừng nghĩ rằng chúng ta có thể trì hoãn hay thuyết phục bỏ đảo chánh. Tướng Đôn nói rõ nhiều lần rằng đây là chuyện riêng của người Việt Nam với nhau... Tôi tin rằng chúng ta nên tiếp tục không dính vào chuyện này, nhưng cứ tiếp tục quan sát và hỏi thêm thông tin... Nếu chúng ta nghĩ rằng đảo chánh sẽ thất bại, chúng ta dĩ nhiên sẽ làm mọi cách có thể để ngăn cản đảo chánh."

→ ngày 1/11/1963:
Đảo chánh khởi sự lúc 13:15 giờ, giờ Sài Gòn, lúc đó là 00:15 giờ, giờ Washington, ngày 1/11/1963.
Lúc 13:15 giờ, một phụ tá Tướng Đôn tới nhà Conein, nói đảo chánh đang tiến hành, nói Tướng Đôn muốn gặp Conein ở bản doanh Tổng Tham Mưu Liên Quân (JGS).
[Xóa trắng gần 1 trang]
Conein tới JGS và ở đây tới khi đảo chánh hoàn tất. Trước khi rời nhà, Conein dùng radio thông báo về cấp trên.
→ ngày 2/11/1963:
Lúc 10:30 giờ ngày 2/11/1963 (giờ Sài Gòn), Đài Phát Thanh Sài Gòn loan tin cả hai ông Diệm và Nhu đều uống thuốc độc tự sát.
Sau đó trong ngày, Tướng Minh nói rằng cả hai ông Diệm-Nhu đã thoát khỏi Dinh Gia Long vào lúc vừa sau 7:00 giờ sáng ngày 2/11/1963 qua đường hầm mà các tướng không biết. Hai ông vào một nhà thờ Công Giáo ở Chơ Lớn, và uống thuốc độc nơi đây. Người ta khám phá ra hai ông lúc 10:300 giờ.
Mỹ không tin chuyện 2 ông Diệm-Nhu tự sát, nhưng không có nguồn tin khả tín về hai cái chết này.
Theo một bản phúc trình của Conein, ông Diệm điện thoại cho Tướng Đôn lúc 06:50 giờ sáng ngày 2/11/1963, xin đầu hàng vô điều kiện.
Tướng Minh tức khắc ra lệnh gỡ hết dây điện thoại trong phòng JGS, và chỉ liên lạc với bên ngoài qua radio của Tướng Minh.
→ ngày 16/11/1963:
Một sĩ quan (không được kể tên trong các báo cáo) hoạt động bên ngoài của JGS đưa cho một viên chức CIA xem hai tấm hình xác của ông Diệm và Nhu, nói rằng ông chụp hình này theo yêu cầu của Tướng Kim. Hai tấm hình cho thấy xác đầy máu.
.
Lời kể của sĩ quan này như sau:
- Sĩ quan này nói là có mặt trong khi Ủy Ban Quân Lực Cách Mạng họp về giải quyết 2 anh em ông Diệm-Nhu, đi theo đơn vị bắt giữ 2 ông Diệm-Nhu, và chứng kiến sự kiện ngay sau khi 2 ông bị giết -- nhưng không ngồi trong xe thiết giáp M-113.
- Theo sĩ quan này, cuộc thảo luận dài trong đêm 1 rạng sáng 2/11/1963 về cách giải quyết hai ông Diệm-Nhu, hầu hết các tướng đồng ý xử tử 2 ông. Quyết định kết cuộc: giết 2 ông Diệm-Nhu. Buổi họp chọn Đại Úy Nhung làm người xử tử.
- Vào sáng ngày 2/11/1963, Ủy ban Quân Lực Cách Mạng nhận được cú điện thoại từ một người điềm chỉ cho biết nơi ông Diệm-Nhu trốn. Một đơn vi quân nhân tới bắt hai người. [Tin này mâu thuẫn với báo cáo của Conein là dây điện thoại đã bị gỡ ra hết.] Một chút sau 10:00 giờ sáng, Diệm và Nhu vào xe thiết giáp với Đại Úy Nhung.
- Khi xe này tới bản doanh JGS, hai ông Diêm và Nhu đã chết. Nhu bị bắn 5 phát đạn, bị đâm 21 nhát lưỡi lê súng carbine. Diệm bị bắn hai phát vào ngực. Nhung nhảy ra khỏi xe thiết giáp với lưỡi lê trên tay, đưa cho những người chung quanh xem. Hai cánh tay Nhung đầy máu. [Trong hình, có vẻ như Diệm và Nhu bị trói tay ra sau lưng.]
(Hết lời kể)
.
TÓM TẮT:
(a) CIA không ủng hộ giải pháp lật đổ ông Diệm, nhưng trung thành làm theo chỉ thị cấp trên.
(b) Các viên chức CIA -- Conein và Spera -- liên lạc với các tướng (chỉ huy đảo chánh) nhưng chỉ khi được chấp thuận và theo chỉ thị.
(c) Viên chức CIA -- Conein -- hiện diện tại Bộ Tư Lệnh Đảo Chánh trong suốt cuộc giao chiến.
(d) [Câu (d) bị xóa trắng, chưa giải mật].
(e) CIA không liên hệ gì tới các vụ ám sát, và không hề biết trước các chuyện này.

(HẾT HỒ SƠ GIẢI MẬT 104-10214-10035.PDF)
Hồ sơ này được lưu ở địa chỉ: https://www.archives.gov/files/research/jfk/releases/104-10214-10035.pdf
.

Trang Mục Lục, Hồ sơ CIA số 80T01357A, ngày 31/5/1967