Hiển thị các bài đăng có nhãn thích quảng đức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thích quảng đức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 2, 2021

 

TỰ THUẬT CỦA NGƯỜI ĐỔ XĂNG
Tác giả Hùynh Văn Hải (nguyên là ĐĐ Thích Chơn Ngữ)

Trong “Biến cố 1963”,  phong trào đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo của Phật giáo Việt Nam kéo dài 6 tháng, còn được gọi là “Sáu tháng Pháp Nạn”, có ba cột mốc lớn:

(1) Vụ chính quyền đàn áp Phật tử gây tử vong tại đài Phát thanh Huế đêm Phật Đản 8/5/1963.

(2) Vụ tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức tại Sài Gòn ngày 11/6/1963, và

(3) Chiến dịch “Nước Lũ” càn quét chùa và bắt bớ Tăng Ni toàn quốc do ông Cố vấn Ngô Đình Nhu phát động trong đêm 20/8/1963, gần như làm tê liệt hóa toàn bộ Phong trào Phật giáo, biến cuộc đấu tranh cho bình đẳng tôn giáo thành cuộc đấu tranh chính trị công khai của đảng phái, trí thức và sinh viên (và của quân đội trong bí mật).

Cho đến nay, sau 58 năm trôi qua, các thế lực thù nghịch Phật Giáo vẫn còn tiếp tục đánh phá Phật Giáo nhằm chạy tội quá khứ đã chống lại dân tộc trong suốt chiều dài của lịch sử Việt Nam – bằng cách cáo buộc phong trào tranh đấu Phật Giáo 1963 là do Cộng Sản giật dây hay là do những người Cộng Sản hay thân Cộng Sản chủ trương nên đã tuyên truyền rằng “người tưới xăng lên thân Hòa Thượng Thích Quảng Đức là cán bộ Cộng Sản nằm vùng Nguyễn Công Hoan, cựu dân biểu “lưỡng triều” Việt Nam Cộng Hòa”.

Nói rằng Nguyễn Công Hoan là cựu dân biểu quốc hội miền Nam Việt Nam thời đệ nhị Cộng Hòa (nhiệm kỳ 1971-1975) và là cựu dân biểu quốc hội của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (sau năm 1975) là đúng, nhưng nói rằng người tưới xăng lên Hòa Thượng Thích Quảng Đức là ông Nguyễn Công Hoan là hoàn toàn sai sự thật.

Vậy ai là người đã giúp (tưới xăng) lên HT. Thích Quảng Đức để ngài tự thiêu? Người đó chính là Đại Đức Thích Chơn Ngữ, sinh năm 1933 tức 30 tuổi vào năm 1963, thế danh là Huỳnh Văn Hải, đệ tử của cố Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, vị Tăng Thống đầu tiên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Sau năm 1963, Đại Đức Thích Chơn Ngữ đi du học tại Hoa Kỳ, sau đó qua Pháp học và đỗ Tiến sĩ Sử Học tại Đại Học Sorbonne, Paris. Năm 1973 ông về Việt Nam dạy học tại Viện Đại Học Vạn Hạnh. Sau năm 1975 cởi áo xuất tu , vượt biển và được nhập cư vào Mỹ năm 1982 và hiện đang sống tại San Jose Hoa Kỳ. Ông Huỳnh Văn Hải, người vừa là chứng nhân, vừa là người đóng vai trò quan trọng trong cuộc tự thiêu của ngài Quảng Đức đã thuật lại như sau trong bài viết “Tự thuật của người đổ xăng


 Phóng ảnh trang 6 và 7 của Nguyệt san CHẤN HƯNG, số 12,
phát hành tháng 11/1987 tại miền Nam California

Xem thêm:
Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam Trong Ngày 11/6/1963 Đã Bị Mạo Hóa
________________________________

VÀI NÉT VỀ ĐẠI ĐỨC THÍCH CHƠN NGỮ


Đại đức Thích Chơn Ngữ, người tưới xăng lên mình Ngài Quảng Đức, là nhân chứng thứ nhì: Đại đức có thế danh Huỳnh Văn Hải, vốn là đệ tử của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết ở chùa Tường Vân tại Huế. Đại đức người Huế, vào khoảng 30 tuổi vào năm 1963, người tương đối cao lớn nên được phân công đổ xăng lên thân thể Hoà thượng Quảng Đức. Vì tham gia vào vụ tự thiêu trong vai trò đó, ĐĐ Chơn Ngữ đã bị chính quyền Diệm bắt giam để khảo cung, và bị tra tấn tàn bạo làm hư hại bộ phận sinh dục không thể có con. Sau khi chế độ Diệm sụp đổ, ĐĐ Chơn Ngữ được một học bổng đi du học và tốt nghiệp Tiến sĩ đệ tam cấp (Docteur Troisième Cycle) tại Pháp. Cuối năm 1973 hay đầu năm 1974, ĐĐ về nước và dạy tại Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, sinh viên ghi danh theo học lớp của ĐĐ khá đông. Sau 1975, trong tình hình mới nhiều phức tạp, Đại đức cởi áo xuất tu, trở lại với thế danh Huỳnh Văn Hải. Rồi khoảng năm 1981, theo phong trào boat people, ông vượt biển đến Indonesia. Ông được nhập cư vào Mỹ, sống ở Los Angeles một thời gian và cuối cùng về định cư tại thành phố San Jose ở bang California. Hiện nay (2011), ông Huỳnh Văn Hải đã già yếu, gần 80 tuổi nên thị lực kém, và đang ở vùng Bay Area. Ông có một số bà con ở tại Orange County, miền nam California và ở Houston, tiểu bang Texas.

Năm 1985, trả lời cho tạp chí Chấn Hưng do một số cư sĩ Phật giáo ở Los Angeles chủ trương, ông Huỳnh Văn Hải (nguyên là Đại đức Thích Chơn Ngữ), người vừa là nhân chứng vừa đóng vai trò quan trọng trong cuộc tự thiêu của Ngài Quảng Đức, đã kể lại như sau:

“... Ngày 15 tháng 5, Tổng thống Diệm bất đắc dĩ phải tiếp phái đoàn Phật giáo gồm 5 vị: Thượng tọa Thiện Hoa, Thiện Hòa, Hành Trụ, Tâm Châu và Đôn Hậu, nhưng ông Diệm đã không thực tâm giải quyết vấn đề. Do đó, ngày 16 lại có nhiều cuộc tuyệt thực khác và biểu tình rầm rộ trước Quốc Hội, nhưng chính quyền vẫn không đả động gì đến những yêu cầu của Phật giáo đồ... Bây giờ câu hỏi rất quan trọng được đặt ra là việc tự thiêu, người hưởng ứng đầu tiên là Ngài Quảng Đức.

 

... Lúc 10 giờ sáng ngày 11 tháng 6 năm 1963, tôi dìu Ngài ra đến cổng chùa, thầy Đức Nghiệp mở cửa chiếc xe Austin đã đậu sẵn, mời Ngài lên. Xe gặp đường Phan Đình Phùng quẹo phía trái là đường Lê Văn Duyệt, tài xế dừng xe lại, xung quanh tôi các tăng ni đã đứng chật ních bao vây ngã tư Lê Văn Duyệt-Phan Đình Phùng.

 

Tay trái tôi xách thùng xăng, tay mặt tôi dìu Ngài bước ra xe và mời Ngài ngồi xuống. Ngài ngồi “Kiết Già” tay mặt đặt lên tay trái. Tôi cầm thùng xăng đáng lẽ tưới lên vai Ngài, nhưng vì hốt hoảng lo sợ mật vụ tới nên đã đổ xăng từ đầu Ngài trở xuống. Ngài mở hộp diêm rút 5, 6 que rồi quẹt mạnh. Lửa tức tốc bừng cháy đốt ngay thân xác Ngài như một pho tượng trong khi các tăng ni quỳ xuống vừa khóc vừa niệm: A Di Đà Phật.

Tiếng niệm Phật rất não nùng thê thảm trong lúc ngọn lửa càng bốc cao, phủ kín cả người Ngài, nhưng Ngài vẫn ngồi vững như bàn thạch chấp hai tay trước ngực.

 

Sau 7 phút toàn thân Ngài ngã xuống nhưng hai tay vẫn còn chắp trên ngực. Xung quanh các tăng ni vừa bái lạy vừa khóc, vừa niệm Phật, nhưng có một người vẫn đứng thẳng như một trụ đá, không khóc, nét mặt rất đau thương đến độ trông rất lạnh lùng, chấp hai tay nhìn thẳng vào thân xác cháy đen của Ngài Quảng Đức. Đó là Thượng Tọa Thích Tâm Châu mà nay là Hòa thượng tu hành tại nước Pháp.

 

Ngài Quảng Đức đã hiến mình cho Đạo Pháp bằng cách an nhiên tọa thuyền trong biển lửa cao ngút. BỒ TÁT QUẢNG ĐỨC đã tự đốt mình để bảo vệ Đạo Pháp lúc lâm nguy và để bảo vệ quyền Tự Do Tín Ngưỡng. Hành động can đảm và tuyệt vời này của Ngài đã làm cả thế giới khâm phục và đã thức tỉnh lương tri nhân loại rằng đàn áp, chém giết chỉ gieo rắc thêm hận thù. Bạo lực sẽ thất bại trước TỰ DO, CÔNG BẰNG, TÌNH THƯƠNG và lòng KHOAN DUNG.


Trích từ “Cuộc Tự Thiêu Lịch Sử” - Nguyệt san Chấn Hưng số 4, tháng 8 năm 1985, trang 2, 3 và 19. Los Angeles, Hoa Kỳ.” Lúc bấy giờ, nguyệt san Chấn Hưng chủ yếu được phổ biến trong các chùa và cộng đồng cư sĩ Phật giáo ở Mỹ. Và 24 năm trước đây, phần trích đoạn ở trên của bài viết “Cuộc Tự Thiêu Lịch Sử” đã được cụ Hoành Linh Đỗ Mậu in lại trong tác phẩm “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”, Phụ Lục A, số thứ tự 27, trang 1083 và 1084, ấn bản 1987, và được tiếp tục duy trì trên các ấn bản tiếp theo, kể cả ấn bản điện tử 2007.

(Trích từ bài "Ngụy tạo và xuyên tạc cuộc tự thiêu của HT Thích Quảng Đức, Tại sao?", tác giả: Pháp Lạc & Nguyễn Kha.)

Nguồn: https://thuvienhoasen.org/a35481/tu-thuat-cua-nguoi-do-xang

 

Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2018


LỬA THIÊNG SOI TOÀN THẾ GIỚI
TRONG ĐOẢN KHÚC “VIỆT NAM VIỆT NAM”
CỦA PHẠM DUY LÀ LỬA GÌ?

Phạm Duy và Thích Nhất Hạnh
(Sưu tầm của NG)



Hồi Ký Phạm Duy (Tập 2) viết về chế độ Ngô Đình Diệm

“1958: Định chế hoá tất cả các cơ chế xã hội xong rồi, với chính sách độc tài, diệt trừ đối lập.
1959: Dân chúng bắt đầu bất mãn, khởi sự chống lại; một nhóm trí thức họp tại Hôtel Caravelle ra tuyên ngôn đòi cải cách.
1960: Chính phủ đe doạ bằng luật số 10; Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông đảo chánh hụt.
1961: Chính phủ khủng bố; đàn áp lần thứ nhất.
1962: Phạm Phú Quốc, Nguyễn Văn Cử ném bom Dinh Độc Lập. Chính phủ đàn áp lần thứ hai.
1963: Vụ Phật Giáo xẩy ra; 70 ngày sau, nhà Ngô sụp đổ.”

“... tôi nhận thấy những việc làm của chính quyền miền Nam hồi đó, tuy nhiều thiện chí nhưng chỉ có tính cách bề ngoài. Thấy ông Diệm hay ông Nhu ngồi bảnh choẹ trên thuyền để đi thăm ấp chiến lược trong vùng không có đường cho xe chạy, với dăm ba người dân quê lội nước đẩy thuyền đi, tôi không tin các vị ấy được lòng dân...”

“... Sau những hành động vụng về khác như bắt dân chúng đứng dậy chào quốc ca và suy tôn Tổng Thống tại rạp hát hay chiếu bóng, dựng tượng Hai Bà Trưng có dáng dấp bà Nhu, gian lận trong cuộc bầu cử Tổng Thống nhiệm kỳ hai, cộng với thêm nhiều lầm lỗi khác...”

“...vụ Phật Giáo đấu tranh với chính quyền nhà Ngô làm tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì thấy một chính quyền độc tài có thể bị đánh đổ. Lo vì biết rằng vụ này có thể làm lợi cho chính quyền miền Bắc. Và cũng như mọi người dân trên thế giới, tôi bị rúng động trước cảnh tự thiêu của Thượng Toạ Thích Quảng Đức. Thấy cái chết đó đẹp quá nhưng vì tài hèn sức mọn nên không đưa được vào tác phẩm lớn như bài thơ LỬA TỪ BI của anh Vũ Hoàng Chương. Tuy nhiên ngọn lửa thiêng này cũng được tôi ghi lại trong đoản khúc VIÊT NAM VIÊT NAM.

Là một nghệ sĩ, tôi còn phản ứng mạnh hơn khi thấy bạn đồng nghiệp bị dính líu vào biến cố chính trị này. Ngày 7 tháng 7, phản đối việc chế độ đưa ông ra xét xử về tội phản nghịch, nhà văn mà tôi rất kính phục là Nhất Linh, tự tử. Anh bạn rất thân Nguyễn Đức Quỳnh, dù đã từng giúp việc cho Công Dân Vụ và Lý Đại Nguyên, người cả gan ra tranh cử Tổng Thống với ông Diệm, cả hai đều bị bắt trong một ngày tháng 8 năm 63...”

Dưới đây là ca từ và phần trình diễn đoản khúc “Việt Nam! Việt Nam”, trong đó, với câu thơ “Lửa thiêng soi toàn thế giới”, Phạm Duy đã vinh danh ngọn lửa tử đạo cao cả và bi hùng của HT Thích Quảng Đức đã soi sáng lương tâm nhân loại trên toàn thế giới.

Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời

Việt Nam hai câu nói trên vành môi
Việt Nam nước tôị
[ Lyrics from: http://www.lyricenter.com ]
Việt Nam Việt Nam tên gọi là người
Việt Nam hai câu nói sau cùng khi lìa đời
Việt Nam đây miền xanh tươi
Việt Nam đem vào sông núi
Tự do công bình bác ái muôn đời

Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu
Việt Nam trên đường tương lai,
Lửa thiêng soi toàn thế giới
Việt Nam ta nguyện tranh đấu cho đời

Tình yêu đây là khí giới,
Tình thương đem về muôn nơi
Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người
Việt Nam Việt Nam
Việt Nam quê hương đất nước sáng ngời
Việt Nam Việt Nam muôn đời


Có thể nghe hợp ca đoản khúc “Việt Nam! Việt Nam!” tại những links sau đây:

 Thiền Sư Nhất Hạnh

Trích từ bài: Sư Ông Bình Thơ Đêm Giao Thừa 2013
“Cuộc vận động của đạo Bụt đã khôi phục lại quyền làm người trong những năm 1963-1964 và đã gây cảm hứng rất lớn cho nhiều văn nghệ sĩ. Ngọn lửa tự thiêu của Hoà Thượng (HT) Quảng Đức đã đi vào trong Trường Ca Mẹ Việt Nam. Trong bài Chung Khúc của Trường Ca Mẹ Việt Nam. Chúng ta hát như thế này:

Việt Nam, Việt Nam, nghe từ vào đời
Việt Nam hai câu nói
Bên vành nôi : Việt Nam nước tôi.
Việt Nam, Việt Nam, tên gọi là người
Việt Nam, hai câu nói
Sau cùng khi lìa đời
Đây là những câu chứng tỏ là Phạm Duy muốn đi, Phạm Duy muốn đất nước đi trên con đường của tình thương hơn là con đường của gươm giáo và hận thù.

Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu
Tức là hoà giải với nhau. Bỏ gươm xuống để tới với nhau.

Việt Nam trên đường tương lai
Lửa thiêng soi toàn thế giới
Phạm Duy có nói rất rõ. Lửa thiêng đây là ngọn lửa của HT. Quảng Đức đem từ bi xoá bỏ hận thù. Trên con đường xây dựng tương lai thì Việt Nam đóng góp cho thế giới bằng ngọn lửa thiêng đó. Không có làm khổ người. Lấy thân làm đuốc. Lấy từ bi để làm khí giới.
Lửa thiêng soi toàn thế giới
Ngọn lửa của HT. Quảng Đức không chỉ soi sáng cho đất nước Việt Nam, cho con người Việt Nam mà là cho tất cả thế giới.

Việt Nam ta nguyện tranh đấu cho đời
Tức là không chỉ tranh đấu cho đất nước riêng của mình mà là tranh đấu cho cả nhân loại. Và con đường tranh đấu là con đường bất bạo động, con đường tình thương. Chứ không phải là con đường gươm giáo.

Tình yêu đây là khí giới.
Tình thương đem về muôn nơi
Rất là rõ ràng. Khí giới của mình là tình thương và mình muốn khắp nơi trên thế giới đều được thừa hưởng tình thương đó.

Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người.
Tức là tình người, tình anh chị em là mục đích, là chí hướng của Việt Nam. Việt Nam không phải chỉ để cho Việt Nam mà thôi. Việt Nam phải phụng sự thế giới, phụng sự theo con đường bất bạo động, tâm linh và tình thương.

Có rất nhiều người ở Việt Nam muốn dùng bài này để làm Quốc Ca nhưng mà chuyện đó chắc phải chờ đợi. Bài Quốc Ca cũ thì có xương, có máu quá nhiều. Bài này thì không đòi xương máu mà chỉ kêu gọi thương yêu mà thôi. Nếu mà tuổi trẻ muốn thì nội trong vòng 30 năm thì có thể có bài này được.

Sưu tầm của NG
Tháng 10 năm 2018.

Thứ Ba, 6 tháng 6, 2017


HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỨC,
BIỂU TƯỢNG VỀ TINH THẦN DÂN TỘC VÀ ĐẠO PHÁP

PGS TS Trần Hồng Liên


Đã hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Hoà thượng Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân. Nhưng ngọn lửa của tinh thần đấu tranh cho Đạo pháp và cho Dân tộc  của Hòa thượng như vẫn còn cháy mãi! Nhân dân trên thế giới và Việt Nam, những người con Phật cũng như những người không theo đạo  đều như bùi ngùi nhớ lại hình ảnh ngọn đuốc rực cháy trên thân thể Người vào năm 1963 ấy. Điều gì đã làm nên sự kỳ diệu đó ?  Đây có phải chỉ là những phản ứng  chống lại sự kỳ thị về tôn giáo của một chế độ độc tài? Có phải đó chỉ là “tiếng nói” thay cho những đòi hỏi về một sự công bằng trong chính sách đối với các tôn giáo??  Tìm hiểu những câu hỏi trên chính là nêu lên được những đóng góp lớn lao, những ý nghĩa sâu sắc từ hành động vì đạo pháp và  cho dân tộc của Hoà thượng Thích Quảng Đức;  cũng chính là góp phần  chỉ ra được bản sắc của dân tộc Việt Nam và của Phật giáo Việt Nam.

1. Trở lại với thời điểm sôi động của đất nước năm 1963, từ nguyên cớ hạ cờ Phật giáo của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm ở Huế để thấy rõ một điều rằng sự độc đoán, tính đố kỵ và lòng vị kỷ của những người cầm đầu chế độ ấy đã lên đến đỉnh điểm. Việc hạ cờ Phật giáo chỉ là một hành động cuối cùng, là điểm nút cuối cùng  để bộc lộ  hết tính  vị kỷ, chấp chặt lấy đạo pháp của một chế độ ! Chính sự chấp pháp ấy đã đưa đẩy chế độ độc tài Ngô Đình Diệm mau chóng bị kết thúc từ những hành động mù quáng của mình.

Ngô Đình Diệm, với chính sách phân biệt  đối xử, xem đạo của mình mới thật là đạo, được ban cho đặc quyền, đặc lợi. Còn các đạo khác, dù có lịch sử  2.000 năm , dù có hàng chục triệu tín đồ, vẩn bị khinh miệt! Với Đạo dụ 10, sự phẩn uất của Tăng Ni, Phật tử càng lên cao. Chính quyền đã đàn áp Phật giáo bằng những phương tiện quân sự và phương pháp tàn bạo.  Hàng chục Tăng Ni Phật tử, rồi đến hàng trăm  Tăng Ni  sau đó bị bắt bớ và bị giết hại. Ngọn sóng đàn áp cứ thế mà ngày càng bùng lên mạnh mẽ. Người dân  sống ở Huế vào năm 1963 không thể quên được hình ảnh thảm khốc từ những chiếc xe tăng của Diệm càn lên những người có đạo vô tội. Máu đã đổ và hận thù  như đã siết chặt thêm. Những người con Phật dùng vũ khí  từ  tinh thần Bi -Trí -Dũng  để chống trả! Trước những đàn áp bạo tàn và khốc liệt, những người con Phật đã sử dụng thế Nhu của mình để chống trả lại thế Cương của chế độ Diệm . Lấy thân mình thay cho tiếng nói cảnh tỉnh, như  những gáo nước lạnh dội vào ngọn lửa của  sự thù hận và vô minh. Những ngọn đuốc được đốt lên từ thân thể, hình hài của mỗi  người  con  Phật  như từng ngọn đèn thắp sáng, soi rọi tận cùng vào sâu thẳm tâm hồn đen tối, độc tài của một chế độ.  Và cứ thế liên tục, hết người này đến người khác…sao cho đến một ngày hành động vị pháp thiêu thân ấy đã trở thành một tiếng gọi vang vọng, làm rúng động lương tri của những người yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Đỉnh điểm ấy, ngọn sóng trào dâng tột đỉnh ấy chính là hành động tự thiêu của Hoà thượng Thích Quảng Đức,  là tiếng chuông vang vọng ngân xa, lan tỏa ra ngoài phạm vi một quốc gia và trở thành bất diệt.

2. Hoà thượng Thích Quảng Đức,  tên đời  là Lâm Văn Tuấn, quê ở Khánh Hoà, hoà thượng đã trụ trì chùa Quán Thế Âm trước khi tự thiêu. Trước tình thế Phật giáo đồ bị sát hại thảm khốc, đã phát lời đại nguyện rằng: “ Nhận thấy Phật giáo nước nhà đương lúc ngửa nghiêng, tôi là một tu sĩ, mệnh danh là trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để Phật pháp tiêu vong, nên tôi vui lòng phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật  để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo…Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc” ( Lời nguyện tâm huyết, Tỳ kheo Thích Quảng Đức) .  

Từ nhận thức được nung nấu sau bao cơn đàn áp bạo tàn của Diệm, Hoà thượng Quảng Đức, đã viết : là trưởng tử của Như Lai, được thấm nhuần lẽ đạo, nên không thể ngồi yên.   Hoà thượng hiểu rõ rằng, với một chế độ độc tài như vậy, với những con người có hành động thiếu đạo đức và không có nhân bản như vậy, đất nước sẽ không thể yên, lòng dân sẽ không thể được bình ổn, an lạc và đạo pháp sẽ không thể được bảo tồn ! Vì vậy, thực hành lời nói ấy, quyết đem lại một sự cảnh tỉnh  lớn lao, làm thay đổi nhận thức con người, từ vô minh đến giác ngộ, phải bằng việc hy sinh chính bản thân mình. Lấy sự xả thân, tinh thần vô uý thí  để  đối lập lại cường quyền, bạo lực. Làm được điều đó, thực hành được suy nghĩ trên, đó là điều không dễ dàng, không phải ai cũng làm được.  Do đâu Hoà thượng Quảng Đức có được quyết tâm đó?

3.  Trả lời câu hỏi trên chính là đi tìm lại cội nguồn của tinh thần dân tộc. Là người dân Việt, không ai không yêu nước. Tinh thần yêu nước này ngày càng  được nhân lên cao hơn chính từ những cuộc ngoại xâm .  Những người dân nước Việt đã qua thử thách trước nguy cơ xâm lược, từ đó tinh thần yêu nước càng như  được củng cố. Tinh thần ấy còn được nhiều tấm gương trong lịch sử in đậm thêm qua quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước.  Từ đó,  hình ảnh  của người dân ra biên cương chống giặc khi có ngoại xâm là hình ảnh đẹp đẽ, được lập đi lập lại trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, không loại trừ những người theo đạo Phật , với tư tưởng nhập thế, cứu đời, giúp đời. Không phải ngẫu nhiên mà có được một Hoà thượng Thích Quảng Đức của thế kỷ XX, bởi vì đã có trong lịch sử hàng trăm năm trước , những  thiền sư Vạn Hạnh, Khuông Việt….đã biết đem tinh thần Phật pháp ra áp dụng vào đời sống hàng ngày. Những tấm gương sáng ấy chính là bài học muôn đời về tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam , là sự thể hiện việc đem đạo vào đời, là tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam.  Nó được nhân rộng,  kế thừa  và tiếp nối liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác.   Vì vậy không phải ngẫu nhiên mà có được những con người biết hy sinh thân mệnh mình cho đạo pháp , cho dân tộc.

Mặt khác,  còn chính trên cơ sở của dòng Phật giáo Việt Nam, nổi bật từ thời các vua nhà Lý , nhà Trần…. đã  biết đem thập thiện đến từng gia đình, đã biết cụ thể hoá giáo lý nhà Phật trong điều kiện đất nước Việt Nam,  đã bằng chính hành động từ bỏ ngai vàng, danh lợi và những ham muốn vị kỷ cá nhân để trao truyền cho những Thiền sư Việt Nam một  tinh thần xã thân cao quý . Tuỳ từng thời điểm lịch sử, tuỳ vào những điều kiện, hoàn cảnh  khác nhau mà các Thiền sư đã có những ứng xử khác nhau, những cống hiến cho Đạo pháp và cho Dân tộc khác nhau. Nhưng trên hết , vẫn là lòng yêu nước nồng nàn, là tình yêu  thương  nhân dân sâu đậm…Tình thương đó, lòng yêu người đó đã tạo thành, đã giúp phát khởi nên  một quyết tâm cao độ, một đại nguyện vang lừng, đó là tinh thần vô uý thí. 
Chính từ sự dâng hiến tất cả, không loại trừ ngay cả bản thân mình, của những thiền sư  trong lịch sử và của Hoà thượng Quảng Đức ở thế kỷ XX  đã làm cho sự cống hiến ấy trở thành bất tử, bởi vì một khi đã cho đi hết thì sẽ nhận được tất cả!

4. Bài học  về tinh thần xã thân này, được đưa ra trong giai đoạn đạo pháp đang bị chia rẽ, đất nước đang bị ngoại xâm….càng có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cái chết của Hoà thượng không chỉ nhằm cảnh tỉnh những người trong chế độ độc tài nhà Ngô, mà sâu sắc và lớn lao hơn,  nó còn mang ý nghĩa  thời đại. Đó còn là tiếng  chuông tỉnh  thức cho những người con Phật còn đang thờ ơ trước sự hưng vong của đạo pháp, của quốc gia … kêu gọi họ cần nhanh chóng đoàn kết lại, một lòng chung sức cứu lấy nước nhà. Bởi vì tổ quốc còn, đạo pháp mới có thể còn tồn tại được! Đánh giá cao về hành động tự thiêu  của Hoà thượng Quảng Đức, GS. Trần Văn Giàu đã  cho rằng: “ Đó là một hành động chống chiến tranh, là hành động bảo vệ hoà bình, vì Hoà bình mà hi sinh (…) nhà sư là một người yêu nước, Quảng Đức yêu nước theo phong cách một nhà sư”    [Trần Văn Giàu: Thích Quảng Đức. Tập Văn  số 7, 1987, ban VHTW GHPGVN xb, tr. 30.].

5. Tìm hiểu về hành động “Vị pháp thiêu thân” của Hoà thượng Quảng Đức còn là  nhằm nêu lên bài học có  giá trị lịch sử ,  có ý nghĩa thực tiễn lớn lao.  Qua cái chết của hòa thượng đã góp phần khơi gợi trong tư duy của nhân dân thế giới, những ngườøi yêu chuộng hoà bình, suy nghĩ kỹ hơn về giá trị  đích thực của một đời người. Đó không phải là  tính ham sống, sợ chết ; không phải là lòng vị kỷ, độc tài, ham chuộng bạo lực…mà điều vi diệu trong cuộc sống, tạo nên giá trị vĩnh hằng, chân lý tối thượng …chính là tình thương, là lòng dũng cảm, là sự hy sinh cho những điều lớn lao , cao cả, là quyền lợi và sự sống còn của dân tộc, của đất nước, của đạo pháp….Bài học ấy mãi mãi sẽ còn nguyên giá trị , vì nhân dân thế giới đã có được hình ảnh xác thực qua cái chết của hoà thượng , một dấu ấn sâu đậm về con người Việt Nam biết hy sinh cho nghĩa cả, về một đất nước Việt Nam nhỏ bé nhưng kiên cường , bất khuất trước cái xấu, cái vị kỷ, trướùc những mưu toan đen tối nhằm đè bẹp, trấn áp bằng bạo lực của ngoại xâm….Chính từ những ý nghĩa ấy, Hoà thượng Quảng Đức đã thực sự trở thành một vị Bồ tát, người luôn hướng tâm hồn  mình,  thể xác mình cho cuộc đời, cho người đời để cứu giúp và góp phần giác ngộ họ.

6. Những vị  Thiền sư Việt Nam,   trên đường tiếp nối hướng đi đúng đắn và có ý nghĩa của Phật giáo Việt Nam,  đã “ nói” lên suy nghĩ của mình bằng hành động. Bồ tát Thích Quảng Đức đã hoà nhập  thực sự vào dòng chảy nhập thế của Phật giáo Việt Nam, đã trở thành biểu tượng cho tính dân tộc và đạo pháp của Phật giáo Việt Nam.   Bồ tát Thích Quảng Đức vì vậy đã trở thành bất tử. Trái tim để lại cho đời của Bồ tát Quảng Đức vì vậy đã trở nên bất diệt!

Trần Hồng Liên

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2016


CÂU CHUYỆN PHÍA SAU NHÀ SƯ TỰ THIÊU
Patrick Witty phỏng vấn Malcolm Browne

Lời Ban biên tập - Nhà báo Malcolm Browne là một trong những nhân chứng người nước ngoài có mặt tại sự kiện Bồ-tát Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn vào ngày 11-6-1963, ông đã chụp liên tục khoảng 10 cuộn phim ghi lại hình ảnh HT.Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân mà trong đó có một bức ảnh được xem là biểu tượng đã mang lại cho ông giải thưởng ảnh báo chí quốc tế năm 1963 và đoạt giải Pulitzer vào năm 1964.
Trước khi từ giã cõi đời vào ngày 27-8-2012 ở tuổi 81 tại Hoa Kỳ, ông đã có cuộc trò chuyện với Patrick Witty, biên tập viên hình ảnh của Tạp chí Time tại nhà riêng của ông ở Vermont, Hoa Kỳ về sự kiện lịch sử mà ông là nhân chứng.
Chúng tôi trân trọng gởi đến quý độc giả nội dung của buổi trò chuyện giữa hai người qua bản dịch Việt của Tường Anh và Tịnh Thủy hiệu đính.


Malcolm Browne: 
CÂU CHUYỆN PHÍA SAU NHÀ SƯ TỰ THIÊU
Patrick Witty | Tường Anh dịch | Tịnh Thủy hiệu đính

Malcolm Browne (trái) và nhiếp ảnh gia Horst Faas
tại văn phòng của Thông tấn xã AP, Sài Gòn 1964 (Ảnh: Peter Arnett / AP)
Nhân dịp lễ kỷ niệm lần thứ 50 ngày Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào năm 1963, LightBox trình bày cuộc phỏng vấn với Malcolm Browne, nhiếp ảnh gia của Associated Press, người đã chụp được bức ảnh mang tính biểu tượng vào thời điểm đó.
Nhiếp ảnh gia Malcolm Browne, được biết đến qua bức ảnh gây chấn động và mang tính biểu tượng về một nhà sư tự thiêu tại Sài Gòn, đã qua đời vào ngày 27/8/2012 hưởng thọ 81 tuổi. Ông Browne đã được trao giải thưởng Pulitzer về Tường thuật Quốc tế và Ảnh Báo chí Quốc tế Năm 1963 của World Press. Vào năm 2011, ông  Browne đã có buổi trò chuyện với Patrick Witty, chủ bút hình ảnh của Tạp chí Time tại nhà riêng của ông ở bang Vermont, Hoa Kỳ.   
Patrick Witty: Điều gì đã xảy ra ở Việt Nam lúc bấy giờ để dẫn đến việc anh chụp được bức ảnh nổi tiếng về việc tự thiêu của Ngài Quảng Đức? 
Malcolm Browne: Cho đến thời điểm xảy ra sự kiện thì tôi đã ở Việt Nam được đôi ba năm khi tình hình bắt đầu xấu đi tại Miền Trung Việt Nam. Tôi đã quan tâm nhiều hơn đến các nhà Sư Việt Nam hơn trước vì dường như đối với tôi họ có khả năng là những người có tác động mạnh khởi xướng các sự kiện và gây ảnh hưởng trong bất kỳ sự kiện gì xảy ra tiếp theo. Tôi đã có một mối quan hệ thân thiện với khá nhiều vị Sư lãnh đạo phong trào đấu tranh cho nhân quyền và bình đẳng tôn giáo. Lúc đó phong trào đã được định hình.
Vào đầu mùa Xuân năm 1963, các nhà sư bắt đầu nói bóng gió rằng họ sẽ làm một việc đặc biệt gì đó để thể hiện sự phản đối– và điều đó rất có thể sẽ là việc tự sát hay tự thiêu của một trong các nhà sư. Và dù bằng cách nào thì đó là điều mà tôi phải chú ý tới.
Tại thời điểm đó, các nhà sư đã gọi điện cho các phóng viên nước ngoài tại Sài gòn để cảnh báo rằng sắp xảy ra sự việc lớn. Hầu hết các phóng viên đều cảm thấy chán với tin cảnh báo đó và họ đã lờ đi. Riêng tôi, tôi cảm thấy chắc chắn họ (các nhà Sư) sẽ làm một chuyện gì đó, họ không điện thoại để lừa dối, thế nên tôi thực sự là phóng viên phương Tây duy nhất chứng kiến và đưa tin sự kiện trọng đại đó.   
PW: Hãy cho tôi biết về buổi sáng hôm đó. Chắc có lẽ anh không mong đợi sự việc gì bi thảm quá nhưng anh có cảm thấy bị lôi cuốn vì cuộc gọi điện thoại đêm hôm trước không?
Malcolm Browne: Tôi đã được gợi ý rằng sẽ có một sự kiện đặc biệt quan trong xảy ra, bởi vì tôi biết chắc các nhà sư này không lừa dối. Họ hoàn toàn nghiêm túc về việc họ sẽ làm một chuyện gì đó khá mãnh liệt. Trong một nền văn minh khác, nó có thể là hình thức một vụ đánh bom hay một sự việc gì tương tự như thế.
Các nhà sư biết rất rõ về một vụ tự thiêu chắc chắn sẽ diễn ra. Cho nên vào thời điểm tôi đến ngôi chùa nơi mà tất cả những điều này đã được tổ chức, mọi thứ đang trong tiến trình – chư Tăng Ni tụng loại kinh rất thông thường ở các buổi tang lễ và các buổi lễ tương tự. Theo sự ra hiệu của người lãnh đạo, tất cả các Tăng Ni bắt đầu bước ra đường và đi bộ hướng về phía khu vực trung tâm Sài Gòn. Khi chúng tôi đến đó, các nhà sư nhanh chóng tạo thành một vòng tròn ngay tại giao lộ của hai con đường chính ở Sài Gòn. Một chiếc xe hơi chạy đến. Hai nhà sư trẻ bước ra khỏi xe. Một nhà sư già, hơi nghiêng một chút vào một trong các nhà sư trẻ, cũng bước ra. Họ tiến đến ngay giữa giao lộ. Hai nhà sư trẻ mang một thùng nhựa chứa xăng. Ngay sau khi vị sư già tự ngồi xuống trong tư thế kiết-già, hai vị sư trẻ kia tưới xăng lên khắp người vị sư già đang ngồi. Rồi nhà sư già ấy mở hộp diêm, lấy ra một que diêm và đốt lên, rồi thả nó vào lòng mình và ngay lập tức ngọn lửa bùng lên, toàn thân của vị sư ngập chìm trong lửa. Tất cả mọi người chứng kiến cảnh tượng ấy đều vô cùng kinh hoàng. Đó là một khoảnh khắc tệ hại như tôi đã mong đợi.
Tôi không biết chính xác lúc nào vị sư ấy qua đời, bởi vì tôi không thể nào nhận biết được qua nét mặt, giọng nói hay bất cứ điều gì của vị ấy. Nhà sư ấy không hề kêu la đau đớn. Khuôn mặt nhà sư ấy dường như vẫn khá bình thản cho đến khi nó bị nám đen do ngọn lửa mà bạn không thể nhận dạng nữa. Cuối cùng các nhà sư nhận định vị sư ấy đã qua đời và họ mang một cái quan tài đến, một quan tài bằng gỗ thô.
PW: Và anh là nhiếp ảnh gia duy nhất ở đó?
MB: Theo như tôi biết có thể nói là đúng như vậy. Sau đó tôi được biết có một vài người Việt Nam cũng đã chụp một vài tấm hình của sự kiện đó, nhưng lúc đấy những tấm hình họ chụp được đã không được công bố, không được gửi ra ngoài qua hệ thống viễn liên hoặc các hình thức tương tự như thế.
PW: Anh đã nghĩ gì khi anh nhìn sự kiện ấy qua ống kính máy ảnh?
MB: Lúc đó tôi chỉ nghĩ sự kiện đó là một chủ thể tự chiếu sáng và cần được phơi bày. Tôi đã dùng một máy ảnh giá rẻ của Nhật Bản, tên là Petri. Tôi rất quen thuộc với nó, nhưng tôi muốn chắc chắn rằng tôi không chỉ điều chỉnh đúng trên máy ảnh từng khoảnh khắc thời gian và tập trung vào sự kiện một cách thích hợp, mà còn phải thay phim một cách thật nhanh để bắt kịp với những gì đang diễn ra. Tôi chụp hết khoảng mười cuộn phim, bởi vì tôi chụp liên tục.
PW: Anh cảm thấy thế nào khi đó?
MB: Điều chủ yếu trong tâm trí tôi lúc ấy là lấy các bức ảnh ra. Tôi thừa nhận rằng đây là một sự kiện quan trọng rất bất thường và tôi phải tức tốc đưa các bức ảnh đó cho cơ quan thông tấn AP tại một trong các chi nhánh của AP càng sớm càng tốt. Và tôi cũng biết đây là một việc rất khó khăn khi làm việc ở Sài Gòn trong thời gian ngắn.
PW: Anh đã làm gì với những cuộn phim ấy?
MB: Tôi phải dùng đến những mưu mẹo để đưa những cuộn phim đó đến điểm truyền tin.  Chúng tôi phải gửi các cuộn phim gốc bằng đường hàng không hay bằng cách nào đó. Các cuộn phim không phải trình qua cơ quan kiểm duyệt vào thời điểm đó. Chúng tôi đã sử dụng chim bồ câu để gởi đến tận nơi xa như Manila, Philippines. Và ở Manila người ta có thiết bị truyền tin viễn liên vô tuyến để gửi đi (Hoa Kỳ).
PW: Khi anh nói chim bồ câu, chính xác ý anh muốn nói gì?
MB: Chim bồ câu ở đây là một hành khách trên một chuyến bay thương mại thường xuyên mà mình đã thuyết phục họ để họ mang một gói hàng nhỏ cho mình. Tốc độ là vấn đề quan trọng trong việc này. Vì thế chúng tôi đã tức tốc đem các cuộn phim đến phi trường, và chúng được chuyển đi trên một chuyến bay đến Manila không lâu sau đó.
PW: Khi phim đến nơi, có ai từ hãng thông tấn AP nhắn tin cho anh biết là bức ảnh đã được công bố trên khắp thế giới không?
MB: Không.
PW: Thế Anh không biết à?
MB: Không, chúng tôi không biết, tựa như bắn vào một lỗ đen vậy. Chúng tôi biết rằng phim chúng tôi gửi đi đã đến nơi chỉ sau khi nhận được những lời chúc mừng về việc chúng tôi đã gửi bức ảnh đó. Không phải mọi người đều đăng nó. Tờ New York Times không đăng nó. Họ cảm thấy đó là một bức ảnh quá kinh hãi không mấy phù hợp cho một tờ báo đưa tin vào bữa ăn sáng của độc giả.
PW: Hiện giờ tôi đang xem bức ảnh trên màn hình. Hãy cho tôi biết những gì tôi không thấy – Những gì mà anh đã nghe, đã ngửi thấy khi ấy?
MB: Lúc đó, mùi nhang tràn ngập. Họ đã đốt nhang và tạo ra một mùi rất mạnh, không phải là một mùi đặc biệt dễ chịu, nhưng nó có nghĩa là để bày tỏ lòng thành kính đối với tổ tiên. Tôi phải nói đó là mùi nhang tràn ngập, bên cạnh đó còn có mùi dầu xăng và mùi thịt cháy. Âm thanh lúc đó chính là tiếng gào khóc và đau khổ tiếc thương của các nhà sư vây xung quanh, những người đã biết đến Ngài Quảng Đức trong nhiều năm qua và cảm mến Ngài. Rồi có tiếng la trên loa phóng thanh của những người lính cứu hỏa đang cố tìm cách đưa Ngài ra ngoài, dập tắt ngọn lửa xung quanh Ngài mà không phải thật sự làm Ngài chết hay việc gì đó. Thế nên đó là một cảnh tạp nham lộn xộn.
- Vâng, bức ảnh đã tạo ra sự ảnh hưởng rất mạnh trên khắp thế giới. Đấy có lẽ là câu trích dẫn trung thực từ Nhà Trắng.
PW: Có lần tôi đã đọc những gì Tổng thống Kennedy nói về bức ảnh của anh. Ông ấy nói, “Không có một bức tin ảnh nào trong lịch sử đã tạo ra nhiều cảm xúc trên khắp thế giới như nó”. Có phải như thế không?
MB: Vâng, có thể, đấy có lẽ là câu trích dẫn trung thực từ Nhà Trắng.
PW: Anh coi bức ảnh như là sự thành công tột đỉnh của anh trong ngành báo chí không? 
MB: Bức ảnh đã thu hút rất nhiều sự chú ý, tôi nói đúng là như thế. Không nhất thiết phải là một câu chuyện gay go mà tôi đã từng đưa tin nhưng chắc chắn nó là một phần quan trọng trong sự nghiệp của tôi.

● Xem hình ảnh:
Diễn tiến cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức ngày 11-6-1963 (ảnh của: Malcolm Browne/ AP) http://thuvienhoasen.org/a25821/dien-tien-cuoc-tu-thieu-cua-hoa-thuong-thich-quang-duc-ngay-11-6-1963
● Tác giả: Patrick Witty@patrickwitty | Deputy Director of Photography at National Geographic Washington, DC. - Time Magazine, The New York Times
● Dịch gỉa: Tường Anh Xuan Ha | Legal Translator Mobile phone: 0903033880 - 0903872296 Skype: Lam Ha 64
● Hiệu đính: Tịnh Thủy | Biên tập viên Ban biên tập TVHS (info@thuvienhoasen.org)


Nguyên tác tiếng Anh:

Malcolm Browne: 
THE STORY BEHIND THE BURNING MONK
Patrick Witty @patrickwitty  Aug. 28, 2012 | Time/LightBox
   
On the 50th anniversary of Quang Duc's self-immolation in 1963, LightBox presents an interview with Malcolm Browne, the Associated Press photographer who captured the now-iconic image.
Photographer Malcolm Browne, known for his shocking and iconic image of a self-immolating monk in Saigon, died on Aug. 27, 2012 at the age of 81. Browne was awarded the Pulitzer Prize for International Reporting as well as the World Press Photo of the Year in 1963. In 2011, Browne spoke with TIME international picture editor Patrick Witty from his home in Vermont.
Patrick Witty: What was happening in Vietnam leading up to the day you took your famous photograph of Quang Duc’s self-immolation?
Malcolm Browne: I had been in Vietnam at that point for a couple of years when things began to look ugly in central Vietnam. I took a much greater interest in the Buddhists of Vietnam than I had before, because it seemed to me they were likely to be movers and shakers in whatever turned up next. I came to be on friendly terms with quite a lot of the monks who were leaders of this movement that was taking shape.
Along about springtime (1963), the monks began to hint that they were going to pull off something spectacular by way of protest–and that would most likely be a disembowelment of one of the monks or an immolation. And either way, it was something we had to pay attention to.
At that point the monks were telephoning the foreign correspondents in Saigon to warn them that something big was going to happen. Most of the correspondents were kind of bored with that threat after a while and tended to ignore it. I felt that they were certainly going to do something, that they were not just bluffing, so it came to be that I was really the only Western correspondent that covered the fatal day.
PW: Tell me about that morning. You certainly weren’t expecting something so dramatic but you felt drawn because of a call the night before?
MB: I had some hint that it would be something spectacular, because I knew these monks were not bluffing. They were perfectly serious about doing something pretty violent. In another civilization it might have taken the form of a bomb or something like that.
The monks were very much aware of the result that an immolation was likely to have. So by the time I got to the pagoda where all of this was being organized, it was already underway—the monks and nuns were chanting a type of chant that’s very common at funerals and so forth. At a signal from the leader, they all started out into the street and headed toward the central part of Saigon on foot. When we reached there, the monks quickly formed a circle around a precise intersection of two main streets in Saigon. A car drove up. Two young monks got out of it. An older monk, leaning a little bit on one of the younger ones, also got out. He headed right for the center of the intersection. The two young monks brought up a plastic jerry can, which proved to be gasoline. As soon as he seated himself, they poured the liquid all over him. He got out a matchbook, lighted it, and dropped it in his lap and was immediately engulfed in flames. Everybody that witnessed this was horrified. It was every bit as bad as I could have expected.
I don’t know exactly when he died because you couldn’t tell from his features or voice or anything. He never yelled out in pain. His face seemed to remain fairly calm until it was so blackened by the flames that you couldn’t make it out anymore. Finally the monks decided he was dead and they brought up a coffin, an improvised wooden coffin.
PW: And you were the only photographer there?
MB: As far as I could tell, yes. It turns out that there were some Vietnamese that took some pictures but they didn’t go out—they’re not on the wires or anything like that.
PW: What were you thinking while you were looking through the camera?
MB: I was thinking only about the fact it was a self-illuminated subject that required an exposure of about, oh say, f10 or whatever it was, I don’t really remember. I was using a cheap Japanese camera, by the name of Petri. I was very familiar with it, but I wanted to make sure that I not only got the settings right on the camera each time and focused it properly, but that also I was reloading fast enough to keep up with action. I took about ten rolls of film because I was shooting constantly.
PW: How did you feel?
MB: The main thing on my mind was getting the pictures out. I realized this is something of unusual importance and that I’d have to get them to the AP in one of its far flung octopus tentacles as soon as possible. And I also knew this was a very difficult thing to do in Saigon on short notice.
PW: What did you do with the film?
MB: The whole trick was to get it to some transmission point. We had to get the raw film shipped by air freight, or some way. It was not subject to censorship at that point. We used a pigeon to get it as far as Manila. And in Manila they had the apparatus to send it by radio.
PW: When you say pigeon, what do you mean exactly?
MB: A pigeon is a passenger on a regular commercial flight whom you have persuaded to carry a little package for him. Speed was of the essence obviously. So we had to get it to the airport. It got aboard a flight leaving very soon for Manila.
PW: Did anyone from the AP, once the film arrived, send a message to you saying that the picture was being published all over the world?
MB: No.
PW: You didn’t know?
MB: No, we didn’t know, it was like shooting into a black hole. We learned that it had arrived only after messages began to come through congratulating us for sending such a picture. It was not run by everybody.The New York Times did not run it. They felt it was too grisly a picture that wasn’t suitable for a breakfast newspaper.
PW: I’m looking at the picture now on my screen. Tell me what I’m not seeing —what are you hearing, smelling?
MB: The overwhelming smell of joss sticks. They do make a very strong smell, not a particularly nice smell, but it’s meant to appease the ancestors and all of that. That was the overwhelming smell except for the smell of burning gasoline and diesel and the smell of burning flesh, I must say. The main sound was the wailing and misery of the monks, who had known this guy for many years before and were feeling for him. Then there was shouting over loudspeakers between the fire department people, trying to figure out a way to put him out, put out the flames around him without actually killing him or something. So it was a jumble of confusion.
PW: I read once what President Kennedy said about your photograph. He said, “No news picture in history has generated so much emotion around the world as that one.”
MB: Yeah, that could be, that sounds like an honest quote from the White House.
PW: Would you consider the photograph your crown achievement in journalism?
MB: It attracted a lot of attention, I’ll say that for it. It was not necessarily the hardest story I’ve ever had to cover, but it was certainly an important part of my career.
Source:

Ảnh tư liệu xảy ra trong ngày 11-6-1963:
Diễn tiến cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức ngày 11-6-1963 (ảnh của: Malcolm Browne/ AP)