Hiển thị các bài đăng có nhãn kennedy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kennedy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2020

 

Thêm hồ sơ giải mật:

Thái độ của TT Kennedy

về vụ đảo chánh TT Ngô Đình Diệm (Tóm dịch của VOA)

(New Light in a Dark Corner:

Evidence on the Diem Coup in South Vietnam, November 1963

Luke A. Nichter và John Prados)

 

VOA: Theo một công bố mới về băng ghi âm và ghi chép của Tòa Bạch Ốc, Tổng thống John F. Kennedy ủng hộ việc lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm tại miền Nam Việt Nam vào cuối năm 1963 hơn là được ghi nhận trước đó. Việc lật đổ Tổng thống Diệm bằng một cuộc đảo chánh quân sự có ảnh hưởng lớn đến chính sách của Mỹ và sự can dự ngày càng tăng của Mỹ vào Việt Nam đã điễn ra cách đây 57 năm. Ngay cả bây giờ những quan điểm của Tổng thống Kennedy và một số phụ tá hàng đầu của ông về cuộc đảo chánh đã bị che phủ vì những tài liệu không đầy đủ đã khiến cho các học giả chú trọng nhiều hơn đến thái độ của những thuộc cấp của Tổng thống. Tuy nhiên vào lúc này, Văn khố An ninh Quốc gia, một viện nghiên cứu và thư viện độc lập phi chính phủ tại Trường Đại học George Washington ở Washington D.C., lần đầu tiên đưa ra những tài liệu của các văn khố Mỹ và Việt Nam mở rộng các cửa về sự kiện quan trọng này qua phần trình bày của hai tác giả Luke A. Nichter và John Prados qua bài viết “New Light in a Dark Corner: Evidence on the Diem Coup in South Vietnam, November 1963” (Ánh Sáng Mới Trong Góc Tối: Bằng Chứng Về Cuộc Đảo Chánh Ông Diệm tại Nam Việt Nam, tháng 11/1963)

https://www.voatiengviet.com/a/ho-so-giai-mat-dao-chanh-ngo-dinh-diem-kennedy-nhu/5659845.html

Quyền lực quốc gia nằm trong tay gia đình dòng họ Ngô Đình (từ trái qua phải, từ trên xuống dưới): Tổng Giám mục THỤC, Tổng thống DIỆM, Cố vấn NHU, Đại sứ LUYỆN, Cố vấn miền Trung CẨN và Bà Cố vấn NHU (Trần Lệ Xuân)

[Hình composite nầy và các nhấn mạnh trong bài là của hoangnamgiao]


Vào năm 1963, nửa đường trong cuộc dính líu của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách của chính quyền Kennedy cảm thấy tiến thoái lưỡng nan. Nam Việt Nam, một phần của nước Việt Nam trước kia, được Mỹ ủng hộ, vẫn còn đang dấn sâu vào cuộc nội chiến giữa chính phủ chống cộng được Mỹ hỗ trợ và du kích quân cộng sản được Bắc Việt đỡ đầu.

■ Chính phủ VNCH thời TT Ngô Đình Diệm dưới nhãn quan người Mỹ

Các lực lượng chính phủ dường như không biết làm cách nào đối phó với Mặt Trận Giải phóng Miền Nam. Quân đội và các cơ quan tình báo Mỹ tranh cãi về sự tiến triển của chiến tranh. Trong khi phủ nhận những nhận xét của báo chí là Hoa Kỳ đang sa lầy tại Việt Nam, chính quyền Kennedy nhận thức được những vấn đề trong chiến tranh và nỗ lực áp dụng mọi biện pháp để truyền sinh lực cho Việt Nam.

Một vấn đề lớn nằm tại Sài Gòn, thủ đô miền Nam, với ngay chính phủ Việt Nam. Đầy dẫy tham nhũng, mưu đồ chính trị, tranh chấp nội bộ liên tục, miền Nam Việt Nam thường xuyên bất đồng ý kiến với nhau.

Quan tâm chính của người Mỹ là cuộc chiến chống du kích Mặt trận Giải phóng Miền Nam, Nam Việt Nam hứa cộng tác nhưng thi hành rất ít. Còn có những khó khăn khác bắt nguồn từ cách thức chính phủ Việt Nam được thành lập lúc ban đầu, và phương cách Mỹ giúp tổ chức quân đội Nam Việt Nam trong những năm 1950, nhưng tất cả những yếu tố đó không trực tiếp quan hệ đến biến cố năm 1963.

Chính phủ Sài Gòn do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Ông là một nhà lãnh đạo độc tài, gia đình trị, đánh giá cao quyền lực hơn là các quan hệ với người dân Việt Nam hay tiến bộ trong cuộc chiến chống cộng sản. Ông Diệm lúc đầu lên cầm quyền bằng những phương tiện hợp pháp, ông được bổ nhiệm làm thủ tướng chính phủ có từ năm 1954, và sau đó ông củng cố quyền hành bằng một loạt các cuộc đảo chánh quân sự, bán đảo chánh, tái tổ chức chính phủ, trưng cầu dân ý và cuối cùng là một loạt các cuộc bầu cử tổng thống được dàn dựng.

Ông Diệm gọi Nam Việt Nam là một nước Cộng hòa và ông giữ chức vụ Tổng thống, nhưng ông cấm các đảng phái chính trị, ngoài đảng của ông và từ chối cho phép đối lập hợp pháp. Từ năm 1954 trở về sau, Hoa Kỳ thúc đẩy ông Diệm cải cách chính trị, và ông Diệm liên tục hứa cải cách nhưng không bao giờ thi hành.

Đường lối lãnh đạo độc tài của ông Diệm không làm dân chúng Nam Việt Nam hài lòng và dân chúng càng ngày càng không thích ông Diệm. Một cuộc đảo chánh quân sự chống ông Diệm vào tháng 11 năm 1960 nhưng ông thoát hiểm do có chia rẽ trong giới lãnh đạo quân đội. Ông Diệm khai thác việc này để tạo ra các phe phái chống đối lẫn nhau giúp ông vẫn tại vị.

Vào tháng 2 năm 1962, hai phi công bất mãn thả bom dinh Độc lập nhằm giết ông Diệm và có lãnh đạo mới nhưng lúc đó ông không có mặt tại khu vực bị đánh bom. Ông Diệm tái phối trí lại các sĩ quan để cải thiện an ninh cho ông nhưng ông vẫn không cải tổ chính trị.

Chính quyền tổng thống Kennedy từ năm 1961 đến năm 1963 liên tục gia tăng mức viện trợ quân sự cho Sài Gòn, tài trợ việc gia tăng các lực lượng vũ trang Việt Nam. Quân đội Mỹ và tình báo quân đội Mỹ, chú trọng đến việc cải thiện, đến tỉ số lớn mạnh giữa chính phủ và du kích tiếp sau việc gia tăng lực lượng và cho rằng cuộc chiến thành công. Các nhà ngoại giao và các giới chức viện trợ bi quan hơn. Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ CIA được lệnh đánh giá tình báo vào mùa xuân năm 1963, đã cho phép quan điểm của họ bị quân đội tác động và đưa ra một đánh giá về tình báo quốc gia, hạ giảm việc ông Diệm yếu kém về chính trị. Tổng thống Kennedy nghe những cảnh cáo từ các giới chức Bộ Ngoại giao và những hình ảnh màu hồng của quân đội, và cảm thấy an tâm về những đánh giá của CIA.

Cảm tưởng của Tòa Bạch Ốc bị tiêu tan bắt đầu vào ngày 8/5 khi lực lượng an ninh Nam Việt Nam, hành động theo lệnh của một trong những anh em của ông Diệm bắn vào một đám đông Phật tử tuần hành kỷ niệm Phật Đản 2527 năm. Lý lẻ để giải tán cuộc tuần hành này không quan trọng hơn việc các Phật tử bất chấp một lệnh cấm treo cờ Phật Giáo ngoài cờ Nam Việt Nam. Một người anh của ông Diệm là Giám mục Công Giáo La Mã trong cùng khu vực tại Nam Việt Nam đã treo cờ mà không bị trừng phạt chỉ vài tuần trước khi ông được thăng chức trong giáo hội. Người Phật tử có thể được khuyến khích bằng hành động này nên nghĩ rằng hành động của họ cũng được cho phép như vậy. Việc đàn áp cuộc tuần hành của Phật tử tại cố đô Huế đã tạo nên một cuộc khủng hoảng chính trị có tên là “cuộc khủng hoảng Phật Giáo” bùng nổ tại Sài Gòn trong suốt mùa hè và mùa thu năm 1963.

Tuy nhiên hai anh em ông Diệm liên hệ đến cuộc đàn áp tại Huế không phải là vấn đề chính của lãnh đạo tại Sài Gòn. Ông Ngô Đình Nhu ngồi trong Dinh Độc lập với tư cách là cố vấn, người lôi kéo công luận, phái viên và người giật giây của chính phủ Sài Gòn. Ông Ngô Đình Nhu được người dân Nam Việt Nam xem là mối đe dọa hơn ông Diệm. Ông điều khiển đảng của ông Diệm, một số cơ quan tình báo, và Lực lượng Đặc biệt được thành lập theo một trong những chương trình viện trợ của Mỹ.

Ông Nhu có một quan điểm rất tiêu cực về những rắc rối do Phật Giáo gây ra. Ông Diệm đối phó với cuộc khủng hoảng Phật Giáo. Có lúc ông bác bỏ những chuyện đã xảy ra và hứa cải cách chính trị và tôn giáo và thương thuyết về một tạm ước với các Phật tử được thực hiện tại Sài Gòn. Tuy nhiên ông Nhu khuyến cáo nhà lãnh đạo Nam Việt Nam rút lại thỏa thuận và một lần nữa ông không ban hành những nhượng bộ về chính trị như đã thỏa thuận.

Những cuộc biểu tình của Phật Giáo đến Sài Gòn vào cuối tháng 5 và hầu như trở thành hàng ngày. Vào ngày 11/6 chống đối chính phủ đạt một mức độ mới sau khi một nhà sư tự thiêu tại ngả tư một đường phố đông người như là cao điểm của cuộc biểu tình. Hình ảnh cuộc tự thiêu làm cả thế giới kinh hoàng và lảm cho cuộc khủng hoảng Phật Giáo trở thành một vấn đề tại Mỹ đối với tổng thống Kennedy, hiện phải đối phó với những vấn đề gay go trong việc viện trợ kinh tế và quân sự cho một chính phủ rõ ràng vi phạm nhân quyền đối với người dân của họ.

CIA thêm vào một phụ lục trong bản đánh giá tình báo trước đây về viễn ảnh chính trị của ông Diệm, và tình báo Bộ Ngoại giao đưa ra một phúc trình tiên đoán những rắc rối chính tại Sài Gòn.

Tình hình tồi tệ thêm của Tổng thống Diệm khiến ông phải tuyên bố thiết quân luật vào tháng 8/1963 và vào ngày 21/8, dùng quyền hạn thiết quân luật để bố ráp chùa chiền của những nhóm đứng đằng sau các cuộc biểu tình. Ông Nhu tiến hành cuộc bố ráp như thể là các chỉ huy quân đội đứng đằng sau những cuộc bố ráp đó và sử dụng lực lượng do CIA tài trợ để thực hiện cuộc bố ráp.

■ Đảo chánh quân sự

Theo tài liệu của Thư viện Tổng thống John F. Kennedy và của Cơ quan An ninh Quốc gia thì Giám đốc CIA lúc bấy giờ là John A. McCone đã thuyết trình cho Tổng thống Kennedy trong vòng 24 giờ sau khi một tướng lãnh quân đội Miền Nam Việt Nam tiếp xúc với nhân viên tình báo Mỹ Lucien Conein tại Sài Gòn. Tướng Trần Văn Đôn nói với ông Conein vào ngày 8/7/1963 là có những kế hoạch của quân đội lật đổ Tổng thống Diệm, nhưng ông không cho biết ngày giờ rõ rệt, chỉ nói là trong vòng 10 ngày. Ông cho biết là tất cả tướng lãnh, trừ một hay hai người, đồng ý với kế hoạch đảo chánh. Tướng Đôn nói thêm là quân đội cần phải hành động để ngăn Việt Cộng lợi dụng cuộc khủng hoảng Phật Giáo đang tiếp diễn. Ngoài ra ông McCone còn nói là còn có một âm mưu khác do Bác sĩ Trần Kim Tuyến, cựu giám đốc mật vụ của ông Diệm dự trù thực hiện vào ngày 10/7 với sự hợp tác của một số thành phần trong quân đội. Nhưng cuối cùng ông Tuyến được cử làm đại sứ Việt Nam tại Ai Cập. Trong một bản ghi nhớ gởi Tổng Thống Kennedy ngay trước phiên họp 4 giờ chiều ngày 27/8/1963, ông Michael V. Forrestal, phụ tá hàng đầu của Cố vấn An ninh Quốc gia, McGeorge Bundy, nói có báo cáo về một âm mưu đảo chánh do ông Trần Quốc Bửu, chủ tịch Tổng liên đoàn Lao công Việt Nam, đưa Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng thống nếu thành công.

Trích xuất công điện “tối mật” ngày 9 tháng Bảy, 1963: “Nam Việt Nam vẫn tiếp tục cứng đầu đối với vấn đề Phật Giao chưa thể giải quyết và một âm mưu đảo chánh ngày càng gia tăng chắc chắn.”

https://nsarchive2.gwu.edu/NSAEBB/NSAEBB101/vn01.pdf

Về phần Mỹ, Tổng thống Kennedy quyết định thay đại sứ Mỹ tại Sài Gòn là Frederick E. Nolting và cử ông Henry Cabot Lodge thay thế. Ngày 18/8/1963, đại sứ Cabot Lodge gặp Tổng Thống Kennedy tại Phòng Bầu dục Tòa Bạch Ốc. Tổng thống Kennedy bày tỏ ý kiến là cần phải làm một chuyện gì đó đối với ông Diệm nhưng ông chưa chắc chắn là ngoài ông Diệm, Mỹ có thể ủng hộ ai tại Sài Gòn. Tổng thống Kennedy muốn ông Cabot Lodge đánh giá việc này. Trước khi đi Việt Nam ông Lodge đã có gặp ông bà Trần Văn Chương, Đại sứ Việt Nam tại Mỹ và là bố mẹ của bà Trần Lệ Xuân, vợ ông Ngô Đình Nhu. Đại sứ Cabot Lodge đến Việt Nam trình ủy nhiệm thư lên Tổng thống Diệm ngày 26/8/1963.

Tại Tòa Bạch Ốc, trong 3 ngày 26, 27 và 28 tháng 8/1963, Tổng thống Kennedy họp với các phụ tá, cố vấn, Hội đồng An ninh quốc gia, giới chức cao cấp Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Cơ quan Trung ương tình báo để thảo luận về yêu cầu đảo chánh tại Việt Nam.

Vào lúc này, Đại sứ Cabot Lodge tại Sài Gòn đã nhận được điện văn của ông Roger Hilsman, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Viễn Đông Sự vụ thường được gọi là DepTel 243 để trả lời cuộc tiếp xúc giữa Tướng Trần Văn Dôn và giới chức CIA cao cấp tại Sài Gòn Lucien Conein ngày 23/8, nêu rõ lập trường của chánh phủ Mỹ là loại bỏ ông Ngô Đình Nhu và nếu ông Diệm từ chối thì ông Diệm cũng sẽ chịu chung số phận.

Công điện tối mật của Bộ Ngoại Giao Mỹ yêu cầu “có hành động lập tức,” có đoạn “bây giờ thì đã rõ có phải quân đội đề nghị lệnh thiết quân luật hay ông Nhu nhử họ vào cái bẫy ấy…”

https://nsarchive2.gwu.edu/NSAEBB/NSAEBB101/vn02.pdf

Cuộc thảo luận trong 3 ngày cuối tháng 8 xoay quanh vấn đề liệu có xác nhận những chỉ thị trong điện văn của ông Hilsman hay không. Tại các cuộc thảo luận này có hai phe rõ rệt. Các ông Hilsman, Averell Hariman, thứ trưởng ngoại giao phụ trách chính trị sự vụ và viên chức Hội đồng An ninh Quốc gia Michael Forestall đồng ý vụ đảo chánh, trong khi một số người chống đối đứng về phía cựu đại sứ Nolting. Chống đối về phía quân đội có Đại tướng Maxwell Taylor, chủ tịch Ủy ban Tham mưu Hỗn hợp và Tướng Krulak. Ngoài ra phe chống đối còn có Giám đốc CIA John McCone và William Colby, Trưởng ban Viễn Đông của CIA. Tổng thống Kennedy đóng vai điều hợp các cuộc thảo luận. Ông cũng xem Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara và em ông, Bộ trưởng Tư pháp Robert F. Kennedy, là những người chống đối khác.

Các giới chức Mỹ cũng bất đồng ý kiến về người lãnh đạo sau khi hai ông Diệm, Nhu bị lật đổ. Không như cựu Đại sứ Nolting cho rằng không có ứng cử viên nào cả thì Văn phòng Tình báo và Nghiên cứu Bộ Ngoại giao (INR) đưa ra một danh sách dài và nhấn mạnh rằng “Chúng tôi tin là Việt Nam không phải đối mặt với bất cứ sự thiếu vắng nào về người lãnh đạo hữu hiệu không Cộng Sản.” Ông Thomas L. Hughes, giám đốc INR ngày nay vẫn tự hào về danh sách các chuyên gia của ông tập họp vào năm 1963.

Công điện mật 25 tháng 10, 1963: Danh sách các nhân vật dân sự được xem là có thể thay thế tổng thống Ngô Đình Diệm hậu đảo chánh.

https://nsarchive2.gwu.edu/NSAEBB/NSAEBB101/vn16.pdf

Ngày kế tiếp, INR soạn thảo một tài liệu về “vấn đề ông Nhu” trong đó các nhà phân tích nói rằng theo nhận xét của người miền Nam Việt Nam thì ông Nhu đã trở nên một quyền lực chế ngự tại Sài Gòn, hành xử “một ảnh hưởng bất di bất dịch, không đếm xỉa gì đến ông Diệm”.

Trong một phúc trình đề ngày 24/7/1963 về một cuộc gặp với ông Ngô Đình Nhu, văn phòng trưởng CIA tại Sài Gòn, John Richarson, nói ông Nhu cho rằng các Phật tử tuyên truyền cho cộng sản và che dấu cán bộ cộng sản trong số các nhà sư tại một số chùa quan trọng nhất. Ông Nhu cũng bắt đầu tiếp xúc hàng tuần với các tướng lãnh Quân đội Việt Nam Cộng hòa (ARVN) và nói về cuộc đảo chánh-và ông nói với CIA rằng đây là một cuộc “phân tích tâm lý” nhằm làm cho các sĩ quan này tiết lộ ý định của họ. Phúc trình ông Richardson đưa ra nhận xét là ông Nhu đang chuẩn bị cho một cuộc đảo chánh trong một trường hợp nào đó chống lại ông Diệm và ông là người lãnh đạo cuộc đảo chánh.

Báo của của CIA ngày 24 tháng Bảy, 1963 trong đó đề cập đến các nhận định của ông Ngô Đình Nhu về vấn đề Việt Cộng xâm nhập Phật Giáo.

https://nsarchive.gwu.edu/dc.html?doc=7279414-National-Security-Archive-Doc-01-CIA-Information

Những người thân cận với Tổng thống Kennedy kết luận là ông Nhu phải ra đi và nếu ông Diệm từ chối loại bỏ ông Nhu thì ông Diệm cũng sẽ phải ra đi.

Qua đến tháng 9, tháng 10, Washington tìm cách nêu lên lập trường bằng cách cứu xét việc di tản công dân Mỹ, rút quân và ngưng viện trợ của CIA cho lực lựơng đặc biệt Việt Nam. Tổng thống Kennedy muốn hiểu tình hình cặn kẻ hơn nên đã cử nhiều toán nghiên cứu đến Sài Gòn, trong đó có ông Huntington Seldon của CIA, bộ trưởng Robert McNamara, Tướng Maxwell Taylor, Tướng Krulak và ông Joseph Mendenhall. Tất cả các toán này tường trình cho Tổng thống Kennedy, xác nhận những điều INR đã viết trong tài liệu “vấn đế ông Nhu”.

Vào ngày 15/9 Ngoại trưởng Dean Rusk gởi điện cảnh báo đại sứ Cabot Lodge là vụ đảo chánh nêu trong điện tín của ông Hilsman “hoàn toàn ngưng lại” và không nên có nỗ lực nào để khơi động bất cứ âm mưu đảo chính nào. Chưa có quyết định nào được Washington đưa ra. Cùng lúc đó đại sứ Cabot Lodge dính líu đến một vụ tranh chấp với CIA về việc thay đổi người đứng đầu CIA tại Sài Gòn. Trong khung cảnh này, Tướng Trần Thiện Khiêm yêu cầu có cuộc gặp với CIA. Cuộc tiếp xúc và cuộc họp sau đó báo cho Mỹ biết là ông Nhu đang tìm cách tiếp xúc với Hà Nội và nhắc lại kế hoạch đảo chánh vẫn còn và thông báo với CIA là quân đội đang chờ ông Diệm trả lời đòi hỏi của quân đội có chân trong nội các.

Vào ngày 5/10, Tướng Dương Văn Minh gặp ông Conein với tư cách là người cầm đầu cuộc đảo chính nhắc lại lời yêu cầu vào tháng 8 là Mỹ bày tỏ sự ủng hộ cuộc đảo chánh và đảm bảo với nhân viên CIA là cuộc đảo chánh sẽ xảy ra trong tương lai gần và phác họa một vài giải pháp đảo chánh. Tướng Minh nói giải pháp “dễ nhất” là ám sát hai người em của ông Diệm và vẫn giữ ông Diệm là một người lãnh đạo không thực quyền.

Sau đó, Tòa Đại sứ Mỹ và văn phòng CIA ở Sài Gòn đóng vai trò tích cực hơn trong tư cách quan sát viên của việc đảo chánh tại Miền Nam Việt Nam. Từ đó có thêm nhiều cuộc tiếp xúc với các tướng lãnh Việt Nam.

Theo tài liệu của CIA, từ ngày 23/8 đến 23/10/1963, các tướng lãnh Việt Nam đã gặp nhân viên CIA tất cả 21 lần để chuyển đạt tin tức về cuộc đảo chánh và dò xét thái độ của Mỹ đối với đảo chánh. Phần lớn những cuộc họp này chỉ có một hay hai tướng đại diện trong đó có các tướng Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim và Dương Văn Minh. Riêng lần gặp ngày 29/8, ngoài các tướng lãnh còn có một người không thuộc giới quân nhân là ông Bùi Diễm, thuộc Đảng Đại Việt, tháp tùng Tướng Lê Văn Kim trong cuộc tiếp xúc với phía Mỹ.

Một hồ sơ giải mật được giải mật liên quan đến tài liệu vụ ám sát tổng thống Kennedy.

https://nsarchive.gwu.edu/dc.html?doc=7279426-National-Security-Archive-Doc-13-CIA-Memo

Ngày 29/10/1963, Tổng thống Kennedy triệu tập một phiên họp với các cố vấn có sự tham dự của Phó Tổng thống Johnson, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara, Tướng Tay lor và Tướng Krulak để duyệt lại một lần nữa về việc có nên hay không nên ủng hộ đảo chánh của các tướng lãnh Việt Nam. Trong phiên họp này ngoại trưởng Dean Rush lo ngại về khả năng giao tranh kéo dài giữa hai phe ủng hộ và chống đảo chánh có thể làm nhiều người chết. Một lo ngại khác nữa của ông là trường hợp một hay cả hai bên đều kêu gọi Mỹ ủng hộ thì phải giải quyết ra sao. Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy thì cho rằng về quan điểm của Mỹ thì cuộc đảo chánh không có ý nghĩa vì đặt tương lai cả Việt Nam và của Đông Nam Á vào tay những người Mỹ không biết rõ. Mỹ chỉ biết ông Diệm là một người tranh đấu và sẽ tranh đấu đến cùng. Ông kết luận là Mỹ phải đóng một vai trò chính trong việc tìm hiểu kế hoạch của phe đảo chính ra sao và ảnh hưởng để cuộc đảo chánh có nên diễn ra hay không. Ông chỉ ra rằng dù Mỹ có làm hay không làm thì Mỹ vẫn bị đổ lỗi cho kết quả. Tổng thống Kennedy khuyến cáo là phe đảo chánh nên được có ưu thế về quân sự. Tổng thống giao cho Đại sứ Cabot Lodge tìm hiểu xem lập trường của các đơn vị quân đội chính đối với cuộc đảo chính như thế nào.

Cuộc đảo chánh thực sự bùng nổ ngày 1/11/1963 và anh em ông Diệm Nhu bị giết ngày 2/11/1963. Trước đó, vào lúc 4 giờ rưỡi chiều ngày 1/11/1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm gọi cho Đại sứ Cabot Lodge yêu cầu cho biết về thái độ của Mỹ đối với cuộc đảo chánh. Đại sứ Lodge trả lời là ông có nghe tiếng súng nổ, nhưng ông không biết rõ các sự kiện và không có thông tin đầy đủ để trả lời. Vả lại tại Washington là 4 giờ rưỡi sáng nên chính phủ Mỹ không thể nào có quan điểm chính thức vào lúc này. Ông Cabot Lodge bày tỏ sự lo ngại về an toàn của tổng thống Diệm và hỏi thêm là tổng thống có biết phe đảo chánh đề nghị hai anh em ông ra nước ngoài nếu ông từ chức hay không thì ông Diệm trả lời không biết. Ông Cabot Lodge kết thúc câu chuyện bằng cách hứa là ông sẽ làm đủ mọi cách có thể được để bảo đảm an toàn cho ông Diệm nếu ông Diệm gọi cho ông.

Tài liệu ghi lại cuộc nói chuyện của TT Ngô Đình Diệm và Đại Sứ Cabot Lodge, 1 tháng 11, 1963, ngày đảo chánh: “4 giờ 30 chiều ngày 1 tháng 11, 1963, phủ Tổng thống liên lạc tư dinh chúng tôi. TT Diệm đòi nói chuyện với đại sứ [Lodge]”.

https://nsarchive2.gwu.edu/NSAEBB/NSAEBB101/vn23.pdf

Tại Washington, khi nhận được tin này, tổng thống Kennedy không tin là hai ông Diệm Nhu tự tử vì cả hai là tín đồ Công Giáo.

Báo cáo của CIA gởi về Washington nói rằng họ tin hai anh em Diệm Nhu bị giết thay vì tự tử như một số tin. Đại sứ Cavot Lodge lái xe chạy vòng quanh Sài Gòn và được hoan hô. Không có chỉ dấu cho thấy có tình cảm chống Mỹ. CIA cho rằng việc chống nổi dậy sẽ gặp trở ngại tạm thời vì ấp chiến lược và chương trình bán quân sự do ông Nhu điều hành bị giải tán.

 

Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/ho-so-giai-mat-dao-chanh-ngo-dinh-diem-kennedy-nhu/5659845.html

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013


PHÓ TT JOHNSON GỌI ÔNG DIỆM LÀ
“THẰNG NHÃI DUY NHẤT” (THE ONLY BOY)
 
Stanley Karnow
 
Nguồn: “VIETNAM – A History
Tác giả: Stanley Karnow - Nhà Xuất bản: Edition King Press, 1983, Trang 214.

 

Ông Diệm với Phó TT Johnson (bên trái) và Đại sứ Nolting - Sài Gòn 1961 

Ngày 12 tháng 5 năm 1961, trong chuyến công du các nước ở Đông Nam Á, Phó Tổng thống Lyndon Johnson đã ghé Sài Gòn thăm ông Diệm. Trong diễn văn đáp từ, Phó TT Johnson đã gọi ông Diệm là “Churchill của Châu Á”, nhằm khuyến khích Tổng thống Nam Việt Nam thấy mình cần thiết cho Mỹ và hứa sẽ tăng thêm quân viện để giúp chính phủ chống Cọng (Calling Diem the "Churchill of Asia," he encouraged the South Vietnamese president to view himself as indispensable to the United States and promised additional military aid to assist his government in fighting the communists ).        

Sau đó, trên chuyến bay rời Việt Nam, sử gia Stanley Karnow chuyên về chiến tranh Việt Nam đã hỏi Phó TT Johnson liệu ông có thực sự tin rằng ông Diệm là “Churchill của Châu Á” hay không thì Phó TT Johnson liền trả lời: “Cục cứt họ, Diệm là thằng nhãi duy nhất mà chúng ta có ở đó.” (Shit ! Diem is the only boy we’ve got out there.)

 

TT KENNEDY GỌI ANH EM ÔNG DIỆM LÀ
“BỌN CHÓ ĐẺ” (SONS OF BITCHES)

James S. Olson & Randy Roberts

Nguồn: “WHERE THE DOMINO FELL - American and Vietnam, 1945-1995” - Tác giả: James S. Olson & Randy Roberts - Nhà Xuất bản: Brandywine Press, New York, 1999 – Third Edition - Chương 4. The New Frontier in Vietnam, 1961-1963, Trang 98.


 
Chính phủ Diệm tiếp tục bị suy sụp, không phải chỉ vì những giá trị quan lại phong kiến của nó và [sự thất bại] của Chương trình Ấp Chiến lược, mà còn vì những điều kỳ cục lạ lùng và những hoang tưởng.

Ông anh trưởng Ngô Đình Thục, Tổng Giám mục địa phận Huế, đã dùng ảnh hưởng chính trị của ông ta để gia tăng bất động sản cho Giáo hội Công giáo. Một người chỉ trích ông ta đã lên án rằng những yêu cầu đóng góp của vị Tổng Giám mục thì “đọc ra chẳng khác gì giấy báo đóng thuế” vậy. Ông ta mua các trang trại, những cơ sở kinh doanh, địa ốc tại thành phố, cao ốc cho thuê và đồn điền cao su, và ông sử dụng các đơn vị của Quân đội Việt Nam Cọng Hòa để đốn cây và để xây cất.

Ngô Đình Cẩn, kẻ độc tài tại Huế, tích lũy được một đống tiền bạc nhờ làm đầu nậu một tổ chức chuyển những kiện hàng to lớn đầy gạo cho Hà Nội và một số lượng lớn thuốc phiện đi khắp Á châu.

Ngô Đình Luyện, vị đại sứ của Nam Việt Nam tại Luân Đôn, trở thành triệu phú nhờ đầu cơ tiền đồng (Việt Nam) và Anh kim bằng cách sử dụng những thông tin nội bộ do các người anh em ở Sài Gòn cho biết.

Lạ hơn nữa là những trò hề của Ngô Đình Nhu. Vào năm 1963, ngày nào Nhu cũng hút thuốc phiện. Tham vọng của ông ta từ lâu đã trở thành một bệnh cuồng vĩ hoang tưởng mà biểu tượng là Đảng Cần lao Nhân vị Cách mạng - một loại công an được biết đến qua những hoạt động tra tấn và ám sát. Những đoàn Cần Lao với cách diễn hành bước như đàn ngỗng theo kiểu Nazi Đức Quốc xã và chào thẳng tay, lại càng làm cho Nhu thêm cứng rắn.

Bà Nhu thì có đám xung kích riêng, được biết dưới tên Phong trào Phụ nữ Liên đới và Thanh nữ Bán quân sự, được dùng để chống lại ma quỉ, hay ít nhất là những gì mà Bà Nhu xem là ma quỉ - như vũ trường, đánh bài, đĩ điếm, li dị và cờ bạc. Hai vợ chồng ông bà Nhu làm giàu nhờ thủ đoạn làm tiền qua việc tổ chức xổ số, thao túng ngoại tệ, tống tiền giới doanh nhân Sài Gòn, hứa sẽ “bảo vệ” nếu họ chịu đóng hụi chết.

Sau khi đọc xong các phúc trình của Cục Tình báo Trung ương CIA về những điều tệ hại nầy, Tổng thống Kennedy đập mạnh tài liệu xuống bàn và hét to “Đồ cái bọn chó đẻ đáng nguyền rủa” (“Those damned sons of bitches”)

[Dịch nhóm từ “son of bitch” thông tục của ngôn ngữ Mỹ ra tiếng Việt “đồ chó đẻ” theo http://www.trueknowledge.com/q/what_is_%22son_of_a_bitch%22_in_vietnamese . Do đó, khi mắng nhiều người, “đồ chó đẻ” trở thành “bọn chó đẻ” ]


Nguyên bản Anh ngữ:
 
WHERE THE DOMINO FELL
American and Vietnam, 1945-1995

The Diem government was steadily deteriorating, not only because of its mandarin values and the Strategic Hamlet Program but also because of bizarre eccentricities and paranoia.

Elder brother Ngo Dinh Thuc, archbishop of Hue, used his political clout to augment church property. One critic charged that his requests for contributions “read like tax notices.” He bought farms, businesses, urban real estate, rental property, and rubber plantations, and he employed ARVN troops on timber and construction concessions.

Ngo Dinh Can, the dictator of Hue, accumulated a fortune as head of a smuggling syndicate that shipped huge loads of rice to Hanoi and large volumes of opium throughout Asia.

Ngo Đinh Luyen, the South Vietnamese ambassador in London, became a multimillionaire speculating in piasters and pounds using inside information gleaned from his brothers in Saigon.

More bizarre still were the antics of Ngo Dinh Nhu. By 1963 Nhu was smoking opium every day. His ambition had long since turned into a megalomania symbolized by the Personalist Labor Revolutionary party, or Can Lao – secret police known for torture and assassination. Can Lao troops complete with Nazi-like goose-step marches and stiff-armed salutes, enforced Nhu’s will.

Madame Nhu had her own stormtroopers, a group known as the Women’s Solidarity Movement and Paramilitary Girls, which worked at stamping out evil, or at least what Madame Nhu considered evil – dancing, card playing, prostitution, divorce, and gambling. The Nhus amassed a fortune running numbers and lottery rackets, manipulating currency, and extorting money from Saigon businesses, promising “protection” in exchange for contributions.

After reading a CIA report on the shenanigans, President Kennedy slammed the document down on his desk and shouted, “Those damned sons of bitches.

 
 

TÊN “NGÔ ĐÌNH DIỆM” TRONG
DANH SÁCH 100 BẠO CH ÚA (TYRANTS)
Độc ác và Độc tài nhất trong Lịch sử

Nigel Cawthorne

 
Một tập sử biên niên mà đọc đến lạnh xương sống (spine-chilling)  đã liệt kê những nhà độc tài và các tội ác chống lại nhân loại của họ với tựa đề là Tyrants: History's 100 Most Evil Despots and Dictators (Những Bạo chúa: 100 kẻ Bạo ngược Độc ác và Độc tài nhất trong Lịch sử) nhằm giới thiệu một trăm nhân vật lịch sử nam và nữ khát máu nhất (most bloodthirsty) đã từng sử dụng quyền lực chống lại đồng lọai bất hạnh của họ (to wield power over their unfortunate fellow human beings.)
Từ Đại đế Herod, người ngược đãi hài đồng Giêsu, đến Hitler, kẻ giết người hàng loạt và chủ mưu cuộc chiến tranh tàn phá nhất trong lịch sử nhân loại, cuốn sách nấy đã khảo sát lịch sử của những tên bạo chúa ô nhục nhất trong Lịch sử. Nội dung cuốn sách mô tả những chi tiết sống động cuộc đời của những bạo chúa nầy, họ đã leo lên nấc thang quyền lực như thế nào, và đã để lại những gì trong quá trình tàn phá và gieo rắc đau thương của họ (their climb to power and the destruction and sorrow they left in their wake.)

Không do dự trong sự chọn lựa của mình, cuốn Bạo Chúa [nhà xuất bản Arcturus, 2005] là một chân dung chặt chẽ và thôi thúc về mặt trái tối tăm của chính trị và quyền lực, và đã phát hiện ra những chuyện kỳ lạ cũng như ghê tởm đàng sau thế giới của những kẻ chuyên quyền ô nhục (reveals the strange and grisly stories behind the world's most infamous autocrats.)

Trong cuốn sách nầy, tên “Ngô Đình Diệm” được xếp loại cùng với những bạo chúa như Stalin (Nga Sôviết), Lenin (Nga Sôviết), Hitler (Germany), Causescu (Rumania), Kim Il Sung (North Korea), Batista (Cuba), Pinochet (Chile), Khomeine (Iran), Marcos (Philippines), Hussein (Irak), Polpot (Cambodia)…

Ngo Dinh Diem – President of South Vietnam – From exile he returns as Prime minister in Bao Dais government in South Vietnam. 1955 Ousts Bao Dai in fixed election; declares himself a republic & names himself president. Ruthlessly repressed political dissenters * religious factions, and installed members of his family in important jobs. Responds to failed coup with brutal repression, killing hundreds of Buddhists on the grounds they are aiding the Communist North.  [Ngô Đình Diệm - Tổng thống Nam Việt Nam – Từ cuộc sống lưu vong, ông ta trở về làm Thủ tướng trong chính quyền Bảo Đại ở Nam Việt Nam. Năm 1955, ông ta lật đổ Bảo Đại trong một cuộc bầu cữ gian lận, tuyên bố thành lập nền Cọng hòa và tự phong làm Tổng thống. Đàn áp dã man những người bất đồng chính kiến chính trị và thành phần tôn giáo và bổ nhiệm thành viên gia đình vào những vai trò quan trọng. Đàn áp tàn bạo thành phần đảo chánh hụt, giết hàng trăm Phật tử vì cho rằng những tín đồ nầy giúp đở cho Cọng sản miền Bắc]

Tác giả Tuyển tập sử nầy, Nigel Cawthorne, sinh năm 1951, là một nhà nghiên cứu và là một chủ bút. Ông đã viết hơn 80 cuốn sách về các thể tài khác nhau. Bài của ông đăng trên các tạp chí The Guardian (Anh), Daily Telegraph Daily Mail (Anh) và The New York Times (Mỹ), và đã từng xuất hiện trên chương trình truyền thanh và truyền hình Today của BBC.


 

Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2013


CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM SỤP ĐỔ - BA LÝ DO CHÍNH

Trần Gia Phụng

 

Cali Today News - Cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963 có thể bắt nguồn từ các lý do chính sau đây: tập trung quyền lực, vấn đề tôn giáo và sự can thiệp của Hoa Kỳ.

1.- TẬP TRUNG QUYỀN LỰC

Sau khi cầm quyền ngày 7-7-1954, chính phủ của thủ tướng Diệm ổn định tình hình, đánh các đảng phái chính trị ở miền Trung, dẹp vụ Bình Xuyên, loại lực lượng võ trang các giáo phái ở miền Nam, tổ chức Trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, truất phế Bảo Đại, tự tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa và tự tuyên bố trở thành tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa.(1)

Tuy nền Cộng hòa được phân nhiệm rõ ràng, chính phủ trung ương gồm nhiều bộ trưởng điều hành việc nước, đồng thời tản quyền cho các tòa đại biểu tại các vùng (Trung nguyên Trung phần, Cao nguyên Trung phần, Miền Đông Nam phần, Miền Tây Nam phần), nhưng ngoài tổng thống Diệm, quyền hành nằm trong tay một số người là các ông bà Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, và một số ít người thân tín. Tổng giám mục Ngô Đình Thục không chính thức giữ một chức vụ hành chánh hay chính trị nào, nhưng ảnh hưởng rất lớn đến tổng thống Diệm, đến các bộ trưởng trong chính phủ và các viên chức địa phương. Lúc đó, dư luận cho rằng tổng thống Diệm chủ trương độc tài và gia đình trị.
 
 TGM Pierre Martin Ngô Đình Thục, TT Jean Baptiste Ngô Đình Diệm, Cố vấn Ngô Đình Nhu
Đại sứ Ngô Đình Luyện, Cố vấn miền Trung Ngô Đình Cẩn và Đệ nhất Phu nhân Trần Lệ Xuân

Vì vậy, chính phủ Diệm càng ngày càng bị phản đối, nổi bật nhất là các vụ: 1) Ngày 26-4-1960, 18 chính khách tên tuổi trong Uỷ Ban Tiến Bộ Và Tự Do họp tại khách sạn Caravelle ở Sài Gòn, ra kháng thư công khai phản đối chế độ Ngô Đình Diệm độc tài. 2) Ngày 11-11-1960 của nhóm Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông đảo chánh hụt. 3) Ngày 27-2-1962, hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc ném bom dinh Độc Lập.

Về phía chính phủ, tổng thống Diệm càng ngày càng tập trung quyền lực, chỉ tin dùng những người trong gia đình và trong đảng Cần Lao, không mở rộng thành phần chính phủ. Chính phủ càng ngày càng trở nên cứng rắn với những thành phần không đồng chính kiến. Ngày 5-7-1963, Tòa án Quân sự đặc biệt nhóm họp tại Sài Gòn, bắt đầu xét xử 19 quân nhân và 34 nhân sĩ liên can đến cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960. Kết quả, ngày 11-7-1963, tòa tuyên 20 án cấm cố và 14 trường hợp tha bổng. Hôm sau, ngày 12-7-1963 tòa xử các quân nhân và nhân sĩ vắng mặt. Trong số những người được tha bổng, có nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.

Tuy không bị bắt giam và chỉ bị gọi ra tòa xét xử, Nguyễn Tường Tam uống thuốc độc tự tử ngày 7-7-1963. Trước khi quyên sinh, Nhất Linh đã để lại những dòng tuyệt mệnh như sau: “Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử Đối lập Quốc Gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do.”(1)
Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1906-1963)
Di bút lịch sử ngày 7-7-1963 cảnh cáo chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.
 
Vụ tự tử của Nguyễn Tường Tam và vụ tự thiêu của thượng tọa Thích Quảng Đức ngày 11-6-1963 (trình bày phía dưới), mở đầu một loạt tự thiêu của các tăng ni khác, là những phản kháng công khai mạnh mẽ nhất đối với chế độ của tổng thống Diệm.

2.- DỤ SỐ 10 VÀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO


Chính sách tôn giáo của chính phủ Diệm dựa trên Dụ số 10 do chính phủ Trần Văn Hữu ban hành ngày 6-8-1950 dưới thời quốc trưởng Bảo Đại. Dụ nầy ấn định quy chế các hiệp hội, gồm có 5 chương, 45 điều. Điều 1 của dụ nầy sắp các tôn giáo, trừ Ky-Tô giáo, vào loại hiệp hội thường (như hội thể thao, hội đua ngựa...); trong khi điều 45 của dụ nầy cho biết sẽ ấn định quy chế đặc biệt cho các hội truyền đạo Ky-Tô và các hội Hoa kiều.(2) Dụ nầy cũng quy định các tôn giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn viên nơi thờ phượng, hoặc trụ sở hội đoàn mà thôi.

Dụ nầy rõ ràng không công bằng giữa các tôn giáo. Ngoài đạo Thờ cúng ông bà, người Việt theo các đạo chính: Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo, Ky-Tô giáo, Cao Đài giáo và Phật giáo Hòa Hảo (PGHH). Trong các đạo trên đây, tổng số tín đồ Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo, Cao Đài giáo và PGHH chiếm tỷ lệ rất lớn trên tổng dân số Việt Nam, có thể lên đến trên 80% dân số, thì bị xếp như các hiệp hội, trong khi Ky-Tô giáo với số lượng tín đồ ít, thì được hứa hẹn một quy chế đặc biệt. Dầu vậy, do sự uyển chuyển của các nhà cầm quyền thời quốc trưởng Bảo Đại, dụ nầy không được thi hành, nên chưa xảy ra cuộc chống đối mạnh mẽ nào.

Cần chú ý là sau dụ số 10 ngày 6-8-1950 cho đến đầu thập niên 60, tình hình tôn giáo Việt Nam thay đổi rất nhiều, nhưng dụ số 10 ngày 6-8-1950 vẫn không được điều chỉnh. Càng ngày hệ thống tổ chức tín đồ các đạo Phật giáo, Cao Đài giáo và PGHH càng có quy củ. Riêng Phật giáo, ngày 6-5-1951, các hội Phật học trên toàn cõi Việt Nam họp tại chùa Từ Đàm (Huế), thành lập Tổng Hội Phật giáo Việt Nam, thông qua bản điều lệ, nội quy, bầu ban quản trị và suy cử hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm tổng hội chủ.
Công văn của Chính phủ ban hành Dụ số 10 – Cờ Phật giáo Quốc tế - Chùa Từ Đàm ở Huế


Trong thời gian đầu của chế độ VNCH, dụ nầy hầu như không được áp dụng. Ngày 6-5-1963, hai ngày trước lễ Phật đản, đổng lý văn phòng Phủ tổng thống gởi công điện yêu cầu các địa phương không được treo cờ ngoài khuôn viên của chùa,(3) theo đúng tinh thần dụ số 10 ngày 6-8-1950. Công điện nầy chẳng những làm cho giới Phật tử bất bình, mà còn làm cho dân chúng nói chung, dù không phải là tín đồ Phật giáo, cũng không bằng lòng, vì trước đó trong các dịp lễ Ky-Tô giáo, cờ Tòa thánh Vatican (màu vàng và trắng) được treo tự do mà không bị chính phủ cấm đoán.

Trong các đạo trên đây, trên lãnh thổ VNCH, Cao Đài giáo và PGHH phát triển mạnh ở các tỉnh miền Nam, thuộc đồng bằng sông Cửu Long; Phật giáo thịnh hành ở các tỉnh miền bắc VNCH, nhất là Huế, nơi có nhiều chùa được thành lập từ thế kỷ 17 trở đi.

Về phía Ky-Tô giáo, lúc bấy giờ tổng giám mục địa phận Huế là Ngô Đình Thục, anh của tổng thống Diệm. Ngô Đình Thục thụ phong giám mục tại Huế năm 1938, được cử làm giám mục đầu tiên địa phận Vĩnh Long. Năm 1961, Ngô Đình Thục được đổi ra làm tổng giám mục tổng giáo phận Huế. Tính đến năm 1963, ông Thục được thâm niên giám mục 25 năm.


Lúc đó dư luận cho rằng nhân dịp lễ ngân khánh (25 năm) của mình, tổng giám mục Thục vận động để được Tòa thánh La Mã phong chức hồng y.(4) Dư luận nầy còn thêm rằng ông Thục trình với Tòa thánh Vatican rằng số tín đồ trong tổng giáo phận Huế, lúc đó gồm hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị, do ông cai quản chiếm 80% dân số khu vực. Tháng 5-1963, Tòa thánh cử một phái đoàn điều tra đến Huế, thì dân chúng Phật tử đang treo cờ mừng Phật đản. Kết luận sơ khởi của phái đoàn là chỉ có 20% dân chúng địa phận Huế theo Ky-Tô giáo chứ không phải 80%.(5) Vào ngày 7-5-1963, sau khi thăm viếng nhà thờ La Vang (Quảng Trị) và trở về Huế, tổng giám mục Thục nhận thấy dọc đường dân chúng treo nhiều cờ Phật giáo để đón mừng Phật đản (8-5-1963). Tổng giám mục Thục cho mời viên đại biểu chính phủ tại Trung nguyên Trung phần là Hồ Đắc Khương đến Tòa tổng giám mục Huế khiển trách là tại sao tòa đại biểu chính phủ lại để tín đồ Phật giáo treo cờ ngoài đường, trái với quy định của chính phủ vì quy định nầy chỉ cho phép treo cờ trong khuôn viên của chùa mà thôi.

Hồ Đắc Khương gởi khẩn điện về Sài Gòn xin ý kiến. Điện văn trả lời của phủ tổng thống “xác nhận rằng nghị định cấm treo cờ tôn giáo hay đảng phái bên ngoài khuôn viên và trụ sở vẫn còn giá trị”. Dựa vào công điện nầy, Hồ Đắc Khương “ra lệnh cho chính quyền địa phương tại miền Trung phải triệt hạ cờ Phật giáo”.(CVL, sđd. tr 229.) Từ đó, bùng nổ cuộc phản đối.

Tối Phật đản 8-5-1963, khi dân chúng tụ tập ở Đài phát thanh Huế để theo dõi buổi tường thuật Lễ Phật đản ngày hôm đó, một tiếng nổ bùng lên, làm thiệt mạng 8 người và bị thương 15 người. Tin tức về vụ nổ được lan truyền nhanh chóng. Người ta không biết đích xác ai gây ra vụ nổ. Chính quyền đổ lỗi cho khủng bố Việt Cộng. Dân chúng đổ lỗi cho chính quyền Huế ném chất nổ để giải tán đồng bào Phật tử.(6) Dù ai gây ra vụ nổ, vụ nổ đã làm cho 8 người thiệt mạng. Tức thì, làn sóng phản đối chính quyền càng ngày càng dâng cao và càng trở nên bạo động.

Trước hết, ngày 9-5-1963, tại Sài Gòn, Ủy Ban Liên Phái bảo Vệ Phật Giáo được thành lập, do thượng thọa Thích Tâm Châu làm chủ tịch, Mai Thọ Truyền làm tổng thư ký, văn phòng đặt tại chùa Xá Lợi, trên đường Bà Huyện Thanh Quan. Ủy ban gồm 11 hội đoàn Phật giáo.

Sau lễ Phật đản, Hồ Đắc Khương, đại biểu chính phủ ở Trung nguyên Trung phần bị thay thế ngày 1-6-1963. Người được bổ nhiệm đến thay là Nguyễn Xuân Khương, nguyên tổng giám đốc Điền địa. Nguyễn Văn Đẳng tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên, cùng thiếu tá Đặng Sĩ, phó tỉnh trưởng nội an tỉnh Thừa Thiên, bị triệu về đợi lệnh tại bộ Nội vụ ở Sài Gòn. (Đoàn Thêm, sđd. tr.349.) Một quan chức khác cũng bị thay thế là thiếu tướng Lê Văn Nghiêm, tư lệnh quân đoàn I, được thay ngày 16-9-1963 bằng một đại tá mới thăng thiếu tướng là Đỗ Cao Trí. Trong khi đó, Ngày 4-6-1963, tổng thống Diệm thành lập Ủy ban Liên bộ của chính phủ để nghiên cứu những yêu cầu của Phật giáo, do phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đứng đầu.

Ngày 11-6-1963, tại thủ đô Sài Gòn, thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu ở ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt, để phản đối chính phủ. Hình ảnh Thích Quảng Đức tự thiêu trong ngọn lửa bập bùng làm rúng động toàn thể dân chúng Việt Nam và dân chúng thế giới. Sau các cuộc họp giữa Uỷ ban Liên bộ của chính phủ và phái đoàn Uỷ ban Liên phái Phật giáo do thượng tọa Thích Thiện Minh cầm đầu từ 14-6 đến 16-6-1963 , chính phủ Diệm nhượng bộ, đồng ý để Phật tử tự do treo cờ và tạm ngưng áp dụng sắc dụ số 10 ngày 6-8-1950.

Ngày 9 và 29-7-1963, bộ Nội vụ liên tiếp ra hai nghị định công nhận cờ Phật giáo và việc treo cờ Phật giáo. Tuy nhiên, một mặt những cuộc tập họp về phía Phật giáo ở Sài Gòn và ở các địa phương chẳng những bị cản trở, mà một số tín đồ còn bị bắt, một mặt chính phủ tổ chức những hội đoàn thân chính phủ, lên tiếng phản đối Phật giáo. Vì vậy, mâu thuẫn giữa hai bên vẫn chưa được giải quyết. Chắc chắn mâu thuẫn nầy còn bị Việt Cộng lợi dụng nhằm đào sâu hố chia rẽ giữa chính quyền với dân chúng, và giữa các tôn giáo với nhau.

Ngày 1-8-1963, trả lời phỏng vấn của đài CBS (Columbia Broadcasting System, Hoa Kỳ), bà Ngô Đình Nhu tố cáo các lãnh tụ Phật giáo đang mưu toan lật đổ chính phủ và tự thiêu chỉ là việc “nướng thịt sư” (barbecue a bonze).(CĐ, nb I-C, sđd. tr. 312.) Tiếp theo đó, ngày 3-8-1963, khi phát biểu tại lễ mãn khóa huấn luyện bán quân sự của đoàn Thanh Nữ Cộng Hòa, bà Nhu lên án những vụ tranh đấu về tôn giáo. Lời lẽ của bà Nhu được thân phụ bà là Trần Văn Chương, đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, gọi là “thiếu lễ độ” đối với Phật giáo. (Đoàn Thêm, tr. 357.)
 
Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu – Bà Ngô Đình Nhucho đó chỉ là “nướng thịt sư

Những ý kiến như trên chẳng những làm cho mối liên lạc giữa chính phủ Diệm với tín đồ Phật giáo càng thêm xấu đi, mà còn làm cho cả những người dân bình thường cũng bất bình với chế độ. Sau ý kiến của bà Nhu, trong tháng 8-1963, liên tiếp xảy ra nhiều cuộc phản đối chính phủ, trong đó quan trọng nhất là các vụ tư thiêu của các tăng ni Phật giáo.

Ngày 4-8-1963, tại Phan Thiết (Bình Thuận), đại đức Thích Nguyên Hương, thế danh là Huỳnh Văn Lễ, tự thiêu trước dinh tỉnh trưởng. Khuya 12-8, tại chùa Xá Lợi ở Sài Gòn, nữ sinh Mai Tuyết An, 18 tuổi cầm dao chặt bàn tay trái để phản đối bà Ngô Đình Nhu; máu ra nhiều nhưng tay không đứt. Ngày 13-8-1963, đại đức Thích Thanh Tuệ, thế danh là Bùi Huy Chương, tự thiêu tại chùa Phước Duyên, Hương Trà, Thừa Thiên. Ngày 15-8-1963, ni sư Thích Nữ Diệu Quang, thế danh là Nguyễn Thị Thu, tự thiêu tại Ninh Hòa (Khánh Hòa). Ngày 16-8-1963, thượng tọa Thích Tiêu Diêu, thế danh Đoàn Mễ, tự thiêu ở chùa Từ Đàm, Huế.


Cũng trong ngày 16-8-1963, tại Huế, theo lệnh của tổng thống Diệm, linh mục Cao Văn Luận, viện trưởng viện Đại học Huế, bị giải nhiệm và giáo sư Trần Hữu Thế được cử lên thay.(CVL, tr. 261-263.) Sự thay đổi nầy khiến cho nhiều khoa trưởng và giáo sư đại học từ chức, và giới sinh viên phẫn nộ mạnh mẽ.


Dầu càng ngày dân chúng càng phản đối và tình hình xã hội càng ngày càng xáo trộn, chính phủ Diệm vẫn không nhượng bộ.(7) Ngày 18-8-1963, mười tướng lãnh cao cấp đề nghị với chính phủ là nên ban hành thiết quân luật, để tái lập trật tự. Dựa vào đề nghị đó, tổng thống Diệm liền quyết định thiết quân luật trên toàn quốc kể từ 0 giờ sáng 21-8-1963. Quyết định nầy do quyền tổng tham mưu trưởng Quân đội VNCH, trung tướng Trần Văn Đôn, ký tên.


Điều quan trọng trong vụ thiết quân luật nầy là khoảng nửa giờ sau khi được ban hành, nghĩa là qua sáng 21-8-1963, chính phủ ra lệnh cho ruồng bố chùa chiền trên toàn quốc, bắt hết các tăng ni lãnh tụ tranh đấu chống chính phủ. Riêng tại Sài Gòn, Lực Lượng Đặc Biệt tấn công chùa Xá Lợi trên đường Bà Huyện Thanh Quan. Các lãnh tụ Phật giáo đều bị bắt, trừ vài người trốn thoát. Thượng tọa Thích Trí Quang cũng bị bắt, nhưng sau đó ông trốn được vào Tòa đại sứ Hoa Kỳ ngày 23-8-1963.(8) Tân đại sứ Henry Cabot Lodge vừa đến Sài Gòn ngày 22-8-1963.

Sau vụ tấn công chùa, tình hình càng thêm rối loạn. Ngày 21-8-1963, Trần Văn Chương đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ bị chính phủ Diệm bãi nhiệm và ngược lại Trần Văn Chương tuyên bố từ chức. Bà Trần Văn Chương tên thật là Thân Thị Nam Trân từ chức quan sát Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc. Chiều ngày 22-8-1963, tại Sài Gòn, Vũ Văn Mẫu từ chức ngoại trưởng.

Lúc đó, bản tin đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA = Voice of America) loan báo rằng quân đội đã tấn công chùa, nên trung tướng Trần Văn Đôn cho mời trung tá Lucien Conein, nhân viên CIA, đến gặp. Lúc đó trên danh nghĩa chính thức, Lucien Conein là cố vấn bộ Nội vụ VNCH. Trong cuộc nói chuyện với Conein vào tối 23-8-1963 tại bộ TTM, tướng Đôn cho biết rằng quân đội không tham gia vào việc đánh phá các chùa mà chính là Cảnh sát đặc biệt của chính phủ. Khi Conein hỏi “Các tướng lãnh Việt Nam có ý định đảo chánh không?”, thì tướng Đôn dè dặt trả lời “sẽ nói chuyện sau”.(9) Từ đó, Conein thường liên lạc và dò hỏi các tướng lãnh Việt Nam.

Ngày 24-8-1963, tổng thống Diệm cử Trương Công Cừu làm bộ trưởng Ngoại giao thay Vũ Văn Mẫu và cũng trong ngày nầy, chính phủ ra lệnh đóng cửa các trường học ở Sài Gòn, nhưng sinh viên học sinh vẫn tiếp tục phản đối chính phủ. (Các trường học mở cửa lại ngày 4-9-1963.) Ngày 25-8-1963, khoảng 300 sinh viên học sinh biểu tình tại công trường Diên Hồng, trước chợ Bến Thành. Đoàn biểu tình bị đàn áp, một nữ sinh tên là Quách Thị Trang bị bắn chết. Quách Thi Trang, pháp danh Diệu Nghiêm, khoảng 15 tuổi, nữ sinh tư thục Trường Sơn (Sài Gòn).

Cũng trước chợ Bến Thành, ngày 5-10-1963, đại đức Thích Quảng Hương, thế danh Nguyễn Ngọc Kỳ, tự thiêu để phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo của chính phủ Diệm, theo như huyết thư mà đại đức để lại. Sau Thích Quảng Hương, đại đức Thích Thiện Mỹ, thế danh Hoàng Miều (1940-1963), tự thiêu trước nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn.

Trên thế giới, ngày 9-8-1963, Cambodia, Ceylon (sau đổi thành Sri Lanka), Nepal đưa vấn đề Phật giáo Việt Nam ra trước Liên Hiệp Quốc (LHQ). Đại hội đồng LHQ ngày 8-10-1963 quyết định gởi một phái đoàn điều tra đến Việt Nam. Phái đoàn LHQ đến Sài Gòn ngày 24-10-1963. Hôm sau, phái đoàn đến gặp tổng thống Diệm và tổ chức họp báo. (Đoàn Thêm, sđd. tr. 364) Phái đoàn chưa hoàn tất công việc điều tra, thì chính phủ Diệm sụp đổ ngày 1-11-1963.

3.- VAI TRÒ CỦA NGƯỜI HOA KỲ

Không riêng Hoa Kỳ, tất cả các nước bỏ tiền ra viện trợ, đều muốn công cuộc viện trợ đạt hiệu quả và nhất là muốn dựa trên viện trợ để can thiệp vào công việc nội bộ của nước nhận viện trợ; hướng dẫn hoặc điều khiển đường lối của nước đó theo chủ trương của nước viện trợ. Ngược lại, những nước nhận viện trợ luôn luôn muốn duy trì chủ quyền quốc gia đối với các nước viện trợ, chống lại sự can thiệp của nước chủ viện.

Tình trạng giữa Hoa Kỳ và VNCH cũng vậy. Hoa Kỳ viện trợ cho VNCH để chống cộng, nhưng không phải chống cộng theo đường lối VNCH, mà là chống cộng theo đường lối Hoa Kỳ. Hoa Kỳ là một cường quốc trên thế giới và Hoa Kỳ muốn giữ thăng bằng ngoại giao với tất cả các nước. Người Hoa Kỳ nổi tiếng thực dụng, nên chính phủ Hoa Kỳ cũng phải thực dụng theo quyền lợi của tư bản Hoa Kỳ, mới có thể được tái cử. Từ đó, giữa chính phủ Hoa Kỳ và chính phủ VNCH xảy ra những mâu thuẫn trong cách thức tiến hành viện trợ và chống cộng.

Một điểm cần chú ý là dầu Hoa Kỳ viện trợ cho VNCH, nhưng trong nội bộ chính phủ Hoa Kỳ, không phải ai cũng đều ủng hộ tổng thống Diệm. Những người Mỹ ủng hộ ông Diệm cho rằng chính phủ Diệm chống cộng hữu hiệu, hoặc chưa tìm ra được một người khác có khả năng hơn ông Diệm để thay thế. Những người Mỹ chống ông Diệm cho rằng chính phủ Diệm tham nhũng, đàn áp đối lập, không chống cộng hữu hiệu. Một điều quan trọng hơn cả đối với người Mỹ, nhưng người Mỹ tránh nói công khai, là ông Diệm không dễ dàng tuân theo đường lối của Mỹ, và ông Diệm bảo vệ chủ quyền quốc gia khá cứng rắn, đến độ bảo thủ.

Sau khi lên cầm quyền vào tháng 1-1961, tổng thống John F. Kennedy gởi phó tổng thống Lyndon Johnson sang Việt Nam ngày 11-5-1961. Trong cuộc hội kiến với phó tổng thống Mỹ, tổng thống Diệm tuyên bố không chấp nhận việc Mỹ gởi quân chiến đấu đến Việt Nam, mà chỉ yêu cầu Mỹ gởi cố vấn sang huấn luyện mà thôi. (Chính Đạo, sđd. I-C, tt. 223-224.) Sau đó, trong một cuộc tiếp kiến đại sứ Frederick Nolting (đại sứ từ 10-5-1961), khi Nolting đề nghị để cho Hoa Kỳ chia sẻ những quyết định về chính trị, quân sự và kinh tế, tổng thống Diệm trả lời rằng “chúng tôi không muốn trở thành một xứ bảo hộ của Hoa Kỳ ”.(10)
Có tài liệu cho rằng từ năm 1961, Hoa Kỳ muốn thành lập căn cứ không quân và hải quân tại Cam Ranh, nhưng tổng thống Diệm không chấp thuận.(11) Quả thật, cho đến năm 1964, sau khi tổng thống Diệm bị sát hại, thì Đệ thất hạm đội của Hoa Kỳ mới đưa được một vài đơn vị vào tiền thám tại đây, và từ 1965 Hoa Kỳ chính thức thành lập căn cứ Hải quân. Lúc đó, căn cứ nầy kiểm soát hoạt động toàn vùng biển Việt Nam và Đông Nam Á.

Tại Hoa Kỳ, khi còn tại chức, tổng thống Dwight Eisenhower chủ trương ủng hộ chính phủ hoàng gia Lào, đánh dẹp Pathet Lào, chận đứng các cuộc nổi dậy của cộng sản. Lên thay Eisenhower, Kennedy thay luôn chính sách về Lào. Kennedy giao cho Averell Harriman, mưu tìm một giải pháp chính trị để giải quyết chiến tranh ở Lào. Harriman là phụ tá ngoại trưởng đặc trách Viễn đông (Assistant Secretary of State for Far Eastern Affairs) từ tháng 1 đến tháng 11-1961, và trở thành thứ trưởng Ngoại giao đặc trách về chính trị (Under Secretary of State for Political Affairs). Harriman vận động triệu tập hội nghị quốc tế tại Genève nhằm trung lập hóa nước Lào.(12) Hội nghị bắt đầu từ 16-5-1961 đến 23-7-1962, đưa đến hiệp định công nhận Lào là một nước độc lập và trung lập, do hoàng thân Souvanna Phouma làm thủ tướng.

Hiệp định trung lập nước Lào bị chính phủ Diệm phản đối, vì chính phủ Diệm lo ngại rằng Lào sẽ không đủ khả năng tự bảo vệ biên giới chống lại sự xâm nhập của cộng sản Việt Nam, tạo cơ hội cho quân Bắc Việt vào đất Lào, để rồi theo đường Trường Sơn, xuống quấy phá Nam Việt. Lúc đầu, tổng thống Diệm không chịu ký vào bản hiệp định trung lập hóa nước Lào. Điều nầy làm cho Harriman tức giận và căm ghét tổng thống Diệm. Tổng thống Kennedy liền gởi thư cho tổng thống Diệm, bảo đảm rằng Hoa Kỳ sẽ không trung lập hóa Nam Việt, và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ cho Nam Việt, để chống cộng sản. Do áp lực từ phía Hoa Kỳ, tổng thống Diệm đành nhượng bộ, chấp nhận cho ngoại trưởng VNCH ký vào hiệp định nầy. (Mark Moyar, tt. 163-164.)

Bên cạnh đó, từ giữa năm 1962, chính phủ Hoa Kỳ khá bận tâm về các nguồn tin cho rằng chính phủ Diệm đang ngầm liên lạc với nhà nước cộng sản Hà Nội. Sự việc nầy bắt đầu vào mùa hè năm 1962, khi cố vấn Ngô Đình Nhu cầm đầu phái đoàn Việt Nam qua Maroc (Morocco), thăm xã giao nước nầy. Tại đây, ông Nhu gặp Antoine Pinay, lúc đó làm bộ trưởng Phủ tổng thống Pháp. Pinay đề nghị một cuộc gặp gỡ cấp cao giữa Hà Nội và Sài Gòn để bàn chuyện hiệp thương Nam Bắc. Về lại Việt Nam, Ngô Đình Nhu mượn cớ đi săn cọp, đã bí mật gặp tại Bình Tuy một nhân vật cao cấp của cộng sản là Phạm Hùng, ủy viên Bộ chính trị đảng Lao Đông.(13)

Từ tháng 8-1962, Joseph A. Mendenhall, cố vấn chính trị Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, đã đề nghị loại bỏ tổng thống Diệm, vợ chồng Ngô Đình Nhu và những người trong gia đình ông Diệm, bằng một số nhân vật khác, vì các ông Diệm Nhu không chịu thay đổi lề lối làm việc dù bị Hoa Kỳ áp lực. (Chính Đạo, nb. I-C, sđd. tt. 256-257.) Lề lối làm việc ở đây có nghĩa là chủ trương chính sách của tổng thống VNCH. Như thế, có nghĩa là người Hoa Kỳ có ý định loại bỏ tổng thống Diệm trước khi xảy ra biến cố Phật giáo vào tháng 5-1963.
Vào dịp Tết Quý mão (25-1-1963), chủ tịch Bắc Việt là Hồ Chí Minh gởi một cành đào tặng tổng thống Nam Việt là Ngô Đình Diệm. Cành đào nầy được trưng bày trong Phòng khánh tiết Dinh Độc Lập và trên cành đào có danh thiếp chúc Tết của Hồ Chí Minh.(14)

Sau khi được đề cử làm ngoại trưởng ngày 24-8-1963, Trương Công Cừu mở cuộc tiếp tân đầu tiên ngày 25-8-1963 nhằm ra mắt ngoại giao đoàn tại Sài Gòn, đồng thời đón tiếp tân đại sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge. Trong buổi tiếp tân nầy, cố vấn Ngô Đình Nhu lần thứ nhất gặp Mieczylslaw Maneli, trưởng đoàn Ba Lan (Poland) trong Ủy ban Quốc tế Kiểm soát Đình chiến. Ngô Đình Nhu còn gặp Maneli lần thứ hai tại dinh Gia Long ngày 2-9-1963 bàn việc liên lạc với Hà Nội. (Chính Đạo, sđd. tr. 325 và tr. 339.)

Chắc chắn tình báo Mỹ không bỏ sót chuyện Ngô Đình Nhu liên lạc với cộng sản và chuyện cành đào Hà Nội ở Dinh Độc Lập trong dịp Tết năm 1963. Để nắm vững tình hình, cuối tháng 9-1963, tổng thống Kennedy gởi bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara cùng tướng Maxwell Taylor qua Sài Gòn. Ngày 29-9-1963, hai ông gặp tổng thống Diệm. McNamara nói thẳng với tổng thống Diệm rằng việc đàn áp Phật tử gây trở ngại cho nỗ lực chống cộng và phàn nàn về những tuyên bố của bà Ngô Đình Nhu. Tổng thống Diệm tránh các vấn đề do McNamara đưa ra.

Trong khi đó, báo chí Hoa Kỳ liên tục chỉ trích chính phủ Diệm, nhất là từ sau biến cố Phật giáo ở Huế (tháng 5-1963) và sau vụ chính phủ Diệm ra lệnh tấn công các chùa (tháng 8-1963). Dư luận Hoa Kỳ cho rằng tổng thống Diệm chủ trương độc tài gia đình trị, càng ngày càng mất lòng dân, càng ngày càng kém hữu hiệu trong việc điều hành đất nước và chống lại du kích cộng sản.(Chính Đạo, nb. I-C, sđd. tt. 357-361.)

Năm 1963 là năm trước của năm bầu cử tổng thống Hoa Kỳ (1964). Dư luận báo chí Hoa Kỳ năm 1963 rất quan trọng, có thể ảnh hưởng đến kết quả bầu cử trong năm sau (1964). Tổng thống Kennedy lo ngại tình hình Việt Nam ảnh hưởng xấu đến cuộc tái tranh cử của ông vào năm 1964.

Vì tất cả những lý do trên, chính phủ Kennedy muốn tìm một giải pháp mới, nhằm thay đổi tình hình tại ViệtNam theo chiều hướng có lợi cho Hoa Kỳ, và có lợi cho sự tái tranh cử của Kennedy.

4.- MẬT ĐIỆN SỐ 243 NGÀY THỨ BẢY 24-8-1963

Theo Trần Văn Đôn, nhóm đảo chánh của các ông không cho người Mỹ biết về dự tính đảo chánh. (TVĐ, sđd. tr. 209.) Tuy nhiên, người Mỹ chẳng những biết việc nầy, mà còn yểm trợ việc nầy, vì cũng Trần Văn Đôn kể rằng nhóm các ông kết nạp được Trần Thiện Khiêm vào tổ chức đảo chánh là nhờ người Mỹ. (TVĐ, sđd. tr. 193.) Như thế nghĩa là người Hoa Kỳ giữ một vai trò quan trọng trong việc đứng làm trung gian liên kết nhân sự cho nhóm dự tính đảo chánh.

Thật ra, như đã trình bày ở trên, người Hoa Kỳ đã nghĩ đến việc thay đổi nhà lãnh đạo VNCH từ hơn một năm trước qua đề nghị của Joseph Mendenhall, cố vấn chính trị Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, trong phiếu trình đề ngày 16-8-1962.

Sau biến cố Phật giáo ngày 8-5-1963 ở Huế, người đứng đầu Nhóm nghiên cứu Việt Nam thuộc Tòa đại sứ Hoa Kỳ, Ben Wood, soạn một kế hoạch khẩn cấp ngày 23-5-1963 về các cách thay đổi chính phủ Diệm. Sau khi Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngày 11-6-1963, bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ thị ngày 14-6-1963 cho Tòa đại sứ Sài Gòn xúc tiến kế hoạch thay tổng thống Diệm.

Ngày 27- 6-1963, tổng thống Kennedy công bố quyết định thay đổi đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam. Thay đổi đại sứ trong lúc tình hình căng thẳng là dấu hiệu thay đổi chính sách, nhưng để yên lòng chính phủ Việt Nam, bộ Ngoại giao Hoa Kỳ yêu cầu tòa đại sứ tại Sài Gòn cho tổng thống Diệm biết rằng chính sách của Hoa Kỳ không thay đổi, tiếp tục ủng hộ chính phủ Việt Nam chống cộng sản. (Chính Đạo, nb. I-C, sđd. tr. 302.) Tiếp tục ủng hộ công cuộc chống cộng của Việt Nam, không có nghĩa là ủng hộ cá nhân người điều hành chính phủ.

Ngày 22-8-1963, tân đại sứ Henry Cabot Lodge đến Sài Gòn và trình uỷ nhiệm thư ngày 26-8-1963. Trước đó hai ngày, 24-8-1963, Lodge gởi về Washington DC một điện văn báo cáo rằng ông Nhu là người ra lệnh tấn công chùa và nói về dự tính đảo chánh của một số tướng lãnh.

Ngày 24-8-1963 là thứ Bảy, tổng thống Kennedy, bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk, bộ trưởng Quốc phòng MacNamara, giám đốc CIA McCone đều đi nghỉ cuối tuần. Thứ trưởng Ngoại giao George Ball, xử lý thường vụ ngoại trưởng, cùng Harriman (thứ trưởng Ngoại giao), Hilsman (phụ tá ngoại trưởng), Forrestal (phụ tá tổng thống) đồng soạn và ký tên mật điện 243 gởi cho Tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn cùng trong ngày 24-8-1963, rồi chuyển cho tổng thống Kennedy và ngoại trưởng Rusk. Hai ông nầy đồng ý cho gởi đi. Nội dung đoạn cuối điện văn rất quan trọng, được dịch như sau:

Chính phủ Hoa kỳ không thể dung dưỡng tình trạng mà quyền hành lại nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải loại bỏ ông Nhu và các thuộc hạ của ông để thay vào đó bằng quân đội tinh nhuệ và các chính trị gia có tư cách.
Nếu ông [tức đại sứ Lodge] cố gắng hết sức, nhưng ông Diệm vẫn ngoan cố và từ chối thì chúng ta phải đối đầu với một điều có thể xảy ra, là ngay cả bản thân ông Diệm cũng không thể tồn tại được.”(15)

Bức mật điện số 243 ngày 24-8-1963 trên đây của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ thị cho tân đại sứ Cabot Lodge yêu cầu tổng thống Diệm phải loại bỏ cố vấn Nhu. (Đây là điều mà người Mỹ biết ông Diệm không bao giờ chịu làm.) Nếu ông Diệm không chấp thuận, thì loại bỏ luôn ông Diệm. Nói cách khác, bức mật điện nầy ngầm cho phép đại sứ Lodge, nếu cần, có thể tiến hành đảo chánh, lật đổ tổng thống Diệm. Cần chú ý: Averell Harriman, người chủ trương trung lập hóa Lào, bị tổng thống Diệm phản đối, là một trong bốn người soạn bản mật điện 243. Harriman rất căm ghét tổng thống Diệm. Phải chăng đây là dịp Harriman kiếm cách trả thù, vì bản mật điện nầy có thể xem là tờ khai tử chế độ tổng thống Ngô Đình Diệm?

KẾT LUẬN


Trong công cuộc cai trị, về đối nội, chính phủ Diệm chủ trương tập trung quyền lực, bị lên án là độc tài gia đình trị. Chính phủ Diệm lại áp dụng một cách cứng rắn luật số 10 năm 1950 từ thời chính phủ Trần Văn Hữu, không công bằng giữa các tôn giáo. Trong di chúc để lại cho con là vua Minh Mạng năm 1819, vua Gia Long đã dặn: “Không được ngược đãi tôn giáo, vì đó là nguyên nhân gây rối loạn và đôi khi làm mất nước.”(16)

Dầu chế độ Ngô ĐìnhDiệm chưa đến mức ngược đãi tôn giáo, nhưng việc thi hành một cách cứng rắn dụ số 10 đã làm bùng lên cuộc đấu tranh của giới Phật giáo, là thành phần chiếm đại đa số dân chúng Việt Nam. Lúc đó, chắc chắn có nhiều thành phần từ nhiều phía lợi dụng cuộc phản đối của Phật giáo để phá rối chính phủ Diệm và phá rối VNCH. Trong khi đó, dù tổng thống Diệm và chính phủ tỏ thiện chí để giải quyết khủng hoảng, thì vẫn có một số người trong chính quyền thiếu sáng suốt, gây thêm nhiều chia rẽ giữa chính phủ và dân chúng, như những lời tuyên bố của bà Ngô Đình Nhu. Cứ thế mâu thuẫn giữa hai bên càng ngày càng gay gắt thêm.

Về đối ngoại, chính phủ Diệm chủ trương độc lập với người Mỹ, trong khi người Mỹ muốn kiểm soát chính phủ VNCH. Hai ông Diệm và Nhu lại có sáng kiến ngoại giao trực tiếp với Bắc Việt để giải quyết chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc với nhau, chẳng những làm cho dư luận Việt hoang mang, mà còn làm cho chính phủ Mỹ nghi ngờ và bất bình, vì người Mỹ bị hai ông đặt ra ngoài cuộc thương thuyết.
Người Mỹ không quan tâm đến quyền lợi của người Việt mà chỉ lo lắng cho quyền lợi của Mỹ. Vấn đề Phật giáo và đối lập chính trị tại Việt Nam chỉ quan trọng đối với người Việt, chứ không quan trọng đối với người Mỹ. Người Mỹ dựa vào những vấn đề nầy, xúi giục và yểm trợ các tướng lãnh đảo chánh lật đổ ông Diệm, vì quyền lợi của Mỹ và vì việc tái tranh cử của Kennedy mà thôi. Sự tiếp tay của Tòa đại sứ Mỹ và của đại sứ Henry Cabot Lodge đã góp phần quyết định trong sự thành công của cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963. (Trích: Việt sử đại cương tập 6.)

TRẦN GIA PHỤNG



CHÚ THÍCH
1. Hai câu của cuộc trưng cầu dân ý chỉ hỏi truất phế hay không truất phế Bảo Đại và chấp thuận hay không chấp thuận Ngô Đình Diệm làm quốc trưởng để đặt nền móng dân chủ, chứ không nói đến việc thành lập nền Cộng hòa và nhất là không nói đến việc chọn Ngô Đình Diệm làm tổng thống.
2. Nhiều tác giả, Nhất Linh, Người nghệ sĩ-Người chiến sĩ, California: Nxb. Thế Kỷ, 2004, tr. 125.
3. Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua: Việc từng ngày (1945-1964), Sài Gòn 1966, Xuân Thu California, tái bản không đề năm, tr. 75.(Viết tắt: Đoàn Thêm, sđd. tr.)
4. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975 (Tập I-C: 1955-1963), Nxb. Văn Hoá, Houston, 2000, tr. 278. (Viết tắt: Chính Đạo, I-C, sđd. tr.)
5. Linh mục Cao Văn Luận, Bên giòng lịch sử Việt Nam, 1940-1975, Sacramento: TANTU Research, 1983, tr. 224, tr. 229. Cần chú ý các điểm: Cao Văn Luận là người đồng đạo với Ngô Đình Thục và Ngô Đình Diệm. Lúc đó LM Cao Văn Luận đang làm viện trưởng Viện Đại học Huế. Vì là linh mục và là viện trưởng Viện Đại học, nên LM Cao Văn Luận có điều kiện để tiếp cận các viên chức hành chánh và biết rõ các tin tức về biến cố nầy. (Viết tắt: CVL, sđd. tr.)
6. Chính Đạo, Tôn giáo & chính trị, Phật giáo, 1963-1967, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 25.
7. Có 4 dư luận khác nhau: 1) Dư luận thứ nhất cho rằng thiếu tá Đặng Sĩ, phó tỉnh trưởng nội an, ra lệnh cho lực lượng dưới quyền ném chất nổ để giải tán đồng bào và gây thương vong. 2) Dư luật thứ hai cho rằng Việt cộng lợi dụng sự bất bình của dân chúng, cho nổ lựu đạn gây chết người rồi đổ lỗi cho chính quyền, nhằm đẩy cao lòng bất mãn của dân chúng đối với chính quyền. 3) Một ý kiến khác lúc đó cho rằng cả phía chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lẫn phía du kích cộng sản cũng đều chưa có loại võ khí gây nổ nầy, nhưng người ta không biết là của ai? 4) Ý kiến cuối cùng cho rằng người Mỹ liên hệ đến vụ nổ nầy. (dư luận cuối cùng nầy, theo Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức, Những ngày cuối cùng của tổng thống Diệm, San Jose: Nxb. Quang Vinh & Kim Loan & Quang Hiếu, in lần thứ hai, 2003, tt. 221-222.)
8. Theo lời linh mục Cao Văn Luận, sau khi bị giải nhiệm chức viện trưởng Viện Đại học Huế, linh mục vào Sài Gòn và đến gặp giám mục khâm sứ Tòa thánh La Mã tại Việt Nam. Ông được giám mục khâm sứ Tòa thánh La Mã cho biết có lúc ông Diệm theo lời khuyên của Đức giáo hoàng, dự tính bãi bỏ những biện pháp cứng rắn đối với Phật giáo. “Nhưng sau một phiên họp Hội đồng gia tộc thu hẹp không có bà Nhu, ông Cẩn, chỉ có ba người là ông Diệm, ông Nhu và Đức cha Thục, tổng Thống quyết định dùng biện pháp cứng rắn như đã ban hành ngày 21-8-1963.” (trích nguyên văn, L.M. Cao Văn Luận, sđd. tr. 271.)
9. Theo lời thượng tọa Thích Trí Quang, khi chùa Xá Lợi bị tấn công, ông bị bắt cùng với một số tăng ni và bị đưa về đồn Rạch Cát. (Trước 1975, Rạch Cát thuộc quận Bình Chánh, nay thuộc quận Bình Tân, TpHCM.) Khi các tu sĩ Nam tông được thả ra, Thích Trí Quang thay áo một tu sĩ Nam tông, đến chùa Pháp Quang (chùa Nam tông) và thừa cơ hội trốn vào tòa đại sứ Hoa Kỳ lúc đó còn ở trên đường Hàm Nghi. (Theo Thích Trí Quang, “Từ Rạch Cát tới tòa đại sứ”. . (Trích 1-2-2009.)
10. Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng, California: Nxb. Xuân Thu, 1989, tr. 173.(TVĐ, sđd. tr.)
11. Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức, sđd. tr. 532. Tác giả Hoàng Ngọc Thành trích dẫn Richard Reeves, President Kennedy, Profile of Power, New York: Simon & Schuster, 1993, tr. 651.
12. Nguyễn Trân, Công và tội, những sự thật lịch sử, California: Nxb. Xuân Thu, 1992, tr. 478.
13. Mark Moyar, Triumph Forsaken, the Vietnam War, 1954-1965, Cambridge: Cambridge University Press, 2006, tr. 128. (Viết tắt: Mark Moyar, sđd. tr.)
14. Theo lời kể của ông Cao Xuân Vỹ, hiện đang sinh sống tại California với ông Minh Võ. (Minh Võ, “Ba giờ nghe một nhân chứng”, Đàn Chim Việt, ngày 18-07-2007.) Lúc đó, ông Cao Xuân Vỹ là tổng giám đốc Thanh Niên, và là phó tổng thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa. Ngô Đình Nhu là tổng thủ lãnh. Ngoài ra, theo Trần Văn Đôn, sđd. tt.183-184, đầu tháng 2-1963, trung tá Lê Văn Bường, tỉnh trưởng Bình Tuy dùng xe Dodge 4x4 chở Ngô Đình Nhu đến quận Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy. Tới điểm hẹn, ông Nhu một mình gặp Phạm Hùng.
15. Minh Võ, “Hoa đào và máu đào”, điện báo Đàn Chim Việt, ngày 31-10-2007. Trong bài nầy, Minh Võ dẫn chứng tài liệu của Francis X. Winter, The Year of the Hare [Năm con thỏ], Athens: University Georgia Press, 1997, tr. 12.[ Năm Con Thỏ theo người Trung Hoa, tức Năm Con Mèo, ở đây là năm Quý Mão (1963).] Minh Võ còn cho biết thêm hai nhân chứng: 1) Ông Lê Châu Lộc, tùy viên của tổng thống Diệm, hiện sinh sống ở California, kể lại rằng tự tay ông Lộc đã nhận cành đào đó từ trụ sở Uỷ Hội Quốc tế Kiểm Soát Đình Chiến (ICC). 2) Ông Quách Tòng Đức, đổng lý văn phòng Phủ tổng thống đã xác nhận việc cành đào trong cuộc phỏng vấn của ông Lâm Lễ Trinh, đăng nhiều báo ở Mỹ.
16. Xin xem bản dịch điện văn phía dưới.
17. Adrien Launay, Histoire de la Mission de Cochinchine 1658-1823, Documents historiques, volume III, Paris: Librairie Orientale et Américaine, Maisonneuve Frères, Éditeurs, 1925, tr. 436.
18. BẢN DỊCH ĐIỆN VĂN SỐ 243 NGÀY 24-8-1963
"Bộ Ngoại Giao gởi Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn để thi hành ngay lập tức.
Tối Mật. Không được phép phổ biến.

Chỉ đích thân Đại Sứ Lodge mới được phép đọc mà thôi. Đối với CINPAC/POLAD thì chỉ Đô Đốc Felt được phép đọc mà thôi.
Theo CAS Sài Gòn 0265 báo cáo về quan điểm của Tướng Đôn; Saigon 320, Saigon 316, Saigon 329. [Các con số là những ký hiệu mật mã.]
Bây giờ thì rõ là hoặc quân đội đề nghị lệnh thiết quân luật hoặc ông Nhu đã lừa họ. Ông Nhu đã lợi dụng tình trạng đó để tấn công chùa chiền bằng cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung trung thành với ông ta, làm cho nhân dân Việt Nam và thế giới ngỡ lầm rằng quân đội làm. Hơn nữa, cũng thật quá rõ là ông Nhu đã âm mưu sắp đặt ông ta vào vị trí chỉ huy.
Chính phủ Hoa Kỳ không thể dung dưỡng tình trạng mà quyền hành lại nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải loại bỏ ông Nhu và các thuộc hạ của ông để thay vào đó bằng quân đội tinh nhuệ và các chính trị gia có tư cách.
Nếu ông [tức Đại Sứ Lodge] cố gắng hết sức, nhưng ông Diệm vẫn ngoan cố và từ chối thì chúng ta phải đối đầu với một điều có thể xảy ra, là ngay cả bản thân ông Diệm cũng không thể tồn tại được.
Ký tên: Hilsman, Forrestal, Ball, W.Everell Hariman ".


(Trích Internet: "Khui hồ sơ bí mật”, Ngô Kỷ tổng hợp và chuyển ngữ.)