|
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 19 tháng 11, 2015
Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014
ĐỐI
THOẠI, MỘT MẪU THỨC KHOAN DUNG TƯ TƯỞNG
Thích
Thanh Thắng
Đối thoại là một trong
những nguyên tắc khôn ngoan để duy trì hòa hợp và hòa bình. Trong đó, phản biện
đóng vai trò quan trọng nhằm điều chỉnh và bổ túc nhận thức cho mỗi bên trong
quá trình tham dự đối thoại. Truyền thống “vấn đáp” trong đạo Phật là biểu hiện
sinh động của phương thức đối thoại trực tiếp. Đối thoại như vậy nhằm nâng cao
nhận thức trước các vấn đề mà cuộc sống con người đặt ra. Ở đó, sự phản biện
nhằm công bố những nhận thức đa chiều, tác động vào nhận thức đối tượng, tìm
tiếng nói chung trong hoàn cảnh những bất đồng đang được nuỗi dưỡng để trở
thành sự phản đối, phê phán, bài xích, thậm chí là bạo động.
Dân tộc Việt Nam từng tồn tại mô hình “Tam giáo đồng nguyên”. Đó là một di sản
tinh thần có giá trị tư tưởng văn hóa đáng được trở thành giáo khoa trong mọi
quá trình phát triển văn hóa giáo dục. Sự “cùng tồn tại” của Tam giáo nêu bật
giá trị của tương quan và liên đới trách nhiệm. Không có một sự “đồng nguyên”
nào cho thấy nó phải hoàn toàn vắng mặt sự phản biện hay phê phán. Vì chính
phản biện là kênh giao tiếp duy nhất có thể tác động vào tư tưởng người khác,
nhằm cân bằng nhận thức trước sự phong phú đa dạng của các luồng tư tưởng khác
biệt trong xã hội. Thẳng thắn tỏ bày chính kiến luôn luôn có sự tác động hai
chiều, do đó những luận điểm đưa ra cần phải có tính thuyết phục đối với những
đòi hỏi của một mô hình xã hội đang thu hút nhiều nguồn lực, cũng như tập hợp
những phản biện đa chiều.
Các tông phái của đạo Phật ở từng thời điểm,
hoàn cảnh lịch sử cụ thể cũng đậm nhạt chỉ ra những cách thức đối thoại, thậm
chí phê phán ở một mặt bằng nhận thức có độ chênh nhất định khi tiếp thu các
giá trị nền tảng khác nhau để trải nghiệm giáo lý cũng như đề cao các giá trị
văn hoá dân tộc. Và do đó, tuy cùng có một không gian chung là danh xưng đạo
Phật, nhưng cách thức tiếp cận và thực nghiệm tâm linh lại có những khác biệt
trong “sự” và “lý”. Nhưng đó là những khác biệt trong tương quan, liên đới.
Loại trừ sự khác biệt không nằm trong nguyên tắc ứng xử của đối thoại. Và vì
thế, nếu động cơ ban đầu là mục đích “loại trừ” thì không nên đặt ra các giá
trị khác như công lý, hòa bình, lắng nghe… trên bàn đối thoại.
Những cách nghĩ cho rằng đạo Phật là thế này hay
thế khác theo một cách tiếp cận chủ quan nào đó đã khiến cho đạo Phật trở nên
là một hình thức cố định. Chẳng hạn khi nhà nho nhìn nhận ở một góc độ nào đó
nói rằng đạo Phật là dị đoan, thì chính cách nhìn ấy đã phản chiếu vào mọi nội
dung Phật giáo, dẫn đến một lối mòn trong suy nghĩ khi cho rằng tất cả mọi thứ
thuộc về đạo Phật đều là di đoan.
Điều này chúng ta có thể thấy rõ trong cách nhìn
phiến diện và đầy thành kiến của sử nho Ngô Sĩ Liên, mặc dù ông khen ngợi rất
nhiều các vị vua Phật tử là anh minh, nhân hiếu, trí dũng…, song cứ nhắc đến sự
ủng hộ đạo Phật của họ là ông phán ngay rằng “chẳng đáng quý gì”, “lụy cho đức
tốt”... Như vậy những giá trị tương quan đã bị tâm lý bài tha ngăn chặn, từ đó
nảy sinh những định kiến rất khó bỏ. Đạo Phật trong nhận thức của mỗi người một
khác, và đạo Phật trong nhận thức cá nhân ở những thời điểm khác nhau cũng có
những biến chuyển. Đạo Phật có nhiều pháp môn, tông phái nhưng đạo Phật không
phải là tổ chức chính trị, chính vì thế dù sống trong bất cứ môi trường nào đạo
Phật cũng giữ được những giá trị tương quan của mình với thời thế.
Sự khó khăn trong hầu hết những đối thoại đều
đến từ lực cản của nhận thức chủ quan, cảm tính và định kiến. Do đó đối thoại
chỉ trở thành những ứng xử văn hóa có tầm khi nhận thức của những người tham
gia đối thoại đều phải ở một mức độ bao quát và quan sát rộng. Đối thoại vừa
phá vỡ và mừa mở ra nhận thức về một vấn đề. Nên có những lúc, sau đối thoại,
người ta phải trải qua giai đoạn đấu tranh mâu thuẫn để điều chỉnh nhận thức.
Lúc đó, trước những cú “sốc” nhất thời đòi hỏi người ta phải có sự dũng cảm để
chuyển hóa những định kiến, do những tri giác chưa đầy đủ đã lập nên trong các
giai đoạn nhận thức trước đó.
Những khác biệt trong nhận thức là thực tế khách
quan của xã hội, song hầu hết mọi nhận thức đều được những chuẩn lợi ích hướng
dẫn: lợi ích cá nhân, lợi ích gia đình, lợi ích tổ chức và lợi ích dân tộc.
Những lợi ích nào ở tầm rộng lớn thì sẽ được ý thức của con người bảo lưu trong
đời sống ứng xử xã hội và trở nên phổ biến. Lịch sử tư tuởng con người bị tổn
thương bởi chính những tri giác sai lầm khi đóng khung định kiến trong ý thức
loại trừ nhau hay độc tôn tư tưởng bằng nhiều hình thức.
“Tam giáo
đồng nguyên” là một mô hình xã hội được cổ vũ và diễn đạt dưới nhiều hình
thức và nội dung khác nhau. Mô hình này tồn tại có những cơ sở lịch sử xã hội
của bản thân nó. Từ trong lý thuyết, thực tiễn trải nghiệm, hầu hết các tư
tưởng đều gặp nhau ở sự chia sẻ chung trong quá trình đem lại các giá trị và
ích lợi trực tiếp cho con người. Có nghĩa rằng, con người (thiên hạ, lòng dân)
thường được đặt làm trung tâm cho mọi lý giải, nhằm bù đắp những khoảng trống
về đạo đức, văn hóa, lối sống.
Không thể đổ hết lỗi lầm trong đối kháng tư
tưởng cho những nhà cầm quyền dù lúc này hay lúc kia họ gia tăng khoảng cách
qua thái độ lựa chọn và ủng hộ cho một đường lối tư tưởng, tôn giáo nào đó.
Nhưng sẽ là sai lầm, nếu lựa chọn tôn giáo nào đó chỉ nhằm cái mục đích loại
trừ tôn giáo kia. Bởi chính kiến của họ có thể hiện như thế nào thì trước nhất
cũng phải tạo nên những giá trị và ích lợi thực sự trong quá trình tiến tới sự
hòa hợp và quy tụ mọi sức mạnh lớn nhất về với sức mạnh cầm quyền trong ngoại
giao, chính trị, quân sự, tôn giáo, văn hóa, kinh tế...
Sự thống nhất trong hài hòa ích lợi của các tư
tưởng phải căn bản dựa trên lợi ích chung của cả dân tộc, ở đó những giá trị
lịch sử về nòi giống, huyết thống luôn có những sự cố kết chặt chẽ, nhiều khi
chi phối mạnh mẽ vào trong nhận thức, tư tưởng, dần hình thành chủ nghĩa yêu
nước, thương dân. Mọi tư tưởng đều chỉ là ngoại diên của khái niệm đồng bào,
lòng dân... Đây chính là lý do, mô hình “Tam giáo đồng nguyên” không bao giờ
chỉ do một tư tưởng khởi xướng, độc thoại... Muốn có mô hình “Tam giáo đồng
nguyên” thì phải có những con người “Tam giáo”. Vậy những yếu tố “đồng dị” nào
để người ta có thể thống nhất được với nhau mà phân chia trách nhiệm vai trò
trong xã hội?
Muốn có những con người tam giáo thì trước hết, nền
giáo dục nước nhà phải là nền giáo dục “Tam giáo”. Cuộc thi Tam giáo lần đầu
tiên được vua Lý Cao Tông tổ chức vào năm 1195, nhằm tuyển dụng những con người
có ích cho đất nước. Năm 1247, Trần Thái Tông, vị vua mở đầu triều Trần cũng
cho mở cuộc thi Tam giáo. Vua Trần Thái Tông phát biểu rất rõ: “Nào biết bồ
đề, giác tính ai nấy viên thành; hay đâu trí tuệ, thiện căn người người đều đủ.
Chẳng cứ đại ẩn, tiển ẩn; đâu nề tại gia, xuất gia. Chẳng nề tăng tục, chỉ cốt
tỏ lòng; nào kể gái trai, cớ sao nệ tướng? Người chưa hiểu, chia bừa thành tam
giáo, giác ngộ rồi cùng thấu một chữ tâm…” (Rộng khuyên mọi người mở
lòng bồ đề).
Vua Trần Thái Tông còn viết: “Lục tổ có nói: “Bậc
thánh và đại sư đời trước không khác gì nhau”. Như thế đủ biết Đại giáo của Đức
Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời. Thế thì nay lẽ nào trẫm
không coi trách nhiệm của tiên thánh là trách nhiệm của mình, giáo lý của Đức
Phật là giáo lý của mình ư!” (Tựa Thiền tông chỉ nam).
Các giá trị tư tưởng được giáo dục và ứng dụng phổ
biến trong thời đại đó, không chỉ chứng tỏ ý thức trọng hiền tài trong thời Lý
- Trần mà còn mở ra tự do đối thoại từ những tầng lớp sĩ phu ưu tú nhất của dân
tộc. Thời Lý - Trần, Phật giáo làm quốc giáo, nhưng chúng ta may mắn khi có
những vị vua Phật tử sáng suốt, biết đặt lợi ích của dân tộc và tính thiện của
người dân lên trên hết. Chưa tìm thấy bất cứ một văn bản nào thời đại đó nói
lên sự kỳ thị, bài xích các tư tưởng khác nơi các trí thức Phật giáo, vì vốn dĩ
họ hiểu và dung hòa được mọi phương tiện trên con đường minh triết.
Vào thời Trần, có hai nhà nho tiêu biểu là
Trương Hán Siêu và Lê Bá Quát nói về Phật giáo ở những góc nhìn khác nhau.
Lê Bá Quát viết: “Thuyết họa phúc của
nhà Phật tác động tới con người, sao mà được người ta tin theo sâu sắc và bền
vững như thế? Trên từ vương công, dưới đến dân thường, hễ bố thí vào việc nhà
Phật, thì dẫu đến hết tiền của cũng không sẻn tiếc. Nếu ngày nay gửi gắm vào
tháp chùa thì mừng rỡ như nắm được khoán ước để lấy quả báo ngày sau. Cho nên
trong từ kinh thành, ngoài đến châu phủ, cho tới thôn cùng ngõ hẻm, không mệnh
lệnh mà người ta vẫn theo, không thề thốt mà người ta vẫn tin. Chỗ nào có người
ở tất có chùa Phật, bỏ rồi lại xây, hỏng rồi lại sửa, chuông trống lâu đài
chiếm đến nửa phần so với dân cư, đạo Phật hưng thịnh rất dễ mà được rất mực
tôn sùng. Ta thuở trẻ đọc sách, để tâm khảo xét xưa nay, cũng hiểu sơ sơ đạo
của thánh nhân để giáo hoá dân chúng mà rốt cuộc vẫn chưa được một hương tin
theo. Ta thường dạo xem sông núi, vết chân trên khắp nửa thiên hạ, đi tìm những
“Học cung”, “Văn miếu” mà chưa hề thấy một ngôi nào! Đó là điều khiến ta vô
cùng hổ thẹn với bọn tín đồ nhà Phật. Bèn viết ra đây để tỏ lòng ta” (Văn
bia chùa Thiệu Phúc)
Trương Hán Siêu viết: “Tượng giáo đặt ra là
để đạo Phật dùng làm phương tiện tế độ chúng sinh; chính vì muốn khiến cho
những kẻ ngu mà không giác ngộ, mê mà không tỉnh lấy đó làm nơi trở về với
thiện nghiệp. Thế nhưng những kẻ giảo hoạt trong bọn sư sãi lại bỏ mất cái bản
ý “khổ không” của đạo Phật mà chỉ chăm lo chiếm những nơi đất tốt cảnh đẹp, tự
giát vàng nạm ngọc cho chỗ ở của chúng rực rỡ, tô điểm cho môn đồ của chúng
lộng lẫy như voi rồng. Đương thời bọn có quyền thế, bọn ngoại đạo a dua lại đua
đòi hùa theo…” (Văn bia chùa Khai Nghiêm)
Tượng thờ Trương Hán Siêu
ở phường Thanh Bình, thành phố Ninh Bình
Khi Phật giáo đứng ở vai trò được nhà nước đề
cao, thì điều căn bản nhất trong đối thoại của trí thức Phật giáo là lắng nghe
những tiếng nói từ một góc tiếp cận khác. Và họ đã làm được điều đó để viết lên
tinh thần đối thoại có một không hai trong lịch sử dân tộc. Chỉ có những con
người đứng ở tầm cao của đối thoại mới có thể hóa giải những xung đột tư tưởng
đang chứa nhóm và có thể bùng cháy bất cứ lúc nào khi có điều kiện. Đó chính là
bản lĩnh văn hóa mang tầm vóc thời đại được thể hiện qua thực tiễn ứng xử chuẩn
mực, đem lại lợi ích cho một nhà nước đang rất cần sự khẳng định về độc lập và
tự chủ. Thực tế, trí thức Phật giáo lúc đó là những người có đủ thẩm quyền về
học vấn, nhận thức chính trị xã hội để đối diện và phản ứng lại với mọi công
kích nhằm làm giảm uy thế của họ.
Nhưng họ nhận thấy ở Trương Hán Siêu có một khí
khái của người quân tử, khi ông không chống tư tưởng giáo lý của đạo Phật mà
ông chống những người đang thực hành sai những giáo lý ấy. Điều này phù hợp với
nhận thức của những trí thức Phật giáo có tâm huyết với tiền đồ của đạo pháp và
dân tộc. Và trong lời lẽ phê phán của Trương Hán Siêu họ đã nhìn ra những vấn
nạn của người tu hành khi dựa dẫm vào quyền lợi thế tục. Chính vì lẽ đó, họ đã
trân trọng khắc những phát biểu của Trương Hán Siêu vào văn bia, dựng ngay
trước cửa chùa như một bài cảnh tỉnh giới tu hành đã đi sai con đường của Phật
tổ.
Điều này cũng cho thấy, giáo lý của đạo Phật
thực sự đã thấm nhuần trong xã hội, vì vậy họ không bao giờ đánh đồng hình thức
vào nội dung để tìm đến những kết luận vội vã. Nhân cách của Trương Hán Siêu sẽ
không được đề cao nếu ông đi theo vết xe đổ của Thái úy Đàm Dĩ Mông thời Lý khi
công kích vào giáo lý Phật giáo. Nhưng ông đã trở thành người có bản lĩnh văn
hóa khi đề cập đến những vấn đề nhức nhối trong đời sống sinh hoạt Phật giáo
thời thịnh Trần. Chính vì chọn cách tiếp cận thực tiễn đó mà văn bia chùa Khai
Nghiêm đã trở thành biểu tượng của đối thoại văn hóa được diễn ra một cách công
khai, cởi mở trước một lực lượng trí thức Phật giáo hùng hậu trong xã hội.
Lịch sử cũng hơn một lần chỉ ra những mánh khóe
núp dưới hình thức “đối thoại”, “điều trần”, nhằm triệt tiêu tư tưởng, kết nên
bè đảng, gây rối loạn cho xã hội. Đàm Dĩ Mông thời Lý viết “Phán tăng đồ” với
mục đích loại trừ Phật giáo ra khỏi đời sống, nhưng dù có tận dụng mọi cách để
trở thành “người hùng” thì Đàm Dĩ Mông cũng không làm giảm đi hình ảnh của một
con người mọt nước hại dân, bất trung, bất nghĩa qua những ứng xử phơi bày
nhiều toan tính bất ổn.
Nhưng Phật giáo đã không cần phải tìm mọi cách để
ngăn cản những điều mà người khác nói ngược ý mình, nói bất lợi cho mình, làm
giảm uy tín của tôn giáo mình như những phản ứng tự vệ thường tình. Đó là sức
mạnh của sự khoan dung tư tưởng trong đối thoại, đồng thời thể hiện sự dũng cảm
của người phê phán và người tiếp nhận sự phê phán. Chính vì bản lĩnh văn hóa mà
Trương Hán Siêu và một số trí thức Phật giáo đương thời đã là những người mở
đầu cho giai đoạn phản biện xã hội, đối thoại xã hội, và vận dụng đối thoại để
sàng lọc các định kiến tư tưởng. Tinh thần trên là một trong những điều hấp dẫn
không ít nho sĩ đến với những triết lý cao siêu của nhà Phật khi họ từ bỏ chốn
quan trường lui về ở ẩn, dần hình thành trong xã hội cả một xu hướng “cư Nho mộ
Thích”. Bản thân Trương Hán Siêu lúc về cuối đời cũng gần gũi với Phật giáo để
tìm sự bình an trong tâm hồn. Ông viết: “Phù thế như kim biệt, Nhàn danh ngộ
tạc phi” (Từ khi cách xa cõi đời trôi nổi, Được tiếng nhàn mới biết
trước đây mình đã sai - Dục Thúy sơn).
Phát biểu quan trọng của Trần Thái Tông về đạo Phật
và đạo Thánh hiền trên phương diện quốc gia: coi trách nhiệm của bậc tiên thánh
là trách nhiệm của mình, giáo lý của Đức Phật là giáo lý của mình, đã chủ
trương tinh thần “Nho, Phật phân công”. Bởi ở những bối cảnh thực tiễn của lịch
sử, các tư tưởng phải tự điều chỉnh để thích nghi và vận dụng có hiệu quả nhất
những giá trị tư tưởng, văn hóa, tinh thần, tâm linh vào xã hội. Và thực tiễn
lịch sử đã chỉ ra những mặt mạnh yếu khác nhau của từng tư tưởng. Điều này có
tác dụng làm giảm đi nhiệt tình độc tôn tư tưởng và các tham vọng chính trị cực
đoan khác.
Trong thời đại mà sự khẳng định độc lập chủ
quyền và sự phục hưng dân tộc trở nên mạnh mẽ, những phát biểu thẳng thắn luôn
được chấp nhận, đề cao, bởi ít nhiều bộ máy chính quyền đã ý thực rất rõ việc
coi trọng trí thức, hiền tài. Bên cạnh đó, nhân cách “trung dung”, giáo lý
“trung đạo”, đạo của người quân tử xuất xử, hành tàng… đã cân bằng các nguyện
vọng, niềm tin, tri thức phát triển. Và chính mối ưu tư về xã tắc, cộng đồng,
nhiệt huyết lập thân, lập danh đã thôi thúc những con người ở các khuynh hướng
tư tưởng đối lập khác nhau dấn thân nhập thế, cũng như khẳng định mẫu hình nhân
cách cao khiết.
Bản lĩnh văn hóa trong đối thoại được thẳng thắn
bộc lộ thể hiện những dự cảm, trực cảm về nhiều những bất ổn và khiếm khuyết
đang hiện diện trong đời sống xã hội. Đó là “mối tiên ưu” về một tương lai
không xa của dân tộc. Giữ trong nhận thức “mối tiên ưu” ấy sẽ khiến họ nhanh
chóng thoát ra khỏi những ích kỷ bản thân, nhìn ra những điều mà cả xã hội
(trong cơn men say của vinh dự, tự hào nào đó) đã ngủ quên trước những thực
tiễn nhức nhối đang cần chấn chỉnh.
Có thể, sự phát biểu nào đó làm cho thông tin ở
những cấp quan trọng nhất bị chao đảo trong nhận thức. Nhưng giá trị phải được
thực tiễn sàng lọc, nếu không bỏ đi một nhận thức lỗi thời thì không thể thêm
vào một nhận thức phù hợp. “Bất phá bất lập, bất lập bất phá” là phép biện
chứng tự nhiên được khéo léo vận dụng vào trong ứng xử Tam giáo. Tinh thần Phật
giáo không cho phép xa rời sự dũng cảm trong nhận thức và ứng xử: Cái gì chưa
tốt thì nên mạnh dạn chỉnh cho tốt; Cái gì đã xấu thì đừng tiếp tục cho xấu
nữa…
Cảnh báo xã hội chính là những nội dung mà
Trương Hán Siêu đã đưa ra trong một phương tiện thông tin để đời là bia đá.
Cảnh báo ấy không chỉ chuyển tải những nội hàm đối thoại mà cho đến nay vẫn giữ
nguyên giá trị thời đại và thời sự, rằng thanh lọc định kiến và thanh trừng tư
tưởng là hai vấn đề mà người trí thức phải vượt qua trước những động cơ được
thôi thúc từ bên trong. Khi tư duy “giấy trắng mực đen” còn được xem như là xác
suất của “chân lý”, thì những ứng xử văn hóa, đối thoại cũng gắn chặt với điều
này và thường dẫn đến tình trạng ứng phó “xấu
che, tốt khoe”. Vậy mà nghìn năm sau, dù thời thế có thịnh suy đắp đổi thì
cũng không một người Phật tử Việt Nam nào, để bênh vực, biện hộ cho tôn giáo
mình mà phá bỏ những điều Trương Hán Siêu đã viết.
Họ cùng nhau nâng cấp cho trình độ đối thoại
thời đại trong khát vọng hoàn thiện và đi tới. Những sai lầm của lịch sử có lẽ
nào lại không xuất phát từ sự hà khắc, bất dung trong tư tưởng?
Muốn nâng tầm văn hóa nên đi sâu vào trong thực
tại đa chiều của bối cảnh văn hóa. Và trí thức thời đại phải là những người có
khả năng ra vào trong Tam giáo, đôi lúc họ cần can đảm từ bỏ những nhận thức cũ
của mình để trở về với nguyên lý trung đạo hay đạo trung dung. Lịch sử không
cần bào chữa cho thái độ nhiệt tình “ở ẩn” của những người từng gắn bó với xu
hướng tư tưởng nào, vì từ nhiều phía nhận thức, họ đã có một kết luận riêng cho
chính cuộc đời của họ: công thành thân thoái. Nguyễn Trãi nói “Ẩn chẳng rừng sâu là đại ẩn. Chùa nhà tu
Phật mới chân tu”. Đó chính là bản lĩnh văn hóa khi dám nhìn thẳng vào
những sai lầm của bản thân mình.
Tâm linh, tư tưởng, chính trị, tri kiến độc lập,
tự do, tự chủ đều ít nhiều gắn liền với những biểu hiện trữ tình của quê hương,
sông núi. Quê hương là nguồn mạch để tìm về sự dung hòa văn hóa. Vì lẽ đó, mọi
hận thù, mọi hờn trách, mọi thăng trầm trên con đường hoan lộ của thế giới vô
thường, hư ảo, phù trầm… đến một lúc nào đó sẽ thôi thúc sự tiếp cận với nguồn
tri thức ẩn dật để đẩy lên thành một lý thuyết tồn tại cao khiết. Ở đó, quê
hương, nơi chôn nhau cắt rốn trở thành nguồn cội của những ứng xử coi trọng về
nhân nghĩa, tình cảm, tâm linh. Bước chân vào không gian ấy, ai có thể cao ngạo
xướng lên những hư danh giả tạm của bản thân? Thực tiễn thăng trầm của lịch sử
đó đã hóa giải tất cả mọi vẫy vùng tư tưởng, mọi nhiệt tình tranh nhân, tranh
ngã đế một thời điểm nào đó, người trí thức dân tộc tiến tới nhận thức dung hợp
giữa nội tâm và ngoại giới.
Đó cũng là lúc người trí thức đối thoại nhiều
nhất với bản thân mình. Không ít người đã từng xây những pháo đài to lớn về tư
tưởng để thực hiện những cuộc “long trời lở đất” để rồi những sinh linh của dân
tộc lại thất thểu dọc ngang trong trường dạ tối tăm. Nguyễn Trãi chỉ đến cuối
đời mới có thể dũng cảm mà thốt lên: “Ta
dư cửu bị nho quan ngộ” (Bấy lâu ta đã bị cái mũ nhà nho nó chụp làm cho
sai lầm). Cái lý thuyết “nhân nghĩa” được ra rả đề cao từ bên kia biên giới
như một gáo nước lạnh dội vào tận cùng tim óc của ông khi nghịch cảnh “nướng
dân đen vùi con đỏ” không thể bào chữa vẫn còn in đậm trong ý thức lịch
sử.
Lịch sử là một diễn biến có ý thức, nhưng vì sốt
sắng muốn vĩnh cửu những cái vốn dĩ là tương đối, con người đã từng hơn một lần
không ngần ngại xóa sổ sự tương quan, liên đới chỉ vì thành kiến tư tưởng và
độc quyền chân lý. Khoan dung tôn giáo, tư tưởng được tổ tiên ta gây dựng không
đi ra ngoài ý nghĩa của ước vọng thái bình và xây dựng nền độc lập, tự chủ lâu
dài cho dân tộc.
■ Tài liệu tham khảo:
1. Viện Văn học, Thơ
văn Lý - Trần tập II quyển thượng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1989, tr. 748.
2. Đại Việt sử ký
toàn thư tập 2 Bản in Nội các quan bản, Nxb Văn hoá Thông tin,
Hà Nội, 2003, tr. 237.
Thích Thanh Thắng
(Nguồn: Văn Hóa Phật Giáo)
Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2014
CẢM HỨNG
THIỀN TRONG THƠ QUÁCH TẤN
Nguyễn Công Thanh Dung
Quách Tấn là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ Mới, chuyên
sáng tác theo thể thơ Đường luật nhưng lại thể hiện một bút pháp nghệ thuật
mới, diễn đạt những cảm xúc mới. Nếu trong thơ ông trước 1945 không viết về
Thiền về Phật thì sau năm 1954, cảm hứng này lại thể hiện đậm nét trong thơ của
ông. Bài viết bước đầu sẽ tìm hiểu cảm hứng Thiền Phật trong thơ Quách Tấn.
Quách Tấn (1910 - 1992), tự là Đăng Đạo, hiệu Trường Xuyên, còn
có bút hiệu Định Phong, Cổ Bàn Nhân, Thi Nại Thị, Lão Giữ Vườn. Ông là nhà thơ
thời tiền chiến, cùng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan lập nhóm bàn Thành
tứ hữu (Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn) ở Bình Định.
Ông sinh ra tại thôn Trường Định, huyện Bình Khê (nay là xã Bình Hoà, huyện Tây Sơn), tỉnh Bình Định, từ năm 1935 đến cuối đời ông chọn nha trang làm quê hương thứ hai. Quách Tấn Tấn tập làm thơ từ lúc học lớp đệ nhất niên trường Quy nhơn.
Ông sinh ra tại thôn Trường Định, huyện Bình Khê (nay là xã Bình Hoà, huyện Tây Sơn), tỉnh Bình Định, từ năm 1935 đến cuối đời ông chọn nha trang làm quê hương thứ hai. Quách Tấn Tấn tập làm thơ từ lúc học lớp đệ nhất niên trường Quy nhơn.
Lúc ra trường ông đã thông thạo các thể thơ, nhưng chính thức bước vào làng văn thơ từ năm 1932. năm 1933, ông đã có thơ đăng trên an nam tạp chí, Phụ nữ tân văn, Tiếng dân và Tiểu thuyết thứ bảy… Ông từng được nhà thơ Tản Đà khen khi bình bài Đến thăm vườn cũ cảm tác của ông.
Tản Đà viết: nói về bên tình thì rất lâm ly mà nói về bên tài cũng đến thế là hay. Ông là nhà thơ một đời thuỷ chung với thơ cách luật như lại được các nhà thơ mới thời tiến chiến mở cửa đón nhận, được xếp vào ngồi chiếu trên của thi đàn bấy giờ.
Nếu trong thơ của Quách Tấn xuất bản trước năm 1945 như tập một
tấm lòng (1939), mùa cổ điển (1941) thì nhà thơ lại không viết về Thiền, về
Phật mà cảm hứng Thiền Phật được nhà thơ thể hiện nhiều nhất trong những tập
thơ sau này như: Đọng bóng chiều (1965), mộng ngân Sơn (1966), Giọt trăng
(1973).
Cùng thời với Quách Tấn có nhà thơ J.Leiba (Lê Văn Bái) với bài
Bến Giác mang cảm hứng Thiền - Phật và ít nhiều có pha chất Lão - Trang. nhà
thơ xem cuộc đời là hư ảo, là “phù thế”, nên nhà thơ hơi bi quan, muốn xa lánh
cõi đời. Tác giả đã dùng nhiều từ ngữ nhà Phật để diễn đạt ý tưởng trên:
Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá!
Lệ lòng mong cạn chốn am Không.
Cửa Thiền một đóng duyên trần dứt,
Quên hết người quen chốn bụi hồng.
Riêng Quách Tấn, nói như nhà nghiên cứu Trần Phong Giao thì “thơ Quách Tấn càng về sau đã “thấy”, đã
“nhập” vào Thiền, đã “cảm dưỡng hào khí của Thiền tông Việt Nam” [Quách
Giao (sưu tầm) (1994), Quách Tấn qua cái nhìn phê bình văn học, Nxb Trẻ, TP.
Hcm, tr.287-296].
1. Nhìn thiên nhiên qua cảm quan Thiền đạo
Quách Tấn là một phật tử thuần thành, ông thường nghiền ngẫm,
nghiên cứu kinh Phật, nên thơ của ông ít nhiều cũng mang cảm quan triết lý nhà
Phật và mang cả cảm hứng đạo học. Điều này được thể hiện qua những vần thơ viết
về thiên nhiên của ông. Thiên nhiên được nhìn qua cảm quan Thiền đạo.
|
|
|
|
Trong mối quan hệ qua lại giữa thi nhân và thiên nhiên, tính
tương hỗ từ thể xác qua trí tuệ đến tâm linh đã phơi bày một cách tích cực và
không mâu thuẫn. Quách Tấn không chỉ nhìn ngắm thiên nhiên với con mắt thẩm mỹ
mà còn với cả con mắt triết lý và tâm linh. Ta có cảm tưởng Quách Tấn đã hòa
quyện cùng thiên nhiên, khăng khít trong mối quan hệ giữa tiểu ngã và đại ngã
để làm thành khối đồng nhất, mà thiên nhiên là tiền đề, là điều kiện để khởi
động từng phút, từng giây, từng sát na cảm xúc của thi sĩ, hỗ trợ thi sĩ ý thức
được sự có mặt của ngũ quan (ngũ căn) và những tính năng của nó, mà thuật ngữ
của nhà Phật gọi là “nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, ý thức”. Thiên
nhiên xung quanh ta là hiện thân của đất, nước, không khí, năng lượng mặt trời,
của sự vận hành tháng năm, với thời gian vô tận. Sự hòa nhập của nó cũng là hòa
nhập vào suối nguồn của sự sống.
Cụ thể hơn, với một vỏ sò khô, Quách Tấn cũng gởi vào nó hơi
thở, hồn thơm của một sức sống thơ dạt dào. nhìn vỏ sò khô, một thực thể chết,
Quách Tấn lại nghe tiếng reo vang vọng của biển khơi. có sự sống, cái chết nào
lại chẳng liên quan đến môi trường sống với thế giới đồng hiện hữu? Hiện thể của
vỏ sò hoặc con sò đâu thể thiếu vắng biển khơi. Tiểu ngã và đại ngã tương duyên
với nhau:
Vỏ sò khô ấp ủ,
Niềm băng tuyết đêm sương.
Muôn xa bờ bến cũ,
Vang vọng sóng trùng dương.
(Ấp ủ)
Và mỗi khi tiểu ngã và đại ngã tương quan, tương duyên với nhau thì
mỗi động tác đều gây sự chuyển động dây chuyền. một cái búng chân nhảy của con
cào cào màu xanh cũng đủ khiến bầu trời buổi chiều thu rung chuyển:
Nước ngoạn trời long lanh, Con cào cào áo xanh.
Bờ cao búng chân nhảy, Mây chiều thu rung rinh.
(Búng chân)
Đây là nhận thức triết lý, đúng hơn là đạo lý của Quách Tấn. nó bắt nguồn từ sự thấm nhuần đạo Phật. Trong thế giới tương quan tương duyên và cả tương tác nữa, thì đâu đâu cũng mang tính động thái và tính tiến trình. Tất cả đều tác động qua lại, đều vận chuyển, nghĩa là không diễn ra theo một chiều mang tính định mệnh, mang tính “Sáng thế”. Tính tương quan, tương duyên quyết định cho sự sinh diệt cũng như hình ảnh, màu sắc của thiên nhiên cũng quyết định tính vô biên, vô thường và vô ngã của nó. Thơ văn của Quách Tấn đã giúp người viết những dòng chữ này hiểu sâu thêm nhận thức ấy. Trong hoàn cảnh cuộc sống có sự đổi thay ào ạt từng phút từng giờ, hiếm có người nào ung dung, thong dong như Quách Tấn, bởi nhà thơ luôn giữ lòng tự tại trước thực tế thay đổi theo thời gian. có sự tĩnh tại đó là nhờ thi sĩ đã nghiệm ra, đã trực cảm được cái lẽ “Là mộng cũng là chân” để lượng hương xuân ngào ngạt mãi trong lòng:
Mười hai mùa lá rụng,
Đây mùa hương nở xuân.
Theo duyên lòng chẳng đổi,
Là mộng cũng là chân.
(Nở xuân)
Mộng huyễn và chân thật xét đến cùng, có chung một bản thể. nó là hai mặt của một thực tại, bởi “Tâm pháp nhất như”, “Vạn vật nhất thể”. nhà thơ đồng nhất mộng và chân là nhờ nhận thức được chân lý ấy. chính vì nhà thơ tĩnh tâm trước thực tại, nên đã chấm dứt mọi bay nhảy, mọi tìm kiếm, đi và đến để như “Chim dừng cánh biệt ly” (mơ Đạo), để không còn hỏi “Cảnh hay lòng?” và để nhận thức được rằng “Lòng với cảnh không chia” (Quán trọ đêm thu) và:
Mây nước hằng tự tại,
Vàng đá chẳng vô tri.
Thiên nhiên trong thơ Quách Tấn mang đậm chất thanh tịnh và sung
mãn nét đẹp tâm linh trong sự “Ân ánh cõi từ bi”, nhờ thế mà thi nhân dường như
đã chứng nghiệm được “Hương gió thoảng liên trì” (mơ Đạo) dù chỉ trong một sát
na, một cái nháy mắt, một chút gió thoảng qua!
Tư tưởng Đạo Phật thấm nhuần trong con người Quách Tấn. Vì thế
trước khi từ giã cõi đời, nhà thơ dặn dò con cháu nhớ khắc trên bia mộ:
Nghìn xưa không còn nữa,
Nghìn sau rồi cũng không.
Phảng phất bờ trăng rạng,
Hương Ưu đàm trổ bông.
(Thoáng hiện)
Tồn tại và hủy diệt, sắc và không, hữu và vô đều cùng bản thể, nhất như. nghìn xưa không còn là thực tại. Quá khứ nghìn năm sau sẽ không còn; và tương lai nghìn năm sau dù chưa hiện hữu cũng chẳng tồn tại. Tất cả đều là Không. Giác ngộ và thấu hiểu được chữ Không trong tư tưởng triết học nhà Phật là cả những chuỗi thời gian chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, suy tư. Không ở đây chẳng phải là sự đối đãi, đối lập giữa “có” và “không”, “hữu” và “vô” mà là cái Không vượt lên trên. Đó là chân không diệu hữu.
Dường như Quách Tấn đã nghiệm ra được điều đó. Ông không giữ chặt cái đã qua, cũng không sống với cái chưa có thực, không để cho những gì của quá khứ và tương lai chen vào phút giây đang hít thở, thì lúc đó vầng trăng rạng cũng cho “thấy” cả hương ưu đàm. Hoa ưu đàm là hoa Giác ngộ, theo kinh Phật, mấy nghìn năm mới nở hoa một lần. Dĩ nhiên hoa này không xuất hiện trong cuộc sống ồn ã vang dội trong loa phát thanh và rộn ràng xe cộ, cũng không xuất hiện ở nơi đâu đâu, khi con người tấp nập bay nhảy, tìm kiếm, đi và đến... người ta chỉ gặp nó khi lòng mình thật sự lặng lẽ, thanh tĩnh.
Cũng như thiền sư Vạn Hạnh đời Lý, Quách Tấn đã xem “Thân như
bóng chớp có rồi không”. Ông thường nói đùa rằng đời tôi có tứ thú và tam vô.
Tứ thú là: Có tiền in sách đẹp,/Gặp bạn sẵn thơ hay./Giấc tỉnh hồi chuông
sớm,/Võng trưa giấc ngủ ngày. còn tam vô là: Không biết hút thuốc, không
chơi cờ bạc và không đi xe đạp.
2. Hình ảnh tiếng chuông chùa
Tiếng chuông chùa đối với thi nhân như một kỷ vật thiêng liêng
từng chôn sâu trong tiềm thức của ông, nên mỗi lần trông thấy cảnh núi non chùa
chiền thì nó bỗng dưng trỗi dậy:
Núi Nhạn chuông ngân trời bảng lảng,
Đầm Ô sen nở gió thơm tho.
Không những lắm lúc ngắm cảnh thiên nhiên, tiếng chuông chùa làm
ông chú ý, mà mỗi khi chợt tỉnh giấc nồng, tiếng chuông cũng hiện đến:
Mây nước nhuốm phong trần,
Nơi đâu tình cố nhân.
Những đêm buồn tỉnh giấc,
Chùa cũ tiếng chuông ngân.
Nhờ nghe tiếng chuông chùa ngân vang mà khách hành hương trút
hết mọi nỗi ưu phiền, như Chu Mạnh Trinh đã viết: “Lạ cho vừa bén mùi thiền,/ Mà trăm não với ngàn phiền sạch không”.
Hay: “Thoảng bên tai một tiếng chày
kình,/Khách tang hải giật mình trong giấc mộng” (Hương Sơn phong cảnh ca).
Không khác gì cảm nhận của họ chu, Quách Tấn cũng mô tả trạng
thái tâm hồn mình khi đến viếng một cảnh chùa quen thuộc: “Người đến viếng cảnh chùa, lòng không rửa mà trong, thân không cánh mà
nhẹ, ngồi tựa bóng cây đón mát, tưởng chừng mình đã xa lánh hẳn cõi trần tục.”
[Quách Tấn, Nước non Bình Định, nam cường xuất bản, SG, 1968;
nxb Thanh niên tái bản 1999.]
Thoảng đâu đây như có tiếng gió ru hồn lữ khách:
Gió ru hồn mộng thiu thiu,
Chuông chùa rơi rụng bóng chiều đầy non.
Và thi sĩ tiếp: “Nếu không
có tiếng chuông hay mộng thì mộng còn mãi chìm trong bóng mây rán, hoặc làm con
cò vương hương bay lờ lững trong hồ sen yên tịnh.”
Cứ thế, thời gian trôi đi và bóng tịch dương dần dà đổ xuống với
tiếng chuông chùa cổ thân yêu:
Mây tạnh non cao đọng nắng chiều,
Tiếng chuông chùa cũ vọng cô liêu.
Thêm nhiều lá rụng cây quằn quại,
Đã vắng người sang bến nhẩy triều.
Thế rồi, ngày lại ngày trong sự tất bật của cuộc sống đời
thường, nhưng mỗi khi nhìn thấy cảnh chùa thì âm vang tiếng chuông lại ngân nga
tựa hồ bất tận:
Chùa ẩn non mây trắng, Bóng in hồ liễu xanh.
Mai chiều chuông đã tạnh, Vòng sóng còn long lanh.
(Tiếng ngân)
Đây là hình ảnh thiên nhiên đầy tình tự, là khoảng trời xanh
tinh khiết còn lại trong đôi mắt long lanh của một nhà thơ trong cảnh xế
chiều của đời mình.
|
|
3. Một đạo tâm dào dạt
Có lần tôi đi theo ba tôi đến thăm nhà thơ, nghe ông tâm sự: “Gia đình tôi theo đạo Phật, và tôi chịu ảnh
hưởng tư tưởng Thiền trong Phật giáo”. Và trong khi đàm đạo, ông
thường nhắc đến ngọn đồi Trại Thủy, nơi tọa lạc của Phật học viện nha trang,
một trung tâm đào tạo Tăng tài trong giai đoạn cận hiện đại. Từ đó mới biết hồi
ấy, Hòa thượng Thích Trí Thủ đàm nhiệm Giám viện Phật học viện lại là chỗ tương
giao tâm đắc với thi sĩ, vì thế, một hôm lên thăm chùa, nhân ngẫu hứng thi sĩ
đã cảm tác một bài ngũ ngôn, để tặng Hòa thượng:
Trăng lên đồi Trại Thủy,
Chuông khua ngời âm ba.
Bồi hồi mây khóa viện,
Sân Bồ đề sương sa.
Ngoài ra, ngôi chùa Kim Liên tại Diên Khánh cũng là nơi lưu lại
dấu chân của thi nhân. một hôm đến viếng cảnh chùa, thấy Thượng tọa viện chủ
tiếp đón khách tham quan niềm nỡ, ông liền làm bài thơ để lại lưu niệm:
Dặm hồng dìu dịu nắng,
Theo hứng viếng làng tu.
Ngụm nước đằm chơn vị,
Im lìm sen nở thu.
Người xưa từng nói: “Nhân giả nhạo sơn; trí giả nhạo thủy.”
(người nhân ưa cảnh núi rừng; người trí ưa nơi sông nước). Phải chăng vì vậy mà
các cảnh chùa tiêu biểu cho đạo từ bi nhân ái - thường được xây cất trên các
đồi núi? Thậm chí có những ngôi danh lam quanh năm mây phủ xa xôi chập chờn
trông có vẻ tiêu dao thoát tục:
Cây chen đá chất chập chùng,
Biển giăng dưới núi, chùa lồng trong mây.
Bụi đời không bợn mảy may,
Chút thân rộng tháng dài ngày thảnh thơi.
Phải chăng kiếp sống nhân sinh chập chờn như ảo mộng? con người
luôn luôn chơi vơi giữa dòng trường lưu bất tận, khiến đôi lúc nhà thơ chợt
hứng cất tiếng gọi đò vang cả hư không:
Đời nửa khói mây chìm bóng mộng,
Gọi đò một tiếng lạnh hư không.”
Ta nghe được dư âm của thiền sư Không Lộ đời Lý còn phảng phất
đâu đây:
Hữu thì trực thướng cô phong đính,
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
(Ngôn hoài)
(Có khi xông thẳng lên
đầu núi,
Một tiếng kêu vang
lạnh cả trời.)
[Thơ văn Lý - Trần, tập 1] Không những chịu ảnh hưởng sâu sắc tư
tưởng của các thiền sư - điều mà thi sĩ đã khẳng định - ông còn thâm nhập
cốt lõi của kinh Duy Ma Cật:
Ngày qua chầm chậm vách kim thinh,
Cảnh giới Duy Ma mình với mình.
Hoa rải tờ thơ hương lành lạnh,
Trăng cài nhánh mộng bóng xanh xanh.
Có lần ông thổ lộ cái ý vừa nêu: “Cây thiết mộc lan nở hoa lần này là lần thứ hai (tháng 12-1992). Lần
trước nở tôi 79 tuổi (1989). Hai nhánh lan đã lên cao như hai cây sào, hoa nở
trắng trên đọt, hương bay chập chờn theo gió, nghe lũ cháu reo mừng. Tôi tưởng
chừng như hoa của thiên nữ từ trong vách Phương trượng của Duy Ma Cật bung ra
rải xuống hạ giới vậy”
[Quách Tấn (1999), bóng ngày qua (Đời văn chương), nxb Hội nhà
văn, Hn].
Điều này chứng tỏ càng về già nhà thơ càng đến gần cõi Đạo, như
nhà văn Trần Phong Giao nhận xét: “Tới
lúc về già, ta thấy khí vị Thiền lung linh bàng bạc trong thơ Quách Tấn, nhất
là trong nhiều bài in trong hai tập Mộng Ngân Sơn và Giọt trăng”.
Một hôm vào lúc xế chiều, Quách Tấn lên chùa Hải Đức (ở Nha
Trang) thăm một người bạn vong niên (tương truyền là thầy Nguyên Tánh). mặc dù
tuổi tác chênh lệch nhau, nhưng hai tâm hồn như cùng chung một giai điệu:
Áo giũ ngày sương gió, Lên chùa thăm cố nhân.
Non nghiêng thềm bóng xế, Lịu địu bóng nhàn vân.
Phong cách ấy quả thực có khác với thế nhân trong những lúc thù
tạc vãng lai. người đời đến và đi trong âm thanh và tốc độ của thời đại cơ khí,
ồn ào và vội vã… nhưng thời đại của nhà thơ là thời đại ẩn tình trầm lặng của
một đám mây lơ lửng, lồng trong bóng núi nghiêng nghiêng. người đời rồi cũng có
lúc “Giũ áo phong sương trên gác trọ” để ngồi lại chiêm nghiệm chính mình, như
thi sĩ đã làm:
Khép cửa phiền ba lại, Vườn quê nắng sưởi tình.
Thanh bình lòng giếng ngọt, Chim hót ngọc âm thanh.
Để thấy rõ hơn chân dung của Quách Tấn, chúng ta có thể nghe ý
kiến của Phạm công Thiện, một người bạn tâm giao của thi sĩ đã viết trong bài
“Trách nhiệm của tuổi trẻ Việt Nam với Quách Tấn”: “Quách Tấn là một Phật tử trọn vẹn, đã thu tóm tất cả những bài thơ mộng
của Phật giáo vào trong cuộc đời trầm lặng của mình. Quách Tấn đã đi ngược lại
tất cả phong trào thời thượng… Ông xứng đáng là kẻ nối dòng của các vị thiền
sư: Vạn Hạnh, Không Lộ, Ngộ Ấn, và tất cả những thiền sư thi sĩ đã nuôi
dưỡng linh hồn của cả một dân tộc, linh hồn của Lý Thường Kiệt đánh Tống và
Trần Hưng Đạo đánh Nguyên.”
[Quách Giao (sưu tầm) (1994), Quách Tấn qua cái nhìn phê bình
văn học, NXB Trẻ, Tp.HCM.]
Phải chăng vì được nuôi dưỡng trong không khí tâm linh của các
thiền sư thi sĩ quá khứ mà “Quách Tấn
luôn luôn giữ phong độ của kẻ mang hào khí ngút ngàn? Mỗi hàng, mỗi câu đều thể
hiện sáng sủa, uy nghiêm mà tràn ngập thi ca, khiến cho người đọc lòng không
rửa mà trong, thân không cánh mà nhẹ. Tất cả con người Quách Tấn là thi ca, là
tiếng báo hiệu của một sự tựu thành” như lời nhà văn Nguyễn Thái đã viết
trong bài Quách Tấn: Quê hương và Thơ
được tuyển in trong tập Quách Tấn Qua Cái Nhìn Phê Bình Văn Học do con trai nhà
thơ là Quách Giao (sưu tầm), nxb Trẻ, TP. Hcm, 1994.
Ths.Nguyễn Công Thanh Dung
Tạp chí Nghiên cứu Phật
học số 3 năm 2014
------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo
1. Huy Cận - Hà Minh Đức chủ biên (1997), Nhìn lại một cuộc
cách mạng trong thi ca
(60 năm phong trào Thơ
Mới), Nxb Giáo dục, tb lần thứ nhất, HN.
2. Phan Cự Đệ (1982), Phong
trào Thơ Mới, Nxb Khoa học Xã hội, HN.
3. Lam Giang (1970), Hồn
thơ nước Việt, Nxb Sống Mới, SG.
4. Quách Giao (sưu tầm) (1994), Quách Tấn qua cái nhìn phê bình văn học, Nxb Trẻ, TP. HCM.
5. Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng (1969), Việt Nam thi nhân tiền chiến, Nxb Sống
Mới, SG.
6. Nguyễn Tấn Long, Phan Canh (1970), Các khuynh hướng thi ca tiền chiến, Nxb Sống Mới, SG.
7. Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức (1971), Thơ ca Việt Nam (Hình thức và Thể loại), Nxb Khoa học Xã hội,
HN.
8. Lê Triều Phương, Phan Hồng Châu, Quách Tùng Phong
(2002), Hương thơ Quách Tấn, Nxb Hội
Nhà văn, HN.
9. Trần Hữu Tá, Nguyễn Thành Thi, Đoàn Lê Giang (chủ biên)
(2013), Nhìn lại Thơ Mới và văn xuôi Tự
Lực văn đoàn, Nxb Thanh niên, TP.HCM.
10. Quách Tấn (1939), Một
tấm lòng, Nhà in Thuỵ Ký, Hàng Trống, HN.
11. Quách Tấn (1941), Mùa
cổ điển, Nhà in Thuỵ Ký, Hàng Trống, HN.
12. Quách Tấn (1960), Mùa
cổ điển, Nxb Tân Việt, SG, tái bản lần thứ 1.
13. Quách Tấn (1965), Đọng
bóng chiều, in tại Paris (không ghi nơi xuất bản).
14. Quách Tấn (1966), Mộng
Ngân Sơn, Hoa Nắng, Paris.
15. Quách Tấn (1973), Giọt
trăng, Thi Vũ giới thiệu, Nxb Rừng Trúc, Paris.
16. Quách Tấn (1998), Thi
pháp thơ Đường, Nxb Trẻ, TP. HCM.
17. Quách Tấn (1999), Trăng
hoàng hôn, Nxb Trẻ, TP. HCM.
18. Quách Tấn (1999), Bóng
ngày qua (Đời văn chương), Nxb Hội Nhà văn, HN.
19. Quách Tấn (2000), Bóng
ngày qua (Bàn Thành tứ hữu), Nxb Văn nghệ, TP. HCM.
20. Quách Tấn (2000), Trường
Xuyên thi thoại, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Nxb Văn nghệ Tp. HCM.
21. Hoài Thanh - Hoài Chân (1998), Thi nhân Việt Nam, in lần đầu 1941, Nxb Văn học, tái bản lần thứ
14, HN.
22. Nguyễn Vỹ (1970), Văn
thi sĩ tiền chiến, Sống Mới, SG.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








