Hiển thị các bài đăng có nhãn Malcolm Browne. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Malcolm Browne. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2016


CÂU CHUYỆN PHÍA SAU NHÀ SƯ TỰ THIÊU
Patrick Witty phỏng vấn Malcolm Browne

Lời Ban biên tập - Nhà báo Malcolm Browne là một trong những nhân chứng người nước ngoài có mặt tại sự kiện Bồ-tát Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn vào ngày 11-6-1963, ông đã chụp liên tục khoảng 10 cuộn phim ghi lại hình ảnh HT.Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân mà trong đó có một bức ảnh được xem là biểu tượng đã mang lại cho ông giải thưởng ảnh báo chí quốc tế năm 1963 và đoạt giải Pulitzer vào năm 1964.
Trước khi từ giã cõi đời vào ngày 27-8-2012 ở tuổi 81 tại Hoa Kỳ, ông đã có cuộc trò chuyện với Patrick Witty, biên tập viên hình ảnh của Tạp chí Time tại nhà riêng của ông ở Vermont, Hoa Kỳ về sự kiện lịch sử mà ông là nhân chứng.
Chúng tôi trân trọng gởi đến quý độc giả nội dung của buổi trò chuyện giữa hai người qua bản dịch Việt của Tường Anh và Tịnh Thủy hiệu đính.


Malcolm Browne: 
CÂU CHUYỆN PHÍA SAU NHÀ SƯ TỰ THIÊU
Patrick Witty | Tường Anh dịch | Tịnh Thủy hiệu đính

Malcolm Browne (trái) và nhiếp ảnh gia Horst Faas
tại văn phòng của Thông tấn xã AP, Sài Gòn 1964 (Ảnh: Peter Arnett / AP)
Nhân dịp lễ kỷ niệm lần thứ 50 ngày Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào năm 1963, LightBox trình bày cuộc phỏng vấn với Malcolm Browne, nhiếp ảnh gia của Associated Press, người đã chụp được bức ảnh mang tính biểu tượng vào thời điểm đó.
Nhiếp ảnh gia Malcolm Browne, được biết đến qua bức ảnh gây chấn động và mang tính biểu tượng về một nhà sư tự thiêu tại Sài Gòn, đã qua đời vào ngày 27/8/2012 hưởng thọ 81 tuổi. Ông Browne đã được trao giải thưởng Pulitzer về Tường thuật Quốc tế và Ảnh Báo chí Quốc tế Năm 1963 của World Press. Vào năm 2011, ông  Browne đã có buổi trò chuyện với Patrick Witty, chủ bút hình ảnh của Tạp chí Time tại nhà riêng của ông ở bang Vermont, Hoa Kỳ.   
Patrick Witty: Điều gì đã xảy ra ở Việt Nam lúc bấy giờ để dẫn đến việc anh chụp được bức ảnh nổi tiếng về việc tự thiêu của Ngài Quảng Đức? 
Malcolm Browne: Cho đến thời điểm xảy ra sự kiện thì tôi đã ở Việt Nam được đôi ba năm khi tình hình bắt đầu xấu đi tại Miền Trung Việt Nam. Tôi đã quan tâm nhiều hơn đến các nhà Sư Việt Nam hơn trước vì dường như đối với tôi họ có khả năng là những người có tác động mạnh khởi xướng các sự kiện và gây ảnh hưởng trong bất kỳ sự kiện gì xảy ra tiếp theo. Tôi đã có một mối quan hệ thân thiện với khá nhiều vị Sư lãnh đạo phong trào đấu tranh cho nhân quyền và bình đẳng tôn giáo. Lúc đó phong trào đã được định hình.
Vào đầu mùa Xuân năm 1963, các nhà sư bắt đầu nói bóng gió rằng họ sẽ làm một việc đặc biệt gì đó để thể hiện sự phản đối– và điều đó rất có thể sẽ là việc tự sát hay tự thiêu của một trong các nhà sư. Và dù bằng cách nào thì đó là điều mà tôi phải chú ý tới.
Tại thời điểm đó, các nhà sư đã gọi điện cho các phóng viên nước ngoài tại Sài gòn để cảnh báo rằng sắp xảy ra sự việc lớn. Hầu hết các phóng viên đều cảm thấy chán với tin cảnh báo đó và họ đã lờ đi. Riêng tôi, tôi cảm thấy chắc chắn họ (các nhà Sư) sẽ làm một chuyện gì đó, họ không điện thoại để lừa dối, thế nên tôi thực sự là phóng viên phương Tây duy nhất chứng kiến và đưa tin sự kiện trọng đại đó.   
PW: Hãy cho tôi biết về buổi sáng hôm đó. Chắc có lẽ anh không mong đợi sự việc gì bi thảm quá nhưng anh có cảm thấy bị lôi cuốn vì cuộc gọi điện thoại đêm hôm trước không?
Malcolm Browne: Tôi đã được gợi ý rằng sẽ có một sự kiện đặc biệt quan trong xảy ra, bởi vì tôi biết chắc các nhà sư này không lừa dối. Họ hoàn toàn nghiêm túc về việc họ sẽ làm một chuyện gì đó khá mãnh liệt. Trong một nền văn minh khác, nó có thể là hình thức một vụ đánh bom hay một sự việc gì tương tự như thế.
Các nhà sư biết rất rõ về một vụ tự thiêu chắc chắn sẽ diễn ra. Cho nên vào thời điểm tôi đến ngôi chùa nơi mà tất cả những điều này đã được tổ chức, mọi thứ đang trong tiến trình – chư Tăng Ni tụng loại kinh rất thông thường ở các buổi tang lễ và các buổi lễ tương tự. Theo sự ra hiệu của người lãnh đạo, tất cả các Tăng Ni bắt đầu bước ra đường và đi bộ hướng về phía khu vực trung tâm Sài Gòn. Khi chúng tôi đến đó, các nhà sư nhanh chóng tạo thành một vòng tròn ngay tại giao lộ của hai con đường chính ở Sài Gòn. Một chiếc xe hơi chạy đến. Hai nhà sư trẻ bước ra khỏi xe. Một nhà sư già, hơi nghiêng một chút vào một trong các nhà sư trẻ, cũng bước ra. Họ tiến đến ngay giữa giao lộ. Hai nhà sư trẻ mang một thùng nhựa chứa xăng. Ngay sau khi vị sư già tự ngồi xuống trong tư thế kiết-già, hai vị sư trẻ kia tưới xăng lên khắp người vị sư già đang ngồi. Rồi nhà sư già ấy mở hộp diêm, lấy ra một que diêm và đốt lên, rồi thả nó vào lòng mình và ngay lập tức ngọn lửa bùng lên, toàn thân của vị sư ngập chìm trong lửa. Tất cả mọi người chứng kiến cảnh tượng ấy đều vô cùng kinh hoàng. Đó là một khoảnh khắc tệ hại như tôi đã mong đợi.
Tôi không biết chính xác lúc nào vị sư ấy qua đời, bởi vì tôi không thể nào nhận biết được qua nét mặt, giọng nói hay bất cứ điều gì của vị ấy. Nhà sư ấy không hề kêu la đau đớn. Khuôn mặt nhà sư ấy dường như vẫn khá bình thản cho đến khi nó bị nám đen do ngọn lửa mà bạn không thể nhận dạng nữa. Cuối cùng các nhà sư nhận định vị sư ấy đã qua đời và họ mang một cái quan tài đến, một quan tài bằng gỗ thô.
PW: Và anh là nhiếp ảnh gia duy nhất ở đó?
MB: Theo như tôi biết có thể nói là đúng như vậy. Sau đó tôi được biết có một vài người Việt Nam cũng đã chụp một vài tấm hình của sự kiện đó, nhưng lúc đấy những tấm hình họ chụp được đã không được công bố, không được gửi ra ngoài qua hệ thống viễn liên hoặc các hình thức tương tự như thế.
PW: Anh đã nghĩ gì khi anh nhìn sự kiện ấy qua ống kính máy ảnh?
MB: Lúc đó tôi chỉ nghĩ sự kiện đó là một chủ thể tự chiếu sáng và cần được phơi bày. Tôi đã dùng một máy ảnh giá rẻ của Nhật Bản, tên là Petri. Tôi rất quen thuộc với nó, nhưng tôi muốn chắc chắn rằng tôi không chỉ điều chỉnh đúng trên máy ảnh từng khoảnh khắc thời gian và tập trung vào sự kiện một cách thích hợp, mà còn phải thay phim một cách thật nhanh để bắt kịp với những gì đang diễn ra. Tôi chụp hết khoảng mười cuộn phim, bởi vì tôi chụp liên tục.
PW: Anh cảm thấy thế nào khi đó?
MB: Điều chủ yếu trong tâm trí tôi lúc ấy là lấy các bức ảnh ra. Tôi thừa nhận rằng đây là một sự kiện quan trọng rất bất thường và tôi phải tức tốc đưa các bức ảnh đó cho cơ quan thông tấn AP tại một trong các chi nhánh của AP càng sớm càng tốt. Và tôi cũng biết đây là một việc rất khó khăn khi làm việc ở Sài Gòn trong thời gian ngắn.
PW: Anh đã làm gì với những cuộn phim ấy?
MB: Tôi phải dùng đến những mưu mẹo để đưa những cuộn phim đó đến điểm truyền tin.  Chúng tôi phải gửi các cuộn phim gốc bằng đường hàng không hay bằng cách nào đó. Các cuộn phim không phải trình qua cơ quan kiểm duyệt vào thời điểm đó. Chúng tôi đã sử dụng chim bồ câu để gởi đến tận nơi xa như Manila, Philippines. Và ở Manila người ta có thiết bị truyền tin viễn liên vô tuyến để gửi đi (Hoa Kỳ).
PW: Khi anh nói chim bồ câu, chính xác ý anh muốn nói gì?
MB: Chim bồ câu ở đây là một hành khách trên một chuyến bay thương mại thường xuyên mà mình đã thuyết phục họ để họ mang một gói hàng nhỏ cho mình. Tốc độ là vấn đề quan trọng trong việc này. Vì thế chúng tôi đã tức tốc đem các cuộn phim đến phi trường, và chúng được chuyển đi trên một chuyến bay đến Manila không lâu sau đó.
PW: Khi phim đến nơi, có ai từ hãng thông tấn AP nhắn tin cho anh biết là bức ảnh đã được công bố trên khắp thế giới không?
MB: Không.
PW: Thế Anh không biết à?
MB: Không, chúng tôi không biết, tựa như bắn vào một lỗ đen vậy. Chúng tôi biết rằng phim chúng tôi gửi đi đã đến nơi chỉ sau khi nhận được những lời chúc mừng về việc chúng tôi đã gửi bức ảnh đó. Không phải mọi người đều đăng nó. Tờ New York Times không đăng nó. Họ cảm thấy đó là một bức ảnh quá kinh hãi không mấy phù hợp cho một tờ báo đưa tin vào bữa ăn sáng của độc giả.
PW: Hiện giờ tôi đang xem bức ảnh trên màn hình. Hãy cho tôi biết những gì tôi không thấy – Những gì mà anh đã nghe, đã ngửi thấy khi ấy?
MB: Lúc đó, mùi nhang tràn ngập. Họ đã đốt nhang và tạo ra một mùi rất mạnh, không phải là một mùi đặc biệt dễ chịu, nhưng nó có nghĩa là để bày tỏ lòng thành kính đối với tổ tiên. Tôi phải nói đó là mùi nhang tràn ngập, bên cạnh đó còn có mùi dầu xăng và mùi thịt cháy. Âm thanh lúc đó chính là tiếng gào khóc và đau khổ tiếc thương của các nhà sư vây xung quanh, những người đã biết đến Ngài Quảng Đức trong nhiều năm qua và cảm mến Ngài. Rồi có tiếng la trên loa phóng thanh của những người lính cứu hỏa đang cố tìm cách đưa Ngài ra ngoài, dập tắt ngọn lửa xung quanh Ngài mà không phải thật sự làm Ngài chết hay việc gì đó. Thế nên đó là một cảnh tạp nham lộn xộn.
- Vâng, bức ảnh đã tạo ra sự ảnh hưởng rất mạnh trên khắp thế giới. Đấy có lẽ là câu trích dẫn trung thực từ Nhà Trắng.
PW: Có lần tôi đã đọc những gì Tổng thống Kennedy nói về bức ảnh của anh. Ông ấy nói, “Không có một bức tin ảnh nào trong lịch sử đã tạo ra nhiều cảm xúc trên khắp thế giới như nó”. Có phải như thế không?
MB: Vâng, có thể, đấy có lẽ là câu trích dẫn trung thực từ Nhà Trắng.
PW: Anh coi bức ảnh như là sự thành công tột đỉnh của anh trong ngành báo chí không? 
MB: Bức ảnh đã thu hút rất nhiều sự chú ý, tôi nói đúng là như thế. Không nhất thiết phải là một câu chuyện gay go mà tôi đã từng đưa tin nhưng chắc chắn nó là một phần quan trọng trong sự nghiệp của tôi.

● Xem hình ảnh:
Diễn tiến cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức ngày 11-6-1963 (ảnh của: Malcolm Browne/ AP) http://thuvienhoasen.org/a25821/dien-tien-cuoc-tu-thieu-cua-hoa-thuong-thich-quang-duc-ngay-11-6-1963
● Tác giả: Patrick Witty@patrickwitty | Deputy Director of Photography at National Geographic Washington, DC. - Time Magazine, The New York Times
● Dịch gỉa: Tường Anh Xuan Ha | Legal Translator Mobile phone: 0903033880 - 0903872296 Skype: Lam Ha 64
● Hiệu đính: Tịnh Thủy | Biên tập viên Ban biên tập TVHS (info@thuvienhoasen.org)


Nguyên tác tiếng Anh:

Malcolm Browne: 
THE STORY BEHIND THE BURNING MONK
Patrick Witty @patrickwitty  Aug. 28, 2012 | Time/LightBox
   
On the 50th anniversary of Quang Duc's self-immolation in 1963, LightBox presents an interview with Malcolm Browne, the Associated Press photographer who captured the now-iconic image.
Photographer Malcolm Browne, known for his shocking and iconic image of a self-immolating monk in Saigon, died on Aug. 27, 2012 at the age of 81. Browne was awarded the Pulitzer Prize for International Reporting as well as the World Press Photo of the Year in 1963. In 2011, Browne spoke with TIME international picture editor Patrick Witty from his home in Vermont.
Patrick Witty: What was happening in Vietnam leading up to the day you took your famous photograph of Quang Duc’s self-immolation?
Malcolm Browne: I had been in Vietnam at that point for a couple of years when things began to look ugly in central Vietnam. I took a much greater interest in the Buddhists of Vietnam than I had before, because it seemed to me they were likely to be movers and shakers in whatever turned up next. I came to be on friendly terms with quite a lot of the monks who were leaders of this movement that was taking shape.
Along about springtime (1963), the monks began to hint that they were going to pull off something spectacular by way of protest–and that would most likely be a disembowelment of one of the monks or an immolation. And either way, it was something we had to pay attention to.
At that point the monks were telephoning the foreign correspondents in Saigon to warn them that something big was going to happen. Most of the correspondents were kind of bored with that threat after a while and tended to ignore it. I felt that they were certainly going to do something, that they were not just bluffing, so it came to be that I was really the only Western correspondent that covered the fatal day.
PW: Tell me about that morning. You certainly weren’t expecting something so dramatic but you felt drawn because of a call the night before?
MB: I had some hint that it would be something spectacular, because I knew these monks were not bluffing. They were perfectly serious about doing something pretty violent. In another civilization it might have taken the form of a bomb or something like that.
The monks were very much aware of the result that an immolation was likely to have. So by the time I got to the pagoda where all of this was being organized, it was already underway—the monks and nuns were chanting a type of chant that’s very common at funerals and so forth. At a signal from the leader, they all started out into the street and headed toward the central part of Saigon on foot. When we reached there, the monks quickly formed a circle around a precise intersection of two main streets in Saigon. A car drove up. Two young monks got out of it. An older monk, leaning a little bit on one of the younger ones, also got out. He headed right for the center of the intersection. The two young monks brought up a plastic jerry can, which proved to be gasoline. As soon as he seated himself, they poured the liquid all over him. He got out a matchbook, lighted it, and dropped it in his lap and was immediately engulfed in flames. Everybody that witnessed this was horrified. It was every bit as bad as I could have expected.
I don’t know exactly when he died because you couldn’t tell from his features or voice or anything. He never yelled out in pain. His face seemed to remain fairly calm until it was so blackened by the flames that you couldn’t make it out anymore. Finally the monks decided he was dead and they brought up a coffin, an improvised wooden coffin.
PW: And you were the only photographer there?
MB: As far as I could tell, yes. It turns out that there were some Vietnamese that took some pictures but they didn’t go out—they’re not on the wires or anything like that.
PW: What were you thinking while you were looking through the camera?
MB: I was thinking only about the fact it was a self-illuminated subject that required an exposure of about, oh say, f10 or whatever it was, I don’t really remember. I was using a cheap Japanese camera, by the name of Petri. I was very familiar with it, but I wanted to make sure that I not only got the settings right on the camera each time and focused it properly, but that also I was reloading fast enough to keep up with action. I took about ten rolls of film because I was shooting constantly.
PW: How did you feel?
MB: The main thing on my mind was getting the pictures out. I realized this is something of unusual importance and that I’d have to get them to the AP in one of its far flung octopus tentacles as soon as possible. And I also knew this was a very difficult thing to do in Saigon on short notice.
PW: What did you do with the film?
MB: The whole trick was to get it to some transmission point. We had to get the raw film shipped by air freight, or some way. It was not subject to censorship at that point. We used a pigeon to get it as far as Manila. And in Manila they had the apparatus to send it by radio.
PW: When you say pigeon, what do you mean exactly?
MB: A pigeon is a passenger on a regular commercial flight whom you have persuaded to carry a little package for him. Speed was of the essence obviously. So we had to get it to the airport. It got aboard a flight leaving very soon for Manila.
PW: Did anyone from the AP, once the film arrived, send a message to you saying that the picture was being published all over the world?
MB: No.
PW: You didn’t know?
MB: No, we didn’t know, it was like shooting into a black hole. We learned that it had arrived only after messages began to come through congratulating us for sending such a picture. It was not run by everybody.The New York Times did not run it. They felt it was too grisly a picture that wasn’t suitable for a breakfast newspaper.
PW: I’m looking at the picture now on my screen. Tell me what I’m not seeing —what are you hearing, smelling?
MB: The overwhelming smell of joss sticks. They do make a very strong smell, not a particularly nice smell, but it’s meant to appease the ancestors and all of that. That was the overwhelming smell except for the smell of burning gasoline and diesel and the smell of burning flesh, I must say. The main sound was the wailing and misery of the monks, who had known this guy for many years before and were feeling for him. Then there was shouting over loudspeakers between the fire department people, trying to figure out a way to put him out, put out the flames around him without actually killing him or something. So it was a jumble of confusion.
PW: I read once what President Kennedy said about your photograph. He said, “No news picture in history has generated so much emotion around the world as that one.”
MB: Yeah, that could be, that sounds like an honest quote from the White House.
PW: Would you consider the photograph your crown achievement in journalism?
MB: It attracted a lot of attention, I’ll say that for it. It was not necessarily the hardest story I’ve ever had to cover, but it was certainly an important part of my career.
Source:

Ảnh tư liệu xảy ra trong ngày 11-6-1963:
Diễn tiến cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức ngày 11-6-1963 (ảnh của: Malcolm Browne/ AP)


Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013


LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TRONG NGÀY 11/6/1963 ĐÃ BỊ MẠO HÓA

Tâm Diệu

 
Trong thời gian qua trên các phương tiện truyền thông Internet đã có những bài viết và phim ảnh ngụy tạo nhằm đánh phá Phật Giáo một cách tinh vi và có hệ thống qua việc xuyên tạc và mạo hóa lịch sử.

Sự thật của lịch sử Phật Giáo Việt Nam trong ngày 11/6/1963 đã bị các thế lực thù nghịch Phật Giáo bóp méo, đặc biệt là tuyên truyền chuyện “đốt Hoà thượng Thích Quảng Đức”, như một đoạn phim “Youtube.com”, diễn lại toàn cảnh Hoà Thượng Thích Quảng Đức“bị thiêu”. Họ cho diễn lại [1] và viết những bài nói rằng: Người nhẫn tâm tưới xăng lên thân Hoà Thượng chính là ông Nguyễn Công Hoan (Huỳnh Văn Thạnh). Đến năm 1976, thì ông ta được nhà nước Cộng Sản trả ơn bằng cái chức đại diện Quốc Hội đơn vị Phú Khánh Nha Trang Việt Nam”[2] và còn nhiều lời sai sự thật khác.


Trong ba biến cố cao điểm của phong trào tranh đấu Phật Giáo năm 1963—cái chết của tám Phật tử đêm 8/5/1963 tại đài phát thanh Huế, cuộc tự thiêu của HT. Quảng Đức ngày 11/6/1963 và chiến dịch “nước lũ” tổng tấn công chùa chiền toàn quốc đêm 20 rạng ngày 21/ 8/1963—là ba biến cố lịch sử quan trọng của phong trào Phật Giáo tranh đấu. Các thế lực thù nghịch Phật Giáo đã tìm mọi cách để mạo hóa hai biến cố đầu.

Trong phạm vi bài này chúng tôi chỉ đề cập đến chuyện họ đã mạo hóa lịch sử ngày 11 tháng 6 năm 1963 nhằm chạy tội quá khứ đã chống lại dân tộc trong suốt chiều dài của lịch sử Việt Nam.

Họ (các thế lực thù nghịch Phật Giáo) thấy rằng đã đến lúc không còn cách nào để chứng minh cho mọi người biết phong trào tranh đấu Phật Giáo 1963 là do Cộng Sản giật dây hay là do những người Cộng Sản hay thân Cộng Sản chủ trương nên đã tuyên truyền rằng “người tưới xăng lên thân Hòa Thượng Thích Quảng Đức là cán bộ Cộng Sản nằm vùng Nguyễn Công Hoan, cựu dân biểu “lưỡng triều” Việt Nam Cộng Hòa”.

Nói rằng Nguyễn Công Hoan là cựu dân biểu quốc hội miền Nam Việt Nam thời đệ nhị Cộng Hòa (nhiệm kỳ 1971-1975) và là cựu dân biểu quốc hội của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (sau năm 1975) là đúng, nhưng nói rằng người tưới xăng lên Hòa Thượng Thích Quảng Đức là cựu dân biểu “lưỡng triều” miền Nam Việt Nam Nguyễn Công Hoan là hoàn toàn sai sự thật. Người tưới xăng lúc đó là một vị tu sĩ Phật Giáo, Đại Đức Thích Chơn Ngữ thế danh Huỳnh Văn Hải, hiện nay đang sống tại thành phố San Jose, bang California, Hoa Kỳ.

Trước hết chúng ta hãy nói về nhận vật Nguyễn Công Hoan. Ông Nguyễn Công Hoan sinh năm 1944 tức mới 19 tuổi vào năm 1963, không có tên trong danh sách dân biểu quốc hội VNCH thời đệ nhất Cộng Hòa [3], nhưng có tên trong danh sách dân biểu quốc hội VNCH thời đệ nhị Cộng Hòa, nhiệm kỳ 1971-1975. Điều này cũng được xác nhận trong hồi ký “Tôi Làm Nghề Dạy Học”của cựu dân biểu Trần Văn Sơn. Cựu dân biểu Trần Văn Sơn tức nhà bình luận Trần Bình Nam là thầy dạy của Nguyễn Công Hoan ở trường Trung Học Võ Tánh, Nha Trang, và cũng là bạn đồng viện, đồng khối “Dân Tộc Xã Hội” tức khối đối lập do luật sư Trần Văn Tuyên làm Trưởng Khối (Quốc Hội Đệ Nhị Cộng Hòa) [4]. (bắt đầu trích):

Anh Hoan, dân biểu Phú Yên, quốc hội Việt Nam Cộng Hòa, nhiệm kỳ 1971-75 cùng ở trong khối đối lập với tôi. Thời gian làm dân biểu Việt Nam Cộng Hòa anh Hoan quen biết thế nào với những người bên kháng chiến không biết.

Sau ngày 30/4/1975 một số người này làm lớn trong chính quyền mới ở Phú Khánh (hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa nhập lại) đã mời anh Hoan ra ứng cử dân biểu quốc hội của nước Việt Nam thống nhất tổ chức năm 1976. Anh Hoan đến thăm tôi vào đầu năm 1976 cho biết ý anh muốn từ chối vì anh đã nghe dân Phú Yên than phiền chính sách của chính quyền mới.Tôi khuyên anh Hoan không nên từ chối vì có thể nguy hiểm cho bản thân anh.

Sau khi trở thành dân biểu quốc hội của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Hoan có nhiều dịp vào Nha Trang tỉnh lỵ của tỉnh Phú Khánh công tác và hayđến thăm tôi.Từ đó có kế hoạch vượt biên. Phân công đơn giản. Anh Hoan chuẩn bịthuyền, tôi chuẩn bị đường đi. Anh Thung làm ruộng ở Thanh Minh chờ gọi.Chúng tôi vượt biên đêm 27/3/1977. Được tầu chở dầu Nhật Bản, chiếc Ryuko Maru khổng lồ trên đường từ Trung đông trở về, vớt ngày 31/3 và đưa đến hải cảng Yokohama ngày 5/4/1977. Hoan được quốc hội Hoa Kỳ mời sang điều trần về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam nên đi Hoa Kỳ sớm. Thung và tôi chờ đến tháng 10/1977 mới đi Hoa Kỳ diện tị nạn “on parole” với thẻ I-94… (hết trích)

Như vậy, rõ ràng ông Nguyễn Công Hoan không phải là dân biểu quốc hội thời đệ nhất Cộng Hòa, tức là vào lúc xảy ra cuộc tranh đấu Phật Giáo và dĩ nhiên không phải là người đã tưới xăng lên Hòa thượng Quảng Đức.

 
Bây giờ chúng ta xem ai chính thực là người đã giúp (tưới xăng) lên HT. Thích QuảngĐức để ngài hoàn thành đại nguyện. Người đó chính là Đại Đức Thích Chơn Ngữ, sinh năm 1933 tức 30 tuổi vào năm 1963, thế danh là Huỳnh Văn Hải, đệ tử của cố Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, vị Tăng Thống đầu tiên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Sau năm 1963, Đại Đức Thích Chơn Ngữ đi du học tại Hoa Kỳ, sau đó qua Pháp và đỗ Tiến sĩ Sử Học tại Đại Học Sorbonne, Paris. Năm 1973 ông về Việt Nam dạy học tại Viện Đại Học Vạn Hạnh. Sau năm 1975 cởi áo xuất tu , vượt biển và được nhập cư vào Mỹ năm 1982 và hiện đang sống tại San Jose Hoa Kỳ [5]. Ông Huỳnh Văn Hải, người vừa là chứng nhân, vừa là người đóng vai trò quan trọng trong cuộc tự thiêu của ngài Quảng Đức đã thuật lại như sau: (bắt đầu trích):

... Ngày 15 tháng 5, Tổng thống Diệm bất đắc dĩ phải tiếp phái đoàn Phật giáo gồm 5 vị: Thượng tọa Thiện Hoa, Thiện Hòa, Hành Trụ, Tâm Châu và Đôn Hậu, nhưng ông Diệm đã không thực tâm giải quyết vấn đề. Do đó, ngày 16 lại có nhiều cuộc tuyệt thực khác và biểu tình rầm rộ trước Quốc hội, nhưng chính quyền vẫn không đả động gì đến những yêu cầu của Phật giáo đồ... Bây giờ câu hỏi rất quan trọng được đặt ra là việc tự thiêu, người hưởng ứng đầu tiên là Ngài Quảng Đức.

... Lúc 10 giờ sáng ngày 11 tháng 6 năm 1963, tôi (Thích Chơn Ngữ, thế danh Huỳnh Văn Hải) dìu Ngài ra đến cổng chùa, thầy Đức Nghiệp mởcửa chiếc xe Austin đã đậu sẵn, mời Ngài lên. Xe gặp đường Phan Đình Phùng quẹo phía trái là đường Lê văn Duyệt, tài xế dừng xe lại, xung quanh tôi các tăng niđã đứng chật ních bao vây ngã tư Lê văn Duyệt-Phan Đình Phùng.

Tay trái tôi xách thùng xăng, tay mặt tôi dìu Ngài bước ra xe và mời Ngài ngồi xuống. Ngài ngồi “Kiết Già” tay mặt đặt lên tay trái. Tôi cầm thùng xăng đáng lẽtưới lên vai Ngài, nhưng vì hốt hoảng lo sợ mật vụ tới nên đã đổ xăng từ đầu Ngài trở xuống. Ngài mở hộp diêm rút 5, 6 que rồi quẹt mạnh. Lửa tức tốc bừng cháy đốt ngay thân xác Ngài như một pho tượng trong khi các tăng ni quỳ xuống vừa khóc vừa niệm: A Di Đà Phật.

Tiếng niệm Phật rất não nùng thê thảm trong lúc ngọn lửa càng bốc cao, phủ kín cả người Ngài, nhưng Ngài vẫn ngồi vững như bàn thạch chấp hai tay trước ngực.

Sau 7 phút toàn thân Ngài ngã xuống nhưng hai tay vẫn còn chắp trên ngực. Xung quanh các tăng ni vừa bái lạy vừa khóc, vừa niệm Phật, nhưng có một người vẫn đứng thẳng như một trụ đá, không khóc, nét mặt rất đau thương đến độ trông rất lạnh lùng, chấp hai tay nhìn thẳng vào thân xác cháy đen của Ngài Quảng Đức. Đó là Thượng tọa Thích Tâm Châu mà nay là Hòa thượng tu hành tại nước Pháp.(Hiện nay, Hòa Thượng Thích Tâm Châu là Thượng Thủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trên Thế Giới và đang trụ trì Tổ Đình Từ Quang, Montreal, Canada – Ghi chú của người viết)

Ngài Quảng Đức đã hiến mình cho Đạo Pháp bằng cách an nhiên tọa thuyền trong biển lửa cao ngút. BỒ TÁT QUẢNG ĐỨC đã tự đốt mình để bảo vệ Đạo Pháp lúc lâm nguy và để bảo vệ quyền Tự Do Tín Ngưỡng. Hành động can đảm và tuyệt vời này của Ngài đã làm cả thế giới khâm phục và đã thức tỉnh lương tri nhân loại rằng đàn áp, chém giết chỉ gieo rắc thêm hận thù. Bạo lực sẽ thất bại trước Tự Do, Công Bằng, Tình Thương và lòng Khoan Dung..”(hết trích) [6]


Từ năm 1987, bài viết tự thuật của Đại đức Thích Chơn Ngữ trên Tập san Chấn Hưng
(số tháng 8/1985) đã được trích đăng lại trong tác phẩm VNMLQHT

Thế mà nay, sau gần nửa thế kỷ, họ vẫn cố tình gán ghép cho ngài là Cộng Sản, là người bị thiêu đốt và bịa đặt người tưới xăng thiêu đốt là “cán bộ Cộng Sản nằm vùng, cựu dân biểu lưỡng triều Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Công Hoan”. Họ(những thế lực thù nghịch Phật Giáo) vẫn dai dẳng nói rằng ngài “bị nướng sống chứ không phải tự thiêu”. Điều này cũng hoàn toàn sai. Lời thuật lại của những chứng nhân lịch sử hôm ấy như Hoà Thượng Thích Đức Nghiệp, cựu Đại Đức Thích Chơn Ngữ và cựu nhiếp anh gia Nguyễn Văn Thông đều thấy và kể lại rằng “Ngài mở hộp diêm rút 5, 6 que rồi quẹt mạnh”. Sự kiện này được chứng minh bởi chín tấm hình đen trắng bấm liên tục của thông tín viên Malcolm Browne chụp từ cùng một góc độ nhìn, lấy chiếc xe Austin làm nền hình, ghi lại khá chi tiết và trung thực diễn tiến động thái tự thiêu của HT. Thích Quảng Đức, đặc biệt trong một tấm hình (ảnh số 2), Đại Đức Chơn Ngữ đã bước đi ra xa về phía các chư Tăng Ni, để lại HT Quảng Đức một mình tìm cách tự quẹt diêm giữa vũng xăng lênh láng. [7]



Chín tấm hình của Malcome Browne
Lưu ý hình số 2: Đại đức Thích Chơn Ngữ rời xa HT Quảng Đức
sau khi đã đổ xăng lên người của Ngài
 
Sự cố tình bóp méo hay là sự mạo hóa lịch sử trắng trợn này không thểnào tưởng tượng được. Nhiều chứng nhân của lịch sử hãy còn sống mà đã bịxuyên tạc và bóp méo, không hiểu tương lai xa nữa, sự thực của lịch sử Phật giáo Việt Nam cũng như của dân tộc Việt Nam sẽ bị biến thể như thế nào!

Tuy nhiên, dù rằng nói cách nào đi nữa,đối với Phật Giáo cái “Tâm” mới là chủ yếu, tâm dẫn đầu mọi pháp. Mọi người, mọi việc xung quanh giúp ngài là theo ý muốn của ngài (để ngài hoàn thành đại nguyện), Tâm của ngài đã quyết định từ khi gửi đơn xin phépđược tự thiêu, đã dẫn đạo ngài, “hành động tự thiêu của ngài phát xuất từ tâm Bồ Đề, từ đại nguyện cứu độchúng sinh, đem thân xác còn lại của Ngài sử dụng thành ngọn đuốc soi sáng thế giới vô minh, hy vọngđánh thức lương tâm nhân loại và những người lãnh đạo cuộc chiến tương tàn đang hồi khốc liệt. Ngài thiêu thân vì đạo pháp, vì tiền đồ nguy khốn của Phật giáo, vì tự do và bình đẳng tôn giáo, không vì một ước muốn danh tiếng hay lợi lạc vật chất cá nhân” [8]. Đáng tôn kính thay đấng từbi vô lượng.

Các nhân vật được minh danh dẫn chiếu trong bài viết này còn sống hiện đang ở Hoa Kỳ. Và với bài viết này, sự thật của lịch sử Phật Giáo Việt Nam trong ngày 11/6/1963 đã được minh thị. Vậy đã đến lúc không còn có thể tiếp tục bôi bác hay mạo hóa lịch sử nữa, mà trả lại sự thật cho lịch sử.

Tâm Diệu

11-11-2011


Dẫn chiếu:

[1] Minh Thạnh, Clip HT. Thích Quảng Đức Tự Thiêu Diễn Lại: Từ Điểm Nhìn Chuyên Môn:


[3] Công Báo VNCH, Trung tâm Lưu Trữ Quốc Gia 2 tại Thành Phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) thuộc kho [fonds]Phủ Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa Miền Nam.

[4] Trần Văn Sơn, Hồi ký “Tôi Làm Nghề Dạy Học”
Được xác nhận trong cuộc điện đàm giữa nhà văn Nguyên Giác Phan Tấn Hải và cựu DB Trần Văn Sơn.

[5] Bùi Ngọc Đường, Giáo sư, cựu Giám đốc Sinh Viên Vụ, Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn. Chủ biên Tạp chí Chấn Hưng, Los Angeles (Qua các cuộc điện đàm và email với người viết).

[6] Huỳnh Văn Hải, Cuộc Tự Thiêu Lịch Sử, Nguyệt san Chấn Hưng số 4 tháng 8 năm 1985 Trang 2, 3 và 19. Los Angeles, Hoa Kỳ. (Phần trích đoạnở trên của bài viết “Cuộc Tự Thiêu Lịch Sử” cũng được tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu in lại trong tác phẩm “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”, Phụ Lục A, số thứ tự 27, trang 1083 và 1084, ấn bản 1987)



[8] Tâm Diệu, cư sĩ, nhà nghiên cứu Phật Học, chủ biên website Thư Viện Hoa Sen, tác giả bài tham luận đọc trước cuộc hội thảo khoa học “Bồ Tát Quảng Đức” tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam TP. HCM năm 2005 “BồTát Quảng Đức Vị Pháp Thiêu Thân Đối Chiếu Qua Kinh Điển”, trích trong cuốn: BồTát Quảng Đức Ngọn Lửa và Trái Tim, Lê Mạnh Thát chủ biên, nhà xuất bản Tổng Hợp TP. HCM xuất bản năm 2005, trang 199-208.

 

Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013


KHÔNG PHẢI LÀ CÁCH TỰ TỬ ĐƯỢC CHỌN
[Not the Preferred Way to Commit Suicide in "Overthrow"]

by Stephen Kinzer
Người Dịch: Trần Thanh Lưu


Stephen Kinzer là một nhà văn và cũng là nhà báo Mỹ. Ông là một cộng tác viên kỳ cựu của báo New York Times, từng tác nghiệp trong hơn 50 nước trên 5 châu lục. Trong thập niên 1980’, ông đã từng làm phóng sự về các cuộc cách mạng và biến động tại Trung Mỹ. Vào năm 1990, ông được thăng chức Trưởng Nhiệm sở tại Berlin và viết về sự biến dạng của các nước Đông Âu sau cuộc cách mạng nhung. Ông cũng đã là Văn phòng trưởng của New York Times tại Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) từ 1996 đến 2000.

Hiện nay, ông dạy tại về Báo chí và Chính sách Ngoại giao Mỹ tại đại học Northwestern University, bang Illinois. các tác phẩm đã xuất bản của ông là Bitter Fruit: The Story of the American Coup in Guatemala, với Stephen Schlesinger; (Doubleday, 1982); Crescent and Star: Turkey Between Two Worlds, (Farrar, Strauss and Giroux, 2001); All the Shah's Men: An American Coup and the Roots of Middle East Terror, (John Wiley & Sons, 2003);Overthrow: America's Century of Regime Change from Hawaii to Iraq, (Times Books, 2006); Blood of Brothers: Life and War in Nicaragua, with a new afterword, (Harvard University Press, 2007); A Thousand Hills: Rwanda's Rebirth and the Man Who Dreamed It, (John Wiley & Sons, 2008) - [Theo Wikipedia]

Dưới đây là trích đoạn từ Chương 7 của Cuốn “Lật Đổ” (Overthrow, Times Book, New York City, 2006) đề cập đến vai trò của Mỹ, nhất là thái độ không đứt khoát của Tổng thống Kennedy vì lập trường thiếu thống nhất của các phụ tá, trong cuộc lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm của quân dân miền Nam..


Các cơ quan thông tấn chẳng bao giờ ngủ nên không lạ gì khi Malcolm Browne, phóng viên của Associated Press ở Sài Gòn, vẫn còn làm việc khi điện thoại văn phòng của mình reo lên vào tối ngày 10 Tháng 6 năm 1963. Người gọi là (Thượng tọa) Thích Đức Nghiệp, một nhà sư Phật giáo mà Browne đã quen biết trong khi tác nghiệp về các cuộc xung đột leo thang giữa Phật giáo đồ và chính quyền do Công giáo-thống trị ở miền Nam Việt Nam. Ông nói với Browne rằng bất cứ ai xuất hiện tại chùa Xá Lợi sáng hôm sau sẽ chứng kiến "một sự kiện quan trọng".

Tối hôm ấy, nhà sư đã gọi vài phóng viên nước ngoài khác với cùng một thông điệp. Chỉ có Browne coi đó là nghiêm túc. Ông đã viết nhiều về cuộc nổi dậy của Phật giáo lan rộng và cảm nhận rằng nó sẽ có thể định hướng tương lai của Việt Nam. Trước bình minh sáng hôm sau, ông và trợ lý người Việt khởi hành đến chùa. Họ thấy chùa đông nghẹt các nhà sư trong tăng bào màu vàng nghệ và ni chúng với áo màu lam. Không khí bên trong đã nóng, ngột, và ngào ngạt mùi hương. Khói cuồn cuộn bay lên từ hàng trăm lò hương. Chư tăng ni lắng mình trong tiếng niệm kinh.

Browne chọn một chỗ ngồi. Một trong những ni cô đến gần ông, và trong khi bà rót trà, ông có thể nhìn thấy dòng nước mắt chảy xuống trên mặt bà. Một vài phút sau đó, TT. Thích Đức Nghiệp trông thấy ông và đến gần. Ông có một đề nghị đơn giản: đừng vội rời "cho đến khi sự kiện kết thúc."

Browne ngồi giữa cảnh này khoảng nửa giờ. Đột nhiên, theo một hiệu lệnh, các tăng ni ngừng tụng kinh, đứng dậy, và nghiêm trang theo nhau ra khỏi chùa và kết thành một hàng bên ngoài. Họ tập hợp phía sau một chiếc ô-tô Austin cũ chở năm nhà sư và họ đi theo chiếc ô-tô qua các đường phố. Đoàn người dừng ở nơi giao lộ của hai đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt, một trong những con đường lớn của thành phố. Những người biểu tình làm thành một vòng tròn để chặn tất cả các lối vào.

Ba nhà sư bước ra khỏi chiếc xe, một vị cao niên được nâng đở bởi những vị khác. Những vị sư trẻ đặt một đệm vuông trên mặt đường tại trung tâm giao lộ và giúp vị sư già yên vị theo kiểu ngồi kiết già tòa sen. Trong khi ngài lần hạt và lâm râm niệm danh hiệu thiêng liêng A Di Đà Phật, "Vãng Sanh Cực Lạc," họ lấy một thùng xăng từ xe và tưới một hỗn hợp xăng màu hồng-và-diesel lên ngài. Sau khi họ bước xa ra, ngài cầm một hộp diêm, quẹt lên rồi thả xuống đùi mình. Ngay lập tức, lửa ôm trọn ngài.
Trình tự cuộc Tự thiêu của HT Thích Quảng Đức được Malcome Browne
chụp ảnh và sắp xếp lại (đánh số từ 1 đến 9) – World Press Photo 1963
Lưu ý hình số “2”: Ngồi trên vũng xăng lênh láng, HT Quảng Đức bắt đầu
tự mình bật que diêm cho lữa bùng lên (trong hình số “3”)

Khi gió thổi ngọn lửa khỏi mặt ông ta, tôi có thể thấy rằng mặc dù đôi mắt nhắm kín, nét mặt của ông bị méo mó bởi nổi đau đớn cùng cực. Nhưng trong suốt cuộc thử thách của mình, ông không bao giờ thốt lên một tiếng hoặc thay đổi vị trí của mình, ngay cả khi mùi thịt cháy lan đầy không khí. Một tiếng kêu van kinh hoàng từ đám đông, và tiếng tụng kinh rời rạc từ vài nhà sư vì bị gián đoạn bởi tiếng la khóc của nỗi đau đớn. Hai nhà sư trương ra một biểu ngữ lớn bằng vải (viết tiếng Anh), "Một Nhà Sư Tự Thiêu cho Các Đòi Hỏi của Phật giáo,"

Choáng váng bởi những gì ông đã nhìn thấy, như một phản xạ Browne bấm máy ảnh liên tục. Sau một vài phút, một xe chửa lửa và nhiều xe cảnh sát với còi hú xuất hiện, nhưng những người biểu tình nằm ngay ở phía trước các xe nầy và bám vào bánh xe nên xe không thể tiếp cận được với giàn thiêu. Nhanh chóng ngọn lửa bắt đầu dịu dần. Khi lửa tàn, vài nhà sư đã xuất hiện với một quan tài bằng gỗ và cố gắng nâng xác chết của người đàn ông đặt vào đó. Tay chân của ông đã trở nên cứng ngắt. Chiếc quan tài đã được mang về chùa Xá Lợi, cả hai cánh tay ló ra ngoài. Một cánh còn bốc khói.

Những tấm ảnh của Browne về nhà sư tự thiêu đã làm choáng váng mọi người trên thế giới. Ngày hôm sau, một vị khách thăm Phòng Bầu Dục nhận thấy rằng Tổng thống John F. Kennedy đã có một xấp ảnh nằm trên bàn làm việc của ông. Hình như chúng tượng trưng cho sự tan rã của miền Nam Việt Nam và sự bất lực của tổng thống Ngô Đình Diệm. Trong vài tháng kế tiếp, những hình ảnh này đã giúp thúc đẩy chính quyền Kennedy hướng về một quyết định trọng đại. Diệm đã mất sự tin tưởng của của chính quyền (Mỹ) và sẽ bị lật đổ.
 
۞۞۞
 
Đất nước Việt Nam xanh tươi, uốn lượn như đuôi rồng dọc theo bờ biển ngoằn ngoèo của Đông Dương, đã trở thành một thuộc địa của Pháp vào thế kỷ XIX. Nhiều thế hệ của các gia đình người Pháp đã xây dựng cuộc sống ở đấy, khai khẩn rừng thành những đồn điền cao su và biến Sài Gòn, thủ đô, thành một tiền đồn thuộc địa lạ kỳ. Trong những năm hỗn loạn sau khi Thế Chiến II, tinh thần dân tộc và chống thực dân bùng lên ở Việt Nam cũng như nó đã nổ ra tại những vùng đất xa xôi như Iran và Guatemala. Nhiều nhà lãnh đạo nước ngoài đã không nhận ra sức mạnh của tinh thần đó. Kẻ đại cận thị lại là người Mỹ. Sự mù lòa của họ sẽ dẫn Hoa Kỳ đến sự thất bại quân sự lớn nhất trong lịch sử của nó

Nhật Bản đã chiếm đóng và kiểm soát Việt Nam trong chiến tranh thế giới. Một đoàn quân du kích Việt Minh, đã tiến hành chiến tranh du kích chống lại kẻ chiếm đóng, sử dụng vũ khí (và thuốc lá) do Mỹ thả xuống. Sau khi Nhật đầu hàng, nhà lãnh đạo đảng, ông Hồ Chí Minh, một người trông có vẻ yếu đuối khoảng 50 tuổi với một bộ râu mỏng, quyết định rằng đã đến lúc phải tuyên bố nền độc lập của nước ông. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trước một đám đông lớn tại phía bắc thành phố Hà Nội, ông đã đọc một bài tuyên ngôn mà bất kỳ người Mỹ nào cũng cảm thấy quen thuộc.

Ông tuyên bố “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”

Theo bản năng, ông Hồ nhắm đến Hoa Kỳ, một phần vì ông có điều mà theo một nhà sử học gọi là “cả đời ngưỡng mộ người Mỹ” và một phần vì ông có ít đồng minh khác. Nước Pháp, quyết định tái lập quyền thống trị cũ của họ tại Việt Nam, từ chối công nhận chính phủ mới của ông. Nước Anh, vốn sợ tấm gương của Việt Minh sẽ có ảnh hưỡng đến các thuộc địa riêng của mình, cũng phản đối ông. Lãnh đạo cộng sản tại Trung Quốc và Liên Xô lo sợ chủ nghĩa dân tộc của ông. Thật là hợp lý khi ông hướng về Washington để mong được giúp đỡ.

Tất cả nỗ lực của ông Hồ để thu hút sự hỗ trợ của Mỹ, trong đó bao gồm việc gửi thư đến tổng thống Harry Truman và Tướng George Marshall, tỏ ra vô hiệu quả. Người Pháp đã tái lập vai trò cũ của mình tại Việt Nam. Dần dần ông Hồ nhận ra rằng nếu ông muốn làm cho đất nước của mình thực sự độc lập, Việt Minh đành sẽ phải tham gia cuộc chiến tranh khác, lúc này chống lại thực dân Pháp. Cuộc chiến đạt đến đỉnh điểm khi Dwight Eisenhower đảm nhận chức tổng thống năm 1953

Toán Biệt kích OSS của Mỹ với hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp tại Tân Trào vào tháng 8 năm 1945 - Việt Minh chiếm cứ điểm Điện Biên Phủ của Pháp vào tháng 5 năm 1954

Lúc bấy giờ, người Pháp đã bị tả tơi sau bao năm chiến đấu chống du kích Việt Nam. Họ kết luận, với nỗi đau lớn, là họ phải từ bỏ thuộc địa lộng lẫy của họ và mong cầu hòa bình. Đầu năm 1954, các nhà đàm phán của Pháp và Việt Minh đã gặp gở tại Geneva. Các nhà đàm phán từ Trung Quốc, Liên Xô, Anh, và Hoa Kỳ cũng có mặt tại đấy. Bộ trưởng Ngoại giao Dulles cầm đầu đoàn đại biểu Mỹ. Một nhân vật có tầm vóc ít nhất cũng ngang bằng, ông Chu Ân Lai, đại diện Cộng sản Trung Quốc. Dulles vốn coi chế độ Trung Quốc chẳng khác gì ác quỷ, và khi một phóng viên hỏi liệu ông sẽ gặp ông Chu, ông Dulles trả lời lãnh đạm: "Không, trừ khi xe ô tô của chúng tôi đụng nhau"

Dulles đến Geneva hy vọng ngăn chặn một thỏa thuận. Ông đã thành công rất ít trong việc nầy, và rời khỏi nơi ấy sau một tuần. Không lâu sau đó, các nhà đàm phán còn lại đồng ý một sự phân vùng tạm thời của Việt Nam dọc theo vĩ tuyến 17. Cộng sản sẽ kiểm soát ở phía bắc và có thủ đô tại Hà Nội. Cựu đồng minh của Pháp sẽ thành lập một chính phủ riêng ở phía nam, với thủ đô tại Sài Gòn. Sẽ có các cuộc bầu cử toàn quốc trong hai năm, sau đó miền Bắc và miền Nam sẽ được tái hợp. Trong khi chờ đợi, ngoại quốc không được gửi vũ khí hoặc quân đội vào bất cứ bên nào của Việt Nam

Pháp chấm dứt nền cai trị của mình ở Việt Nam với một buổi lễ thích nghi lặng lẽ. Vào ngày 9 tháng mười 1954, dưới một bầu trời mưa, một nhóm nhỏ các binh sĩ tập hợp quanh một cột cờ tại Sân vận động Hà Nội và hạ lá cờ tam tài xuống. Một lính kèn thổi vài điệu sầu thảm. Không có bài hát hoặc bài phát biểu. Trong vòng tám năm chiến tranh không chính đáng, Pháp bị tổn thất thảm hại với 44.967 người chết và 79.560 người khác bị thương.

Rất ít người ở Hà Nội biết đến buổi lễ. Họ đã quá bận rộn chuẩn bị đón đoàn quân Việt Minh chiến thắng của họ. Những ngày sau khi Pháp rút lui; 30.000 quân du kích diễn hành vào thành phố. Chiến thắng của họ chưa hoàn thành, bởi vì Việt Nam đã bị chia đôi, nhưng sự phân chia chỉ có hai năm thôi. ông Hồ Chí Minh đã gây ra một cuộc bại trận kinh hoàng cho kẻ thù giàu mạnh hơn nhiều. Ông là người nổi tiếng nhất của đất nước. Nhiều người Việt cho rằng qua cuộc bầu cử năm 1956, ông sẽ được chọn để lãnh đạo đất nước của họ.

Ngoại trưởng Dulles đã làm mọi cách mà ông có thể làm để giữ cho Pháp lưu lại tại Việt Nam, nhưng họ vẫn quyết định ra đi. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là ông ta chịu ngồi yên khi các cử tri Việt bầu một người Cộng sản để lãnh đạo đất nước thống nhất của họ. Ông không bao giờ xét tới khả năng tìm kiếm một cuộc hòa giải với ông Hồ. Thay vào đó, ông ta đã ra tay phá bỉnh hiệp định Geneva bằng cách làm cho sự chia cắt đất nước trở thành vĩnh viễn.

Chỉ đạo dự án này đầy tham vọng này, Dulles đã chọn Đại tá Edward Lansdale, chuyên gia chống phản loạn thành đạt nhất của Mỹ vào thời đó. Lansdale đã giành một chiến thắng lớn trong việc đập tan quân du kích ở Philippines, hợp tác với một nhà lãnh đạo người Phi nói được tiếng Anh, Ramon Magsaysay mà ông đã lôi ra từ chỗ vô danh, tài trợ rộng rãi, điều động leo qua các cấp chính trị, và cuối cùng đặt vào ghế tổng thống. Ông cần cùng loại đối tác cho dự án Việt Nam của ông. Có một kẻ đang chờ đợi.

Ngô Đình Diệm là một người sùng đạo Công giáo, xuất thân theo một con đường quan lại Việt Nam khá dài. Ông đã học về hành chính công cộng [Ghi chú của người dịch: từ trường Hậu Bổ], ở tuổi 30, đã làm Thượng thư Bộ Lại trong nội các thân Tây của Hoàng đế Bảo Đại. Về sau ông nghiêng về nền độc lập nhưng vì do việc chống Chủ nghĩa Cộng sản mạnh mẽ của mình mà ông đã từ chối tham gia Việt Minh. Năm 1950, ông du hành tới Mỹ, nơi ông đã dành hai năm sống một cuộc sống tu sĩ ẩn dật tại chủng viện Maryknoll tại Lakewood, New Jersey, và Ossining, New York. Ông cũng đã có nhiều cuộc tiếp xúc chính trị quí giá. Thông qua sự trung gian của kẻ chống Cộng hung hản là Hồng y Francis Spellman, ông đã gặp các viên chức Bộ Ngoại giao và các thành viên có ảnh hưởng của Quốc hội. Spellman đã đặc biệt giới thiệu ông đến các chính trị gia Công giáo, trong đó có Thượng nghị sĩ John F. Kennedy của Massachusetts.

Khi người Mỹ phải tìm ra một người Việt Nam để thực hiện cuộc đấu thầu của họ tại Sài Gòn, ông Diệm là một trong số ít người mà họ biết đến. Lúc bấy giờ, ông là một người độc thân đẩy đà béo tốt 53 tuổi, sống ẩn dật tại một tu viện Benedictine tại Bỉ. Dulles và Lansdale chưa hề gặp qua ông ta, nhưng Lansdale bảo chứng cho lập trường chống-Cộng sản đáng tin cậy của ông ta, và đó là tất cả những gì Dulles cần nghe. Nước Pháp không có ứng cử viên nào tốt hơn để đề nghị. Cả Hoàng đế Bảo Đại dễ sai bảo đang sống tại Cannes cũng chẳng có ai. Vài tháng trước khi quân Pháp rút đi, ông Diệm đã được đánh bóng cho hợp lệ. Ông đã bay từ Paris đến Sài Gòn, và nhậm chức thủ tướng vào ngày tốt mà người Á đông gọi là ngày "song thất," ngày thứ bảy của tháng thứ bảy, ngày 7 tháng 7 năm 1954.

Lansdale đã cho ông Diệm một vài ngày để ổn định, và sau đó đã đến gặp ông tại Dinh Gia Long hoa lệ, trước đây là nơi cư trú của thống đốc Pháp. Rảo bộ xuống một trong các hành lang của dinh nầy, ông đã đụng vào cái mà sau này ông mô tả là "một người đàn ông tròn trịa trong bộ âu phục màu trắng", và hỏi xem Thủ tướng Chính phủ Diệm đang ở đâu.
 
Người đàn ông trả lời rằng “Tôi chính là Diệm đây”.

Đại tá CIA Edward Lansdale và ông Diệm tại Sài Gòn vào năm 1955
Đó là bước khởi đầu của một cuộc hợp tác dài, bất hạnh mà Lansdale đã che chở cho Diệm, và trong vòng một vài tháng đã cứu ông ta khỏi hai cuộc mưu toan đảo chính, mà một cuộc đã bị dập tắt bằng cách hối lộ các nhà lãnh đạo phiến quân với 12 triệu đô-la của CIA. Sau đó, ông đã phát động các chiến dịch chống Cộng sản mà Dulles đã gửi ông đến để tiến hành.

Các chiến thuật của Lansdale bao gồm từ phá hỏng các chiếc xe buýt của thành phố Hà Nội cho đến mua chuộc thầy bói để tiên đoán sự khổ ải dưới nền cai trị của Cộng sản. Một trong những kế hoạch lớn nhất của ông là giúp lập ra một cuộc di cư của hàng trăm ngàn giáo dân Công giáo từ Bắc vào Nam, thúc giục họ phải bỏ chạy với một chiến dịch gồm thông điệp phát thanh tuyên bố “Chúa Kitô đã đi vào Nam” và “Mẹ Maria đã rời miền Bắc. Những điều này không gây ra được cuộc nổi loạn mà Lansdale đã dự kiến, và với mỗi ngày trôi qua, cuộc bầu cử cả nước càng đến gần hơn. Mọi người đều nhận ra rằng nó sẽ đưa ông Hồ, người cha già dân tộc lên làm tổng thống của một nước Việt Nam thống nhất. Eisenhower đã đoán rằng "có thể là tám mươi phần trăm dân số" sẽ bầu cho ông Hồ. Điều này đặt cho người Mỹ một vấn nạn nghiêm trọng. Khi một phụ tá mang đến Bộ trưởng Ngoại giao Dulles một điện văn từ ông Diệm đề nghị một lối thoát, ông đã đọc nó ngay lập tức.

"Ông ta ngồi rất yên lặng," Paul Kattenburg Chánh Sự Vụ chuyên trách Việt Nam của Bộ Ngoại giao nhớ lại. "Chúng tôi đều ngồi rất lặng lẽ. Tôi có thể nhớ lại rõ rệt tiếng tích tắc của cái đồng hồ treo tường, và hơi thở nặng nề của ông ta khi ông đã đọc xong tờ giấy – quay sang chúng tôi, một ít người trong chúng tôi đã có mặt tại cuộc họp đó, và nói rằng, 'Tôi không tin Diệm muốn tổ chức bầu cử, và tôi tin rằng chúng ta nên hỗ trợ ông ta trong vụ này.’"
 
۞۞۞

Việt Nam dự trù bị chia đôi chỉ trong hai năm mà thôi. Điều ấy đã bị thay đổi sau khi ông Diệm và Dulles quyết định không tổ chức cuộc bầu cử năm 1956 theo lịch trình. Không có cuộc bầu cử thì không thể có sự thống nhất. Thay vào đó là hai quốc gia mới ra đời: Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam.

Vào cuối năm 1955, sau một cuộc trưng cầu dân ý mà, theo một phúc trình, ông đã giành được 98,2 phần trăm số phiếu, ông Diệm đã lật đổ vua Bảo Đại và tự phong mình làm quốc trưởng. Ông đã sử dụng quyền lực mới của mình để áp đặt một bản hiến pháp cho ông được toàn quyền [cai trị]. Trong khi ông Hồ cai trị miền Bắc Việt Nam theo phong cách truyền thống Cộng sản, thông qua một bộ chính trị gồm các đồng chí tin cậy, ông Diệm đã lập một bộ chính trị của riêng mình, lấy từ những bà con thân tín. Họ trị vì đất nước như là một gia đình.

Người em trai nhỏ nhất của ông Diệm, Ngô Đình Cẩn, không nắm giữ chức vụ chính thức nào nhưng đã cai trị miền Trung Việt Nam như một lãnh chúa phong kiến. Anh trai trưởng, Ngô Đình Thục, là một tổng giám mục Công giáo và cũng là một nhà kinh tài tham lam đã làm giàu bằng cao su, gỗ, và bất động sản. Một người thứ ba, Ngô Đình Luyện đã trở thành đại sứ tại Anh. Kẻ quan trọng nhất và nổi nhất là người em thứ tư của tổng thống, Ngô Đình Nhu, và bà vợ thích khoa trương của Nhu. Ông Nhu, một kẻ ngưỡng mộ say mê Machiavelli, đôi khi được gọi là "Rasputin người Việt," [Ghi chú của người dịch: Grigori Yefimovich Rasputin là tên đạo sĩ, thuật sĩ Nga gian ác sống trong nội điện của Nga Hoàng Tsar Nicholas II, và cũng là kẻ đã làm sụp đổ triều đại phong kiến cuối cùng Romanov này của Nga] đã là cố vấn thân cận nhất và là bản-ngã-hoán-vị của Tổng thống Diệm. Bà Nhu, một kẻ miệng lưỡi bảo vệ chế độ, đã từng nói bà ta không sợ chết bởi vì "Tôi yêu quyền lực, và trong đời sau, thậm chí tôi có cơ hội đạt được quyền lực còn mạnh hơn bây giờ."

“Bộ Chính trị” của ông Ngô Đình Diệm: TGM Ngô Đình Thục, Cố vấn Ngô Đình Nhu
và vợ là “Đệ nhất Phu nhân” Trần Lệ Xuân, và “Lãnh chúa miền Trung” Ngô Đình Cẩn

Quyết tâm của Mỹ để bảo vệ sự độc lập của Nam Việt Nam khiến ông Hồ và các đồng chí của mình phát động cuộc chiến tranh chống thực dân lần thứ ba của họ. Năm 1960, họ tuyên bố một chiến dịch quân sự nhằm vào "việc tiêu diệt Đế quốc Mỹ và bè lũ Ngô Đình Diệm". Vài tháng sau đó, một loạt các nhà lãnh đạo của các nhóm đối kháng chính trị và tôn giáo ở miền Nam đã công bố thành lập một liên minh mới, Mặt trận Giải phóng Quốc gia [Ghi chú của người dịch: Đúng ra là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam: hay gọi tắt là Mặt Trận Giải Phóng, MTGP] để có thể đối đầu với chính quyền ông Diệm về chính trị trong khi du kích bây giờ gọi là Việt Cộng, tiến hành cuộc chiến tranh trên chiến trường.

Washington coi sự hình thành của Mặt trận Giải phóng Dân tộc chẳng qua chỉ là một trò tuyên truyền giựt gân của Cộng sản. Đó là một lỗi lầm thảm thiết. MTGP, một liên minh khá rộng của các đảng phái chính trị thiên tả, trí thức thành thị, và các chuyên gia lớp trung lưu, phát triển thành một phong trào mạnh mẻ trong nhiều tỉnh. Trong thời gian hai hoặc ba năm đầu hình thành, và ở một mức độ nào đó, ngay cả về sau này, khi nó trở thành trực tiếp liên minh với miền Bắc Việt Nam, nó có những quyền lợi khác hẳn với những quyền lợi của người Cộng sản. Người Mỹ không bao giờ tìm cách thăm dò những khác biệt ấy hoặc mở bất kỳ kênh liên lạc nào với lực lượng thường dân chống Diệm.

Bộ trưởng Ngoại giao Dulles ngã bệnh, nghỉ hưu, và mất năm 1958. Sau đó, Tổng thống Eisenhower dường như hết còn quan tâm đến Việt Nam. Vào ngày 19 tháng 1 năm 1961, một ngày trước khi ông rời chức vụ, ông đã giới thiệu tóm tắt cho Tổng thống-được bầu Kennedy về những điểm lộn xộn trên thế giới. Có nhiều chuyện để nói. Chế độ thân Mỹ tại Lào đã bị sụp đổ. Một cuộc nổi loạn chống thực dân đang hoành hành ở Algeria và một cuộc dấy động khác dường như sắp bùng phát tại Congo. CIA đã đào tạo được một đội quân bí mật để xâm lược Cuba với hy vọng lật đổ chế độ mới của Fidel Castro. Căng thẳng đã dâng cao tại Berlin. Tuy nhiên phải mất vài tháng, cho Kennedy mới nhận ra được những khía cạnh kỳ quặc của cuộc họp.

"Ông biết đấy," Kennedy tỏ sự ngạc nhiên với một phụ tá, "Eisenhower không bao giờ đề cập đến nó, không bao giờ thốt lên từ ngữ ‘Việt Nam.'"

Trong nhiệm kỳ tổng thống của Kennedy, số binh sĩ Mỹ tại miền Nam Việt Nam tăng từ 865 đến 16.500. Kennedy đã gửi phi cơ chiến đấu, trực thăng, pháo binh nặng, và đủ các loại vũ khí khác, không có thứ nào có thể xoay chuyển được chiến cuộc. Trong thực tế, như nhà báo và sử gia Stanley Karnow đã viết sau này, Viện trợ Mỹ "thì nghịch lý, làm mất sinh lực của chế độ Diệm."

Viện trợ, chủ yếu là quân sự, đã làm Diệm càng tin rằng ông ta đang tiến hành một cuộc xung đột qui ước và nó củng cố sự đề kháng của ông về các cải cách chính trị, kinh tế và xã hội. Hơn nữa, các đội quân của ông càng lúc càng miễn cưỡng đối đầu thẳng thừng với Việt Cộng, mà càng ỷ lại vào các cuộc không kích và pháo kích của Mỹ để làm công việc cho họ. Điều này phù hợp với Diệm, người đã chỉ thị các sĩ quan của mình nên tránh thương vong. Trong quan điểm của ông ta, vai trò chính của họ không phải để chiến đấu chống Việt Cộng mà để bảo vệ ông ta chống lại các cuộc đảo chính có thể xảy ra.

Một trong những đặc phái viên đầu tiên của Kennedy gửi đến Việt Nam - sẽ còn dài dài nhiều nữa - là Phó Tổng Thống Lyndon Johnson, người đã bay tới Sài Gòn vào Tháng 5 năm 1961. Khi trở về, Johnson là một người tin tưởng vào “lý thuyết domino", bị thuyết phục rằng nếu để Cộng sản chiếm được Nam Việt Nam, thì không mấy chốc họ sẽ đẩy cuộc chiến của họ đến "bãi biển Waikiki." Trong một bài phát biểu của mình, ông đã đi xa như khen ngợi Diệm như là "Churchill của Đông Nam Á," mặc dù sau đó khi Karnow hỏi ông rằng ông có thực sự tin điều đó không, ông ngập ngừng và trả lời "Cục cứt họ, Diệm là thằng nhãi duy nhất mà chúng ta có ở đó."(Shit, Diem’s the only boy we got out there – Lyndon Johnson’s interview, 1961, Saigon)

Với dòng ngắn gọn ấy, Johnson kết tinh chính sách Hoa Kỳ tại Việt Nam trong cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. Diệm là người thay chân Mỹ. Thiếu một nền tảng quần chúng, lôi ra từ một nhóm tôn giáo mà chỉ đại diện cho 10 phần trăm dân số đất nước mình, bao quanh bởi một gia đình tham nhũng và không màng đến công việc hàng ngày của chính phủ, ông đã được lựa chọn bởi vì không ai khác phù hợp với đòi hỏi của người Mỹ. Cũng như ở nhiều nước khác, người Mỹ tìm ở miền Nam Việt Nam một người lãnh đạo vừa có thể là một người quốc gia làm hài lòng đám đông và vừa còn có thể làm những gì Washington muốn, nhưng chỉ để thấy rằng họ không thể nào có cả hai [điều kiện đó được]

Hai thế lực đở đầu cho ông Diệm và chế độ của ông: Vatican và Mỹ
Ông Diệm trở nên khó chịu với vai trò của Mỹ ngày càng tăng ở nước ông. Đã hơn một lần ông than phiền với đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, Frederick Nolting, rằng quân đội Mỹ chỉ làm gia tăng cường độ của cuộc xung đột bằng cách khiêu khích những phản ứng mạnh mẽ từ phía Bắc. Dù vậy những toán lính, được gọi là "cố vấn" như một cách để duy trì viễn tưởng rằng họ không tham chiến, ồ ạt đổ vào. Giữa năm 1961 và 1963, họ tham gia vào hàng trăm trận đánh, và máy bay Mỹ đã bay hàng ngàn xuất kích ném bom chống lại các vị trí Việt Cộng. Trong cùng thời kỳ đó, 108 người Mỹ bị giết, và Hoa Kỳ bị mất 23 máy bay.

Ông Diệm than phiền về "tất cả các binh lính này tôi không bao giờ yêu cầu họ đến đây." Trong một cuộc kinh lý Vịnh Cam Ranh, ông chỉ ra hải cảng và nói với các phụ tá của ông, 'Người Mỹ muốn có một căn cứ ở đó, nhưng tôi không bao giờ chấp nhận." Khi Đại sứ Nolting, sau một kịch bản được viết ở Washington nói với ông rằng Hoa Kỳ muốn "chia sẻ tiến trình quyết định trong lĩnh vực chính trị, kinh tế và quân sự," ông trả lời "Việt Nam không muốn thành một nước bảo hộ." Người ta bắt đầu gọi ông ta là một kẻ được bảo hộ lừng khừng, một khách hàng từ chối cư xử giống như một khách hàng, một kẻ múa rối tự giựt lấy dây của riêng mình. Tồi tệ nhất lại đến khi người em trai và cố vấn trưởng, Ngô Đình Nhu, gợi ý rằng có lẽ là thời gian đã đến để thương lượng với Việt Cộng.

"Tôi chống chủ nghĩa cộng sản từ quan điểm của học thuyết, nhưng tôi không chống cộng sản từ quan điểm chính trị hay nhân đạo," Ông Nhu đã nói với một phỏng vấn viên truyền hình vào mùa xuân năm 1963. "Tôi xem những người cộng sản như anh em, con cừu đi lạc. Tôi không nghiêng về một cuộc tấn công chống lại những người cộng sản bởi vì chúng tôi là một đất nước nhỏ, và chúng tôi chỉ muốn sống trong hòa bình."

Màn cuối trong vở kịch thống trị của Diệm đã hé mở. Vào ngày 8 tháng Năm, Phật tử tụ tập ở Huế để đánh dấu ngày Đản sinh lần thứ 2.527 của Đức Phật. Bạo quyền địa phương, Ngô Đình Cẩn - cũng là em trai của tổng thống - đã đồng ý quyết định thi hành một nghị định cũ cấm quần chúng ăn mừng không được treo cờ ngủ sắc của Phật giáo, mặc dù chỉ một vài ngày trước đó cả thành phố đều phất phới biểu ngữ Công giáo đánh dấu kỷ niệm lần thứ 25 ngày Tổng giám mục Ngô Đình Thục được thụ phong. Phật giáo đã bắt đầu một loạt các cuộc biểu tình phản đối. Cảnh sát đã bắn vào họ, giết chết một người phụ nữ và tám trẻ em.

Lãnh đạo Phật giáo đã phản ứng bằng cách tung ra một chiến dịch toàn quốc chống lại Diệm. Họ phân phát tờ rơi, gặp gỡ với các nhà báo nước ngoài và tổ chức các cuộc biểu tình và tuyệt thực. Người dân hưởng ứng chính nghĩa của họ, thường ít dính dáng gì đến tôn giáo. Họ là những người nghèo nổi lên chống lại những người giàu, người bình dân bất chấp quyền lực của kẻ độc tài, và, theo lời phóng viên David Halberstam của New York Times, "người Á đông thế kỷ XX, phản đối chống lại những người Á đông già nua được uốn nắn từ một quá khứ quan lại."

Khi ông Diệm đã không đáp ứng với phong trào này, các nhà lãnh đạo Phật giáo đã thông báo rằng các nhà sư có thể tự sát như một cách để biểu lộ độ sâu của sự tức giận của họ. Diệm coi thường mối đe dọa này. Nhiều người Mỹ tại Việt Nam, bao gồm cả một số phóng viên tin tức, cũng coi thường như thế. Một người không coi thường là Malcolm Browne.

Nhà sư đã tự thiêu cho đến chết vào sáng ngày 11 tháng sáu có Pháp danh là Thích Quảng Đức. Ông ở tuổi sáu mươi bảy, đã thành một tỳ kheo gần nửa thế kỷ, và được tôn kính như là một Bồ Tát, một người đang trên đường đạt đến giác ngộ nhưng chọn từ bỏ nó để giúp đỡ những người khác trở nên giác ngộ. Trong một lời tuyên bố mà các đồng tu của ông phân phối sau khi ông chết, ông đã “kính cẩn” cầu xin Diệm tỏ "lòng nhân đức và lòng từ bi" đối với tất cả các tôn giáo. Thành viên to mồm nhất của gia đình cầm quyền, Bà Nhu, trả lời bằng cách giểu cợt cảnh tượng mà bà gọi là "nướng thịt". Bà nói rằng "Hãy để họ tự thiêu. Chúng tôi sẽ vổ tay."

Chúc thư của HT Thích Quảng Đức: “Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng
kính gởi lời cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân
và thi hành chánh sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thủa.”
Bà Đệ nhất Phu nhân Ngô Đình Nhu trả lời bằng cách giểu cợt cảnh tượng
mà bà gọi là "nướng thịt" rằng "Hãy để họ tự thiêu. Chúng tôi sẽ vổ tay."

Không ai ở Washington coi nhẹ cuộc tự thiêu. Nó là một phần của một dòng chảy đều đặn các tin xấu từ Việt Nam mà Tổng thống Kennedy và các phụ tá của ông buộc phải đối mặt trong suốt mùa xuân và mùa hè năm 1963. Du kích quân Việt Cộng đã thiết lập quyền kiểm soát hơn 20 phần trăm của miền Nam Việt Nam và di chuyển tự do trong một vùng rộng lớn gấp đôi. Quân đội Nam Việt Nam đã tõ lộ miễn cưỡng chiến đấu. Tham nhũng trong giới quan quyền, được nuôi dưỡng bởi các chương trình viện trợ Mỹ phủ phê, đã lan tràn. Ông Diệm mất sự ủng hộ của dân. Để giữ trật tự, ông buộc phải cai trị bằng đàn áp, phần lớn được điều hành bởi người em trai và cố vấn trưởng, ông Ngô Đình Nhu.

Một trong các quyết định đầu tiên của tổng thống Kennedy sau khi nhà sư tự thiêu là thay thế Đại sứ Nolting, một người Virginia phong nhã đã trở nên gần gũi với Diệm. Ông Kennedy xem xét việc đề nghị Lansdale, nhưng có một quy tắc bất thành văn là không được bổ nhiệm viên chức của CIA làm đại sứ, nên ông đã bỏ ý tưởng ấy. Thay vào đó, ông đã chọn một nhân vật hoàn toàn khác hẳn, một trong những đối thủ chính trị lâu đời nhất của ông, Henry Cabot Lodge, một trụ cột quý tộc của Đảng Cộng hòa.

Lodge đã đại diện cho tiểu bang Massachusetts tại Thượng viện cho đến năm 1952, khi ông mất ghế vào tay ông Kennedy. Sau sự thất bại ấy, Ngoại trưởng Dulles sắp xếp cho ông ta làm Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc, nơi ông đã đóng vai trò hỗ trợ trong việc lật đổ Jacobo Arbenz ở Guatemala. Năm 1960, ông Lodge là đồng ứng viên với Richard Nixon trên phiếu của đảng Cộng hòa mà Kennedy và Lyndon Johnson đánh bại. Sự nổi danh của ông, kinh nghiệm ngoại giao của ông, nền tảng chính trị mạnh mẻ của ông tại Washington, và sự thành thạo về Pháp ngữ của ông đã làm cho ông thành một sự lựa chọn hợp lý cho chức vụ ở Việt Nam. Kề cả cái phả hệ đảng Cộng hòa của ông. Kennedy và các phụ tá của ông đều biết rằng chức vụ ở Sài Gòn đầy rủi ro và thích cái ý tưởng có một đảng viên Cộng hòa để đổ lỗi nếu mọi việc bị sai quấy.

Ông Lodge tìm thấy Nam Việt Nam trong tình trạng hỗn loạn khi ông đến Sài Gòn vào buổi tối ngày thứ Sáu, 23 tháng tám năm 1963. Tình trạng bất ổn ngày càng tăng, khi có thêm cuộc tự thiêu của bốn nhà sư Phật giáo, và đã làm Tổng thống Diệm đặt đất nước dưới luật giới nghiêm. Các đội cảnh sát đã tấn công chùa chiền Phật giáo và bắt giữ hàng trăm nhà sư, trong đó có ngài tăng thống Phật giáo tám mươi tuổi. Ở Huế họ đã đánh một trận chiến đường phố ác liệt tám giờ liền chống lại những người biểu tình Phật tử.

Ngày cuối tuần ấy tại Washington, trong một sự biểu lộ kinh hải của nhầm lẫn và sai hiệu lệnh của chính quyền Kennedy đã vấp vào một tiến trình “thay đổi chế độ” kết thúc bằng máu. Nó là đỉnh cao của tuần tranh cãi về cách đối phó với Diệm. Một số trong chính quyền tin tưởng rằng ông vẫn còn là hy vọng tốt nhất cho miền Nam Việt Nam. Những người khác đã bỏ rơi ông ta và phù phép cho sự sụp đổ của ông.

Ngày thứ bảy, 24 tháng Tám, cả ba người ủng hộ Diệm mạnh nhất ở Washington đã ra khỏi thủ đô. Ngoại trưởng Dean Rusk đang tham dự một trận đấu banh Yankees ở New York, Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara thì đang nghỉ mát tại Wyoming, và Tổng thống Kennedy đang ở tại nhà nghỉ mát trên Cape Cod. Vì thế bộ máy ngoại giao của Mỹ đều nằm trong tay của ba viên chức cấp thấp hơn, tất cả đều muốn Diệm bị lật đổ.

Người hăng say nhất là Trợ lý Ngoại trưởng Ngoại giao Roger Hilsman, chuyên gia trưởng của Đông Á Sự Vụ. Hilsman, đã một thời là lính đặc công ở Miến Điện trong Thế chiến thứ II, coi mình là chuyên gia trên cả hai việc chống nổi loạn và chính trị của Đông Dương. Vào ngày thứ Bảy ấy, ông đã thảo ra một điện thư định mệnh gởi cho Lodge. Điện thư nầy ra lệnh cho ông Lodge nói trực tiếp với ông Diệm rằng Hoa Kỳ "không thể chịu đựng được nữa một tình huống mà trong đó quyền lực nằm hết trong tay của Nhu" và yêu cầu rằng Diệm cắt đứt tất cả quan hệ chính trị với người em của mình. Nếu Diệm "vẫn còn ngoan cố và từ chối," điện thư nói, "chúng ta phải đối mặt với khả năng rằng chính Diệm không thể được duy trì."

"Phù hợp với các điều nêu trên," điện thư đã kết luận, “Đại sứ và các nhóm trong nước cần khẩn trương xem xét lại tất cả việc khả thi thay thế lãnh đạo và thực hiện các kế hoạch chi tiết làm sao chúng ta có thể thay thế Diệm nếu điều này trở nên cần thiết. "

Buổi chiều hôm đó, Hilsman và một trong những đồng minh chính của ông, Phụ tá Ngoại giao Everell Harriman, đi tìm George Ball, người đang Xử lý thường vụ Bộ Ngoại giao trong khi Rusk vắng mặt. Họ tìm ra ông ta trên sân Golf Road tại Maryland. Ball là thành viên thứ ba của bộ ba chống-Diệm ở Bộ Ngoại giao. Ông thích điện thư của Hilsman và đồng ý điện thoại Kennedy và khuyên được gửi đi Sài Gòn.

Vì lý do vẫn chưa được biết rõ ràng, tổng thống Kennedy đã không tập trung vào mức độ nghiêm trọng của điện thư này. Ông có thể đã bị phân tâm bởi những thú vui cuối tuần của ông. Ông George Ball đã dùng lời lẽ đúng cách trong lối kêu gọi để trấn an tổng thống. Tổng thống Kennedy đã chỉ sửa một thay đổi nhỏ trong tin nhắn, và rồi chấp thuận nó. Ông Kennedy nói: "Geoge à, nếu Rusk và Gilpatrick đồng ý, thì tiến hành".

Không Rusk và cũng chẳng Phụ tá Quốc phòng Roswell Gilpatrick được tham vấn, nhưng ông Ball đã không đề cập đến điều đó. Sau khi gác điện thoại, ông gọi Rusk tại New York và nói với ông ta rằng ông đang chuẩn bị để gửi một điện thư đến Sài Gòn mà Tổng thống Kennedy đã phê duyệt. Ngoại trưởng Rusk, cũng như thói quen của mình, nói với họ rằng bất cứ điều gì Tổng thống chấp thuận đều tốt đối với với ông ta. Thậm chí ông còn tăng cường điện thư với một câu mới: "Ngài cũng có thể nói với các cấp chỉ huy quân sự tương ứng, chúng ta sẽ cung cấp hỗ trợ trực tiếp cho họ trong bất kỳ thời gian tạm thời khi cơ cấu chính quyền trung ương bị dứt đoạn."

Theo thủ tục của Bộ Ngoại giao, một điện thư có tầm quan trọng như thế này phải được chấp thuận không chỉ đơn giản bởi tổng thống và ngoại trưởng mà còn bởi bộ trưởng quốc phòng, giám đốc CIA, và chủ tịch của ban Tham mưu trưởng liên quân. Tất cả đã ngoài tầm liên lạc vào buổi tối thứ bảy ấy, thay vào đó, Ball kiểm tra với các phụ tá của họ. Các quan chức ở cấp ấy né tránh phủ quyết chỉ thị của tổng thống, và không ai giám làm vậy.

Một khi các nhóm chống Diệm đã yên tâm với những sự chấp thuận này, họ chỉ cần lệnh tiến hành cuối cùng của tổng thống Kennedy. Ông Michael Forrestal, một thành viên của Hội đồng An ninh Quốc gia, gọi tổng thống để xin phép. Với sự ngạc nhiên, ông thấy tổng thống đột ngột do dự. Ông đã có những xét lại. Ông Kennedy đã hỏi rằng "Các ông có chắc mọi chuyện đều tốt đẹp không?"

Ông Forrestal tìm cách trấn an tổng thống, và thế là xong. Lúc 9 giờ 43 phút tối hôm đó, một nhân viên tại Bộ Ngoại giao gởi điện thư đi. Các cuộc tranh luận đúng ra phải có trước đấy đã nổ ra vào buổi sáng thứ hai.

Một Kennedy tức giận triệu tập các cố vấn ngoại giao của ông vào Nhà Trắng và bắt đầu bằng việc khiển trách nghiêm khắc Hilsman, Harriman, Ball, và Forrestal về cái mà ông gọi là "tính bốc đồng" của họ. Tướng Maxwell Taylor, chủ tịch của Tham mưu Liên quân, cũng bực mình không kém. Ông nói ông sẽ không bao giờ chấp thuận điện thư, và cáo buộc những người soạn thảo nó là dàn dựng "một cuộc chạy nước rút hùng hổ" mà chỉ khả thi trong một ngày cuối tuần. Phó tổng thống Johnson, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara, và giám đốc CIA John McCone tất cả đều cảnh báo rằng việc lật đổ Diệm sẽ tạo ra nhiều vấn đề hơn là nó giải quyết. Cuộc tranh luận kéo dài hơn bốn ngày họp hành, làm cho Kennedy tức giận và nãn lòng. Ông than với một người bạn trong tuần ấy rằng "Trời ơi! Chính phủ của tôi đang tan rã!"

Tại Sài Gòn, Đại sứ Lodge đã hăng say chuẩn bị cho cách “thay đổi chế độ.” Ông đã gửi tín hiệu đến các tướng bất đồng và gởi một loạt các loại điện thư đến Washington thúc giục hành động nhanh chóng chống lại Diệm. Trong một bức đề ngày 29 tháng 8, ông cảnh báo rằng nếu Hoa Kỳ không "ra tay nhanh" Nam Việt Nam sớm có thể rơi vào tay các chính trị gia thân cộng hoặc ít nhất là trung lập.

Chúng ta đang lao vào vào một tiến trình lật đổ chính quyền Diệm mà không còn đường rút lui nào đáng nể. Không có lối quay trở lại bởi vì uy tín của Hoa Kỳ đã được cam kết công khai cho mục đích này bằng biện pháp lớn, và sẽ trở nên hơn thế khi sự kiện bị rò rỉ ra ngoài. Trong một ý nghĩa cơ bản hơn, theo tôi, không có chuyện quay trở lại vì cuộc chiến không thể thắng được dưới một chính quyền Diệm.

Bản điện thư ấy rõ ràng gây ấn tượng với Kennedy. Một vài ngày sau khi nhận được nó, ông ngồi trên bải cỏ của nhà nghỉ mát ở Cape Cod giành cho một cuộc phỏng vấn truyền hình với Walter Cronkite của CBS. Khi ông Cronkite hỏi nếu ông nghĩ rằng chính phủ Diệm có thể giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh, ông Kennedy đã cho một câu trả lời mà cũng là một tín hiệu cho Sài Gòn: "Với những thay đổi trong chính sách và nhân sự thì tôi nghĩ rằng nó có thể. Nếu nó không thực hiện những thay đổi ấy, tôi nghĩ rằng cơ hội chiến thắng cuộc chiến sẽ không rất tốt."

Khi hai ông Diệm và Nhu nghe được điều này, họ hiểu rằng chế độ của họ đã gặp nguy hiểm. Họ đành tìm một chiến lược mới. Ông Nhu quyết định đề xuất một cuộc tiếp xúc hữu nghị với miền Bắc. Ngay sau đó, Mặt trận Giải phóng cho biết họ sẵn sàng tham gia một chính phủ liên hiệp ở miền Nam, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc U Thant kêu gọi “trung lập hóa” miền Nam, và sự thống nhất cuối cùng của Việt Nam; Tổng thống Charles de Gaulle của Pháp tán thành ý tưởng; và đại sứ Pháp tại Sài Gòn bắt đầu làm việc bí mật với một đồng nghiệp Ba Lan để sắp xếp địa chỉ liên lạc giữa các chính phủ của miền Bắc và miền Nam Việt Nam, mặc dù không đủ bí mật để ngăn CIA biết được họ đang làm những gì.

Chính quyền Kennedy đang lựa chọn giữa hai sự chuyển đổi khủng khiếp là hỗ trợ một chính phủ tham nhũng và mất lòng dân và đang thua trận, hoặc chống lưng cho một cuộc đảo chính lật đổ chính phủ ấy.

Từ những ưu điểm lịch sử, thực là hợp lý để hỏi tại sao không có ai gợi ý về sự lựa chọn thứ ba hiển nhiên. Hoa Kỳ có thể đơn giản rửa tay khỏi cuộc khủng hoảng và để cho dân Việt Nam tự giải quyết. Điều đó rất có thể sẽ dẫn đến việc thành lập một chính quyền Cộng sản hay thân Cộng trên toàn bộ đất nước, nhưng đó, vẫn là những gì cuối cùng đã xảy ra. Một cuộc rút quân vào thời điểm này đã có thể cứu hàng trăm ngàn sinh mạng, tránh sự tàn phá của Việt Nam, và ngăn cho Hoa Kỳ một chấn thương quốc gia lớn nhất kể từ cuộc nội chiến. Tại sao không có ai đề nghị điều đó?