Hiển thị các bài đăng có nhãn CIA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CIA. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2019


CIA GIẢI MẬT HỒ SƠ VỀ CHÍNH BIẾN 1/11/1963
Ai Chỉ Thị, Ai Giết NĐ Diệm, NĐ Nhu?

Nguyên Giác sưu tầm

Một hồ sơ của Cục Trung Ương Tình Báo CIA mang mã số 80T01357A được giải mật và nhập vào Văn khố Quốc gia (NARA danh số 104-10214-10035) đã đưa ra một số chi tiết về những ngày sau khi chính phủ ông Ngô Đình Diệm tấn công các chùa VN, cho tới khi hoàn tất cuộc cách mạng của quân lực VNCH để lật đổ chế độ này. Hồ sơ nầy có tựa đề “DIEM REPORT (REPORT ON CIA AND U.S. GOVT INVOLVEMENT IN THE VIETNAMESE GENERALS’ COUP FO 1 NOVEMBER 1963” [Phúc trình về Diệm (Phúc trình về sự tham dự của CIA và Chính phủ Mỹ trong Cuộc Đảo chánh 1-11-1963].

Dưới đây là một số điểm đáng lưu ý trong hồ sơ này, ít thấy các tài liệu nghiên cứu của người Việt Nam nhắc đến:
● Hồ sơ mật CIA dài 48 trang, hoàn tất ngày 31/5/1967, đúc kết về cuộc đảo chánh 1/11/1963 tại Nam Việt Nam, đã được lưu trữ trên webpage của Văn Khố Quốc Gia (National Archives): https://www.archives.gov/files/research/jfk/releases/104-10214-10035.pdf
● Các tướng lãnh VNCH đã muốn đảo chánh từ nhiều năm trước 1963.
● Ban đầu, Mỹ chỉ muốn ông Diệm đưa ông Nhu ra khỏi trung tâm quyền lực lãnh đạo quốc gia, muốn ông Diệm trả tự do cho những người Phật tử phản kháng, muốn gỡ kiểm duyệt báo chí, muốn ban hành các quyền tự do căn bản đã bị thiết quân luật siết chặt. Mỹ nhận định cuộc chiến chống Cộng sẽ thảm bại vì chính phủ ông Diệm không còn uy tín trong lòng người dân VN.
● Thời gian quá ngắn để phái đoàn LHQ đi tìm sự thật về chế độ ông Diệm đàn áp Phật Giáo -- từ ngày 25/10 tới 31/10, chưa tới một tuần lễ, vì đảo chánh xảy ra ngày 1/11/1963. Phái đoàn bị chính phủ ông Diệm ngăn cản thăm Chùa Ấn Quang như lịch trình, phải dàn xếp sau đó mới được tới. LHQ không đưa ra kết luận vì chưa hoàn tất cuộc điều tra. (Xem chi tiết)
● CIA không liên hệ gì tới cuộc đảo chánh, bày tỏ thái độ không khuyến khích, không cản, chỉ quan sát.
● Tướng Dương Văn Minh và Tướng Trần Văn Đôn yêu cầu Mỹ đừng can thiệp vào nội bộ Việt Nam.
● Mỹ xin Tướng Đôn thông báo riêng cho Mỹ trong vòng 48 giờ trước đảo chánh, nhưng Tướng Đôn hứa sẽ chỉ thông báo 4 giờ trước. Cuối cùng, Tướng Đôn không thông báo trước. Khi đảo chánh nổ súng, mới thông báo.
● Các tướng không tin người Mỹ, sợ giờ chót Mỹ cứu chế độ ông Diệm, nên Tướng Đôn cho phụ tá tới đón quan chức CIA (Conein) vào bản doanh đảo chánh, sau đó Tướng Minh rút hết dây điện thoại trong bản doanh, chỉ liên lạc ra ngoài bằng radio của Tướng Minh. Cũng là hình thức giam lỏng, và xem Conein như con tin nếu Mỹ bênh ông Diệm.
● Quyết định giết hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu không phải quyết định riêng của cá nhân tướng lãnh nào. Hầu hết trong Hội Đồng Tướng Lãnh quyết định xử tử hai ông Diệm-Nhu.
● Đại Úy Nhung được trao nhiệm vụ xử tử hai ông Diệm và Nhu.
DIEM REPORT (REPORT ON CIA AND U.S. GOVT INVOLVEMENT IN THE VIETNAMESE GENERALS’ COUP FO 1 NOVEMBER 1963.
(Cục Trung Ương Tình Báo / CIA File Number 80T01357A, 05/31/1967)
Nha Văn Khố & Lưu Trữ / National Archives Records Administration
NARA Record Number 104-214-10035
.
(LƯỢC DỊCH HỒ SƠ CIA GIẢI MẬT, 104-10214-10035.PDF)
.
Tất cả các ngày dưới đây đều trong năm 1963.

ngày 8/5/1963:
Biểu tình bùng nổ ở Huế.

ngày 14/8/1963:
Thư nội bộ tình báo (OCI No. 2339/63): Có tin đồn sẽ có đảo chánh, nhưng chúng tôi (CIA) không có chứng cớ cụ thể gì về nhóm nào đang mưu tính gì.
ngày 21/8/1963:
Quân đội và cảnh sát tấn công nhiều chùa khắp VN. Ông Diệm ra lệnh thiết quân luật.
cùng ngày 21/8/1963:
Có tin về âm mưu đảo chánh. Conein (viên chức CIA tại Sài Gòn) gặp Tướng Trần Văn Đôn. Tướng Đôn đề nghị chính phủ Mỹ hỗ trợ cho một cuộc đảo chánh.
ngày 24/8/1963:
Điện tín Bộ Ngoại Giao Mỹ gửi về tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn (Deptel 243): Bộ Ngoại Giao thông báo cho Đại sứ rằng chính phủ Mỹ không chấp nhận tình hình quyền lực nằm trong tay ông Nhu. Nếu ông Diệm không muốn gạt bỏ ông Nhu, ông Diệm có thể phải ra đi. Đại sứ Mỹ được ủy quyền để:
(1) Thông báo chính phủ ông Diệm là phải ngưng đàn áp Phật Tử;
(2) Nói với các tướng lãnh liên hệ rằng chính phủ Mỹ sẽ không ủng hộ chế độ Diệm nếu có Nhu trong đó, và Mỹ sẽ ủng hộ trực tiếp chính phủ chuyển tiếp;
(3) và phải có tuyên bố tại Sài Gòn về việc gỡ bỏ tiếng xấu cho quân đội khi tấn công các chùa VN.
ngày 25/8/1963
Điện văn từ Sài Gòn (SAIG 0291):
Tướng Khánh muốn gặp Spera (viên chức CIA tại Sài Gòn) tức khắc. Trong buổi gặp, Tướng Khánh muốn bảo đảm Mỹ ủng hộ cuộc đảo chánh quân sự.
ngày 26/8/1963
(1) Điện tín CIA từ Sài Gòn (SAIG 0304): Sẽ không có viên chức Mỹ lộ diện trong đảo chánh. Conein sẽ gặp Tướng Khiêm, Spera sẽ gặp Tướng Khánh. Thông điệp chuyển cho các tướng: Mỹ không giúp gì hết cho ban đầu; thất bại hay thành công là chuyện các tướng.
(2) Điện tín từ Sài Gòn (SAIG 0330): Tướng Khánh nói chưa sẵn sàng; Tướng Khiêm nói sẽ bàn với Tướng Minh.
ngày 28/8/1963
(1) Điện văn từ Sài Gòn (SAIG 0363): Richardson (Trưởng Phòng CIA Sài Gòn) viết là tình hình hết cách trở lui, ông tin là các tướng sẽ đảo chánh và có cơ hội thành công.
(2) Tổng Thống Mỹ triệu tập buổi họp, trong đó một số viên chức Bộ Ngoại Giao nói rằng Mỹ không thể chiến thắng CS nếu còn hai ông Diệm-Nhu, nhưng Đại sứ Mỹ Nolting bênh ông Diẹm, nói ông Diệm là người duy nhất giữ cuộc chiến chống Cộng không trở ngại. Harriman (Thứ Trưởng Ngoại Giao) không đồng ý với Nolting.
ngày 29/8/1963:
Báo cáo từ CIA. Trưởng Phòng CIA Richardson chỉ thị Spera và Conein khi gặp Tướng Minh và Tướng Khiêm (trong ngày) là giữ lập trường không khuyến khích, cũng không lộ ý ngăn cản cuộc đảo chánh.
ngày 31/8/1963:
Có buổi họp do Phó TT Mỹ triệu tập với các viên chức về VN. Môt thư nội bộ CIA tóm lược rằng Mỹ không hài lòng chuyện ông Diệm-Nhu tấn công các chùa trên nhiều thành phố VN, cùng nhận định rằng chính phủ Diệm-Nhu không còn uy tín trong lòng dân VN để lãnh đạo và như thế cuộc chiến chống Cộng sẽ thất bại.
Bộ Ngoại Giao đề nghị Mỹ hỗ trợ cuộc đảo chánh của các tướng lãnh VNCH đang bất bình vì ông Diệm đàn áp Phật Giáo, cùng lúc Bộ Ngoại Giao Mỹ sẽ tìm nỗ lực thuyết phục ông Diệm hòa giải với Phật Giáo, trong khi vẫn giữ liên lạc với các tướng lãnh đê hỗ trợ nếu chỉ còn giải pháp duy nhất là lật đổ ông Diệm.
ngày 31/8/1963:
Điện văn CIA từ Sài Gòn (SAIG 0499): Cuộc đảo chánh hủy bỏ, vì các tướng cảm thấy không đủ quân lực kéo về cho cuộc đảo chánh.

ngày 2/9/1963:
(1) Điện văn CIA từ Sài Gòn (SAIG 0523): Richardson cho biết ông Diệm-Nhu biết rằng Hoa Kỳ khuyến khích các tướng làm cuộc đảo chánh.
(2) Báo Times of Vietnam (báo của hai vợ chồng ông Nhu) viết rằng CIA đang âm mưu và tài trợ một cuộc đảo chánh, đồng thời lên án Mỹ đang giúp ẩn náu một nhà sự (Thầy Trí Quang). Nội dung bài báo của ông Nhu lập tức được các báo lớn ở Hoa Kỳ dùng làm tin.
ngày 8/9/1963:
(1) Các báo Mỹ đăng tin rằng Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung (chủ lực tấn công các chùa VN ngày 21/8/1963) đang được CIA trả lương 3 triệu USD/năm và trong ngày 3/9/1963 (sau trận tấn công chùa) trả lương 250 ngàn USD.
(2) David Bell (Giám đốc cơ quan viện trợ USAID) trả lời phỏng vấn trên truyền hình rằng Quốc hội Mỹ có thể sẽ cắt giảm viện trợ nếu ông Diệm không đổi chính sách (để ngưng tấn công PG).
GHI CHÚ: Chính phủ Mỹ ngày 8/10/1963 nói rằng viện trợ đó (cho LLĐB) thực ra đã cắt giảm vài tháng rồi, nhưng việc lộ ra áp lực cắt giảm viện trợ là để các tướng VN tin rằng Mỹ thực sự có áp lực ông Diệm thay đổi. Điện văn (SAIG 0406) cũng ghi lời Tướng Minh nói với Spera và Conein khi 2 viên chức CIA này gặp Tướng Minh và Tướng Khiêm ngày 29/81963 rằng Mỹ cần chứng tỏ có lập trường khác bằng cách cắt giảm viện trợ để áp lực ông Nhu. Thực tế, Mỹ cắt viện trợ vài tháng, nhưng chính phủ ông Diệm-Nhu không đổi lập trường.
ngày 11/9/1963:
(1) Điện văn Đại sứ Lodge từ Sài Gòn (No. 478): Tình hình tệ hại nhanh chóng, tới lúc Mỹ cần cấm vận để làm chế độ ông Diệm sụp đổ để có chế độ khác lên.
(2) Tổng Thống Mỹ họp về VN. Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara nói Lodge có ít tiếp cận với Diệm và chưa bước ra khỏi Sài Gòn. McCone (Giám đốc Tình báo Trung ương DCI) nói là Mỹ cần nói nghiêm túc với ông Diệm, và Lodge nên đi một vòng miền quê VN xem cuộc chiến chống Cộng tới đâu để xem ảnh hưởng ngưng viện trợ. McCone cũng đề nghị Mỹ thuyết phục ông Nhu ra đi.

ngày 5/10/1963:
Điện văn CIA từ Sài Gòn (SAIG 1445): Gặp Conein, Tướng Minh nói ông không mong đợi Mỹ hỗ trợ cuộc đảo chánh, nhưng yêu cầu chính phủ Mỹ đừng cản trở kế hoạch đảo chánh của ông. Tướng Minh đưa ra ba viễn ảnh có thể có cho kế hoạch thay đổi chính phủ:
(a) ám sát hai ông Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn, giữ ông Ngô Đình Diệm trong ghế Tổng Thống;
(b) dùng nhiều đơn vị quân đội bao vây Sài Gòn; và
(c) chạm súng giữa quân đảo chánh và quân trung thành ông Diệm ở Sài Gòn.
cùng ngày 5/10/1963:
Điện văn Tổng Thống Mỹ gửi tới Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, viết rằng Mỹ không đưa  ra khuyến khích nào cho đảo chánh, nhưng yêu cầu giữ liên lạc với những người có thể sẽ là lãnh đạo tương lai nếu đảo chánh thành công.
ngày 8/10/1963 (DỊCH TOÀN VĂN):
Hội Đồng Khoáng Đại Liên Hiệp Quốc đồng ý gửi một phái đoàn tới khảo sát sự kiện ở Nam VN, điều tra về cáo buộc chính phủ đàn áp các Phật tử.
(Bình luận: Phái đoàn tìm hiểu sự kiện rời New York ngày 21/10/1963 và tới Sài Gòn ngày 24/10/1963. Phái đoàn gặp ông Nhu, rồi thăm Chùa Xá Lợi, nơi được xem là trung tâm Phật Giáo phản kháng, nhưng chỉ thấy trong chùa có 2 nhà sư và các cảnh sát chìm VN. Phái đoàn tính thăm Chùa Ấn Quang như kế hoạch, nhưng bị chính phủ Diệm ngăn cấm. Nhưng phái đoàn cũng dàn xếp được để tới Chùa Ấn Quang ngày 27/10/1963, và phỏng vấn Thầy Thích Tịnh Khiết trước mặt nhiều cảnh sát chìm. Cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963 của các tướng lãnh đã gián đoạn công việc của phái đoàn, và phái đoàn rời Nam VN ngày 3/10/1963.
(Đại Hội Đồng LHQ ngày 13/12/1963, không bỏ phiếu, đã chấp thuận ngưng điều tra việc đàn áp Phật tử tại Nam VN. Chủ Tịch Đại Hội Đồng là Rodriguez nói rằng chuyện chính phủ Diệm đàn áp Phật tử không còn là đề tài bởi vì chính phủ Diệm đã bị lật đổ.)
(Phái đoàn tìm sự kiện đưa ra bản phúc trình ngày 11/12/1963. Phúc trình không đưa ra kết luận, chỉ ghi các lời phỏng vấn đã thu góp được trong chuyến đi.)
ngày 10/10/1963:
Tóm lược chỉ thị (DIR 74228) của Đại sứ Mỹ với các nhân viên CIA: đừng khởi ý tìm gặp Tướng Minh và Tướng Đôn, nhưng nếu các tướng nói là muốn gặp, thì nhân viên CIA phải thỉnh ý Đại sứ.
ngày 23/10/1963:
Tướng Đôn đòi gặp Conein. Trong buổi gặp, Tướng Đôn nói các tướng quyết định sẽ đảo chánh trong vòng một tuần lễ sau ngày 26/10/1963. Tướng Đôn hứa sẽ cho Conein biết kế hoạch chính trị hậu-đảo chánh, chỉ để Đại sứ Mỹ xem thôi.
ngày 24/10/1963:
Conein hai lần gặp Tướng Đôn hôm 24/10/1963. Đôn nói đảo chánh sẽ xảy ra không trễ hơn ngày 2/11/1963. Tướng Đôn nói Hội Đồng Tướng Lãnh từ chối đưa kế hoạch chính trị hậu-đảo chánh cho Mỹ xem, nhưng đồng ý cho Tướng Đôn nói sơ lược với Conein.
ngày 25/10/1963:
Tổng Thống Mỹ họp. McCone (Giám đốc Tình báo Trung ương DCI) nói với Tổng Thống rằng:
(1) Đôn có thể bị Nhu dàn dựng;
(2) CIA không kiểm soát được, và do vậy rất ít trách nhiệm đối với tình hình [đảo chánh hay không];
(3) Đôn có thể đang tổ chức âm mưu đảo chánh, và có thể sẽ thành công;
(4) Chúng ta [tình báo Mỹ] đang đối phó tình hình tế nhị trong một cách thiếu chuyên nghiệp;
(5) Đảo chánh thành công sẽ dẫn tới phức tạp vì các tướng sẽ có dàn lãnh đạo [chính trị] yếu;
(6) Sau đảo chánh này có thể dẫn tới đảo chánh khác, và chính trị hỗn loạn sẽ làm thất bại cuộc chiến chống Cộng;
(7) Các nhân vật dân sự có năng lực điều hành chính phủ Nam VN có thể sẽ không được đưa vào chính phủ và để kiểm soát hiệu quả;
(8) Không thể thảo luận vấn đề chính trị quan trọng với ông Diệm được, vì chính sách ông này là "lạnh nhạt, không sai";
(9) Mỹ hoặc là phải làm việc với Diệm-Nhu, hoặc là phải có những bước mạnh hơn để lật đổ họ, và cũng không thể biết chính phủ kế tiếp có khá hơn hay không.
  ngày 28/10/1963:
Tướng Đôn hỏi Đại sứ Mỹ là Conein có nói gì không. Đại sứ Mỹ nói có. Đôn nói rằng Mỹ chớ có can thiệp, mà cũng chớ có thúc đẩy đảo chánh. Đại sứ đồng ý.
cùng ngày 28/10/1963:
Tướng Đôn gặp Conein, yêu cầu Conein ở nhà từ ngày 30/10/1963 cho tới khi có thông báo mới. Conein xin được thông báo trước 48 giờ về cuộc đảo chánh. Tướng Đôn nói có thể sẽ chỉ thông báo trước 4 tiếng đồng hồ.
ngày 30/10/1963:
Điện văn CIA gửi từ Sài Gòn (SAIG 2063): Đại sứ Lodge nói, "...đừng nghĩ rằng chúng ta có thể trì hoãn hay thuyết phục bỏ đảo chánh. Tướng Đôn nói rõ nhiều lần rằng đây là chuyện riêng của người Việt Nam với nhau... Tôi tin rằng chúng ta nên tiếp tục không dính vào chuyện này, nhưng cứ tiếp tục quan sát và hỏi thêm thông tin... Nếu chúng ta nghĩ rằng đảo chánh sẽ thất bại, chúng ta dĩ nhiên sẽ làm mọi cách có thể để ngăn cản đảo chánh."

ngày 1/11/1963:
Đảo chánh khởi sự lúc 13:15 giờ, giờ Sài Gòn, lúc đó là 00:15 giờ, giờ Washington, ngày 1/11/1963.
Lúc 13:15 giờ, một phụ tá Tướng Đôn tới nhà Conein, nói đảo chánh đang tiến hành, nói Tướng Đôn muốn gặp Conein ở bản doanh Tổng Tham Mưu Liên Quân (JGS).
[Xóa trắng gần 1 trang]
Conein tới JGS và ở đây tới khi đảo chánh hoàn tất. Trước khi rời nhà, Conein dùng radio thông báo về cấp trên.
ngày 2/11/1963:
Lúc 10:30 giờ ngày 2/11/1963 (giờ Sài Gòn), Đài Phát Thanh Sài Gòn loan tin cả hai ông Diệm và Nhu đều uống thuốc độc tự sát.
Sau đó trong ngày, Tướng Minh nói rằng cả hai ông Diệm-Nhu đã thoát khỏi Dinh Gia Long vào lúc vừa sau 7:00 giờ sáng ngày 2/11/1963 qua đường hầm mà các tướng không biết. Hai ông vào một nhà thờ Công Giáo ở Chơ Lớn, và uống thuốc độc nơi đây. Người ta khám phá ra hai ông lúc 10:300 giờ.
Mỹ không tin chuyện 2 ông Diệm-Nhu tự sát, nhưng không có nguồn tin khả tín về hai cái chết này.
Theo một bản phúc trình của Conein, ông Diệm điện thoại cho Tướng Đôn lúc 06:50 giờ sáng ngày 2/11/1963, xin đầu hàng vô điều kiện.
Tướng Minh tức khắc ra lệnh gỡ hết dây điện thoại trong phòng JGS, và chỉ liên lạc với bên ngoài qua radio của Tướng Minh.
ngày 16/11/1963:
Một sĩ quan (không được kể tên trong các báo cáo) hoạt động bên ngoài của JGS đưa cho một viên chức CIA xem hai tấm hình xác của ông Diệm và Nhu, nói rằng ông chụp hình này theo yêu cầu của Tướng Kim. Hai tấm hình cho thấy xác đầy máu.
.
Lời kể của sĩ quan này như sau:
- Sĩ quan này nói là có mặt trong khi Ủy Ban Quân Lực Cách Mạng họp về giải quyết 2 anh em ông Diệm-Nhu, đi theo đơn vị bắt giữ 2 ông Diệm-Nhu, và chứng kiến sự kiện ngay sau khi 2 ông bị giết -- nhưng không ngồi trong xe thiết giáp M-113.
- Theo sĩ quan này, cuộc thảo luận dài trong đêm 1 rạng sáng 2/11/1963 về cách giải quyết hai ông Diệm-Nhu, hầu hết các tướng đồng ý xử tử 2 ông. Quyết định kết cuộc: giết 2 ông Diệm-Nhu. Buổi họp chọn Đại Úy Nhung làm người xử tử.
- Vào sáng ngày 2/11/1963, Ủy ban Quân Lực Cách Mạng nhận được cú điện thoại từ một người điềm chỉ cho biết nơi ông Diệm-Nhu trốn. Một đơn vi quân nhân tới bắt hai người. [Tin này mâu thuẫn với báo cáo của Conein là dây điện thoại đã bị gỡ ra hết.] Một chút sau 10:00 giờ sáng, Diệm và Nhu vào xe thiết giáp với Đại Úy Nhung.
- Khi xe này tới bản doanh JGS, hai ông Diêm và Nhu đã chết. Nhu bị bắn 5 phát đạn, bị đâm 21 nhát lưỡi lê súng carbine. Diệm bị bắn hai phát vào ngực. Nhung nhảy ra khỏi xe thiết giáp với lưỡi lê trên tay, đưa cho những người chung quanh xem. Hai cánh tay Nhung đầy máu. [Trong hình, có vẻ như Diệm và Nhu bị trói tay ra sau lưng.]
(Hết lời kể)
.
TÓM TẮT:
(a) CIA không ủng hộ giải pháp lật đổ ông Diệm, nhưng trung thành làm theo chỉ thị cấp trên.
(b) Các viên chức CIA -- Conein và Spera -- liên lạc với các tướng (chỉ huy đảo chánh) nhưng chỉ khi được chấp thuận và theo chỉ thị.
(c) Viên chức CIA -- Conein -- hiện diện tại Bộ Tư Lệnh Đảo Chánh trong suốt cuộc giao chiến.
(d) [Câu (d) bị xóa trắng, chưa giải mật].
(e) CIA không liên hệ gì tới các vụ ám sát, và không hề biết trước các chuyện này.

(HẾT HỒ SƠ GIẢI MẬT 104-10214-10035.PDF)
Hồ sơ này được lưu ở địa chỉ: https://www.archives.gov/files/research/jfk/releases/104-10214-10035.pdf
.

Trang Mục Lục, Hồ sơ CIA số 80T01357A, ngày 31/5/1967

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014


TÌNH BÁO VÀ TÔN GIÁO
Nhân đọc “Thy Will Be Done”

Thiện Pháp


Tôn giáo là một phần gắn bó và cũng là một yếu tố tạo thành lịch sử nhân loại. Nhưng trong khi tôn giáo thăng hoa con người với những ảnh hưởng tốt đẹp thì đôi khi lại trở thành tác nhân của các cuộc thánh chiến. Tôn giáo mới cũng vẫn xuất hiện liên tục, không chỉ tại Việt Nam, mà ở hầu như toàn cầu. Cho dù ở mức độ nhỏ thế nào, các tôn giáo mới cũng sẽ có ảnh hưởng tới xã hội, chứ không chỉ với riêng các tân tín đồ. Thực tế, dù tôn giáo mới hay cũ, ảnh hưởng xã hội lúc nào cũng có, nhưng các tôn giáo mới sẽ đưa thêm nhiều yếu tố bất khả đoán vào các chuyển động văn hóa, xã hội và cả chính trị, khi đám đông tín đồ bị kiểm soát và khống chế bởi giới tu sĩ. Do vậy, các tôn giáo mới luôn luôn bị quan sát và theo dõi kỹ hơn.

*

Nhìn từ phía chính quyền, sẽ rất là tốt nếu các tôn giáo tạo được sự hòa hài xã hội, nhưng sẽ bị cho nguy hiểm nếu tôn giáo  là tác nhân gây bất ổn.
Một thời, tôn giáo đã từng là công cụ để một số đế quốc kiểm soát vùng đất mới. Đó là lý do, vùng Châu Mỹ Latin hầu hết theo đạo Thiên Chúa La Mã. Đó là thời của lưỡi gươm đi kèm với thập giá.
Trong thế kỷ 20, mọi chuyện tinh vi hơn. Sở Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ CIA đã giúp rải Kinh Thánh Cơ Đốc trong vùng Đông Dương, và đã dùng một số giáo sĩ làm tai mắt.
Câu chuyện này được kể lại trong bộ sách biên khảo có tựa đề “THY WILL BE DONE: The Conquest of the Amazon: Nelson Rockefeller and Evangelism in the Age of Oil,” với tác giả là Gerard Colby và Charlotte Dennett (Nhà xuất bản Harper Collins, 1995).


Trong bài điểm sách vào ngày 14-5-1995 trên tờ Los Angeles Times, Frank Stewart ghi nhận rằng trong sách trên có nói về cuộc đời của William Cameron Townsend, người sáng lập tổ chức chuyên dịch Kinh Thánh Cơ Đốc ra nhiều ngôn ngữ thế giới có tên là Wycliffe Bible Translators, và tổ chức đưa các bộ Kinh Thánh trên tới các sắc dân trên các bộ lạc xa xôi có tên là Summer Institute of Linguistics (SIL)...

Stewart viết về liên hệ của Townsend với CIA:
“... By the time Townsend's Christian linguists entered their 1,000th tribe in 1984, the SIL was heavily implicated with spying for the CIA, from Vietnam and Laos to Amazonia, and, at the very least, with remaining silent for decades in the face of policies that encouraged genocide among those very tribes Townsend's missionaries zealously wished to convert. Townsend and the SIL denied all such charges...”

Dịch:
“Vào lúc các nhà ngữ học Cơ Đốc của Townsend đưa vào bộ lạc thứ 1,000 của họ vào năm 1984, tổ chức SIL đã bị cáo buộc nặng nề là đã làm gián điệp cho CIA, từ (các bộ lạc) tại Việt Nam và Lào cho tới tại vùng Amazon, và ít nhất là, khi họ giữ im lặng trong nhiều thập niên khi đối diện với các chính sách khuyến khích diệt chủng giữa các bộ lạc thiểu số mà các nhà truyền giáo của Townsend nhiệt tâm mong muốn lôi cuốn cải đạo. Townsend và SIL bác bỏ các cáo buộc đó...”

*

Trong sách, tác giả Colby đã mô tả các nhóm truyền giảng Kinh Thánh đó -- Wycliffe Bible Translators, cũng thường biết dưới tên gọi Summer Institute of Linguistics, hay SIL -- là nỗ lực “đưa Kinh Thánh tới tất cả mọi dân tộc trong mọi ngôn ngữ nói thẳng vào trái tim của họ. Trong lịch sử 70 năm, Wycliffe đã thực hiện hơn 600 bản dịch, để dùng cho hơn 77 triệu người. Hiện nay Wycliffe có hơn 6,000 người làm việc trong hợp tác với những kiều dân và công dân toàn cầu.”

Nhận định về tác phẩm biên khảo nêu trên, Constantine Report viết:
Acording to Gerard Colby and Charlotte Dennett, the association between the intelligence community and Christian missionaries predates the public emergence of the CIA.”

Dịch:
“Theo [hai tác giả] Gerald Colby và Charlotte Dennett, sự hợp tác giữa các sở tình báo và các nhà truyền giáo Cơ Đốc đã có từ trước khi CIA bị lộ trước công chúng về vai trò [hợp tác].”

Câu hỏi là, CIA đã phải trình bày thế nào trước công chúng và các định chế lập pháp Mỹ về chuyện sử dụng các nhà truyền giáo làm gián điệp nầy?

*

Có một bản phúc trình nên được các nhà nghiên cứu về tôn giáo và sử học đọc kỹ; đó là bản phúc trình dài 650 trang đưa ra Thượng Viện ngày 26-4-1976 (toàn văn ở đây: https://archive.org/stream/finalreportofsel01unit/finalreportofsel01unit_djvu.txt), có nói rằng CIA dè dặt khi sử dụng các nhà truyền giáo, nhưng nhìn nhận là có việc như thế, ở trang 201 và 202, trích:

In a letter to this Committee, however, Mr. Colby stated that the CIA used religious groups with great caution, and that their use required special approval within the Agency:
Denutv Director for Operations regulations require the Denuty Director for Operations' annroval for the u«e of religious groups. He has the resnonsibilitv of ensuring that such operational use avoids infringement or damage to the individual religious personnel involved in their group. Such use is carefully weighed and approvals in recent years have been relatively few in number.” (Ghi chú: đoạn vừa trích trong văn khố Archive có lẽ chưa được biên tập chung quyết nên có những lỗi chính tả.)

Dịch:

“Tuy nhiên, trong một lá thư gửi Ủy Ban này, ông [Giám đốc CIA Willam] Colby viết rằng CIA đã sử dụng các tổ chức tôn giáo với sự dè dặt lớn, và rằng sử dụng họ đòi phải có sự chấp thuận từ Sở:
Nội quy của Phó Giám Đốc Chiến Dịch yêu cầu phải có ưng thuận của Phó Giám Đốc Chiến Dịch mới được sử dụng các tổ chức tôn giáo [cho CIA]. Vị này có trách nhiệm phải bảo đảm rằng việc sử dụng như thế không phạm luật hay không thiệt hại cho vị giáo sĩ liên hệ trong nhóm đó. Việc sử dụng như thế được cân nhắc cẩn thận và sự chấp thuận sử dụng trong mấy năm gần đây tương đối là ít tính về số lượng.”

Cần ghi nhận, chữ “gần đây” trong đoạn văn dịch trên là nói trước năm 1976. Hiện nay, có lẽ CIA cũng đã thay đổi phương pháp làm việc.

Tuy nhiên, bản phúc trình nêu trên không nói gì cụ thể về các cơ quan khác của Hoa Kỳ, như Cơ quan Viện trợ Phát triển USAID  hay Sở Quân báo DIA, hay các cơ quan  khác.

*

Các thông tin trên được ghi lại nơi đây, không có ý nói rằng Hoa Kỳ vẫn sử dụng các phương pháp như thế (cho dù, Bắc Triều Tiên vẫn luôn luôn chụp mũ Hoa Kỳ như thế), cũng như không có ý nói rằng các chính phủ nước khác hoàn toàn không sử dụng tôn giáo cho ý đồ riêng.

Đặc biệt là, trong thời hiện nay, chiến tranh tôn giáo đang xảy ra ở Syria, Sudan, Somalia, Thái Lan, Philippines và một số nơi khác... tất nhiên phảỉ làm cho mọi người Việt Nam cảnh giác.
Hay như trường hợp mấy năm trước, Hoa Kỳ tài trợ kỹ thuật cho một tổ chức tôn giáo bị cấm ở Trung Quốc, theo báo Washington Post, ngày 12 tháng 5-2010

Chúng ta nơi đây chỉ ghi sự kiện, vì có khi sự thật về các sự kiện  chỉ được lộ ra vài chục năm sau, khi các hồ sơ liên hệ được giảỉ mật.

Câu hỏi khác nữa là, Hoa Kỳ đang trong cuộc chiến chống lại khủng bố Hồi Giáo, và chiêu bài “tự do tôn giáo” đang là một trong những công cụ được sử dụng trong chiến lược ngoại giao toàn cầu của Hoa Kỳ. Có hay không, việc sử dụng hay vận dụng tôn giáo   trong cuộc chiến đã ttrở thành thánh chiến đối với nhiều người và nhiều dân tộc? Trên nguyên tắc, chúng ta hiện nay chưa có thông tin chính xác về các diễn biến mới này, nhưng tất phải ngờ vực rằng tôn giáo có thể đang trở thành vũ khí ở một số trường hợp.

Thiện Pháp
20.4.2014




Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

HỒ SƠ MẬT 1963
Từ Các Nguồn Tài Liệu Của Chính Phủ Mỹ

Nhóm Thiện Pháp thực hiện
Nhà Xuất bản Thien Tri Thuc Publications, USA 2013

 

LỜI GIỚI THIỆU

Tập sách Hồ Sơ Mật 1963 - Từ các nguồn Tài liệu của Chính phủ Mỹ nầy ra đời có hai mục đích:
Thứ nhất là để giới thiệu với quảng đại độc giả một nguồn tài liệu tham cứu của chính phủ Mỹ, ký tự là FRUS, vốn khá quen thuộc với giới nghiên cứu nhưng lại vẫn còn xa lạ với độc giả Việt Nam bình thường khi muốn tìm hiểu về những biến động lịch sử trong thập niên 1960’ của nước ta.
Thứ nhì là thông qua nguồn tài liệu đó để trình bày một số phát hiện mới, vốn không được đa số giới nghiên cứu người Việt hải ngoại khai thác và phổ biến, thậm chí còn bị một số “nhà bình luận” xuyên tạc và ngộ nhận, về những gì đã thực sự xảy ra tại miền Nam Việt Nam trong năm 1963.
Do đó, từ “Mật” trong tiêu đề tập sách là chỉ để cho quảng đại độc giả chưa biết đến, hoặc có biết đến nhưng không chịu sử dụng, nguồn tài liệu nầy mà thôi. Từ nay, hy vọng rằng mọi độc giả đều có thể tiếp cận trực tiếp nguồn FRUS để bổ túc cho những nhận định của mình được trung thực và chính xác hơn.

* * *

Tập sách nầy gồm 26 tài liệu, trong đó hơn 80%, 21 tài liệu, là của chính phủ Mỹ. Những văn bản nầy của chính phủ (Công điện, Bản Ghi nhớ, Điện tín, Phúc trình, …) gồm 12 tài liệu, hơn 57%, đã là của Bộ Ngoai Giao Mỹ dưới ký tự viết tắt FRUS. 9 tài liệu còn lại là của Tòa Bạch Ốc (Cục An Ninh Quốc Gia NSA), Bộ Quốc Phòng (Pentagon Papers), CIA (tại Sài Gòn và tại Langley), và từ Thượng Viện (Select Committee to Study Governmental Operations).
Còn 5 tài liệu không có nguồn gốc từ chính phủ Mỹ là Phúc trình A/5630 của Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc; một đoạn trong Death of A Generation của Howard Jones vốn là một tác phẩm cũng sử dụng rất nhiều nguồn tài liệu của chính phủ Mỹ. Ngoài ra, còn có một trích đoạn trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng của Trung Tướng Trần Văn Đôn, kể lại đêm tổng tấn công chùa 20-8-1963 mà ông vừa là tác nhân vừa là chứng nhân khiến một tài liệu của CIA đã phải đặc biệt nhắc đến; và một bài viết kết luận tổng hợp của tác giả Tâm Diệu về Phật giáo và cuộc Chính biến 1-11-1963 thông qua các tài liệu của chính phủ Mỹ.

Xin được có vài lời về lý do tại sao chúng tôi lại sử dụng đến hơn 57% tài liệu FRUS của Bộ Ngoại Giao Mỹ cho tập sách nầy.
FRUS, ký tự viết tắt của cụm từ Foreign Relations of the United States, là một tập hợp các tài liệu lịch sử chính thức liên hệ đến các quyết định quan trọng trong chính sách ngoại giao của Mỹ đã đƣợc giải mật và biên tập để công bố (The Foreign Relations of the United States series is the official documentary historical record of major U.S. foreign policy decisions that have been declassified and edited for publication). Những tài liệu nầy do Văn phòng Sử gia (Office of the Historian) thuộc Bộ Ngoại giao soạn thảo và chịu trách nhiệm xuất bản, và do Sở Ấn loát Chính phủ (Government Printing Office) in ấn phát hành. Tập hợp tài liệu đồ sộ nầy bắt đầu từ các biến cố ngoại giao từ thời chính quyền của Tổng thống Abraham Lincoln (1861) cho đến ngày nay.
Riêng tài liệu liên hệ đến Việt Nam duới nhiệm kỳ Tổng thống Kennedy thì gồm 4 Tập, phủ dài thời gian 3 năm từ 1961 đến 1963. Hai tập cuối cùng, Tập III và Tập IV, được phát hành vào năm 1991 và được phổ biến Online trong không gian Internet vào đầu thiên niên 2000.

Độc giả người Việt ở hải ngoại, ngay cả ở Mỹ, cũng ít nghe nói đến kho tài liệu đồ sộ và quý giá đã được giải mật khá đầy đủ và dễ dàng truy cập Online nầy. Chỉ một số nhà nghiên cứu nghiêm túc là biết từ rất sớm về FRUS và đã khai thác rất hiệu quả để tái khẳng định và/hoặc hiệu đính lại một số biến cố / luận điểm mà trong quá khứ đã không hoặc chưa đƣợc biểu đạt rõ ràng.
Xin đan cử trường hợp về hai bài viết có liên quan đến chế độ Ngô Đình Diệm chỉ vài năm sau khi FRUS được lên Online: Cách đây hơn 10 năm, trong bài viết Toàn Trị và Ngoại Thuộc vào tháng 5 năm 2003, giáo sư Cao Huy Thuần ở Pháp đã sử dụng 50 nguồn trích dẫn từ FRUS trong tổng số 53 cước chú của ông.1 Còn trong tiểu luận công phu  Phiến Cọng  trong Dinh Gia Long, hoàn thành vào tháng 8 cũng năm 2003, tiến sĩ Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu ở Mỹ đã sử dụng 49 tham chiếu từ FRUS trong tổng số 149 cước chú của ông. 2

Sở dĩ FRUS đạt được độ tin cậy khá cao, do đó mức sử dụng khá nhiều, trong các công trình nghiên cứu là vì ba lý do:
(i)                 Nói chung, FRUS là những tài liệu mật hoặc tuyệt mật (TOP SECRET) được trao đổi giới hạn giữa một số ít giới chức hành pháp rất cao cấp của Mỹ. Nội dung của những tài liệu nầy thường được làm cơ sở hoặc công cụ để thiết lập chính sách hoặc kế hoạch hành động cấp quốc gia, nên độ trung thực và tính chính xác của tài liệu, dù có lợi hay có hại cho chính quyền Mỹ, đều luôn luôn đƣợc người soạn thảo tài liệu cố gắng giữ ở mức tối đa;
(ii)               Cơ chế vận hành Check and Balance (Kiểm soát và Quân bình) của chính phủ Mỹ [và sau nầy với việc ban hành Freedom of Information Act năm 1966 (Đạo luật về Quyền tự do tiếp cận Thông tin)] cho phép hai ngành Lập pháp và Tư pháp cũng như bất kỳ người dân nào, sớm hay muộn, cũng truy cứu được thông tin của chính phủ. Thậm chí nếu cần, có thể xin tòa án can thiệp (subpoena) để được tiếp cận tài liệu. Vì biết rõ và vì làm việc trong khung nguyên tắc đó từ lâu nên trong quá trình hình thành các tài liệu, giới chức chọn lựa và soạn thảo FRUS đã phải cố gắng tránh những sai lầm, sơ hở, tối nghĩa, lạc dẫn, suy đoán, thậm chí dối trá, … ở mức tối đa;
(iii) Tinh thần và đạo đức học thuật của giới nghiên cứu Mỹ là khá cao, lãnh vực nghiên cứu là khá đa dạng, và tranh chấp học thuật thì gay gắt trên trường quốc tế. Do đó, những học giả luôn đòi hỏi các nguồn cung cấp tài liệu, dù trong hay ngoài chính phủ, dù lãnh vực an ninh quốc gia hay bất kỳ lãnh vực nào, cũng phải duy trì một mức độ chuyên nghiệp trong các tài liệu để họ có thể tin tưởng sử dụng. Trong lãnh vực bang giao quốc tế có liên hệ đến Mỹ, FRUS là công cụ làm việc của giới nghiên cứu nên cũng phải chuyên nghiệp ở mức tối đa.

Đó ít nhất là những lý do vì sao FRUS có độ khả tín khá cao. Do đó, một cách cụ thể, công trình nghiên cứu nghiêm túc nào về quan hệ Việt-Mỹ trong thập niên 1960‘ mà không tham chiếu FRUS thì cũng là điều thiếu sót. Nhưng dĩ nhiên chúng ta cũng không ngây thơ đến độ tin tưởng hoàn toàn bất kỳ thông tin nào của FRUS mà không đối chiếu với các nguồn thông tin khác và/hoặc đặt chúng trước quy trình phân tích chặt chẽ và chọn lọc khắt khe. Dù sao thì FRUS cũng đáng tin cậy và cần tham cứu để sử dụng, nhất là khi so sánh với những “nguồn tài liệu” khác rất đáng nghi ngờ, nhưng lại thường được đa số những “bình luận gia” người Việt cả trong lẫn ngoài nước, nhất là ở hải ngoại, sử dụng để “đầu độc chính trị” nhau nhiều hơn là để trình bày sự thật.

Một cách cụ thể, chúng tôi xin cung cấp hai đường link sau đây để độc giả có thể truy cập tất cả tài liệu FRUS liên quan đến quan hệ Việt-Mỹ trong năm 1963:
1- FRUS 1961-1963, Volume III: Vietnam January - August 1963:
2- FRUS 1961-1963, Volume IV: Vietnam August - December 1963:
   
* * *

Năm 1963 là năm có đầy đủ triệu chứng của một chế độ toàn trị đang ở hồi cuối cùng của quy trình hủy diệt. Đại sứ Trần Văn Chương, thân phụ của bà Nhu, là ngƣời đầu tiên dùng cụm từ “toàn trị” để xác định đặc tính chính trị của chế độ Diệm 3.
Để hiểu rõ hơn về biến cố 1963, ta cần nắm bắt ba giai đoạn phân chia cuộc đời chính trị của ông Ngô Đình Diệm:

■ Trước 1954, ông là một chính khách trôi nổi trong cuộc chiến Pháp-Việt, bị kẹt giữa chính sách của Hội Truyền giáo Hải ngoại (MEP) và truyền thống phục vụ nền đô hộ Pháp của gia đình nên ông đã không xả thân chống Pháp quyết liệt như các nhà cách mạng đương thời. Khi thì làm quan Nam Triều nên Việt Minh ghét ông, khi thì theo Nhật nên Tây muốn bắt ông, khi thì ẩn mình trong tu viện, khi thì “bao năm từng lê gót nơi quê người”, không uy tín, không lực lượng ngoại trừ một nhóm tín đồ Thiên Chúa giáo bản địa ủng hộ. Quốc tế không biết đến ông, lại vốn không có gốc rễ trong quần chúng nên ông không có một hoạt động nào có tác động đáng kể vào cuộc vận động giải thực gian khổ của toàn dân.
Đây là giai đoạn ông Diệm có thể có Tâm nhưng chắc chắn không có Tài, ai theo ông cũng được, không theo ông cũng chẳng sao. Ông chỉ là một “chính khách xa lông” như ta thường gọi.

■ Giai đoạn thứ nhì là từ 1954 đến 1959: Đó là lúc Mỹ thay Pháp tham dự vào thế cờ Đông Dương để xây dựng một tiền đồn chống lại chiến lược bành trướng của Cọng sản Quốc tế tại châu Á. Ông may mắn có hai yếu tố mà các chính khách Việt Nam đương thời không có: Mỹ Vatican. Ông cũng may mắn có ông anh Giám Mục quen biết với lãnh tụ số một của Công giáo Mỹ trong thời kỳ đó. Cho nên ông được cường quốc Mỹ hỗ trợ thay thế Bảo Đại của Pháp. Ba “bà mụ” chăm sóc để hóa thân ông thành “phép lạ” của Mỹ là Hồng y Francis Spellman, Thượng Nghị sĩ Mike Mansfield, và Ngoại trưởng John Foster Dulles.4 Với hai thế lực quốc tế và bảo chứng của vị vua triều Nguyễn, ông về nước, “phất cờ” và được hầu như toàn dân miền Nam ủng hộ để xây dựng miền Nam mà chống Cọng. Quân viện và kinh viện, nhân sự và văn hóa của Mỹ ào ạt đổ vào miền Nam, giúp ông vượt qua mọi trở ngại để thành lập nền Cọng hòa. Lãnh đạo miền Bắc vừa phải chờ gần hai năm để Tổng Tuyển cử, lại vừa bận lo chữa vết thương chiến tranh sau 9 năm đánh Pháp, nên miền Nam được tạm ổn, thanh bình và trù phú. Ông làm Tổng thống của một nền Cọng hòa non trẻ, là một lãnh tụ không giỏi nhưng gặp thời và được hai thế lực đỡ đầu hết lòng yểm trợ, nên thực hiện được nhiều thành tích tại miền Nam.
Trong giai đoạn 5 năm nầy, ông Diệm là người có thể vừa có Tâm vừa có Tài, nhưng quan trọng hơn cả là ông được thời thế, ai là người muốn xây dựng miền Nam để chống Cọng thì phải ủng hộ ông. Ông là một ông quan phụ mẫu chi dân tuyệt vời trong một chế độ dân chủ khập khiểng.

■ Giai đoạn cuối là từ năm 1960 với những bước ngoặt oan trái, hệ quả của nền cai trị độc tài của ông mấy năm trước và của bản chất phong kiến gia đình trị, tổng hợp chất Thiên Chúa giáo Trung cổ và quan lại Tống Nho của văn hóa gia tộc ông. Năm 1960, chánh sách nội trị của ông phạm nhiều sai lầm nên bị chính quân dân miền Nam chống đối. Từ đầu năm, nhóm trí thức Bắc di cư trong báo Tự Do công khai tố cáo hành động đục khoét miền Nam của gia đình họ Ngô với bức tranh 5 con chuột trên bìa báo Xuân Canh Tý. Tiếp theo là thảm bại của Sư đoàn 13 tại Trảng Sập (Tây Ninh) vào ngày 26/1 dù lực lượng chính phủ đông và mạnh hơn. Đến tháng 4, nhóm 17 nhân sĩ trí thức và một linh mục (trong đó có 11 người đã từng là chiến hữu hoặc cọng tác viên cũ của ông Diệm) thuộc nhóm Tự Do Tiến Bộ ra Tuyên ngôn (tại khách sạn Caravelle) tố cáo tình trạng độc tài, tham nhũng, kém hữu hiệu và đòi ông thay đổi nhân sự cũng như chính sách. Tháng 11, các sĩ quan chỉ huy binh chủng Nhảy Dù cùng nhiều nhân vật đảng phái quốc gia tập họp trong Liên Minh Dân ChủMặt trận Quốc gia Đoàn kết đã phát động cuộc binh biến, đánh thẳng vào dinh Độc Lập, đòi ông Diệm cải tổ toàn diện cơ cấu lãnh đạo quốc gia để xây dựng lại chính nghĩa và nâng cao hiệu năng chiến đấu của quân dân miền Nam. Tháng 12, Hà Nội cho ra đời và công khai hóa Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, làm điểm tụ lực để thu hút quần chúng bất mãn hầu tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang, thách thức tính chính thống của Việt Nam Cọng Hòa trên cả hai mặt quốc tế và quốc nội. Nhưng 5 biến cố đó cũng không tác hại sâu sắc bằng tình trạng kể từ năm 1960, hai ông bà Ngô Đình Nhu bắt đầu khuynh loát rồi cuối cùng khống chế trung tâm quyền lực quốc gia ở Dinh Gia Long, từ từ đẩy ông Diệm vào vai trò thứ yếu trong công việc quản trị miền Nam. Ông làm Tổng thống như một vua Lê bù nhìn bên (ông bà) chúa Trịnh lộng quyền.
Đây là giai đoạn chót, ông Diệm mất đi cả cái Tâm lẫn cái Tài, nhưng vẫn cùng gia đình cao ngạo bám vào ghế lãnh đạo quốc gia nên hại nước hại dân, vì vậy ai là người có trí và có lòng thì cũng phải chống ông. Từ người hùng của thời thế, ông Diệm trở thành tội nhân của lịch sử. Đó có phải là nhiệm ý Thiên Chúa chăng?

Vì cái năm bản lề 1960 nhiều biến động đó mà những năm sau, miền Nam bắt đầu suy thoái, chịu đựng hết cuộc khủng hoảng nầy đến cuộc khủng hoảng khác:
Thật vậy, năm 1961, trong lúc nền kinh tế quốc gia vẫn còn phụ thuộc nặng nề vào kinh viện Mỹ 5 thì tình hình an ninh hầu như bị suy sụp một cách đáng quan ngại, nhất là ở nông thôn, nơi Việt Cọng kiểm soát 80% 6 đến nỗi ngày 10-10-1961, ông Diệm phải ban bố “tình trạng khẩn cấp trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.” 7 Và hai tháng sau, ngày 7-12-1961, ông Diệm đã gửi thư cho Tổng thống Kennedy xin tăng thêm viện trợ vì “Việt Nam Cọng Hòa đang phải đối đầu với một thảm họa lớn nhất trong lịch sử8. Qua năm 1962, sáng ngày 27 tháng 2, hơn một năm sau “Đảo chánh Nhảy dù”, hai sĩ quan của một binh chủng khác của quân đội lại hành động: Trung úy Phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử đã bay 2 chiếc Skyrider A-1 ném bom Napalm và bắn rocket vào dinh Độc Lập với mục đích tiêu diệt toàn bộ lãnh đạo đầu não của Đệ Nhất Cọng hòa. Trong khi đó thì ngoài chiến trường, các đơn vị vũ trang của Việt Cọng bắt đầu thách thức quân lực VNCH trên cả 4 Quân khu, đánh chiếm nhiều đồn bót, pháo kích vào các quận huyện ven thủ đô Sài Gòn. Đặc công của họ còn dám đặt chất nổ tại các thành thị và bắt cóc các viên chức của chế độ. 9 Tình trạng an ninh khẩn trương đến nỗi ngày 31-3-1962, ông Diệm đã phải gửi thông điệp cho 92 quốc gia trên thế giới yêu cầu ủng hộ VNCH chống cuộc xâm lăng của Cọng sản 10. Như vậy, “Sau sáu năm trời làm một thứ Quốc trưởng không ai lay chuyển nổi, Diệm vẫn bất an. Sự ủng hộ của nhân dân phai lạt, quân đội không thể chiến đấu theo lối chiến tranh cách mạng của Việt Cộng, còn kinh tế quốc gia hầu hết hoàn toàn phụ thuộc vào viện trợ Mỹ11. Và, cuối cùng, năm 1963 định mệnh cũng đến!

Trong năm 1963 đó, những biến cố dồn dập khuấy động một miền Nam hừng hực lửa. Những biến cố nầy là do hệ quả tích lũy từ các nguyên nhân các năm trước hoặc được khởi động đột biến ngay trong chính năm 1963: Từ thảm bại Ấp Bắc đến Phúc trình Mansfield (đặt câu hỏi căn bản rằng “Chúng ta có thể thắng Cọng sản với Diệm không?”); từ cuộc đấu tranh rồi bị đàn áp của Phật giáo đến hành động quyên sinh của văn hào Nhất Linh; từ rạn nứt quan hệ với Mỹ đến những tiếp xúc thỏa hiệp với Hà Nội; từ gần 10 âm mưu đảo chánh của các sĩ quan trung cấp ngay đầu năm 1963 đến chính ông Nhu cũng dự định đảo chánh ông Diệm trong kế hoạch Bravo I để thay ông Diệm… Tất cả như những ngọn sóng, trùng trùng điệp điệp đan bện vào nhau đổ ụp xuống chế độ ông Diệm vào ngày 1-11-1963. Và vào sinh mạng hai anh em ông ngày 2-11-1963.
Phật giáo hay không Phật giáo, Quân đội hay không Quân đội, Mỹ hay không Mỹ, cuối cùng thì nhân nào quả nấy. Và lịch sử sang trang. Phải sang trang…

* * *

Nhiều tài liệu đã đề cập đến những ngày xao động của năm 1963. Trong tập sách nầy, thông qua các nguồn tài liệu Mỹ mà chủ yếu là từ FRUS, chúng tôi chỉ muốn cung cấp thêm một số dữ kiện do người Mỹ phát hiện nhưng không được đông đảo người Việt Nam biết đến. Sau đây là vài ví dụ:
- Trong vụ nổ súng tại Đài Phát thanh Huế ngày 8-5-1963, lúc đầu, binh sĩ chính quy được lệnh đàn áp đám đông Phật tử nhưng họ từ chối. Do đó, cuối cùng, chính địa phương quân của Thiếu tá Đặng Sỹ đã nổ súng và ném lựu đạn. (FRUS 1961-1963, Vol. III, Doc. 116).
- Ngày 3/6/1963 tại Huế, sinh viên và đồng bào tại Huế biểu tình và đã bị quân đội phun hóa chất để giải tán (FRUS 1961-1963, Vol. III, Doc. 146 và 147).
- Tướng Lê Văn Kim là tướng lãnh đầu tiên đề cập với ngƣời Mỹ, ông Rufus Phillips của USOM, về ý định của quân đội sẽ loại bỏ ông Nhu nếu Mỹ có cùng một thái độ cứng rắn như thế. Bộ trưởng Quốc phòng Nguyễn Đình Thuần và Chánh Văn phòng Phủ Tổng thống Võ Văn Hải cũng muốn Mỹ tỏ thái độ muốn loại bỏ ông Nhu. (Pentagon Papers trích dẫn FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 274).
 - Tướng Trần Văn Đôn cho người Mỹ biết giữa ông Diệm và bà Nhu không có quan hệ xác thịt nhưng ông Diệm xem bà Nhu như một người vợ lý tưởng thuần khiết (platonic wife) như Hitler đối với Eva Braun, và ông Diệm đã từng thăng chức cho một người làm vườn tại Đà Lạt từ Trung sĩ lên Trung tá chỉ vì người nầy trắng trẻo đẹp trai (FRUS 1961-1963, Vol I I I, Doc. 275).
 - Việc ông Nhu lừa dối các tướng lãnh khi cho Lực Lượng Đặc Biệt giả danh quân đội tấn công các chùa tại Sài Gòn đêm 20/8/1963 khiến cả Mỹ lẫn dân chúng Việt Nam lên án quân đội, đã là một bước ngoặt mạnh mẽ khiến Quân đội dứt khoát muốn loại bỏ ông Nhu hơn. (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 274).
 - Từ năm 1962, sau cuộc đảo chánh của Nhảy Dù và vụ oanh kích của 2 Phi công, và trước khi xảy ra vụ Phật giáo, Mỹ đã đánh giá là miền Nam sẽ bị nhuộm đỏ vì gia đình họ Ngô đa nghi, kém hiệu quả và mất lòng dân (FRUS 1961-1963, Vol II, 1962, Doc. 268).
- Sau cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, ngày 25/6, ông Nhu đã nói thẳng với người Mỹ rằng ông chống đối ông Diệm, và chính phủ hiện tại phải bị loại bỏ. Ông Nhu trình bày điều nầy trong một tình trạng xúc động cao độ (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 256).
- Một đội cảnh sát đặc biệt của bà Nhu được thành lập và do ngƣời em của bà là Trần Văn Khiêm chỉ huy. Ông Khiêm đã cho một ký giả người Úc xem một danh sách các viên chức Mỹ tại Sài Gòn mà ông đang lên kế hoạch ám sát (FRUS 1961-1963, Vol IV, Doc. 68).
- Nhiều quan chức Việt Nam cho biết quyền lực thực sự nằm trong tay ông Nhu, ông Diệm chỉ là “búp bê” của ông Nhu. Cả hai ông Nguyền Đình Thuần và Võ Văn Hải đều xác nhận ông Nhu hút thuốc phiện từ hai năm rồi. Trạng thái tâm thần hoảng loạn của ông Nhu hiện rõ khi ông tuyên bố chỉ có ông mới cứu được Việt Nam. (FRUS 1961-1963, Vol IV, Doc.110).
- Bà Trần Văn Chương, thân mẫu của bà Nhu, gọi bà Nhu là “đồ quỷ” (monster), ông Nhu là “hung nô” (barbare), ông Diệm là “kẻ bất tài” (incompetent). Còn ông Trần Văn Chương, Đại sứ VNCH tại Mỹ, thì bàn thảo với các nhà hoạt động để thành lập một chính phủ lưu vong để lật đổ nhà Ngô (FRUS 1961-1963, Vol IV, Doc.118).
- Khoản tiền 42,000 Mỹ Kim đã do CIA trao trước đó để dùng mua thực phẩm cho chiến binh VNCH và dùng làm tiền tử tuất cho gia đình tử sĩ trong cuộc binh biến 1-11-1963. Tướng Dương Văn Minh hai lần điện thoại tới ông Diệm, đề nghị hai anh em Diệm-Nhu đầu hàng sẽ được an toàn xuất ngoại. Ông Diệm hai lần từ chối. (Phúc Trình Thượng Viện Hoa Kỳ Số 94-465).
- Vân vân…
Đó chỉ là vài ví dụ. Xin bạn đọc từ từ đọc hết 26 tài liệu…
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Chính biến 1-11-1963, chúng tôi hy vọng tập sách nầy sẽ là một nhắc nhở đến những độc giả muốn tìm hiểu lịch sử Việt Nam thời cận đại một điều ai cũng đã biết, rằng trong tình trạng nhiễu loạn thông tin và nhiễu nhương thế sự hiện nay, hiểu được và đánh giá đúng một sự kiện thì thật là khó khăn.

Trân trọng,
Nhà Xuất bản Thien Tri Thuc Publications
P.O. Box 4805
Garden Grove, CA.92842-4805
U.S.A.

CƯỚC CHÚ:
(1) Bài được đăng trên Diễn Đàn Forum số 129, xuất bản tại Paris vào tháng 5 năm 2003 và được Thư Viện Hoa Sen đăng lại: http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-135_4-17521_5-50_6-1_17-55_14-1_15-1/  
(2) Bài được đăng trên Tạp chí Hợp Lưu tại California vào tháng 8 năm 2003 và được Việt-Studies đăng lại: http://www.viet-studies.info/kinhte/PhienCongDinhGiaLong_HopLuu.pdf  
(3) FRUS 1961-1963, Tập III, Memo của Forrestal gửi Harriman ngày 8-3-1963.
(4) Joseph Buttinger, Vietnam: A Political History. New York: Frederick A. Praeger, 1968.
(5) Bernard C. Nalty, Rival Ideologies in Divided Nations (Vietnam War), tr. 62; và Frances Fitzgerald, Fire in the Lake, tr. 101-104.
(6) Robert Scigliano, Vietnam, A Country At War.
(7) Sắc lệnh số 209-TTP của Tổng Thống Phủ - Đoàn Thêm, Những ngày Chưa quên Đại Nam, 1967 – Nam Chi Tùng Thư tái bản.
(8) Marvin E, Gettlemen, Vietnam History, Documents and Opinionsm và Đoàn Thêm, Những ngày Chưa quên, Đại Nam, 1967 – Nam Chi Tùng Thư tái bản.
(9) Stanley Karnow, Vietnam, A History, New York: King Presss, 1983.
(10) Đoàn Thêm, Những ngày Chưa quên, Đại Nam, 1967 – Nam Chi Tùng Thư tái bản.
(11) Bernard C. Nalty, Rival Ideologies in Divided Nations (Vietnam War), tr. 62.


MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU (trang 7)

PHẦN I - CUỘC VẬN ĐỘNG BÌNH ĐẲNG TÔN GIÁO NĂM 1963 CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
1- FRUS III (9-5-1963): Các điện văn trao đổi giữa Huế, Sài Gòn và Washington (trang 21)
2- CIA (11-5-1963): Báo cáo cho Tổng thống Mỹ về cuộc thảm sát tại Huế năm 1963 (trang 39)
3- FRUS III (1-8-1963): Tấn công Hóa học ở Huế (trang 43)
4- Pentagon Papers (20-8-1963): Chiến dịch Tổng tấn công chùa đêm 20-8-1963 và các hệ quả (trang 49)
5- Trần Văn Đôn / Việt Nam Nhân Chứng (20-8-1963): Cuộc tấn công các Chùa đêm 20-8-1963 (trang 70)
6- FRUS III (24-8-1963): CIA - Cuộc nói chuyện bí mật của Tướng Trần Văn Đôn (trang 76)
7- Bộ Ngoại giao (24-8-1963): Điện văn tối mật số 243 ngày 24-8-1963 (trang 92)
8- FRUS III (24-8-1963): Điện văn 274, Chiến dịch tấn công chùa (trang 99)
9- Liên Hiệp Quốc (7-12-1963): Bản Phúc trình của Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc (trang 105)
10- Liên Hiệp Quốc (7-12-1963): Phúc trình Liên Hiệp Quốc A/5630 đã kết luận như thế nào? (trang 109)

PHẦN II – TÌNH HÌNH CHÍNH QUYỀN NGÔ ĐÌNH DIỆM TRONG NĂM 1963
1- FRUS II (1/1962): Nhiều ngàn Sĩ quan VNCH cải đạo để tiến thân (trang 125)
2- CIA (10-7-1963): Bản đánh giá Tình báo Quốc gia đặc biệt (trang 132)
3- FRUS II (16-8-1962): Năm 1962, Mỹ đã thấy mất Việt Nam (trang 153)
4- FRUS III (16-8-1963): Ngô Đình Nhu muốn thay thế ông Diệm làm Tổng thống (trang 170)
5- Howard Jones / Death of A Generation: Ngô Đình Nhu thương thuyết với Hà Nội (trang 181)
6- FRUS IV (6-9-1963): Điện văn 68 ngày 6-9-1963, Nhu thiết lập danh sách nhân viên Mỹ sẽ bị ám sát (trang 204)
7- FRUS IV (15-9-1963): Mỹ thấy lính và dân Việt Nam phẩn nộ (trang 210)
8- FRUS IV (16-9-1963): Điện văn 118 – Thân phụ và thân mẫu bà Nhu kêu gọi lật đổ nhà Ngô (trang 219)
9- FRUS IV (26-9-1963): Bộ trưởng Quốc phòng McNamara viết từ Sài Gòn: Diệm Nhu đàn áp toàn dân (trang 224)
10- FRUS IV (7-10-1963): Vua Lê Ngô Đình Diệm và Chúa Trịnh Ngô Đình Nhu (trang 232)
11- Tòa Bạch Ốc / Cục An Ninh Quốc Gia (11-10-1963): Mỹ đã thấy mất Việt Nam từ cuối năm 1961 (trang 244)
12- Thượng Viện Hoa Kỳ (30-10-1963): Áp lực giờ chót của Mỹ đòi hủy bỏ cuộc lật đổ nhà Ngô (trang 261)

PHẦN III – VÀI TÀI LIỆU TỔNG HỢP
1- CIA (4/1966): Thích Trí Quang và Mục tiêu Chính trị của Phật giáo tại Nam Việt Nam (trang 271)
2- CIA (7/1966): Chính quyền Johnson nhìn lại biến cố 1963 (trang 310)
3- The Pentagon Papers (1/1969): Biến động Phật giáo từ 8-5 đến 21-8 năm 1963 (trang 314)
4- Tâm Diệu (10/2013): Phật giáo và cuộc Chính biến 1-11-1963 (trang 328)

Xin các nhà nghiên cứu liên lạc với Nhà Xuất bản Thien Tri Thuc Publications, PO Box 4805,Garden Grove, CA.92842-4805 để nhận ấn bản giấy.
Để đọc phiên bản điện tử, xin truy cập vào đường link: