Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

HỒ SƠ MẬT 1963
Từ Các Nguồn Tài Liệu Của Chính Phủ Mỹ

Nhóm Thiện Pháp thực hiện
Nhà Xuất bản Thien Tri Thuc Publications, USA 2013

 

LỜI GIỚI THIỆU

Tập sách Hồ Sơ Mật 1963 - Từ các nguồn Tài liệu của Chính phủ Mỹ nầy ra đời có hai mục đích:
Thứ nhất là để giới thiệu với quảng đại độc giả một nguồn tài liệu tham cứu của chính phủ Mỹ, ký tự là FRUS, vốn khá quen thuộc với giới nghiên cứu nhưng lại vẫn còn xa lạ với độc giả Việt Nam bình thường khi muốn tìm hiểu về những biến động lịch sử trong thập niên 1960’ của nước ta.
Thứ nhì là thông qua nguồn tài liệu đó để trình bày một số phát hiện mới, vốn không được đa số giới nghiên cứu người Việt hải ngoại khai thác và phổ biến, thậm chí còn bị một số “nhà bình luận” xuyên tạc và ngộ nhận, về những gì đã thực sự xảy ra tại miền Nam Việt Nam trong năm 1963.
Do đó, từ “Mật” trong tiêu đề tập sách là chỉ để cho quảng đại độc giả chưa biết đến, hoặc có biết đến nhưng không chịu sử dụng, nguồn tài liệu nầy mà thôi. Từ nay, hy vọng rằng mọi độc giả đều có thể tiếp cận trực tiếp nguồn FRUS để bổ túc cho những nhận định của mình được trung thực và chính xác hơn.

* * *

Tập sách nầy gồm 26 tài liệu, trong đó hơn 80%, 21 tài liệu, là của chính phủ Mỹ. Những văn bản nầy của chính phủ (Công điện, Bản Ghi nhớ, Điện tín, Phúc trình, …) gồm 12 tài liệu, hơn 57%, đã là của Bộ Ngoai Giao Mỹ dưới ký tự viết tắt FRUS. 9 tài liệu còn lại là của Tòa Bạch Ốc (Cục An Ninh Quốc Gia NSA), Bộ Quốc Phòng (Pentagon Papers), CIA (tại Sài Gòn và tại Langley), và từ Thượng Viện (Select Committee to Study Governmental Operations).
Còn 5 tài liệu không có nguồn gốc từ chính phủ Mỹ là Phúc trình A/5630 của Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc; một đoạn trong Death of A Generation của Howard Jones vốn là một tác phẩm cũng sử dụng rất nhiều nguồn tài liệu của chính phủ Mỹ. Ngoài ra, còn có một trích đoạn trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng của Trung Tướng Trần Văn Đôn, kể lại đêm tổng tấn công chùa 20-8-1963 mà ông vừa là tác nhân vừa là chứng nhân khiến một tài liệu của CIA đã phải đặc biệt nhắc đến; và một bài viết kết luận tổng hợp của tác giả Tâm Diệu về Phật giáo và cuộc Chính biến 1-11-1963 thông qua các tài liệu của chính phủ Mỹ.

Xin được có vài lời về lý do tại sao chúng tôi lại sử dụng đến hơn 57% tài liệu FRUS của Bộ Ngoại Giao Mỹ cho tập sách nầy.
FRUS, ký tự viết tắt của cụm từ Foreign Relations of the United States, là một tập hợp các tài liệu lịch sử chính thức liên hệ đến các quyết định quan trọng trong chính sách ngoại giao của Mỹ đã đƣợc giải mật và biên tập để công bố (The Foreign Relations of the United States series is the official documentary historical record of major U.S. foreign policy decisions that have been declassified and edited for publication). Những tài liệu nầy do Văn phòng Sử gia (Office of the Historian) thuộc Bộ Ngoại giao soạn thảo và chịu trách nhiệm xuất bản, và do Sở Ấn loát Chính phủ (Government Printing Office) in ấn phát hành. Tập hợp tài liệu đồ sộ nầy bắt đầu từ các biến cố ngoại giao từ thời chính quyền của Tổng thống Abraham Lincoln (1861) cho đến ngày nay.
Riêng tài liệu liên hệ đến Việt Nam duới nhiệm kỳ Tổng thống Kennedy thì gồm 4 Tập, phủ dài thời gian 3 năm từ 1961 đến 1963. Hai tập cuối cùng, Tập III và Tập IV, được phát hành vào năm 1991 và được phổ biến Online trong không gian Internet vào đầu thiên niên 2000.

Độc giả người Việt ở hải ngoại, ngay cả ở Mỹ, cũng ít nghe nói đến kho tài liệu đồ sộ và quý giá đã được giải mật khá đầy đủ và dễ dàng truy cập Online nầy. Chỉ một số nhà nghiên cứu nghiêm túc là biết từ rất sớm về FRUS và đã khai thác rất hiệu quả để tái khẳng định và/hoặc hiệu đính lại một số biến cố / luận điểm mà trong quá khứ đã không hoặc chưa đƣợc biểu đạt rõ ràng.
Xin đan cử trường hợp về hai bài viết có liên quan đến chế độ Ngô Đình Diệm chỉ vài năm sau khi FRUS được lên Online: Cách đây hơn 10 năm, trong bài viết Toàn Trị và Ngoại Thuộc vào tháng 5 năm 2003, giáo sư Cao Huy Thuần ở Pháp đã sử dụng 50 nguồn trích dẫn từ FRUS trong tổng số 53 cước chú của ông.1 Còn trong tiểu luận công phu  Phiến Cọng  trong Dinh Gia Long, hoàn thành vào tháng 8 cũng năm 2003, tiến sĩ Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu ở Mỹ đã sử dụng 49 tham chiếu từ FRUS trong tổng số 149 cước chú của ông. 2

Sở dĩ FRUS đạt được độ tin cậy khá cao, do đó mức sử dụng khá nhiều, trong các công trình nghiên cứu là vì ba lý do:
(i)                 Nói chung, FRUS là những tài liệu mật hoặc tuyệt mật (TOP SECRET) được trao đổi giới hạn giữa một số ít giới chức hành pháp rất cao cấp của Mỹ. Nội dung của những tài liệu nầy thường được làm cơ sở hoặc công cụ để thiết lập chính sách hoặc kế hoạch hành động cấp quốc gia, nên độ trung thực và tính chính xác của tài liệu, dù có lợi hay có hại cho chính quyền Mỹ, đều luôn luôn đƣợc người soạn thảo tài liệu cố gắng giữ ở mức tối đa;
(ii)               Cơ chế vận hành Check and Balance (Kiểm soát và Quân bình) của chính phủ Mỹ [và sau nầy với việc ban hành Freedom of Information Act năm 1966 (Đạo luật về Quyền tự do tiếp cận Thông tin)] cho phép hai ngành Lập pháp và Tư pháp cũng như bất kỳ người dân nào, sớm hay muộn, cũng truy cứu được thông tin của chính phủ. Thậm chí nếu cần, có thể xin tòa án can thiệp (subpoena) để được tiếp cận tài liệu. Vì biết rõ và vì làm việc trong khung nguyên tắc đó từ lâu nên trong quá trình hình thành các tài liệu, giới chức chọn lựa và soạn thảo FRUS đã phải cố gắng tránh những sai lầm, sơ hở, tối nghĩa, lạc dẫn, suy đoán, thậm chí dối trá, … ở mức tối đa;
(iii) Tinh thần và đạo đức học thuật của giới nghiên cứu Mỹ là khá cao, lãnh vực nghiên cứu là khá đa dạng, và tranh chấp học thuật thì gay gắt trên trường quốc tế. Do đó, những học giả luôn đòi hỏi các nguồn cung cấp tài liệu, dù trong hay ngoài chính phủ, dù lãnh vực an ninh quốc gia hay bất kỳ lãnh vực nào, cũng phải duy trì một mức độ chuyên nghiệp trong các tài liệu để họ có thể tin tưởng sử dụng. Trong lãnh vực bang giao quốc tế có liên hệ đến Mỹ, FRUS là công cụ làm việc của giới nghiên cứu nên cũng phải chuyên nghiệp ở mức tối đa.

Đó ít nhất là những lý do vì sao FRUS có độ khả tín khá cao. Do đó, một cách cụ thể, công trình nghiên cứu nghiêm túc nào về quan hệ Việt-Mỹ trong thập niên 1960‘ mà không tham chiếu FRUS thì cũng là điều thiếu sót. Nhưng dĩ nhiên chúng ta cũng không ngây thơ đến độ tin tưởng hoàn toàn bất kỳ thông tin nào của FRUS mà không đối chiếu với các nguồn thông tin khác và/hoặc đặt chúng trước quy trình phân tích chặt chẽ và chọn lọc khắt khe. Dù sao thì FRUS cũng đáng tin cậy và cần tham cứu để sử dụng, nhất là khi so sánh với những “nguồn tài liệu” khác rất đáng nghi ngờ, nhưng lại thường được đa số những “bình luận gia” người Việt cả trong lẫn ngoài nước, nhất là ở hải ngoại, sử dụng để “đầu độc chính trị” nhau nhiều hơn là để trình bày sự thật.

Một cách cụ thể, chúng tôi xin cung cấp hai đường link sau đây để độc giả có thể truy cập tất cả tài liệu FRUS liên quan đến quan hệ Việt-Mỹ trong năm 1963:
1- FRUS 1961-1963, Volume III: Vietnam January - August 1963:
2- FRUS 1961-1963, Volume IV: Vietnam August - December 1963:
   
* * *

Năm 1963 là năm có đầy đủ triệu chứng của một chế độ toàn trị đang ở hồi cuối cùng của quy trình hủy diệt. Đại sứ Trần Văn Chương, thân phụ của bà Nhu, là ngƣời đầu tiên dùng cụm từ “toàn trị” để xác định đặc tính chính trị của chế độ Diệm 3.
Để hiểu rõ hơn về biến cố 1963, ta cần nắm bắt ba giai đoạn phân chia cuộc đời chính trị của ông Ngô Đình Diệm:

■ Trước 1954, ông là một chính khách trôi nổi trong cuộc chiến Pháp-Việt, bị kẹt giữa chính sách của Hội Truyền giáo Hải ngoại (MEP) và truyền thống phục vụ nền đô hộ Pháp của gia đình nên ông đã không xả thân chống Pháp quyết liệt như các nhà cách mạng đương thời. Khi thì làm quan Nam Triều nên Việt Minh ghét ông, khi thì theo Nhật nên Tây muốn bắt ông, khi thì ẩn mình trong tu viện, khi thì “bao năm từng lê gót nơi quê người”, không uy tín, không lực lượng ngoại trừ một nhóm tín đồ Thiên Chúa giáo bản địa ủng hộ. Quốc tế không biết đến ông, lại vốn không có gốc rễ trong quần chúng nên ông không có một hoạt động nào có tác động đáng kể vào cuộc vận động giải thực gian khổ của toàn dân.
Đây là giai đoạn ông Diệm có thể có Tâm nhưng chắc chắn không có Tài, ai theo ông cũng được, không theo ông cũng chẳng sao. Ông chỉ là một “chính khách xa lông” như ta thường gọi.

■ Giai đoạn thứ nhì là từ 1954 đến 1959: Đó là lúc Mỹ thay Pháp tham dự vào thế cờ Đông Dương để xây dựng một tiền đồn chống lại chiến lược bành trướng của Cọng sản Quốc tế tại châu Á. Ông may mắn có hai yếu tố mà các chính khách Việt Nam đương thời không có: Mỹ và Vatican. Ông cũng may mắn có ông anh Giám Mục quen biết với lãnh tụ số một của Công giáo Mỹ trong thời kỳ đó. Cho nên ông được cường quốc Mỹ hỗ trợ thay thế Bảo Đại của Pháp. Ba “bà mụ” chăm sóc để hóa thân ông thành “phép lạ” của Mỹ là Hồng y Francis Spellman, Thượng Nghị sĩ Mike Mansfield, và Ngoại trưởng John Foster Dulles.4 Với hai thế lực quốc tế và bảo chứng của vị vua triều Nguyễn, ông về nước, “phất cờ” và được hầu như toàn dân miền Nam ủng hộ để xây dựng miền Nam mà chống Cọng. Quân viện và kinh viện, nhân sự và văn hóa của Mỹ ào ạt đổ vào miền Nam, giúp ông vượt qua mọi trở ngại để thành lập nền Cọng hòa. Lãnh đạo miền Bắc vừa phải chờ gần hai năm để Tổng Tuyển cử, lại vừa bận lo chữa vết thương chiến tranh sau 9 năm đánh Pháp, nên miền Nam được tạm ổn, thanh bình và trù phú. Ông làm Tổng thống của một nền Cọng hòa non trẻ, là một lãnh tụ không giỏi nhưng gặp thời và được hai thế lực đỡ đầu hết lòng yểm trợ, nên thực hiện được nhiều thành tích tại miền Nam.
Trong giai đoạn 5 năm nầy, ông Diệm là người có thể vừa có Tâm vừa có Tài, nhưng quan trọng hơn cả là ông được thời thế, ai là người muốn xây dựng miền Nam để chống Cọng thì phải ủng hộ ông. Ông là một ông quan phụ mẫu chi dân tuyệt vời trong một chế độ dân chủ khập khiểng.

■ Giai đoạn cuối là từ năm 1960 với những bước ngoặt oan trái, hệ quả của nền cai trị độc tài của ông mấy năm trước và của bản chất phong kiến gia đình trị, tổng hợp chất Thiên Chúa giáo Trung cổ và quan lại Tống Nho của văn hóa gia tộc ông. Năm 1960, chánh sách nội trị của ông phạm nhiều sai lầm nên bị chính quân dân miền Nam chống đối. Từ đầu năm, nhóm trí thức Bắc di cư trong báo Tự Do công khai tố cáo hành động đục khoét miền Nam của gia đình họ Ngô với bức tranh 5 con chuột trên bìa báo Xuân Canh Tý. Tiếp theo là thảm bại của Sư đoàn 13 tại Trảng Sập (Tây Ninh) vào ngày 26/1 dù lực lượng chính phủ đông và mạnh hơn. Đến tháng 4, nhóm 17 nhân sĩ trí thức và một linh mục (trong đó có 11 người đã từng là chiến hữu hoặc cọng tác viên cũ của ông Diệm) thuộc nhóm Tự Do Tiến Bộ ra Tuyên ngôn (tại khách sạn Caravelle) tố cáo tình trạng độc tài, tham nhũng, kém hữu hiệu và đòi ông thay đổi nhân sự cũng như chính sách. Tháng 11, các sĩ quan chỉ huy binh chủng Nhảy Dù cùng nhiều nhân vật đảng phái quốc gia tập họp trong Liên Minh Dân Chủ và Mặt trận Quốc gia Đoàn kết đã phát động cuộc binh biến, đánh thẳng vào dinh Độc Lập, đòi ông Diệm cải tổ toàn diện cơ cấu lãnh đạo quốc gia để xây dựng lại chính nghĩa và nâng cao hiệu năng chiến đấu của quân dân miền Nam. Tháng 12, Hà Nội cho ra đời và công khai hóa Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, làm điểm tụ lực để thu hút quần chúng bất mãn hầu tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang, thách thức tính chính thống của Việt Nam Cọng Hòa trên cả hai mặt quốc tế và quốc nội. Nhưng 5 biến cố đó cũng không tác hại sâu sắc bằng tình trạng kể từ năm 1960, hai ông bà Ngô Đình Nhu bắt đầu khuynh loát rồi cuối cùng khống chế trung tâm quyền lực quốc gia ở Dinh Gia Long, từ từ đẩy ông Diệm vào vai trò thứ yếu trong công việc quản trị miền Nam. Ông làm Tổng thống như một vua Lê bù nhìn bên (ông bà) chúa Trịnh lộng quyền.
Đây là giai đoạn chót, ông Diệm mất đi cả cái Tâm lẫn cái Tài, nhưng vẫn cùng gia đình cao ngạo bám vào ghế lãnh đạo quốc gia nên hại nước hại dân, vì vậy ai là người có trí và có lòng thì cũng phải chống ông. Từ người hùng của thời thế, ông Diệm trở thành tội nhân của lịch sử. Đó có phải là nhiệm ý Thiên Chúa chăng?

Vì cái năm bản lề 1960 nhiều biến động đó mà những năm sau, miền Nam bắt đầu suy thoái, chịu đựng hết cuộc khủng hoảng nầy đến cuộc khủng hoảng khác:
Thật vậy, năm 1961, trong lúc nền kinh tế quốc gia vẫn còn phụ thuộc nặng nề vào kinh viện Mỹ 5 thì tình hình an ninh hầu như bị suy sụp một cách đáng quan ngại, nhất là ở nông thôn, nơi Việt Cọng kiểm soát 80% 6 đến nỗi ngày 10-10-1961, ông Diệm phải ban bố “tình trạng khẩn cấp trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.” 7 Và hai tháng sau, ngày 7-12-1961, ông Diệm đã gửi thư cho Tổng thống Kennedy xin tăng thêm viện trợ vì “Việt Nam Cọng Hòa đang phải đối đầu với một thảm họa lớn nhất trong lịch sử” 8. Qua năm 1962, sáng ngày 27 tháng 2, hơn một năm sau “Đảo chánh Nhảy dù”, hai sĩ quan của một binh chủng khác của quân đội lại hành động: Trung úy Phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử đã bay 2 chiếc Skyrider A-1 ném bom Napalm và bắn rocket vào dinh Độc Lập với mục đích tiêu diệt toàn bộ lãnh đạo đầu não của Đệ Nhất Cọng hòa. Trong khi đó thì ngoài chiến trường, các đơn vị vũ trang của Việt Cọng bắt đầu thách thức quân lực VNCH trên cả 4 Quân khu, đánh chiếm nhiều đồn bót, pháo kích vào các quận huyện ven thủ đô Sài Gòn. Đặc công của họ còn dám đặt chất nổ tại các thành thị và bắt cóc các viên chức của chế độ. 9 Tình trạng an ninh khẩn trương đến nỗi ngày 31-3-1962, ông Diệm đã phải gửi thông điệp cho 92 quốc gia trên thế giới yêu cầu ủng hộ VNCH chống cuộc xâm lăng của Cọng sản 10. Như vậy, “Sau sáu năm trời làm một thứ Quốc trưởng không ai lay chuyển nổi, Diệm vẫn bất an. Sự ủng hộ của nhân dân phai lạt, quân đội không thể chiến đấu theo lối chiến tranh cách mạng của Việt Cộng, còn kinh tế quốc gia hầu hết hoàn toàn phụ thuộc vào viện trợ Mỹ” 11. Và, cuối cùng, năm 1963 định mệnh cũng đến!

Trong năm 1963 đó, những biến cố dồn dập khuấy động một miền Nam hừng hực lửa. Những biến cố nầy là do hệ quả tích lũy từ các nguyên nhân các năm trước hoặc được khởi động đột biến ngay trong chính năm 1963: Từ thảm bại Ấp Bắc đến Phúc trình Mansfield (đặt câu hỏi căn bản rằng “Chúng ta có thể thắng Cọng sản với Diệm không?”); từ cuộc đấu tranh rồi bị đàn áp của Phật giáo đến hành động quyên sinh của văn hào Nhất Linh; từ rạn nứt quan hệ với Mỹ đến những tiếp xúc thỏa hiệp với Hà Nội; từ gần 10 âm mưu đảo chánh của các sĩ quan trung cấp ngay đầu năm 1963 đến chính ông Nhu cũng dự định đảo chánh ông Diệm trong kế hoạch Bravo I để thay ông Diệm… Tất cả như những ngọn sóng, trùng trùng điệp điệp đan bện vào nhau đổ ụp xuống chế độ ông Diệm vào ngày 1-11-1963. Và vào sinh mạng hai anh em ông ngày 2-11-1963.
Phật giáo hay không Phật giáo, Quân đội hay không Quân đội, Mỹ hay không Mỹ, cuối cùng thì nhân nào quả nấy. Và lịch sử sang trang. Phải sang trang…

* * *

Nhiều tài liệu đã đề cập đến những ngày xao động của năm 1963. Trong tập sách nầy, thông qua các nguồn tài liệu Mỹ mà chủ yếu là từ FRUS, chúng tôi chỉ muốn cung cấp thêm một số dữ kiện do người Mỹ phát hiện nhưng không được đông đảo người Việt Nam biết đến. Sau đây là vài ví dụ:
- Trong vụ nổ súng tại Đài Phát thanh Huế ngày 8-5-1963, lúc đầu, binh sĩ chính quy được lệnh đàn áp đám đông Phật tử nhưng họ từ chối. Do đó, cuối cùng, chính địa phương quân của Thiếu tá Đặng Sỹ đã nổ súng và ném lựu đạn. (FRUS 1961-1963, Vol. III, Doc. 116).
- Ngày 3/6/1963 tại Huế, sinh viên và đồng bào tại Huế biểu tình và đã bị quân đội phun hóa chất để giải tán (FRUS 1961-1963, Vol. III, Doc. 146 và 147).
- Tướng Lê Văn Kim là tướng lãnh đầu tiên đề cập với ngƣời Mỹ, ông Rufus Phillips của USOM, về ý định của quân đội sẽ loại bỏ ông Nhu nếu Mỹ có cùng một thái độ cứng rắn như thế. Bộ trưởng Quốc phòng Nguyễn Đình Thuần và Chánh Văn phòng Phủ Tổng thống Võ Văn Hải cũng muốn Mỹ tỏ thái độ muốn loại bỏ ông Nhu. (Pentagon Papers trích dẫn FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 274).
 - Tướng Trần Văn Đôn cho người Mỹ biết giữa ông Diệm và bà Nhu không có quan hệ xác thịt nhưng ông Diệm xem bà Nhu như một người vợ lý tưởng thuần khiết (platonic wife) như Hitler đối với Eva Braun, và ông Diệm đã từng thăng chức cho một người làm vườn tại Đà Lạt từ Trung sĩ lên Trung tá chỉ vì người nầy trắng trẻo đẹp trai (FRUS 1961-1963, Vol I I I, Doc. 275).
 - Việc ông Nhu lừa dối các tướng lãnh khi cho Lực Lượng Đặc Biệt giả danh quân đội tấn công các chùa tại Sài Gòn đêm 20/8/1963 khiến cả Mỹ lẫn dân chúng Việt Nam lên án quân đội, đã là một bước ngoặt mạnh mẽ khiến Quân đội dứt khoát muốn loại bỏ ông Nhu hơn. (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 274).
 - Từ năm 1962, sau cuộc đảo chánh của Nhảy Dù và vụ oanh kích của 2 Phi công, và trước khi xảy ra vụ Phật giáo, Mỹ đã đánh giá là miền Nam sẽ bị nhuộm đỏ vì gia đình họ Ngô đa nghi, kém hiệu quả và mất lòng dân (FRUS 1961-1963, Vol II, 1962, Doc. 268).
- Sau cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, ngày 25/6, ông Nhu đã nói thẳng với người Mỹ rằng ông chống đối ông Diệm, và chính phủ hiện tại phải bị loại bỏ. Ông Nhu trình bày điều nầy trong một tình trạng xúc động cao độ (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 256).
- Một đội cảnh sát đặc biệt của bà Nhu được thành lập và do ngƣời em của bà là Trần Văn Khiêm chỉ huy. Ông Khiêm đã cho một ký giả người Úc xem một danh sách các viên chức Mỹ tại Sài Gòn mà ông đang lên kế hoạch ám sát (FRUS 1961-1963, Vol IV, Doc. 68).
- Nhiều quan chức Việt Nam cho biết quyền lực thực sự nằm trong tay ông Nhu, ông Diệm chỉ là “búp bê” của ông Nhu. Cả hai ông Nguyền Đình Thuần và Võ Văn Hải đều xác nhận ông Nhu hút thuốc phiện từ hai năm rồi. Trạng thái tâm thần hoảng loạn của ông Nhu hiện rõ khi ông tuyên bố chỉ có ông mới cứu được Việt Nam. (FRUS 1961-1963, Vol IV, Doc.110).
- Bà Trần Văn Chương, thân mẫu của bà Nhu, gọi bà Nhu là “đồ quỷ” (monster), ông Nhu là “hung nô” (barbare), ông Diệm là “kẻ bất tài” (incompetent). Còn ông Trần Văn Chương, Đại sứ VNCH tại Mỹ, thì bàn thảo với các nhà hoạt động để thành lập một chính phủ lưu vong để lật đổ nhà Ngô (FRUS 1961-1963, Vol IV, Doc.118).
- Khoản tiền 42,000 Mỹ Kim đã do CIA trao trước đó để dùng mua thực phẩm cho chiến binh VNCH và dùng làm tiền tử tuất cho gia đình tử sĩ trong cuộc binh biến 1-11-1963. Tướng Dương Văn Minh hai lần điện thoại tới ông Diệm, đề nghị hai anh em Diệm-Nhu đầu hàng sẽ được an toàn xuất ngoại. Ông Diệm hai lần từ chối. (Phúc Trình Thượng Viện Hoa Kỳ Số 94-465).
- Vân vân…
Đó chỉ là vài ví dụ. Xin bạn đọc từ từ đọc hết 26 tài liệu…
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Chính biến 1-11-1963, chúng tôi hy vọng tập sách nầy sẽ là một nhắc nhở đến những độc giả muốn tìm hiểu lịch sử Việt Nam thời cận đại một điều ai cũng đã biết, rằng trong tình trạng nhiễu loạn thông tin và nhiễu nhương thế sự hiện nay, hiểu được và đánh giá đúng một sự kiện thì thật là khó khăn.

Trân trọng,
Nhà Xuất bản Thien Tri Thuc Publications
P.O. Box 4805
Garden Grove, CA.92842-4805
U.S.A.

CƯỚC CHÚ:
(1) Bài được đăng trên Diễn Đàn Forum số 129, xuất bản tại Paris vào tháng 5 năm 2003 và được Thư Viện Hoa Sen đăng lại: http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-135_4-17521_5-50_6-1_17-55_14-1_15-1/  
(2) Bài được đăng trên Tạp chí Hợp Lưu tại California vào tháng 8 năm 2003 và được Việt-Studies đăng lại: http://www.viet-studies.info/kinhte/PhienCongDinhGiaLong_HopLuu.pdf  
(3) FRUS 1961-1963, Tập III, Memo của Forrestal gửi Harriman ngày 8-3-1963.
(4) Joseph Buttinger, Vietnam: A Political History. New York: Frederick A. Praeger, 1968.
(5) Bernard C. Nalty, Rival Ideologies in Divided Nations (Vietnam War), tr. 62; và Frances Fitzgerald, Fire in the Lake, tr. 101-104.
(6) Robert Scigliano, Vietnam, A Country At War.
(7) Sắc lệnh số 209-TTP của Tổng Thống Phủ - Đoàn Thêm, Những ngày Chưa quên Đại Nam, 1967 – Nam Chi Tùng Thư tái bản.
(8) Marvin E, Gettlemen, Vietnam History, Documents and Opinionsm và Đoàn Thêm, Những ngày Chưa quên, Đại Nam, 1967 – Nam Chi Tùng Thư tái bản.
(9) Stanley Karnow, Vietnam, A History, New York: King Presss, 1983.
(10) Đoàn Thêm, Những ngày Chưa quên, Đại Nam, 1967 – Nam Chi Tùng Thư tái bản.
(11) Bernard C. Nalty, Rival Ideologies in Divided Nations (Vietnam War), tr. 62.


MỤC LỤC

● LỜI GIỚI THIỆU (trang 7)

● PHẦN I - CUỘC VẬN ĐỘNG BÌNH ĐẲNG TÔN GIÁO NĂM 1963 CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
1- FRUS III (9-5-1963): Các điện văn trao đổi giữa Huế, Sài Gòn và Washington (trang 21)
2- CIA (11-5-1963): Báo cáo cho Tổng thống Mỹ về cuộc thảm sát tại Huế năm 1963 (trang 39)
3- FRUS III (1-8-1963): Tấn công Hóa học ở Huế (trang 43)
4- Pentagon Papers (20-8-1963): Chiến dịch Tổng tấn công chùa đêm 20-8-1963 và các hệ quả (trang 49)
5- Trần Văn Đôn / Việt Nam Nhân Chứng (20-8-1963): Cuộc tấn công các Chùa đêm 20-8-1963 (trang 70)
6- FRUS III (24-8-1963): CIA - Cuộc nói chuyện bí mật của Tướng Trần Văn Đôn (trang 76)
7- Bộ Ngoại giao (24-8-1963): Điện văn tối mật số 243 ngày 24-8-1963 (trang 92)
8- FRUS III (24-8-1963): Điện văn 274, Chiến dịch tấn công chùa (trang 99)
9- Liên Hiệp Quốc (7-12-1963): Bản Phúc trình của Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc (trang 105)
10- Liên Hiệp Quốc (7-12-1963): Phúc trình Liên Hiệp Quốc A/5630 đã kết luận như thế nào? (trang 109)

● PHẦN II – TÌNH HÌNH CHÍNH QUYỀN NGÔ ĐÌNH DIỆM TRONG NĂM 1963
1- FRUS II (1/1962): Nhiều ngàn Sĩ quan VNCH cải đạo để tiến thân (trang 125)
2- CIA (10-7-1963): Bản đánh giá Tình báo Quốc gia đặc biệt (trang 132)
3- FRUS II (16-8-1962): Năm 1962, Mỹ đã thấy mất Việt Nam (trang 153)
4- FRUS III (16-8-1963): Ngô Đình Nhu muốn thay thế ông Diệm làm Tổng thống (trang 170)
5- Howard Jones / Death of A Generation: Ngô Đình Nhu thương thuyết với Hà Nội (trang 181)
6- FRUS IV (6-9-1963): Điện văn 68 ngày 6-9-1963, Nhu thiết lập danh sách nhân viên Mỹ sẽ bị ám sát (trang 204)
7- FRUS IV (15-9-1963): Mỹ thấy lính và dân Việt Nam phẩn nộ (trang 210)
8- FRUS IV (16-9-1963): Điện văn 118 – Thân phụ và thân mẫu bà Nhu kêu gọi lật đổ nhà Ngô (trang 219)
9- FRUS IV (26-9-1963): Bộ trưởng Quốc phòng McNamara viết từ Sài Gòn: Diệm Nhu đàn áp toàn dân (trang 224)
10- FRUS IV (7-10-1963): Vua Lê Ngô Đình Diệm và Chúa Trịnh Ngô Đình Nhu (trang 232)
11- Tòa Bạch Ốc / Cục An Ninh Quốc Gia (11-10-1963): Mỹ đã thấy mất Việt Nam từ cuối năm 1961 (trang 244)
12- Thượng Viện Hoa Kỳ (30-10-1963): Áp lực giờ chót của Mỹ đòi hủy bỏ cuộc lật đổ nhà Ngô (trang 261)

● PHẦN III – VÀI TÀI LIỆU TỔNG HỢP
1- CIA (4/1966): Thích Trí Quang và Mục tiêu Chính trị của Phật giáo tại Nam Việt Nam (trang 271)
2- CIA (7/1966): Chính quyền Johnson nhìn lại biến cố 1963 (trang 310)
3- The Pentagon Papers (1/1969): Biến động Phật giáo từ 8-5 đến 21-8 năm 1963 (trang 314)
4- Tâm Diệu (10/2013): Phật giáo và cuộc Chính biến 1-11-1963 (trang 328)

Xin các nhà nghiên cứu liên lạc với Nhà Xuất bản Thien Tri Thuc Publications, PO Box 4805,Garden Grove, CA.92842-4805 để nhận ấn bản giấy.
Để đọc phiên bản điện tử, xin truy cập vào đường link:
 




Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013



Tôi Đọc Bài “Một mảnh quê hương trên đất Phật”
Của Nguyễn Gia Kiểng

Trần Chung Ngọc

Nguyễn Gia Kiểng, tác giả cuốn “Tổ Quốc Ăn Năn” trước đây, không phải là loại tác giả mà tôi phải mất công đọc những gì ông ta viết.  Trước đây, trong bài “Về Một Chuyện Thời Sự: Người Việt – Nguyễn Gia Kiểng – Sơn Hào” [http://giaodiemonline.com/2012/08/thoisu.htm], tôi đã chứng minh rằng Nguyễn Gia Kiểng, một là ngu sử, hai là xuyên tạc lịch sử để chạy tội cho Ca-tô giáo, vì đến ngày nay mà hắn vẫn còn dùng những luận điệu của Ca-tô giáo và thực dân như:

1.      Các thừa sai Công giáo tới Việt Nam để rao giảng "tin mừng Phúc Âm" và "khai sáng dân tộc Việt Nam", điều mà ngày nay NGK nói trẹo đi là một nhân sinh quan và vũ trụ quan mới.
2.      Các triều đình nhà Nguyễn ngu dốt cùng với bọn quan lại Tống Nho thủ cựu cấm đạo và bách hại giáo dân chỉ vì họ theo một đạo mới.


Ông Nguyễn Gia Kiểng, 12/2013

Gần đây, tôi nhận được qua hộp điện thư bài Một Mảnh Quê Hương Trên Đất Phật (eThongLuan, 12/2013) của Nguyễn Gia Kiểng [NGK].  NGK viết:
Đạo Phật đã đến nước ta từ gần hai ngàn năm nay và đã trở thành thân quen đối với chúng ta đến độ mà mọi người Việt Nam đều phải ít nhiều có tâm tình Phật tử, ngay cả những người không có tôn giáo hoặc đã chọn một tôn giáo khác. Thăm vùng đất Phật cũng là tìm lại một phần tâm hồn của chính mình và của tổ tiên mình.

Nhưng tôi không nghĩ là ông ta thăm vùng đất Phật để tìm lại một phần tâm hồn của chính mình và của tổ tiên mình, vì bản chất của ông ta là một người tự nhận là sống trong tăm tối, cần đến các thừa sai mang "tin mừng Phúc Âm" đến để khai sáng cho ông ta trở thành một con chiên.  Đọc bài này tôi thấy rõ mánh mưu của NGK hơn, mượn câu chuyện đến thăm đất Phật, nói vài câu đãi bôi trên đầu môi chót lưỡi, rồi lòi ra mục đích chính là xuyên tạc lịch sử, và dùng những luận điệu ngu dốt về Phật Giáo để xuyên tạc và hạ thấp Phật Giáo, nhất là Phật Giáo Việt Nam.  Toàn bài chỉ là những ý kiến cá nhân, rất ngu nhưng tự cho là trí thức, kèm theo những nhận định hoang tưởng, sai lầm về lịch sử và Chánh Pháp Phật Giáo.  Tôi sẽ chứng minh những nhận xét này trong một phần sau.

Thật ra thì bài của Nguyễn Gia Kiểng đâu có đáng gì để mất công phản biện, vì ai cũng biết Nguyễn Gia Kiểng là người như thế nào qua cuốn “Tổ Quốc Ăn Năn”.  Nhưng NGK viết tầm bậy tầm bạ về Phật Giáo rất nhiều, nên tôi cũng phân tích qua loa bài viết đó để cho đọc giả thấy rõ NGK là loại người như thế nào.  Đọc bài của NGK tôi không lấy gì làm lạ, vì tôi đã biết từ Công Đồng Vatican II, là Ca-tô giáo có mánh mưu tìm hiểu về Phật Giáo để xuyên tạc hạ thấp Phật Giáo, hay lấy những cái hay của Phật Giáo chế biến lại thành của Ca-tô Giáo.  Mấy giáo hoàng như John Paul II, Benedict XVI cũng như một số các Linh mục ở Thái Lan đã sử dụng sách lược này, một sách lược mà Tiến Sĩ C. de S. Wijesundera ở Tích Lan lên án là “tấn công Phật Giáo một cách ti tiện, xảo trá, không đứng đắn và đại quy mô.” (They [the Christians] were engaged, Dr. C. de S. Wijesundera said, in a "despicable, treacherous, indecent and massive assault on Buddhism".) 

Sau đây chúng ta hãy đi vào việc phân tích vài điều NGK viết trong bài Một Mảnh Quê Hương Trên Đất Phật để thấy rõ NGK hội đủ các đặc tính ti tiện, xảo trá v…v... như trên. 

■ Tôi bỏ qua những đoạn NGK nói về chuyến du lịch tham quan Phật tích ở Ấn Độ và mô tả những nơi ông đi qua.  Về Ấn Độ, NGK viết, mục đích để quảng cáo cho dân chủ như là một chiếc chìa khóa vạn năng.
Chắc chắn Ấn Độ còn rất nghèo và còn nhiều vấn đề nhức nhối. Nhưng Ấn Độ đã tiến những bước rất dài và đang trên đà giải quyết những vấn đề còn lại. Ngày nay không còn ai nói Ấn Độ là một nước tuyệt vọng, như trong các thập niên 1950 và 1960 nữa. Cũng không ai chối cãi rằng Ấn Độ đang thành công. Sự thành công của Ấn Độ không chỉ đáng mừng cho nhân dân Ấn Độ mà còn có ý nghĩa quan trọng cho cả thế giới. Nó chứng minh rằng thiết lập dân chủ không hề đòi hỏi một điều kiện tiên quyết nào; dân chủ có thể thành công trong mọi trường hợp và còn có khả năng đưa một dân tộc ra khỏi một tình trạng tưởng như tuyệt vọng.

Tôi không hiểu NGK hiểu được bao nhiêu về dân chủ mà cho là dân chủ có thể thành công trong mọi trường hợp và còn có khả năng đưa một dân tộc ra khỏi một tình trạng tưởng như tuyệt vọng.  Kiến thức của NGK quả thật là còn thiếu sót rất nhiều.  Có những trường hợp cho thấy dân chủ không phải là cái chìa khóa vạn năng như NGK viết, mà một chế độ độc tài có thể phát triển quốc gia, mang nhiều lợi ích đến cho dân tộc hơn là một chế độ dân chủ..

-   Chế độ độc tài Park Chung Hee (1961 – 1979) thâu tóm toàn bộ quyền lực và hợp hiến hóa chức vụ lãnh đạo của Nhà nước.  Thông qua hoạt động của “Hiệp hội kêu gọi tái thiết quốc gia” Park Chung Hee đã giải tán Quốc hội và các đảng phái chính trị đối lập hoạt động, đồng thời thẳng tay đàn áp các phong trào dân chủ chống đối.  Chế độ độc tài Park Chung Hee được các nhà chính trị học phương Tây gọi là “Chế độ độc tài phát triển”, là chế độ chính trị xác lập nhằm đảm bảo sự ổn định chính trị để tiến hành thành công hiện đại hóa kinh tế và xã hội  Chế độ độc tài Park Chung Hee đã thành công trong sách lược phát triển công nghiệp và kinh tế, làm căn bản cho sự phát triển sau này của Nam Hàn.
-    Chế độ độc tài của Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan trước đây cũng có những phát triển đất nước đáng kể. 
-    Và ngày nay, chế độ độc tài tư bản đỏ của Trung Quốc đã phát triển về mọi mặt và trở thành một đối thủ đáng sợ của Mỹ. 
-    Kinh nghiệm Việt Nam cũng cho thấy, cách đây mấy chục năm, không ai có thể nghĩ là Việt Nam có thể phát triển như ngày nay.  Sau chiến tranh cả nước đều kiệt quệ, tưởng như ở trong tình trạng tuyệt vọng. Vì Mỹ thua trận, mất mặt với thế giới, nên bội ước không bồi thường chiến tranh và trả thù Việt Nam bằng cuộc cấm vận trong 19 năm.  Mục đích là để đánh gục Việt Nam bằng kinh tế vì đã không thể đánh gục bằng quân sự, để cho Việt Nam không ngóc đầu lên được.  Nhưng cho tới cuối thập niên 1980, Việt Nam đã từ từ tự vực giậy và đưa đất nước đến tình trạng ngày nay, đâu có cần đến dân chủ. Phải về Việt Nam mới thấy đất nước ngày nay đã phát triển như thế nào. Thực ra thì ngày nay, Việt Nam đã là dân chủ quá trớn rồi, cho nên đã xẩy ra những vụ vô cương vô pháp của những nhóm dân chủ và tôn giáo không hiểu dân chủ là gì.  Nếu là độc tài Cọng Sản thì chẳng làm gì có những vụ như Nguyễn Văn Lý, Cù Huy Hà Vũ, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân và em bé cờ vàng v.v…, khoan kể đến các vụ làm loạn ở Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Cồn Dầu và Mỹ Yên.

Vậy thì theo NGK, dân chủ ở Ấn Độ thuộc loại dân chủ nào.  Dân chủ đặt căn bản trên sự bình đẳng của mọi công dân, đây là một nguyên tắc của dân chủ, hay đặt trên hệ thống phân chia giai cấp như ở Ấn Độ, tuy đã bị bãi bỏ bởi hiến pháp nhưng trên thực tế vẫn tràn lan trong xã hội?  Dân chủ không chỉ là người dân có quyền bỏ phiếu chọn lựa người mình muốn bầu mà còn tùy thuộc nhiều yếu tố chính trị, dân trí, xã hội … khác nữa.

Đọc bài “10 Lý Do Tại Sao Ấn Độ Không Phải Là Siêu Cường Sắp Tới” [10 Reasons why India is not the Next Superpower] của Mikael Santelli-Bensouda, 4 Jan, 2012 [1] chúng ta thấy rõ là dân chủ của Ấn Độ cứ ì à ì ạch, chẳng tiến được bao nhiêu trong khi Trung Quốc đã tiến mau tiến mạnh.  Mikael Santelli-Bensouda phân tích 10 tình trạng của xã hội Ấn Độ trong các đề mục: Dân Chủ (Democracy); Tham Nhũng (Corruption); Hạ Tầng Cơ Sở (Infrastructure); Chế Độ Quan Liêu (Bureaucracy); Chủng Tộc & Tôn Giáo (Ethnicity & Religion); Năng Lượng (Energy); Tư Bản Thái Quá (Hypercapitalism); Nghèo Khổ (Poverty);  Hệ Thống Giai Cấp (The Caste System); Thái Độ Đối Với Người Ngoại Quốc (Attitude to Foreigners). 

  

Về đề mục Dân Chủ, tác giả Mikael Santelli-Bensouda viết:

Điều thích hợp, trước những kỳ công của nước Trung Hoa ồn ào lân cận Ấn Độ, là câu hỏi: có phải mù quáng chấp nhận một hệ thống dân chủ như là con đường duy nhất không.  Lịch sử nói thẳng cho chúng ta biết rằng những chế độ độc tài (ở mức độ khác nhau) cũng đạt được, nếu không nhiều hơn, sự thành công thiết lập những xã hội hữu hiệu hơn là các quốc gia dân chủ.  Thật ra, một biểu thị đúng về dân chủ còn chưa tạo nên một cường quốc trên thế giới…Tất cả những cường quốc Âu Châu, nước Mỹ cô lập, đế quốc Nhật Bản, nước Trung Hoa tương lai và mọi đế quốc cổ xưa cùng có chung một sự kiện đơn giản; không đại diện cho mọi công dân trong quá trình quyết định, mà đưa ra những quyết định nhân danh công dân.  Tôi không bàn cãi về kiểu độc  tài của sự lãnh đạo của Trung Quốc nhưng tôi muốn đặt một câu hỏi đơn giản: quý vị có nghĩ rằng Ấn Độ có thể thi đua với Trung Quốc về những gì Trung Quốc đã làm trong các lãnh vực hạ tầng cơ sở, nghèo khổ, những nhu cầu về năng lượng và đại cương là bảo vệ cho tương lai của quần chúng trên một chu trình bầu cử tập trung mỗi năm năm không?  Xét theo những tình trạng hiện thời có vẻ như là điều này rất khó mà có thể xẩy ra. [2]

Tiếp theo, NGK viết:
Cũng như với hầu hết mọi người Việt Nam tới Ấn Độ lần đầu, thăm vùng đất Phật đối với tôi gần như là một bắt buộc. Có một cái gì rất xúc động. Càng xúc động vì ngày nay đạo Phật đã biến mất tại Ấn Độ, ngay cả trên vùng đất mà người Phật tử coi là đất thánh, nghĩa là vùng đất Phật mà tôi viếng thăm.

Chẳng có ai bắt buộc NGK phải đến thăm vùng đất Phật cả.  Ông tham gia một chương trình du lịch Ấn Độ, trong đó có phần đến thăm đất Phật, cho nên ông bắt buộc phải đến đó, dù muốn hay không.  Sự suy thoái của Phật Giáo ở Ấn Độ không phải là vì Phật Giáo không có giá trị mà vì những lý do đối nghịch với bản chất hòa bình và bình đẳng của Phật Giáo, và sự xâm lấn của những tôn giáo hẹp hòi khác. Đại cương thì Phật Giáo là tôn giáo hòa bình, bình đẳng.  Đức Phật nói, mọi người đều như nhau, nước mắt cùng mặn, máu cùng đỏ, và ai cũng có thể thành Phật.  Giáo lý Phật Giáo không thích hợp với hệ thống giai cấp cố hữu của đạo Bà La Môn.  Từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 11, chính quyền Ấn Độ đều nằm trong tay những người Bà La Môn, do đó ảnh hưởng của Phật Giáo trong quần chúng suy yếu.  Ngoài ra cuộc xâm lấn của Ba Tư và Hi Lạp cũng ảnh hưởng đến Phật Giáo.  Sau đó là sự xâm chiếm của Hung Nô rồi của Hồi Giáo hiếu chiến và hẹp hòi.  (Hung Nô và Hồi Giáo giống Ca-tô giáo ở chỗ hẹp hòi tôn giáo, chủ trương phá hủy chùa chiền, đình miếu của những người theo tôn giáo khác).  Vào thế kỷ 13, Hồi giáo đã phá hủy hầu hết những cơ sở Phật Giáo trên đất Ấn.  Nhưng cũng nhờ vậy mà Phật Giáo vượt khỏi biên cương Ấn Độ để lan tỏa ra khắp Á Châu và đó là hồng phúc của người dân Á Châu.  Trái với Ki Tô Giáo, dù dựa thế của thực dân Tây phương để truyền đạo, nhưng có thể nói là hoàn toàn thất bại ở Á Châu, trừ Phi Luật Tân và một số ốc đảo ngu dốt (Từ của LM Trần Tam Tĩnh) ở Việt Nam. Đây không phải là chỗ để nói về lịch sử Phật Giáo ở Ấn Độ. 

Vấn đề là Phật Giáo không có biến mất ở Ấn Độ như NGK tưởng, vì Phật Giáo đã bắt đầu phục hưng từ cuối thế kỷ 19 và còn đang phát triển mạnh ở Ấn Độ.  Ở đây, tôi chỉ tóm tắt vài sự kiện.
Phật Giáo bắt đầu phục hưng ở Ấn Độ từ 1891 do sự thành lập Hội Đại Bồ Đề (Maha Bodhi  Society) của nhà lãnh đạo Phật Giáo Tích Lan Anagarita Dharmapala, và sự đóng góp của nhiều người, điển hình là Kripasaran Mahasthavir, Bodhananda Mahastvir, Acharya Medharthi v…v…và do sự chấp nhận Phật Giáo của nhiều trí thức Ấn.   Phật Giáo Tây Tạng tị nạn Tàu, di cư tới Ấn Độ vào năm 1959, được Thủ Tướng Nehru cho phép thành lập “chính phủ lưu vong” ở Dharamsala, Phật Giáo Tây Tạng nay có nhiều ảnh hưởng trên đất Ấn. Rồi tới phong trào quy y tập thể giai cấp thấp Dalit của Bồ Tát Tiến sĩ Ambedkar vào năm 1956.  Sự phục hưng của Phật Giáo ở Ấn Độ là do sự đóng góp của nhiều người, từ những học giả trí thức cho tới những bậc tu hành đến từ các nước khác. Nhưng điển hình phải nói đến công nghiệp của Dr. Ambedkar (1891-1956).
Ambedkar là Bộ Trưởng Tư Pháp trong chính quyền Ấn.  Ông chống đối hệ thống giai cấp trong xã hội Ấn.  Nghiên cứu Phật Giáo, ông thấy Phật Giáo có thể giải quyết vấn đề bất công này (Buddhism was the only way for the Untouchables to gain equality), vì Phật Giáo chủ trương mọi người đều bình đẳng vì cùng là con người.  Ông bỏ đạo Cơ Đốc, quy y Tam Bảo, giữ 5 giới, và khởi sự vận động quy y cho tập thể người Ấn, hầu hết thuộc giới thấp kém nhất trong bậc thang xã hội Ấn. Ngày 14 tháng 10, 1956, ở Nagpur, dưới sự chứng minh của một tăng sĩ Phật Giáo, Bhadant U Chandramani, ông đã làm lễ quy y tập thể cho 600,000 người Ấn.  Trong lễ quy y này, ông đưa ra 22 Lời Nguyện để cho những người quy y, sau khi quy y Tam Bảo và nguyện giữ 5 giới, đọc, từ bỏ Ấn Giáo và theo giáo lý Phật Giáo.  Sau đây là vài điều trong số 22 lời nguyện Ambedkar đưa ra.
4.   Tôi không tin là có Gót xuống thế làm người (I do not believe the incarnation of God)
5.   Tôi không tin và sẽ không bao giờ tin Đức Phật là Vishnu hiện thân làm người, đây chỉ là lời điên rồ và tuyên truyền sai lầm
7.   Tôi sẽ không làm gì vi phạm những nguyên tắc và giáo lý của Đức Phật.
9.   Tôi tin vào sự bình đẳng của con người.
10. Tôi sẽ hết sức cố gẳng để thiết lập sự bình đẳng này.
13. Tôi nguyện có lòng từ bi đối với mọi chúng sinh và bảo vệ chúng

Tác phẩm “Đức Phật Và Phật Pháp” (The Buddha and His Dhamma) của Ambedkar đã được Hội nghị Phật giáo toàn Ấn Độ thông qua ngày 24/11/1968 và được dùng làm thánh điển Phật giáo mới của Ấn Độ.  Ngày nay, có khoảng 8 triệu người Ấn theo Phật Giáo, chưa tới 1% trên tổng số dân Ấn trên đất Ấn.  Nhưng giá trị của Phật Giáo không ở trên những con số.  Giáo Pháp Phật Giáo được biết là Chánh Pháp.  Mà Chánh Pháp là Chánh Pháp, dù ít người theo thì đó vẫn là Chánh Pháp.  Còn một Tà Pháp thì dù có cả tỷ người theo, Tà Pháp đó vẫn chỉ là Tà Pháp. 

Bia khắc 22 Lời Nguyện của Ambedkar ở Deekshabhoomi, Nagpur

Phong trào quy y tập thể đã thực hiện nhiều nơi trên đất Ấn, nhất là vào đầu thế kỷ 21.  Và ngày nay, có nhiều dân Ấn thuộc các giai cấp khác nhau quy y.

Mặt khác, phong trào mang giáo lý của Đức Phật trở lại Ấn bắt đầu 9 năm trước khi Tổ Chức “Ánh sáng Của Phật Pháp” (Light of Buddhadharma Foundation) bảo trợ Lễ Tụng Niệm Tam Tạng Kinh Quốc Tế  đầu tiên ở Bồ Đề Đạo Tràng năm 2006.  Lễ này được tiếp tục tổ chức hàng năm cho đến nay.  Bồ Đề Đạo Tràng hiện nay có 47 ngôi Chùa của các nước trong đó có Chùa của Việt Nam, Chùa Kiều Đàm Di do các Ni Cô quản thủ và Chùa Việt Nam Phật Quốc Tự do Tỳ kheo Thích Huyền Diệu sáng lập.

 
Hình trái: Kỳ tụng niệm tam tạng kinh năm 2006
Hình phải: 7,000 người bao gồm một số tín đồ Cơ đốc giáo quy y Phật tại một buổi lễ tập thể được tổ chức tại sân bóng đá Kakaria, bang Gujarat vào ngày 24/1/2010  (Hình và tin của NewKarala.com).

Năm nay, Lễ Quốc Tế Tụng Niệm Tam Tạng Kinh thứ 9 ở Bồ Đề Đạo Tràng đã được tổ chức từ ngày 2 cho đến ngày 13 tháng 12, 2013, với sự tham dự của 3,000 Tăng sĩ và khoảng 2,000 Phật tử hành hương đến từ nhiều nước ở Đông Nam Á. [3]
  

■ Về Chùa Kiều Đàm Di của Việt Nam ở Bodh Gaya, NGK viết:
Theo thống kê của chính quyền Ấn Độ thì trung bình hàng tháng chỉ có khoảng 150 người Việt tới Ấn mà thôi như vậy trung bình số người Việt thăm chùa và bảo tháp hàng ngày không quá năm người, quá ít so với số tượng Phật dự trù (2000) trong khi khách thăm chùa Việt Nam chủ yếu là người Việt Nam bởi vì tinh thần chung như tôi có thể thấy khi thăm các chùa là "chùa nhà ai nấy viếng".

NGK có ý gì khi viết đoạn trên?  Phải chăng ông muốn nói là Chùa chẳng có mấy người Việt Nam đến thăm nên ni cô dự trù dựng 2000 tượng Phật để làm gì.  Điều này phản ánh sự hiểu biết của NGK về Phật Giáo là một con số 0 vĩ đại, và nhận xét tiêu cực của ông về Chùa Kiều Đàm Di chỉ là từ cái đầu óc đen tối, ti tiện, hẹp hòi của ông ta.

Thứ nhất, không phải người Việt nào cũng có khả năng đi hành hương Phật Tích ở Ấn Độ.  Phải có tiền, có thì giờ và có sức khỏe.  Cho nên mỗi chuyến người Việt tham gia hành hương Phật Tích ở Ấn Độ chỉ khoảng vài chục người, nhiếu nhất là độ 100 người.  Ở đó vài ngày rồi lại trở về nhà.  Và không phải ngày nào cũng có người Việt đến nơi Phật Tích hay thăm Chùa của Việt Nam.  Cho nên con số “hàng ngày không quá năm người” của NGK là một con số “thống kê” ngớ ngẩn.

Chuyện ngoài lề:  Ông NGK là người Ca-tô, ông thử nghiên cứu xem trung bình mỗi ngày có bao nhiêu người Việt ngu đạo nhưng rất ngoan đạo đến hành hương Bethlehem, nơi Chúa Dê-su, con đầu  lòng của bà Mary, sinh ra đời, hoặc đến Đồi Sọ Golgotha, nơi Chúa chết?  Mặt khác, ở Âu Châu, cái nôi của Ca-tô Giáo trước đây, Ca-tô Giáo vẫn còn (chưa biến mất, nhưng có thể coi như đã chết) vì Giáo Hoàng Benedict XVI đã phải than: “Ngày nay, Âu Châu sống như là không biết đến Gót và còn cần đến ít hơn sự cứu rỗi của Dê-su” [4]
  
Thứ nhì, truyền thống có 10,000 (vạn) tượng Phật nhỏ trong Chùa hay trong tu viện có thể thấy khắp nơi trên thế giới.  Lẽ dĩ nhiên không phải Chùa nào hay tu viện nào củng có thể thực hiện được điều này.  Và càng không phải là làm nhiều tượng Phật để mong có nhiều tín đồ đến xem.  Vạn Phật Thành ở phía Bắc San Francisco do cố Tam Tạng Pháp Sư Tuyên Hóa xây dựng là nơi đến để tu tập, dạy từ 4 giờ sáng và không ăn quá Ngọ, chứ không phải là nơi hành hương để xem tượng Phật.  Trong Phật Giáo có Kinh Vạn Phật, trong đó Phật Thuyết Phật Danh, Phật nói ra một vạn một ngàn một trăm vị Phật.  Điều này nói lên con đường thành Phật không phải chỉ có một.  Nếu chúng ta đã đến Long Môn Thạch Động ở Lạc Dương Trung Quốc thì chúng ta sẽ thấy không phải là “một vạn” mà là “mười vạn” (100,000) tượng Phật lớn nhỏ khác nhau, lớn thì cao cả 10m, nhỏ thì chỉ bằng bàn tay, được khắc trên vách đá hay trong các hốc đá.  Hoặc đến Hang Động Vân Cương ở Sơn Tây Trung Quốc chúng ta có thể thấy tới 15000 tượng Phật khắc trong các hốc đá (tôi đã đến 2 nơi này cách nhau 10 năm).  Ông NGK không biết gì về Phật Giáo nên viết bậy là số 2,000 tượng Phật mà Ni Cô ở Chùa Kiều Đàm Di là quá nhiều so với không quá 5 người đến thăm Chùa hàng ngày vì số tượng Phật trong chùa không liên quan gì  đến số tín đồ đến thăm hàng ngày cả. Trí óc của NGK chỉ có thế thôi, thật là tội nghiệp, nhưng cũng chẳng lạ, vì ông ta vốn là một con chiên mà những giây thần kinh suy tư và biết ngượng đã bị tước đi từ khi rửa tội rồi.

   

Tác giả thăm Long Môn (1996) và Vân Cương (2006)

Và ngay ở TP Hồ Chí Minh cũng có Chùa Vạn Phật, theo tài liệu của trang nhà Buddhismtoday thì:
Án thờ giữa ngôi đại điện tôn trí tượng đức Phật Tỳ Lô Giá Na ngự trên tòa sen ngàn cánh, trong mỗi cánh sen có một vị Phật. Phía trước thờ 5 vị: Ở giữa thờ đức Phật Thích Ca, hai bên thờ 2 vị Phật A Di Đà, Dược Sư và 2 vị Bồ tát Quán Thế Âm, Địa Tạng. Án thờ hai bên ngôi đại điện tôn trí tượng Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền. Trên vách tường chung quanh ngôi đại điện thờ một vạn tượng Phật (kinh Vạn Phật).

Trong chánh điện chùa Vạn Phật tại Tp Hồ Chí Minh

* * *
■ Bây giờ sang đến mục đích chính của NGK là viết bậy và nhận định tiêu cực rất sai lầm về Phật Giáo Việt Nam.  NGK viết:
Tuy vậy cái dấu giáng trong chuyến thăm Ấn Độ của tôi không phải vì sự biến mất của Phật Giáo trên chính quê hương của nó mà vì không ngờ đã phải thấy lại một vài nét không hay của đất nước và con người Việt Nam.   Có một cảm giác rất bâng khuâng, đi kèm với ý thức không vui về sự hời hợt cố hữu về tư tưởng của người Việt Nam. Đạo Phật là tôn giáo lâu đời nhất của nước ta và là một thành tố quan trọng của văn hóa và lịch sử Việt Nam, đối với người Việt Nam tìm hiểu Phật Giáo cũng là tìm hiểu căn cước của chính mình. Tuy vậy cho tới nay hình như chưa có những cố gắng nghiêm chỉnh để tìm hiểu nó. Sự hiểu biết của chúng ta về Phật Giáo, theo những gì tôi đã được nghe và đọc, mới chỉ là sự hiểu biết phiến diện về những gì mà người Trung Quốc truyền bá về Phật Giáo.

Rõ ràng là NGK viết để mà viết.  Sự hời hợt cố hữu về tư tưởng của người Việt Nam là những tư tưởng nào và hời hợt như thế nào, NGK không nói.  Chắc NGK đã đọc hết những tác phẩm nghiên cứu về Phật Giáo của người Việt Nam, và cũng đã nghe hết những lời giảng Phật Pháp của các bậc Tăng Ni Việt Nam, nên tổng hợp cho rằng chưa có những cố gắng nghiêm chỉnh để tìm hiểu nó. Đúng là một con ếch ngồi dưới đáy giếng, nói bậy nói bạ mà không biết ngượng.  Phải chăng NGK cho rằng ông ta đã hiểu Phật Giáo nên mới viết như trên.  NGK viết:  Sự hiểu biết của chúng ta về Phật Giáo, mới chỉ là sự hiểu biết phiến diện,  chúng ta đây là ai, theo tôi “chúng ta” ở đây không ngoài con chiên Nguyễn Gia Kiểng và những đồng đạo của ông ta như Giáo hoàng Gioan Phaolồ 2 đã hiểu “phiến diện” trong cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cữa Hy Vọng” (1994).  Để chứng minh, chúng ta hãy đọc tiếp về đoạn ông phê bình một câu trong Kinh Pháp Cú, chứng tỏ là ông ta chẳng hiểu gì về Kinh Phật cả.

NGK viết: Về Phật học chúng ta lệ thuộc cái đã lỗi thời từ lâu, và để chứng minh ông ta viết đoạn sau đây:

Một thí dụ là kinh Pháp Cú (Dhammapadda) mà các nhà sư tụng mỗi ngày. Câu số 70 trong Phẩm Ngu do hòa thượng Thích Thiện Siêu dịch từ bản chữ Hán như sau: "Từ ngày này qua tháng khác với món ăn bằng đầu ngọn cỏ cô-sa, người ngu có thể lấy để nuôi sống, nhưng việc ấy không có giá trị bằng một phần mười sáu của người tư duy Chánh pháp". Ai hiểu? [NGK không hiểu nhưng tôi hiểu. TCN] Phẩm (chương) này nói về những người ngu dốt ăn năn về tội lỗi của mình và tự đày đọa mình để chuộc tội. [Sai, hoàn toàn sai, không liên can gì đến ăn năn tội lỗi cả.  Đọc Phẩm “Ngu” mà hiểu như NGK thì càng ngu thêm.  Sẽ chứng minh. TCN] Theo Phật họ có đày đọa thân xác bằng cách ăn cỏ như súc vật đi nữa để chuộc tội cũng chẳng đi đến đâu, không bằng học để hiểu con đường giải thoát. Nhưng tại sao lại một phần mười sáu [vì có thể chia chẵn] mà không là một phần mười lăm hay một phần mười bẩy? Bản dịch của hòa thượng Thích Minh Châu (nguyên viện trưởng viện đại học Vạn Hạnh) cũng vẫn một phần mười sáu, cũng không kèm theo một lời giải thích nào và còn khó hiểu hơn. Có lẽ thái độ chung của hai vị sư này là "Phật đã nói thế thì cứ biết thế". Nhưng vấn đề là Phật không nói như thế. Con số 16 là con số huyền bí của Ấn Độ, ngoài sự kiện là một con số nó còn có nghĩa bóng là "toàn vẹn". Khi Phật nói cắn cỏ ăn năn không bằng "một phần mười sáu" của cố gắng học hỏi để khai sáng tâm hồn ông chỉ muốn nói là "chẳng là gì so với" mà thôi. Một câu như vậy mà trong hàng ngàn năm người ta tụng hàng ngày mà không ai thắc mắc chứng tỏ rằng người Việt chúng ta tuy ham học nhưng lại không có nhu cầu hiểu. Câu 70 này không phải là ngoại lệ, phần còn lại của toàn bộ kinh Pháp Cú được dịch ra tiếng Việt cũng đều như thế cả và nói chung các kinh Phật khác cũng thế.

Tôi chưa thấy người nào lại vô liêm sỉ như Nguyễn Gia Kiểng, viết bừa viết bậy mà không bao giờ chứng minh những điều mình nói ra.  Viết như trên, NGK cho rằng mình đã đọc hết các Kinh Phật trong khi không ai có thể đọc hết được Kinh Điển Phật giáo, có hàng vạn quyển, kể cả các bậc tu hành.  Trong Phật Giáo không làm gì có chuyện “chuộc tội”, nếu làm điều không phải hay ác thì sám hối và tự hứa sẽ không làm nữa.  Câu 127 viết: “Chẳng phải bay lên không trung (thiên đường), chẳng phải lặn xuống đáy bể, chẳng phải chui vào hang sâu núi thẳm, dù tìm khắp thế gian này, chẳng có nơi nào trốn khỏi ác nghiệp gây ra”.  Nhưng vấn đề chính ở đây là NGK quá dốt, không hiểu gì về câu 70 trong Kinh Pháp Cú nên viết bậy. 

Kinh Pháp Cú là những trích lục từ những lời giảng của Đức Phật trong 45 năm giảng Pháp.  Thứ nhất, ở chỗ nào Phật nói cắn cỏ ăn năn?  Và chỗ nào theo Phật, đày đọa thân xác bằng cách ăn cỏ để chuộc tội?  Nếu NGK  không chứng minh được là Phật nói ở đâu thì ông nợ Phật Giáo một hành động lương thiện trí thức: quỳ trước bàn thờ Phật, dập đầu xuống đất 10 lần, sám hối và tự hứa từ nay sẽ không ti tiện, xảo trá để nói láo về Phật Giáo nữa.  Câu 70 có ý nghĩa khác hẳn chẳng liên quan gì đế ăn năn hay chuộc tội cả.  Câu này bắt nguồn từ sự kiện là Đức Phật bỏ lối tu khổ hạnh và theo Trung Đạo.  Vấn đề chính của Phật Giáo là tư duy Chánh Pháp để đi tới giác ngộ, thoát vòng sinh tử.  Tu khổ hạnh như ngày chỉ ăn ngọn cỏ cô-sa hay một hột cơm để sống thì không bao giờ có thể giải thoát, dù tu khổ hạnh đến cả 100 năm.  Nhưng chỉ cần hiểu Chánh Pháp một chút, một câu cũng có thể giác ngộ.
Con số 16 cũng chẳng phải là "con số huyền bí" gì hay là có nghĩa bóng “toàn vẹn” như NGK tưởng tượng ra.  Nó chỉ là con số tượng trưng cho những trình độ tu hành tư duy về Chánh Pháp từ thấp đến cao, 1/16 là một so sánh có nghĩa là "không đáng kễ, không bằng một chút gì, không có giá trị gì hết so sánh với, ..." So sánh nầy xuất phát từ sự kiện thời Phật, đất nước Ấn là nước Cọng hòa gồm 16 bang, Phật lấy tỷ lệ 1/16 để nói đến giá trị quá nhỏ của cách tu khổ hạnh trọn đời (đang khi hành khổ thân thì quá lớn) so với một khoảng khách tư duy Chánh pháp. Nói cách khác, tu sai phương pháp thì tu trọn đời cũng không có giá trị gì. Do vậy "16" không phải là số huyền bí của Ấn Độ.  Nói tóm lại, câu 70 này hàm ý rằng khi tu đúng chánh pháp thì ngay cả ở trình độ thấp cũng còn có giá trị hơn là tu khổ hạnh, tự hành xác một cách vô ích. Ý nầy phản ánh một phần nội dung bài Pháp đầu tiên của Đức Phật, thường được biết là Kinh Chuyển Pháp Luân, giảng cho 5 người bạn đồng tu khổ hạnh trước đây cùng với Phật.  
Đọc NGK bàn về câu 70, tôi lại nghĩ đến câu 63 trong Kinh Pháp Cú, có thể áp dụng đúng cho con người của Nguyễn Gia Kiểng: “Ngu mà tự biết ngu tức là trí, ngu mà tự xưng là trí, chính đó mới thật là ngu [tôi thêm: mới thật là đại ngu, chí ngu]”. 

■ Tôi chẳng muốn phê bình thêm Nguyễn Gia Kiểng, vì tất cả những đoạn sau cũng chỉ chứng tỏ là ông quá ngu dốt về Phật Giáo Việt Nam, xuyên tạc trắng trợn và có những nhận định bắt nguồn từ cái tâm ti tiện và xảo trá của ông ta.  Phê bình thì thường dài với những luận cứ để thuyết phục người đọc.  Sau đây tôi chỉ điểm qua vài “tư tưởng” của NGK và có vài nhận định ngắn.

- NGK: sự thực là Phật Giáo Việt Nam lệ thuộc nặng nề Phật Giáo Trung Quốc [Có thể nói PG Việt Nam chịu ảnh hưởng PG Trung Quốc trong quá trình tiếp biến văn hóa (acculturation) giữa hai dân tộc láng giềng nhưng chưa bao giờ “lệ thuộc nặng nề” PG Trung Quốc cả]
- NGK: Các kinh Phật cũng đều đến từ Trung Quốc và mang tên chữ Hán: Tứ Diệu Đế, Pháp Hoa, Bát Nhã, Thủ Lăng Nghiêm v.v. tất cả được dịch sang tiếng Việt một cách luộm thuộm và tối nghĩa. [Phải chăng NGK đã đọc hết tất cả những bản dịch Kinh Phật sang tiếng Việt.  Một câu trong Kinh Pháp Cú mà còn không hiểu nổi thì Kinh Phật tối nghĩa đối với NGK cũng phải.  Hơn nữa Kinh Phật là để cho Phật tử, những con người, đọc, không thích hợp với đầu óc của thú  vật như con chiên.  Chiên lớn như John Paul II hay Benedict XVI, chiên nhỏ như NGK đều không thích hợp]
- NGK: Nếu ta hỏi một nhà sư tại sao Phật bỏ hoàng cung đi tu thì có tất cả mọi triển vọng vị tu sĩ đó sẽ trả lời rằng đó là vì nhờ tâm hồn và trí tuệ siêu việt có một không hai Phật đã nhận ra sự vô nghĩa của cuộc sống. Tuy nhiên sự thực không phải như vậy. Phật đã bỏ nhà ra đi trong một phong trào xã hội rất lớn tại Ấn Độ vào lúc đó. [Thế là NGK không biết gì về những nguyên nhân khiến Thái Tử tất Đạt Đa quyết định cắt tóc đi tu.  Chuyện này thì sách Phật học phổ thông nào cũng có nói đến.  Quá quen thuộc đối với Phật tử, khỏi cần nhắc lại ở đây.]
- NGK: Có lần tôi hỏi anh Lưu Hồng Khanh, giáo sư thần học trong nhiều viện thần học tại Đức, rằng người Việt Nam có công trình nghiên cứu khách quan và nghiêm túc nào về Phật Giáo và tư tưởng Ấn Độ không. Anh Khanh là một trí thức mà tôi coi như một người đàn anh và rất kính phục thẩm quyền về mặt tôn giáo. Anh đã dành nhiều cố gắng nghiên cứu tư tưởng Ấn Độ, anh từng là linh mục Công Giáo và đang vừa là mục sư Tin Lành vừa làm công việc hướng dẫn tâm linh của một thiền sư. Lưu Hồng Khanh ngần ngừ rồi trả lời: "Ít lắm, mình cũng tìm kiếm nhưng có duyên hơn với các tác giả trong các ngôn ngữ khác". [NGK không biết là Thần Học chỉ là môn học đoán mò, vì không ai biết thần là cái gì.  Thần của Ca-tô Giáo là một cái gì đó vô hình, không thể mô tả được, không ai hiểu được v… v… theo như giáo lý của Giáo hội Ca-tô dạy con chiên.  Một Linh Mục Ca-tô hay một mục sư Tin Lành thì không thể hướng dẫn tâm linh như một thiền sư, mà chỉ có thể đầu độc con chiên vào một đức tin không cần biết không cần hiểu.  Đoạn NGK viết vô giá trị, vì đó là chuyện riêng, không ai có bổn phận phải tin, nhất là lại tin những gì NGK nói]
- NGK:  Điều thực sự đáng buồn mà tôi không biết trước là tình trạng hai ngôi chùa Việt Nam tại Bodh Gaya và Lumbini. Cả hai ngôi chùa này đều do một người thành lập và đều mang tên Việt Nam Phật Quốc Tự. Cả hai ngôi chùa này hiện nay đều hoang vắng. Tại Bodh Gaya chúng tôi đã rất ngạc nhiên khi tới chùa Việt Nam vì không có cảnh tấp nập ra vào như chùa của các quốc gia khác. Càng ngạc nhiên và thất vọng hơn nữa khi biết chùa đóng cửa vì không có sư.
[Là một con chiên Ca-tô, NGK nên buồn hơn là ở khắp nơi, nhà thờ đóng cửa, hoặc bán làm kho hàng, hộp đêm và nhiều nhà thờ không có linh mục thay vì buồn điều không đáng buồn, ít ra là đối với người Việt Nam hiểu về Phật Giáo.  Hai ngôi Chùa trên do Tỳ Kheo Thích Huyền Diệu xây lập, và Tỳ Kheo không nhất thiết phải ở lại Chùa.  Khi xưa các bậc tu hành thường xây Chùa trên núi cao hẻo lánh, tự nhận mình là Sơn Tăng, Chùa để cho Phật tử đến đó tu học, không phải để cho Phật tử ra vào tấp nập. TT Thích Pháp Châu ở Cali về Việt Nam xây nhiều Chùa nhưng Thầy đâu có ở lại Chùa.  Xây Chùa nơi đất Phật không phải để cho người Việt ra vào tấp nập, vì biết rõ số người Việt đủ khả năng hành hương đất Phật hàng năm không có bao nhiêu.  Xây Chùa nơi đất Phật để góp mặt với thế giới, tôn vinh giáo Pháp của Đức Phật.  NGK lấy cái tâm ti tiện của mình để phê bình chê bai Chùa vắng khách]

Tôi nghĩ như vậy kể đã đủ để đọc giả nhận rõ sự dốt nát về Phật Giáo của Nguyễn Gia Kiểng, đồng thời cũng thấy rõ mánh mưu ti tiện khi viết bài Một Mảnh Quê Hương Trên Đất Phật.  Đối diện với những sự thực về Ca-tô Giáo mà bản chất chỉ là một tà đạo, đạo chích, đạo bịp, và trước thế giới thì đó chỉ là một “Tổ Chức Tội Phạm Quốc tế”, với sự phá sản tâm linh và đạo đức tràn ngập trong giới chăn chiên v…v…, các con chiên Việt Nam ngu đạo ra công đánh phá Phật Giáo Việt Nam, từ vu cho Phật Giáo làm mất miền Nam, Phật giáo là Cộng sản để gây thù hận trong đám người chống Cộng ngu xuẩn, cho đến xuyên tạc bôi nhọ nhiều bậc tu hành Phật Giáo, đồng thời đề cao Ca-tô Giáo.  Nhưng dù họ có làm gì đi chăng nữa thì thực tế là thế giới ngày nay đã công nhận “Phật Giáo là tôn giáo tốt nhất trên thế giới”, và Liên Hiệp Quốc đã vinh danh Lễ Tam Hợp (Vesak) như là một căn bản cho hòa bình thế giới. (Thông điệp của ông Tổng Thư ký Kofi Annan nhân dịp kỷ niệm lễ Vesak ngày 7 tháng 5 năm 2002 xác định rõ rằng:  “Trong thời đại bất trắc toàn cầu hôm nay, quan niệm về hòa bình và về tiềm năng cao cả nhất của con người  mà Đức Phật đã chỉ ra, bỗng trở nên thích đáng hơn bao giờ hết.”)  Đó là những điều đáng kể.  Còn Phật Giáo có ít người theo ở Ấn Độ hay ở bất cứ đâu, hoặc có một số người mặc áo cà sa mà không giữ giới luật, buông lung v…v… đều không phải là điều thích hợp. 

   Trần Chung Ngọc
   Ngày Đông Chí, 2013

CƯỚC CHÚ:


[2] It is relevant, given the feats achieved by India’s tumultuous neighbour China, to question whether a democratic system is to be blindly accepted as ‘the only way’. History tells us quite bluntly that authoritarian regimes (of varying degrees) have had as much, if not more, success in establishing functioning societies than democratic nations. In fact, a true expression of democracy has yet to engender a world power. All of the European powers, a segregated United States, Imperial Japan, the coming of China and all ancient empires share one simple fact; they did not represent all of their citizens in their decision making processes, instead they took decisions on their behalf. I am not arguing for a Chinese-style authoritarian leadership but I pose this simple question: do you think it is possible for India to emulate what the Chinese have done in terms of infrastructure, poverty, energy needs and generally safeguarding the future of its population on a centralised five-year electoral cycle? It seems highly improbable given the current state of affairs.

[3] The ninth International Tipitaka Chanting Ceremony in Bodhgaya, India will take place December 2nd -- December 13th, 2013, drawing together 3000 monks and an estimated 2000 lay pilgrims from South East Asian countries representing the Theravada Buddhist tradition. This includes monks from Bangladesh, Cambodia, Laos PDR, Myanmar, Nepal, Sri Lanka, Thailand and Vietnam, along with Buddhist monks from India.

[4] ROME (Reuters) July 27, 2005
Mainstream churches in the West appear to be dying as societies that are increasingly secular see less need for God, Pope Benedict said in comments published on Wednesdaỵ
His outlook was even glummer than that of his predecessor John Paul, who lamented the decline of faith in the developed world and said it explained the Catholic Church's struggle with falling attendance in the West in recent years.
It is different in the Western world, a world which is tired of its own culture, a world which is at the point where there’s no longer evidence for a need of God, even less of Christ," he told a meeting of clergy in the Italian Alps where he is on holidaỵ

● Ghi chú: Tác giả gửi trực tiếp cho Blog NamGiao – Bài đã được lay-out lại và sửa vài lỗi typo.