Hiển thị các bài đăng có nhãn Ấn Độ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ấn Độ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013



Tôi Đọc Bài “Một mảnh quê hương trên đất Phật”
Của Nguyễn Gia Kiểng

Trần Chung Ngọc

Nguyễn Gia Kiểng, tác giả cuốn “Tổ Quốc Ăn Năn” trước đây, không phải là loại tác giả mà tôi phải mất công đọc những gì ông ta viết.  Trước đây, trong bài “Về Một Chuyện Thời Sự: Người Việt – Nguyễn Gia Kiểng – Sơn Hào” [http://giaodiemonline.com/2012/08/thoisu.htm], tôi đã chứng minh rằng Nguyễn Gia Kiểng, một là ngu sử, hai là xuyên tạc lịch sử để chạy tội cho Ca-tô giáo, vì đến ngày nay mà hắn vẫn còn dùng những luận điệu của Ca-tô giáo và thực dân như:

1.      Các thừa sai Công giáo tới Việt Nam để rao giảng "tin mừng Phúc Âm" và "khai sáng dân tộc Việt Nam", điều mà ngày nay NGK nói trẹo đi là một nhân sinh quan và vũ trụ quan mới.
2.      Các triều đình nhà Nguyễn ngu dốt cùng với bọn quan lại Tống Nho thủ cựu cấm đạo và bách hại giáo dân chỉ vì họ theo một đạo mới.


Ông Nguyễn Gia Kiểng, 12/2013

Gần đây, tôi nhận được qua hộp điện thư bài Một Mảnh Quê Hương Trên Đất Phật (eThongLuan, 12/2013) của Nguyễn Gia Kiểng [NGK].  NGK viết:
Đạo Phật đã đến nước ta từ gần hai ngàn năm nay và đã trở thành thân quen đối với chúng ta đến độ mà mọi người Việt Nam đều phải ít nhiều có tâm tình Phật tử, ngay cả những người không có tôn giáo hoặc đã chọn một tôn giáo khác. Thăm vùng đất Phật cũng là tìm lại một phần tâm hồn của chính mình và của tổ tiên mình.

Nhưng tôi không nghĩ là ông ta thăm vùng đất Phật để tìm lại một phần tâm hồn của chính mình và của tổ tiên mình, vì bản chất của ông ta là một người tự nhận là sống trong tăm tối, cần đến các thừa sai mang "tin mừng Phúc Âm" đến để khai sáng cho ông ta trở thành một con chiên.  Đọc bài này tôi thấy rõ mánh mưu của NGK hơn, mượn câu chuyện đến thăm đất Phật, nói vài câu đãi bôi trên đầu môi chót lưỡi, rồi lòi ra mục đích chính là xuyên tạc lịch sử, và dùng những luận điệu ngu dốt về Phật Giáo để xuyên tạc và hạ thấp Phật Giáo, nhất là Phật Giáo Việt Nam.  Toàn bài chỉ là những ý kiến cá nhân, rất ngu nhưng tự cho là trí thức, kèm theo những nhận định hoang tưởng, sai lầm về lịch sử và Chánh Pháp Phật Giáo.  Tôi sẽ chứng minh những nhận xét này trong một phần sau.

Thật ra thì bài của Nguyễn Gia Kiểng đâu có đáng gì để mất công phản biện, vì ai cũng biết Nguyễn Gia Kiểng là người như thế nào qua cuốn “Tổ Quốc Ăn Năn”.  Nhưng NGK viết tầm bậy tầm bạ về Phật Giáo rất nhiều, nên tôi cũng phân tích qua loa bài viết đó để cho đọc giả thấy rõ NGK là loại người như thế nào.  Đọc bài của NGK tôi không lấy gì làm lạ, vì tôi đã biết từ Công Đồng Vatican II, là Ca-tô giáo có mánh mưu tìm hiểu về Phật Giáo để xuyên tạc hạ thấp Phật Giáo, hay lấy những cái hay của Phật Giáo chế biến lại thành của Ca-tô Giáo.  Mấy giáo hoàng như John Paul II, Benedict XVI cũng như một số các Linh mục ở Thái Lan đã sử dụng sách lược này, một sách lược mà Tiến Sĩ C. de S. Wijesundera ở Tích Lan lên án là “tấn công Phật Giáo một cách ti tiện, xảo trá, không đứng đắn và đại quy mô.” (They [the Christians] were engaged, Dr. C. de S. Wijesundera said, in a "despicable, treacherous, indecent and massive assault on Buddhism".) 

Sau đây chúng ta hãy đi vào việc phân tích vài điều NGK viết trong bài Một Mảnh Quê Hương Trên Đất Phật để thấy rõ NGK hội đủ các đặc tính ti tiện, xảo trá v…v... như trên. 

■ Tôi bỏ qua những đoạn NGK nói về chuyến du lịch tham quan Phật tích ở Ấn Độ và mô tả những nơi ông đi qua.  Về Ấn Độ, NGK viết, mục đích để quảng cáo cho dân chủ như là một chiếc chìa khóa vạn năng.
Chắc chắn Ấn Độ còn rất nghèo và còn nhiều vấn đề nhức nhối. Nhưng Ấn Độ đã tiến những bước rất dài và đang trên đà giải quyết những vấn đề còn lại. Ngày nay không còn ai nói Ấn Độ là một nước tuyệt vọng, như trong các thập niên 1950 và 1960 nữa. Cũng không ai chối cãi rằng Ấn Độ đang thành công. Sự thành công của Ấn Độ không chỉ đáng mừng cho nhân dân Ấn Độ mà còn có ý nghĩa quan trọng cho cả thế giới. Nó chứng minh rằng thiết lập dân chủ không hề đòi hỏi một điều kiện tiên quyết nào; dân chủ có thể thành công trong mọi trường hợp và còn có khả năng đưa một dân tộc ra khỏi một tình trạng tưởng như tuyệt vọng.

Tôi không hiểu NGK hiểu được bao nhiêu về dân chủ mà cho là dân chủ có thể thành công trong mọi trường hợp và còn có khả năng đưa một dân tộc ra khỏi một tình trạng tưởng như tuyệt vọng.  Kiến thức của NGK quả thật là còn thiếu sót rất nhiều.  Có những trường hợp cho thấy dân chủ không phải là cái chìa khóa vạn năng như NGK viết, mà một chế độ độc tài có thể phát triển quốc gia, mang nhiều lợi ích đến cho dân tộc hơn là một chế độ dân chủ..

-   Chế độ độc tài Park Chung Hee (1961 – 1979) thâu tóm toàn bộ quyền lực và hợp hiến hóa chức vụ lãnh đạo của Nhà nước.  Thông qua hoạt động của “Hiệp hội kêu gọi tái thiết quốc gia” Park Chung Hee đã giải tán Quốc hội và các đảng phái chính trị đối lập hoạt động, đồng thời thẳng tay đàn áp các phong trào dân chủ chống đối.  Chế độ độc tài Park Chung Hee được các nhà chính trị học phương Tây gọi là “Chế độ độc tài phát triển”, là chế độ chính trị xác lập nhằm đảm bảo sự ổn định chính trị để tiến hành thành công hiện đại hóa kinh tế và xã hội  Chế độ độc tài Park Chung Hee đã thành công trong sách lược phát triển công nghiệp và kinh tế, làm căn bản cho sự phát triển sau này của Nam Hàn.
-    Chế độ độc tài của Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan trước đây cũng có những phát triển đất nước đáng kể. 
-    Và ngày nay, chế độ độc tài tư bản đỏ của Trung Quốc đã phát triển về mọi mặt và trở thành một đối thủ đáng sợ của Mỹ. 
-    Kinh nghiệm Việt Nam cũng cho thấy, cách đây mấy chục năm, không ai có thể nghĩ là Việt Nam có thể phát triển như ngày nay.  Sau chiến tranh cả nước đều kiệt quệ, tưởng như ở trong tình trạng tuyệt vọng. Vì Mỹ thua trận, mất mặt với thế giới, nên bội ước không bồi thường chiến tranh và trả thù Việt Nam bằng cuộc cấm vận trong 19 năm.  Mục đích là để đánh gục Việt Nam bằng kinh tế vì đã không thể đánh gục bằng quân sự, để cho Việt Nam không ngóc đầu lên được.  Nhưng cho tới cuối thập niên 1980, Việt Nam đã từ từ tự vực giậy và đưa đất nước đến tình trạng ngày nay, đâu có cần đến dân chủ. Phải về Việt Nam mới thấy đất nước ngày nay đã phát triển như thế nào. Thực ra thì ngày nay, Việt Nam đã là dân chủ quá trớn rồi, cho nên đã xẩy ra những vụ vô cương vô pháp của những nhóm dân chủ và tôn giáo không hiểu dân chủ là gì.  Nếu là độc tài Cọng Sản thì chẳng làm gì có những vụ như Nguyễn Văn Lý, Cù Huy Hà Vũ, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân và em bé cờ vàng v.v…, khoan kể đến các vụ làm loạn ở Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Cồn Dầu và Mỹ Yên.

Vậy thì theo NGK, dân chủ ở Ấn Độ thuộc loại dân chủ nào.  Dân chủ đặt căn bản trên sự bình đẳng của mọi công dân, đây là một nguyên tắc của dân chủ, hay đặt trên hệ thống phân chia giai cấp như ở Ấn Độ, tuy đã bị bãi bỏ bởi hiến pháp nhưng trên thực tế vẫn tràn lan trong xã hội?  Dân chủ không chỉ là người dân có quyền bỏ phiếu chọn lựa người mình muốn bầu mà còn tùy thuộc nhiều yếu tố chính trị, dân trí, xã hội … khác nữa.

Đọc bài “10 Lý Do Tại Sao Ấn Độ Không Phải Là Siêu Cường Sắp Tới” [10 Reasons why India is not the Next Superpower] của Mikael Santelli-Bensouda, 4 Jan, 2012 [1] chúng ta thấy rõ là dân chủ của Ấn Độ cứ ì à ì ạch, chẳng tiến được bao nhiêu trong khi Trung Quốc đã tiến mau tiến mạnh.  Mikael Santelli-Bensouda phân tích 10 tình trạng của xã hội Ấn Độ trong các đề mục: Dân Chủ (Democracy); Tham Nhũng (Corruption); Hạ Tầng Cơ Sở (Infrastructure); Chế Độ Quan Liêu (Bureaucracy); Chủng Tộc & Tôn Giáo (Ethnicity & Religion); Năng Lượng (Energy); Tư Bản Thái Quá (Hypercapitalism); Nghèo Khổ (Poverty);  Hệ Thống Giai Cấp (The Caste System); Thái Độ Đối Với Người Ngoại Quốc (Attitude to Foreigners). 

  

Về đề mục Dân Chủ, tác giả Mikael Santelli-Bensouda viết:

Điều thích hợp, trước những kỳ công của nước Trung Hoa ồn ào lân cận Ấn Độ, là câu hỏi: có phải mù quáng chấp nhận một hệ thống dân chủ như là con đường duy nhất không.  Lịch sử nói thẳng cho chúng ta biết rằng những chế độ độc tài (ở mức độ khác nhau) cũng đạt được, nếu không nhiều hơn, sự thành công thiết lập những xã hội hữu hiệu hơn là các quốc gia dân chủ.  Thật ra, một biểu thị đúng về dân chủ còn chưa tạo nên một cường quốc trên thế giới…Tất cả những cường quốc Âu Châu, nước Mỹ cô lập, đế quốc Nhật Bản, nước Trung Hoa tương lai và mọi đế quốc cổ xưa cùng có chung một sự kiện đơn giản; không đại diện cho mọi công dân trong quá trình quyết định, mà đưa ra những quyết định nhân danh công dân.  Tôi không bàn cãi về kiểu độc  tài của sự lãnh đạo của Trung Quốc nhưng tôi muốn đặt một câu hỏi đơn giản: quý vị có nghĩ rằng Ấn Độ có thể thi đua với Trung Quốc về những gì Trung Quốc đã làm trong các lãnh vực hạ tầng cơ sở, nghèo khổ, những nhu cầu về năng lượng và đại cương là bảo vệ cho tương lai của quần chúng trên một chu trình bầu cử tập trung mỗi năm năm không?  Xét theo những tình trạng hiện thời có vẻ như là điều này rất khó mà có thể xẩy ra. [2]

Tiếp theo, NGK viết:
Cũng như với hầu hết mọi người Việt Nam tới Ấn Độ lần đầu, thăm vùng đất Phật đối với tôi gần như là một bắt buộc. Có một cái gì rất xúc động. Càng xúc động vì ngày nay đạo Phật đã biến mất tại Ấn Độ, ngay cả trên vùng đất mà người Phật tử coi là đất thánh, nghĩa là vùng đất Phật mà tôi viếng thăm.

Chẳng có ai bắt buộc NGK phải đến thăm vùng đất Phật cả.  Ông tham gia một chương trình du lịch Ấn Độ, trong đó có phần đến thăm đất Phật, cho nên ông bắt buộc phải đến đó, dù muốn hay không.  Sự suy thoái của Phật Giáo ở Ấn Độ không phải là vì Phật Giáo không có giá trị mà vì những lý do đối nghịch với bản chất hòa bình và bình đẳng của Phật Giáo, và sự xâm lấn của những tôn giáo hẹp hòi khác. Đại cương thì Phật Giáo là tôn giáo hòa bình, bình đẳng.  Đức Phật nói, mọi người đều như nhau, nước mắt cùng mặn, máu cùng đỏ, và ai cũng có thể thành Phật.  Giáo lý Phật Giáo không thích hợp với hệ thống giai cấp cố hữu của đạo Bà La Môn.  Từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 11, chính quyền Ấn Độ đều nằm trong tay những người Bà La Môn, do đó ảnh hưởng của Phật Giáo trong quần chúng suy yếu.  Ngoài ra cuộc xâm lấn của Ba Tư và Hi Lạp cũng ảnh hưởng đến Phật Giáo.  Sau đó là sự xâm chiếm của Hung Nô rồi của Hồi Giáo hiếu chiến và hẹp hòi.  (Hung Nô và Hồi Giáo giống Ca-tô giáo ở chỗ hẹp hòi tôn giáo, chủ trương phá hủy chùa chiền, đình miếu của những người theo tôn giáo khác).  Vào thế kỷ 13, Hồi giáo đã phá hủy hầu hết những cơ sở Phật Giáo trên đất Ấn.  Nhưng cũng nhờ vậy mà Phật Giáo vượt khỏi biên cương Ấn Độ để lan tỏa ra khắp Á Châu và đó là hồng phúc của người dân Á Châu.  Trái với Ki Tô Giáo, dù dựa thế của thực dân Tây phương để truyền đạo, nhưng có thể nói là hoàn toàn thất bại ở Á Châu, trừ Phi Luật Tân và một số ốc đảo ngu dốt (Từ của LM Trần Tam Tĩnh) ở Việt Nam. Đây không phải là chỗ để nói về lịch sử Phật Giáo ở Ấn Độ. 

Vấn đề là Phật Giáo không có biến mất ở Ấn Độ như NGK tưởng, vì Phật Giáo đã bắt đầu phục hưng từ cuối thế kỷ 19 và còn đang phát triển mạnh ở Ấn Độ.  Ở đây, tôi chỉ tóm tắt vài sự kiện.
Phật Giáo bắt đầu phục hưng ở Ấn Độ từ 1891 do sự thành lập Hội Đại Bồ Đề (Maha Bodhi  Society) của nhà lãnh đạo Phật Giáo Tích Lan Anagarita Dharmapala, và sự đóng góp của nhiều người, điển hình là Kripasaran Mahasthavir, Bodhananda Mahastvir, Acharya Medharthi v…v…và do sự chấp nhận Phật Giáo của nhiều trí thức Ấn.   Phật Giáo Tây Tạng tị nạn Tàu, di cư tới Ấn Độ vào năm 1959, được Thủ Tướng Nehru cho phép thành lập “chính phủ lưu vong” ở Dharamsala, Phật Giáo Tây Tạng nay có nhiều ảnh hưởng trên đất Ấn. Rồi tới phong trào quy y tập thể giai cấp thấp Dalit của Bồ Tát Tiến sĩ Ambedkar vào năm 1956.  Sự phục hưng của Phật Giáo ở Ấn Độ là do sự đóng góp của nhiều người, từ những học giả trí thức cho tới những bậc tu hành đến từ các nước khác. Nhưng điển hình phải nói đến công nghiệp của Dr. Ambedkar (1891-1956).
Ambedkar là Bộ Trưởng Tư Pháp trong chính quyền Ấn.  Ông chống đối hệ thống giai cấp trong xã hội Ấn.  Nghiên cứu Phật Giáo, ông thấy Phật Giáo có thể giải quyết vấn đề bất công này (Buddhism was the only way for the Untouchables to gain equality), vì Phật Giáo chủ trương mọi người đều bình đẳng vì cùng là con người.  Ông bỏ đạo Cơ Đốc, quy y Tam Bảo, giữ 5 giới, và khởi sự vận động quy y cho tập thể người Ấn, hầu hết thuộc giới thấp kém nhất trong bậc thang xã hội Ấn. Ngày 14 tháng 10, 1956, ở Nagpur, dưới sự chứng minh của một tăng sĩ Phật Giáo, Bhadant U Chandramani, ông đã làm lễ quy y tập thể cho 600,000 người Ấn.  Trong lễ quy y này, ông đưa ra 22 Lời Nguyện để cho những người quy y, sau khi quy y Tam Bảo và nguyện giữ 5 giới, đọc, từ bỏ Ấn Giáo và theo giáo lý Phật Giáo.  Sau đây là vài điều trong số 22 lời nguyện Ambedkar đưa ra.
4.   Tôi không tin là có Gót xuống thế làm người (I do not believe the incarnation of God)
5.   Tôi không tin và sẽ không bao giờ tin Đức Phật là Vishnu hiện thân làm người, đây chỉ là lời điên rồ và tuyên truyền sai lầm
7.   Tôi sẽ không làm gì vi phạm những nguyên tắc và giáo lý của Đức Phật.
9.   Tôi tin vào sự bình đẳng của con người.
10. Tôi sẽ hết sức cố gẳng để thiết lập sự bình đẳng này.
13. Tôi nguyện có lòng từ bi đối với mọi chúng sinh và bảo vệ chúng

Tác phẩm “Đức Phật Và Phật Pháp” (The Buddha and His Dhamma) của Ambedkar đã được Hội nghị Phật giáo toàn Ấn Độ thông qua ngày 24/11/1968 và được dùng làm thánh điển Phật giáo mới của Ấn Độ.  Ngày nay, có khoảng 8 triệu người Ấn theo Phật Giáo, chưa tới 1% trên tổng số dân Ấn trên đất Ấn.  Nhưng giá trị của Phật Giáo không ở trên những con số.  Giáo Pháp Phật Giáo được biết là Chánh Pháp.  Mà Chánh Pháp là Chánh Pháp, dù ít người theo thì đó vẫn là Chánh Pháp.  Còn một Tà Pháp thì dù có cả tỷ người theo, Tà Pháp đó vẫn chỉ là Tà Pháp. 

Bia khắc 22 Lời Nguyện của Ambedkar ở Deekshabhoomi, Nagpur

Phong trào quy y tập thể đã thực hiện nhiều nơi trên đất Ấn, nhất là vào đầu thế kỷ 21.  Và ngày nay, có nhiều dân Ấn thuộc các giai cấp khác nhau quy y.

Mặt khác, phong trào mang giáo lý của Đức Phật trở lại Ấn bắt đầu 9 năm trước khi Tổ Chức “Ánh sáng Của Phật Pháp” (Light of Buddhadharma Foundation) bảo trợ Lễ Tụng Niệm Tam Tạng Kinh Quốc Tế  đầu tiên ở Bồ Đề Đạo Tràng năm 2006.  Lễ này được tiếp tục tổ chức hàng năm cho đến nay.  Bồ Đề Đạo Tràng hiện nay có 47 ngôi Chùa của các nước trong đó có Chùa của Việt Nam, Chùa Kiều Đàm Di do các Ni Cô quản thủ và Chùa Việt Nam Phật Quốc Tự do Tỳ kheo Thích Huyền Diệu sáng lập.

 
Hình trái: Kỳ tụng niệm tam tạng kinh năm 2006
Hình phải: 7,000 người bao gồm một số tín đồ Cơ đốc giáo quy y Phật tại một buổi lễ tập thể được tổ chức tại sân bóng đá Kakaria, bang Gujarat vào ngày 24/1/2010  (Hình và tin của NewKarala.com).

Năm nay, Lễ Quốc Tế Tụng Niệm Tam Tạng Kinh thứ 9 ở Bồ Đề Đạo Tràng đã được tổ chức từ ngày 2 cho đến ngày 13 tháng 12, 2013, với sự tham dự của 3,000 Tăng sĩ và khoảng 2,000 Phật tử hành hương đến từ nhiều nước ở Đông Nam Á. [3]
  

■ Về Chùa Kiều Đàm Di của Việt Nam ở Bodh Gaya, NGK viết:
Theo thống kê của chính quyền Ấn Độ thì trung bình hàng tháng chỉ có khoảng 150 người Việt tới Ấn mà thôi như vậy trung bình số người Việt thăm chùa và bảo tháp hàng ngày không quá năm người, quá ít so với số tượng Phật dự trù (2000) trong khi khách thăm chùa Việt Nam chủ yếu là người Việt Nam bởi vì tinh thần chung như tôi có thể thấy khi thăm các chùa là "chùa nhà ai nấy viếng".

NGK có ý gì khi viết đoạn trên?  Phải chăng ông muốn nói là Chùa chẳng có mấy người Việt Nam đến thăm nên ni cô dự trù dựng 2000 tượng Phật để làm gì.  Điều này phản ánh sự hiểu biết của NGK về Phật Giáo là một con số 0 vĩ đại, và nhận xét tiêu cực của ông về Chùa Kiều Đàm Di chỉ là từ cái đầu óc đen tối, ti tiện, hẹp hòi của ông ta.

Thứ nhất, không phải người Việt nào cũng có khả năng đi hành hương Phật Tích ở Ấn Độ.  Phải có tiền, có thì giờ và có sức khỏe.  Cho nên mỗi chuyến người Việt tham gia hành hương Phật Tích ở Ấn Độ chỉ khoảng vài chục người, nhiếu nhất là độ 100 người.  Ở đó vài ngày rồi lại trở về nhà.  Và không phải ngày nào cũng có người Việt đến nơi Phật Tích hay thăm Chùa của Việt Nam.  Cho nên con số “hàng ngày không quá năm người” của NGK là một con số “thống kê” ngớ ngẩn.

Chuyện ngoài lề:  Ông NGK là người Ca-tô, ông thử nghiên cứu xem trung bình mỗi ngày có bao nhiêu người Việt ngu đạo nhưng rất ngoan đạo đến hành hương Bethlehem, nơi Chúa Dê-su, con đầu  lòng của bà Mary, sinh ra đời, hoặc đến Đồi Sọ Golgotha, nơi Chúa chết?  Mặt khác, ở Âu Châu, cái nôi của Ca-tô Giáo trước đây, Ca-tô Giáo vẫn còn (chưa biến mất, nhưng có thể coi như đã chết) vì Giáo Hoàng Benedict XVI đã phải than: “Ngày nay, Âu Châu sống như là không biết đến Gót và còn cần đến ít hơn sự cứu rỗi của Dê-su” [4]
  
Thứ nhì, truyền thống có 10,000 (vạn) tượng Phật nhỏ trong Chùa hay trong tu viện có thể thấy khắp nơi trên thế giới.  Lẽ dĩ nhiên không phải Chùa nào hay tu viện nào củng có thể thực hiện được điều này.  Và càng không phải là làm nhiều tượng Phật để mong có nhiều tín đồ đến xem.  Vạn Phật Thành ở phía Bắc San Francisco do cố Tam Tạng Pháp Sư Tuyên Hóa xây dựng là nơi đến để tu tập, dạy từ 4 giờ sáng và không ăn quá Ngọ, chứ không phải là nơi hành hương để xem tượng Phật.  Trong Phật Giáo có Kinh Vạn Phật, trong đó Phật Thuyết Phật Danh, Phật nói ra một vạn một ngàn một trăm vị Phật.  Điều này nói lên con đường thành Phật không phải chỉ có một.  Nếu chúng ta đã đến Long Môn Thạch Động ở Lạc Dương Trung Quốc thì chúng ta sẽ thấy không phải là “một vạn” mà là “mười vạn” (100,000) tượng Phật lớn nhỏ khác nhau, lớn thì cao cả 10m, nhỏ thì chỉ bằng bàn tay, được khắc trên vách đá hay trong các hốc đá.  Hoặc đến Hang Động Vân Cương ở Sơn Tây Trung Quốc chúng ta có thể thấy tới 15000 tượng Phật khắc trong các hốc đá (tôi đã đến 2 nơi này cách nhau 10 năm).  Ông NGK không biết gì về Phật Giáo nên viết bậy là số 2,000 tượng Phật mà Ni Cô ở Chùa Kiều Đàm Di là quá nhiều so với không quá 5 người đến thăm Chùa hàng ngày vì số tượng Phật trong chùa không liên quan gì  đến số tín đồ đến thăm hàng ngày cả. Trí óc của NGK chỉ có thế thôi, thật là tội nghiệp, nhưng cũng chẳng lạ, vì ông ta vốn là một con chiên mà những giây thần kinh suy tư và biết ngượng đã bị tước đi từ khi rửa tội rồi.

   

Tác giả thăm Long Môn (1996) và Vân Cương (2006)

Và ngay ở TP Hồ Chí Minh cũng có Chùa Vạn Phật, theo tài liệu của trang nhà Buddhismtoday thì:
Án thờ giữa ngôi đại điện tôn trí tượng đức Phật Tỳ Lô Giá Na ngự trên tòa sen ngàn cánh, trong mỗi cánh sen có một vị Phật. Phía trước thờ 5 vị: Ở giữa thờ đức Phật Thích Ca, hai bên thờ 2 vị Phật A Di Đà, Dược Sư và 2 vị Bồ tát Quán Thế Âm, Địa Tạng. Án thờ hai bên ngôi đại điện tôn trí tượng Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền. Trên vách tường chung quanh ngôi đại điện thờ một vạn tượng Phật (kinh Vạn Phật).

Trong chánh điện chùa Vạn Phật tại Tp Hồ Chí Minh

* * *
■ Bây giờ sang đến mục đích chính của NGK là viết bậy và nhận định tiêu cực rất sai lầm về Phật Giáo Việt Nam.  NGK viết:
Tuy vậy cái dấu giáng trong chuyến thăm Ấn Độ của tôi không phải vì sự biến mất của Phật Giáo trên chính quê hương của nó mà vì không ngờ đã phải thấy lại một vài nét không hay của đất nước và con người Việt Nam.   Có một cảm giác rất bâng khuâng, đi kèm với ý thức không vui về sự hời hợt cố hữu về tư tưởng của người Việt Nam. Đạo Phật là tôn giáo lâu đời nhất của nước ta và là một thành tố quan trọng của văn hóa và lịch sử Việt Nam, đối với người Việt Nam tìm hiểu Phật Giáo cũng là tìm hiểu căn cước của chính mình. Tuy vậy cho tới nay hình như chưa có những cố gắng nghiêm chỉnh để tìm hiểu nó. Sự hiểu biết của chúng ta về Phật Giáo, theo những gì tôi đã được nghe và đọc, mới chỉ là sự hiểu biết phiến diện về những gì mà người Trung Quốc truyền bá về Phật Giáo.

Rõ ràng là NGK viết để mà viết.  Sự hời hợt cố hữu về tư tưởng của người Việt Nam là những tư tưởng nào và hời hợt như thế nào, NGK không nói.  Chắc NGK đã đọc hết những tác phẩm nghiên cứu về Phật Giáo của người Việt Nam, và cũng đã nghe hết những lời giảng Phật Pháp của các bậc Tăng Ni Việt Nam, nên tổng hợp cho rằng chưa có những cố gắng nghiêm chỉnh để tìm hiểu nó. Đúng là một con ếch ngồi dưới đáy giếng, nói bậy nói bạ mà không biết ngượng.  Phải chăng NGK cho rằng ông ta đã hiểu Phật Giáo nên mới viết như trên.  NGK viết:  Sự hiểu biết của chúng ta về Phật Giáo, mới chỉ là sự hiểu biết phiến diện,  chúng ta đây là ai, theo tôi “chúng ta” ở đây không ngoài con chiên Nguyễn Gia Kiểng và những đồng đạo của ông ta như Giáo hoàng Gioan Phaolồ 2 đã hiểu “phiến diện” trong cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cữa Hy Vọng” (1994).  Để chứng minh, chúng ta hãy đọc tiếp về đoạn ông phê bình một câu trong Kinh Pháp Cú, chứng tỏ là ông ta chẳng hiểu gì về Kinh Phật cả.

NGK viết: Về Phật học chúng ta lệ thuộc cái đã lỗi thời từ lâu, và để chứng minh ông ta viết đoạn sau đây:

Một thí dụ là kinh Pháp Cú (Dhammapadda) mà các nhà sư tụng mỗi ngày. Câu số 70 trong Phẩm Ngu do hòa thượng Thích Thiện Siêu dịch từ bản chữ Hán như sau: "Từ ngày này qua tháng khác với món ăn bằng đầu ngọn cỏ cô-sa, người ngu có thể lấy để nuôi sống, nhưng việc ấy không có giá trị bằng một phần mười sáu của người tư duy Chánh pháp". Ai hiểu? [NGK không hiểu nhưng tôi hiểu. TCN] Phẩm (chương) này nói về những người ngu dốt ăn năn về tội lỗi của mình và tự đày đọa mình để chuộc tội. [Sai, hoàn toàn sai, không liên can gì đến ăn năn tội lỗi cả.  Đọc Phẩm “Ngu” mà hiểu như NGK thì càng ngu thêm.  Sẽ chứng minh. TCN] Theo Phật họ có đày đọa thân xác bằng cách ăn cỏ như súc vật đi nữa để chuộc tội cũng chẳng đi đến đâu, không bằng học để hiểu con đường giải thoát. Nhưng tại sao lại một phần mười sáu [vì có thể chia chẵn] mà không là một phần mười lăm hay một phần mười bẩy? Bản dịch của hòa thượng Thích Minh Châu (nguyên viện trưởng viện đại học Vạn Hạnh) cũng vẫn một phần mười sáu, cũng không kèm theo một lời giải thích nào và còn khó hiểu hơn. Có lẽ thái độ chung của hai vị sư này là "Phật đã nói thế thì cứ biết thế". Nhưng vấn đề là Phật không nói như thế. Con số 16 là con số huyền bí của Ấn Độ, ngoài sự kiện là một con số nó còn có nghĩa bóng là "toàn vẹn". Khi Phật nói cắn cỏ ăn năn không bằng "một phần mười sáu" của cố gắng học hỏi để khai sáng tâm hồn ông chỉ muốn nói là "chẳng là gì so với" mà thôi. Một câu như vậy mà trong hàng ngàn năm người ta tụng hàng ngày mà không ai thắc mắc chứng tỏ rằng người Việt chúng ta tuy ham học nhưng lại không có nhu cầu hiểu. Câu 70 này không phải là ngoại lệ, phần còn lại của toàn bộ kinh Pháp Cú được dịch ra tiếng Việt cũng đều như thế cả và nói chung các kinh Phật khác cũng thế.

Tôi chưa thấy người nào lại vô liêm sỉ như Nguyễn Gia Kiểng, viết bừa viết bậy mà không bao giờ chứng minh những điều mình nói ra.  Viết như trên, NGK cho rằng mình đã đọc hết các Kinh Phật trong khi không ai có thể đọc hết được Kinh Điển Phật giáo, có hàng vạn quyển, kể cả các bậc tu hành.  Trong Phật Giáo không làm gì có chuyện “chuộc tội”, nếu làm điều không phải hay ác thì sám hối và tự hứa sẽ không làm nữa.  Câu 127 viết: “Chẳng phải bay lên không trung (thiên đường), chẳng phải lặn xuống đáy bể, chẳng phải chui vào hang sâu núi thẳm, dù tìm khắp thế gian này, chẳng có nơi nào trốn khỏi ác nghiệp gây ra”.  Nhưng vấn đề chính ở đây là NGK quá dốt, không hiểu gì về câu 70 trong Kinh Pháp Cú nên viết bậy. 

Kinh Pháp Cú là những trích lục từ những lời giảng của Đức Phật trong 45 năm giảng Pháp.  Thứ nhất, ở chỗ nào Phật nói cắn cỏ ăn năn?  Và chỗ nào theo Phật, đày đọa thân xác bằng cách ăn cỏ để chuộc tội?  Nếu NGK  không chứng minh được là Phật nói ở đâu thì ông nợ Phật Giáo một hành động lương thiện trí thức: quỳ trước bàn thờ Phật, dập đầu xuống đất 10 lần, sám hối và tự hứa từ nay sẽ không ti tiện, xảo trá để nói láo về Phật Giáo nữa.  Câu 70 có ý nghĩa khác hẳn chẳng liên quan gì đế ăn năn hay chuộc tội cả.  Câu này bắt nguồn từ sự kiện là Đức Phật bỏ lối tu khổ hạnh và theo Trung Đạo.  Vấn đề chính của Phật Giáo là tư duy Chánh Pháp để đi tới giác ngộ, thoát vòng sinh tử.  Tu khổ hạnh như ngày chỉ ăn ngọn cỏ cô-sa hay một hột cơm để sống thì không bao giờ có thể giải thoát, dù tu khổ hạnh đến cả 100 năm.  Nhưng chỉ cần hiểu Chánh Pháp một chút, một câu cũng có thể giác ngộ.
Con số 16 cũng chẳng phải là "con số huyền bí" gì hay là có nghĩa bóng “toàn vẹn” như NGK tưởng tượng ra.  Nó chỉ là con số tượng trưng cho những trình độ tu hành tư duy về Chánh Pháp từ thấp đến cao, 1/16 là một so sánh có nghĩa là "không đáng kễ, không bằng một chút gì, không có giá trị gì hết so sánh với, ..." So sánh nầy xuất phát từ sự kiện thời Phật, đất nước Ấn là nước Cọng hòa gồm 16 bang, Phật lấy tỷ lệ 1/16 để nói đến giá trị quá nhỏ của cách tu khổ hạnh trọn đời (đang khi hành khổ thân thì quá lớn) so với một khoảng khách tư duy Chánh pháp. Nói cách khác, tu sai phương pháp thì tu trọn đời cũng không có giá trị gì. Do vậy "16" không phải là số huyền bí của Ấn Độ.  Nói tóm lại, câu 70 này hàm ý rằng khi tu đúng chánh pháp thì ngay cả ở trình độ thấp cũng còn có giá trị hơn là tu khổ hạnh, tự hành xác một cách vô ích. Ý nầy phản ánh một phần nội dung bài Pháp đầu tiên của Đức Phật, thường được biết là Kinh Chuyển Pháp Luân, giảng cho 5 người bạn đồng tu khổ hạnh trước đây cùng với Phật.  
Đọc NGK bàn về câu 70, tôi lại nghĩ đến câu 63 trong Kinh Pháp Cú, có thể áp dụng đúng cho con người của Nguyễn Gia Kiểng: “Ngu mà tự biết ngu tức là trí, ngu mà tự xưng là trí, chính đó mới thật là ngu [tôi thêm: mới thật là đại ngu, chí ngu]”. 

■ Tôi chẳng muốn phê bình thêm Nguyễn Gia Kiểng, vì tất cả những đoạn sau cũng chỉ chứng tỏ là ông quá ngu dốt về Phật Giáo Việt Nam, xuyên tạc trắng trợn và có những nhận định bắt nguồn từ cái tâm ti tiện và xảo trá của ông ta.  Phê bình thì thường dài với những luận cứ để thuyết phục người đọc.  Sau đây tôi chỉ điểm qua vài “tư tưởng” của NGK và có vài nhận định ngắn.

- NGK: sự thực là Phật Giáo Việt Nam lệ thuộc nặng nề Phật Giáo Trung Quốc [Có thể nói PG Việt Nam chịu ảnh hưởng PG Trung Quốc trong quá trình tiếp biến văn hóa (acculturation) giữa hai dân tộc láng giềng nhưng chưa bao giờ “lệ thuộc nặng nề” PG Trung Quốc cả]
- NGK: Các kinh Phật cũng đều đến từ Trung Quốc và mang tên chữ Hán: Tứ Diệu Đế, Pháp Hoa, Bát Nhã, Thủ Lăng Nghiêm v.v. tất cả được dịch sang tiếng Việt một cách luộm thuộm và tối nghĩa. [Phải chăng NGK đã đọc hết tất cả những bản dịch Kinh Phật sang tiếng Việt.  Một câu trong Kinh Pháp Cú mà còn không hiểu nổi thì Kinh Phật tối nghĩa đối với NGK cũng phải.  Hơn nữa Kinh Phật là để cho Phật tử, những con người, đọc, không thích hợp với đầu óc của thú  vật như con chiên.  Chiên lớn như John Paul II hay Benedict XVI, chiên nhỏ như NGK đều không thích hợp]
- NGK: Nếu ta hỏi một nhà sư tại sao Phật bỏ hoàng cung đi tu thì có tất cả mọi triển vọng vị tu sĩ đó sẽ trả lời rằng đó là vì nhờ tâm hồn và trí tuệ siêu việt có một không hai Phật đã nhận ra sự vô nghĩa của cuộc sống. Tuy nhiên sự thực không phải như vậy. Phật đã bỏ nhà ra đi trong một phong trào xã hội rất lớn tại Ấn Độ vào lúc đó. [Thế là NGK không biết gì về những nguyên nhân khiến Thái Tử tất Đạt Đa quyết định cắt tóc đi tu.  Chuyện này thì sách Phật học phổ thông nào cũng có nói đến.  Quá quen thuộc đối với Phật tử, khỏi cần nhắc lại ở đây.]
- NGK: Có lần tôi hỏi anh Lưu Hồng Khanh, giáo sư thần học trong nhiều viện thần học tại Đức, rằng người Việt Nam có công trình nghiên cứu khách quan và nghiêm túc nào về Phật Giáo và tư tưởng Ấn Độ không. Anh Khanh là một trí thức mà tôi coi như một người đàn anh và rất kính phục thẩm quyền về mặt tôn giáo. Anh đã dành nhiều cố gắng nghiên cứu tư tưởng Ấn Độ, anh từng là linh mục Công Giáo và đang vừa là mục sư Tin Lành vừa làm công việc hướng dẫn tâm linh của một thiền sư. Lưu Hồng Khanh ngần ngừ rồi trả lời: "Ít lắm, mình cũng tìm kiếm nhưng có duyên hơn với các tác giả trong các ngôn ngữ khác". [NGK không biết là Thần Học chỉ là môn học đoán mò, vì không ai biết thần là cái gì.  Thần của Ca-tô Giáo là một cái gì đó vô hình, không thể mô tả được, không ai hiểu được v… v… theo như giáo lý của Giáo hội Ca-tô dạy con chiên.  Một Linh Mục Ca-tô hay một mục sư Tin Lành thì không thể hướng dẫn tâm linh như một thiền sư, mà chỉ có thể đầu độc con chiên vào một đức tin không cần biết không cần hiểu.  Đoạn NGK viết vô giá trị, vì đó là chuyện riêng, không ai có bổn phận phải tin, nhất là lại tin những gì NGK nói]
- NGK:  Điều thực sự đáng buồn mà tôi không biết trước là tình trạng hai ngôi chùa Việt Nam tại Bodh Gaya và Lumbini. Cả hai ngôi chùa này đều do một người thành lập và đều mang tên Việt Nam Phật Quốc Tự. Cả hai ngôi chùa này hiện nay đều hoang vắng. Tại Bodh Gaya chúng tôi đã rất ngạc nhiên khi tới chùa Việt Nam vì không có cảnh tấp nập ra vào như chùa của các quốc gia khác. Càng ngạc nhiên và thất vọng hơn nữa khi biết chùa đóng cửa vì không có sư.
[Là một con chiên Ca-tô, NGK nên buồn hơn là ở khắp nơi, nhà thờ đóng cửa, hoặc bán làm kho hàng, hộp đêm và nhiều nhà thờ không có linh mục thay vì buồn điều không đáng buồn, ít ra là đối với người Việt Nam hiểu về Phật Giáo.  Hai ngôi Chùa trên do Tỳ Kheo Thích Huyền Diệu xây lập, và Tỳ Kheo không nhất thiết phải ở lại Chùa.  Khi xưa các bậc tu hành thường xây Chùa trên núi cao hẻo lánh, tự nhận mình là Sơn Tăng, Chùa để cho Phật tử đến đó tu học, không phải để cho Phật tử ra vào tấp nập. TT Thích Pháp Châu ở Cali về Việt Nam xây nhiều Chùa nhưng Thầy đâu có ở lại Chùa.  Xây Chùa nơi đất Phật không phải để cho người Việt ra vào tấp nập, vì biết rõ số người Việt đủ khả năng hành hương đất Phật hàng năm không có bao nhiêu.  Xây Chùa nơi đất Phật để góp mặt với thế giới, tôn vinh giáo Pháp của Đức Phật.  NGK lấy cái tâm ti tiện của mình để phê bình chê bai Chùa vắng khách]

Tôi nghĩ như vậy kể đã đủ để đọc giả nhận rõ sự dốt nát về Phật Giáo của Nguyễn Gia Kiểng, đồng thời cũng thấy rõ mánh mưu ti tiện khi viết bài Một Mảnh Quê Hương Trên Đất Phật.  Đối diện với những sự thực về Ca-tô Giáo mà bản chất chỉ là một tà đạo, đạo chích, đạo bịp, và trước thế giới thì đó chỉ là một “Tổ Chức Tội Phạm Quốc tế”, với sự phá sản tâm linh và đạo đức tràn ngập trong giới chăn chiên v…v…, các con chiên Việt Nam ngu đạo ra công đánh phá Phật Giáo Việt Nam, từ vu cho Phật Giáo làm mất miền Nam, Phật giáo là Cộng sản để gây thù hận trong đám người chống Cộng ngu xuẩn, cho đến xuyên tạc bôi nhọ nhiều bậc tu hành Phật Giáo, đồng thời đề cao Ca-tô Giáo.  Nhưng dù họ có làm gì đi chăng nữa thì thực tế là thế giới ngày nay đã công nhận “Phật Giáo là tôn giáo tốt nhất trên thế giới”, và Liên Hiệp Quốc đã vinh danh Lễ Tam Hợp (Vesak) như là một căn bản cho hòa bình thế giới. (Thông điệp của ông Tổng Thư ký Kofi Annan nhân dịp kỷ niệm lễ Vesak ngày 7 tháng 5 năm 2002 xác định rõ rằng:  “Trong thời đại bất trắc toàn cầu hôm nay, quan niệm về hòa bình và về tiềm năng cao cả nhất của con người  mà Đức Phật đã chỉ ra, bỗng trở nên thích đáng hơn bao giờ hết.”)  Đó là những điều đáng kể.  Còn Phật Giáo có ít người theo ở Ấn Độ hay ở bất cứ đâu, hoặc có một số người mặc áo cà sa mà không giữ giới luật, buông lung v…v… đều không phải là điều thích hợp. 

   Trần Chung Ngọc
   Ngày Đông Chí, 2013

CƯỚC CHÚ:


[2] It is relevant, given the feats achieved by India’s tumultuous neighbour China, to question whether a democratic system is to be blindly accepted as ‘the only way’. History tells us quite bluntly that authoritarian regimes (of varying degrees) have had as much, if not more, success in establishing functioning societies than democratic nations. In fact, a true expression of democracy has yet to engender a world power. All of the European powers, a segregated United States, Imperial Japan, the coming of China and all ancient empires share one simple fact; they did not represent all of their citizens in their decision making processes, instead they took decisions on their behalf. I am not arguing for a Chinese-style authoritarian leadership but I pose this simple question: do you think it is possible for India to emulate what the Chinese have done in terms of infrastructure, poverty, energy needs and generally safeguarding the future of its population on a centralised five-year electoral cycle? It seems highly improbable given the current state of affairs.

[3] The ninth International Tipitaka Chanting Ceremony in Bodhgaya, India will take place December 2nd -- December 13th, 2013, drawing together 3000 monks and an estimated 2000 lay pilgrims from South East Asian countries representing the Theravada Buddhist tradition. This includes monks from Bangladesh, Cambodia, Laos PDR, Myanmar, Nepal, Sri Lanka, Thailand and Vietnam, along with Buddhist monks from India.

[4] ROME (Reuters) July 27, 2005
Mainstream churches in the West appear to be dying as societies that are increasingly secular see less need for God, Pope Benedict said in comments published on Wednesdaỵ
His outlook was even glummer than that of his predecessor John Paul, who lamented the decline of faith in the developed world and said it explained the Catholic Church's struggle with falling attendance in the West in recent years.
It is different in the Western world, a world which is tired of its own culture, a world which is at the point where there’s no longer evidence for a need of God, even less of Christ," he told a meeting of clergy in the Italian Alps where he is on holidaỵ

● Ghi chú: Tác giả gửi trực tiếp cho Blog NamGiao – Bài đã được lay-out lại và sửa vài lỗi typo. 



Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013


TRUNG QUỐC VÀ ẤN ĐỘ TRANH GIÀNH NHAU
MỘT BIỂU TƯỢNG PHẬT GIÁO
 

Frédéric Robin / Le Monde
Chuyển ngữ: Hoang Phong

Tờ nhật báo uy tín Le Monde của Pháp ngày 18 tháng 9 năm 2013, trong mục Địa Lý và Chính Trị và qua một bài viết của ký giả Frédéric Robin đặc phái viên ở New Delhi, đã nêu lên các mưu đồ và tham vọng quốc tế nhằm khai thác thánh địa Phật Giáo Lâm-tì-ni (Lumbini). Dưới đây là phần chuyển ngữ.
 

Lâm Tỳ Ni là một trong những nơi hành hương  nổi tiếng của đạo Phật tại quận Rupandehi thuộc Cộng hòa dân chủ liên bang Nepal nằm cách biên giới Sonauli Ấn Độ khoảng 36km. Nơi này được cho là hoàng hậu Mayadevi (Mada) đã sinh ra Siddhartha Gautama (Tất-đạt-đa), người sau này trở thành Phật Thích Ca và đã khai sinh ra Phật giáo.

Thật là cả một sự tranh giành ảnh hưởng vô cùng khốc liệt hiện đang bùng lên trong dãy núi Hy-mã-lạp-sơn. Hai nước Trung Quốc và Ấn Độ đang đối đầu nhau trước biểu tượng của Đức Phật, tượng trưng cho sự đoàn kết giữa các dân tộc Á Châu. Quả thật đây là một cuộc đọ sức không gây ồn ào, thật kín đáo và vô cùng bí mật, tuy nhiên không phải vì thế mà kém phần quyết liệt. Ngoài các mặt trận đã được dàn ra giữa hai siêu cường Á Châu (như sự tranh chấp biên giới, chạy đua về năng lượng, tranh giành ảnh hưởng ở Ấn Độ Dương...) thì một mặt trận mới cũng đang được mở ra với những "đòn chính trị" thật quy mô. Nếu dựa vào cách nói đang thịnh hành trong thời buổi ngày nay thì có thể bảo rằng cuộc tranh giành kín đáo chưa được công bố ấy là cả một mặt trận tranh giành "quyền lực mềm" ("soft power"). "Quyền lực mềm" là một cách mà các siêu cường ngày nay thường sử dụng để thăm dò phản ứng của nhau, ngoài các hình thức biểu dương sức mạnh khác. "Quyền lực mềm" Phật giáo với một tầm ảnh hưởng rộng lớn mang tính cách toàn cầu là cả một tiềm năng mà bất cứ một quốc gia nào tự cho mình là nước lãnh đạo Á Châu đều phải quan tâm đến.
Trong các phòng khách sang trọng và kín đáo dưới tầng hầm của một khách sạn năm sao ở New Delhi (thủ đô Ấn Độ) các buổi họp đầu tiên của International Buddhist Confederation (IBC / Liên đoàn Phật giáo Thế giới) đã diễn ra từ ngày từ 9 đến 12 tháng 9 vừa qua, đánh dấu giai đoạn chín muồi của sự tranh chấp trên đây. Trên phương diện chính thức thì IBC (Liên đoàn Phật giáo Thế giới) chỉ giữ vai trò của một tổ thức "Liên hiệp quốc Phật giáo" (Nations Unies du Bouddhisme), tức là một phương tiện nhằm gom tất cả các học phái - Mahayana (Đại Thừa), Hinayana (Tiểu Thừa), Vajrayana (Kim Cương Thừa) - vào một di sản tâm linh chung cho 400 triệu tín đồ trên toàn thế giới. Sự hiện diện trong các buổi họp mặt ở New Delhi của các đại biểu đến từ khoảng bốn mươi quốc gia trên thế giới đã cho thấy một tiếng vang nào đó. Dầu sao thì cũng còn quá sớm để tiên đoán tương lai của IBC. Hiện nay, người ta chỉ có thể biết một cách chắc chắn là dự án trên đây là do nước Ấn đưa ra - mà người đứng ra tổ chức là Lạt-ma Lobzang, một nhân vật thân cận của triều đại Nehru-Gandhi - không phải chỉ mang mục đích tôn giáo. Chủ đích Địa lý Chính trị (Géopolitique / Geo-policy) hiện ra thật rõ rệt.
Tổ chức Liên đoàn Phật giáo Thế giới (IBC) do Ấn Độ thành lập là nhằm chống lại các sinh hoạt của một tổ chức khác gọi là World Buddhist Forum (WBF / Diễn đàn Phật giáo Thế giới) dưới sự bảo trợ của Trung Quốc. Diễn Đàn này được thành lập sau các buổi hội họp được tổ chức ở Hàng Châu (Hangzou) trong vùng phía nam Thượng Hải (Shanghai) vào năm 2006. WBF (Diễn đàn Phật giáo Thế giới) là một công cụ mà Bắc Kinh sử dụng để o bế (trong nguyên bản là chữ amadouer / coax / vuốt ve) các tập thể Phật giáo bằng cách hứa hẹn một sự đỡ đầu thân thiện. Tổ chức này nằm trong chính sách ngoại giao tích cực nhân danh Phật giáo, được đưa ra liên tiếp từ mười năm nay qua các cuộc triển lãm lưu động về chiếc "răng" và đốt "ngón tay" Phật, được xem là xá lợi của chính Đấng Giác Ngộ mà Trung Quốc đang lưu giữ. Năm 2012 trong lần họp thứ ba của WBE tổ chức tại Hồng Kông, một mảnh xương sọ được xem là của chính Đức Phật - khám phá ra hai năm trước đó ở Nam Kinh (Nankin) - được đưa ra trưng bày một cách trang trọng.

Địa lý Chính Trị trong vùng Hy-mã-lạp-sơn là cả một sự thách đố
Nhìn qua thì các buổi họp của Diễn đàn Phật giáo Thế giới (WBF) do Bắc Kinh giật dây cũng không đến nỗi nào thua kém so với các buổi họp của Liên đoàn Phật giáo Thế giới (IBC) được tổ chức ở New Delhi (do Ấn Độ chủ xướng). Tuy nhiên, thật hết sức khó cho tổ chức Diễn đàn Phật giáo Thế giới (WBF) vượt xa hơn biên giới của các nước thuộc khối Trung Quốc (gồm Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và các cộng đồng Đông Nam Á), trong khi đó thì Liên Đđàn Phật giáo Thế giới (IBC) đã mở ra một chân trời rộng lớn hơn. Sự khác biệt trên đây một phần là do ảnh hưởng của vấn đề Tây Tạng. Trong các buổi họp của Diễn đàn Phật giáo Thế giới (WBF / do Trung Quốc tổ chức), Gyancain Norbu tức là vị Panchen-lama [nhân vật đứng hàng thứ hai trong Phật Giáo Tây Tạng - ghi chú trong nguyên bản] do Bắc Kinh chọn lựa (được chỉ định là vị tái sinh của vị tiền nhiệm) và cố tình mang ra dàn cảnh. Những người ủng hộ Đức Đạt-Lai Lạt-Ma tức là vị lãnh đạo tối cao của Phật giáo Tây Tạng đang lưu vong ở Dharamsala (Ấn Độ), không hề công nhận sự hợp pháp của vị này. Một trong các chủ đích của Diễn đàn Phật giáo Thế giới (WBF / do Trung Quốc tổ chức) là mang Panchen-lama thứ XI ra trưng bày trước cộng đồng thế giới với mục đích hy vọng có thể chính thức hóa vị này, thế nhưng hy vọng đó cho đến nay thật hết sức mong manh. Qua những bài diễn văn yêu nước cho rằng xứ sở Nóc Nhà của thế giới (tức là nước Tây Tạng) thuộc lãnh thổ Trung Quốc do chính Panchen-lama đọc lên cho thấy vị này là người ủng hộ Bắc Kinh. Trong khi đó những người trung thành với Đức Đạt-Lai Lạt-Ma lại hiện diện đông đảo hơn trong tổ chức Liên đoàn Phật giáo Thế giới (IBC) đặt trụ sở ở New Delhi. Trên thực tế IBC đã dựa vào ánh hào quang tỏa rộng mà vị "Đại Dương Trí Tuệ" (tức là Đức Đạt-Lai Lạt-Ma XIV) đã tạo được cho toàn thể gia đình Phật giáo với những biên giới rộng lớn, vượt xa hơn tầm ảnh hưởng của các học phái Phật giáo Tây Tạng.
Nepal, tên chính thức là Cộng hòa dân chủ liên bang Nepal (trước kia gọi là Vương quốc Nepal ) là một quốc gia nằm kín trong lục địa tại vùng Himalaya ở Nam Á, có phần chồng gối với Đông Á, giáp biên giới với Tây Tạng ở phía bắc và Ấn Độ ở phía nam, đông và tây.

Giữa cảnh tranh giành đó, mỗi quốc gia (tức Trung Quốc và Ấn Độ) đều tìm cách đưa ra đủ mọi bằng chứng nhằm giành chính nghĩa về phần mình. Trung Quốc không ngớt hô hào rằng mình là quốc gia có số tín đồ Phật giáo đông đảo nhất thế giới. Về phía Ấn Độ, nơi mà Phật giáo đã bị Ấn giáo đông đảo hơn lấn lướt qua nhiều thế kỷ, thì cho rằng Đức Phật đã được sinh ra trên đất Ấn. Phái bộ Azoka giữ trọng trách tổ chức IBF ở New Delhi tuyên bố rằng "Ấn độ chính là cội nguồn của Phật Giáo". Sự khẳng định trên đây cần phải được xét lại, bởi vì Lâm-tì-ni nơi Đức Phật đản sinh vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, thật ra là thuộc lãnh thổ của nước láng giềng Nepal, và người dân Nepal thì không hề tán đồng sự mạo nhận đó của Ấn Độ. Dầu sao các thánh địa khác của Đức Phật và các đệ tử của Ngài - chẳng hạn như Bồ-đề Đạo Tràng (Bod Gaya), Tiên Uyển (Sarnath), Na-lan-đà (Nalanda)... - rõ ràng là thuộc vào lãnh thổ Ấn, và New Delhi bắt đầu đẩy mạnh các kế hoạch khai thác ngành du lịch tâm linh.
Chính trong lãnh vực này đang diễn ra một trận đấu thật ngoạn mục giữa Trung Quốc và Ấn Độ xoay quanh "quyền lực mềm" Phật giáo. Nhằm đối đầu với con đê khổng lồ của Ấn Độ, Trung Quốc đã bọc hậu và tràn ngập phía sau các thánh địa. Năm 2011, Tổ chức Phi Chính phủ (Organisation Non Gouvernementale, ONG / Non-governmental Organisation, NGO) đặt tại Hồng Kông liên hệ với Bắc Kinh là Asia Pacific Exchange and Corporation Foundation (APECF / Cơ quan Trao đổi và Hợp tác giữa các Quốc gia Á châu trong vùng Thái Bình Dương) đề nghị với người Nepal là sẽ đầu tư 3 tỉ đô-la (2,25 tỉ euros) - tương đương với 85% thuế thu nhập của toàn xứ Nepal - để "phát triển" thánh địa Lâm-tì-ni, nơi đản sinh của Đức Phật. Sáng kiến này bất ngờ làm bùng lên một sự hăng say trong toàn vùng Hi-mã-lạp-sơn. APECF (tức Cơ quan trao đổi và hợp tác trên đây) chọn ngay Pushpa Kamal Dahal làm người đại diện cho chương trình trên đây ở Nepal, nhân vật này mang bí danh là "Prachanda", nổi tiếng là một người khuấy động, trước đây từng là thủ lãnh của nhóm cựu-nổi-loạn theo chủ nghĩa Mao (Maoism) đã được hợp thức hóa sau hiệp ước hòa bình ký kết vào năm 2006. Prachanda cũng đã từng làm thủ tướng Nepal vào các năm 2008 và 2009.

Có quá nhiều dự án
Trùng tu Lâm-tì-ni là một câu chuyện cũ mèm, thế nhưng gần đây lại được hâm nóng trở lại. Câu chuyện bắt đầu từ năm 1970 khi một kiến trúc sư người Nhật là Kenzo Tange dưới sự bảo trợ của Liên hiệp quốc đã đưa ra một dự án về vấn đề này. Thế nhưng sự nhiệt tâm ban đầu đã bị sa lầy nhanh chóng trong các ngõ ngách quan liêu của xứ Nepal và tình trạng bất ổn nội bộ của một xứ sở bé tí nằm kẹt giữa Trung Quốc và Ấn Độ trong vùng Hy-mã-lạp-sơn. Năm 2010, bỗng dưng người ta lại quan tâm đến Lâm-tì-ni với sự hình thành của một dự án mới, do một nhóm người Mã Lai gốc Trung Quốc theo Phật giáo Tây Tạng đưa ra. Dự án này nhằm biến Lâm-tì-ni thành một nơi du lịch đại chúng dành vào việc hành hương, tương tự như thánh địa Mecca (La Mecque / Mecca) của người Hồi Giáo.
Năm 1997, UNESCO chính thức liệt kê Lâm Tỳ Ni trở thành di sản văn hoá thế giới,
 tiếp tục khai quật, trùng tu và tôn tạo Lâm Tỳ Ni.

Thật rõ ràng đây là một dự án "ăn cắp" của Cơ quan Trao đổi và Hợp tác giữa các Quốc gia Á châu trong vùng Thái Bình Dương (APECF) do Trung Quốc giật dây. Bề ngoài chương trình này được điều hành bởi một nhân vật rất bí mật tên là Xiao Wunan dưới sự chỉ đạo của các cấp cao trong Đảng Cộng Sản Trung Quốc, và được đẩy mạnh trong các cộng đồng người Hoa vùng Đông Nam Á. Sự giao hảo thân thiện với nhóm nổi loạn theo chủ nghĩa Mao của Nepal do Prachanda lãnh đạo cho thấy APCEF phải chịu một áp lực nào đó và đã biến thành một sức mạnh đang lên trong bối cảnh sôi sục của thánh địa Lâm-tì-ni. Mùa xuân năm 2011, lại thấy xuất hiện hai nhân vật mới đưa ra một dự án khác, thế nhưng dự án này lại cũng chỉ là một sự vay mượn cả đường lẫn bột với dự án của người Mã Lai trước đây, chỉ khác là được hậu thuẫn bởi một sức mạnh chính trị quan trọng hơn nhiều. Vài tháng sau đó thì một diễn viên thứ ba lại xuất hiện: đấy là kiến trúc sư Hàn Quốc Kwaak Young Hoon, là một người đã từng quan tâm đến Lâm-từ-ni từ lâu trước đó. Người kiến trúc sư này được sự ủng hộ của Korea International Cooperation Agency (KOICA / Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc) là một cơ quan trực thuộc chính quyền Seoul (Nam Hàn).
Tóm lại hiện nay đang có quá nhiều dự án liên quan đến Lâm-tì-ni nơi đản sinh của Đức Phật. Giữa cảnh hỗn độn đó, vào năm 2002 lại bắt đầu xảy ra các cuộc tiếp xúc giữa các nhóm trên đây với mục đích phối hợp các sáng kiến theo các đường hướng khác nhau nhằm tìm cách lôi kéo sự chú ý của Liên hiệp quốc. Chẳng phải là di tích Lâm-tì-ni đã được cơ quan UNESCO đưa vào danh sách di sản của nhân loại hay sao? Thế nhưng trong đầu óc mỗi người hình như đều phát sinh một thứ cảm tính nghi ngờ cho rằng chắc hẳn phải có những âm mưu nào đó tàng ẩn phía sau những sự lèo lái trên đây. Thế nhưng ai lèo lái ai? Và ai tìm cách hất chân ai? Chính Kwaak Young Hoon (kiến trúc sư Hàn Quốc trên đây) đã từng tiết lộ một giai thoại cho báo Le Monde với mục đích thăm dò mức độ nghi ngờ đang tàng ẩn kín đáo trong bối cảnh trên đây. Khi vừa mới gia nhập vào cuộc chạy đua này, vị kiến trúc sư Nam Hàn đã nhận được ngay một thông điệp của một vị Bộ trưởng trong chính quyền Katmandou (Nepal) - tất nhiên là dưới áp lực của nhóm nổi loạn theo chủ nghĩa Mao - phải trưng ra bằng cớ sẽ "không chống lại Trung Quốc". Kiến trúc sư Kwaak đành phải tuyên bố rằng mình "không chống Trung Quốc".

"Đức Phật là người Ấn"
Trước những sự việc xảy ra trên đây, Ấn Độ cũng bắt đầu cảm thấy nao núng trước sự khuấy động của tổ chức APCEF thiên Bắc Kinh. Vị chủ tịch Indian Council for Cultural Relations (ICCR / Hội đồng Quan hệ Văn hóa Ấn Độ) và đồng thời cũng kiêm nhiệm chức chủ tịch văn phòng Ngoại giao của Đảng Quốc đại (Parti du Congrès / Congress Parti / một đảng chính trị quan trọng của Ấn Độ) hiện đang cầm quyền, là Karan Singh đã lên tiếng như sau: "Ấn Độ sẽ không thể làm ngơ trước các công trình phát triển Lâm-tì-ni", tất nhiên điều này cho thấy rằng việc phát triển Lâm-tì-ni là một trong những công cụ nhằm củng cố "quyền lực mềm" của Ấn Độ. Thế nhưng vị chủ tịch Singh thì lại xác nhận rằng lý do chính thức là vì "Đức Phật là người Ấn Độ". Dầu sao thì sự kiện này còn là - hay đúng hơn nhất thiết là - một kế hoạch chiến lược.
Hình trái: Chân dung Đức Phật được cho là do đệ tử của Ngài là Phú-Lâu-Na (Puma) vẽ lúc Đức Phật được khoảng 41 tuổi. Theo Thiền sư Taisen Deshimaru (trong Vrai Zen) và Thiền sư Tinh Vân (Hsing Yun) trong Seeing The Buddha thì nghe nói nguyên bản chân dung hiện đang được cất giữ trong Viện Bảo tàng Anh quốc (British Museum) tại Luân Đôn. 
Hình phải: Một hình chụp chân dung Đức Phật (không ghi rõ xuất xứ) được trưng bày tại Bảo Tàng viện Parame Kyaung Taik tại Yangon, Miến Điện. Đây là một bảo tàng Phật giáo do Hòa thượng Hsu Htoo Shin quản thủ với rất nhiều xá lợi của Đức Phật.
Dưới con mắt của người Ấn, tham vọng của Trung Quốc về một vùng thánh địa Phật giáo nổi tiếng là Lâm-tì-ni, chỉ cách biên giới của Ấn vài cây số, là cả một sự thách thức lớn lao trên phương diện địa lý chính trị. Phải chăng một mối bức xúc cũng đang bùng lên trong chính quyền New Delhi hay chăng? Người Ấn rất e ngại là nếu dự án của Cơ quan Trao đổi và Hợp tác giữa các Quốc gia Á châu thuộc Thái Bình Dương APCEF (thân Trung Quốc) thành công thì tất nhiên Trung Quốc cũng sẽ gây được ảnh hưởng đối với các nhà sư trong vùng Hy-mã-lạp-sơn, nhằm chờ đợi sau này khi Đức Đạt-Lai Lạt-Ma viên tịch sẽ kiểm soát toàn bộ cộng đồng người Tây Tạng. Một viên chức cao cấp của chính phủ Ấn Độ trước đây là Jayadeva Ranade hiện đang được thu dụng trở lại trong việc phân tích chiến lược, đã tỏ ra rất lo ngại khi tuyên bố rằng: "Trung Quốc có thể sẽ mượn Lâm-tì-ni để thành lập một đạo quân thứ năm dàn ra trước cửa ngõ của nước Ấn".
Dự án của APECF cũng đã cho thấy một vài dấu hiệu đuối sức - thế nhưng chắc là sẽ không bị hủy bỏ - lý do là tình trạng thù địch đang nghiêm trọng. Các người Phật giáo Nepal hết sức bực tức vì tất cả hai bên đều không hề quan tâm đến họ, do đó họ cũng huy động các lực lượng trong tay mình để chống lại "âm mưu cướp đất" (spoliation foncière / land dispossession) đang hăm dọa tập thể người địa phương (tức sắc tộc Tharu) đang sinh sống chung quanh Lâm-tì-ni trong vùng đồng bằng Teraï. Dù chỉ mang tính cách địa phương, thế nhưng Ấn Độ không hề nhìn phong trào trên đây với con mắt bàng quang. Một thành viên Phật giáo thuộc phong trào này ở New Delhi thú nhận rằng: "Người Ấn giúp đỡ chúng tôi trên mặt tinh thần". Mọi sự hiện nay cũng đã trở nên sáng tỏ hơn, và một vị lãnh đạo Phật giáo Nepal cũng đã từng tuyên bố như sau: « Lâm-tì-ni đã trở thành tâm điểm của cả một « cuộc chơi lớn » giữa Ấn Độ và Trung Quốc ». Nơi đang gây ra chấn động và cơn sốt trên đây cũng là điểm gặp nhau giữa những người tu hành, những tay khuấy động thừa cơ nước đục thả câu, các chính trị gia, các nhà tranh đấu bản địa (người dân thiểu số thuộc các sắc tộc địa phương), và cả một bọn trục lợi cá mè một lứa.

Vài lời ghi chú của người dịch
Lâm-tì-ni nằm trong vùng đồng bằng Taraï phía nam xứ Nepal và là nơi đản sinh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Năm 249 trước Tây Lịch vua A-dục và nhà sư Ưu-bà-cúc-đa (Upagupta) vừa là thầy vừa là quốc sư của đế quốc của ông, cả hai cùng đến viếng Lâm-tì-ni, lúc đó là một ngôi làng trù phú. Vua A-dục cho xây dựng tại nơi này bốn ngôi chùa và một trụ đá cao sáu thước. Trên trụ đá có khắc một câu như sau: " Vị vua yêu quý của các thiên nhân là Piyadasi (một tên khác của vua A-dục) đã đích thân đến viếng nơi này vào năm thứ 20 sau ngày đăng quan. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã sinh ra tại nơi đây...". Dựa vào các chi tiết khác khắc trên trụ đá thì Đức Phật sinh vào năm 623 trước Tây Lịch.
Ngược về bốn thế kỷ trước đó, tức là trước khi vua A-dục và nhà sư Ưu-bà-cúc-đa đến đây thì ngôi làng Lâm-ti-ni là một khu vườn rộng lớn thuộc xứ Kiều-tát-la (Kosala) của nhà vua Tịnh Phạn (Suddodhana). Kinh sách bằng tiếng Pa-li cũng như bằng tiếng Phạn đều có nói đến khu vườn này và cho biết đây là một khu vườn mênh mông, thật thanh tú và có trồng nhiều cây sala. Sala tên khoa học là Shorea robusta trổ hoa rất đẹp.
Hôm ấy là giữa tháng năm và cũng vào giữa mùa xuân, nơi kinh đô Ka-tì-la-vệ (Kapilavastu) hoàng hậu Mai Da (Maya Devi) vợ vua Tịnh Phạn, dù đang có mang thế như vẫn quyết định về thăm cha mẹ sinh ra mình ở thị trấn Devahada. Nào có ai ngờ được là quyết định bất ngờ ấy của một bà hoàng hậu một xứ bé tí thu mình duới chân dãy Hy-mã-lạp-sơn đã đánh dấu một biến cố lớn trong lịch sử nhân loại. Đi được nửa đường, Hoàng hậu và các người tùy tùng dừng lại nghỉ trong khu vườn Lâm-tì-ni xinh đẹp. Trong khu vườn có xây một hồ nước trong để dân chúng trong vùng đến tắm. Hoàng hậu và một vài người hầu cũng xuống tắm. Sau đó hoàng hậu ngồi tựa vào một gốc cây sala nghỉ ngơi. Thế rồi hoàng hậu bỗng nhiên cảm thấy chuyển bụng. Bà bèn đứng lên, một tay nắm chặt một cành cây sala, một tay quàng vai một người hầu và sinh ra thái tử Tất-đạt-đa Cồ Đàm từ "bên cạnh sườn" (xem hình). Đứng để sinh đẻ là một tập tục lâu đời ở Á Châu và gần đây vẫn còn thấy ở một vài sắc tộc
Thái tử Tất-đạt-đa không sinh ra trong chốn cung điện mà sinh ra dưới một gốc cây trong khu vườn Lâm-tì-ni như bất cứ một kẻ vô gia cư nào khác. Ba mươi lăm năm sau vào giữa mùa xuân và cũng vào một đêm giữa tháng năm trăng tròn, dưới một gốc cây trong một khu rừng hoang vắng, thái tử Tất-đạt-đa đạt được Giác Ngộ và trở thành một vị Phật. Đức Phật thuyết giảng lần đầu cũng dưới một gốc cây nơi khu vườn Tiên Uyển (Sarnath). Tám mươi tuổi, kiệt lực, Đức Phật cũng lại nằm xuống đất giữa hai gốc cây trong một khu rừng,
Từ ngày lánh xa thế tục, Đức Phật chỉ có hai manh áo cà sa thay đổi trên người, một chiếc bình bát trên tay, và đi chân đất để khất thực. Ngài luôn dừng lại bên ngoài các khu đô thị hầu tránh xa các cảnh bon chen. Ngoài giáo lý mà Đức Phật đã để lại cho nhân loại, chính cuộc sống của Ngài cũng là một tấm gương cho chúng ta cùng soi. Một người tu tập chân chính có cảm thấy khiếp sợ - nếu không muốn nói là kinh hoàng - khi đọc những gì mà bài báo trên đây đưa ra hay không? Rồi đây, Lâm-tì-ni sẽ trở thành một nơi đô hội, một bãi chiến trường giữa những kẻ âm mưu, một nơi hội tụ của những kẻ thừa cơ nước đục... Ai sẽ thắng, và ai sẽ thua? Hàng nghìn khách sạn sẽ mọc lên, ngành du lịch tâm linh ở Lâm-tì-ni sẽ trở thành một kỹ nghệ béo bở. Thánh địa Lâm-tì-ni sẽ trở thành một "quyền lực mềm" của một quốc gia lãnh đạo nào hay một chủ nghĩa chính trị nào đây?
Một vài tư liệu cho biết rằng vua A-dục bãi bỏ thuế khóa cho ngôi làng Lâm-tì-ni, trong khi đó một vài tư liệu khác thì lại cho rằng nhà vua này chỉ giảm thuế, dầu sao đi nữa thì đấy cũng không hề là một biện pháp trục lợi. Thật vậy chủ đích chính yếu của bốn ngôi chùa và trụ đá của vua A-dục là để biến Lâm-tì-ni thành một trong những nơi hành hương mang lại những xúc cảm tinh khiết cho những người tu hành chân chính hầu giúp họ đến gần với Đức Phật hơn. Vào thế kỷ thứ IV có một nhà sư Trung Quốc khác thường là Pháp Hiền, quyết tâm sang Ấn Độ để tu học. Ông khởi hành bằng đường bộ và rời Trường An năm 399, đi xuyên qua sa mạc Gobi, các vùng Tân Cương, Khotan, và sau đó là Afghanistan và Pakistan ngày nay... Ông đi ngang làng mạc và đô thị, nơi nào cũng theo Phật Giáo, dân chúng tổ chức các lễ hội thật vui và long trọng.
Pháp Hiền đến lãnh thổ Ấn năm 402. Ông lưu lại trong vùng thung lũng sông Hằng để tu học và viếng các nơi thắng tích Phật Giáo. Sau đó ông quay lại các vùng Peshawar, Kaboul thuộc Afghanistan ngày nay để viếng thăm các vùng Phật Giáo này. Trước khi quay về Trung Quốc ông xuống miền nam nước Ấn và đến Tích Lan, nơi đây ông khám phá ra nhiều kinh sách chưa hề có ai ở Trung Quốc biết đến. Năm 413 ông rời Tích Lan bằng đường biển để trở về quê hương. Trên đường ông suýt chết vì ghe bị đắm. Ông ghé được vào đảo Java của Indonesia, và tại nơi này ông gặp nhiều người đồng hương sang đây tu học. Lúc đó đảo Java chưa có ngôi đền Borobudur, vì ngôi đền nổi tiếng này chỉ bắt đầu được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ VIII. Sau đó ông lại tìm ghe khác để trở về Trung Quốc. Trong chuyến trở về quê hương này có thêm bốn nhà sư khác tháp tùng, thế nhưng chỉ có mình ông là sống sót và về đến được Trường An vào năm 414. Ông để ra hai năm để viết quyển hồi ký mang tựa là "Phật Quốc Ký" thuật lại cuộc hành trình mười lăm năm của mình ở Ấn Độ và Tích Lan. Vài năm sau đó thì ông qua đời.
Hành hương và tu học là ý chí và lòng nhiệt tâm của một con người và đôi khi cũng là lý tưởng của cả một đời người. Sự thúc đẩy đó không cần đến sự hậu thuẫn của các diễn đàn, liên đoàn, ngân hàng, hay sự hậu thuẫn chính trị của các đảng phái hoặc một quốc gia nào cả, cũng không cần đến các tổ chức du lịch đan vào nhau như một mạng lưới ở khắp các quốc gia Phật giáo. Chắc hẳn rồi đây chúng ta sẽ có thể đến viếng Lâm-tì-ni thật dễ dàng theo các tour du lịch rẻ tiền. Trong số những người hành hương tất sẽ có những người thật thà, dành dụm chắt chiu để cúng dường, hầu góp phần mang lại lợi nhuận cho những số vốn đầu tư hàng tỉ đô-la. Thế nhưng cũng có những người giàu có cúng dường để trấn an lương tâm mình. Dầu sao thì chúng ta cũng rất có thể sẽ đến Lâm-tì-ni bằng các tour du lịch với chương trình một hoặc hai tuần có người hướng dẫn chuyên nghiệp có thể nói được nhiều ngôn ngữ khác nhau, nhằm giúp chúng ta cầu xin được thêm một ít phước lành. Có mấy ai nhớ được là Đức Phật sinh ra dưới một gốc cây ở một nơi cách biệt với cung điện của vua cha, và sau này chỉ có một bình bát trên tay, thì làm thế nào ban phước lành và sự giàu có cho chúng ta được. Âu châu văn minh ngày nay cũng chẳng khá hơn, chẳng hạn như ở một nước rất sùng đạo, trong các vùng thôn quê, làng này đồn đại và rỉ tai là làng kia có xảy ra phép lạ nhờ đi hành hương và uống nước thánh. Bọn trục lợi quả thật khéo léo và tài tình, xe của các tour du lịch đầy ắp những người nông dân chất phác và những người lớn tuổi thật thà. Các nước có thánh địa tiếp rước hàng triệu du khách mỗi năm, mạng lưới du lịch tâm linh thật nhộn nhịp khắp Âu châu và thế giới. Hình ảnh những người hành hương thành kính thường xuyên được đưa lên thật khéo léo trên truyền hình. Đấy vừa là "quyền lực mềm" vừa là một nguồn tài chính khổng lồ cho một số quốc gia Ấu châu. Cái mô hình đó đang được xuất cảng sang Á châu.
Vào thế kỷ thứ VII, giữa thời kỳ vàng son của nền văn minh Trung Quốc và sự phát triển cao độ của Phật giáo ở xứ sở này, người ta lại thấy có một nhà sư khác thường khác là Huyền Trang. Ông rời Trường An vào năm 629 sang Ấn hành hương và tu học. Ông đi ngang các vùng Tây Vực theo Phật giáo mà nhà sư Pháp Hiền đã đi ngang trước đó hơn hai thế kỷ. Vào thời kỳ mà Huyền Trang đi ngang các vùng này thì nhiều nơi đã hoặc đang trở thành Hồi giáo. Bởi vì tôn giáo này được hình thành ở nước Á Rập Saudi vào thế kỷ thứ VII đang phát triển rất nhanh trong toàn vùng Trung và Cận Đông. Nói chung thì những gì nhà sư Huyền Trang trông thấy đấy là những hiện tượng mà Phật giáo gọi là vô thường.
Hình vẽ Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang (Xuan Zang)
 trên vách đá Động Đôn Hoàng (thế kỷ thứ 9)

Huyền Trang quay về Trung Quốc mười sáu năm sau tức là vào năm 645. Ngoài số kinh sách mang về còn có một quyển nhật ký của ông mang tựa là " Đại Đường Tây Vực Ký" ghi chép những gì do chính ông tai nghe mắt thấy nơi xứ sở của Đức Phật và các nơi thắng tích trong thung lũng sông Hằng. Hai quyển sách "Phật Quốc Ký" và " Đại Đường Tây Vực Ký" trên đây là hai tài liệu vô giá về Phật giáo trên đất Ấn và cả lịch sử của quốc gia này. Quyển "Phật Quốc Ký" của Pháp Hiền được dịch sang tiếng Pháp và tiếng Anh rất sớm từ hậu bán thế kỷ XIX.
Một nhà khảo cổ người Đức là Alois-Anton Führer dựa vào quyển "Phật Quốc Ký" của Pháp Hiền đã tìm được vị trí của Lâm-tì-ni vào năm 1896. Một năm sau người ta tìm thấy trụ đá và sau đó là các lớp nền của bốn ngôi chùa do vua A-dục xây dựng. Khởi đầu Lâm-tì-ni là một khu vườn thanh tú dưới triều đại của vua Tịnh Phạn, sau đó đã trở thành một ngôi làng trù phú và một thắng tích thiêng liêng dưới triều đại của vua A-dục, và sau cùng là một vùng hoang sơ và nghèo nàn khi nhà khảo cổ Alois-Anton Führer đến đây.
Vào thế kỷ XIV nhà vua Ripu Malla của xứ Nepal hành hương nơi này và đã cho ghi khắc thêm trên trụ đá của vua A-dục một câu đánh dấu cuộc viếng thăm của mình, và đấy cũng là dấu tích lịch sử cuối cùng của Lâm-tì-ni. Lý do của sự yên lặng hay quên lãng đó của Lâm-tì-ni cũng không phải là quá khó hiểu. Các đạo quân Hồi giáo tràn vào đất Ấn vào thế kỷ XII đã sử dụng mọi phương tiện để tận diệt Phật giáo và cả Ấn giáo. Thế nhưng đối với Ấn giáo thì hình như các đạo quân Hồi giáo có phần nương tay hơn. Có thể là vì Ấn giáo cũng là một tín ngưỡng tin vào Thánh Kinh và một Đấng Toàn Năng gần tương tự như Hồi giáo? Một lý do khác là Ấn giáo là một tín ngưỡng mang tính cách đại chúng, sự sinh hoạt ăn sâu vào gia đình và làng mạc, trong khi đó thì Phật giáo có những tổ chức tập thể lộ liễu hơn, chẳng hạn như tăng đoàn của đại học Na-lan-đà gồm hơn mười ngàn nhà sư. Sau thế kỷ XIII có thể nói là Phật giáo đã hoàn toàn biến mất ở Ấn Độ, trong khi đó thì Ấn giáo hồi phục nhanh hơn. Tóm lại Lâm-tì-ni chìm sâu trong sự quên lãng của lịch sử kể từ thế kỷ XV cho đến khi nhà khảo cổ người Đức tìm đến nơi này vào cuối thế kỷ XIX.
Có một nhân vật trong lịch sử Phật giáo ít người chú ý đến, thế nhưng lại là một trong những nhân vật có công lớn nhất và không thể nào chối cãi được, ấy là vị quốc sư Ưu-bà-cúc-đa dưới triều đại của vua A-dục. Ông không nổi danh như Long Thụ, Vô Trước, Bồ-đề Đạt-ma, Huệ Năng hay Đạo Nguyên... Thật vậy ông không phải là một luận sư hay triết gia và cũng không hề sáng lập ra một học phái nào cả, thế nhưng chính ông là người đã giúp vua A-dục đến gần với Phật giáo, đã khuyên vua A-dục xây cất hàng chục ngàn bảo tháp để phân tán xá lợi ra khắp mọi nơi trong đế quốc của mình giúp người dân đến gần với Đạo Pháp và Đức Phật hơn. Thật vậy các phương tiện di chuyển của hơn hai ngàn năm trước có phải như ngày nay đâu. Ưu-bà-cúc-đa cũng là người chủ xướng việc kết tập Đạo Pháp lần thứ ba và cũng đã chủ tọa đại hội này để thanh lọc những gì thêm thắt và dị đoan trong một giai đoạn phát triển hỗn tạp và quá nhanh của Phật giáo, nhờ vào sự ưu đãi của hoàng triều A-dục. Chinh là nhờ vào lần kết tập này, Luật Tạng và Kinh Tạng được hình thành thật tinh khiết và được truyền bá đi khắp nơi. Nếu Ưu-bà-cúc-đa đã đứng bên cạnh vua A-dục khi nhà vua này ra lệnh xây dựng bốn ngôi chùa và trụ đá ở Lâm-tì-ni, thì ông cũng đã đứng sau lưng vị vua này trong các chương trình hoằng pháp xa hơn thung lũng sông Hằng và bên ngoài biên giới của đế quốc Maurya. Sự âm thầm và khiêm tốn đó của một nhà sư chân chính thật hết sức tương phản với các âm mưu và những sự khuấy động của các nhân vật như Pushpa Kamal Dahal, Kenzo Tange, Xiao Wunan, Kwaak Young Hoon, Karan Singh, Jayadeva Ranade... và cả đám trục lợi cá mè một lứa, do ký giả Frédéric Robin nêu lên trong bài báo trên. "Vinh dự" duy nhất mà Ưu-bà-cúc-đa có lẽ cũng không mong muốn và cũng không hề chờ đợi, là sau này người ta xếp ông với ít nhiều gượng ép, đứng vào hàng thứ năm trong danh sách các vị tổ của Thiền Tông.
Cách nay ít lâu người dịch có viết một bài ngắn về "Câu chuyện một con đường", thuật lại cuộc hành trình của một người tu tập. Trên con đường đó có những người đi ngược chiều mà người tu tập phải tránh ra để không đâm sầm vào họ. Hai bên vệ đường diễn ra những cảnh cướp giật, đâm chém, bom nổ, nhà cháy, cầu sập, có những sòng bài, nhà hát tấp nập và cả những hố sâu, vực thẳm... Chúng ta không nên dừng lại để tham gia vào những thứ ấy, cũng không nên kéo nhau ra hai bên vệ đường để tả xung hữu đột. Nói thế không có nghĩa Phật giáo là một tín ngưỡng chủ trương phải bịt tai, bịt mắt và bịt miệng tương tự như hình ảnh của ba con khỉ. Bước vào con đường tức đã là một một sự dấn thân rồi, thế nhưng sự dấn thân ấy không hề bắt buộc chúng ta phải mù quáng, trái lại chúng ta phải nhìn thấy những gì đang xảy ra ở hai bên vệ đường hầu giúp chúng ta ý thức được là mình phải nhanh chân và bước những bước vững chắc hơn. Và đấy cũng chính là mục đích của bài chuyển ngữ bé nhỏ này.

Bures-Sur-Yvette, 26.09.13
Hoang Phong chuyển ngữ