Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ sơ mật 1963. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ sơ mật 1963. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 16 tháng 5, 2017


HAI NHÀ XUẤT BẢN PHẬT HỌC
VỚI NHIỀU SÁCH GIÁ TRỊ VỀ TU HỌC

Việt Báo (Westminster, CA)

SAN DIEGO/ WESTMINSTER, Calif. (VB) -- Trong khi kinh doanh của các tiệm sách và ngành xuất bản suy yếu dần trong thời đại Internet, hai nhà xuất bản Phật học lại đang vững vàng tạo uy tín với các tác phẩm giá trị, được tin cậy trên nhiều phương diện --
Các tác phẩm mới ấn hành của hai nhà xuất bản Liên Phật HộiAnanda Viet Foundation là những dòng chữ viết lên từ các suy nghĩ cẩn trọng về cuộc đời, từ các nghiên cứu sâu rộng về Phật học, và cả biên khảo chính xác về lịch sử.

Như tuyển tập “Từ Mảnh Đất Tâm” dày 342 trang của Huỳnh Kim Quang, tác giả  họ Huỳnh cũng là một giảng sư rất uyên bác nhưng cũng rất mực khiêm tốn, đã tóm lược về tuyển tập này do Liên Phật Hội ấn hành, trích:
Tập sách này gồm các bài viết về Phật Giáo từ nhiều năm qua, đã được đăng rải rác trên các báo và trang mạng toàn cầu.
Những suy tư chứa đựng trong các bài viết khởi sinh từ mảnh đất tâm, giống như cỏ cây hoa lá mọc lên từ lòng đất.
Mọi thứ trên đời này đều từ tâm sinh và rồi cũng từ tâm diệt. Không có pháp nào chẳng phải là tâm. Con người nhận biết thế giới và mọi sự mọi vật thông qua sự tiếp xúc của sáu căn [mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý], sáu trần [hình sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và pháp], nhưng không thể thiếu sáu thức [nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, và ý thức]. Không có sáu thức thì cho dù sáu căn có đối diện với sáu trần cũng chỉ như là cái xác chết nằm yên chẳng hay biết gì. Tất nhiên, sáu thức mới chỉ là bề ngoài chứ chưa phải tàng thức (thuộc bát thức) sâu nhiệm bên trong, nơi căn thân của mọi pháp. Nơi đó, cái mà chúng ta gọi là pháp chỉ là ảnh hiện hay tướng sở tri của thức A-lại-da, nghĩa là cũng chỉ là thức biến.
Những gì khởi sinh Từ Mảnh Đất Tâm chỉ là suy tư, nhận thức và trải nghiệm của một người con Phật có được phước duyên đời này gặp Phật Pháp và thọ nhận ân đức giáo dưỡng của Cha Mẹ, Thầy, Tổ, thiện hữu tri thức và pháp giới chúng sinh.
Nếu có chút lợi lạc nào Từ Mảnh Đất Tâm này, xin hồi hướng cho tất cả mười phương chúng sinh đều trọn thành Phật Đạo.”(ngưng trích)
Nhà văn Huỳnh Kim Quang có pháp danh là Tâm Huy. Bút hiệu khác: Ỷ Thu Am Sinh năm Đinh Dậu, 1957, thôn Vĩnh Phú, xã Hòa Thắng, quận Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, Việt Nam. Quy y với Đại Lão Hòa Thượng Thích Vĩnh Lưu, Phương Trượng Tổ đình Sắc Tứ Kim Cang, Tuy Hòa, Phú Yên. Tham dự lớp Cao Cấp Chuyên Khoa Phật Học tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam, Sài Gòn, 1980-1984. Vượt biên qua Mã Lai Á năm 1986. Định cư tại Hoa Kỳ cuối năm 1987. Hiện làm báo tại miền Nam California, Hoa Kỳ. Cộng tác với các báo Chân Nguyên, Phật Giáo Hải Ngoại, Phương Trời Cao Rộng, Việt Báo, Chánh Pháp. Có bài đăng trên các trang mạng toàn cầu, như Pháp Vân, Thư Viện Hoa Sen, Quảng Đức, Hoa Vô Ưu, Rộng Mở Tâm Hồn, Việt Báo, v.v... Các tác phẩm và dịch phẩm đã xuất bản: - Đức Đạo Kinh của Lão Tử, dịch, California, Hoa Kỳ, 1994 - Những Mộng Đàm Về Phật Giáo Thiền Tông, dịch, California, Hoa Kỳ, 1996 - Văn Học Phật Giáo Việt Nam Hải Ngoại Sưu Khảo, trong Ban Chủ Trương, California, Hoa Kỳ, 2010.

Trong khi đó, tuyển tập “Như Thị Ngã Văn” dày 190 trang, do Ananda Viet Foundation ấn hành, của nhà văn Trí Tánh Đỗ Hữu Tài, khi trình bày về Phật Giáo Việt Nam đã mang nhiều suy tư mang tính lịch sử và xã hội hơn.
Tác giả trong Lời Giới thiệu “Như thị Ngã Văn” đã nói nơi đâu sách, trích:
“... khi mượn của ngài Anan cụm từ đó để đặt tên cho cuốn sách nhỏ nầy, người viết xin thú nhận rằng phần “chân thực” may ra chỉ nằm trong tấm lòng người viết, còn dù đã cố gắng thì tính xác thực của sự kiện và tính đúng đắn của lý luận, khi đã “lập văn tự”, chắc chắn chỉ là tương đối. Rất tương đối.

2. Tại nước ta, Phật giáo đồng hành cùng dân tộc. Đó là chân lý lịch sử bất di bất dịch. Đó là truyền thống văn hóa không thể đổi thay. Phật giáo và Dân tộc đã quấn quít chuyền trao máu thịt và trí tuệ cho nhau, chia sẻ vinh quang và tủi nhục với nhau.  Nhưng trên cuộc trường chinh hơn hai ngàn năm đó, không phải lúc nào đạo Phật cũng sóng đôi với dân tộc mà có nhiều lúc lủi thủi bước gập ghềnh đi theo từ xa. Đó là những lúc Tăng đoàn mất thanh tịnh và không hòa hợp, đó là những lúc Phật tử lìa chánh pháp và làm bạn với ma quân. Nhưng dù ngay cả có lúc như vậy, thì suốt những chặng đường lịch sử, Phật giáo và Dân tộc lúc nào cũng như bóng và hình. Sáng lên chiều xuống chập chùng, dù có lúc bóng có dang ra xa nhưng lúc nào cũng quấn quít dưới chân hình. Những suy tư của người viết là nỗ lực nhỏ nhoi đóng góp cho hành trạng bóng-hình đó.

3. Là một Phật tử Việt Nam sống tại Mỹ, người viết chịu rất nhiều giới hạn khi chọn tình hình Phật giáo Việt Nam để chiêm nghiệm và trang trải những suy nghĩ của mình. Giới hạn về không thời gian, về những thông tin khả tín về hiện thực Phật giáo Việt Nam tại quê nhà, và nhất là giới hạn do sư cách biệt về tập quán tư duy được hình thành trong quá trình người viết tương tác với nền  văn hóa bản địa ở ngoài quê hương. Nhưng có một điều chắc chắn là không có giới hạn về tình cảm gắn bó với quê hương và đạo pháp. Ngược lại là khác. Cho nên cũng chính vì là một Phật tử Việt Nam xa quê hương gần trọn nửa trái cầu, nên mới thao thức nhiều hơn về tương lai của Phật giáo Việt Nam, vốn là cái nôi đã cùng với văn hóa dân tộc đong đưa nuôi dưỡng người viết từ thưở ấu thơ theo anh đến chùa....”(ngưng trích)

Trong khi đó, 2 ấn phẩm mới của Liên Phật Hội thuần túy là lịch sử khách quan:
- “Hồ Sơ Mật 1963 - Từ Các Nguồn Tài Liệu Của Chính Phủ Mỹ”, thực hiện bởi: Tâm Diệu, Trí Tánh, Nguyên Giác và Nguyễn Minh Tiến.
Tập sách này hầu hết gồm nhiều bản văn được chuyển dịch và trình bày kèm theo nguyên tác Anh ngữ, là các tài liệu trước đây vốn thuộc loại hồ sơ mật hoặc tối mật, nghĩa là chỉ dành riêng cho những người có trách nhiệm mà hoàn toàn không được phổ biến đến công chúng. Phần  lớn các tài liệu đó là của chính phủ Mỹ, như các Công điện, Bản Ghi nhớ, Điện tín, Phúc trình... Tài liệu có nguồn từ Bộ Ngoại Giao Mỹ được lấy từ FRUS; ngoài ra còn có các tài liệu từ Tòa Bạch Ốc (Hội đồng An Ninh Quốc Gia NSA), Bộ Quốc Phòng (Pentagon Papers), CIA (tại Sài Gòn và tại Langley), và từ Thượng Viện (Select Committee to Study Governmental Operations).

- “Phúc Trình A/5630 Của Phái Đoàn Điều Tra LHQ Về  Đàn Áp Phật Giáo Tại Miền Nam VN Vào Năm 1963”, tác giả là Nguyễn Minh Tiến.
Phúc trình mang số hiệu A/5630 là Báo cáo của Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc tại Nam Việt Nam (Report of the United Nations Fact-Finding Mission to South Viet-Nam) được soạn thảo bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha, là kết quả của một cuộc điều tra khách quan do Liên Hiệp Quốc tiến hành thông qua việc chỉ định các đại diện từ 7 quốc gia thành viên cùng một số nhân viên chuyên môn để hỗ trợ hoạt động điều tra. Phái đoàn điều tra này đã đến Nam Việt Nam ngày 24-10-1963 và đến sáng ngày 1-11 thì họ dự kiến sẽ hoàn tất công việc vào cuối ngày 3-11.

Tuy nhiên, nếu bạn chỉ ưa thích văn học Phật giáo lãng mạn?
Hai tuyển tập truyện ngắn do Ananda Viet Foundation ấn hành:
- Cậu Bé Và Hoa Mai;
- Thiếu Nữ Trong Ngôi Nhà Bệnh
của nhà văn Phan Tấn Hải viết với bút pháp như thực, như mộng... nơi đó, những mối tình hiện ra như mơ, và những môái tình rất sương khói, đôi khi lồng trong hoàn cảnh sân chùa thời đất nước gian nan... và khi các ước vọng hiến đời cho sự nghiệp giác ngộ hốt nhiên bị gián đoạn vì một tiếng cười giai nhân...

Ananda Việt Foundation cũng vừa xuất bản tác phẩm Ăn Chay Qua Lăng Kính Khoa Học, dày 140 trang, trong đó tác giả Tâm Diệu sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, mạch lạc, với các chứng minh khoa học từ các cuộc nghiên cứu y tế Hoa Kỳ đã cho thấy rằng ăn chay thích hợp sẽ ngừa được nhiều bệnh, và cũng chữa trị được một số bệnh thường gặp ở Hoa Kỳ.
Tác phẩm gồm 16 bài viết chiếu rọi nhiều phương diện về chủ đề ăn chay, cho thấy ăn chay là nền tảng sức khỏe, vì ăn thịt sẽ gây ra rất nhiều bệnh.
Nhưng không chỉ tự chữa các bệnh như mập phì, ngừa tim mạch, và ung thư, ăn chay còn giúp làm sạch môi trường địa cầu... và đặc biệt, với Phật tử, ăn chay còn vì lòng từ bi.

Gần nhất là tuyển tập “Thiền Tập Trong Đời Thường” dày 288 trang của Nguyên Giác, cũng do Ananda Viet Foundation ấn hành.
Thiền Tập Trong Đời Thường là cuốn sách cho tất cả những người muốn tập Thiền trong đời thường, giaỉ thích và trích dẫn nhiều cuộc nghiên cứu về lợi ích thiền tập. Sách ghi lại nhiều phương pháp thiền tập để giúp độc giả giảm căng thăng, giúp trẻ em tập trung trong việc học, và giúp phụ nữ giữ gìn nhan sắc đẹp nhất trong mức có thể.
Thêm nữa, sách này cho thấy ba mẹ có thể dạy cách tăng khả năng học đôái với con em bệnh tự kỷ hay chậm trí...

Liên Phật Hội Ananda Viet Foundation là 2 tổ chức bất vụ lợi, và do vậy tất cả các ấn phẩm là một phần trong các hoạt động hộ trì chánh pháp của 2 hội này.
Độc giả có thể tìm mua bằng cách vào Amazon, gõ nhan đề sách không cần dấu:
- Từ Mảnh Đất Tâm (vào amazon.com, gõ chữ “tu manh dat tam”).
- Như Thị Ngã Văn (gõ: nhu thi nga van)
- Hồ sơ mật 1963 (gõ: ho so mat 1963)
- Phúc Trình A/5630 (gõ: phuc trinh a)
- Ăn chay qua lăng kính khoa học (gõ: an chay qua lang kinh khoa hoc)
- Cậu bé và hoa mai (gõ: cau be va hoa mai)
- Thiếu nữ trong ngôi nhà bệnh (gõ: thieu nu trong ngoi nha benh)
- Thiền tập trong đời thường (gõ: thien tap trong doi thuong).

Độc giả ở Việt Nam không mua trực tiếp được, nhưng có thể vào:
xem hướng dẫn nơi cuối bài về cách mua qua văn phòng dịch vụ ở các thành phố lớn tại VN.



Thứ Hai, 17 tháng 4, 2017


GIỚI THIỆU HAI CUỐN SÁCH / TÀI LIỆU MỚI:

HỒ SƠ MẬT 1963 - TỪ CÁC NGUỒN TÀI LIỆU CỦA CHÍNH PHỦ MỸ.
● Thực hiện: Tâm Diệu, Trí Tánh, Nguyên Giác và Nguyễn Minh Tiến
● Nhà Xuất bản: Liên Phật Hội (United Buddhist Publisher), phát hành 13-4-2017.
● Giá bán: $20.39 – Bìa mềm, bán trên Amazon (484 trang, 1.4 pound/0,65 Kg)
Link của Amazon để mua sách:
Tập sách này gồm nhiều bản văn được chuyển dịch và trình bày kèm theo nguyên tác Anh ngữ, là các tài liệu trước đây vốn thuộc loại hồ sơ mật hoặc tối mật, nghĩa là chỉ dành riêng cho những người có trách nhiệm mà hoàn toàn không được phổ biến đến công chúng. Phần  lớn các tài liệu đó là của chính phủ Mỹ, như các Công điện, Bản Ghi nhớ, Điện tín, Phúc trình... Tài liệu có nguồn từ Bộ Ngoại Giao Mỹ được lấy từ FRUS; ngoài ra còn có các tài liệu từ Tòa Bạch Ốc (Hội đồng An Ninh Quốc Gia NSA), Bộ Quốc Phòng (Pentagon Papers), CIA (tại Sài Gòn và tại Langley), và từ Thượng Viện (Select Committee to Study Governmental Operations).
Một vài tài liệu không trực tiếp lấy nguồn từ chính phủ Mỹ là: Một bài viết của tác giả Nguyễn Minh Tiến phân tích Phúc trình A/5630 của Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc; một số đoạn trong Death of A Generation của Howard Jones vốn là một tác phẩm cũng sử dụng rất nhiều nguồn tài liệu của chính phủ Mỹ, và một bài Dẫn nhập của tác giả Tâm Diệu, tổng hợp về Phật giáo và cuộc Chính biến 1-11-1963 thông qua các tài liệu của chính phủ Mỹ.
 
PHÚC TRÌNH A/5630 CỦA PHÁI ĐOÀN ĐIỀU TRA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM VÀO NĂM 1963.
● Tác giả: Nguyễn Minh Tiến
● Nhà Xuất bản: Liên Phật Hội (United Buddhist Publisher), phát hành 11-4-2017.
● Giá bán: $8.34  – Bìa mềm, bán trên Amazon (146 trang,  0.5 pound / 0,23 Kg)
Link của Amazon để mua sách:

Phúc trình mang số hiệu A/5630 là Báo cáo của Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc tại Nam Việt Nam (Report of the United Nations Fact-Finding Mission to South Viet-Nam) được soạn thảo bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha, là kết quả của một cuộc điều tra khách quan do Liên Hiệp Quốc tiến hành thông qua việc chỉ định các đại diện từ 7 quốc gia thành viên cùng một số nhân viên chuyên môn để hỗ trợ hoạt động điều tra. Phái đoàn điều tra này đã đến Nam Việt Nam ngày 24-10-1963 và đến sáng ngày 1-11 thì họ dự kiến sẽ hoàn tất công việc vào cuối ngày 3-11.
Tuy nhiên, cuộc chính biến diễn ra trong ngày 1-11 đã làm thay đổi phần cuối kế hoạch, cũng như có thể là nguyên nhân khiến cho Phái đoàn không nhận được những tài liệu quan trọng mà Chính phủ ông Diệm đã hứa sẽ cung cấp. Ngoài ra, để chuẩn bị các phương thức và chương trình hành động sao cho khách quan và hiệu quả, trước đó phái đoàn cũng đã có 4 phiên họp trong thời gian từ ngày 14-10 đến 21-10-1963 tại New York.

Bản Phúc trình A/5630, chỉ riêng phần Anh ngữ, dài 93 trang khổ lớn, gồm 4 Chương với 191 phân đoạn (paragraphs) và 16 Phụ lục (Annexes), được phái đoàn trình lên Kỳ họp thường niên lần thứ 18 của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, là tài liệu quan trọng để Đại Hội Đồng thảo luận và xem xét trong phạm vi Đề mục 77 (Item 77) theo Nghị trình Kỳ họp (Agenda) đã được Đại Hội Đồng thông qua trước đó, với tiêu đề chính là “Vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam” (The violation of human rights in South Viet-Nam). 
Trong thực tế, Đại Hội Đồng đã không tiến hành việc thảo luận Đề mục 77 như trong Nghị trình đã định. Lý do đơn giản là vì đối tượng bị cáo buộc vi phạm nhân quyền, tức Chính phủ Ngô Đình Diệm, đã sụp đổ sau cuộc đảo chính của Quân đội ngày 1-11-1963. Mặc dù vậy, Phúc trình này đã được chính thức công bố và có thể xem là một văn kiện lịch sử quan trọng, bởi đây là sự ghi nhận khách quan và khoa học của một tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh về những gì Chính phủ Ngô Đình Diệm đã làm tại miền Nam Việt Nam, trong phạm vi liên quan đến cuộc vận động đòi bình đẳng tôn giáo năm 1963 của Phật giáo Việt Nam. Một số luận điệu bóp méo và nhào nặn lịch sử với ý đồ xuyên tạc sẽ bị vạch trần thông qua chính những ghi nhận trung thực từ Phúc trình này.

Bạn đọc ở Việt Nam có thể mua sách trên Amazon thông qua một trong 4 Công ty sau đây. Xin độc giả trực tiếp liên lạc và tìm hiểu quy trình cũng như giá cả trước khi tự mình quyết định có xử dụng dịch vụ nầy hay không. Thông tin nầy chỉ có tính cách tham chiếu mà thôi:

Nguyễn Kha
4/2017 

 


Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

HỒ SƠ MẬT 1963
Từ Các Nguồn Tài Liệu Của Chính Phủ Mỹ

Nhóm Thiện Pháp thực hiện
Nhà Xuất bản Thien Tri Thuc Publications, USA 2013

 

LỜI GIỚI THIỆU

Tập sách Hồ Sơ Mật 1963 - Từ các nguồn Tài liệu của Chính phủ Mỹ nầy ra đời có hai mục đích:
Thứ nhất là để giới thiệu với quảng đại độc giả một nguồn tài liệu tham cứu của chính phủ Mỹ, ký tự là FRUS, vốn khá quen thuộc với giới nghiên cứu nhưng lại vẫn còn xa lạ với độc giả Việt Nam bình thường khi muốn tìm hiểu về những biến động lịch sử trong thập niên 1960’ của nước ta.
Thứ nhì là thông qua nguồn tài liệu đó để trình bày một số phát hiện mới, vốn không được đa số giới nghiên cứu người Việt hải ngoại khai thác và phổ biến, thậm chí còn bị một số “nhà bình luận” xuyên tạc và ngộ nhận, về những gì đã thực sự xảy ra tại miền Nam Việt Nam trong năm 1963.
Do đó, từ “Mật” trong tiêu đề tập sách là chỉ để cho quảng đại độc giả chưa biết đến, hoặc có biết đến nhưng không chịu sử dụng, nguồn tài liệu nầy mà thôi. Từ nay, hy vọng rằng mọi độc giả đều có thể tiếp cận trực tiếp nguồn FRUS để bổ túc cho những nhận định của mình được trung thực và chính xác hơn.

* * *

Tập sách nầy gồm 26 tài liệu, trong đó hơn 80%, 21 tài liệu, là của chính phủ Mỹ. Những văn bản nầy của chính phủ (Công điện, Bản Ghi nhớ, Điện tín, Phúc trình, …) gồm 12 tài liệu, hơn 57%, đã là của Bộ Ngoai Giao Mỹ dưới ký tự viết tắt FRUS. 9 tài liệu còn lại là của Tòa Bạch Ốc (Cục An Ninh Quốc Gia NSA), Bộ Quốc Phòng (Pentagon Papers), CIA (tại Sài Gòn và tại Langley), và từ Thượng Viện (Select Committee to Study Governmental Operations).
Còn 5 tài liệu không có nguồn gốc từ chính phủ Mỹ là Phúc trình A/5630 của Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc; một đoạn trong Death of A Generation của Howard Jones vốn là một tác phẩm cũng sử dụng rất nhiều nguồn tài liệu của chính phủ Mỹ. Ngoài ra, còn có một trích đoạn trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng của Trung Tướng Trần Văn Đôn, kể lại đêm tổng tấn công chùa 20-8-1963 mà ông vừa là tác nhân vừa là chứng nhân khiến một tài liệu của CIA đã phải đặc biệt nhắc đến; và một bài viết kết luận tổng hợp của tác giả Tâm Diệu về Phật giáo và cuộc Chính biến 1-11-1963 thông qua các tài liệu của chính phủ Mỹ.

Xin được có vài lời về lý do tại sao chúng tôi lại sử dụng đến hơn 57% tài liệu FRUS của Bộ Ngoại Giao Mỹ cho tập sách nầy.
FRUS, ký tự viết tắt của cụm từ Foreign Relations of the United States, là một tập hợp các tài liệu lịch sử chính thức liên hệ đến các quyết định quan trọng trong chính sách ngoại giao của Mỹ đã đƣợc giải mật và biên tập để công bố (The Foreign Relations of the United States series is the official documentary historical record of major U.S. foreign policy decisions that have been declassified and edited for publication). Những tài liệu nầy do Văn phòng Sử gia (Office of the Historian) thuộc Bộ Ngoại giao soạn thảo và chịu trách nhiệm xuất bản, và do Sở Ấn loát Chính phủ (Government Printing Office) in ấn phát hành. Tập hợp tài liệu đồ sộ nầy bắt đầu từ các biến cố ngoại giao từ thời chính quyền của Tổng thống Abraham Lincoln (1861) cho đến ngày nay.
Riêng tài liệu liên hệ đến Việt Nam duới nhiệm kỳ Tổng thống Kennedy thì gồm 4 Tập, phủ dài thời gian 3 năm từ 1961 đến 1963. Hai tập cuối cùng, Tập III và Tập IV, được phát hành vào năm 1991 và được phổ biến Online trong không gian Internet vào đầu thiên niên 2000.

Độc giả người Việt ở hải ngoại, ngay cả ở Mỹ, cũng ít nghe nói đến kho tài liệu đồ sộ và quý giá đã được giải mật khá đầy đủ và dễ dàng truy cập Online nầy. Chỉ một số nhà nghiên cứu nghiêm túc là biết từ rất sớm về FRUS và đã khai thác rất hiệu quả để tái khẳng định và/hoặc hiệu đính lại một số biến cố / luận điểm mà trong quá khứ đã không hoặc chưa đƣợc biểu đạt rõ ràng.
Xin đan cử trường hợp về hai bài viết có liên quan đến chế độ Ngô Đình Diệm chỉ vài năm sau khi FRUS được lên Online: Cách đây hơn 10 năm, trong bài viết Toàn Trị và Ngoại Thuộc vào tháng 5 năm 2003, giáo sư Cao Huy Thuần ở Pháp đã sử dụng 50 nguồn trích dẫn từ FRUS trong tổng số 53 cước chú của ông.1 Còn trong tiểu luận công phu  Phiến Cọng  trong Dinh Gia Long, hoàn thành vào tháng 8 cũng năm 2003, tiến sĩ Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu ở Mỹ đã sử dụng 49 tham chiếu từ FRUS trong tổng số 149 cước chú của ông. 2

Sở dĩ FRUS đạt được độ tin cậy khá cao, do đó mức sử dụng khá nhiều, trong các công trình nghiên cứu là vì ba lý do:
(i)                 Nói chung, FRUS là những tài liệu mật hoặc tuyệt mật (TOP SECRET) được trao đổi giới hạn giữa một số ít giới chức hành pháp rất cao cấp của Mỹ. Nội dung của những tài liệu nầy thường được làm cơ sở hoặc công cụ để thiết lập chính sách hoặc kế hoạch hành động cấp quốc gia, nên độ trung thực và tính chính xác của tài liệu, dù có lợi hay có hại cho chính quyền Mỹ, đều luôn luôn đƣợc người soạn thảo tài liệu cố gắng giữ ở mức tối đa;
(ii)               Cơ chế vận hành Check and Balance (Kiểm soát và Quân bình) của chính phủ Mỹ [và sau nầy với việc ban hành Freedom of Information Act năm 1966 (Đạo luật về Quyền tự do tiếp cận Thông tin)] cho phép hai ngành Lập pháp và Tư pháp cũng như bất kỳ người dân nào, sớm hay muộn, cũng truy cứu được thông tin của chính phủ. Thậm chí nếu cần, có thể xin tòa án can thiệp (subpoena) để được tiếp cận tài liệu. Vì biết rõ và vì làm việc trong khung nguyên tắc đó từ lâu nên trong quá trình hình thành các tài liệu, giới chức chọn lựa và soạn thảo FRUS đã phải cố gắng tránh những sai lầm, sơ hở, tối nghĩa, lạc dẫn, suy đoán, thậm chí dối trá, … ở mức tối đa;
(iii) Tinh thần và đạo đức học thuật của giới nghiên cứu Mỹ là khá cao, lãnh vực nghiên cứu là khá đa dạng, và tranh chấp học thuật thì gay gắt trên trường quốc tế. Do đó, những học giả luôn đòi hỏi các nguồn cung cấp tài liệu, dù trong hay ngoài chính phủ, dù lãnh vực an ninh quốc gia hay bất kỳ lãnh vực nào, cũng phải duy trì một mức độ chuyên nghiệp trong các tài liệu để họ có thể tin tưởng sử dụng. Trong lãnh vực bang giao quốc tế có liên hệ đến Mỹ, FRUS là công cụ làm việc của giới nghiên cứu nên cũng phải chuyên nghiệp ở mức tối đa.

Đó ít nhất là những lý do vì sao FRUS có độ khả tín khá cao. Do đó, một cách cụ thể, công trình nghiên cứu nghiêm túc nào về quan hệ Việt-Mỹ trong thập niên 1960‘ mà không tham chiếu FRUS thì cũng là điều thiếu sót. Nhưng dĩ nhiên chúng ta cũng không ngây thơ đến độ tin tưởng hoàn toàn bất kỳ thông tin nào của FRUS mà không đối chiếu với các nguồn thông tin khác và/hoặc đặt chúng trước quy trình phân tích chặt chẽ và chọn lọc khắt khe. Dù sao thì FRUS cũng đáng tin cậy và cần tham cứu để sử dụng, nhất là khi so sánh với những “nguồn tài liệu” khác rất đáng nghi ngờ, nhưng lại thường được đa số những “bình luận gia” người Việt cả trong lẫn ngoài nước, nhất là ở hải ngoại, sử dụng để “đầu độc chính trị” nhau nhiều hơn là để trình bày sự thật.

Một cách cụ thể, chúng tôi xin cung cấp hai đường link sau đây để độc giả có thể truy cập tất cả tài liệu FRUS liên quan đến quan hệ Việt-Mỹ trong năm 1963:
1- FRUS 1961-1963, Volume III: Vietnam January - August 1963:
2- FRUS 1961-1963, Volume IV: Vietnam August - December 1963:
   
* * *

Năm 1963 là năm có đầy đủ triệu chứng của một chế độ toàn trị đang ở hồi cuối cùng của quy trình hủy diệt. Đại sứ Trần Văn Chương, thân phụ của bà Nhu, là ngƣời đầu tiên dùng cụm từ “toàn trị” để xác định đặc tính chính trị của chế độ Diệm 3.
Để hiểu rõ hơn về biến cố 1963, ta cần nắm bắt ba giai đoạn phân chia cuộc đời chính trị của ông Ngô Đình Diệm:

■ Trước 1954, ông là một chính khách trôi nổi trong cuộc chiến Pháp-Việt, bị kẹt giữa chính sách của Hội Truyền giáo Hải ngoại (MEP) và truyền thống phục vụ nền đô hộ Pháp của gia đình nên ông đã không xả thân chống Pháp quyết liệt như các nhà cách mạng đương thời. Khi thì làm quan Nam Triều nên Việt Minh ghét ông, khi thì theo Nhật nên Tây muốn bắt ông, khi thì ẩn mình trong tu viện, khi thì “bao năm từng lê gót nơi quê người”, không uy tín, không lực lượng ngoại trừ một nhóm tín đồ Thiên Chúa giáo bản địa ủng hộ. Quốc tế không biết đến ông, lại vốn không có gốc rễ trong quần chúng nên ông không có một hoạt động nào có tác động đáng kể vào cuộc vận động giải thực gian khổ của toàn dân.
Đây là giai đoạn ông Diệm có thể có Tâm nhưng chắc chắn không có Tài, ai theo ông cũng được, không theo ông cũng chẳng sao. Ông chỉ là một “chính khách xa lông” như ta thường gọi.

■ Giai đoạn thứ nhì là từ 1954 đến 1959: Đó là lúc Mỹ thay Pháp tham dự vào thế cờ Đông Dương để xây dựng một tiền đồn chống lại chiến lược bành trướng của Cọng sản Quốc tế tại châu Á. Ông may mắn có hai yếu tố mà các chính khách Việt Nam đương thời không có: Mỹ Vatican. Ông cũng may mắn có ông anh Giám Mục quen biết với lãnh tụ số một của Công giáo Mỹ trong thời kỳ đó. Cho nên ông được cường quốc Mỹ hỗ trợ thay thế Bảo Đại của Pháp. Ba “bà mụ” chăm sóc để hóa thân ông thành “phép lạ” của Mỹ là Hồng y Francis Spellman, Thượng Nghị sĩ Mike Mansfield, và Ngoại trưởng John Foster Dulles.4 Với hai thế lực quốc tế và bảo chứng của vị vua triều Nguyễn, ông về nước, “phất cờ” và được hầu như toàn dân miền Nam ủng hộ để xây dựng miền Nam mà chống Cọng. Quân viện và kinh viện, nhân sự và văn hóa của Mỹ ào ạt đổ vào miền Nam, giúp ông vượt qua mọi trở ngại để thành lập nền Cọng hòa. Lãnh đạo miền Bắc vừa phải chờ gần hai năm để Tổng Tuyển cử, lại vừa bận lo chữa vết thương chiến tranh sau 9 năm đánh Pháp, nên miền Nam được tạm ổn, thanh bình và trù phú. Ông làm Tổng thống của một nền Cọng hòa non trẻ, là một lãnh tụ không giỏi nhưng gặp thời và được hai thế lực đỡ đầu hết lòng yểm trợ, nên thực hiện được nhiều thành tích tại miền Nam.
Trong giai đoạn 5 năm nầy, ông Diệm là người có thể vừa có Tâm vừa có Tài, nhưng quan trọng hơn cả là ông được thời thế, ai là người muốn xây dựng miền Nam để chống Cọng thì phải ủng hộ ông. Ông là một ông quan phụ mẫu chi dân tuyệt vời trong một chế độ dân chủ khập khiểng.

■ Giai đoạn cuối là từ năm 1960 với những bước ngoặt oan trái, hệ quả của nền cai trị độc tài của ông mấy năm trước và của bản chất phong kiến gia đình trị, tổng hợp chất Thiên Chúa giáo Trung cổ và quan lại Tống Nho của văn hóa gia tộc ông. Năm 1960, chánh sách nội trị của ông phạm nhiều sai lầm nên bị chính quân dân miền Nam chống đối. Từ đầu năm, nhóm trí thức Bắc di cư trong báo Tự Do công khai tố cáo hành động đục khoét miền Nam của gia đình họ Ngô với bức tranh 5 con chuột trên bìa báo Xuân Canh Tý. Tiếp theo là thảm bại của Sư đoàn 13 tại Trảng Sập (Tây Ninh) vào ngày 26/1 dù lực lượng chính phủ đông và mạnh hơn. Đến tháng 4, nhóm 17 nhân sĩ trí thức và một linh mục (trong đó có 11 người đã từng là chiến hữu hoặc cọng tác viên cũ của ông Diệm) thuộc nhóm Tự Do Tiến Bộ ra Tuyên ngôn (tại khách sạn Caravelle) tố cáo tình trạng độc tài, tham nhũng, kém hữu hiệu và đòi ông thay đổi nhân sự cũng như chính sách. Tháng 11, các sĩ quan chỉ huy binh chủng Nhảy Dù cùng nhiều nhân vật đảng phái quốc gia tập họp trong Liên Minh Dân ChủMặt trận Quốc gia Đoàn kết đã phát động cuộc binh biến, đánh thẳng vào dinh Độc Lập, đòi ông Diệm cải tổ toàn diện cơ cấu lãnh đạo quốc gia để xây dựng lại chính nghĩa và nâng cao hiệu năng chiến đấu của quân dân miền Nam. Tháng 12, Hà Nội cho ra đời và công khai hóa Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, làm điểm tụ lực để thu hút quần chúng bất mãn hầu tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang, thách thức tính chính thống của Việt Nam Cọng Hòa trên cả hai mặt quốc tế và quốc nội. Nhưng 5 biến cố đó cũng không tác hại sâu sắc bằng tình trạng kể từ năm 1960, hai ông bà Ngô Đình Nhu bắt đầu khuynh loát rồi cuối cùng khống chế trung tâm quyền lực quốc gia ở Dinh Gia Long, từ từ đẩy ông Diệm vào vai trò thứ yếu trong công việc quản trị miền Nam. Ông làm Tổng thống như một vua Lê bù nhìn bên (ông bà) chúa Trịnh lộng quyền.
Đây là giai đoạn chót, ông Diệm mất đi cả cái Tâm lẫn cái Tài, nhưng vẫn cùng gia đình cao ngạo bám vào ghế lãnh đạo quốc gia nên hại nước hại dân, vì vậy ai là người có trí và có lòng thì cũng phải chống ông. Từ người hùng của thời thế, ông Diệm trở thành tội nhân của lịch sử. Đó có phải là nhiệm ý Thiên Chúa chăng?

Vì cái năm bản lề 1960 nhiều biến động đó mà những năm sau, miền Nam bắt đầu suy thoái, chịu đựng hết cuộc khủng hoảng nầy đến cuộc khủng hoảng khác:
Thật vậy, năm 1961, trong lúc nền kinh tế quốc gia vẫn còn phụ thuộc nặng nề vào kinh viện Mỹ 5 thì tình hình an ninh hầu như bị suy sụp một cách đáng quan ngại, nhất là ở nông thôn, nơi Việt Cọng kiểm soát 80% 6 đến nỗi ngày 10-10-1961, ông Diệm phải ban bố “tình trạng khẩn cấp trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.” 7 Và hai tháng sau, ngày 7-12-1961, ông Diệm đã gửi thư cho Tổng thống Kennedy xin tăng thêm viện trợ vì “Việt Nam Cọng Hòa đang phải đối đầu với một thảm họa lớn nhất trong lịch sử8. Qua năm 1962, sáng ngày 27 tháng 2, hơn một năm sau “Đảo chánh Nhảy dù”, hai sĩ quan của một binh chủng khác của quân đội lại hành động: Trung úy Phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử đã bay 2 chiếc Skyrider A-1 ném bom Napalm và bắn rocket vào dinh Độc Lập với mục đích tiêu diệt toàn bộ lãnh đạo đầu não của Đệ Nhất Cọng hòa. Trong khi đó thì ngoài chiến trường, các đơn vị vũ trang của Việt Cọng bắt đầu thách thức quân lực VNCH trên cả 4 Quân khu, đánh chiếm nhiều đồn bót, pháo kích vào các quận huyện ven thủ đô Sài Gòn. Đặc công của họ còn dám đặt chất nổ tại các thành thị và bắt cóc các viên chức của chế độ. 9 Tình trạng an ninh khẩn trương đến nỗi ngày 31-3-1962, ông Diệm đã phải gửi thông điệp cho 92 quốc gia trên thế giới yêu cầu ủng hộ VNCH chống cuộc xâm lăng của Cọng sản 10. Như vậy, “Sau sáu năm trời làm một thứ Quốc trưởng không ai lay chuyển nổi, Diệm vẫn bất an. Sự ủng hộ của nhân dân phai lạt, quân đội không thể chiến đấu theo lối chiến tranh cách mạng của Việt Cộng, còn kinh tế quốc gia hầu hết hoàn toàn phụ thuộc vào viện trợ Mỹ11. Và, cuối cùng, năm 1963 định mệnh cũng đến!

Trong năm 1963 đó, những biến cố dồn dập khuấy động một miền Nam hừng hực lửa. Những biến cố nầy là do hệ quả tích lũy từ các nguyên nhân các năm trước hoặc được khởi động đột biến ngay trong chính năm 1963: Từ thảm bại Ấp Bắc đến Phúc trình Mansfield (đặt câu hỏi căn bản rằng “Chúng ta có thể thắng Cọng sản với Diệm không?”); từ cuộc đấu tranh rồi bị đàn áp của Phật giáo đến hành động quyên sinh của văn hào Nhất Linh; từ rạn nứt quan hệ với Mỹ đến những tiếp xúc thỏa hiệp với Hà Nội; từ gần 10 âm mưu đảo chánh của các sĩ quan trung cấp ngay đầu năm 1963 đến chính ông Nhu cũng dự định đảo chánh ông Diệm trong kế hoạch Bravo I để thay ông Diệm… Tất cả như những ngọn sóng, trùng trùng điệp điệp đan bện vào nhau đổ ụp xuống chế độ ông Diệm vào ngày 1-11-1963. Và vào sinh mạng hai anh em ông ngày 2-11-1963.
Phật giáo hay không Phật giáo, Quân đội hay không Quân đội, Mỹ hay không Mỹ, cuối cùng thì nhân nào quả nấy. Và lịch sử sang trang. Phải sang trang…

* * *

Nhiều tài liệu đã đề cập đến những ngày xao động của năm 1963. Trong tập sách nầy, thông qua các nguồn tài liệu Mỹ mà chủ yếu là từ FRUS, chúng tôi chỉ muốn cung cấp thêm một số dữ kiện do người Mỹ phát hiện nhưng không được đông đảo người Việt Nam biết đến. Sau đây là vài ví dụ:
- Trong vụ nổ súng tại Đài Phát thanh Huế ngày 8-5-1963, lúc đầu, binh sĩ chính quy được lệnh đàn áp đám đông Phật tử nhưng họ từ chối. Do đó, cuối cùng, chính địa phương quân của Thiếu tá Đặng Sỹ đã nổ súng và ném lựu đạn. (FRUS 1961-1963, Vol. III, Doc. 116).
- Ngày 3/6/1963 tại Huế, sinh viên và đồng bào tại Huế biểu tình và đã bị quân đội phun hóa chất để giải tán (FRUS 1961-1963, Vol. III, Doc. 146 và 147).
- Tướng Lê Văn Kim là tướng lãnh đầu tiên đề cập với ngƣời Mỹ, ông Rufus Phillips của USOM, về ý định của quân đội sẽ loại bỏ ông Nhu nếu Mỹ có cùng một thái độ cứng rắn như thế. Bộ trưởng Quốc phòng Nguyễn Đình Thuần và Chánh Văn phòng Phủ Tổng thống Võ Văn Hải cũng muốn Mỹ tỏ thái độ muốn loại bỏ ông Nhu. (Pentagon Papers trích dẫn FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 274).
 - Tướng Trần Văn Đôn cho người Mỹ biết giữa ông Diệm và bà Nhu không có quan hệ xác thịt nhưng ông Diệm xem bà Nhu như một người vợ lý tưởng thuần khiết (platonic wife) như Hitler đối với Eva Braun, và ông Diệm đã từng thăng chức cho một người làm vườn tại Đà Lạt từ Trung sĩ lên Trung tá chỉ vì người nầy trắng trẻo đẹp trai (FRUS 1961-1963, Vol I I I, Doc. 275).
 - Việc ông Nhu lừa dối các tướng lãnh khi cho Lực Lượng Đặc Biệt giả danh quân đội tấn công các chùa tại Sài Gòn đêm 20/8/1963 khiến cả Mỹ lẫn dân chúng Việt Nam lên án quân đội, đã là một bước ngoặt mạnh mẽ khiến Quân đội dứt khoát muốn loại bỏ ông Nhu hơn. (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 274).
 - Từ năm 1962, sau cuộc đảo chánh của Nhảy Dù và vụ oanh kích của 2 Phi công, và trước khi xảy ra vụ Phật giáo, Mỹ đã đánh giá là miền Nam sẽ bị nhuộm đỏ vì gia đình họ Ngô đa nghi, kém hiệu quả và mất lòng dân (FRUS 1961-1963, Vol II, 1962, Doc. 268).
- Sau cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, ngày 25/6, ông Nhu đã nói thẳng với người Mỹ rằng ông chống đối ông Diệm, và chính phủ hiện tại phải bị loại bỏ. Ông Nhu trình bày điều nầy trong một tình trạng xúc động cao độ (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 256).
- Một đội cảnh sát đặc biệt của bà Nhu được thành lập và do ngƣời em của bà là Trần Văn Khiêm chỉ huy. Ông Khiêm đã cho một ký giả người Úc xem một danh sách các viên chức Mỹ tại Sài Gòn mà ông đang lên kế hoạch ám sát (FRUS 1961-1963, Vol IV, Doc. 68).
- Nhiều quan chức Việt Nam cho biết quyền lực thực sự nằm trong tay ông Nhu, ông Diệm chỉ là “búp bê” của ông Nhu. Cả hai ông Nguyền Đình Thuần và Võ Văn Hải đều xác nhận ông Nhu hút thuốc phiện từ hai năm rồi. Trạng thái tâm thần hoảng loạn của ông Nhu hiện rõ khi ông tuyên bố chỉ có ông mới cứu được Việt Nam. (FRUS 1961-1963, Vol IV, Doc.110).
- Bà Trần Văn Chương, thân mẫu của bà Nhu, gọi bà Nhu là “đồ quỷ” (monster), ông Nhu là “hung nô” (barbare), ông Diệm là “kẻ bất tài” (incompetent). Còn ông Trần Văn Chương, Đại sứ VNCH tại Mỹ, thì bàn thảo với các nhà hoạt động để thành lập một chính phủ lưu vong để lật đổ nhà Ngô (FRUS 1961-1963, Vol IV, Doc.118).
- Khoản tiền 42,000 Mỹ Kim đã do CIA trao trước đó để dùng mua thực phẩm cho chiến binh VNCH và dùng làm tiền tử tuất cho gia đình tử sĩ trong cuộc binh biến 1-11-1963. Tướng Dương Văn Minh hai lần điện thoại tới ông Diệm, đề nghị hai anh em Diệm-Nhu đầu hàng sẽ được an toàn xuất ngoại. Ông Diệm hai lần từ chối. (Phúc Trình Thượng Viện Hoa Kỳ Số 94-465).
- Vân vân…
Đó chỉ là vài ví dụ. Xin bạn đọc từ từ đọc hết 26 tài liệu…
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Chính biến 1-11-1963, chúng tôi hy vọng tập sách nầy sẽ là một nhắc nhở đến những độc giả muốn tìm hiểu lịch sử Việt Nam thời cận đại một điều ai cũng đã biết, rằng trong tình trạng nhiễu loạn thông tin và nhiễu nhương thế sự hiện nay, hiểu được và đánh giá đúng một sự kiện thì thật là khó khăn.

Trân trọng,
Nhà Xuất bản Thien Tri Thuc Publications
P.O. Box 4805
Garden Grove, CA.92842-4805
U.S.A.

CƯỚC CHÚ:
(1) Bài được đăng trên Diễn Đàn Forum số 129, xuất bản tại Paris vào tháng 5 năm 2003 và được Thư Viện Hoa Sen đăng lại: http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-135_4-17521_5-50_6-1_17-55_14-1_15-1/  
(2) Bài được đăng trên Tạp chí Hợp Lưu tại California vào tháng 8 năm 2003 và được Việt-Studies đăng lại: http://www.viet-studies.info/kinhte/PhienCongDinhGiaLong_HopLuu.pdf  
(3) FRUS 1961-1963, Tập III, Memo của Forrestal gửi Harriman ngày 8-3-1963.
(4) Joseph Buttinger, Vietnam: A Political History. New York: Frederick A. Praeger, 1968.
(5) Bernard C. Nalty, Rival Ideologies in Divided Nations (Vietnam War), tr. 62; và Frances Fitzgerald, Fire in the Lake, tr. 101-104.
(6) Robert Scigliano, Vietnam, A Country At War.
(7) Sắc lệnh số 209-TTP của Tổng Thống Phủ - Đoàn Thêm, Những ngày Chưa quên Đại Nam, 1967 – Nam Chi Tùng Thư tái bản.
(8) Marvin E, Gettlemen, Vietnam History, Documents and Opinionsm và Đoàn Thêm, Những ngày Chưa quên, Đại Nam, 1967 – Nam Chi Tùng Thư tái bản.
(9) Stanley Karnow, Vietnam, A History, New York: King Presss, 1983.
(10) Đoàn Thêm, Những ngày Chưa quên, Đại Nam, 1967 – Nam Chi Tùng Thư tái bản.
(11) Bernard C. Nalty, Rival Ideologies in Divided Nations (Vietnam War), tr. 62.


MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU (trang 7)

PHẦN I - CUỘC VẬN ĐỘNG BÌNH ĐẲNG TÔN GIÁO NĂM 1963 CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
1- FRUS III (9-5-1963): Các điện văn trao đổi giữa Huế, Sài Gòn và Washington (trang 21)
2- CIA (11-5-1963): Báo cáo cho Tổng thống Mỹ về cuộc thảm sát tại Huế năm 1963 (trang 39)
3- FRUS III (1-8-1963): Tấn công Hóa học ở Huế (trang 43)
4- Pentagon Papers (20-8-1963): Chiến dịch Tổng tấn công chùa đêm 20-8-1963 và các hệ quả (trang 49)
5- Trần Văn Đôn / Việt Nam Nhân Chứng (20-8-1963): Cuộc tấn công các Chùa đêm 20-8-1963 (trang 70)
6- FRUS III (24-8-1963): CIA - Cuộc nói chuyện bí mật của Tướng Trần Văn Đôn (trang 76)
7- Bộ Ngoại giao (24-8-1963): Điện văn tối mật số 243 ngày 24-8-1963 (trang 92)
8- FRUS III (24-8-1963): Điện văn 274, Chiến dịch tấn công chùa (trang 99)
9- Liên Hiệp Quốc (7-12-1963): Bản Phúc trình của Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc (trang 105)
10- Liên Hiệp Quốc (7-12-1963): Phúc trình Liên Hiệp Quốc A/5630 đã kết luận như thế nào? (trang 109)

PHẦN II – TÌNH HÌNH CHÍNH QUYỀN NGÔ ĐÌNH DIỆM TRONG NĂM 1963
1- FRUS II (1/1962): Nhiều ngàn Sĩ quan VNCH cải đạo để tiến thân (trang 125)
2- CIA (10-7-1963): Bản đánh giá Tình báo Quốc gia đặc biệt (trang 132)
3- FRUS II (16-8-1962): Năm 1962, Mỹ đã thấy mất Việt Nam (trang 153)
4- FRUS III (16-8-1963): Ngô Đình Nhu muốn thay thế ông Diệm làm Tổng thống (trang 170)
5- Howard Jones / Death of A Generation: Ngô Đình Nhu thương thuyết với Hà Nội (trang 181)
6- FRUS IV (6-9-1963): Điện văn 68 ngày 6-9-1963, Nhu thiết lập danh sách nhân viên Mỹ sẽ bị ám sát (trang 204)
7- FRUS IV (15-9-1963): Mỹ thấy lính và dân Việt Nam phẩn nộ (trang 210)
8- FRUS IV (16-9-1963): Điện văn 118 – Thân phụ và thân mẫu bà Nhu kêu gọi lật đổ nhà Ngô (trang 219)
9- FRUS IV (26-9-1963): Bộ trưởng Quốc phòng McNamara viết từ Sài Gòn: Diệm Nhu đàn áp toàn dân (trang 224)
10- FRUS IV (7-10-1963): Vua Lê Ngô Đình Diệm và Chúa Trịnh Ngô Đình Nhu (trang 232)
11- Tòa Bạch Ốc / Cục An Ninh Quốc Gia (11-10-1963): Mỹ đã thấy mất Việt Nam từ cuối năm 1961 (trang 244)
12- Thượng Viện Hoa Kỳ (30-10-1963): Áp lực giờ chót của Mỹ đòi hủy bỏ cuộc lật đổ nhà Ngô (trang 261)

PHẦN III – VÀI TÀI LIỆU TỔNG HỢP
1- CIA (4/1966): Thích Trí Quang và Mục tiêu Chính trị của Phật giáo tại Nam Việt Nam (trang 271)
2- CIA (7/1966): Chính quyền Johnson nhìn lại biến cố 1963 (trang 310)
3- The Pentagon Papers (1/1969): Biến động Phật giáo từ 8-5 đến 21-8 năm 1963 (trang 314)
4- Tâm Diệu (10/2013): Phật giáo và cuộc Chính biến 1-11-1963 (trang 328)

Xin các nhà nghiên cứu liên lạc với Nhà Xuất bản Thien Tri Thuc Publications, PO Box 4805,Garden Grove, CA.92842-4805 để nhận ấn bản giấy.
Để đọc phiên bản điện tử, xin truy cập vào đường link: