Hiển thị các bài đăng có nhãn thích trí quang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thích trí quang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2020

HÒA THƯỢNG “BIẾT MÌNH BIẾT NGƯỜI

Lý Nguyên Diệu

Cùng nhau nhìn lại những năm tháng đã qua một cách hoà đồng trong tỉnh táo là điều khó khăn, vì mỗi chúng ta nhìn thời cuộc từ vị thế khác nhau, qua tâm tư và não trạng khác nhau, như chuyện Rashômon. Nhưng nếu cố gắng tỉnh táo như một người không bị ảnh hưởng tôn giáo thì sẽ nhận ra Hoà thượng Thích Trí Quang (TTQ) thuộc loại người áp dụng đúng binh pháp “Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi” (biết mình biết người, trăm trận không nguy) của Ngô Tôn Tử. Điều thú vị ở đây là nói về một nhà sư mà lại nhắc đến tác giả “Nghệ thuật Chiến tranh”, nhưng thầy TTQ thì cũng chỉ là một con người tứ đại với đầu-mình-tay-chân như bao nhiêu con người khác. Sinh ra là phải tranh đấu. Tranh đấu để sống còn, tranh đấu để đạt sở nguyện. Ngay cả khi chưa sinh ra đã phải tranh đấu với hàng triệu con tinh trùng khác để trở thành nhà lực sĩ bơi lội đầu tiên tiến đến thụ tinh cho trứng rồi trở thành phôi thai. Ai cũng tranh đấu như vậy. Kể từ đức Đạt Lai Lạt Ma ở bên ni đến đức Giáo hoàng ở bên tê cũng chỉ là những con người với đầu-mình-tay-chân để tranh đấu.
Đó là điểm “bất khả tư nghì” đầu tiên làm tiền đề để chúng ta có thể tỉnh táo bàn tiếp.

Vậy thầy TTQ đã vào đời tranh đấu thì cũng là chuyện không nên ngạc nhiên. Như lịch sử Việt Nam thế kỷ 13 có vua Trần Nhân Tông pháp danh Trúc Lâm Đại Sĩ, hai lần đánh bại quân xâm lược Mông Cổ. Như lịch sử Hàn Quốc thế kỷ 17 có Hoà thượng Samyeong pháp danh Yujeong của triều đại Joseon, đã chỉ huy một đội quân tăng sĩ để chống quân xâm lược Nhật. Như lịch sử Việt Nam thế kỷ 19 có Linh mục Trần Lục, tên thánh là Phêrô, đã cung cấp cho quân Pháp 150 tay súng Công giáo để đánh chiếm thành lũy Ninh Bình, và đã huy động 5,000 giáo dân Việt Nam giúp Tây tiêu diệt chiến khu Ba Đình của anh hùng Đinh Công Tráng. Sau đó Linh mục Trần Lục được chính quyền thực dân Pháp tặng thưởng hai Bắc Đẩu Bội Tinh. Hành động nhập thế của người xưa là như thế dù phong cách xuất xữ có khác nhau …
 Qua thế kỷ 20, điểm nổi bật của thầy TTQ là sự áp dụng đúng nguyên tắc “biết mình biết người” đã làm cho thầy trở thành một nhân vật của thời cuộc. Và ai cũng biết những nhân vật của thời cuộc Việt Nam thường nhận lãnh một núi cao đầy khen ngợi trôi nổi bềnh bồng trên một biển rộng tràn ngập chê bai. Điều này đã xảy đến cho Hoàng đế Bảo Đại, cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho Tổng thống Ngô Đình Diệm, và cho cả một Hoà thượng có pháp danh Thích Trí Quang, từ khi sống đến khi chết.
Những khen chê đó, thầy TTQ, đã nhận như huy chương nào cũng có hai mặt. Hai mặt như trường hợp một Phật tử ở Huế là Tiến sĩ Thái Kim Lan, đã từng là một trong những sinh viên kịch liệt biểu tình chống chính sách kỳ thị Phật giáo của Tổng thống Ngô Đình Diệm nhưng trong bài viết về thầy TTQ, bà cũng tặng chế độ cụ Ngô “một điểm son” dân chủ đã cho phép sinh viên, học sinh sử dụng quyền biểu tình. Vì vậy, ta nên “để cho lịch sử xử” đời của thầy TTQ cho đầy đủ hai mặt như nhà văn hoá Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã dõng dạc di huấn.   
Vâng theo di huấn đó, bài viết này chỉ dám là một cố gắng để tìm hiểu một trong nhiều bí ẩn về thầy TTQ mà những bài khen chê đều cùng đề cập đến nhưng hình như chưa có một trả lời thỏa đáng. Bí ẩn đó là câu hỏi: Vì sao thầy im lặng từ năm 1975? Trong khi ngay cả một thiền sư như thầy Thích Tuệ Sỹ cũng đã phải ra tòa năm 1988 vì không giữ im lặng.

Đi tìm câu trả lời này là đi trở lại mùa Hè sôi động và bi tráng vào mùa Hạ năm 1963, sau khi thầy TTQ  đã học Phật 27 năm và trở thành một cao tăng tại Huế.
Từ một cái nhìn ngoài ước lệ, Thầy TTQ có thể ví như một cao thủ của môn phái Hiệp Khí Đạo (Aikido) - Về tinh thần và nguyên lý của Aikido mang đậm chất Thiền – Zen, cùng với tư tưởng của giáo phái Omoto – Đại  Bản  giáo của giáo chủ Onisaburo Deguchi,  trong khi giáo phái này khởi nguyên từ Shinto và Phật giáo.” (Trích theo Aikido Tâm Bảo trên Internet) - Theo ý của giáo sư Đặng Thông Phong (Aikido Huyền đai Đệ thất đẳng), kỹ thuật của Hiệp Khí Đạo có thể tóm tắt là không làm gì cho đến khi bị tấn công thì dùng chính lực tấn công đó để khống chế đối thủ. Nghĩa là khi nào ở tư thế nạn nhân đang bị áp bức, thì chỉ khi đó, Phật giáo Việt Nam sẽ phát huy được tối đa nội lực và công năng để hóa giải (và nhiều lúc hòa giải với) địch thủ của mình.
Trong khi Tổng thống Ngô Đình Diệm của năm 1963 đúng là một cao thủ Nhu Đạo (Judo). Ông đã đẩy triết lý cơ bản “lấy nhu thắng cương” thành ra chiến thuật toàn diện “lấy NHU thắng tất cả” (định mệnh đã đặt người em tên là  NHU làm cố vấn cho Ngô Tổng thống!). Tuy vậy, trong thực tế, Tổng thống và ông cố vấn lại áp dụng ngược chiều, lấy cương thắng nhu qua hai chiêu võ rất cường bạo (có phải đây là một nhầm lẫn tuyệt mệnh nên hai chiêu này chỉ được tung ra trong bóng đêm?). Một là đêm 8 tháng 5 năm 1963, chính quyền  lấy xe tăng và tung chất nỗ dẹp biểu tình trước đài phát thanh Huế. Và hai là sau đó hơn ba tháng, đêm 20 tháng 8 năm 1963, chính quyền phát động chiến dịch “Nước Lũ”, dùng Lực lượng Đặc biệt và Cảnh sát Dã chiến tấn công các chùa và bắt nhốt các sư sãi trên toàn miền Nam đúng như kỹ thuật của môn phái Nhu Đạo đòi hỏi phải vói tay ra nắm áo hay nắm tay của đối thủ rồi mới dùng thế để “quật ngã, đè, siết cổ và khoá tay, chân” làm cho đối thủ mất thăng bằng và ngã xuống đất chịu thua. Hai đêm đó là hai lần Phật giáo bị nắm áo, nắm tay nhưng thầy TTQ đã BIẾT Hiệp Khí Đạo của thầy có thể thắng Nhu Đạo của Tổng thống Diệm nên đã tận dụng quyền lực (đúng hơn là quân lực) của đối thủ để đạt được mục đích làm cho Tổng thống Diệm phải ngã xuống đất chịu thua - thua một đối thủ dù bị giam lỏng trong cơ quan USOM của Mỹ từ tháng 8 đến ngày 1 tháng 11, 1963 nhưng vẫn đã có thể vận dụng tối ưu bí thế “cách không điểm huyệt” bằng bài quyền “biểu tình & bãi khoá” của trí thức, sinh viên, học sinh và tạo thêm chính nghĩa cho nội lực thâm hậu của quân lực Việt Nam Cộng Hoà được hiển lộ và phát huy.


Hình bìa tạp chí TIME số ra ngày 22/4/1966
với tiêu đề “The Buddhist Bid for Power

Qua năm 1966, đáng lẽ lui về chùa để san dịch kinh sách thì thầy TTQ vẫn đứng giữa chốn gió tanh mưa máu cầm tờ báo Time có bìa là chân dung của thầy với tiểu tựa “The Buddhist Bid for Power” (“Nhà Sư Tìm Quyền Lực”) để phải trực diện với hai đối thủ mới là Thiếu tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ và Chuẩn tướng Cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan. Đây là hai đệ tử đai nâu của môn phái Thái Cực Đạo (Taekwondo). Kỹ thuật Thái Cực Đạo bao gồm cả Cước pháp (Tae) và Thủ pháp (Kwon) chủ động trên phi cước (bay lên không rồi đá) nên khi đã ra đòn thì luật trọng lực không kiểm soát được hậu quả. Do tính chất “không nương tay” này mà Thiếu tướng Kỳ đã vô hiệu hóa được chiêu thức “đem bàn thờ Phật xuống đường” làm cho thầy TTQ BIẾT phải chịu thua và trở về chùa thực tập diện bích.

Đến năm 1975, khi gặp người Cộng Sản phóng tay lập trại cải tạo, biến chùa thành kho chứa gạo hợp tác xã,... thì Thầy không cần phải trực tiếp “ra chiêu” với đối thủ cũng thừa thông minh “BIẾT mình, BIẾT người” để không mất thì giờ “động thủ” một cách vô ích với những cao thủ Thái Cực Đạo đai đen cửu đẳng đến từ Hà Nội với mức độ “không nương tay” độc hại ngàn vạn lần hơn Thiếu tướng Kỳ.
Nhìn lại thời điểm đó sau 45 năm từ cao độ của máy bay drone, ta có thể có một cái nhìn đại cương về phản ứng của người dân miền Nam vào tháng 4/1975: Có phản ứng và không có phản ứng trước tình thế mới (Không kể một nhóm thứ ba đã không thể lấy quyết định vì bị lừa đi “học tập” trong những trại tập trung để chế độ mới “cải tạo”).
Trong nhóm quyết định phải phản ứng “chống đối” có nhân vật nổi tiếng nhất là Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh đã lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam năm 1980 để về Việt Nam dùng phương tiện quân sự chống nhà nước Cộng Sản. Còn trong nhóm phản ứng “không chống đối” ta thấy có Giáo sư Vũ Quốc Thúc - Khoa trưởng Đại học Luật Khoa, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình (được nhà nước truy tặng Huân chương Đại Đoàn Kết Dân Tộc năm 2007 và nay có tên đường ở Sài Gòn), … Riêng Thầy TTQ, người đã từng làm rung rinh nước Mỹ (L’homme qui fait trembler l’América – L’Express, 1966), thì không có phản ứng gì cả, dù chống đối hay không chống đối ... Thầy trở thành một biến thể phá cách của Hoà thượng Nói Không Được (Bất Khả Thuyết) của nhà văn truyện chưởng Kim Dung!

Chỉ có Trời Phật mới biết được chính xác lý do không phản ứng của nhà sư này. Còn lại lô nhô loài người chỉ đoán mò. Đoán mò dựa trên lý luận để đặt giả thuyết. Giả thuyết càng chính xác thì càng phải dựa trên lý luận có giá trị. Và lý luận càng có giá trị nếu càng dựa trên nhiều bằng cớ có thể phối kiểm được. Bằng cớ như trong bài “Con Người Thật Của Thượng Toạ Thích Trí Quang” của tác giả Đào Văn Bình trình bày bốn tài liệu (kể cả tài liệu của CIA) để chứng minh thầy TTQ không phải là Cọng Sản:
Nhưng chính CIA cũng đã không biết nhà báo Phạm Xuân Ẩn là cán bộ Cọng Sản thì hầu như mọi chuyện đều có thể coi như là đoán mò.
Đoán mò của bài này đến từ lý luận chỉ dựa trên hai bằng cớ đơn giản, dễ phối kiểm: Hiệp Khí Đạo của thầy TTQ đã thắng được Nhu Đạo đai đen năm 1963 nhưng thua Thái Cực Đạo đai nâu năm 1966 thì năm 1975 gặp Thái Cực Đạo đai đen cửu đẳng, thầy nên lâm trận hay rút về tịnh cốc? Câu hỏi này làm tôi liên tưởng đến một tuyên bố nổi tiếng của một người đồng hương nổi tiếng của thầy là tướng Võ Nguyên Giáp sau trận Điện Biên Phủ năm 1954: “Chắc thắng mới đánh”. Nhưng ai biết được khi nào thì chắc thắng?
Vì vậy, vẫn chỉ là đoán mò vì chính thầy TTQ đã viết trên trang cuối của “Trí Quang Tự Truyện”: “Rốt cuộc, tôi không biết gì, không có ý định gì cả, nên cuộc đời tôi ‘không vẫn hoàn không’, không có gì đáng nhớ, đáng nói…” mà tôi nghĩ thầy đã học được từ thâm ý của một nhà đại hiền triết Đông phương: “Trong 49 năm ta chưa hề nói một câu, một chữ, một lời nào”, và một triết gia Tây phương: “Tôi chỉ biết là tôi không biết gì cả”.
 
Nói tóm lại, trên đây là một cố gắng đoán mò để tỉnh táo đứng ngoài tôn giáo mà tìm hiểu sau 45 năm sự im lặng của một nhà tu hành tuy rất thông minh nhưng, cũng như hơn 90 triệu người Việt hiện nay ở trong và ngoài nước vẫn chưa đủ trí tuệ, dù đã có một nhân hòa “chắc thắng”, để tìm ra một địa lợi “chắc thắng”, một chiến thuật “chắc thắng” cho cuộc tranh đấu vì sự tồn vong của tổ quốc. Ngay thời điểm những giòng cuối cùng này được viết xuống, câu hỏi “Làm Gì?” của V.I Lenin đặt ra đầu thế kỷ 20 ở Nga vẫn bỏng cháy như câu hỏi đầu thế kỷ 21 của một nhà thơ nữ ở Huế:
“... Làm sao?                           
Làm Sao                                  
Chúng con có thể cùng nhau     
cúi đầu trước Mẹ                     
hoá giải thù xưa nói lời tạ tội    
...                                             ...
Dẫu biết rằng không thể đợi chờ thêm          
Không thể đợi chờ thêm ...                 
Nhưng ...                                 
Làm sao?                                           
Phải làm sao?                                    
Thưa Mẹ Việt Nam?”
                           
Nhân dịp L100 ngày (19/2/2020) của Hoà thượng Thích Trí Quang
Lý Nguyên Diệu


Thứ Tư, 13 tháng 11, 2019


96 PHÚT VỚI THƯỢNG TỌA THÍCH TRÍ QUANG (5.5.1966)

Ngô Thế Vinh & Phạm Ðình Vy

Thượng Tọa Thích Trí Quang viên tịch tại chùa Từ Ðàm, Huế, hôm 8 Tháng Mười Một, 2019, thọ 96 tuổi. Trong hình là lễ di quan Thượng Tọa Thích Trí Quang vào hôm 11 Tháng Mười Một, 2019. (Hình: phattuvietnam.net)
Lời Dẫn Nhập: Ðã 44 năm sau cuộc chiến tranh Việt Nam, vẫn còn những câu hỏi chưa có lời giải đáp. Chỉ riêng tên tuổi Thích Trí Quang đã gây ra rất nhiều tranh cãi. (1) Có nhiều nhãn hiệu gán cho ông: với một số người Việt chống Cộng thì cả quyết Thích Trí Quang là Cộng Sản đội lốt tu hành hoạt động với sự chỉ đạo của Hà Nội; nhưng ngay với giới chức Cộng Sản cũng đã từng coi Trí Quang là một loại CIA chiến lược; còn theo tài liệu giải mật của CIA thì đánh giá Trí Quang không phải Cộng Sản, mà là một nhà tu hành đấu tranh cho hòa bình và muốn sớm chấm dứt chiến tranh. Thêm nguồn tài liệu còn lưu trữ về những cuộc đàm luận giữa Trí Quang và các giới chức Hoa Kỳ, cho rằng Trí Quang chống Cộng mạnh mẽ và hiểu được sự việc sử dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Cộng Sản Bắc Việt và Trung Cộng.

Và trong phần trả lời phỏng vấn của báo Sinh Viên Tình Thương 1966, cách đây 53 năm, khi “đề cập tới sự nguy hiểm của Cộng Sản, TT Trí Quang đã so sánh họ với những chiếc lá vàng có đóng đinh, phải cần tới một cơn gió lốc cách mạng thổi đúng hướng, không phải làm bay những niềm tin mà là bốc sạch đám lá vàng có đóng đinh là Cộng Sản.”

Vậy thì đâu là sự thật? Ðâu là con người thật của Thích Trí Quang? Như câu hỏi trong phim Rashomon, một kiệt tác điện ảnh của Nhật Bản. Người viết sẽ không đưa ra một kết luận nào về chân dung TT Thích Trí Quang, nhưng muốn trở lại bối cảnh chính trị xã hội của thập niên 1960s, khi mà tên tuổi Trí Quang hầu như gắn liền với những biến động thời bấy giờ.

Từ sau 1975, Thượng Tọa Trí Quang sống lặng lẽ những năm tháng cuối đời trong ngôi chùa Già Lam ở Gò Vấp Sài Gòn, rồi sau đó trở về chùa Từ Ðàm Huế. Và mới đây, khi tin Thích Trí Quang vừa viên tịch ngày 8 Tháng Mười Một, 2019 ở tuổi 96 (ông sinh năm 1923) cũng tại chùa Từ Ðàm, Huế (6) – nơi chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn ngày 5 Tháng Năm, 1966, cách đây cũng đã hơn nửa thế kỷ. Trên báo chí truyền thông và dư luận trong và ngoài nước lại dấy lên những ý kiến rất khác nhau về ông, nhưng các thông tin về ông thì lại rất ít.

Nhìn lại thập niên 1960, trong khi tin tức về các phong trào Phật Giáo tranh đấu ngoài miền Trung rất nhiễu loạn, thì tại Sài Gòn, ngoài một cuộc phỏng vấn hiếm hoi dành cho tuần báo Time ngày 22 Tháng Tư, 1966 với hai ký giả McCulloch và James Wilde (2); TT Trí Quang sau đó trở ra Huế và rất ít khi dành cho báo giới Tây phương những cuộc tiếp xúc nào khác. Riêng với “Tình Thương” tuy chỉ là tờ báo của Sinh Viên Y Khoa nhưng lại rất quan tâm theo dõi thời cuộc, nên hai phóng viên Phạm Ðình Vy (5) và Ngô Thế Vinh được sự chỉ định của tòa soạn, đã bay ra Huế, được gặp và thực hiện cuộc phỏng vấn Chín Mươi Sáu Phút với Thượng Tọa Thích Trí Quang buổi chiều ngày 5 Tháng Năm, 1966 tại chùa Từ Ðàm Huế. Và bài phỏng vấn này đã được đăng ngay trên báo Tình Thương số 29, 1966, và đã được phóng viên của US News & World Report xin dịch sang tiếng Anh nhưng rồi không rõ lý do, bài báo đã không được phổ biến sau đó.

Và nay qua bộ báo Tình Thương mà Thư Quán Bản Thảo của nhà văn Trần Hoài Thư (4) mới tìm lại được từ Thư Viện Ðại Học Cornell, trong đó có số báo Tình Thương 29, với 4 trang 2-3-4-5 đăng trọn vẹn cuộc phỏng vấn đã thực hiện từ hơn nửa thế kỷ trước. Chúng tôi cho phổ biến bài báo này – với không bình luận, không ngoài mục đích chỉ muốn cung cấp tới các bạn trẻ và các sử gia tương lai có thêm một sử liệu hiếm quý về Thượng Tọa Thích Trí Quang tưởng như đã thất lạc. (Ngô Thế Vinh)

***

Chín mươi sáu phút với Thượng Tọa Thích Trí Quang (05.05.1966)

Ðộng cơ thúc đẩy

Với những rối loạn chính trị trong tuần lễ vừa qua, có một hiện tượng TRÍ QUANG trên khắp các báo chương ngoại quốc. Tuần báo Time coi ông như xuất hiện một Machiavel mới, trong khi báo L’Express gán cho ông là mẫu người đang làm rung động cả Mỹ quốc, đó là chưa kể tới những bài báo nói về ông đăng trên US News and World Report và Newsweek… Hiện tượng trên cũng được các báo Việt ngữ toa rập theo, thích thú đem ra phiên dịch và đăng tải; nhiều người coi đó như một khám phá mới lạ về một nhà tu hành tài ba, nhiều quyền lực nhưng cũng rất bí ẩn và khó hiểu.

Ðã từ lâu chúng tôi vẫn có thành kiến với các nhà báo ngoại quốc khi họ nhận định về các vấn đề Việt Nam và chúng tôi thành thật tin tưởng rằng không một người ngoại quốc nào am hiểu vấn đề Việt Nam bằng chính những người Việt. Cái thái độ dễ dàng tin cậy vào mấy ông nhà báo ngoại quốc trong công việc tìm hiểu đất nước mình nếu không bắt nguồn từ một thái độ ỷ lại của báo chí Việt thì cũng đang coi là một hiện tượng quái gở.

Trở lại trường hợp Thích Trí Quang, từ nhận định bảo ông là Cộng Sản đến ý nghĩ một tay quốc gia cực đoan, hình như chỉ cần một chút ngộ nhận. Nghĩ rằng tôn giáo sẽ còn đóng một vai trò quan trọng trong tương lai chính trị miền Nam, việc tìm hiểu mẫu một nhà tu-hành-dấn-thân đang có nhiều ảnh hưởng là điều cần thiết, đó là lý do cuộc gặp gỡ Chín mươi sáu phút với Thượng Tọa Thích Trí Quang buổi chiều ngày 5 Tháng Năm, 1966 tại chùa Từ Ðàm Huế.

Những sai lầm của Time

Hình như có một sự khác biệt rất xa giữa thực trạng miền Trung và các tin tức thổi phồng trên báo chí. Sau hơn bốn tuần lễ tranh đấu, Huế đã có một khuôn mặt sinh hoạt bình thường ngoại trừ những biểu ngữ khẩu hiệu còn treo dán rải rác, các chữ Bãi Khóa Bãi Thị kẻ sơn còn lưu vết trên nền tường; các cô nữ sinh Quyết Tử đã lại tóc thề áo dài trắng tới trường đi học, súng ống cũng được trả lại cho quân đội, đài phát thanh cho đọc thông cáo kêu gọi tất cả sinh viên họp đại hội để bàn về bình thường hóa sinh hoạt đại học.
Bìa báo Sinh Viên Y Khoa Tình Thương số 29 phát hành Tháng Năm, 1966.
[Tư liệu Ngô Thế Vinh]

Nơi bến Tòa Khâm, ngay trước khu đại học, các tàu há mồm của Mỹ đang đổ lên bến chồng chất những thực phẩm và đạn dược, đám trẻ con xúm quanh đùa rỡn với những anh lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ. Trước trụ sở Thông Tin ngoài các khẩu hiệu đòi bầu cử Quốc Hội, chống chánh phủ trung ương, còn có khẩu hiệu lên án Việt cộng pháo kích vào Thành Nội sát hại dân chúng…
Dấu vết những ngày máu lửa chỉ có vậy.

Trên dốc tới Nam Giao, chùa Từ Ðàm vẫn yên tĩnh nằm đó. Ngoài một số đệ tử đi lễ chùa, trong sân không có chút náo nhiệt của những phút tranh đấu. Nơi nhà Trai, trong bộ đồ rộng trắng, Thượng Tọa Trí Quang đang ngồi bình thản đánh cờ với một cụ già, ngồi cạnh đó là một nhà sư trẻ Thích Mẫn Giác.

Khi chúng tôi tới ván cờ đã mãn với phần thắng về phía thượng tọa, dĩ nhiên. Tuy chưa giáp mặt ông lần nào, chúng tôi đã biết mặt thượng tọa qua hình ảnh báo chí, và đặc điểm đầu tiên để nhận ra ông là đôi mắt vô cùng sắc sảo. Không với một cử chỉ xa cách nghiêm trọng, không với cả tia nhìn mãnh liệt như thôi miên, thượng tọa vui vẻ tiếp chúng tôi qua những nụ cười dễ gây thiện cảm và những cử chỉ tự nhiên thoải mái.

Vào đề ngay, chúng tôi nhắc tới những lời tuyên bố của thượng tọa trên các báo chí ngoại quốc, đặc biệt là bài của tuần báo Time (2).

Thượng tọa cho biết:

-Họ có tới gặp tôi hỏi ý kiến, tôi cũng có trả lời họ một số những câu hỏi, nhưng khi bài đăng có cả những ý kiến mà tôi không hề nói, tính tôi không bao giờ muốn đính chính, bởi vậy trong các bài báo đó có những điều sai lạc.

Chẳng hạn tuần báo Time gán cho tôi óc bài ngoại gay gắt và nhất là muốn quay lại thời hoàng kim của đời nhà Lý là một điều hoàn toàn bịa đặt.

Không bao giờ tôi chủ trương như vậy; hơn nữa công thức đời nhà Lý với những thày chùa hăng hái nắm quyền chính hoàn toàn không còn thích hợp với thời đại bây giờ, mơ ước điều đó là vô lý. Cũng như khi hỏi tôi về Quốc Hội, tôi chỉ nhấn mạnh với họ ở mấy điểm: số người đi bầu, sự xâm nhập của Việt cộng và cách bầu gián tiếp người lãnh đạo hành pháp qua một Quốc Hội trung gian.

Còn về tiểu sử thượng tọa, ông cho rằng đó chỉ là tài liệu không xác thực của công an.

Xem ra bài báo Time đã mô tả nhiều điều không đúng ý thượng tọa nhưng chúng tôi không muốn đi sâu vào thêm.

Chiến tranh hay hòa bình

Từ những nhận định cho ông có óc bài Mỹ, nhiều người e sợ rằng Quốc Hội đầu tiên được thiết lập với ảnh hưởng của Phật Giáo sẽ biểu quyết yêu cầu Mỹ rút lui khỏi Việt Nam để đi tới thương thuyết và chấm dứt chiến tranh. Thượng tọa cho rằng:

Bây giờ còn quá sớm để nói tới nên thương thuyết hoặc tiếp tục chiến tranh. Chỉ biết rằng chính quyền hiện tại chẳng đại diện cho một ai và hậu quả là tình trạng vô cùng bi thảm về chính trị cũng như quân sự. Nói chiến tranh thì chẳng ra chiến tranh, nói thương thuyết thì lại càng nhục nhã, chỉ có Mỹ với Hà Nội mà không ai đếm xỉa tới chính phủ Sài Gòn. Bởi vậy, chúng ta bắt buộc phải có một Quốc Hội, một chính quyền dân cử, tạo một khuôn mặt quốc gia cho đúng nghĩa một Quốc Gia, việc chiến hay hòa là do nơi Quốc Hội. Nếu tiếp tục chiến tranh thì lúc đó mới đúng nghĩa là một cuộc chiến tranh và nếu thương thuyết thì đó đúng là một cuộc thương thuyết nghĩa là chúng ta đã có một ưu thế.

Phải ngồi trên chiếc xe lúc đó mới nói tới chuyện lái tới hoặc lui. Ðó là phải cho có một Quốc Hội. Và tôi cũng không dại gì đính chính là không muốn thương thuyết để mang lấy tiếng hiếu chiến.

Khi nhắc đến giải pháp Trung Lập mà có người nghĩ rằng đó là chủ trương tương lai của Phật Giáo, Thượng Tọa Trí Quang nói:

-Nếu có thương thuyết để tiến tới giải pháp trung lập thì nền trung lập đó phải như thế nào. Người liều lĩnh nhất cũng không thể chấp nhận một hoàn cảnh như Lào. Pathet Lào trước đó là một phe nổi loạn, hiệp ước đình chiến 62 ở Lào là một công khai chấp nhận cuộc chiến tranh đó, Pathet Lào đương nhiên được hợp thức hóa và lại tiếp tục chiến đấu và thực sự không có một nền trung lập ở Lào.

Như Việt Nam với tình trạng hiện giờ, một ký kết như thế là đương nhiên chấp nhận Việt Cộng và chỉ trong sáu tháng là miền Nam rơi vào tay họ. Bởi vậy tôi vẫn nghĩ phải có chiếc xe cái đã, một Quốc Hội được đa số dân chúng đi bầu, đến lúc đó hãy tính xa hơn. Mọi dự đoán trước theo tôi là quá sớm.
Nguyệt san Sinh Viên Y Khoa Tình Thương số 29:
Ðăng trọn vẹn cuộc phỏng vấn 96 phút với Thượng Tọa Thích Trí Quang
ngày 5 Tháng Năm, 1966 tại chùa Từ Ðàm, Huế. [Tư liệu Ngô Thế Vinh]

Một Quốc Hội khó khăn
Khi đề cập tới những khó khăn của một Quốc Hội sắp tới: Cộng Sản, chính quyền hiện tại và người Mỹ; Thượng tọa cho rằng:

-Hơn ai hết, người dân quê Việt Nam đã có kinh nghiệm Cộng Sản là thế nào rồi và họ biết rõ ai là Cộng Sản ai không. Bởi vậy không đáng lo ngại sự xâm nhập của Việt Cộng vào Quốc Hội.

Còn về phía chính quyền, Phật Giáo đã giữ đúng lời hứa và để cho chính quyền có cơ hội thực hiện lời cam kết của mình với dân chúng về vấn đề Quốc Hội. Nếu là một chính quyền thiện chí họ hãy tỏ thiện chí đó trong việc đi tới một Quốc Hội. Nếu chính quyền phản bội thì không những lịch sử sẽ phán xét họ mà chính dân chúng sẽ có ngay phản ứng. Việc duy trì chính phủ hiện thời cho tới ngày bầu Quốc Hội cũng là một cách để những tướng lãnh phản bội âm mưu phá hoại không có cơ hội lẩn tránh hèn nhát những trách nhiệm mà họ gây ra trước lịch sử.

Còn người Mỹ thực tâm muốn miền Nam có một Quốc Hội hay họ muốn ngăn cản, điều đó chưa thể đo lường được, nhưng điều quan trọng là chúng ta phải tin ở mình và không nên có những hành động làm cho người Mỹ khiếp sợ.

Các tướng lãnh sau Quốc Hội

Khi đề cập đến vai trò các tướng lãnh hiện thời và sau ngày có Quốc Hội, Thượng Tọa Trí Quang nhận định:

Nào là tình trạng chiến tranh, nguy cơ của Cộng Sản, các tướng lãnh kêu gọi dân chúng, tôn giáo, đảng phái phải đoàn kết thì chính họ lại chia rẽ hơn ai hết. Họ tranh giành quyền hành, thanh toán nhau vì quyền lợi và loại dần những tướng lãnh có công khác. Nhưng trước sự chống đối của dân chúng, trước hiểm họa đe dọa họ liên kết chặt chẽ hơn ai hết để bảo thủ quyền lợi và lũng đoạn dân chủ. Bởi vậy mối băn khoăn chính của nhiều người là làm sao trả họ về vị trí thuần túy quân sự, gây lại sức mạnh uy tín và kỷ luật quân đội cùng phục hồi danh dự cho những tướng lãnh có công khác. 

Hiện thời người ta phải chứng kiến một trung ương các tướng lãnh chỉ âm mưu thanh toán nhau để tự đi đến chỗ đào thải. Tại các địa phương dân chúng vẫn dành nhiều cảm tình cho các tướng lãnh trong sạch có công với Cách Mạng Tháng Mười Một. Như Trung Tướng Ðính được dân chúng miền Trung chấp nhận cũng ở trong trường hợp đó.

Với người Mỹ

Cuộc tranh đấu cho Quốc Hội vừa qua có pha mùi Bài Mỹ khiến cho nhiều e ngại và tự đặt ra nhiều giả thuyết về sự lợi dụng của Cộng Sản. Với vai trò của người Mỹ ở Việt Nam, Thượng tọa Trí Quang cho rằng:

Sau cuộc cách mạng 63, người Mỹ được hưởng ở Việt Nam vô số lợi lộc: gia tăng gấp bội quân số, chiếm được những căn cứ tốt như Ðà Nẵng, Cam Ranh; được thêm cả nước Thái Lan. Không chắc người Mỹ thực tâm muốn chống cộng tại Việt Nam, họ muốn duy trì Cộng Sản, duy trì cuộc chiến tranh này để thủ lợi. Vì nếu thực tâm người Mỹ muốn, họ có thể làm khá hơn nhiều cục diện bây giờ bằng cách trợ giúp Việt Nam vừa chống cộng vừa xây dựng những căn bản dân chủ hơn là nâng đỡ những chính phủ tay sai. Ðiển hình là vụ Ðà Nẵng vừa qua.

Một trường hợp Ðà Nẵng

Theo thượng tọa thì nhờ phước ông bà mới không xảy ra vụ đổ máu tại Ðà Nẵng. Ngoài trách nhiệm lỗi lầm của ông Kỳ trước lịch sử còn những trách nhiệm lớn lao của Mỹ. Việc người Mỹ sử dụng những chiếc C130 để chở những tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến và xe tăng ra đàn áp phong trào dân chúng đấu tranh tại miền Trung là một lỗi lầm không thể tha thứ, thượng tọa nói:

Chỉ cần một chút nữa là xẩy ra đổ máu lớn lao với trách nhiệm nặng nề về phía người Mỹ. Lịch sử Mỹ Thế Kỷ Hai Mươi sẽ có ba vết nhơ: ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản, đàn áp nền Cộng Hòa San Domingo và vết nhơ thứ ba là vụ Ðà Nẵng.

Một chính phủ Phật Giáo

Khi nhắc tới nhận định của Tuần Báo Newsweek cho rằng sở dĩ Thượng Tọa Trí Quang đòi bầu cử gấp rút một Quốc Hội vì ông tin rằng tổ chức Phật Giáo sẽ thắng thế trong cuộc bầu cử đó và chính phủ tương lai sẽ là một chính phù Phật Giáo với bàn tay chi phối trực tiếp của chùa chiền, Thích Trí Quang đã phủ nhận mạnh mẽ ý kiến đó và bày tỏ rằng:

Quan niệm đó không những không có lợi gì mà còn làm mất Danh Dự của Phật Giáo. Tôi hoàn toàn không mong muốn như vậy. Kinh nghiệm cho thấy với những chính phủ tạm thời dù được hậu thuẫn của tôn giáo này hay tôn giáo khác chỉ cần những cuộc biểu tình vài trăm người cũng đủ sụp đổ. Như một chính phủ thành lập do hậu thuẫn của Phật Giáo sẽ gặp ngay những khó khăn với các tôn giáo bạn, không làm được việc gì mà chính Phật Giáo lại mang tiếng. Bởi vậy Phật Giáo không bao giờ muốn tái diễn nhưng lỗi lầm của thời ông Diệm.

Tranh đấu cho Quốc Hội, Phật Giáo chỉ muốn xây dựng một cái gì thực sự cho quốc gia dân tộc trong đó không phải chỉ có những Phật tử mà là cả những thành phân Tôn giáo bạn và các tầng lớp dân chúng.

Quốc Hội, chính phủ sẽ không đại diện cho một ưu thế riêng nào mà là đại diện xứng đáng của dân chúng.


Thầy Tuệ Sĩ viếng Thượng Tọa Thích Trí Quang.

Chiến tranh tôn giáo

Rối loạn Tháng Tám, năm 1964, với những vụ thảm sát trong thành phố vẫn lá ám ảnh đen tối trong đầu óc nhiều người. Sự cọ xát giữa hai tôn giáo trong những ngày gần đây làm thức dậy nỗi ám ảnh đó. Viễn tượng một cuộc chiến tranh tôn giáo đã được một số báo chí e ngại nhắc tới. Theo ý thượng tọa sự thật sự đe dọa đó như thế nào.

Thích Trí Quang cho rằng:

-Sự e ngại đó quá đáng và không thể nào có. Những đáng tiếc hồi Tháng Tám là do âm mưu của Nguyễn Khánh, hoàn toàn ngoài ý muốn của các vị lãnh tụ Tôn giáo. Khi phải tiếp xúc với những vị lãnh đạo tôn giáo bạn, tôi có nói rằng chẳng thà thực sự có một cuộc chiến tranh tôn giáo vì quyền lợi hai phía; nhưng mâu thuẫn quyền lợi đó hoàn toàn không có. Bởi vậy không vì lý do gì để xảy ra những điều đáng tiếc mà nguyên nhân chỉ tại một anh tướng Kaki đứng ở giữa.

Tín đồ hay công dân

Việc tiến tới Quốc Hội Lập Hiến một cách nhanh chóng là công của Phật Giáo, nhiều người nghĩ như vậy. Ðó là điều mà Thượng Tọa Trí Quang không muốn.

Ông nói:

-Một phong trào đấu tranh có màu tôn giáo sẽ gặp nhiều khó khăn, tự nó gây ra những mặc cảm thắng bại nơi các tôn giáo bạn. Bởi vậy tôi vẫn muốn các phong trào tranh đấu dân chủ phát xuất tự quần chúng không mang màu sắc tôn giáo, nếu có lợi cho tổ quốc, Phật Giáo sẽ đứng sau hậu thuẫn. Trong cuộc xáo trộn vừa qua, khi gặp các đại diện Hội Đồng Ðô Thành, tôi có nói: quý vị là đại diện cho các tầng lớp dân chúng, nếu chính quý vị đứng ra tranh đấu cho Quốc Hội, Phật Giáo sẽ đứng sau ủng hộ quý vị. Và trong thâm tâm tôi mong muốn như vậy.

Sau khi tỏ ý không tin tưởng vào thực lực các đảng phái quốc gia, thượng tọa cho rằng vai trò tranh đấu cho tự do dân chủ chính là bổn phận của thanh niên sinh viên chứ không phải của Phật Giáo hay một tôn giáo nào.

Thượng tọa nói:

-Tôi hiểu rằng khi các anh em sinh viên tham dự cuộc tranh đấu chống ông Diệm năm 1963, anh em nhìn các vị thượng tọa hồi đó khác bây giờ. Tôi muốn được giữ nguyên cái nhìn lúc trước, bởi vậy tôi muốn Phật Giáo cũng như các tôn giáo bạn được trở về vị trí của mình. Phật Giáo bất đắc dĩ phải đứng ra lãnh đạo các cuộc đấu tranh là một điều tôi thấy rất chướng.

***

Niềm tin tất thắng

Trái hẳn với triết lý nhà Phật hiểu theo nghĩa thông thường là xuất thế và yếm thế, Thượng Tọa Thích Trí Quang mang khuôn mặt của một nhà tu hành mới: một Nhà-Sư-Dấn-Thân, dấn thân vào tất cả những biến động xã hội, dùng tất cả những uy tín và quyền năng sẵn có để lèo lái tới một cảnh đời thích hợp với sự phát triển của đạo giáo.

Với con mắt nhận xét tinh tế về thời cơ đúng lúc, với niềm kiêu hãnh cao độ về nhân cách Á Ðông của mình cộng thêm với tinh thần quốc gia cực đoan cố hữu, triết lý hành động kỳ lạ của Thích Trí Quang ở nơi niềm tin sắt đá về sự tất thắng trong mọi mưu lược tranh đấu. Tên ông đồng nghĩa với những âm mưu nhưng chính ông muốn đối thủ phải kính trọng cái nhân cách Á Ðông của mình nên mọi hành động của ông đều được báo trước.

Thượng tọa nói:

-Nhiều người gán cho tôi mối liên hệ mật thiết với ông Lodge, sự thật không có. Với ông Lodge hay Taylor (3) cũng vậy, mỗi lần tranh đấu tôi đều gặp, nói cho họ biết lập trường của Phật Giáo thế nào, còn người Mỹ muốn sao tùy họ. Tôi hành động đều có báo trước ít nhất là 24 tiếng. Như vụ tranh đâu gần đây tôi chỉ gặp ông Lodge có một lần, nói rõ lập trường của Phật Giáo về Quốc Hội. Ông ta nói Thượng tọa nên nghĩ lại. Tôi chỉ cười và trả lời đã nghĩ rồi. Có vậy thôi. Còn dư luận cho rằng ông Kỳ đã gặp tôi trước vụ hạ Trung Tướng Thi là hoàn toàn bịa đặt. Tôi chưa hề gặp ông Nguyễn Cao Kỳ một lần nào.

Lá vàng và gió lốc

Có lá vàng thì phải có gió lốc. Ðó là câu so sánh của Thượng Tọa Trí Quang với hiện tình người Mỹ và Cộng Sản:

-Lá vàng đó là Cộng Sản, và gió lốc chính là người Mỹ. Muốn chống Cộng thì phải cần tới người Mỹ, thế thôi. Ðối với tôi, những ảnh hưởng ngoại lai chỉ nên dùng như những phương tiện chứ bảo chấp nhận thì không.

Ðề cập tới sự nguy hiểm của Cộng Sản, ông nói họ không phải chỉ là những chiếc lá vàng làm nhớp nhà mà là những chiếc lá vàng có đóng đinh.

Vì khía cạnh chống Mỹ trong các phong trào tranh đấu vừa qua của Phật Giáo, có báo ngoại quốc cho rằng Thượng Tọa Trí Quang muốn đuổi Mỹ. Thượng tọa nói:

-Người Mỹ rất ngờ nghệch, họ không phân biệt được giữa Bài Mỹ và Chống Mỹ. Bài Mỹ là một thái độ thù ghét đương nhiên, dù người Mỹ có làm hay đến đâu cũng vẫn bị ghét bỏ, có khi lại còn thù ghét hơn. Trong khi Chống Mỹ là một thái độ phản kháng xây dựng. Bởi quan niệm hai người cùng ngồi trên một chiếc xe, thấy người kia lái bậy thì người nọ phải giành lấy mà lái nếu không muốn rớt xuống hố. Các phong trào vừa qua không mang tính chất bài Mỹ mà là chống Mỹ; chống Mỹ đã ngăn cản việc đi tới Quốc Hội, chống Mỹ đã hậu thuẫn những chính phủ tay sai thối nát, chống Mỹ đã giúp phương tiện đàn áp Ðà Nẵng.

Thì ra thái độ của thượng tọa là muốn cảnh giác người Mỹ. Cơn gió lốc phải được thổi đúng hướng, không phải làm bay những niềm tin mà là bốc sạch đám lá vàng có đóng đinh là Cộng Sản.

Chùa Từ Ðàm, Huế 05.05.1966

[Trích Nguyệt san Tình Thương, số 29, 1966]

Ghi chú:

1- Only Religions Count in Vietnam: Thich Tri Quang and the Vietnam War. James McAllister; Department of Political Science, Williams College, Williamstown, MA 01267

2- A Talk with Thich Trí Quang. McCulloch, James Wilde. Time Magazine, April 22, 1966 Ả Vol. 87 No.

3- Henry Cabot Lodge, Ðại sứ Hoa kỳ tại Việt Nam 1963-1964. Maxwell D. Taylor, Ðại sứ Hoa kỳ tại Việt Nam 1964-1965

4- Hành Trình Tình Thương. Trần Hoài Thư, Thư Quán Bản Thảo, số 74, Tháng 4, 2017

5- Phạm Ðình Vy, nguyên chủ nhiệm Tình Thương 1964-1967, bác sĩ Thủy Quân Lục chiến VNCH, sau tù cải tạo 3 năm vượt biển, sang định cư và hành nghề y khoa tại Pháp.

6- Hòa thượng Thích Trí Quang viên tịch, thọ 96 tuổi – VOA 9.11.2019
https://www.voatiengviet.com : tu-dam-hoa-thuong-thic…


Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013



TÔI ĐỌC LỮ GIANG
"Vọng ngữ: Con đường giải thoát?"

 
Trần Tiên Long


Đọc bài Vọng ngữ: Con đường giải thoát? của tác giả Lữ Giang, người ta có thể dễ dàng nhận ra ngay được mục đích của bài viết là chỉ để đánh phá Phật giáo bằng những nhận thức rất chủ quan qua lăng kiếng của một con chiên theo kiểu suy diễn từ tôn giáo ta ra tôn giáo người. Tác giả là một “tên Cuồng Đồ Cuồng Tín Cần Lao Thiên Chúa Giáo” (chữ của ông Hoàng Anh Tuấn) nên tất cả những kết án trong bài đều có thể được tìm thấy đầy dẫy trong Thiên Chúa giáo. Từ nhãn quan đặc thù Thiên Chúa giáo đó, tác giả đã đi đến những sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức để đi đến một kết luận phù hợp theo thành kiến chủ quan.

Thực vậy, ngay cái tên Vọng ngữ: Con đường giải thoát? của bài viết cũng đã cho chúng ta biết tác giả Lữ Giang đang cố tình gán ghép những điều không có trong giáo lý Phật giáo. Bằng những chứng cớ không minh bạch, cố tình bẻ cong các sự kiện, và các thí dụ khập khiểng cũng như những lập luận đầu Ngô mình Sở, tác giả đã vụng về biện minh cho điều mà tác giả cố ý đang xuyên tạc, rằng chính vọng ngữ là con đường giải thoát của Phật giáo. Kết quả của âm mưu đánh phá Phật giáo này đã đạt được một phần nào như ý muốn, ít ra có thể nhận thấy ở một vài nhà trí thức Công giáo. Chẳng hạn, bà Bác sĩ Tiến sĩ Trưng Triệu Nguyễn Thị Thanh thì khen rằng “Hết lòng cám ơn bài viết quá đúng, quá hay, bài viết thật tuyệt vời”, rồi lại “Xin Thiên Chúa trả công xứng đáng và chúc phúc lành cho anh Lữ Giang.”, làm như chuyện các con chiên đánh phá một tôn giáo bạn là có công phúc được Chúa ban ơn chúc lành, trong khi ở chỗ khác thì họ đang hô hào hòa giải liên tôn. Hoặc ông Nguyễn Đình Hoài Việt và nhiều con chiên khác thì vỗ tay bốc thơm, rằng “Bài viết rất có giá trị về nội dung…”.

Trước khi đi vào phần chứng minh những điều trên, người viết xin minh xác rằng người viết chưa hề quen biết tác giả Lữ Giang và tất cả những nhân vật hoặc các phe nhóm liên hệ trong bài viết của tác giả LG. Bài viết này hoàn toàn được dựa trên những gì tác giả LG đã viết và được chuyển vào trong các diễn đàn, nên đây chỉ là những nhận định cá nhân của một đọc giả bàng quan, không phải để biện minh cho bất cứ ai hay phe nhóm nào.

Sau đây, người viết sẽ lần lượt chứng minh những gì người viết đã khẳng định ở trên qua những tiết mục sau:

● Treo đầu dê, bán thịt chó.
● Những bằng chứng vu vơ.
● Cái xà trong mắt của Lữ Giang.
● Vọng ngữ trong Thiên Chúa giáo.
● Những con số vô nghĩa.

 


Người viết vốn bị tò mò bởi cái tựa của bài viết. Con đường giải thoát là một đề tài rộng lớn và chính yếu trong Phật giáo, cũng giống như con đường cứu rỗi trong Thiên Chúa giáo. Đó là một hệ thống triết lý bao trùm tất cả và là mục đích cuối cùng của những kẻ tầm đạo. Nhưng người viết thật thất vọng sau khi đã đọc xong bài viết, vì đó chẳng phải là điều tác giả LG muốn bàn tới.

Điều mà tác giả LG viết ngay ở đầu bài rằng:

Trong bài “Nghiệp kéo đến như bánh xe lăn… phổ biến ngày 25.4.2013, chúng tôi có viết rằng từ năm 1963 đến nay, tức trong 50 năm qua, một số người đã nghĩ rằng có thể "cứu" Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang bằng hai cách, cách thứ nhất là đánh phá Công Giáo để đánh lạc hướng dư luận và cách thứ hai là dùng VỌNG NGỮ (Wrong speech) để “hóa giải” hay “giải nghiệp”. Hôm nay chúng tôi thấy cần nói rõ hơn: Mục tiêu của hai chiến thuật đó là gì? Nó đã được theo đuổi trong suốt 50 năm qua và trong tương lai nó sẽ còn được kéo dài đến bao lâu nữa? Xử dụng hai chiến thuật đó có đem lại “con đường giải thoát” cho Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang hay không?”.

thì không liên quan gì đến cái tựa mà tác giả đã khẳng định phía trên, bởi lẽ hóa giải hay giải nghiệp chắc chắn không phải là giải thoát. Giải thoát là chấm dứt, toàn vẹn, triệt để; trong khi hóa giải hay giải nghiệp là chỉ để áp dụng cho một sự việc, một biến cố riêng lẻ, một phần rất nhỏ của giải thoát. Có lẽ đã biết được điều này nên trong câu cuối cùng của đoạn vừa trích dẫn, tác giả đã để “con đường giải thoát” trong hoặc kép, điều mà ông nên làm ở ngay cái tựa của bài, ngụ ý phải hiểu theo nghĩa bóng.

 
Bởi vậy, chúng ta thấy những thí dụ mà tác giả LG đã mang ra bàn đều là những biến cố lẻ loi của những cá nhân riêng lẻ để hóa giải, nếu có, không phải để giải thoát. Như vậy, nội dung toàn bài là tác giả bàn về hóa giải, không phải về giải thoát như đã khẳng định ở tựa của bài viết. Đây chính là một xảo thuật ngụy biện treo đầu dê bán thịt chó. Tác giả đã treo giải thoát nhưng lại bán hóa giải hay giải nghiệp.

Ngoài ra, tác giả Lữ Giang đã không mấy lương thiện khi cố tình biến một người lẻ loi để bao gồm toàn thể các nhà lãnh đạo Phật giáo khi ông gom chung “một” vào “tất cả” trong đoạn văn sau:

Ngay từ giai đoạn đầu, khi mới phát động cuộc tranh đấu, cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã báo cáo rằng các nhà lãnh đạo Phật giáo muốn “thiết lập một chế độ giáo quyền lãnh đạo thế quyền ở Nam Việt Nam” (he would like to establish a theocracy in South Vietnam).

[Intelligence Information Cable, TDCS 314/02342-64. Aug. 28, 1964. 8 p.]”(Hết trích)

 
Chúng ta hãy chú ý những chữ người viết đã cố tình tô đậm ở trên. Đại danh từ “he” trong tiếng Anh là để chỉ một người ở số ít, có thể được dịch là nó, hắn, ông ấy, hoặc ngài; trong khi tác giả LG lại dịch là “các nhà lãnh đạo Phật giáo” để chủ ý gài cả một tôn giáo vào trong cuộc. Câu tiếng Anh trong ngoặc đơn rõ ràng là về một người riêng biệt, đơn lẻ, không phải nhiều người như các nhà lãnh đạo Phật giáo mà tác giả LG đang cố gắng xuyên tạc. Tác giả đã để ý chính của đoạn văn trong ngoặc kép, kèm theo câu tiếng Anh trong ngoặc đơn, thì rõ ràng đó chính là một đoạn dịch, không phải một ý kiến riêng của tác giả.

 
Nhưng sự trí trá của tác giả còn tuyệt chiêu hơn nữa khi ông không những cố tình diễn dịch sai mà còn không chịu trích dẫn toàn câu văn, chủ ý vất bỏ ý chính của đoạn văn, cái ý mà ông cố tình giấu. Thực ra, ý chính của bản báo cáo mật mà tác giả LG trích dẫn đã khẳng định rằng

“Trí Quang không phải là Cộng sản; ông ấy muốn thiết lập một nền chính trị thần quyền ở Nam Việt Nam.” (assessment is that Tri Quang is not a Communist; he would like to establish a theocracy in South Vietnam). [1]

Đó là sự khẳng định của CIA vào ngày 27 tháng 8 năm 1964 khi họ phân tích về thắc mắc liệu Thích Trí Quang có phải là Cộng sản, về tư cách, và về những mục tiêu theo đuổi của ông Trí Quang. Chữ “he” mà tác giả LG đã cố tình dịch sai là “các nhà lãnh đạo Phật Giáo” thì thật ra chính là để chỉ một mình con người Thích Trí Quang, không phải bất cứ một ai khác.

 

Những bằng chứng tác giả LG mang ra đều thuộc nguồn thứ yếu (secondary source), vu vơ, không có mấy giá trị nếu sánh với những bằng chứng chính yếu (primary source). Những trích dẫn lời nói của hòa thượng này, hòa thượng nọ là những thứ “nghe nói” (hearsay), không có mấy giá trị, thuộc loại thứ yếu. Những trích dẫn có nguồn gốc từ bản tường trình của CIA, có thể được liệt kê vào hàng chính yếu, thì có giá trị hơn những lời nói vu vơ. Tuy nhiên, tác giả LG đã xuyên tạc và trí trá trong việc ông trình bày những bằng chứng chính yếu này như đã bàn ở trên.

Còn nữa, những bằng chứng mà tác giả LG đã mang ra để chứng minh lại chẳng liên quan gì tới vọng ngữ, điều mà tác giả đang cố gắng chứng minh.

 
Chẳng hạn, cho dù nếu “các nhà lãnh đạo Phật giáo muốn “thiết lập một chế độ giáo quyền lãnh đạo thế quyền ở Nam Việt Nam” thì chắc chắn đó không phải là một vọng ngữ để đem ra bàn. Ý muốn có một “chế độ giáo quyền” như thế nào là quyền tự do của mỗi người, không phải là vọng ngữ mà tác giả đang cố gắng chứng minh. Đó chỉ là một quan điểm hay thái độ chính trị hoàn toàn hợp pháp, mặc dù có thể cực đoan, không hợp lý ở cái thời điểm đó. Ở Mỹ, Công giáo hay Tin lành lúc nào cũng đang cố gắng có những hoạt động chi phối chính quyền, nhất là trong kỳ bầu tổng thống năm vừa rồi (2012). Đó là chuyện bình thường hằng ngày ở huyện ở trong bất cứ một quốc gia dân chủ nào.

Hoặc, cho dù ý kiến hay nhận định về chính trị của hòa thượng này (HT Thích Hộ Giác) có đối nghịch với nhận định hay ý kiến của hòa thượng kia (Phật giáo Ấn Quang), ở hai thời điểm và hoàn cảnh hoàn toàn khác nhau, thì cũng chẳng phải là vọng ngữ. Tác giả trưng ra như vậy mà không biết rằng Công giáo thì chống Cộng triệt để và Giáo hội còn đe dọa rút phép thông công những người tín hữu nào hợp tác với Cộng sản; nhưng người viết đã từng chứng kiến nhiều nhà thờ đã giăng biểu ngữ chào mừng quân đội giải phóng sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Còn ngày nay, Hội Đồng Giám Mục VN và Vatican đang đối xử với chính quyền CHXHCNVN như thế nào thì đã quá rõ ràng, hiển nhiên hằng ngày trước mắt, khỏi cần phải bàn thêm chi tiết.

Hoặc nữa, tác giả viết rằng:

          “Để thực hiện mục tiêu đó, CIA nói rõ:
Kể từ năm 1963, các Phật Giáo đấu tranh luôn luôn chống lại chế độ hiện hữu tại Nam Việt Nam, rõ ràng là không quan tâm đến các nhân vật hay vấn đề liên hệ.” [LBJ Library, Mendatory Review, Case # NLJ 92465, Document # 27, p. 9 - 10.]” (Hết trích)

Người viết không tìm được nguồn tin trích dẫn trên, nhưng nhận ra nó cũng chẳng liên quan gì tới vọng ngữ mà tác giả đang cố gắng chứng minh. Việc ủng hộ một nhân vật, một đảng phái, hay cả một chính quyền tùy theo một yếu tố đơn lẻ là chuyện bình thường, một quyền bất khả phủ bác của mọi người dân. Nếu theo dõi diễn tiến chính trị ở Hoa Kỳ, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra đã có vô số những người bỏ phiếu dựa trên một vấn đề riêng biệt, được gọi là bỏ phiếu chỉ vì một vấn đề duy nhất (one-issue voter), chẳng hạn như dựa trên ứng cử viên là Công giáo hay Tin lành, hoặc ứng cử viên chống hay ủng hộ phá thai, hoặc chống hay ủng hộ việc kết hôn của những người đồng tính luyến ái… Đó chắc chắn chẳng phải là vọng ngữ.

Cho dù là vậy, người viết còn tìm thấy một khẳng định của CIA hoàn toàn đối nghịch với câu mà tác giả LG đã trích dẫn ở trên:

“Được báo cáo là Phật tử đang có kế hoạch thiết lập một chính phủ bao gồm một Quốc hội được tuyển chọn bởi các Hội đồng Tỉnh để thảo hiến pháp và tổ chức tổng tuyển cử. Được báo cáo là ông Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương Kỳ và ông Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia Thiệu đã đồng ý phân nửa để thay thế Hội đồng Tư vấn Xây dựng Dân chủ bằng một Quốc hội. Phật tử không ủng hộ việc lật đổ hay sự từ chức của chính phủ hiện tại bởi vì một chế độ quân sự có thể sẽ lên thay thế.” [2]

[the Buddhists reportedly have plans to install a new government composed of a national assembly, selected by provincial councils, which would write a constitution and organize general elections. PM Ky and Head of State Thieu have reportedly "half agreed" to abandon the present Advisory Council for Building Democracy in favor of a national assembly. Buddhists do not favor a coup or resignation of the present government because a military regime might replace it] [2]

Như vậy, những bằng chứng tác giả LG mang ra để cố gắng chứng minh Phật giáo Ấn Quang xử dụng vọng ngữ như là một con đường giải thoát thì chỉ là vu vơ, không chứng minh được điều gì, và nhiều khi còn hoàn toàn mâu thuẫn với những bằng chứng chính yếu của CIA mà tác giả đã cố tình xuyên tạc khi trích dẫn.

 


Người viết còn nhớ tác giả Lữ Giang đã từng tuyên bố rằng làm báo thì phải xạo. Lời tuyên bố này đã được nhiều người trình bày lại trong các diễn đàn. Ý tưởng thường dẫn dắt hành động. Một ý tưởng như vậy chắc chắn phải là kim chỉ nam trong các bài viết của tác giả cho sự nghiệp làm báo hơn 40 năm qua.

Ngoài những điều gian dối cố ý khi tác giả trích dẫn như đã trình bày ở trên, người viết xin trưng ra một bài viết cũ, ngày 15 tháng hai năm 2013, liên quan đến vấn đề này:

 
Sự Lương Thiện Của Ông Lữ Giang

Kính thưa quí đọc giả,

Tôi thật sự không ngờ một vị cựu thẩm phán đã từng cầm bút cả hơn 40 năm nay, một trí thức Ca-tô đã từng có vô số bài viết trong các diễn đàn Công giáo như ông Lữ Giang mà lại dám viết những điều vu khống một cách trắng trợn như vậy. Về những điều vu khống đó, tôi đã có những bài phản biện, chẳng hạn như bài Một Sự Lừa Đảo Đáng Sợ, gửi vào diễn đàn ngày 2-2-2013, liên quan tới lời tố giác của Linh mục Juan Carlos Martos mà các con chiên điển hình như các ông Lữ Giang và Duyên Lãng Hà Tiến Nhất đã tung vào diễn đàn hoặc đã phụ họa bàn tới, và bài Một Thách Thức Cho Tác Giả Lữ Giang, gửi vào diễn đàn ngày 11-2-2013. Cho tới giờ này, tôi vẫn chưa nhận được bất cứ một bài phản bác nào của bất cứ ai về những gì tôi đã viết. Riêng bài tôi viết để thách thức ông Lữ Giang trong đó có đoạn như sau:

Ông Lữ Giang viết:

“Mấy ngày qua tôi thấy bà đang thậm thụt với Trần Tiên Long, một biên tập viên chính của nhóm Giao Điểm, để xuyên tạc Công Giáo.”

Vậy nếu ông là một người lương thiện, có lương tâm của một người Công Giáo, cái tôn giáo mà ông vẫn thường biện giải và bênh vực tích cực, thì xin ông hãy trưng ra bằng chứng công khai với công luận, để chứng minh rằng:

1. Tôi, Trần Tiên Long, đang là một biên tập viên chính của nhóm Giao Điểm.

2. Và tôi, Trần Tiên Long, đã xuyên tạc Công Giáo ở chỗ nào.

Nếu ông không có bằng chứng để chứng minh điều ông đã viết thì tôi chỉ cần ông xin lỗi một lời công khai là đủ.” (Hết trích)

Như vậy, rõ ràng tác giả Lữ Giang không phải là mẫu người lương thiện muốn đối thoại ngay thẳng mà tôi đang mong đợi. Không những vậy, ông vẫn còn tiếp tục vu khống một cách vô trách nhiệm đối với những tác giả khác mà tôi chẳng có thích thú để bàn thêm.

 
Riêng trong bài Khi mặt nạ bị rơi xuống! này, ông Lữ Giang đã dành một phần lớn để bàn về “Catholic: Công Giáo hay Thiên Chúa Giáo?” Đó là chuyện của ông LG. Nhưng khi ông mang bài của tôi, bài Ki-tô Giáo Hay Thiên Chúa Giáo, ra để chỉ trích thì ông lại không trình bày được tôi sai ở điểm nào. Ông chỉ nói theo kiểu khơi khơi là tôi cương bừa để vu khống mà không cho đọc giả biết tôi vu khống những gì, ở điểm nào. Những gì ông viết về danh xưng Công giáo thì chỉ có tính khoe khoang kiến thức và hù dọa thiên hạ vì nó hoàn toàn nằm ngoài chủ đề của bài tôi viết, chứ chẳng phản biện được bất cứ chỗ nào.

Vậy xin chuyển lại cái link của bài Ki-tô Giáo Hay Thiên Chúa Giáo? vào diễn đàn để đọc giả nhận ra rằng ông Lữ Giang đang phản biện lạc đề như thế nào.

Trân trọng,
Trần Tiên Long
Havelock, NC, 15 February 2013

Ki-tô Giáo hay Thiên Chúa Giáo?

Trần Tiên Long
11-Feb-2013

Như vậy, tác giả LG đang trông thấy cái rác nhỏ xíu, mặc dù chưa phải là rác, của thiên hạ rất rõ ràng nhưng lại không thấy được cái xà to tướng trong mắt của tác giả.

 


Dù không phải là một Phật tử, người viết có thể minh xác được rằng chẳng có kinh sách Phật pháp nào dạy con người dùng vọng ngữ như là một con đường để giải thoát. Tuy nhiên, giáo lý Thiên Chúa giáo lại công khai dạy và khuyến khích tín đồ gian dối để làm vinh danh Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao chúng ta không cần phải ngạc nhiên khi những con chiên như tác giả LG đã vọng ngữ nhiều lần mà không thấy lương tâm áy náy, hoặc ngạc nhiên vì một tôn giáo chuyên cổ vũ từ bi bác ái nhưng lại phải xưng thú 7 núi tội ác đối với đồng loại.

 
Thực vậy, chính thánh Phao-lô, tác giả đóng góp số lượng lớn nhất của cuốn kinh Tân ước, cuốn kinh mà người tín hữu xem đó như là sự linh ứng nhiệm màu và là lời của Chúa toàn năng, và là tác giả đã đặt nền móng cho Thiên Chúa giáo, đã dạy người tín hữu như sau:

Nhưng nếu sự giả dối của tôi làm cho thấy rõ hơn Thiên Chúa là Đấng chân thật, và như vậy càng tôn vinh Người, thì tại sao tôi lại còn bị kết án là kẻ tội lỗi?” (For if the truth of God hath more abounded through my lie unto his glory; why yet am I also judged as a sinner?) (Romans 3:7)
 
  Như vậy, mục đích làm vinh danh Thiên Chúa, đối với những người tín hữu Thiên Chúa giáo, có thể biện minh đầy đủ cho mọi phương tiện, kể cả một phương tiện vô đạo như là việc gian dối hay vọng ngữ. Đó mới đích thực là vọng ngữ. Hơn nữa, những sai lầm khác có thể tìm thấy đầy dẫy trong hai cuốn kinh Tân ước và Cựu ước cũng chính là những vọng ngữ mà Thiên Chúa giáo đã và đang cố tình theo đuổi trong suốt hơn 2,000 (2 ngàn) năm nay.

Đọc qua câu kinh thánh được trích dẫn trên, chúng ta sẽ không còn ngạc nhiên khi nhận ra rằng tại sao công việc làm vinh danh Thiên Chúa là một công việc đứng hàng đầu trong mọi công việc của người tín hữu Công giáo. Chứng minh?

Thưa, kinh Lạy Cha là kinh quan trọng nhất trong mọi kinh của Công giáo mà bất cứ người tín hữu nào cũng đều thuộc lòng. Mở đầu của câu kinh là “Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, vâng ý Cha dưới đất cũng như trên trời…” Hoặc nữa, kinh Sáng Danh hoàn toàn chỉ để mục đích làm rạng danh Thiên Chúa: “Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, như đã có trước vô cùng và bây giờ và hằng có đời đời, chẳng cùng. Amen”.

 

Tác giả LG đưa ra con số thống kê 2,1 tỷ người theo Ki-tô giáo để biện minh cho sự chân thật của một tôn giáo mà không lý gì đến ý nghĩa thực sự của những con số đó, cũng như xu hướng bỏ đạo và phẩm chất của đám người đó. Đấy cũng là một kiểu cách lập luận ngụy biện dựa theo con số đông thường bắt gặp ở một số con chiên trong các diễn đàn.

Trong thực tế, con số 2,1 tỷ người là hệ quả tất yếu còn sót lại của một hoàn cảnh khi toàn cõi Âu Châu đều thuộc về Thiên Chúa giáo. Nhưng ngày nay, tình trạng này đã hoàn toàn thay đổi đến nỗi Giáo Hoàng John Paul II đã phải đau đớn thú nhận rằng người Âu Châu hiện đang sống như không cần Thiên Chúa.

 
Bởi vậy, trong bài viết Tại Sao Tôi Không Phải Là Người Thiên Chúa Giáo, Bertrand Russell đã phải loay hoay trong việc định nghĩa thế nào là người Thiên Chúa giáo (Christians). Thường trong dân gian, người ta vẫn cho rằng người Thiên Chúa giáo là những kẻ cố gắng sống một đời sống tốt lành. Nhưng chúng ta lại biết những người theo các tôn giáo khác cũng đang cố gắng làm điều đó, kể cả người Hồi giáo, Phật giáo, và Ấn giáo. Như vậy, con số thống kê này không còn có ý nghĩa của một sự kiện thực tế, rằng họ không phải là người Thiên Chúa giáo thực sự theo đúng nghĩa của Thiên Chúa giáo.

 
Vậy người Thiên Chúa giáo là ai? Tiêu chuẩn nào hay những điều kiện nào cần có và đủ để được gọi là người Thiên Chúa giáo? Theo Russell, họ là những người phải có ít nhất hai niềm tin: thứ nhất là tin có một Thượng đế sáng tạo và sự trường cửu của linh hồn nên phải có thiên đàng và địa ngục, những nơi mà con người phải đến để sống đời đời sau khi chết; thứ hai là tin Giê-su chính là Chúa Ki-tô. Bằng vào hai niềm tin tối thiểu và căn bản này, Russell đã khẳng định lý do tại sao ông không phải là người Thiên Chúa giáo. Và chính Giáo hoàng John Paul II cũng đã từng tuyên bố rằng không có thiên đàng ở trên chín từng mây và cũng chẳng có địa ngục ở trong lòng đất, nghĩa là ngài giáo hoàng chẳng có niềm tin thứ hai là tin có thiên đàng và địa ngục như là những nơi chốn mà linh hồn sẽ phải tới để sống đời đời sau khi chết như giáo lý Công giáo đã dạy từ hơn 2,000 năm nay. Thiên đàng hay địa ngục chỉ là những trạng thái của tâm hồn, chứ chẳng phải là những nơi chốn vật lý. [3] Vậy có lẽ Giáo hoàng John Paul II cũng không phải là người Thiên Chúa giáo nếu theo định nghĩa của Russell.

 
Ngoài ra, nghiên cứu thống kê của PEW ngày 25 tháng 2 năm 2008 cho biết số người bỏ Thiên Chúa giáo càng ngày càng tăng nhanh, và Công giáo có số tín đồ bỏ đạo cao nhất. Ở Mỹ, Công giáo chiếm tỉ lệ 31% nhưng hiện có tới 76% người Công giáo bỏ đạo. Chỉ có chừng 24% còn nhìn nhận họ là người Công giáo. (Nguồn: http://pewresearch.org/pubs/743/united-states-religion ). Đó là xu hướng đang thay đổi của một thực tại mà ít người Thiên Chúa giáo chịu nhìn nhận.

Nhưng cho dù là vậy, nhiều khi phẩm chất lại còn quan trọng hơn số đông. Ở Mỹ, có đến 90% dân chúng tin Thượng đế hiện hữu, cho dù khái niệm Thượng đế có như thế nào. Nhưng trong nhóm những người có học thức cao, con số tỉ lệ đó giảm xuống còn 40%, dưới mức trung bình. Nếu xét riêng tập thể của những nhà khoa học danh tiếng, con số tỉ lệ đó còn giảm xuống ở mức đáng ngạc nhiên hơn nữa.

 

 
Một cuộc nghiên cứu thăm dò của Larson và Witham, được đăng trong tạp chí Tự Nhiên (Nature) năm 1998, ghi nhận rằng chỉ có 7% những nhà khoa học Mỹ có tên trong hội Hàn lâm Khoa học Quốc gia (National Academy of Sciences) là tin vào một Thượng đế có nhân tính; nghĩa là có đến 93% các nhà khoa học là những người vô thần. [4] Như vậy, con số tỉ lệ của những nhà khoa học hữu thần hiện có khuynh hướng giảm dần theo thời gian: từ 29% năm 1914 xuống 15% năm 1933, và chỉ còn 7% năm 1998. [5]

 
Richard Dawkins tìm thấy một trang báo điện tử duy nhất liệt kê những nhà khoa học Thiên Chúa giáo thắng giải Nobel (Nobel Prize-winning Scientific Christians). Trang báo chỉ trưng ra được 6 khoa học gia trong số nhiều trăm khoa học gia đã thắng giải. Nhưng sau khi xem xét kỹ lưỡng, Dawkins nhận thấy 4 trong 6 vị đó chưa bao giờ thực sự thắng giải, và một vị, theo sự hiểu biết chắc chắn của Dawkins, là người-không-tin (non-believer) vì chỉ đi nhà thờ để thoả mãn nhu cầu giao tế xã hội. [6]

 
Một nghiên cứu có hệ thống của Benjamin Beit-Hallahmi còn ghi nhận rằng, “trong số những người thắng giải Nobel ở các lĩnh vực khoa học và văn chương, có một mức độ vô tín ngưỡng rõ rệt (remarkable degree of irreligiosity) sánh với đại chúng mà họ xuất phát”. [7]

Tại Anh vừa có một cuộc nghiên cứu thăm dò về niềm tin của những khoa học gia trong hội Hoàng gia (Royal Society). Hội Hoàng gia này, tương đương với hội Hàn lâm Khoa học Quốc gia ở Mỹ, có uy tín và thẩm quyền tối cao trong lĩnh vực khoa học. Mặc dù cuộc nghiên cứu đã hoàn chỉnh nhưng kết quả hiện chưa được công bố chính thức. Elisabeth Cornwell và Michael Stirrat, là hai đồng nghiệp của Dawkins, đã cho phép Dawkins tóm tắt kết quả nghiên cứu trong cuốn sách của ông, “The God Delusion”, mới xuất bản năm 2006. Trong tất cả 1,074 khoa học gia của hội Hoàng gia (Fellows of the Royal Society) được gửi câu hỏi qua điện thư, có 23% khoa học gia đã trả lời. Đây là một con số tỉ lệ tương đối cao nếu so sánh với các cuộc nghiên cứu thăm dò khác. Trong bản thăm dò, để trả lời cho câu hỏi ông có tin một Thượng đế có nhân tính (personal God) tồn tại hay không, người trả lời phải chọn 1 trong 7 nấc thang tuỳ vào mức độ tin nhiều hay ít. Hoàn toàn tin thì số 7, còn hoàn toàn không tin thì số 1. Có 3,3% chọn số 7, nghĩa là hoàn toàn tin; và 78,8% chọn số 1, nghĩa là hoàn toàn không tin. Nếu định nghĩa những người vô thần là những người chọn số 1 và số 2, còn những người hữu thần là những người chọn số 6 và số 7, thì kết quả có 213 khoa học gia vô thần và 12 khoa học gia hữu thần. Như vậy, con số tỉ lệ của những khoa học gia vô thần của hội Hoàng Gia tại Anh quốc còn cao hơn con số tỉ lệ của hội Hàn lâm Khoa học Quốc gia ở Mỹ. Kết quả còn cho thấy có một khuynh hướng, mặc dù nhỏ nhưng lại có nhiều ý nghĩa, rằng những nhà sinh vật học thì vô thần hơn những nhà vật lý học. [8]

 
Kết quả của các cuộc nghiên cứu thăm dò nêu trên đã xác định một khuynh hướng rất rõ nét, rằng càng có trình độ tri thức cao, hoặc càng có hiểu biết nhiều về khoa học, thì niềm tin vào sự tồn tại của một Thượng đế có nhân tính càng giảm theo tính lũy thừa. Đó là lý do tại sao chúng ta đang chứng kiến Thiên Chúa giáo chỉ còn thịnh hành ở những quốc gia chậm tiến, nghèo đói như Phi Châu hoặc Nam Mỹ.

Tóm lại, con số 2,1 tỷ người Thiên Chúa giáo là một con số vô nghĩa, hệ quả của thời Trung cổ khi còn có các tòa án xử người dị giáo và khi cả Âu Châu đều thuộc về Thiên Chúa giáo, bởi lẽ nếu chúng ta xác định rõ ràng định nghĩa thế nào là người Thiên Chúa giáo theo quan điểm của thời hiện đại thì con số đó sẽ phải giảm xuống một cách thảm hại.

 

Kết luận

Chính trị và tôn giáo là hai lĩnh vực hoàn toàn khác biệt, mặc dù người ta vẫn thường hay lợi dụng tôn giáo để làm chính trị. Đó là chuyện thường ngày ở trong bất cứ một quốc gia nào, kể cả ở VN. Chính trị đồng nghĩa với thủ đoạn để đoạt cho được quyền lực. Khi đã đoạt được quyền lực thì thủ đoạn của mình sẽ dễ dàng được biện minh. Đó là lý do người làm chính trị có khi phải dùng những phương cách vô đạo, chẳng hạn như thà giết lầm còn hơn tha lầm của Cộng sản và mật vụ Cần lao Công giáo. Một lời vọng ngữ của một ông giáo hoàng, giám mục, linh mục, hay của một ông thượng tọa liên quan đến chính trị không phải là điều hiếm hoi, kể cả ở một đất nước có tự do dân chủ như Mỹ quốc.

 
Ngoài những mánh mung cố tình bẻ cong các sự kiện như đã trình bày ở trên, điểm sai lầm căn bản của tác giả Lữ Giang là ông cố gắng đi tìm những lời tuyên bố vu vơ, liên quan đến chính trị của một vài ông sư để dèm pha cả một tôn giáo. Nếu ông muốn phê bình một tôn giáo, như cái tựa mà ông đã đặt ngay nơi bài viết, thì tốt hơn ông nên trích dẫn những giáo lý căn bản của tôn giáo đó như là những bằng chứng để chứng minh điều ông muốn kết án. Bởi lẽ người ta tin đạo chứ không tin kẻ theo đạo.

Bởi cái tâm ý bất chánh của tác giả Lữ Giang muốn đánh phá vu vơ một tôn giáo nên những lập luận của ông không có điểm nào thuyết phục. Cái mặc cảm làm công cụ cho Mỹ cũng chỉ là một ảo tưởng, bởi nếu cả hai nền Đệ I và Đệ II Cộng hòa đều được nuôi dưỡng và trả lương bởi người Mỹ thì cả miền Nam VN đã là công cụ của Mỹ rồi, huống hồ chẳng có người Mỹ nào nuôi dưỡng và trả lương cho Phật giáo. Nếu cần phải hóa giải mặc cảm như tác giả LG hoang tưởng đòi hỏi thì tất cả người Việt Quốc gia chúng ta cũng cần phải hóa giải cái mặc cảm đó sao? Như vậy, việc ông LG kết án nhóm Giao Điểm và nhóm Đỗ Mậu dùng vọng ngữ đánh phá Công giáo để hóa giải cái mặc cảm không thật này thì không có cơ sở thuyết phục.

Hơn nữa, chúng ta cũng chưa thấy tác giả LG trình bày họ vọng ngữ ở chỗ nào ngoài việc đội cho họ cái nón cối Cộng sản, một thủ đoạn rẻ tiền của những kẻ đuối lý. Điều chúng ta quan tâm là thiên hạ đã làm những gì, chứ không phải cái nhãn hiệu mà chúng ta rất dễ dàng gán cho họ.

 
Trần Tiên Long




Ghi chú:

[1] Title: An analysis of Thich Tri Quang's possible communist affiliations, personality and goals
Date of Creation: August 28, 1964
Date of Declassification: May 24, 1976
Type of Document: Intelligence information cable
Level of Classification: CONFIDENTIAL
Status of Copy: SANITIZED
Pagination, Illustration: 8 p.
Abstract: An Analysis of Thich Tri Quang's Possible Communist Affiliations, Personality and Goals: Situation Report as of 27 August 1964 (assessment is that Tri Quang is not a Communist; he would like to establish a theocracy in South Vietnam). Intelligence Information Cable, TDCS 314/02342-64. Aug. 28, 1964. 8 p. CONFIDENTIAL/NO FOREIGN DISSEM. SANITIZED copy. Released May 24, 1976.
Declassified Documents Reference System Location: 1976-22E

[2] Title: Buddhist political plans and discussions with government leaders
Date of Creation: March 16, 1966
Date of Declassification: October 11, 1979
Type of Document: Intelligence information cable
Level of Classification: NOT GIVEN
Status of Copy: SANITIZED
Pagination, Illustration: 6 p.
Abstract: Buddhist Political Plans and Discussions with Government Leaders [the Buddhists reportedly have plans to install a new government composed of a national assembly, selected by provincial councils, which would write a constitution and organize general elections. PM Ky and Head of State Thieu have reportedly "half agreed" to abandon the present Advisory Council for Building Democracy in favor of a national assembly. Buddhists do not favor a coup or resignation of the present government because a military regime might replace it]. Intelligence Information Cable, TDCS-314/03592-66. Mar. 16, 1966. 6 p. Security classification not given. SANITIZED copy. Released Oct. 11, 1979. Johnson Library, NSF, Countries, Vietnam, Vol. 48.

Indexing Terms:
Declassified Documents Reference System Location: 1980-352B

[3] HEAVEN, HELL AND PURGATORY Pope John Paul II. Nguồn: http://www.ewtn.com/library/papaldoc/jp2heavn.htm

[4] E. J. Larson và L. Witham, Leading scientists still reject God, Nature số 394, trang 313, 23 Jul 1998.

[5] Victor J. Stenger, Has Science found God? Free Inquiry Magazine, Volume 19, Number 1, nguồn: http://www.secularhumanism.org/index.php?section=library&page=stenger_19_1

[6] Richard Dawkins, The God Delusion, trang 100, Houghton Mifflin Company, 215 Park Avenue South, New York, New York 10003.

[7] Beit-Hallahmi and Argyle, 1997.

[8] Richard Dawkins, The God Delusion, trang 102, Houghton Mifflin Company, 215 Park Avenue South, New York, New York 10003.






 
Các bài cùng tác giả


▪ 2012-08-21 - Lại Phải Trả Lời Ông Chu Tất Tiến - Trần Tiên Long -
▪ 2012-08-21 - Những Ngụy Biện Của Các Nhà Biện Giải TCG Chống Phá Thuyết Tiến Hóa - Trần Tiên Long -
▪ 2010-12-03 - Tôi không theo Pascal - Trần Tiên Long -
▪ 2010-12-04 - Trao đổi với ông Nguyễn Hoài Vân - Trần Tiên Long -
▪ 2010-12-20 - Chiều Kích Của Thiên Chúa - Trần Tiên Long -
▪ 2011-02-14 - Hai Lối Chứng Minh Không Có Thượng Đế - Trần Tiên Long -
▪ 2011-02-21 - Vấn Đề Chứng Minh Thượng Đế - Trần Tiên Long -
▪ 2008-01-22 - Ngôi nhà ảo tưởng của Mẹ Teresa - Trần Tiên Long -
▪ 2011-03-08 - Thượng Đế Hữu Tình Hay Vô Tình - Trần Tiên Long -
▪ 2011-03-13 - Thần học Tự do-Hiện đại - Trần Tiên Long dịch -
▪ 2012-08-20 - Vu Khống: Một Căn Bệnh Bất Trị - Trần Tiên Long -
▪ 2012-04-01 - Các bài viết của tác giả Trần Tiên Long - Trần Tiên Long -
▪ 2012-08-21 - Không Ai Độc Quyền Làm Điều Tốt - Trần Tiên Long -
▪ 2012-11-13 - Công Giáo Và Vấn Đề Phá Thai - Trần Tiên Long -
▪ 2011-04-09 - Không Thể Có Thượng Đế - Richard Dawkins /Trần Tiên Long -
▪ 2011-04-07 - Sự Tiến Hóa Của Tư Tưởng - James Underdown /Trần Tiên Long -
▪ 2010-12-20 - Một vài ý tưởng nhân đọc “Vũ trụ vô biên” - Trần Tiên Long -
▪ 2010-12-04 - Thượng đế và các nhà khoa học - Trần Tiên Long -
▪ 2010-12-03 - Vũ trụ, con người, và Tạo hóa - Trần Tiên Long -
▪ 2011-12-01 - Những Thủ Đoạn Mánh Mung Chống Phá Thuyết Tiến Hóa Khoa Học - Trần Tiên Long -