Hiển thị các bài đăng có nhãn lý nguyên diệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lý nguyên diệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 20 tháng 4, 2021

 

 

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI (3/2021)

THE TRUTH AT THE HEART OF THE LIE

(Giáo hội Công giáo đã Đánh mất Linh hồn như thế nào)

 

·         Tác phẩm: The Truth at the Heart of the Lie: How the Catholic Church Lost Its Soul

·         Nhà Xuất bản: Random House (Mã số ISBN 978-0-593-13470-2)

·     Phát hành ngày 23-3-2021 tại Barnes & Nobles, Hudson Booksellers, Books A Million, Powell’s, Indie Bound, Amazon, Wallmart, Target….

·   Tác giả : James Carroll. Sinh năm 1943 tại Chicago, ông là một tác gia, sử gia và nhà báo Mỹ. Là một Linh mục tu xuất Công giáo, khôi nguyên hai giải thưởng (National Book Award và  Best Book by Publishers), ông chuyên nghiên cứu về những nỗ lực hiện đại nhằm cải cách Giáo hội Công giáo. Ông đã nhận 9 bằng Tiến sĩ Danh dự của một số Đại học Mỹ và là Hội viên của American Academy of Arts & Sciences.

❶ Publishers Weekly giới thiệu

Lý Nguyên Diệu phỏng dịch:

 

Tác giả James Carroll là bình luận gia nhật báo Boston Globe, cựu Linh mục Công giáo giòng thánh Phao-Lồ (Missionary Society of Saint Paul the Apostle, thành lập năm 1858 tại Nữu Ước – N.D.) và là tác giả cuốn “Constantine’s Sword” (“Thanh Gươm của Đại Đế Constantine”). Tác phẩm mới xuất bản (3/2021) nầy của ông là một phân tích sắc bén về nạn khủng hoảng lạm dụng tình dục trong giáo hội Công giáo. Theo ông thì đại nạn nầy không chỉ bắt nguồn từ một số Linh mục dâm loạn mà từ một hệ thống mục nát của một nhóm nhỏ các ông xử dụng uy quyền tối đa để điều khiển toàn Giáo hội.

Theo tác giả, quan điểm của Giáo hội về giới tính và tình dục, qua nhiều thế kỷ, đã được song song triển khai với dụng ý bảo vệ cho quyền lợi của các Giáo sĩ để tạo thành một hệ thống “nam giới thượng đẳng” chống lại các con chiên (đa số thuộc phái nữ) có ý muốn đòi bình quyền hay phân quyền trong Giáo hội. “Cái ác tính đó của giới giáo sĩ đã được vạch trần trong những năm gần đây qua đại nạn ấu dâm của các Linh mục”.

Để chứng thực những lạm dụng đó bắt nguồn do nhiều phương cách đến từ “kim tự tháp Giáo sĩ”, tác giả Caroll đã kể lại những kinh nghiệm mà chính ông đã trải qua.

Trong những năm của cuộc chiến tranh ở Việt Nam, với tư cách là một Linh mục, tác giả nhận ra rằng chính những Giám mục Mỹ hiếu chiến đã cung cấp cho chính quyền một “lý do để không chấp nhận quyền phản kháng vì lương tâm của các thanh niên Công giáo”. Vì không ngăn chận được sự lạm dụng đó và cũng không muốn trở thành đồng loã của tình trạng nầy, ông đã từ bỏ chức Linh mục.

Tuy có nội dung chỉ trích Giáo hội một cách nghiêm trọng, tác phẩm nầy vẫn khuyến khích những con chiên nên coi mình như một người phản kháng vì lương tâm và hãy đấu tranh cho những gì tốt đẹp và chân thật còn lại trong niềm tin của họ. Tác phẩm đầy tính thuyết phục và đầy khiêu khích nầy là một cuốn sách mà các con chiên Công giáo ngoan đạo phải đọc.

 

The Truth at the Heart of the Lie: How the Catholic Church Lost Its Soul

James Carroll. Random House, $28.99 (384p) ISBN 978-0-593-13470-2

 

In this trenchant analysis, Boston Globe columnist and former Paulist priest Carroll (Constantine’s Sword) argues the sexual abuse crisis in the Catholic church isn’t rooted in a few bad priests, but rather a profoundly corrupt system in which a small group of men wield enormous power over others. Over centuries, Carroll writes, the church’s views on gender and sexuality developed in tandem with its desire to protect clerical power, allowing for a “male-supremacist” system stacked against Catholics (often women) who tried to claim or share that power: “The malignity of that clericalism has been laid bare in recent years by the scandal of priests sexually abusing children.” Carroll also includes his own story to effectively show the varied ways this “ecclesiastical pyramid” engenders abuse.

As a priest during the Vietnam War, he writes, he came to believe that jingoistic American bishops were providing the government “an excuse to reject the conscientious objector claims of Catholic boys.” Unable to stop what he saw as abuse, and unwilling to be part of perpetuating it, he left the priesthood. Despite it’s significant criticisms, the book encourages despairing Catholics to think of themselves as conscientious objectors—and to fight for what remains good and true about their faith. This persuasive, provocative work will be a must-read for any practicing Catholic. (Mar.)

 

Release date: 03/23/2021

https://www.publishersweekly.com/978-0-593-13470-2

 

❷ Harvard Bookstore giới thiệu

Lý Nguyên Diệu phỏng dịch:

 

Sự Thật tại Tâm điểm của Dối Trá:

Tiến Trình Đánh Mất Linh Hồn của Giáo Hội Công Giáo

 

“Can đảm và đầy cảm hứng” – Karen Armstrong, tác giả “The Case of God”

“Tác giả James Carroll đưa chúng ta vào tâm điểm của một trong những cuộc khủng hoảng lớn của thời đại hiện tại” – Stephen Greenblatt, tác giả “The Swerve”.

“Đây là hồi ký hùng hồn của một cựu Linh mục và là một tác giả đã từng đọat giải National Book Award (Giải thưởng Sách Toàn quốc). Ông vạch ra nguồn gốc của đại nạn Lạm dụng Tình dục của Công giáo xuất phát từ chính cấu trúc quyền lực của Giáo hội. Ông cũng khảo sát lại cơn khủng hoảng niềm tin của chính ông và con đường ông đi tìm một cuộc đổi mới.

 

Tác phẩm nầy của James Carroll là một kết hợp của hai chuyện: Một là cuộc hành trình đi tìm để hiểu niềm tin riêng của mình thông qua mối liên hệ với Giáo hội, và hai là Lịch sử của chính Giáo hội. Từ khi còn là một cậu bé tìm được niềm tin cho đến khi dần dần trở thành một tín đồ Công giáo vỡ mộng. Tác giả đã mổ xẽ một cách sắc bén vừa chính con người của ông vừa quá trình đã làm cho Giáo hội trở thành một định chế bị giới Giáo sĩ toàn Nam giới dùng quyền lực để thống trị tất cả đám con chiên.  

Tác giả Carroll cho rằng chủ trương “Nam giới thượng đẳng” của giới Giáo sĩ là gốc rễ và cũng là hàng ngũ phòng ngự hiện nay cho phép cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục tồn tại. Cấu trúc quyền lực của hàng Giáo sĩ đang là một mối đe dọa cho sự tồn vong của Giáo hội, và cũng là một chướng ngại cho khả năng của một Giáo hoàng, dù có tiến bộ như Giáo hoàng Phanxicô (Francis), thực hiện được những cải cách trong một định chế chỉ chịu trách nhiệm với chính mình mà thôi. (Như định chế đảng Cọng sản trong các xã hội Xã hội chủ nghĩa - ND). Tác giả Carroll đã vạch lại lịch sử của nan đề nầy từ thời Đế quốc La Mã cho đến thời Trung Cổ, khi mà các Thánh thư, Chúa Giêsu, những Lời dạy của Chúa được tái diễn dịch để (biến) Giáo hội thành một Đế quốc.

Tác giả Carroll đã tự kiểm thảo một cách sâu sắc khi ông đấu tranh với nội tâm trong những ngày được Chúa chọn, kinh qua thời gian làm Linh mục, nãy sinh những nghi ngờ khiến ông phải từ bỏ vai trò Linh mục để bước vào con đường đổi mới riêng tư, kể cả khi ông làm bình luận gia cho nhật báo Boston Globe để viết về tình trạng lạm dụng tình dục trong Giáo hội Công giáo.

Để kết thúc, tác giả Carroll kêu gọi Giáo hội và tất cả con chiên có tinh thần cải cách hãy làm sống lại văn hóa từ trong lòng Giáo hội bằng cách chống đối giới Giáo sĩ, ủng hộ Nữ giới và kiên định vững vàng trong tinh thần Từ ái vốn là sự thật thiết yếu nằm trong tâm điểm của đời sống Đạo và niềm tin Thiên Chúa.

The Truth at the Heart of the Lie: How the Catholic Church Lost Its Soul

by James Carroll

“Courageous and inspiring.” —Karen Armstrong, author of The Case for God

“James Carroll takes us to the heart of one of the great crises of our times.” —Stephen Greenblatt, author of The Swerve

An eloquent memoir by a former priest and National Book Award–winning writer who traces the roots of the Catholic sexual abuse scandal back to the power structure of the Church itself, as he explores his own crisis of faith and journey to renewal

 

James Carroll weaves together the story of his quest to understand his personal beliefs and his relationship to the Catholic Church with the history of the Church itself. From his first awakening of faith as a boy to his gradual disillusionment as a Catholic, Carroll offers a razor-sharp examination both of himself and of how the Church became an institution that places power and dominance over people through an all-male clergy.

Carroll argues that a male-supremacist clericalism is both the root cause and the ongoing enabler of the sexual abuse crisis. The power structure of clericalism poses an existential threat to the Church and compromises the ability of even a progressive pope like Pope Francis to advance change in an institution accountable only to itself. Carroll traces this dilemma back to the Roman Empire and the Middle Ages, when Scripture, Jesus Christ, and His teachings were reinterpreted as the Church became an empire. In a deeply personal re-examination of self, Carroll grapples with his own feelings of being chosen, his experiences as a priest, and the moments of doubt that made him leave the priesthood and embark on a long personal journey toward renewal—including his tenure as an op-ed columnist at The Boston Globe writing about sexual abuse in the Church.

Ultimately, Carroll calls on the Church and all reform-minded Catholics to revive the culture from within by embracing anti-clerical, anti-misogynist resistance and staying grounded in the spirit of love that is the essential truth at the heart of Christian belief and Christian life.

The Truth at the Heart of the Lie: How the Catholic Church Lost Its Soul - Harvard Book Store

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2020

HÒA THƯỢNG “BIẾT MÌNH BIẾT NGƯỜI”

Lý Nguyên Diệu

Cùng nhau nhìn lại những năm tháng đã qua một cách hoà đồng trong tỉnh táo là điều khó khăn, vì mỗi chúng ta nhìn thời cuộc từ vị thế khác nhau, qua tâm tư và não trạng khác nhau, như chuyện Rashômon. Nhưng nếu cố gắng tỉnh táo như một người không bị ảnh hưởng tôn giáo thì sẽ nhận ra Hoà thượng Thích Trí Quang (TTQ) thuộc loại người áp dụng đúng binh pháp “Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi” (biết mình biết người, trăm trận không nguy) của Ngô Tôn Tử. Điều thú vị ở đây là nói về một nhà sư mà lại nhắc đến tác giả “Nghệ thuật Chiến tranh”, nhưng thầy TTQ thì cũng chỉ là một con người tứ đại với đầu-mình-tay-chân như bao nhiêu con người khác. Sinh ra là phải tranh đấu. Tranh đấu để sống còn, tranh đấu để đạt sở nguyện. Ngay cả khi chưa sinh ra đã phải tranh đấu với hàng triệu con tinh trùng khác để trở thành nhà lực sĩ bơi lội đầu tiên tiến đến thụ tinh cho trứng rồi trở thành phôi thai. Ai cũng tranh đấu như vậy. Kể từ đức Đạt Lai Lạt Ma ở bên ni đến đức Giáo hoàng ở bên tê cũng chỉ là những con người với đầu-mình-tay-chân để tranh đấu.
Đó là điểm “bất khả tư nghì” đầu tiên làm tiền đề để chúng ta có thể tỉnh táo bàn tiếp.

Vậy thầy TTQ đã vào đời tranh đấu thì cũng là chuyện không nên ngạc nhiên. Như lịch sử Việt Nam thế kỷ 13 có vua Trần Nhân Tông pháp danh Trúc Lâm Đại Sĩ, hai lần đánh bại quân xâm lược Mông Cổ. Như lịch sử Hàn Quốc thế kỷ 17 có Hoà thượng Samyeong pháp danh Yujeong của triều đại Joseon, đã chỉ huy một đội quân tăng sĩ để chống quân xâm lược Nhật. Như lịch sử Việt Nam thế kỷ 19 có Linh mục Trần Lục, tên thánh là Phêrô, đã cung cấp cho quân Pháp 150 tay súng Công giáo để đánh chiếm thành lũy Ninh Bình, và đã huy động 5,000 giáo dân Việt Nam giúp Tây tiêu diệt chiến khu Ba Đình của anh hùng Đinh Công Tráng. Sau đó Linh mục Trần Lục được chính quyền thực dân Pháp tặng thưởng hai Bắc Đẩu Bội Tinh. Hành động nhập thế của người xưa là như thế dù phong cách xuất xữ có khác nhau …
 Qua thế kỷ 20, điểm nổi bật của thầy TTQ là sự áp dụng đúng nguyên tắc “biết mình biết người” đã làm cho thầy trở thành một nhân vật của thời cuộc. Và ai cũng biết những nhân vật của thời cuộc Việt Nam thường nhận lãnh một núi cao đầy khen ngợi trôi nổi bềnh bồng trên một biển rộng tràn ngập chê bai. Điều này đã xảy đến cho Hoàng đế Bảo Đại, cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho Tổng thống Ngô Đình Diệm, và cho cả một Hoà thượng có pháp danh Thích Trí Quang, từ khi sống đến khi chết.
Những khen chê đó, thầy TTQ, đã nhận như huy chương nào cũng có hai mặt. Hai mặt như trường hợp một Phật tử ở Huế là Tiến sĩ Thái Kim Lan, đã từng là một trong những sinh viên kịch liệt biểu tình chống chính sách kỳ thị Phật giáo của Tổng thống Ngô Đình Diệm nhưng trong bài viết về thầy TTQ, bà cũng tặng chế độ cụ Ngô “một điểm son” dân chủ đã cho phép sinh viên, học sinh sử dụng quyền biểu tình. Vì vậy, ta nên “để cho lịch sử xử” đời của thầy TTQ cho đầy đủ hai mặt như nhà văn hoá Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã dõng dạc di huấn.   
Vâng theo di huấn đó, bài viết này chỉ dám là một cố gắng để tìm hiểu một trong nhiều bí ẩn về thầy TTQ mà những bài khen chê đều cùng đề cập đến nhưng hình như chưa có một trả lời thỏa đáng. Bí ẩn đó là câu hỏi: Vì sao thầy im lặng từ năm 1975? Trong khi ngay cả một thiền sư như thầy Thích Tuệ Sỹ cũng đã phải ra tòa năm 1988 vì không giữ im lặng.

Đi tìm câu trả lời này là đi trở lại mùa Hè sôi động và bi tráng vào mùa Hạ năm 1963, sau khi thầy TTQ  đã học Phật 27 năm và trở thành một cao tăng tại Huế.
Từ một cái nhìn ngoài ước lệ, Thầy TTQ có thể ví như một cao thủ của môn phái Hiệp Khí Đạo (Aikido) - “Về tinh thần và nguyên lý của Aikido mang đậm chất Thiền – Zen, cùng với tư tưởng của giáo phái Omoto – Đại  Bản  giáo của giáo chủ Onisaburo Deguchi,  trong khi giáo phái này khởi nguyên từ Shinto và Phật giáo.” (Trích theo Aikido Tâm Bảo trên Internet) - Theo ý của giáo sư Đặng Thông Phong (Aikido Huyền đai Đệ thất đẳng), kỹ thuật của Hiệp Khí Đạo có thể tóm tắt là không làm gì cho đến khi bị tấn công thì dùng chính lực tấn công đó để khống chế đối thủ. Nghĩa là khi nào ở tư thế nạn nhân đang bị áp bức, thì chỉ khi đó, Phật giáo Việt Nam sẽ phát huy được tối đa nội lực và công năng để hóa giải (và nhiều lúc hòa giải với) địch thủ của mình.
Trong khi Tổng thống Ngô Đình Diệm của năm 1963 đúng là một cao thủ Nhu Đạo (Judo). Ông đã đẩy triết lý cơ bản “lấy nhu thắng cương” thành ra chiến thuật toàn diện “lấy NHU thắng tất cả” (định mệnh đã đặt người em tên là  NHU làm cố vấn cho Ngô Tổng thống!). Tuy vậy, trong thực tế, Tổng thống và ông cố vấn lại áp dụng ngược chiều, lấy cương thắng nhu qua hai chiêu võ rất cường bạo (có phải đây là một nhầm lẫn tuyệt mệnh nên hai chiêu này chỉ được tung ra trong bóng đêm?). Một là đêm 8 tháng 5 năm 1963, chính quyền  lấy xe tăng và tung chất nỗ dẹp biểu tình trước đài phát thanh Huế. Và hai là sau đó hơn ba tháng, đêm 20 tháng 8 năm 1963, chính quyền phát động chiến dịch “Nước Lũ”, dùng Lực lượng Đặc biệt và Cảnh sát Dã chiến tấn công các chùa và bắt nhốt các sư sãi trên toàn miền Nam đúng như kỹ thuật của môn phái Nhu Đạo đòi hỏi phải vói tay ra nắm áo hay nắm tay của đối thủ rồi mới dùng thế để “quật ngã, đè, siết cổ và khoá tay, chân” làm cho đối thủ mất thăng bằng và ngã xuống đất chịu thua. Hai đêm đó là hai lần Phật giáo bị nắm áo, nắm tay nhưng thầy TTQ đã BIẾT Hiệp Khí Đạo của thầy có thể thắng Nhu Đạo của Tổng thống Diệm nên đã tận dụng quyền lực (đúng hơn là quân lực) của đối thủ để đạt được mục đích làm cho Tổng thống Diệm phải ngã xuống đất chịu thua - thua một đối thủ dù bị giam lỏng trong cơ quan USOM của Mỹ từ tháng 8 đến ngày 1 tháng 11, 1963 nhưng vẫn đã có thể vận dụng tối ưu bí thế “cách không điểm huyệt” bằng bài quyền “biểu tình & bãi khoá” của trí thức, sinh viên, học sinh và tạo thêm chính nghĩa cho nội lực thâm hậu của quân lực Việt Nam Cộng Hoà được hiển lộ và phát huy.


Hình bìa tạp chí TIME số ra ngày 22/4/1966
với tiêu đề “The Buddhist Bid for Power”

Qua năm 1966, đáng lẽ lui về chùa để san dịch kinh sách thì thầy TTQ vẫn đứng giữa chốn gió tanh mưa máu cầm tờ báo Time có bìa là chân dung của thầy với tiểu tựa “The Buddhist Bid for Power” (“Nhà Sư Tìm Quyền Lực”) để phải trực diện với hai đối thủ mới là Thiếu tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ và Chuẩn tướng Cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan. Đây là hai đệ tử đai nâu của môn phái Thái Cực Đạo (Taekwondo). Kỹ thuật Thái Cực Đạo bao gồm cả Cước pháp (Tae) và Thủ pháp (Kwon) chủ động trên phi cước (bay lên không rồi đá) nên khi đã ra đòn thì luật trọng lực không kiểm soát được hậu quả. Do tính chất “không nương tay” này mà Thiếu tướng Kỳ đã vô hiệu hóa được chiêu thức “đem bàn thờ Phật xuống đường” làm cho thầy TTQ BIẾT phải chịu thua và trở về chùa thực tập diện bích.

Đến năm 1975, khi gặp người Cộng Sản phóng tay lập trại “cải tạo”, biến chùa thành kho chứa gạo hợp tác xã,... thì Thầy không cần phải trực tiếp “ra chiêu” với đối thủ cũng thừa thông minh “BIẾT mình, BIẾT người” để không mất thì giờ “động thủ” một cách vô ích với những cao thủ Thái Cực Đạo đai đen cửu đẳng đến từ Hà Nội với mức độ “không nương tay” độc hại ngàn vạn lần hơn Thiếu tướng Kỳ.
Nhìn lại thời điểm đó sau 45 năm từ cao độ của máy bay drone, ta có thể có một cái nhìn đại cương về phản ứng của người dân miền Nam vào tháng 4/1975: Có phản ứng và không có phản ứng trước tình thế mới (Không kể một nhóm thứ ba đã không thể lấy quyết định vì bị lừa đi “học tập” trong những trại tập trung để chế độ mới “cải tạo”).
Trong nhóm quyết định phải phản ứng “chống đối” có nhân vật nổi tiếng nhất là Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh đã lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam năm 1980 để về Việt Nam dùng phương tiện quân sự chống nhà nước Cộng Sản. Còn trong nhóm có phản ứng “không chống đối” ta thấy có Giáo sư Vũ Quốc Thúc - Khoa trưởng Đại học Luật Khoa, có Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình (được nhà nước truy tặng Huân chương Đại Đoàn Kết Dân Tộc năm 2007 và nay có tên đường ở Sài Gòn), … Riêng Thầy TTQ, người đã từng làm rung rinh nước Mỹ (L’homme qui fait trembler l’América – L’Express, 1966), thì không có phản ứng gì cả, dù chống đối hay không chống đối ... Thầy trở thành một biến thể phá cách của Hoà thượng Nói Không Được (Bất Khả Thuyết) của nhà văn truyện chưởng Kim Dung!

Chỉ có Trời Phật mới biết được chính xác lý do không phản ứng của nhà sư này. Còn lại lô nhô loài người chỉ đoán mò. Đoán mò dựa trên lý luận để đặt giả thuyết. Giả thuyết càng chính xác thì càng phải dựa trên lý luận có giá trị. Và lý luận càng có giá trị nếu càng dựa trên nhiều bằng cớ có thể phối kiểm được. Bằng cớ như trong bài “Con Người Thật Của Thượng Toạ Thích Trí Quang” của tác giả Đào Văn Bình trình bày bốn tài liệu (kể cả tài liệu của CIA) để chứng minh thầy TTQ không phải là Cọng Sản:
Nhưng chính CIA cũng đã không biết nhà báo Phạm Xuân Ẩn là cán bộ Cọng Sản thì hầu như mọi chuyện đều có thể coi như là đoán mò.
Đoán mò của bài này đến từ lý luận chỉ dựa trên hai bằng cớ đơn giản, dễ phối kiểm: Hiệp Khí Đạo của thầy TTQ đã thắng được Nhu Đạo đai đen năm 1963 nhưng thua Thái Cực Đạo đai nâu năm 1966 thì năm 1975 gặp Thái Cực Đạo đai đen cửu đẳng, thầy nên lâm trận hay rút về tịnh cốc? Câu hỏi này làm tôi liên tưởng đến một tuyên bố nổi tiếng của một người đồng hương nổi tiếng của thầy là tướng Võ Nguyên Giáp sau trận Điện Biên Phủ năm 1954: “Chắc thắng mới đánh”. Nhưng ai biết được khi nào thì chắc thắng?
Vì vậy, vẫn chỉ là đoán mò vì chính thầy TTQ đã viết trên trang cuối của “Trí Quang Tự Truyện”: “Rốt cuộc, tôi không biết gì, không có ý định gì cả, nên cuộc đời tôi ‘không vẫn hoàn không’, không có gì đáng nhớ, đáng nói…” mà tôi nghĩ thầy đã học được từ thâm ý của một nhà đại hiền triết Đông phương: “Trong 49 năm ta chưa hề nói một câu, một chữ, một lời nào”, và một triết gia Tây phương: “Tôi chỉ biết là tôi không biết gì cả”.
 
Nói tóm lại, trên đây là một cố gắng đoán mò để tỉnh táo đứng ngoài tôn giáo mà tìm hiểu sau 45 năm sự im lặng của một nhà tu hành tuy rất thông minh nhưng, cũng như hơn 90 triệu người Việt hiện nay ở trong và ngoài nước vẫn chưa đủ trí tuệ, dù đã có một nhân hòa “chắc thắng”, để tìm ra một địa lợi “chắc thắng”, một chiến thuật “chắc thắng” cho cuộc tranh đấu vì sự tồn vong của tổ quốc. Ngay thời điểm những giòng cuối cùng này được viết xuống, câu hỏi “Làm Gì?” của V.I Lenin đặt ra đầu thế kỷ 20 ở Nga vẫn bỏng cháy như câu hỏi đầu thế kỷ 21 của một nhà thơ nữ ở Huế:
“... Làm sao?                           
Làm Sao                                  
Chúng con có thể cùng nhau     
cúi đầu trước Mẹ                     
hoá giải thù xưa nói lời tạ tội    
...                                             ...
Dẫu biết rằng không thể đợi chờ thêm          
Không thể đợi chờ thêm ...                 
Nhưng ...                                 
Làm sao?                                           
Phải làm sao?                                    
Thưa Mẹ Việt Nam?”
                           
Nhân dịp Lễ “100 ngày” (19/2/2020) của Hoà thượng Thích Trí Quang
Lý Nguyên Diệu


Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2019



MỘT KHUYNH HƯỚNG PHI DÂN TỘC

Lý Nguyên Diệu


Tạp chí Free Inquiry số tháng 6&7 năm 2019 có 1 bài tiểu luận với tựa đề “Why Do Fundamentalists Lie about the Bible” (“Vì Sao Con Chiên Cuồng Tín Giáo Điều Nói Láo về Kinh Thánh”) của Giáo sư Tiến sĩ Tâm lý học Brian Bolton. Bài viết dài 8 trang nầy phân tích những lý do vì sao các con chiên cực đoan nói láo, họ nói láo như thế nào và nói láo về những chuyện gì trong Kinh Thánh. Cuối bài là một danh sách tóm lược 10 chủ đề nói láo của các con chiên đạo Thiên Chúa theo chủ nghĩa giáo điều. Trong danh sách nầy, một chủ đề đáng chú ý là chuyện Kinh Thánh chấp nhận và yểm trợ chế độ nô lệ đã được Giáo sư B. Bolton viết / tạm dịch như sau (xem nguyên bản tiếng Anh sau phần Việt dịch):


Hình bìa Tạp chí Free Inquiry, Volume 39, No. 4 – June/July 2019.

Tán Trợ Chế Độ Nô Lệ

Giáo Đoàn Báp-tít Miền Nam (Southern Baptist Convention) là giáo phái cuồng tín giáo điều lớn nhất của Mỹ được thành lập năm 1845. Để bênh vực chế độ nô lệ, họ tự biện minh bằng cách đưa ra rằng [chế độ nô lệ được] sự chấp thuận của Thánh Kinh, vì nền kinh tế đồn điền của con chiên Báp-tít trong chín tiểu bang miền Nam nước Mỹ  hoàn toàn lệ thuộc vào chế độ nô lệ. Vấn đề nầy cũng liên hệ đến chuyện tranh cãi nên giữ hay phá các tượng đài tưởng niệm Liên quân miền Nam [ủng hộ chế độ nô lệ trong cuộc Nội Chiến năm 1861/65 – lnd] và sự nổi dậy của chính sách thượng tôn da trắng [của Tổng thống Donald Trump – lnd].
Thực tế là Thánh Kinh của Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo có thiện cảm và ủng hộ chế độ nô lệ. Vì vậy mà một số chủ nô đã tố các con chiên chống lại chế độ nô lệ là kháng cự ý muốn của Thượng Đế. Cách thức đặc biệt hữu hiệu của những người sùng bái Kinh Thánh là họ trích ra từ trong Kinh Thánh những chuẩn nhận hùng hồn của ba nhân vật hàng đầu trong Thiên Chúa giáo: Giê-su, Thánh Phao-lồ và Thánh Phê-rô.

Có tám dụ ngôn của Giê-su cho thấy rõ ràng là ông đã chấp thuận chế độ nô lệ khi ông nói về những chủ nhân và những đầy tớ. Giê-su không bao giờ chỉ trích hay lên án chế độ nô lệ và cũng không cấm chuyện sở hữu nô lệ thì coi như ông đồng ý chuyện nầy trên nguyên tắc. Trong  một dụ ngôn, Giê-su còn chấp thuận rõ ràng mối liên hệ tàn khốc giữa chủ nhân và nô lệ khi ông khuyên nên đánh đập nô lệ nào không vâng lời chủ.
Năm trong tám dụ ngôn nầy đã nổi bật tính cực kỳ hung bạo qua hành động giết người, phân thây xẻ thịt người. Trong những dụ ngôn kinh khủng đó, vai chánh là chủ nhân hoặc là Giê-su, con của chủ nhân. Và chủ đề chính của những dụ ngôn đó là kẻ nào không vâng lời chủ nhân hoặc không nhận chủ nhân Giê-su là Đấng Cứu Thế thì sẽ bị trừng phạt hành hạ đời đời trong địa ngục.
Giê-su cho phép chủ nhân trừng phạt các nô lệ bằng cách đặt ra các chức năng thần thánh của Thiên Chúa Gíáo để biện minh cho sự đánh đập các nô lệ da đen trong các tiểu bang miền Nam nước Mỹ. Giê-su cũng chấp thuận điều lệ về các chủ nô lệ trong chương 21 của Exodus (sách thứ hai của Kinh Cựu Ước - lnd). Ngoài ra, hai phép lạ của Giê-su có liên hệ đến nô lệ là việc chữa lành một đầy tớ của một chiến sĩ và việc tái tạo lỗ tai của thằng bé nô lệ tên Malchus.

Trong Sứ Đồ Thư Ca (Epistles), Thánh Phao-lồ ra lệnh nô lệ phải vâng lời chủ nô một cách kính sợ mọi chuyện như họ phải vâng lời Giê-su. Nếu họ vâng lời như vậy thì đời sau sẽ được ban thưởng. Thánh Phê-rô nhấn mạnh niềm tin Thiên Chúa và nổi khiếp sợ Thượng Đế buộc nô lệ phải phục tòng chủ nhân dù có bị đối xử tàn nhẫn đến mức nào. Vị Thánh này nói nô lệ sẽ đáng được khen nếu chịu đựng được những khổ nạn bất công do ý của Thượng Đế.”

Dưới đây là nguyên văn bản tiếng Anh:
Slavery Endorsement
The largest fundamentalist denomination in the United States, the Southern Baptist Convention, formed in 1845 because Baptists in nine southern states justified slavery by pointing out that scripture sanctions the institution upon which the plantation economy depended completely. The issue has contemporary implications for the Confederate memorial controversies and the resurgence of white supremacy politics.
It is a fact that both the Hebrew and Christian Testaments are sympathetic and supportive of slavery. For this reason, some southern slave owners argued that Christian abolitionists were defying God’s will by opposing slavery. Of special relevance for bibliolatrists is the strong authorization of slavery in the statements of the Bible’s three leading Christian figures: Jesus, Paul, and Peter.

Jesus’s approval of slavery is readily apparent in his inclusion of servants and their masters in eight of his parables. Because he never criticized or condemned slavery and did not forbid people from owning slaves, he tacitly endorsed the practice. In one of these parables, he explicitly authorized the cruel master-slave relationship when he recommended whipping disobedient slaves.
Five of the eight parables are noted for their extreme violence through murder, killing, or maiming. The central figure of the master or the son is Jesus himself, and the consistent theme in these violent stories is that those who disobey Jesus or reject him as Messiah will be punished with unending torture in hell.
Jesus granted authority to slave owners to discipline their slaves, establishing the divine Christian mandate used to justify the beatings of black slaves in southern states. Jesus also approved of the rules of slave owners in chapter 21 of Exodus. Further, two of his miracles involved slaves: the healing of the centurion’s servant and the restoration of the slave boy Malchus’s ear.

In the Epistles, Paul decreed that slaves should obey their masters with respect and fear in everything, just as they would obey Jesus. And for their obedience they will be rewarded in the next life. The apostle Peter emphasized that slaves are obligated by Christian faith and fear of God to submit to their owners, no matter how brutal. He said that it is commendable when slaves endure unjust suffering that is willed by God.

Đọc xong đoạn nầy ta không khỏi thương cảm cho thân phận khốn khổ của những nạn nhân Phi Châu nô lệ trong nền văn minh Thiên Chúa Giáo của Tây phương. Nhưng một tôn giáo hiện hữu được hơn 2000 năm thì cũng phải biết tự chữa những khiếm khuyết. Để chống đối các con chiên chủ nô trong chế độ nô lệ đó, những con chiên có lương tâm đã đem lòng bác ái và quyền năng vô biên của Chúa, của Thánh Phao-lồ, ... trong cố gắng giải phóng nô lệ. Hai phe chống nhau kịch liệt đến mức làm bùng phát cuộc Nội chiến Bắc-Nam dài 5 năm trên nước Mỹ. Vậy thì phe nào nắm chân lý và phe nào dối trá?

Phía những người chủ nô da trắng, họ không chỉ núp sau Giê-su và Kinh Thánh mà còn đưa ra một lý luận cực kỳ xuẩn động: “Dầu sao qua Mỹ họ cũng còn sướng hơn ở Phi Châu”. Chẳng hạn như sức khoẻ được các bác sĩ chăm sóc trong các nhà thương mà Phi Châu thời ấy hầu như không có. Ngay cả con cái của người nô lệ cũng được chích ngừa các bệnh dịch. Quả là các chủ nhân có lo cho sức khoẻ của người nô lệ. Quả là họ có xây nhà thương cho người nô lệ (144 nhà thương trên toàn nước Mỹ năm 1944).

Với người Việt Nam thì điều nầy không khác chi bác nông dân phải lo cho sức khoẻ của con trâu mà bác ta đã bỏ tiền ra mua. Một ngày trâu bị bệnh không ra ngoài đồng là một ngày ruộng không được cày. Vậy, phải lo cho trâu được ăn, phải lo cho trâu được mạnh khoẻ, phải gọi bác sĩ thú ý đến khám bệnh cho trâu.

Đó là sự thực tàn nhẫn về thâm tâm của người Mỹ da trắng khi họ lo cho sức khoẻ của người nô lệ da đen mà họ đã mua. Sẽ dễ hiểu hơn nếu ta phóng chiếu sự thực đó lớn ra trong kích thước toàn cầu và theo dõi thời sự gần đây nhất để thấy một cách hiển nhiên dự án liên lục địa vĩ đại  “Con Đường Tơ Lụa“ (Nhất Đới Nhất Lộ) của chủ tịch Tập Cận Bình  (hãy xem phóng sự: https://www.youtube.com/watch?reload=9&v=FuhUo7Tt7Hc ) cũng nằm gọn trong tinh thần “lo lắng cho nô lệ” đó. Thấy được như vậy thì khỏi phải bàn cãi chuyện dân Tây Tạng, dân Hồi giáo, và cả dân Thổ Nhĩ Kỳ, dân Ý, dân Pháp có nên ghi nhớ công ơn, lao lực, chi phí làm đường, xây cầu của đảng Cộng sản Tàu từ Bắc Kinh đến Luân Đôn.

Vậy mà trong vài năm gần đây, trong cộng đồng người Việt xử dụng Internet lại hiện ra dưới nhiều hình thức khác nhau một khuynh hướng khá đồng nhất trong mưu toan tuyên truyền để biện hộ cho sự trở lại Việt Nam của thời kỳ đầu thế kỷ 20 khi thực dân Pháp và đạo Thiên Chúa của họ thống trị toàn cõi Việt-Miên-Lào. Cũng như những ngừơi da trắng miền Nam nước Mỹ, khuynh hướng nầy được biện minh bằng lý luận “Tây thực dân cũng lo cho dân thuộc địa” qua những video về Sài Gòn những năm 1950, nhà thương Đồn Đất, cầu Long Biên Hà Nội, nhà thờ Đức Bà ngạo nghễ vươn cao trước Bưu Điện Sài Gòn, ... Đi xa hơn nữa, ngay cả trong những video có Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn, những người Việt Nam thân Tây của khuynh hướng nầy cũng nhét vào hình ảnh nhà thờ Đức Bà trong cố gắng thay thế biểu tượng cũ của Sài Gòn là Lăng Ông (Lê Văn Duyệt). Bên cạnh còn có những loạt tài liệu về các dinh thự cũ, nhà ga Đà Lạt, Toà Đô Chánh  của thời Tây đô hộ với thông điệp ngầm “người Pháp cũng xây dựng cho Việt Nam các công thự, đường xe lửa, cầu cống, ...”. Thật u mê không khác gì chuyện  dân nô lệ gốc Phi Châu cám ơn chủ nhân Mỹ trắng đã xây nhà thương chăm sóc họ.
Nhưng tinh vi và hiểm độc hơn cả là khuynh hướng vinh danh cái gọi là “công ơn” cố đạo Pháp (Alexandre de Rhodes, nhưng thật ra là Linh mục Bồ Đào Nha Francisco de Pina mới đúng lịch sử) đã “phát minh ra chữ quốc ngữ” dù chính các “Linh mục học giả” Công giáo Việt Nam thừa biết rằng các cố đạo Tây chỉ tạo ra những chử cái Latinh đó để dễ dàng giảng đạo (cho các con chiên của họ) và được Thực dân Pháp tận dụng như một công cụ để tiêu diệt nền văn hóa bản địa, đồng thời để cũng cố bộ máy hành chính đô hộ của chính quyền thuộc địa mà thôi. Tuy được sự tiếp tay đắc lực của những con chiên bản địa cuồng tín (như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, …) nhưng cũng may mà sĩ phu và các nhà ái quốc nước ta đã biết dùng “gậy ông đập lưng ông”, vận dụng thứ chữ Latinh đó để “khai dân trí”, sáng tác và phổ biến những công trình tri thức, khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần chống xâm lăng (Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Đình Chiểu, Lý Đông A, Huỳnh Phú Sổ…) trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.  

Rõ ràng là những người-Việt-gốc-Tây-thuộc-địa nầy vì niềm tin tôn giáo cuồng tín mà đánh mất hết trí tuệ và lòng yêu nước. Họ có biết hay không là họ đang bán linh hồn để được làm kiếp nô lệ cho ngoại bang? Điều đáng quan ngại là bên ngoài thì họ vẫn hô hào Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, làm cho cuộc tranh đấu thường trực cho những giá trị nầy mất đi chính nghĩa trong sáng. Làm sao mà có chính nghĩa khi lẫn lộn với những thành phần muốn trở về thời kỳ người Việt kéo xe cho ông Tây, bà Đầm đi lễ nhà thờ có lính Tây canh gác?


Trong lúc toàn dân tham gia kháng Pháp và bị tra khảo tù đày (Ảnh: Các nam nữ nghĩa quân bị gông cùm sau khi chiến khu Ba Đình của anh hùng Đinh Công Tráng bị thất thủ năm 1887. Đại tá Pháp Brìsand thống lĩnh 3 nghìn quân Pháp và gần 5 nghìn giáo dân Việt do Linh mục Trần Lục huy động để tham gia trận đánh nầy)….
… thì vẫn có một bộ phận những người Việt Nam bị tiêm nhiễm tinh thần nô lệ của Kinh Thánh Thiên Chúa giáo, nên xem việc dân ta làm culi kéo xe cho “ông Tây” và lính Pháp bảo vệ cho “bà đầm” đi nhà thờ là chuyện … văn minh phải mang ơn! 

Bài nầy bắt đầu bằng chế độ nô lệ và đạo Thiên Chúa, một vết nhơ của văn minh Tây Phương như ta vẫn thường nói huy chương nào cũng có mặt trái. Bài nầy xin kết thúc bằng một lời khuyên nhủ (viết từ năm 1946 trong thời kỳ thuộc địa) của một người Việt đã từng sống đời lưu vong trên đất Tây phương, với hy vọng sẽ làm những người phi dân tộc sáng mắt mà nhìn thấy chính đạo để quay về với quê hương, dân tộc:    
"Hiện nay, bạn thấy Tây phương đắc thắng, chiếm địa vị tối thượng, hãnh diện với thế giới. Về quân sự, về kinh tế, về chính trị, Tây phương là tất cả. Bạn cho Tây phương là cái gương duy nhất, rồi bạn toan nêu cái "văn hóa" Tây phương làm văn hóa Việt Nam.
Tôi van bạn. Tôi ước mong bạn xây đắp riêng cho Việt Nam một nền văn hóa rực rỡ, để trình trước Đại hội đồng nhân loại làm sự nghiệp của mình." (trang 39)
[Trích từ: “Tương lai Văn hoá Việt Nam” của Hồ Hữu Tường (Nhà xb: Huệ Minh, 1965)].

Lý Nguyên Diệu
8/2019