Hiển thị các bài đăng có nhãn trần tiên long. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trần tiên long. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2016


CÓ CHÚA KHÔNG NHỈ?
(Phản biện bài: Biết Đâu Đó Là Sự Thật)

Trần Tiên Long

Bài Biết Đâu Đó Là Sự Thật mà bạn Andrew Tran (atran04@sbcglobal.net) đã có nhã ý chuyển vào trong các diễn đàn công cộng là một bài viết rất tiêu biểu của những nhà chuyên làm công việc biện giải cho Thiên Chúa giáo (TCG). Trong suốt toàn bài viết, tác giả đã sử dụng những trò ngụy biện ngôn từ mà những người đồng thanh tương ứng rất khó nhận ra. Đó là cứ việc xây dựng một người rơm dựa trên những kiến thức nông cạn, sai lầm về đối phương – người không tin – để rồi lại tự tay mình tấn công, đạp đổ người rơm đó xuống. 

Ở bài viết này, người viết chỉ muốn đặt trọng tâm ở khía cạnh Luận Lý Học, một trong các bộ môn thuộc khoa học thuần túy. Còn khía cạnh khoa học thực nghiệm, quí độc giả có thể tìm hiểu thêm ở bài Còn Có Một Đời Sau. Nguồn:  http://sachhiem.net/TTL/TTLkh07.php


Bây giờ chúng ta hãy cẩn thận xét kỹ xem những lý lẽ mà các nhà biện giải cho TCG đã trưng ra để nhận thấy rằng tất cả chỉ là những thứ trò ngụy biện ngôn từ, chưa thể thuyết phục được người không tin để họ phải đổi ý. Đó chính là lý do tại sao người ta còn cứ phải viện dẫn đến đức tin. Nhưng trước khi đi vào chủ đề về những thứ trò ngụy biện này, tưởng cũng nên bàn sơ qua về hai phạm trù vô thần và hữu thần mà những nhà biện giải thường hay cố tình diễn dịch sai theo kiểu dèm pha, tấn công một người rơm.


I.    Vô thần vs. hữu thần

Người không tin (agnostic) thì cũng giống như người vô thần (atheist) ở điểm họ nghiên cứu tất cả các vấn đề theo phương pháp của khoa học trước khi đi đến kết luận rằng những hữu thể thiêng liêng như quỷ, ma, thần, thánh… đều là những sản phẩm tưởng tượng của con người. Vì đó là những thứ tưởng tưởng, không có thật, nên các nhà hữu thần (theist) phải có bổn phận trưng ra các bằng chứng. Đó là một nguyên tắc thông thường trong Luận Lý Học và Luật Học. Tuy nhiên, trong suốt dòng lịch sử tiến hóa của các tôn giáo, chưa ai có thể làm được việc này nên Thiên Chúa Giáo mới cần phải phịa ra đức tin để nô lệ hóa tâm linh con người. [1]

Thí dụ, nếu bạn bảo rằng đêm qua bạn ra ngoài đường vắng và gặp một con ma. Hôm nay, bạn đem chuyện gặp ma của bạn ra nói với thiên hạ. Bổn phận của bạn là phải nói sao cho thuyết phục bằng những lập luận vững chắc, có các bằng chứng hẳn hoi. Nếu bạn chưa làm được điều này thì thiên hạ sẽ không tin bạn. Bạn không thể đơn giản phịa ra rằng chỉ có bạn mới thấy và hiểu rõ ràng về con ma, nhưng lại không thể giải thích con ma như thế nào, đã nói gì với bạn, rằng những người khác không thấy ma là tại vì họ không tin có ma. Cái kiểu lý luận như vậy là bạn đang đặt cái cày trước một con trâu. Còn người không tin thì đặt cái cày sau con trâu, nghĩa là phải sử dụng trí tuệ để tìm hiểu các bằng chứng và lý lẽ kỹ càng trước khi tin. Tin hay không là kết quả của một nhận thức, không phải là một quyết định chọn lựa của ý chí tự do. Nhưng nếu bạn có quyền lực, bạn có thể làm người ta tin theo bạn dễ dàng hơn bằng cách sai khiến thiên hạ đi quảng cáo, tuyên truyền thay thế cho bạn. Kết quả là sẽ có vô số người tin theo bạn. Đơn giản vậy thôi!

 
Về chuyện có Chúa hay không cũng vậy. Đã là người thì ai ai cũng có trí tuệ, trí thông minh, lương tâm, ý thức để phán đoán; chỉ khác nhau ở mức độ cao thấp. Con vật cũng có đầu óc để suy nghĩ, nhưng chắc chắn không sâu sắc thâm thúy bằng con người, vì có sự khác biệt về cấu trúc nơi não bộ vật chất. Bây giờ người ta bảo bạn cứ nhắm mắt tin, dụt bỏ lý trí qua một bên, để họ dễ dàng tuyên truyền cho điều họ muốn. Ừ, thì bạn cứ vâng lời họ mà dụt bỏ lý trí để tin theo họ. Nhưng người không tin thì chẳng cần phải làm như bạn. Họ vẫn sống như một con người có trí tuệ, biết suy nghĩ độc lập và tự do đối với tất cả mọi vấn đề, kể cả vấn đề tôn giáo; vì trí tuệ chính là phẩm hạnh cao quý của con người, làm con người cao trọng hơn con vật. Sự nghi ngờ là biểu hiệu của lý trí, là thái độ cần thiết được đòi hỏi ở trong tất cả các bộ môn khoa học, đối nghịch với đức tin tôn giáo. 


Tất cả những người tin có Chúa, kể cả Mẹ Teresa of Calcutta và các ông bà thánh, thì vẫn luôn luôn còn có sự nghi ngờ, cho dù đã nhiều năm nhắm mắt tin có Chúa; bởi vì lúc đó họ chưa chết, cũng vẫn đang còn là con người. Họ phải tiếp tục vật lộn với sự nghi ngờ bao lâu họ vẫn còn là con người. Bởi lẽ, họ không dễ dàng từ chối thân phận làm người có trí tuệ để rồi cứ phải nhắm mắt mãi mãi như một con chiên ngoan. Chỉ có họ mới có cái thứ gọi là “trạng huống của kẻ tin bỗng rơi vào chơi vơi”. Còn người không tin thì chẳng cần phải vật lộn gì cả, bởi vì họ luôn luôn mở rộng đôi mắt, suy nghĩ như con người đang tỉnh thức, có trí tuệ. Sự nghi ngờ là bản chất của con người còn biết dùng đầu óc để suy nghĩ. Nếu những nhà biện giải cho TCG trình bày được những lý lẽ thuyết phục với các bằng chứng hẳn hoi về sự hiện hữu của Thiên Chúa thì người không tin sẽ tự động đổi ý để tin theo họ. Đó là chuyện bình thường, hợp với bản chất của con người vốn có trí tuệ để suy tư, sẳn sàng thay đổi thái độ để phù hợp với kiến thức mới theo đà tiến hóa của tư tưởng.


Vậy người tin và người không tin thì đều cùng có sự nghi ngờ vì cả hai vẫn còn là con người. Nhưng sự khác biệt giữa hai hạng người này thì ở chỗ người không tin đón nhận sự nghi ngờ một cách tự nhiên, thoải mái, và còn trân quí xem nó như một yếu tố tối cần thiết cho công việc xét đoán đúng/sai; trong khi người tin lại cứ phải vật lộn, cố gắng vất bỏ sự nghi ngờ để tin như đinh đóng cột theo những gì đã được chỉ dạy, cho dù có vô lý tới mức nào. Đó là việc làm đối nghịch với bản chất đích thực của con người vốn sinh ra thì đã có lý trí. Chỉ có người tin mới cần phải thăng hoa việc dụt bỏ trí tuệ như một phẩm hạnh đạo đức: đức tin.


II.    Những kiểu cách ngụy biện ngôn từ

a.    Vấn đề chứng minh có Chúa

Thông thường, trước khi chúng ta làm công việc chứng minh có một thứ gì thì phải định nghĩa cái thứ đó trước đã. Những nhà biện giải cho TCG chưa bao giờ làm công việc định nghĩa này trước khi họ chứng minh có sự hiện hữu của Thiên Chúa. Những gì người ta đã cố gắng chứng minh thì thực ra không phải là để chứng minh có một Thiên Chúa mà họ đang tôn thờ. Thiên Chúa mà họ tôn thờ là một sinh vật có đầy đủ nhân tính của con người như tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố… được trình bày đầy dẫy ở trong các cuốn kinh thánh. Và Thiên Chúa vì yêu thương nhân loại còn xuống thế làm người để chịu chết, chuộc cho con người cái tội gọi là tội tổ tông. 

Lập luận thiết kế thông minh (intelligent design argument), một phó sản của thuyết sáng tạo, chỉ là để bàn về sự cần thiết phải có một nguyên nhân đầu tiên để tác tạo vũ trụ từ hư không. Cứ điều gì mà con người chưa giải thích được thì gán cho thần thánh làm. Đó là thượng đế của các khoảng trống (God of the gaps), chẳng phải là Thiên Chúa của Thiên Chúa giáo. Đó là một cách lối ngụy biện phải kêu gọi tới sự ngu dốt (argument from ignorance). Do đó, những lập luận của họ đều tuyệt đối có thể áp dụng cho bất cứ một sinh vật tưởng tượng nào, chẳng hạn như ông kẹ, ông ba mươi, ông bà táo, ông trời, thần hoàng, thần thổ địa, sơn thần, thủy thần, thiên lôi, con kỳ lân màu tím vô hình...


Từ đó, chúng ta có thể kết luận được rằng Thiên Chúa chỉ là một sinh vật tưởng tượng như tất cả những sinh vật tưởng tượng khác mà con người đã từng nghĩ ra. Và những kết quả có được khi chúng ta cầu nguyện cùng Thiên Chúa bằng một đức tin không lay chuyển thì cũng giống như những kết quả có được khi chúng ta cầu nguyện nơi bất cứ một sinh vật tưởng tượng nào, dĩ nhiên cũng phải bằng một đức tin không lay chuyển. Các phép lạ mà TCG rêu rao do Chúa, Đức Mẹ, hay các ông bà thánh làm thì cũng có thể gán cho bất cứ một sinh vật tưởng tượng nào. Mặc dù vậy, người TCG không bao giờ nhìn nhận Thiên Chúa mà họ tôn thờ cũng chỉ đơn giản giống như một ông kẹ. Bởi vậy, cái cảm nhận mơ hồ gặp Chúa thì cũng hoàn toàn giống như cái cảm nhận mơ hồ gặp quỷ ma ngoài đường vắng, muốn tán sao cũng được. 


b.    Thiên cơ bất khả lậu

Nếu các ông bà thày bói thường hay nại cớ thiên cơ bất khả lậu để khỏi phải trả lời cho những câu hỏi hóc búa của các thân chủ thì các nhà biện giải cho TCG lại thường hay trưng ra mầu nhiệm không thể lý giải hoặc Thượng Đế bất khả tư nghì để tránh né, khỏi phải trả lời cho những thắc mắc của thiên hạ. Họ bảo rằng họ đã tìm và gặp được Chúa, rằng chúng ta cũng tìm nhưng chưa gặp, rằng Chúa đang thử thách chúng ta nên cần phải cố gắng tìm thêm nữa. Đó là những kiểu cách ngụy biện ngôn từ của những kẻ chuyên làm nghề buôn thần bán thánh, chẳng khác gì các ông bà thày bói nói láo ăn tiền. Tại sao hiểu mà không thể nói, không thể giải thích cho rõ ràng; nếu đó không phải là một cách tránh né, hoặc thực ra chẳng hiểu biết tí gì?

 
Rồi họ tự cao tự đại cho mình là các bậc thánh nhân, tôn sư, những kẻ hiểu biết rất rành rẽ về một ông Chúa tưởng tượng kia; còn những kẻ không tin như họ là đám dân ngu, chẳng hiểu biết gì, thuộc loại con cháu chưa đủ trí khôn. Tính ngạo mạn và trịch thượng có thể nhận ra dễ dàng nơi cách xưng hô và nơi sự bất lực của họ mỗi khi họ không thể giải thích. Cứ điều gì vô phương giải thích thì họ lại trưng ra sự ngu dốt của bàn dân thiên hạ như là lý do để bào chữa cho sự bất lực không thể giải thích của họ. Chuyện dưới đất chúng ta còn chưa biết, chuyện trên trời thì họ cứ tràng giang đại hải như thật. Loài người chúng ta chỉ là những con ếch ngồi dưới đáy giếng hay những thằng mù sờ chân voi nhưng lại thích bàn chuyện trên trời. Hội Thông Thiên Học còn tự khoát cho mình là thông thiên, làm như thực sự thông thái chuyện trên trời vậy. 

Ảo thuật gia nổi tiếng nhất thế giới James Randi thách đố bất cứ ai có thể chứng minh có những điều dị thường (paranormal), siêu tự nhiên, mà khoa học không thể giải thích, với giải thưởng một triệu đô. Nhưng tới giờ phút này vẫn chưa ai làm được. [2] Cứ mỗi khi vấn đề được mang ra nghiên cứu tường tận theo phương pháp của khoa học thì luôn luôn có kết quả hoặc có sự lầm lẫn lương thiện của những người tường thuật, hoặc ai đó có âm mưu cố ý dàn dựng để phục vụ cho quyền lợi của tôn giáo. Các phép lạ trong TCG thường được đem ra tuyên truyền trong đại chúng là những thí dụ điển hình của cái nghề buôn thần bán thánh.


Ở bài Biết Đâu Đó Là Sự Thật, vị tôn sư bảo:

“Hỡi con, các bậc thánh nhân trong sách Thora mà con tranh luận đã phí lời với con, bởi con đã ra về với nụ cười chế nhạo. Họ đã không thể trình bày cụ thể về Thiên Chúa và Nước của Người cho con được, và ta cũng không làm được chuyện đó. Nhưng, này con, hãy suy nghĩ cho kỹ, biết đâu đó là sự thật”. (Hết trích).

Chẳng một ai trong chúng ta lại kỳ vọng vị tôn sư hay các bậc thánh nhân có khả năng “trình bày cụ thể về Thiên Chúa và Nước của Người” cho chúng ta nghe được. Ở đây có một sự thực rất đơn giản, dễ nhận ra mà vị tôn sư hay các bậc thánh nhân cố ý tránh né, không chịu lương thiện đối diện; đó là không thể có sự trao đổi hay tranh luận giữa hai hạng người: một người thì tự từ bỏ lý trí để suy luận, và một người thì vẫn dùng lý trí ở trong mọi trường hợp. Nếu nại cớ đức tin thì đương nhiên là phải dụt bỏ lý trí để chỉ tin vào điều đã được dạy. Vậy dựa vào tiêu chuẩn nào để xét đoán đúng/sai mà tranh luận, trao đổi? Làm sao mà bạn có thể chỉ cho người mù nhìn thấy được một bức tranh đẹp? Kẻ cuồng tín ôm bom nổ cũng dựa vào đức tin. Họ bảo rằng đó là con đường ngắn nhất dẫn tới thiên đàng, nơi có các cô trinh nữ đang chờ đón họ. Vậy chúng ta lấy tiêu chuẩn nào để phán xét? Làm sao để biết đức tin của chúng ta thì xác thực, đáng tin hơn đức tin của họ, nếu không dựa vào trí tuệ để phán đoán?


Cuối cùng, vì không còn gì để dựa nên vị tôn sư đó chỉ còn dựa được vào một cái phao tưởng tượng mơ hồ là sự nghi ngờ: “biết đâu đó là sự thật”.

 
c.    Biết đâu đó là sự thật

Ừ, biết đâu đó là sự thật! Cái kiểu cách lý luận như vậy thì, thêm một lần nữa, đều có thể áp dụng cho tất cả những gì người ta muốn. Mọi sự đều có thể, nếu khi chưa có sự chứng minh không thể có, vô phương. Biết đâu ngày mai là ngày tận thế? Biết đâu mặt trời sẽ mọc từ hướng Tây? Biết đâu Elvis Presley chưa chết, nhưng vẫn còn sống và nhảy “twist” ở trên cung trăng? Biết đâu Lý Tiểu Long cũng chưa chết, nhưng đang tập đấu võ với chị Hằng? Hoặc biết đâu không có Chúa, không có thiên đàng và địa ngục. Rồi cứ biết đâu, và biết đâu... Chúng ta cứ tiếp tục “biết đâu” cho bất cứ điều gì cũng được. Bertrand Russell còn bảo rằng biết đâu có một ấm trà bay quanh hành tinh Mars, nhưng vì quá nhỏ nên viễn vọng kính nhìn không thấy. Chẳng ai có thể chứng minh cho một điều phủ định để bác bỏ những thứ “biết đâu” mà chúng ta cứ tự do tha hồ phịa ra. Vậy tại sao chúng ta không tin những thứ “biết đâu” này mà lại chỉ tin “biết đâu có Chúa”? Thưa, tất cả chỉ là kết quả của một nền giáo dục nhồi sọ và của môi trường sống.

Nhưng người không tin thì không lý luận như vậy vì có sự khác biệt căn bản về ý nghĩa trong ngôn từ giữa những nhà khoa học và đại chúng. Nhà khoa học phán đoán dựa trên tính xác suất của khoa học. Một sự kiện có thể xảy ra hay không thì được xếp hạng theo nấc thang của tính xác suất. Và cái nấc thang đó đi từ thấp lên cao mà trong ngôn ngữ thông thường khi được chuyển sang tiếng VN thì rất mơ hồ, dễ bị hiểu lầm. Ở đây không có chuyện đúng/sai theo nghĩa tuyệt đối, chắc nịch. Cái nấc thang giá trị đó là:

 
1.    Thường hay xảy ra (frequent)

2.    Có thể xảy ra (probable)
3.    Đôi khi xảy ra (occasional)
4.    Hiếm khi xảy ra (remote)
5.    Không thể xảy ra (improbable)

H. J. Muller trong cuốn One Hundred Years Without Darwin Are Enough đã giải thích:
“Không có một ranh giới rõ rệt giữa sự phỏng đoán, giả thuyết, lý thuyết, nguyên lý, và sự kiện; nhưng chỉ là sự khác biệt về mức độ xác suất của ý tưởng. Khi chúng ta gọi cái này là một sự kiện thì chúng ta chỉ muốn bảo rằng tính xác suất của nó thì vô cùng cao, cao đến nổi chúng ta chẳng cần phải nghi ngờ gì về nó nữa và sẳn sàng hành động phù hợp theo nó. Bây giờ trong cách dùng từ ngữ sự kiện này, cách dùng đúng là xem tiến hóa như một sự kiện.” [3]

Như vậy, khoa học không khẳng định dứt khoát là có Chúa hay không có Chúa theo nghĩa tuyệt đối; nhưng chỉ chứng minh cho chúng ta biết là không thể có Chúa (improbable). [4] [5] Vậy không thể có Chúa thì chính xác là một sự kiện theo kiểu nói trong văn chương của những nhà khoa học. Nếu bạn nghĩ khoa học là phải tuyệt đối chắc chắn thì đó là sự sai lầm từ phía bạn (Richard Feynman).


Vậy “biết đâu có Chúa” thì không thể nào xảy ra, đứng hàng thứ chót theo nấc thang giá trị của tính xác suất. Bởi lẽ, những nhà biện giải cho TCG đã chẳng đưa ra được một bằng chứng nào để hỗ trợ cho sự nghi ngờ “biết đâu có Chúa”, ngoài những trò ngụy biện ngôn từ; trong khi bằng chứng không có Chúa thì lại đầy dẫy ở trong một vũ trụ bất toàn, đầy tràn mọi sự dữ. Đối với các nhà khoa học, mọi sự xảy ra trong trời đất đều có nguyên nhân tự nhiên, chẳng có Chúa hay thần thánh ma quỷ nào làm ra cả. [4] [5] 


d.    Có Chúa thì sao?

Nhưng nếu có Chúa theo kiểu thắc mắc vu vơ “biết đâu đó là sự thật” của những người tin hay của đại chúng, đối nghịch với khẳng định của khoa học, thì người không tin cũng chẳng có gì phải lo sợ. Chúa lòng lành vô cùng thì phải biết thương yêu những kẻ lương thiện, có một cuộc sống tốt lành. Chẳng cần phải có tôn giáo để đem địa ngục ra hù dọa, người không tin vẫn có thể sống tốt lành. Trước hay sau khi có Thiên Chúa Giáo, mức độ đạo đức của con người cũng vẫn vậy. 

Một cuộc nghiên cứu của trường đại học Manchester University bên Anh Quốc được công bố ngày 13 tháng giêng năm 2016 đã khẳng định rằng, mặc dù tôn giáo đã suy thoái rất nhanh ở các quốc gia Âu Châu trong 30 năm qua, nhưng thái độ của con người đối với tội ác chống xã hội và tội ác chống đồng loại thì vẫn vậy, không có gì thay đổi. [6]  Còn có một cuộc nghiên cứu của trường đại học Rochester cũng đã khẳng định rằng người càng thông minh thì càng ít tin vào tôn giáo. [7] 


Ngoài ra, việc ban thưởng hay luận phạt theo tiêu chuẩn đức tin thì hoàn toàn vô nghĩa lý. Tại sao vất bỏ lý trí để tin điều vô lý thì lại là một nhân đức lớn trong Thiên Chúa Giáo, cao trọng hơn cả lòng bác ái và tính ngay thẳng lương thiện trí thức; trong khi lòng hoài nghi, một phẩm hạnh cần thiết và đứng đầu trong khoa học, thì lại bị dèm pha là kiêu ngạo? Rất có thể Thiên Chúa chỉ ban phần thưởng thiên đàng cho những kẻ ngay thẳng với lương tâm, can đảm và hành động theo lý trí, chứ không cho những kẻ mù quáng, chỉ vì mối lợi mà hèn nhát đến nỗi bất chấp mọi lý lẽ. Hành động tốt hay xấu của chúng ta quan trọng hơn việc tin hay không tin. Người tốt lành là người ăn ở ngay thẳng, không màng đến kết quả của phần thưởng hay hình phạt. Nếu chúng ta làm điều tốt lành để mong được phần thưởng thiên đàng hay để khỏi chịu hình phạt ở địa ngục thì đó là sự buôn bán đổi chác, đầu tư sòng phẳng, không hơn không kém. Điều này cho chúng ta thấy đạo đức và luân lý của người không tin có tiêu chuẩn cao hơn đạo đức và luân lý của người tin. Riêng chuyện bảo rằng, đức tin là hồng ân, là tặng phẩm của Chúa tùy tiện ban cho mỗi người, thì vấn đề thưởng phạt cũng đã trở thành vô nghĩa. [1] 


Bertrand Russell khi tưởng tượng phải đối diện với Chúa trong ngày phán xét, Chúa hỏi: Tại sao ngươi đã không tin Ta hiện hữu? Ông ngay thẳng trả lời: Thưa Ngài, tại vì không có bằng chứng nào để tôi tin Ngài hiện hữu. Nếu Thiên Chúa có tinh thần khoa học thì Ngài phải biết thưởng thức tính lương thiện trí thức của những người không tin như Bertrand Russell và khinh thường sự hèn nhát của những kẻ chỉ vì lợi mà tin vào điều vô lý.

 
Hơn nữa, không phải muốn tin là có thể tin. Tin tưởng không phải là một quyết định của ý chí mà là trạng thái của trí tuệ khi chấp nhận một mệnh đề nào đó. Trạng thái chấp nhận này chỉ đến với chúng ta qua lý luận hợp lý hay khi có các chứng cớ hỗ trợ. Lý trí nhận thấy điều gì vô lý thì tự động làm mình không tin. Người ta không thể tin tưởng điều vô lý chỉ vì lợi. Người tin vào điều vô lý thực ra chỉ hy vọng và ao ước điều hắn tin là đúng, do động cơ mối lợi, chứ không phải hắn đang tin tưởng thực sự. Niềm hy vọng và ao ước của hắn không làm điều hắn tin chân thật hơn. Đó cũng là lý do tại sao TCG hay quanh co bàn về niềm hy vọng thay vì bàn thẳng vào đức tin.

 
III.    Kết luận

TCG đã được xây dựng dựa trên một nền cát hay trên một tiền đề giả định hoang tưởng, huyễn hoặc. Giả định có một ông Chúa ngự trên trời cao chăm lo cho phúc lợi của con người thì không có chỗ đứng trong khoa học. Khoa học càng tiến bộ thì cái nền tảng của TCG càng ngày càng bị soi mòn, suy xụp dần. Các kiểu cách ngụy biện ngôn từ hòng để cải đạo thiên hạ đang dần dần bị lật tẩy nhờ ánh sáng của trí tuệ.


Chỉ vì một thắc mắc mơ hồ “biết đâu đó là sự thật” có một xác suất không thể xảy ra mà con người đã thiết lập vô số các tôn giáo để làm lý do phân biệt, kỳ thị, chém giết lẫn nhau. [8] Họ ngạo mạn cho mình biết được cả những ý muốn của ông Chúa tưởng tượng kia, rồi tự khoát cho mình quyền đại diện để cầm buộc dưới đất cũng như trên trời. Họ còn cổ vũ hô hào thà vâng lời Chúa hơn là vâng lời người thế gian, hoặc thà mất nước chẳng thà mất Chúa. Người ta có thể chết chỉ vì tin tưởng vào những điều chắc chắn không thể có. Tất cả chỉ vì quyền lợi vật chất của phe nhóm núp dưới chiêu bài tôn giáo. Nếu nghề buôn bán đồ giả có thể phát đạt nhờ những thủ đoạn quảng cáo nói láo ăn tiền thì cái nghề buôn thần bán thánh cũng không phải là một ngoại lệ. 

Từ cái tiền đề giả định về một điều không thể có, chúng ta có thể nhận ra rất dễ dàng các thủ đoạn mánh mung khác mà TCG đã sử dụng trong suốt hơn 2,000 năm qua. Những chuyện bịa đặt dàn dựng như các phép lạ của Chúa Giê-su, của bà Maria, hay của các ông bà thánh thì đầy dẫy ở trong văn chương TCG. Những sinh vật tưởng tượng kia không có thân xác vật chất thì không thể làm được điều gì, ngoài việc chỉ đứng khóc, có khi còn lâm ly chảy cả máu mắt, rồi van xin nhờ vã con người có xác phàm làm những điều thay thế cho họ. Những gì TCG gán cho Thiên Chúa toàn năng hay Đức Mẹ quyền phép vô biên dạy bảo thì không có gì là độc đáo mà loài người không thể nghĩ ra. 


Người viết là một người Công Giáo đã được rửa tội và giáo dục theo truyền thống văn hóa TCG ngay từ khi mới sinh ra đời. Cứ mỗi khi có vấn đề nan giải, người viết thường hay cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần soi sáng tâm trí; nhưng Chúa vẫn cứ yên lặng, ngoại trừ những lời dạy bảo của các ông linh mục thay mặt Chúa. Khi khôn lớn hơn, hiểu biết thêm một chút, người viết mới ngộ ra rằng đó là lý do tại sao người ta muốn chúng ta phải nhắm mắt tin, vâng lời trong tuân phục. Khi đọc toàn bộ các cuốn kinh thánh, người viết mới nhận ra rằng những gì từ xưa nay chúng ta vẫn tin là Lời của Chúa toàn năng không thể sai lầm thì thực ra chỉ là lời của những con người phàm tục, có thể đúng và cũng có thể sai.


Có sinh vật tưởng tượng nào, kể cả Thiên Chúa của TCG, mà chẳng phải tuyệt đối giữ im lặng, chẳng phải là những mầu nhiệm không thể lý giải, bất khả tư nghì?


Trần Tiên Long

Ghi chú:
[1] Miên Man Chuyện Đức Tin / Trần Tiên Long. Nguồn:http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5924
[2] Top 10 Psychic Debunkings, http://listverse.com/2008/04/10/top-10-psychic-debunkings/
[3] Muller, H. J. (1959). "One hundred years without Darwin are enough". School Science and Mathematics 59: 304–305.doi:10.1111/j.1949-8594.1959.tb08235.x.http://www.skepticfiles.org/evolut/100pcnts.htm. Reprinted in Zetterberg, Peter (ed.) (1983-05-01). Evolution Versus Creationism: The Public Education Controversy. Phoenix AZ: ORYX Press. ISBN0897740610.
[4] The improbability of God by Richard Dawkins / Không Thể Có Thượng Đế. Trần Tiên Long dịch. Nguồn: http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5013
[5] Hai Lối Chứng Minh Không Có Thượng Đế. Trần Tiên Long dịch. Nguồn:http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=861
[6] Research suggests morality can survive without religion. Nguồn:http://www.upi.com/Science_News/2016/01/13/Research-suggests-morality-can-survive-without-religion/6411452715270/
[7] Người càng thông minh thì càng ít tin vào tôn giáo? Nguồn:http://phatgiaovnn.com/upload1/modules.php?name=News&op=viewst&sid=9703
[8] The long history of Muslims and Christians killing people together. Nguồn:https://www.washingtonpost.com/news/worldviews/wp/2016/01/25/the-long-history-of-muslims-and-christians-killing-people-together/


Source: "qtran@ec.rr.com [DiendanDanToc]" <DiendanDanToc@yahoogroups.com>
On Saturday, April 23, 2016 5:46 AM, "qtran@ec.rr.com" <qtran@ec.rr.com> wrote:



Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2015

“ÁNH SÁNG TUỆ GIÁC” CỦA THÍCH CHÚC ĐẠI

Trần Tiên Long

Subject: ÁNH SÁNG TUỆ GIÁC 
From: "qtran" 
Date: Sat, December 26, 2015 6:51 am

Kính thưa quí đọc giả,

Đứng trước một vấn đề chưa biết rõ thực hư, con người chúng ta thường có hai thái độ: hoặc nhắm mắt tin theo những gì được chỉ dạy; hoặc xử dụng trí tuệ để suy xét cho đúng đắn. Thiên Chúa giáo đề cao thái độ nhắm mắt tin và thăng hoa nó thành một nhân đức lớn tối quan trọng, đứng trên tất cả mọi đức hạnh, đó là nhân đức tin. Ngược lại, Phật Giáo thì lại dạy trí tuệ là ánh sáng tối thượng để đoạn tận các lậu hoặc, chứng ngộ giải thoát.
Vậy trong hai thái độ, hoàn toàn mâu thuẫn theo tính loại trừ nhau, thái độ nào là thái độ thích hợp nhất đối với mỗi người trong chúng ta?
 
Tôi là một người Công Giáo được giáo dục theo truyền thống văn hóa Thiên Chúa Giáo ngay từ khi mới sinh ra đời. Cứ mỗi khi có vấn đề, tôi thường cầu nguyện xin Chúa soi sáng tâm trí; nhưng Chúa vẫn cứ yên lặng, ngoại trừ những lời dạy bảo của các ông linh mục thay mặt Chúa. Khi khôn lớn hơn, hiểu biết thêm một chút, tôi mới ngộ ra rằng đó là lý do tại sao người ta muốn dạy tôi phải nhắm mắt tin. Có dịp đọc Kinh Thánh, tôi mới hiểu rằng những gì mà từ xưa nay tôi vẫn tin như đinh đóng cột là Lời Chúa thì thực ra chỉ là những lời của con người phàm tục.
Với ý muốn làm sáng tỏ hai thái độ đối nghịch trước những vấn đề chưa rõ ngọn ngành, tôi xin chuyển đến quí đọc giả bài Ánh Sáng Tuệ Giác của tác giả Thích Chúc Đại để quí vị tường. Chọn lựa thái độ nào là quyết định hoàn toàn tự do của mỗi người.

Trân trọng,
Trần Tiên Long


Ánh Sáng Tuệ Giác

Thích Chúc Đại



Trong hành tinh này, ánh sáng là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá đối với con người và vạn vật đang hiện hữu. Ánh sáng tạo nên sự quang hợp hữu cơ của các loài sinh vật trong thế giới tự nhiên, là chất liệu để giúp cho muôn hoa được đâm chồi trổ nhụy và hiến tặng cho đời những đóa hoa tươi thắm nhất. Ở một khía cạnh khác của cuộc sống, ánh sáng sẽ làm xua tan đi những bóng đêm tăm tối của cuộc đời. Ánh sáng trong Đạo Phật được nói đến với tên gọi là Trí tuệ. Trí tuệ ấy sẽ là ngọn hải đăng đưa người vượt qua biển mê, là ngọn đèn soi đường dẫn lối đưa hành giả đi vào đạo lộ giải thoát. [1] Với ý nghĩa thiêng liêng ấy, Đức Phật đã giảng dạy trong trong Kinh Tăng Chi Bộ về bốn loại ánh sáng. Kinh chép như sau:
Này các Tỷ-kheo, có bốn loại ánh sáng. Thế nào là bốn ?Ánh sáng mặt trăng, ánh sáng mặt trời, ánh sáng ngọn lửa, ánh sáng trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại ánh sáng này. Và này các Tỷ-kheo, loại tối thượng trong bốn loại ánh sáng là ánh sáng trí tuệ.[2]

Bốn loại ánh sáng trên, trong Tăng Chi Bộ Kinh cũng gọi là bốn loại hào quang,[3] là bốn ánh lửa, [4] bốn ánh chiếu, [5] bốn ánh đèn.[6] Ở đây, chúng ta thấy rằng ánh sáng mặt trời thường biểu hiện cho sự ấm áp, hơi ấm của mặt trời là diệp lục tố cho muôn vật sinh sôi nảy nở. Ánh sáng của mặt trăng là sự nhẹ nhàng, huyền diệu và lung linh. Ánh sáng ấy có tác dụng xua tan bóng đêm ở mọi nẻo đường và soi sáng mọi ngõ ngách của muôn lối về. Ánh sáng của lửa sẽ sưởi ấm cho chúng ta trong đêm đông buốt giá, hơn thế nữa ánh sáng của lửa cũng là thể hiện cho sự vươn lên của kiếp người. Ánh sáng của trí tuệ là kim chỉ nam, là la bàn định hướng cho mọi hành giả hướng về đời sống hướng thượng, đời sống ấy chính là an lạc giải thoát.

Tại sao Trí Tuệ là ánh sáng tối thượng nhất trong bốn loại ánh ? Bởi vì ánh sáng của Trí Tuệ luôn là yếu tố cần thiết và cũng là chi phần đầu tiên trên bước đường đoạn tận các lậu hoặc, chứng ngộ giải thoát. Điều này được minh chứng trong  kinh A Hàm, Đức Phật đã nêu lên sự sai khác của người ngu và người trí. Trong đó sự sinh khởi của nguy hiểm, tai họa, tức giận hay bị vô minh tham ái che lấp, làm cho hành giả không thể vượt thoát sanh tử khổ đau chỉ hiện hữu trong người ngu. Còn trái lại đối với người trí thì tất cả những khổ đau trên đã nêu đều vắng bặt.

Kinh đã ghi chép như sau:
Tăng Chi, III-1 : "Phàm có sợ hãi nào khởi lên, này các Tỷ-kheo, tất cả sự sợ hãi đó khởi lên từ người ngu, không phải từ người hiền trí. Phàm có những nguy hiểm nào khởi lên, tất cả những nguy hiểm ấy khởi lên từ người ngu, không phải từ người hiền trí. Phàm có những tai họa nào khởi lên, tất cả những tai họa ấy khởi lên từ người ngu, không phải từ người hiền trí ... Như vậy người ngu có sợ hãi, người trí không sợ hãi, người ngu có nguy hiểm, người trí không có nguy hiểm, người ngu có tai họa, người trí không có tai họa. Này các Tỷ-kheo, không có sợ hãi đến với người trí, không có nguy hiểm đến với người trí, không có tai họa đến với người trí"

Tương Ưng, II-12-19 : "Này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, thân này của người ngu được sanh khởi. Vô minh ấy, người ngu không đoạn tận. Tham ái ấy, người ngu không tận trừ. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người ngu sống phạm hạnh không phải vì chơn chánh đoạn tận khổ đau. Do vậy, người ngu khi thân hoại mạng chung, đi đến một thân khác. Do đi đến một thân khác, vị ấy không thoát khỏi sanh già chết, sầu bi khổ ưu não. Ta nói rằng vị ấy không thoát đau khổ" . "Và này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân người Hiền trí được sanh khởi. Vô minh ấy, người hiền trí đoạn tận. Tham ái ấy, người hiền trí tận trừ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người hiền trí sống phạm hạnh vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau. Do vậy, người Hiền trí, khi thân hoại mạng chung không đi đến một thân khác, vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.Ta nói rằng: Vị ấy thoát khỏi đau khổ."

Ngoài ra, khi bàn về ánh sáng của tuệ giác, trong “Đại Trí Độ Luận” Bồ Tát Long Thọ đã luận giải như sau : “ Bồ-tát dạy chúng sanh nên học trí tuệ. Trí tuệ là sáng suốt, thứ nhất gọi là mắt tuệ. Nếu không có mắt tuệ, tuy có mắt thịt vẫn là đui. Tuy có mắt mà không khác súc sanh. Nếu có trí tuệ, tự phân biệt được tốt xấu, không theo lời người khác; nếu không trí tuệ, theo người dắt đông dắt tây; như trâu, lạc đà bị xâu mũi đi theo người. Trí tuệ trên hết thảy pháp hữu vi, được bậc thánh nhân ái, vì hay phá pháp hữu vi. Như trong Kinh nói: Trong các thứ báu, trí tuệ quý báu hơn hết. Trong hết thảy đồ sắc bén, đao trí tuệ sắc bén hơn hết. Ở đảnh núi trí tuệ, không còn lo sợ, xem các chúng sanh khổ não, đều thấy tất cả. Lưỡi dao trí tuệ hay cắt đứt sợi xích phiền não sanh tử vô thỉ. Năng lực trí tuệ còn làm cho đầy đủ sáu Ba-la-mật, được vô lượng Phật đạo không thể nghĩ bàn, thành nhất thiết trí, huống chi Thanh văn, Bích-chi Phật và các việc tốt thế gian. Trí tuệ ấy tăng trưởng thanh tịnh không thể bị trở hoại, ấy gọi là Ba-la-mật. Chúng sanh nghe rồi, an trú trong Bát-nhã ba-la-mật.”[7] 

Từ những dẫn chứng của kinh văn và luận tạng, chúng ta có thể nhận biết rằng, tuệ giác là nguồn mạch sinh khởi của tất cả thiện pháp, là điều kiện tiên quyết trong tất cả các pháp môn tu tập của Phật Giáo, là nhân tố cơ bản để đưa đến quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác .[8] Là công cụ truyền đạo và hành đạo của Bồ Tát. Đồng thời, Tuệ giác cũng chính là bước đi đầu tiên đi vào biển giác, và là bước đi cuối cùng chấm dứt sanh tử khổ đau.

Sở dĩ, con người mãi chìm đắm trong sanh tử khổ đau từ kiếp này sang kiếp khác, là do vắng mặt của ánh sáng tuệ giác. Chính vì thế, mỗi hành giả hãy tự thắp lên ngọn đèn tuệ giác, để soi rọi và phá tan màng vô minh hắc ám. Mỗi người hãy là chiến binh trí tuệ để diệt trừ tận gốc những tên giặc ngu si, phiền não đã làm não loạn đời sống của chính mình. Có như thế, chúng ta mới thực sự tìm thấy sự an lạc, thảnh thơi và những giá trị đích thực trong cuộc sống này.

Virginia Beach 13.08.2012
Thích Chúc Đại


[1] Nói đến trí tuệ của Đạo Phật thì phạm vi rất rộng. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả chỉ nêu lên một khía cạnh nhỏ mà thôi.
[2] Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch, “ Kinh Tăng Chi Bộ”,  Phẩm ánh sáng, II – 142, trang 79-80.
[3] Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch, “ Kinh Tăng Chi Bộ”,  Phẩm ánh sáng, I – 141, trang 79.
[4] Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch, “ Kinh Tăng Chi Bộ”,  Phẩm ánh sáng, III – 143, trang 80.
[5] Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch, “ Kinh Tăng Chi Bộ”,  Phẩm ánh sáng, IV – 144, trang 80.
[6] Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch, “ Kinh Tăng Chi Bộ”,  Phẩm ánh sáng, V – 145, trang 80-81.
[7] “Đại Trí Độ Luận”, quyển 30, Đại chánh tạng 25, trang 282, dòng 12-16.
[8] Hòa Thượng Thích Minh Châu, “ Trí tuệ trong Đạo Phật”: Mục đích của Đạo Phật là diệt khổ và đem vui cho mọi   loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạc và hạnh phúc. Mục đích của Đạo Phật là giải thoát và giác ngộ, và chỉ có trí tuệ (Pannà) mới là phương tiện duy nhất đưa loài người đến bờ giải thoát và giác ngộ.



Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014


CẢ ĐỜI TÔI TÌM CHÚA

Trần Tiên Long


Tôi vốn không thích viết về tôi, một cái tôi đáng ghét. Đã có nhiều độc giả từng đặt ra những câu hỏi, thắc mắc, đúng hơn là những ức đoán có mục đích dèm pha về đời sống cá nhân, gia đình, và nội tâm của con người tôi. Nhưng tôi vẫn giữ im lặng, chẳng cần phải thanh minh hay biện giải. Bởi lẽ, những dèm pha đó không liên quan đến những gì tôi đã viết. Nhưng nay nghĩ lại, có lẽ mình cũng nên chia sẻ với các độc giả về lý do tại sao tôi không còn tin về sự hiện hữu của một Thiên Chúa toàn năng.
Đã có nhiều tác giả ngoại quốc viết về đề tài này, bao gồm Bertrand Russell với bài Tại Sao Tôi Không Phải Là Người Ki-tô Giáo; [1] hoặc Robert Ingersoll, Tại Sao Tôi Là Người Không Tin. [2]  Do vậy, ở bài viết này, tôi sẽ không đề cập chi tiết về các luận chứng của họ để dành chỗ cho những điều riêng tư, những điều mà tôi đã từng trải nghiệm, kinh qua, để rồi mãi tới ngày hôm nay mới dám khẳng định công khai điều mình đang cảm nhận. Đây là kết quả của một cuộc tìm kiếm suốt cả đời người.
Sau đây, tôi sẽ lần lượt trình bày lý do tại sao tôi không còn tin có Chúa qua các tiểu mục sau:
·         Tất cả chỉ tại một chữ duyên
·         Thượng đế nào?
·         Bằng kinh nghiệm nghề nghiệp
·         Những thắc mắc của một con người còn dám sử dụng lý trí
·         Kết luận

Tất cả chỉ tại một chữ duyên
Tôi đã dành trọn cả cuộc đời tôi để đi tìm bằng chứng và dấu vết về sự tồn tại của một thượng đế mà người Công Giáo gọi là Thiên Chúa. Mới chừng 11 tuổi đầu (hè 1965), tôi gia nhập Tiểu Chủng Viện Sao Biển thuộc giáo phận Nha Trang để học nghề làm linh mục, theo gót chân của anh tôi. Sau sáu năm, tôi dời bỏ đời sống tu trì, hăng say nhập vào cuộc đời khi gần 17 tuổi (cuối năm 1970). Mặc dù vậy, thắc mắc về sự tồn tại của Thiên Chúa luôn luôn cứ theo bám, luẩn quẩn trong tâm trí tôi. Đến khi đã trưởng thành, học xong bậc đại học, tôi vẫn còn hăng say tích cực hoạt động tông đồ ở một xứ đạo VN bên Hoa Kỳ. Tôi đã là thành viên của hội Cursillo, thư ký của nhóm Linh Thao, sáng lập viên tờ Đồng Hành, và là giảng viên Giáo Lý lớp 12 cho các em học sinh VN của cộng đoàn Các Thánh Tử Đạo VN, New Orleans, Louisiana. Ở tuổi gần 40, sau khi đã có gia đình và bốn thằng con trai, tôi còn là giáo viên dạy Việt Ngữ, ủy viên Công Giáo Tiến Hành, và thừa tác viên Thánh Thể cùng với các linh mục cho giáo dân rước mình thánh Chúa trong những ngày lễ cuối tuần ở cộng đoàn Chúa Cứu Thế, Long Beach, California.

Tôi cũng đã từng trải nghiệm những giây phút sảng khoái, xúc động khi cầu nguyện với Thiên Chúa và Đức Mẹ Maria, tưởng như được Chúa và Mẹ yêu thương cách riêng đến nỗi nhiều khi rơi rớt đôi dòng lệ. Nhưng tôi cũng đã có những giây phút yếu đuối, ngã lòng, nghi ngờ, tự hỏi không biết có Chúa thực, hay tất cả đơn thuần chỉ là một thứ cảm xúc tự nhiên do trí óc tưởng tượng của con người. Và tôi cũng đã cầu xin Chúa cho tôi một dấu chỉ, một tín hiệu để tôi biết Ngài đang hiện diện. Nhưng tất cả chỉ là sự im lặng tuyệt đối, trống vắng, từ tháng này qua tháng khác, từ năm kia sang năm nọ, suốt cả cuộc đời này.

Nếu cuộc đời cứ trôi nổi mãi như vậy thì tôi đã không phải là tôi như ngày hôm nay, nghĩa là tôi vẫn cứ vô tư, thoải mái tin và làm những gì đã được nhồi sọ ngay từ khi mới chào đời. Cái cơ duyên bất ngờ đã đến khi tôi có dịp đọc cuốn Hành Hương Đất Phật của tác giả Phan Thiết, tức cựu Thẩm Phán Nguyễn Kim Khánh. Đây là một cuốn sách viết về Phật Giáo bởi một tín đồ Thiên Chúa Giáo, có mục đích xuyên tạc và dèm pha Phật Giáo. Nhưng chính cuốn sách đó là cuốn tôi đã đọc say mê lần đầu tiên trong đời về Phật ở cái tuổi ngoài 40. Bởi lẽ, là một người Công Giáo theo đạo dòng, được rửa tội từ khi mới vài tuần tuổi, tôi luôn luôn xem Bụt và tất cả các thần linh của các tôn giáo khác là ma quỷ, mê tín dị đoan. Tôi cầu nguyện đêm ngày, xin Chúa giữ gìn, tránh xa mọi dịp cám dỗ để khỏi bị sa ngã. Khi mới qua Hoa Kỳ, có lần hai ông mục sư Mỹ gõ cửa nhà tôi để dụ đạo. Tôi đã mời họ vào để nghe họ giảng đạo và xin một ít sách báo để tìm hiểu thêm về Tin Lành, nhưng đã bị cha mẹ tôi la rầy, không muốn tôi tiếp xúc với họ nữa. Và tôi đã vâng lời cha mẹ tôi một cách miễn cưỡng.

Nhưng ngày nay, vì công ăn việc làm, tôi phải sống lẻ loi nơi một thành phố xa lạ, hoàn toàn tách biệt khỏi cha mẹ, anh em, họ hàng, bà con lối xóm, và các bạn bè đồng đạo. Bằng tư duy và nhận thức độc lập, chính bài Vô Tự Chân Kinh đã giúp tôi quyết định tự tìm hiểu thêm về các tôn giáo khác khi đã ở cái tuổi quá nửa đời người. Lời kệ của Đức Thích Tôn được ghi lại trong kinh Tăng Nhất Tập chứa đựng một chân lý mà cho đến nay không một ai có thể phản bác ở bất cứ điểm nào:
“Đừng tin điều gì do kinh sách.
Đừng tin điều gì do tập quán lưu truyền.
Đừng tin điều gì vì được người ta nhắc đi nhắc lại.
Đừng tin điều gì do bút tích của thánh nhân.
Đừng tin điều gì do người ta tưởng tượng ra rồi gán cho thần phật nói.
Đừng tin điều gì vì uy tín của thày dạy.
Nhưng hãy tin vào điều các con đã từng trải, đã kinh qua và suy xét cho là đúng, có lợi cho các con và kẻ khác.
Lòng tin ấy sẽ thăng hoa đời con, và các con hãy lấy đó làm tiêu chuẩn.”
  [3]



Tôi tự hỏi, nếu ý tưởng của bài kinh kệ đó đích thực là chân lý thì tại sao ở ngoài cái tuổi tri thiên mệnh này tôi vẫn không thể tự tạo cho mình một hướng đi? Cứ nhắm mắt tin và làm theo những gì được dạy dỗ chỉ vì đức vâng lời thì rõ ràng đó là một thái độ hành xử vong thân, vong bản vì đối nghịch với bản chất đích thực của con người vốn có lý trí và ý chí tự do. Tôi phải là tôi, chứ không cần phải là một người nào khác mà tôi muốn bắt chước. Tôi muốn mình là một con người có đầy đủ nhân vị, không phải một con chiên, càng không phải một ông thánh. Và nếu có muốn bắt chước thì cũng phải từ một quyết định tự do cá nhân, chẳng phải quyết định áp đặt của bất cứ ai. Tôi sống cuộc đời của tôi với tinh thần trách nhiệm, an nhiên tự tại, không phải cuộc đời của thiên hạ.
Chỉ một câu kinh Phật đã làm thay đổi toàn vẹn cách lối tư duy và nhận thức của một tín đồ Công Giáo đạo dòng. Thay vì cứ “nhắm mắt tin” vì đó là lời Chúa thì bây giờ tôi chỉ“tin vào điều đã từng trải, đã kinh qua và suy xét cho là đúng, có lợi cho mình và cho kẻ khác”. Tất cả hoàn toàn đều do một chữ duyên.

Thượng đế nào?
Có một lỗi lầm rất căn bản mà chúng ta thường vấp phạm là không xác định được thượng đế nào khi bàn về thượng đế, bởi vì có đủ thứ hầm bà lằng thượng đế. Từ khi có con người, mỗi bộ lạc, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có những ông thượng đế khác nhau. Tôn giáo nào cũng khẳng định chỉ có thượng đế mình đang tôn thờ là chân thật nhất. Ngoài ra, tất cả các thượng đế khác hay thần linh của các tôn giáo khác đều là ma quỷ, mê tín dị đoan, sản phẩm của tưởng tượng.Mỗi tôn giáo đều có những niềm tin đặc thù, nhiều khi còn mâu thuẫn, đối nghịch với nhau, không thể tất cả cùng đúng. Vẽ người mới khó, chứ vẽ ma quỷ thì dễ vẽ vô cùng!
Vậy thượng đế mà tôi đã bỏ cả cuộc đời để tìm kiếm là ông thượng đế nào? Có phải Ngài là một hữu thể sáng tạo, luôn luôn quan tâm và lo lắng cho đời sống của con người trần gian như Thiên Chúa của Độc Thần Giáo; hay đó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của con người đã một thời được dân gian thờ cúng như các thần linh trong Phiếm Thần; hay Ngài chỉ là cái nguyên nhân đầu tiên khởi động vũ trụ, rồi sau đó hoàn toàn lãnh đạm, không còn màng đến nó nữa, như một số khoa học gia một thời tin theo Tự Nhiên Thần Giáo, trước khi có sự khẳng định của nhà vật lý thắng giải Nobel, Stephen Hawking, về việc vũ trụ có thể tự sinh do chính các định luật của thiên nhiên?

Bởi vì tôi đã từng là một người Công Giáo nên chỉ muốn bàn về một thượng đế hữu ngã, có nhân tính (personal God) của Độc Thần Giáo, một thượng đế có đầy đủ hỉ nộ ái ố, đối nghịch với thượng đế vô ngã (impersonal god) được hiểu bàng bạc và mơ hồ trong Tự Nhiên Thần Giáo, Ấn Độ Giáo, và ngay cả trong Phật Giáo. Người Thiên Chúa Giáo gọi thượng đế là Thiên Chúa, và chỉ có một Chúa duy nhất, chủ ý bao gồm tất cả các thượng đế hay thần linh của các tôn giáo khác, kể cả ông trời trong dân gian VN còn được gọi là Đức Chúa Trời. Dĩ nhiên, Giê-su của Thiên Chúa Giáo là Thiên Chúa, nhưng Gia-vê của Do Thái Giáo và Allah của Hồi Giáo cũng vẫn là Thiên Chúa, mặc dù người Do Thái Giáo và Hồi Giáo không phải là người Thiên Chúa Giáo vì họ không tin Giê-su.

Như vậy, đối với người Thiên Chúa Giáo, nhân vật Giê-su, một người đàn ông sinh ra ở Do Thái cách nay hơn 2.000 năm, chính là Đức Ki-tô, cũng là Thiên Chúa, cũng là thượng đế, cũng là đấng sáng tạo trời đất và muôn loài, có những thuộc tính toàn năng, toàn hảo, toàn trí, toàn thiện, ở khắp mọi nơi, thường hay chăm lo và can thiệp tới những công việc của loài người qua các phép lạ như đã có bàn đầy dẫy trong hai cuốn kinh Cựu Ước và Tân Ước.

Người Công Giáo tin vào Thiên Chúa quan phòng bằng câu răn dạy rằng “một sợi tóc trên đầu rụng xuống không ngoài thánh ý của Thiên Chúa”. Khi tôi khôn lớn hơn và có thể suy nghĩ độc lập thì mới nhận ra tất cả chỉ là “thánh ý” của Vatican, một quốc gia ngoại tộc, có cơ cấu và tổ chức độc tài toàn trị nhất trong thế giới, và là thành viên của Liên Hiệp Quốc như bao các quốc gia độc lập khác.

Khi đọc các luận chứng mà các nhà biện giải cho Thiên Chúa Giáo đã trưng ra, tất cả đều không thuyết phục đối với những người có đầu óc tìm hiểu theo phương pháp của khoa học. Các triết gia và khoa học gia đã trưng ra cho chúng ta thấy những ngụy biện nội tại, nằm ngay trong các luận chứng. Và đó chính là lý do tại sao Công Giáo muốn người tín hữu phải có niềm tin, được thăng hoa thành một đức hạnh lớn nhất trong mọi đức hạnh: ĐỨC TIN. Đó là một cái bẩy xập mà những người tín hữu đã tự nguyện nhắm mắt ngay từ khi mới chào đời thì không dễ gì còn có thể nhìn thấy.

Không có khoa học nào khuyến khích chúng ta tin những điều đối nghịch với lý lẽ, với những quan sát thông thường, và với các bằng chứng hiển nhiên trước mắt. Tính nghi ngờ, sự suy xét chín chắn, tìm hiểu có phê phán là phẩm hạnh cần thiết, được đòi hỏi trong tất cả các bộ môn khoa học, đối nghịch với đức tin của Công Giáo. Nếu không phải để cổ vũ cho những điều vô lý thì chẳng cần bịa ra đức tin. [4] Chỉ với mục đích bảo vệ và phát triển đạo Công Giáo, con người đã bị nhồi sọ bằng việc tự lừa dối chính mình, cứ nhắm mắt trước tất cả mọi bằng chứng hiển nhiên, đối nghịch, và chỉ tin vào một thẩm quyền của Hội “Thánh” hơn là khả năng phán đoán của chính họ, tất cả nằm ở lời Chúa dạy: “Phúc cho những ai không thấy mà tin!”

Thực ra, sự hiện hữu của Thiên Chúa chỉ là một giả định hoang tưởng mà chưa ai có thể chứng minh, một giả định có từ thời tiền sử, đối nghịch với các khám phá của khoa học.
Ngay ý niệm thượng đế đơn thuần như là nguyên nhân đầu tiên để khởi động vụ nỗ lớn (big bang) cũng đã bị khoa học loại bỏ; bởi vì vũ trụ này thì vô tận, đã có từ vô thủy vô chung, nghĩa là không có khởi đầu và chấm dứt nên không cần phải có nguyên nhân đầu tiên. Mang thượng đế để gán cho một nguyên nhân đầu tiên làm tác động vụ nỗ lớn đã trở nên dư thừa, không còn cần thiết nữa. Chỉ cần đơn giản đặt một câu hỏi “vậy ai sinh ra thượng đế” thì cũng đủ đánh đổ mọi luận chứng biện minh cho sự tồn tại của một thượng đế như là nguyên nhân đầu tiên.
Nhưng thượng đế của Thiên Chúa Giáo lại còn là một sinh vật rất yêu thương và chăm lo cho phúc lợi của con người. Nếu chúng ta dùng lý luận thuần lý của Parmenides, một triết gia cổ Hy lạp, thì cũng đủ đánh đổ sự tồn tại của Thiên Chúa, một thượng đế hữu ngã có đầy đủ nhân tính; bởi vì không thể có sự hiện hữu của bất cứ thứ gì có những thuộc tính mâu thuẫn loại trừ nhau. Bởi vậy, khi nhìn thấy thế giới này tràn đầy mọi sự dữ, và sự dữ vẫn cứ xảy đến cho đủ mọi hạng người, kể cả những người đã bỏ cả cuộc đời để theo Chúa, Epicurus lý luận như sau từ mấy ngàn năm trước:

·         -  Có phải Thiên Chúa rất muốn ngăn ngừa sự dữ nhưng lại không thể? Vậy Thiên Chúa đâu phải là toàn năng.
·         -  Có phải Thiên Chúa có thể ngăn ngừa sự dữ nhưng lại không muốn? Vậy Thiên Chúa đâu có nhân từ và thương yêu con người.
·        -  Có phải Thiên Chúa có thể và rất muốn ngăn ngừa sự dữ? Vậy tại sao lại có sự dữ đầy dẫy ở trong thế gian này?
·         -  Phải chăng Thiên Chúa không thể và cũng không muốn ngăn ngừa sự dữ? Thế thì tại sao cần phải tôn thờ Thiên Chúa?

Trong bài Không Thể Có Thượng Đế, tác giả Richard Dawkins cũng lập luận như sau:
“Có một sự thôi thúc để lập luận rằng mặc dù không cần thượng đế để giải thích sự tiến hóa của một trật tự phức tạp một khi vũ trụ đã khởi động với những định luật vật lý căn bản của nó, chúng ta vẫn cần đến một thượng đế để giải thích nguồn gốc của mọi sự vật. Ý tưởng này không có dành cho thượng đế làm nhiều điều: chỉ việc tạo ra vụ nổ lớn rồi ngồi đó và chờ đợi mọi sự sẽ xảy ra. Nhà vật lý và hóa học Peter Atkins, trong cuốn sách viết rất tuyệt của ông, Sự Sáng Tạo, quy định một thượng đế lười biếng đã làm việc ít nhất có thể để khởi sự đủ mọi thứ. Atkins giải thích từng bước của lịch sử vũ trụ tiếp nối nhau bằng định luật vật lý đơn giản. Như vậy, ông đã xén dần số lượng việc làm mà một thượng đế lười biếng cần làm và cuối cùng kết luận rằng, thực vậy, thượng đế chẳng cần để làm bất cứ một điều gì.” [5]

Bởi vì Thiên Chúa Giáo và các tôn giáo thuộc nhóm Độc Thần Giáo đều đã được xây dựng trên nền tảng của một giả định hoang tưởng nên những cố gắng chứng minh của họ đã hoàn toàn thất bại đối với dòng tiến hóa tư tưởng của nhân loại. Bởi đó, họ mới phải viện dẫn đến đức tin như một cái bẩy xập để nô lệ hóa tâm linh con người. Và cái bẩy xập này hiện đang được họ bảo vệ rất chặt chẽ, có hệ thống. Ai dám đụng chạm, phỉ báng niềm tin của họ thì chỉ có tội chết. Những bạo động của họ được tôn giáo phong thánh. Cây gậy và củ cà rốt - hình phạt hỏa ngục hay phần thưởng thiên đàng -  luôn luôn là nỗi ám ảnh và động cơ khích lệ cho những điều gian ác, nhân danh việc bảo vệ tôn giáo. Chỉ cần gọi tên đúng hoặc sai cái ông thượng đế tưởng tượng kia là Ki-tô, hay Allah, hay Gia-vê, hay Giê-su, cũng đủ đưa đến kết quả hoặc thiên đường hay địa ngục, làm phân chia ranh giới giữa con người, làm động cơ cho những đối xử tàn ác, không khoan nhượng với những kẻ không cùng niềm tin như họ, những kẻ mà họ vẫn hằng ngày khinh thường gọi là quân man di, mọi rợ, dị giáo, vô đạo, kẻ thù, sa-tan, hoặc quân vô thần.

Trong tất cả mọi lĩnh vực, ý kiến khác nhau về cùng một vấn đề là chuyện bình thường hằng ngày ở huyện. Nhưng riêng ở trong lĩnh vực tôn giáo, chỉ cần khác nhau một niềm tin thì cũng đủ có thể biến bạn thành thù. Và tôi cũng đã từng trải nghiệm những người bạn một thời rất thân thương hiện đang xem tôi như một kẻ tử thù. Tất cả chỉ tại vì chúng tôi không còn có cùng một niềm tin tôn giáo.

Bằng kinh nghiệm nghề nghiệp
Tôi là một kỹ sư cơ khí, chuyên về ngành kỹ nghệ không gian, hiện đang còn làm việc cho Bộ Hải Quân Hoa Kỳ. Một trong các công việc chính yếu nhất của tôi là làm những cuộc điều tra để xác định nguyên nhân một bộ phận của máy bay bị hư hại trước thời hạn để từ đó đưa ra những đề nghị: hoặc có nên tiếp tục sửa chữa bộ phận theo cách thức đang có sẳn, hoặc công ty đang cung cấp có nên thay đổi thiết kế của bộ phận, hoặc có nên thay thế toàn bộ phận đó bằng một bộ phận khác của một công ty khác, hoặc có nên làm một thiết kế hoàn toàn mới khác. Tôi đã từng viết cả trăm bản tường trình đúc kết các cuộc điều tra (final engineering investigation report). Dĩ nhiên, một bản tường trình đúc kết như vậy luôn luôn là kết quả cộng tác của nhiều chuyên viên khác trong các ngành chuyên biệt, và còn từ cả nhiều công ty có liên hệ. Và tôi cũng đã từng đọc hằng trăm bản tường trình đúc kết khác của các đồng nghiệp. Có những cuộc điều tra rất đơn giản, chỉ liên quan đến một bộ phận không quan trọng, cho dù hư cũng chẳng gây hệ quả gì nghiêm trọng khi máy bay đang bay. Nhưng cũng đã có nhiều cuộc điều tra liên quan đến các bộ phận tối quan trọng (critical safety item), làm rớt máy bay, gây tử vong cho nhiều người, ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Khi làm công việc khoa học kỹ thuật này từ mấy chục năm nay, tôi đã nhận ra một điều rất đáng để suy nghĩ, là chưa bao giờ tôi thấy một kỹ sư đồng nghiệp nào đã khẳng định, hoặc cho dù chỉ suy đoán, rằng nguyên nhân chính yếu (root cause) làm rớt máy bay có nguồn gốc siêu tự nhiên. Nếu có một vị kỹ sư nào viết như vậy thì rõ ràng đó là một sự điên khùng có một không hai, một trò hề ngoài sức tưởng tượng.

Trong tất cả các phương trình khoa học, tuyệt đối không có yếu tố siêu nhiên để giải thích các hiện tượng. Tất cả mọi sự xảy ra trong vũ trụ này đều có nguyên nhân tự nhiên. Bởi thế, Einstein, một nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại, đã phát biểu rằng:
“Nếu bạn làm cùng một việc và theo cùng một cách thức thì bạn sẽ luôn luôn có kết quả như nhau. Nếu bạn có kết quả khác, có nghĩa là bạn đã làm việc khác hoặc theo cách thức khác.”

Thí dụ về chiếc máy bay dân sự Boeing 777-200ER của hãng hàng không Mã Lai, chuyến bay MH370, đã mất tích vào ngày 8 tháng 3 năm 2014 mà cho đến nay vẫn chưa tìm thấy dấu vết. Nếu chúng ta đem vào bất cứ một hữu thể thiêng liêng nào để giải thích một biến cố mà hiện nay khoa học chưa giải thích được, như là ý Chúa nhiệm mầu để giết chết tất cả 239 hành khách, thì rất ư là khôi hài, tàn nhẫn, độc ác, vô tâm, vô cảm, vô đạo, chắc chắn chẳng một ai tin. Có phải vì đó là ý Chúa thì chúng ta nên ngừng ngay mọi cố gắng tìm kiếm? Và những thiên tai, thảm họa không phải do con người như các trận động đất, núi lửa, sóng thần, mưa bão, lụt lội, và các bệnh dịch Si-đa, Ebola… thì sao? Có phải đó cũng là ý Chúa? Nếu “mọi sự đều do thánh ý Chúa, kể cả một sợi tóc trên đầu rụng xuống”, nghĩa là Thiên Chúa toàn năng có ý định muốn các biến cố đó phải xảy ra, thì chúng ta, những loài thụ tạo, làm sao có thể cưỡng chống? Và những cố gắng của con người để giải cứu các nạn nhân có phải rõ rệt là đang chống lại ý muốn nhiệm mầu của Thiên Chúa toàn năng?

Chúng ta vẫn thường được dạy “phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người thế gian” (Cv 5, 29) cho dù cả cuộc đời chúng ta chưa từng nghe Chúa nói, ngoài những lời nói của Vatican tự phong cho mình quyền đại diện Thiên Chúa để có thể cầm buộc dưới đất cũng như trên trời. Những lời tuyên bố, răn dạy như “chiên ta thì phải nghe tiếng ta”, “bỏ Ngài thì con theo với ai?”, hoặc “thà mất nước chẳng thà mất Chúa”… thì cũng chỉ để “vâng lời trong tuân phục”một thế lực tôn giáo hoàn vũ đã từng phải xưng thú bảy núi tội lỗi đối với đồng loại. Khi bảo rằng "của Xêda trả về Xêda; của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa” thì có khác gì đem cả linh hồn và trí khôn giao nạp cho quốc gia ngoại tộc Vatican?

Những thắc mắc của một con người còn dám sử dụng lý trí
Tôi đã cố gắng dành trọn cả cuộc đời này để đi tìm bằng chứng và dấu vết của Thiên Chúa, nhưng kết quả chỉ là một con số không to tướng, ngoài sự trống vắng, im lặng tuyệt đối. Từ đó, chỉ cần động não một chút, những câu hỏi và thắc mắc sau đây tự động tuôn ra trong đầu óc, nên xin được trình bày ở đây theo cách thức nghiêm túc của học thuật trí thức:


1.     Tại sao Thiên Chúa cứ phải che giấu thân phận mình? Chẳng phải chính Thiên Chúa đã xuống thế làm người để tỏ mình bằng xương bằng thịt cho thiên hạ thấy hay sao? Rồi có vô số phép lạ Chúa làm để tỏ mình đã được ghi chép trong các kinh sách Công Giáo. Không lẽ đó chẳng phải là ý Chúa muốn mọi người nhận biết Chúa là đấng thực hữu?
2.     Nếu Chúa đã từng tỏ mình ở trong quá khứ thì tại sao không còn tỏ mình ở trong hiện tại, cái thời hậu hiện đại mà khoa học có thể nghiên cứu, điều tra tường tận để vạch trần được mọi sự gian dối?
3.     Nhưng Thiên Chúa thì toàn năng, ở khắp mọi nơi, có thể làm được hết mọi sự, vậy tại sao ý muốn tỏ mình của một đấng Toàn Năng lại không thể thực hiện, cũng chẳng hiệu quả hơn gì ý muốn của các phàm nhân có rất nhiều giới hạn?
4.     Còn nếu Thiên Chúa đã thay đổi ý định, không muốn con người nhận biết Ngài nên không còn tỏ mình nữa, thì tại sao Giáo Hội Công Giáo cứ làm trái ý của Thiên Chúa trong suốt hơn 2.000 năm qua bằng cách phí công sức và tiền của để rao giảng về Thiên Chúa, núp dưới mỹ từ là “đem tin mừng cứu rỗi muôn dân”?
5.     Tại sao một đấng toàn năng, toàn trí như Thiên Chúa lại cần phải thay đổi ý định? Các phép lạ trong Công Giáo đang chứng minh bất khả phủ bác rằng Thiên Chúa đã phải thay đổi ý định nhiều lần chỉ vì lời van xin hay hối lộ của con người hèn mọn. Điều này thì hoàn toàn đối nghịch với tính toàn năng và toàn trí của Thiên Chúa.
6.     Tất cả những điều vô lý đó không phải đã chứng minh rõ ràng Giáo Hội Công Giáo đã và đang làm công việc buôn thần bán thánh, những thứ giả mạo, không có thực, từ hơn 2.000 năm nay sao?

Tôi đã được dạy rằng Thiên Chúa thì phải như thế này, phải như thế nọ; nhưng khi đã khôn lớn, những điều đó tự động trở nên hiển nhiên phi lý, ngớ ngẫn, hoàn toàn không còn thuyết phục. Những gì các ông thần học chí chóe bàn về Thiên Chúa thì cũng giống y chang như những gì thiên hạ vẽ hưu vẽ vượn trong các chuyện tiểu thuyết hư cấu hay thần thoại hoang đường. Khi còn là một đứa con nít, tôi tin hoàn toàn những chuyện nhảm nhí đó, không bao giờ có một chút thắc mắc. Bây giờ đã trưởng thành với đầy đủ trí khôn rồi, tôi không còn tin chúng nữa.
Như vậy, có sự khác biệt gì giữa một đức tin tôn giáo và niềm tin mê tín dị đoan, ngoài việc đức tin tôn giáo thì được cổ vũ, hỗ trợ, tuyên truyền, nhồi sọ, và rao bán bởi một tổ chức tôn giáo có thế lực nhất hoàn vũ; trong khi niềm tin bị cho là mê tín thì không, ai tin cũng được, không tin cũng chẳng sao? Vậy đức tin trong bản chất đích thực thì hoàn toàn đồng nghĩa với các niềm tin mê tín dị đoan khác trong dân gian.

Kết luận
Kết quả tìm kiếm suốt cả cuộc đời tôi về sự tồn tại của Thiên Chúa là một sự im lặng tuyệt đối, trống không. Đó chẳng phải là một điều lạ lùng gì! Những thắc mắc ở trên đã minh xác rằng Thiên Chúa chỉ là sản phẩm tưởng tượng của con người, cũng giống như các nhân vật trong các chuyện tiểu thuyết hay thần thoại hoang đường, không hơn không kém. Sự việc Chúa phải im lặng, che giấu thân phận, là chuyện đương nhiên, tất yếu, không thể khác được. Có sinh vật tưởng tượng nào mà chẳng phải tuyệt đối giữ im lặng?
Do đó, tôi có thể bảo đảm rằng nếu chúng ta tôn thờ và cầu nguyện với bất cứ một sinh vật tưởng tượng nào bằng một đức tin không lay chuyển như chúng ta đang tôn thờ và cầu nguyện nơi Thiên Chúa thì chúng ta cũng sẽ nhận được những điều từ họ như những điều chúng ta nhận được từ Thiên Chúa.

Những luận chứng của các nhà biện giải cho Thiên Chúa Giáo cố gắng chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa đều hoàn toàn có thể áp dụng để chứng minh cho sự hiện hữu của bất cứ một sinh vật tưởng tượng nào. Mặc dù vậy, trên đời này chẳng có ai đã trưởng thành còn tin vào sự hiện hữu của các sinh vật tưởng tượng trong tiểu thuyết thần thoại hoang đường, nhưng lại có vô số người tin có Thiên Chúa. Vậy đó chính là kết quả của một nền giáo dục và tuyên truyền nhồi sọ, không phải một tặng phẩm hay hồng ân do Chúa ban.

Các phép lạ, những biến cố vi phạm các định luật của khoa học, thì ở trong tôn giáo hay thần thoại nào cũng có. Đức tin trong thực chất không thể đi đôi với khoa học. Thiên Chúa cũng giống như đôi nạng gỗ. Nếu ai phải cần cặp nạng đó để có thể đi đứng vững vàng thì xin cứ việc tự do, thoải mái sử dụng, nhưng đừng bao giờ mong muốn người khác cũng phải đi bằng đôi nạng gỗ như mình. Đối với những người còn dám sử dụng lý trí, họ vẫn cứ đi đứng thoải mái, vững vàng bằng chính đôi chân của họ mà chẳng cần cặp nạng gỗ. Và tôi tin chắc rằng chúng ta cũng có thể đi đứng như họ, nếu muốn.

Con người chúng ta đích thực là những con ếch ngồi dưới đáy giếng hoặc những thằng mù sờ chân voi nhưng lại thích bàn chuyện trên trời. Có một điều lạ lùng, vô lý và rất khôi hài là khi các nhà khoa học bàn chuyện trên trời thì chúng ta gọi họ là những thằng mù hay con ếch; nhưng khi những con ếch hay thằng mù ngồi ở đáy giếng tận bên Vatican bàn chuyện trên trời thì chúng ta lại gọi “đó là lời Chúa”.

Đứng trước những sự kiện bất khả phủ bác, các nhà biện giải cho Thiên Chúa Giáo không thể phản biện được bất cứ điều gì, ngoài việc tiếp tục dèm pha, tấn công tư cách cá nhân của các tác giả. Họ thường kết án thiên hạ cái tội đánh phá tôn giáo. Nhưng thưa bạn, việc bảo vệ và phục vụ chân lý, hay bảo vệ và phục vụ tôn giáo, việc nào thì quan trọng, nên làm hơn? Hỏi tức là đã trả lời, bởi vì “chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta”. Tôn giáo chỉ là một trong muôn vàn con đường dẫn ta đến các chân lý, không phải tự nó đang là chân lý. Nó chỉ là phương tiện, không phải cùng đích của cuộc đời chúng ta mong tìm kiếm. Chắc chắn không có tôn giáo nào cao trọng hơn sự thật, kể cả Công Giáo.

Riêng cá nhân tôi còn bị kết án thêm cái tội ăn cháo đá bát. Vậy tôi xin trích dẫn quan điểm của tác giả Robert Ingersollđể trả lời cho lời cáo buộc này. Ông được người đời tôn vinh là Người Không Tin Vĩ Đại (The Great Agnostic) vì đã khước từ những niềm tin của gia đình và tổ tiên sau khi ông đã trưởng thành. Trong bài Tại Sao Tôi Là Người Không Tin, ông biện giải như sau:

“Nếu chúng ta phải theo tôn giáo của cha mẹ chúng ta thì cha mẹ chúng ta cũng phải theo tôn giáo của họ. Như vậy thì đã không thể có sự tiến bộ trong lĩnh vực tư tưởng. Tôn giáo đầu tiên có lẽ đã là tôn giáo cuối cùng, và người con có lẽ đã chết trong sự ngu dốt như người mẹ. Sự tiến bộ có lẽ đã không có, và sự thông minh của nhân loại có lẽ đã bị hy sinh ở tại những ngôi mộ của các tổ tiên.” [2]

Vậy thưa bạn, cái tội đánh phá tôn giáo, hay cái tội đánh phá chân lý để làm cản trở sự tiến bộ tri thức của con người, tội nào là tội nặng hơn cả? Nếu tôi viết sai, xin bạn hãy chỉ ra cái sai nằm ở chỗ nào; còn nếu tôi viết đúng, tại sao lại kết án tôi?

Trần Tiên Long
Mùa lễ nghỉ Noel 2014
____________________
Ghi chú:
[1] Tại Sao Tôi Không Phải Là Người Thiên Chúa Giáo / Why I am not a Christian by Bertrand Russell. Nguồn:http://www.users.drew.edu/~jlenz/whynot.html
[2] Tại Sao Tôi Là Người Không Tin / Why am I an agnostic by Robert Ingersoll. Trần Tiên Long chuyển ngữ. Nguồn:
Phần I: http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5213
Phần II: http://sachhiem.net/TTL/TranTL15a.php
[3] Hành Hương Đất Phật, Phan Thiết, Chương 1, Vô Tự Chân Kinh, trang 31, Southern Stars Publisher, Australia
[4] Miên Man Chuyện Đức Tin / Trần Tiên Long. Nguồn:http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5924
[5] Không Thể Có Thượng Đế / The Improbability of God by Richard Dawkins. Trần Tiên Long chuyển ngữ. Nguồn: http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5013