Hiển thị các bài đăng có nhãn FRUS 1963. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn FRUS 1963. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013




LẠI CHUYỆN 50 NĂM TRƯỚC

Trần Chung Ngọc

   Tôi mới đọc bài “Từ Kennedy Đến Ngô Đình Diệm: Một Huyền Thoại Phải Dẹp Bỏ “ của Hoàng Nam Giao trên  http://sachhiem.net/THOISU_CT/ChuH/HoangNamGiao.php.  Và từ đó tìm đọc hai bài của Đinh Từ Thức với đầu đề: “50 năm sau biến cố 1 tháng 11, 1963: xét lại nguyên nhân và hậu quả”. Bài được đăng trên Kho lưu trử của “Tạp chí Da Màu”:
   Thứ nhất, luận cứ  “Vì ông Diệm chống Mỹ đem quân vào Việt Nam nên Mỹ trừ khử ông Diệm để có thể mang quân vào Việt Nam” không phải là một “huyền thoại”.  Đó chỉ là một lý luận rất ấu trĩ bất chấp sự thật của đám người Ca-tô đưa ra để đánh bóng cá nhân ông Ngô Đình Diệm, một lý luận thuộc loại “ông Diệm là chí sĩ, bao năm lê gót nơi quê người, tìm đường cứu nước, nhân dân Việt Nam [cả Bắc lẫn Nam] nhớ ơn Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm v…v… ” mà ngày nay đã trở thành “Nhân dân Cần Lao nhớ ơn Ngô Tổng Thống; Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống chín năm”, tuy rằng ông Diệm thuộc một gia đình Tam Đại Việt Gian, đã từng làm quan cho Pháp, trong thời gian toàn dân kháng chiến chống Pháp thì lê gót trong vài nhà Dòng Ca-tô ở ngoại quốc, một loại tung hô đại loại cũng giống như những lời ca tụng  “Linh mục Trần Lục là vĩ nhân của cả thế giới” v…v… và v…v…  Thử hỏi, ngoài đám tín đồ Ca-tô đưa ra lý luận như vậy, ai có thể tin được những điều này.
    Thứ nhì, nguyên nhân cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 không phải là do sự tìm hiểu “quan điểm của từng người” như TT Kennedy, Arewell Harriman, George Ball, Roger Hilsman, Michael Forrestal như ông Đinh Từ Thức viết.  Nguyên nhân chính là chính sách cai trị miền Nam của Ngô Đình Diệm và gia đình.   Cuộc đảo chánh không có “thủ phạm”, từ của ông Đinh Từ Thức dùng để chỉ Tổng thống Kennedy là “chính phạm”.  Lý do là, lật đổ chế độ Diệm và giết hai anh em ông Diệm không phải là một tội ác, vì đó là một biến cố chính trị xã hội, một sự thay đổi hợp với lòng dân, dù nhiều người không muốn ông Diệm bị giết, chỉ muốn ông ta ra đi, trở lại mấy nhà Dòng ở ngoại quốc, nên không làm gì có thủ phạm.  Tôi sẽ chứng minh trong một phần sau. 
   Hoàng Nam Giao đã nhận định khá đúng như sau:
  •    Trước hết, và nỗi cộm hơn cả, là tinh thần cai trị quốc gia phi dân tộc và phản dân chủ của anh em gia đình ông Diệm. Đó phải là nguyên nhân chính. Các nguyên nhân khác như áp lực của đồng minh Mỹ, phá hoại của đối thủ Cọng sản, chống đối của các lực lượng quốc gia khác, hay uất ức của quân đội khiến họ đã hai lần phản ứng bằng võ lực… chỉ là những nguyên nhân to hay nhỏ, vần vũ chung quanh một nguyên nhân trục: Trong khung cảnh hoàng hôn của phong trào giải thực và dưới gọng kềm của cuộc chiến tranh lạnh, miền Nam Việt Nam đã bất hạnh bị cai trị bởi một gia đình có bản chất phong kiến độc tài nặng tính Ky tô giáo Trung cổ. Đó là một nguyên nhân văn hóa, nên có nhiều khả thể đúng là nguyên nhân chính.
   Để khai triển nhận định của Hoàng Nam Giao, sau đây là một số sự kiện điển hình về chế độ Ngô Đình Diệm:
·         1).  Ngô Đình Diệm là người vô tài, vô đức, nhu nhược, được Hồng Y Spellman, với sự phụ giúp của ngoại trưởng John Foster Dulles cùng một vài chính khách Ca-tô Mỹ khác, theo lệnh của Vatican, vận động với Mỹ đưa Diệm về cầm quyền ở Nam Việt Nam, vì Diệm thuộc loại người Ca-tô cuồng tín tàn bạo Tây Ban Nha trong thời Trung Cổ, chống Cộng điên cuồng nên đương nhiên có thể tin cậy để chống Cộng cho Mỹ và cho Vatican.  [Xin đọc: “Vài Nét Về Cụ Diệm”: http://giaodiemonline.com/2011/10/diem.htm.] Stanley Karnow, viết trong cuốn Vietnam: A History, Chương 6: Viên Quan lại của Mỹ (American’s Mandarin):  Tháng 6, 1954, khi Diệm trở lại Việt Nam như là Thủ Tướng, ở phi trường Saigon chỉ có một nhúm người hồ hởi ra đón, hầu hết cũng là tín đồ Ca-tô như ông ta.  Tuy rằng ông ta là một người cựu quốc gia, hầu như ông ta là một khuôn mặt chẳng ai biết đến [In June 1954, when Diem returned to Vietnam as prime minister, he was met at the Saigon airport by only a handful of enthusiasts, most of them Catholics like himself.  Though a veteran nationalist, he was a virtually unknown figure.]
    Tin rằng có hai thế lực Ca-tô đứng sau, Vatican và Tổng Thống Kennedy cùng Ngoại trưởng Dulles đều là người Ca-tô, Ngô Đình Diệm đã để lộ bản chất cuồng tín và tàn bạo của một Phán quan Ca-tô Tây Ban Nha của mình, như lời ông ta tự nhận, ngay từ đầu qua quốc sách “tố Cộng”, bất chấp Hiệp Định Geneva có khoản ngăn cấm, trả thù giết hại những người theo kháng chiến, và với sự thao túng của người anh, Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, của các thuộc hạ cùng các linh mục địa phương và người em Ngô Đình Cẩn ở Huế,  số nạn nhân bị giết, hầu hết là vô tội, đi theo kháng chiến không phải là một tội mà là một công đối với quốc gia, qua chính sách tố Cộng, lên tới 300000, hoặc để cưỡng ép cải đạo, hoặc để cướp tài sản.
  • 2).   Chế độ Ngô Đình Diệm là một chế độ bạo ngược, chuyên chế, không có sự hậu thuẫn của quần chúng.  Đó là một chế độ mà hầu hết những người nắm quyền hành chánh, quân sự, kể cả trong Quốc Hội,  là những gia nô vô liêm sỉ.  Chúng ta không nên quên là ông Diệm đã bị ám sát hụt tại Ban Mê Thuột ngay từ năm 1957, ngày 21 tháng 5.  Rồi đến cuộc đảo chánh thất bại của lực lượng nhảy dù ngày 11 tháng 11, 1960, vụ dội bom dinh độc lập của 2 sĩ quan VNCH ngày 27 tháng 2, 1962.  Và sự kiện là, trong cuộc tranh đấu Phật Giáo 1963, không phải chỉ có Phật tử mới tham gia tranh đấu mà gồm đủ mọi thành phần dân tộc, từ các em học sinh trung học đến các sinh viên đại học, giáo sư đại học, các giới sĩ, nông, công, thương, kể cả những người Ca-tô tiến bộ gồm một số linh mục và tín đồ Ca-tô giáo.  Tất cả những sự kiện trên đã chứng tỏ lòng quân dân ở miền Nam đối với ông Diệm là như thế nào.
  • 3).   Chính cái chất Ca-tô cuồng tín, tổng hợp của ngu dốt, kiêu căng, huênh hoang, hợm hĩnh [theo định nghĩa của giáo sư Nguyễn Mạnh Quang] của Diệm đã làm hại Diệm.  Sách lược Ca-tô hóa miền Nam bằng thủ đoạn tiêu  diệt các giáo phái khác, cưỡng ép cải đạo của Diệm trong một nước mà Ca-tô giáo chỉ chiếm có 7%, đa số là những tín đồ ngu muội thấp kém cuồng tín,  là một sách lược ngu xuẩn, đi ngược lại tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên của dân tộc, đã đưa đến sự oán ghét của tuyệt đại đa số quân dân miền Nam.  Sách lược này đã ghi thêm một chương ô nhục vào lịch sử giáo hội Ca-tô Việt Nam, một giáo hội vốn đã nổi tiếng là: “Hễ đã  phi dân tộc thì thể nào cũng phản bội dân tộc.” Và chúng ta có thể nói, với các sự kiện nêu trên, Ngô Đình Diệm đã tự tay đào huyệt chôn mình, và chôn theo cả hai người em.  Do đó, không có ngày 1.11.1963 thì trước sau gì cũng có ngày 1.11 khác.
     Chúng ta mất công bàn cãi về một biến cố nhỏ trong toàn bộ cuộc chiến tranh hậu Geneva ở Việt Nam: Quân đội đảo chính chế độ Ngô Đình Diệm ngày 1.11.1963, với nhiều tranh cãi thế lực nào, Mỹ hay các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa, đã chủ trương đảo chánh để thay thế ông Diệm.  Vấn đề đối với tôi khá đơn giản, và có thể tóm tắt trong vài sự kiện.
   Ngô Đình Diệm được Vatican (Hồng Y Spellman và một số Linh mục ở Mỹ) và Ca-tô Mỹ (Tổng thống Kennedy, Ngoại trưởng Dulles v..v…) đưa về, dựng lên chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam, không thi hành khoản Tổng Tuyển Cử qui định vào năm 1956 trong Hiệp Định Geneva.  Đây là một sự kiện. Cấm cãi.  Tôi đã chứng minh với nhiều tài liệu trong bài “Vài Nét Về Cụ Diệm”: http://giaodiemonline.com/2011/10/diem.htm .
   Tổng Thống Kennedy cũng như  Thượng Nghị Sĩ Fulbright không ngần ngại nói thẳng ra ra là Diệm và VNCH là con đẻ của Mỹ: Kennedy: Ông ta là đứa con đẻ của chúng ta (He is our offspring); Fulbright: Chúng ta là “Mẹ bề trên”, là “Cha nghe xưng tội và hướng dẫn” của Diệm (We are his “superior mother”, his “father confessor”).  Chúng ta hãy đọc một đoạn trong cuốn The Vietnam Wars: 1945-1990 của Marilyn B. Young, p. 58: 
   “Mỹ đã tạo nên Nam Việt Nam và người lãnh đạo (Ngô Đình Diệm); Thượng nghị sĩ Kennedy nói vào năm 1956, “Đây là đứa con đẻ của chúng ta, và nếu nó rơi vào vòng nạn nhân của bất cứ sự hiểm nghèo nào đe dọa sự hiện hữu của nó – Cộng sản, chính trị vô chính phủ, sự nghèo khó v..v… - thì Mỹ sẽ chịu trách nhiệm; và uy tín của chúng ta ở Á Châu sẽ chìm xuống thấp hơn.” 
    Nhưng thật ra thì, cái mà Mỹ đã hết sức dặn ra [như dặn đẻ, labored] không phải là một quốc gia dân chủ, độc lập mới mà là một gia đình cai trị độc tài được giữ tại vị bởi một quyền lực ngoại quốc.”
   [The United States had created South Vietnam and its leader; “This is our offspring”, Senator Kennedy said in 1956, “and if it falls victim to any of the peril that threaten its existence – Communism, political anarchy, poverty and the rest – then the United States, with some justification, will be held responsible; and our prestige in Asia will sink to a new low.” 
    But, in fact, what the United States had labored mightily to produce was not a democratic, independent new nation-state but an autocratic ruling family held in place by foreign power.]

   Trong cuốn America’s Longest War 1950-1975 của George C. Herring,   John Wiley & Sons, New York, 1979, có cả một Chương, Chương II,  với đầu đề: Đứa Con Đẻ Của Chúng Ta: Sự Dựng Lên Một Quốc Gia ở Nam Việt Nam, 1954-1961 (Our Offspring: Nation-Building in South Vietnam, 1954-1961).  Tác giả trích dẫn lời phát biểu của Thượng Nghị Sĩ Kennedy, trang 43: “Đó là đứa con đẻ của chúng ta, chúng ta không thể bỏ nó, chúng ta không thể không để ý đến nhũng nhu cầu của nó” (It is our offspring, we cannot abandon it, we cannot ignore its needs). 
   Và trong cuốn Cuộc Chiến Bất Tận: Cuộc Đấu Thanh Của Việt Nam Để Giành Độc Lập (The Endless War: Vietnam.s Struggle For Independence, Columbia University Press, New York, 1989) Giáo Sư James P. Harisson viết, trang 210:

        Dù sao thì, vị Tổng Thống tương lai Kennedy có thể phát biểu rất đúng trong ngày 1 tháng 6, 1956: “Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của đứa nhỏ Nam Việt Nam, thì chắc chắn chúng ta là cha đỡ đầu của nó.  Chúng ta chủ tọa khi khai sinh ra nó, chúng ta giúp đỡ để cho nó sống, chúng ta đã giúp để tạo thành tương lai của nó.”  Rồi ngay trong ngày ông ta bị ám sát chết, 23 tháng 11, 1963,  Kennedy lại nói thêm: “Không có Mỹ thì chỉ qua đêm là Nam Việt Nam sụp đổ”. 
   [In any case, future President John F. Kennedy could justly state on June 1, 1956: “If we are not the parents of little Vietnam, then surely we are the godparents.  We presided at its birth, we gave assistance to its life, we have helped to shape its future.”  Then on the very day of his own death, November 23, 1963, Kennedy went further to state, ‘Without the United States, South Vietnam would collapse overnight.]

     Nhưng trên thực tế, Mỹ đã đẻ ra một đứa con đầu óc bất bình thường, bị mê hoặc bởi những sự hoang đường của một tổ chức buôn thần bán thánh mà ngày nay thế giới đã coi như là một “tổ chức tội phạm quốc tế” là Ca-tô Rô-ma Giáo và trở thành cuồng tín, tự nhận là một phán quan Tây Ban Nha (Spanish Inquisitor), nghĩa là một người không ngại tàn nhẫn tra tấn rồi mang đi thiêu sống những người không chịu chấp nhận đức tin Ca-tô giáo. Cho nên, khi thấy đứa con đẻ ra không thể trưởng thành theo ý muốn của Mỹ, đi sai đường lối chống Cộng và ý muốn của Mỹ, hơn nữa lại toan tính đi đêm với Cộng sản, Mỹ thấy hết hi vọng đạt được mục đích nếu còn giữ Diệm cho nên Mỹ không còn cách nào khác là phải thay ngựa giữa dòng, phải để cho các tướng tá dưới quyền đứa con này bóp mũi cho nó chết yểu chỉ sau có 9 năm. Đó thường là số phận của những tay sai vô trí, phục vụ cho quyền lợi của ngoại bang.  Vấn đề chỉ đơn giản có thế, còn thắc mắc bàn cãi về chuyện thế lực nào chủ động cuộc đảo chánh và giết Diệm, Mỹ hay Việt, là không thích hợp “irrelevant”. 
    Nhưng, để tìm hiểu thêm về cuộc đảo chính, điều mà nhiều người thắc mắc tranh cãi là thế lực nào là thế lực chủ động trong cuộc đảo chính 1.11.1963? Mỹ hay Việt?  Để trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy phân tích bài của Đinh Từ Thức.

   Vài nhận định về bài của Đinh Từ Thức.
   Theo Hoàng Nam Giao thì Đinh Từ Thức là một tín đồ Ca-tô.  Theo nguyên tắc thì chúng ta đọc bài viết chứ không quan tâm đến gốc gác tôn giáo của tác giả.  Nhưng đối với các tín đồ Ca-tô thì khác.  Vì như chúng ta thường biết, cứ là một nhân vật Ca-tô thì bao giờ người Ca-tô viết cũng tìm cách khen hay đánh bóng nhân vật đó.  Và muốn như vậy thì phải xuyên tạc bóp méo lịch sử.  Đọc bài của Đinh Từ Thức tôi thấy ông ta không mấy lương thiện, không hiểu ông ta thiếu trình độ hay cố ý xuyên tạc lịch sử và cố ý dùng sai nhiều từ để nói rất tiêu cực về Tổng Thống Kennedy và Mỹ.  Thật vậy, Đinh Từ Thức viết: “Tổng Thống John Kennedy đã nhận mình là “chính phạm”, và khai rõ những ai là “tòng phạm” là viết láo, viết bậy.  Trong Phần 2, Đinh Từ Thức lại viết: “Lời khai” của Tổng Thống Kennedy … Tôi tự hỏi, Tổng Thống Mỹ khai với ai trong một cuộc họp với vài nhân viên cao cấp trong chính quyền.  Hay “khai” với Đinh Từ Thức?  Trong cuộc họp, Tổng Thống Kennedy chỉ nói lên ý nghĩ của mình (personal reflection) về vụ đảo chánh lật đổ và ám sát ông Diệm, về sự chia rẽ giữa những nhân viên cao cấp trong bộ tham mưu, chứ có chỗ nào ông ta “tự khai” (sic) là “chính phạm” và chính phạm về tội ác nào.  Dùng những từ như vậy, Đinh Từ Thức đã làm cho bài viết của mình không còn mấy giá trị, nếu có một giá trị nào đó.  Và không phải chỉ có vậy, chúng ta sẽ xét đến vài đoạn của Đinh Từ Thức trong phần sau đây.
   Đinh Từ Thức viết:
    Thời gian ngay sau cuộc đảo chánh 1-11, 1963, và có trường hợp cả hàng chục năm sau, vẫn có người cố chứng minh vai trò phụ thuộc của Hoa Kỳ trong biến cố này. Ví dụ, trong cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của ông Đỗ Mậu xuất bản năm 1986, tác giả đã trích lời Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy viết vào năm 1979 rằng: “Việc lật đổ và sát hại (anh em ông Diệm) xẩy ra là chỉ do một số tướng lãnh Việt Nam. Người Mỹ đã không thúc đẩy họ đảo chánh, người Mỹ chỉ không ngăn chận họ mà thôi”.  Riêng ông Đỗ Mậu viết “…rõ ràng cuộc cách mạng ngày 1-11-1963 hoàn toàn do quân dân Việt Nam lúc bấy giờ thực hiện, và người Mỹ, đứng trước những khó khăn phức tạp của tình hình đã phải thụ động dựa vào đó để giải quyết những khó khăn của họ. Vậy thì chính quân đội Việt Nam đã ‘bật đèn xanh’ cho Mỹ chứ đâu phải Mỹ ‘bật đèn xanh’ cho quân đội Việt Nam.…” Nhưng càng lâu, qua những chứng liệu được giải mật, chẳng còn ai nói năng như thế nữa. Mỹ đóng vai chủ động trong cuộc đảo chánh là điều không còn ai chối cãi, kể cả tổng thống Mỹ John Kennedy.
   Đoạn văn trên hàm ý là những gì ông Đỗ Mậu trích của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và của chính ông Đỗ Mậu là sai, vì “chẳng còn ai nói năng như thế nữa” và chính Mỹ,  kể cả tổng thống John Kennedy đã đóng vai chủ động trong cuộc đảo chánh.  Nhưng thật ra thì nhận định của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và ông Đỗ Mậu không hề sai, và Mỹ hay Tổng thống Kennedy không hề đóng vai chủ động trong âm mưu đảo chính, mà chỉ là trước tình thế về quân sự và chính trị ở Nam Việt Nam, không còn cách nào khác là phải ủng hộ cuộc đảo chánh của các tướng lãnh, nhưng vẫn đứng ở vị thế có thể phủ nhận trách nhiệm nếu cuộc đảo chánh không thành công.  Nhiều tài liệu đã chứng tỏ như vậy.  Chứng minh?

  Mỹ hay Việt chủ động đảo chánh ?
   Trước hết, vấn đề chỉ là như thế này: 

   Nếu Mỹ chủ động muốn thay ông Diệm nhưng các tướng lãnh không OK thì Mỹ cũng chẳng làm gì được, trừ phi Mỹ sai sát thủ đến ám sát ông Diệm.  Điều này rất khả thi nếu Mỹ muốn, vì Mỹ đã từng làm ở nhiều nơi, xét theo chính sách đối ngoại của Mỹ trên thế giới [Xin đọc William Blum].  Nhưng thực tế là, TT Kennedy cũng như bộ tham mưu của ông ta, không ai muốn giết chết đứa con đẻ (offspring) của mình dựng lên ở miền Nam, chỉ muốn ông Diệm thay đổi chính sách, mở rộng nội các, mở mang chế độ để cho người dân thêm tự do, dân chủ, nhân quyền và tránh kỳ thị tôn giáo.  Ông Diệm đã từ chối vì làm như vậy, ông ta nói: “là giúp cho cộng sản và tay sai lợi dụng” và tiếp tục duy trì chính sách độc tài, gia đình trị của ông ta.  

   Mặt khác, các tướng lãnh muốn đảo chánh vì không còn chịu đựng nổi chính sách gia đình trị và Ca-tô trị của Diệm, lòng mong muốn này rất hợp với lòng quân dân miền Nam, nhưng nếu Mỹ không OK thì họ cũng chẳng làm gì được. Chỉ cần nhìn vài hình ảnh người dân mang thức ăn thức uống đến cho các quân nhân đảo chính, mang vòng hoa choàng qua cổ Tướng Trần Văn Đôn ngày 4.11.63, 6 xe vận tải nhà binh chở sinh viên mới được cứu ra khỏi nhà tù của Ngô Đình Diệm, một rừng người với những khuôn mặt hân hoan vui mừng của đám đông dân chúng mang biểu ngữ “Hoan hô Hội Đồng Tướng Lãnh” trên khắp nẻo đường phố, và phá đổ tượng hai mẹ con bà Nhu thì biết là cuộc cách mạng 1.11.63 đã đáp ứng được lòng mong muốn của người dân đối với chế độ Ngô Đình như thế nào. 

  
Rừng người hoan hô Tướng Đôn và choàng vòng hoa trên cổ.
    

  Dân chúng biểu tình ngày 3.11.63 hoan hô quân cách mạng 

Những người Ca-tô ngày nay còn đưa ra những luận điệu chửi bới quân nhân làm cách mạng thực ra chỉ là để lộ bản chất phi dân tộc, đi ngược lại ý muốn của người dân miền Nam, có lẽ vì họ đã thất bại trong âm mưu mang nước trời của họ áp đặt lên người dân Việt Nam.  Ngoài ra, có những kẻ đầu tôm, cực kỳ vô liêm sỉ, còn mở chiến dịch đổ tội cho Phật Giáo theo lệnh Mỹ, mang chuông mõ đi lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, với hậu quả là mất miền Nam của họ, bất chấp cả ngàn tài liệu hiện hữu đã chứng minh ngược lại.  Nhưng miền Nam nào là của họ, đó là miền đất chung của người Việt Nam chứ không phải là của Mỹ ban cho họ.  Ngày 30.4.75 chỉ là thay đổi chủ ở miền Nam chứ miền Nam chẳng mất đi đâu.  Những người hoài Ngô hay chống Cộng cực đoan có biết được điều này không.

   Đảo Chánh là chuyện của Việt Nam.

    Điều rõ ràng là các tướng lãnh đã chủ động đảo chánh và đã từng tiếp cận với CIA Lucien Conein, ngỏ ý này từ tháng 7.1963, và thăm dò thái độ của Mỹ.  Tướng Trần Văn Đôn đã nói với Đại sứ Lodge đó là chuyện của Việt Nam (Vietnam affair) và chỉ muốn biết chắc là Mỹ không phản bội các tướng lãnh nếu có cuộc đảo chính.  Sau vụ Ngô Đình Nhu dùng lực lượng đặc biệt, do Mỹ trả lương và huấn luyện, để tấn công các chùa chiền, bắt bớ hơn 1400 Tăng Ni, nhiều vị đánh đập, và sát hại một số vào ngày 21 tháng 8, 1963, thì tướng lãnh lại tiếp cận ngay với CIA và muốn biết thái độ của Mỹ về cuộc đảo chánh. [Within days of the raids, South Vietnamese military officers were approaching Americans to inquire as to what the U.S. response might be to a military coup in Saigon.]  Tòa đại sứ  Mỹ đánh điện về Mỹ hỏi ý kiến. Điện tới Bộ Ngoại Giao vào chiều Thứ Bảy, đã được ba giới chức cao cấp có mặt,  Averell Harriman, Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách Đông Nam Á, Roger Hilsman, Phụ Tá Ngoại Trưởng đặc trách Đông Nam Á, và Michael Forrestal nhân viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia tại Nhà Trắng, đọc và tự tiện thảo bức điện tín  gửi đại sứ Lodge ngày 24 tháng 8, 1963, trong khi Tổng thống Kennedy, Bộ trưởng ngoại giao Dean Rusk, Bộ trưởng quốc phòng Robert S. McNamara, và giám đốc CIA John McCone đều vắng mặt trong dịp cuối tuần.  Trong điện tín có câu: “Chúng ta mong muốn để cho Diệm cơ hội hợp lý để loại Nhu ra ngoài, nhưng nếu ông ta vẫn cứ ngoan cố, thì chúng ta chuẩn bị chấp nhận điều hiển nhiên là không còn có thể ủng hộ Diệm được nữa”  (We wish give Diem reasonable opportunity to remove Nhu, but if  he remains obdurate, then we are prepared to accept the obvious implication that we can no longer support Diem).  Nhiều người cho rằng câu trên đã bật “đèn xanh” cho các tướng lãnh làm đảo chánh.  Nhưng thực ra đó chỉ là một dự kiến cho một trường hợp trong tương lai.  Không còn ủng hộ ông Diệm có thể dưới nhiều hình thức, kể cả cắt viện trợ và rút quân, như đề nghị của Kattenburg, không nhất thiết phải là đảo chính.  Câu cuối cùng trong bức điện tín ngày 24.8 như sau:  “Không cần phải nói là chúng tôi chỉ cho một số tối thiểu những người chủ yếu biết đến điện tín này và chúng tôi cho rằng ông (Lodge) cũng sẽ có những thận trọng tương tự để ngăn ngừa sự lộ ra ngoài sớm” (Needless to say we have held knowledge of this telegram to minimum essential people and assume you will take similar precautions to prevent  premature leaks)  Hơn nữa, đọc các tài liệu về những diễn biến qua các cuộc họp của Tổng Thống Kennedy  với các nhân viên cao cấp trong chính quyền suốt hai tháng 9 và 10, 1963, chúng ta thấy Tổng thống Kennedy vẫn lưỡng lự,  không quyết định vì chính quyền Diệm là con đẻ của Kennedy.  Cho đến phút cuối cùng, ngày 30.10.1963, Mỹ cũng chỉ muốn loại bỏ vợ chồng Ngô Đình Nhu nhưng ông Diệm không bao giờ muốn bỏ ông Nhu, nhất là “Thím Nhu”.  Cho tới khi, sau khi phân tích tình hình chính trị và quân sự,  tất cả mọi người trong bộ tham mưu của Tổng thống Kennedy đều đồng thuận ở một điểm: Với chính quyền Ngô Đình Diệm trong đó có vợ chồng Nhu thì không thể thắng được Cộng sản.  Tổng thống Kennedy cũng chưa muốn bỏ miền Nam, cho nên cuối cùng Tổng thống Kennedy mới “ra lệnh lửng lơ” (half-ordered) nhưng không chấp thuận một cách rõ rệt (but not specifically approved)” [Xin đọc John Prados], và hứa là không ngăn cản cuộc đảo chánh nhưng chỉ ủng hộ nếu chắc chắn là cuộc đảo chánh thành công và dù cuộc đảo chính thành công hay thất bại thì Mỹ cũng phủ nhận vai trò của Mỹ trong đó..  Cho nên không thể nói là Mỹ đã bật đèn xanh cho các tướng lãnh từ ngày 25 tháng 8.1963 qua điện tín ngày 24.8.  Mặt khác, việc giết hai anh em ông Diệm là ngoài ý muốn của Mỹ.  Vì thế Tổng thống Kennedy mới bị “sốc” khi nghe tin Diệm bị giết ngày 2.11.63.  Giết ông Diệm và Nhu là quyết định của các tướng lãnh để trừ hậu hoạn, rút kinh nghiệm từ sự lật lọng của ông Diệm trong cuộc đảo chính năm 1960.  Vì vậy nếu nói đến “nguyên nhân” của cuộc đảo chánh, thì “nguyên nhân” đó chính là Ngô Đình Diệm, hay đúng hơn, nguyên nhân là “tứ đại nhân bang họ Ngô Đình: Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, và Ngô Đình Cẩn” chưa kể đến tập đoàn kiêu binh Ca-tô, từ linh mục xuống tới giáo dân tác oai tác quái khắp miền Nam, đặc biệt là ở vùng Hố Nai, Gia Kiệm, Hải yến v…v…

   Tài liệu về thái độ của Mỹ đối với cuộc đảo chánh.

   Tài liệu Tòa Năm Góc về những biến cố 1963 ở Saigon cho thấy Washington không chủ động khởi xướng cuộc đảo chánh chống Diệm, và các lực lượng quân sự Mỹ cũng không can thiệp vào cuộc đảo chánh, ngay cả ngăn cản sự ám sát ông Diệm và người em Ngô Đình Nhu.
    [Pentagon Papers: p. 159:  According to the Pentagon account of the 1963 events in Saigon, Washington did not originate the anti-Diem coup, nor did American forces intervene in any way, even to try to prevent the assassination of Mr. Diem and his brother Ngo Dinh Nhu.]

   Tháng 7.1963, Mỹ thẩm định tình hình ở Việt Nam như sau:

   Tài liệu Tòa Năm Góc #34, ngày 10.7.1963, trang 193:  Cuộc khủng khoảng Phật Giáo ở Nam Việt Nam đã nổi bật và tăng cao sự lan rộng và sự bất mãn đã có từ lâu về chế độ Diệm và kiểu chính quyền của chế độ.  Nếu – có vẻ như sẽ xẩy ra là – Diệm không chịu thực hiện ngay những cam đoan của ông ta đối với Phật Giáo, sự hỗn loạn sẽ lại lóe lên và có nhiều khả năng hơn trước về một cuộc đảo chánh chống Diệm, hay mưu sát Diệm. 
    [Pentagon Papers, Doc. #34, p. 193: July 10, 1963:  The Buddhist crisis in South Vietnam has highlighted and intensified a widespread and long-standing dissatisfaction with the Diem regime and its style of government.  If – as is likely – Diem fails to carry out truly and promptly the commitments he has made to the the Buddhists, disorders will probably flare again and the chance of a coup or assassination attempts against him will become better than ever…]

   Tài liệu của John Prados:
   http://www2.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/NSAEBB101/index.htm: ngày 9 tháng 7.1963:  Giám đốc CIA John A. McCone tóm tắt cho Tổng Thống Kennedy biết tình hình, trong vòng 24 tiếng đồng hồ sau khi một tướng lãnh đến tiếp cận CIA Lucien Conein.  Khi đó người ta đoán trước là có nhiều âm mưu đảo chánh khác nhau, ít nhất là có một trong số đó có thể hành động ngay ngày hôm sau (cuộc âm mưu của Tuyến không thành, Trần Kim Tuyến bị đưa đi làm đại sứ ở Ai Cập).  CIA cũng nhận thức được tầm quan trọng chính trị của vấn đề Phật Giáo ở Nam Việt..
   DOCUMENT 1
   DCI Briefing, July 9, 1963
   SOURCE: John F. Kennedy Library: John F. Kennedy Papers (Hereafter JFKL: JFKP):   
   National Security File: Country File, box 51, folder: Cuba: Subjects, Intelligence Material.
   This document shows that Director of Central Intelligence John A. McCone briefed President Kennedy within twenty-four hours after a South Vietnamese general first approached CIA officer Lucien Conein. At the time multiple different plots were anticipated, at least one of which might become active the following day (the Tuyen plot referred to aborted, Tran Kim Tuyen was sent out of the country as ambassador to Egypt). The CIA also here recognizes the political significance of the Buddhist issue in South Vietnam.

    Chúng ta biết bức điện tín ngày 24.8 nếu để lộ ra có thể làm cho các tướng lãnh hiểu lầm là Mỹ đã bật “đèn xanh” cho cuộc đảo chính.  Ngoại trưởng Dean Rusk định thu hồi bức điện tín nhưng quá muộn.  Nhưng rõ ràng là các tướng lãnh đã biết đến bức điện tín này, ai có thể tiết lộ ngoài đại sứ Lodge.  Chúng ta có thể đọc tài liệu sau đây của Tòa Năm Góc, trang 170, có lẽ để sửa chữa bức điện tín ngày 24.8:

   CIA không chỉ nói với các tướng lãnh về ý chính [áp lực để Diệm loại Nhu và thay đổi chính sách] trong thông điệp của Washington ngày 24 mà còn, như Ông Richardon (Giám đốc CIA ở Saigon), ngày 26,  đã đề nghị gửi cho các tường lãnh thông điệp sau: “Chúng tôi không thể giúp gì trong hành động khởi đầu giành quyền lãnh đạo quốc gia.  Hoàn toàn là hành động của chính họ, thắng hay bại.  Đừng có mong đợi sẽ được cứu gỡ”
   [Pentagon Papers, p. 170: The CIA men were not only to tell the generals the gist of Washington’s Aug. 24 message but also, as Mr. Richardon advised headquarters on Aug. 26, to convey the following message: “We cannot be of any help during initial action of assuming power of the state.  Entirely their own action, win or lose.  Don’t expect to be bailed out”]
   Ngày 19 tháng 9.1963, Toà Nhà Trắng gửi cho đại sứ Lodge điện tín như sau;
   Chúng tôi không thấy có cơ hội tốt trong tương lai gần để loại bỏ chính quyền hiện thời, cho nên, hiện nay chúng ta phải dùng những áp lực có thể có để bảo đảm những cải tiến tình hình dù khiêm nhường như thế nào.
   Tòa nhà trắng nói với Lodge là “can ngăn âm mưu đảo chính nếu thấy không thành công được một cách nhanh chóng”.  Lodge trả lời là Mỹ không đủ khả năng để “hoãn lại hay ngăn cản âm mưu đảo chính”
    [Pentagon Papers, p. 206: White House Cablegram to ambassador Lodge, Sept. 19, 1963:
We see no good opportunity for action to remove present government in immediate future, therefore, we must for the present apply such pressures as are available to secure whatever modest improvements on the scene may be possible.
   White House tells Lodge to “discourage plot if quick success is unlikely.  Lodge replies US is unable to “delay or discourage the coup”]
   Điện tín của Tòa Nhà Trắng gửi Đại sứ Lodge về lâp trường của Kennedy đối những âm mưu đảo chính, ngày 5 tháng 10.1963:
   Hôm nay Tổng Thống chấp thuận đề nghị (của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia) là không nên có sáng kiến nào để tích cực khuyến khích ngầm cuộc đảo chính.  Tuy nhiên, nên có những nỗ lực ngầm, cấp bách, tuyệt mật, theo sự hướng dẫn tổng quát của Đại sứ để nhận ra và tiếp xúc với những người có thể là cấp lãnh đạo khi sự việc này xuất hiện (nghĩa là khi cuộc đảo chính thành công).  Điều cần biết là nỗ lực này phải hết sức bí mật và có thể hoàn toàn phủ nhận và hoàn toàn tách biệt khỏi sự phân tích chính trị thông thường và thông tin và các hoạt động khác của đội ngũ của của chúng ta ở Việt Nam.  Chúng tôi nhắc lại là nỗ lực này không – xin nhắc lại – không có mục đích tích cực thúc đẩy cuộc đảo chính mà chỉ là coi chừng và sẵn sàng.
   [Pentagon Papers, p. 215: Cablegram from White House to Ambassador Lodge Kennedy position on coup plots, Oct.5: President today approved recommendation (of National Security Council) that no initiative should now be taken to give any active covert encouragement to a coup.  There should, however, be urgent covert effort with closest security, under broad guidance of Ambassador to identify and build contacts with possible alternative leadership as and when it appears.  Essential that this effort be totally secure and fully deniable and seperated entirely from normal political analysis and reporting and other activities of country team.  We repeat that this effort is not – repeat – not to be aimed at active promotion of coup but only at surveillance and readiness.]

   Đọc những điện tín qua lại giữa Đại Sứ Lodge và Washington, chúng ta thấy cho tới ngày 30.10.1963 Mỹ vẫn không biết rõ chi tiết về kế hoạch đảo chính của các tướng lãnh.  Vì vậy Đại sứ Lodge mới trả lời Washington là Mỹ không có khả năng để “hoãn lại hay ngăn cản âm mưu đảo chính”.  Điện tín ngày 25.10 và ngày 30.10 của McGeorge Bundy gửi cho Lodge yêu cầu Đại tướng Minh cung cấp cho Mỹ chi tiết về kế hoạch đảo chính và Đại sứ Lodge đã trả lời trong đó có câu:

   Về vấn đề thiếu thông tin về hậu thuẫn thực sự của Tướng Đôn, và thiếu bằng chứng về khả năng thực sự đã phát triển cho hành động.  Tôi cảm thấy là các Tướng lãnh không chịu cho Mỹ biết những chi tiết đầy đủ về kế hoạch của họ ở thời gian này, phản ánh sự an toàn của chính họ.
   [As to the  lack of information as to Gen. Don’s real backing, and the lack of evidence that any real capabilities for action have been developed.  I feel sure that the reluctance of the generals to provide the US with full details of their plan at this time, is a reflection of their own security.]

   John Prados viết:

   Khi cuộc đảo chánh khởi sự, những thận trọng về vấn đề bảo mật của các tướng lãnh Nam Việt Nam gồm có: chỉ cho Tòa Đại sứ Mỹ biết trước có 4 phút, rồi cắt điện thoại liên lạc với toán cố vấn quân sự Mỹ.  Kết quả là, thông tin mà Washington biết được chỉ có một phần, và tiếp tục như vậy cho đến ngày 2.11, ngày Diệm chết.
   [John Prados: When the coup did begin the security precautions taken by the South Vietnamese generals included giving the U.S. embassy only four minutes warning, and then cutting off telephone service to the American military advisory group. Washington's information was partial as a result, and continued so through November 2, the day Diem died.]

   Qua những tài liệu ở trên, chúng ta thấy rõ vai trò chủ động trong cuộc đảo chính là các tướng lãnh Việt Nam.  Lẽ dĩ nhiên, như trên đã nói, không có sự ưng thuận của Mỹ, các tướng lãnh khó mà có thể thực hiện được cuộc đảo chánh.  Nhưng cuộc đảo chánh là do quân lực Việt Nam thực hiện và hiển nhiên là không phải Mỹ khởi xướng hay do “chính phạm” Kennedy và các đồng lõa ở Tòa Nhà Trắng làm đảo chánh như Đinh Từ Thức viết.

   Tôi không muốn viết gì thêm về bài của Đinh Từ Thức.  Nhưng có một câu của Đinh Từ Thức tôi không thể không nói đến.  Đó là đến thời buổi này mà Đinh Từ Thức còn đề cao Ngô Đình Diệm một cách lố bịch, tin rằng bạo chúa Ngô Đình Diệm  là “Winston Churchill của Đông Nam Á”, mà không biết rõ thực chất của sự so sánh này như thế nào.  Các chính trị gia thường lên tiếng ca tụng bất cứ ai mà họ muốn.  Nhưng những lời ca tụng đó có thực tâm hay có đúng hay không lại là vấn đề khác.  Đinh Từ Thức viết:

   Tổng Thống Lyndon Johnson là người không đồng ý cuộc đảo chánh. Tới Sài Gòn vào tháng Năm, 1961, ông đã công khai ca tụng Tổng Thống Ngô Đình Diệm là “Winston Churchill của Đông Nam Á”.

    Đinh Từ Thức không biết rằng Stanley Karnow đã viết trong cuốn Vietnam: A History, trang 214:

     Bị lôi cuốn bởi sự cường điệu một cách hùng hồn trong cuộc viếng thăm Saigon năm 1961, Lyndon Johnson, khi đó là Phó Tổng Thống, đã so sánh Diệm với Churchill.  Sau đó trên máy bay của ông ta tôi hỏi Johnson “Ông thực sự cho là như vậy à?”  Ông ta lè nhè: “Cục cứt, Diệm là thằng nhỏ duy nhất mà chúng ta có được ở đó” [Stanley  Karnow, Vietnam:  A History, p. 214: Carried away by oratorical hyperbole during a visit to Saigon in 1961, Lyndon Johnson, then vice-president, had compared Diem to Churchill.  “Did you really mean it?” I asked Johnson aboard his plane later.  “Shit,” he drawled, “Diem’s the only boy we got out there”.]

   Trần Chung Ngọc

   Tháng 11.2013

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013


 

NGÔ ĐÌNH NHU MUỐN THAY THẾ ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
LÀM TỔNG THỐNG VNCH NĂM 1963

 
Đánh giá của CIA
(theo Bản Ghi nhớ FRUS-1963.256)
 

Tháng 8 năm 1963, một số biến động chìm và nổi đã đẩy cuộc khủng hoảng chính trị tại miền Nam Việt Nam vào một khúc quanh mới trầm trọng và phức tạp hơn.
“Nổi” là chiến dịch Nước Lũ của ông Ngô Đình Nhu nhằm tiêu diệt toàn bộ cấp lãnh đạo của phong trào đấu tranh của Phật giáo đồ. Trong đêm 20 rạng ngày 21/8, ông Nhu ra lệnh cho Lực lượng Đặc biệt (của Đại tá Lê Quang Tung) và Cảnh sát Chiến đấu mặc quân phục binh chủng Nhảy Dù (của Giám đốc Cảnh sát Đô thành Trần Văn Tư) ồ ạt và hung bạo tổng tấn công các chùa tại Sài Gòn. Kết quả là chính quyền bắt giam hơn 1,400 tăng Ni và Phật tử.[Xem FRUS 1961-1963, Vietnam,  Điện văn 274, trang 613 và 614], và quân đội bị đài VOA cũng như dân chúng miền Nam hiểu lầm nên lên án hành động hung bạo nầy. Sau đêm đó, cuộc đấu tranh của Phật giáo tại Sài Gòn hầu như bị tê liệt, nhường đấu trường cho quần chúng mà tiên phong là lực lượng thanh niên sinh viên học sinh và giới trí thức thủ đô.
“Chìm” là một mặt ông Nhu tiến hành các động thái thỏa hiệp với Hà Nội qua trung gian Đại diện Ba Lan Mieczylaw Maneli trong Ủy hội Quốc tế Kiểm Soát Đình Chiến ICC; mặt khác, trước cả đêm kinh hoàng “Nước Lũ”, ông Nhu đã lên kế hoạch thực hiện một cuộc phản đảo chánh giả, đặt tên là Bravo 2, dùng Lực lượng Đặc biệt và vài đơn vị trung thành để chống lại cuộc đảo chánh thật (cũng đang trong quá trình hình thành và được ông Nhu ký hiệu là Bravo 1) của các Tướng lãnh để cuối cùng sẽ vừa vô hiệu hóa các Tướng lãnh vừa đưa ông Nhu lên thay thế ông Diệm làm Tổng thống. Đó là cách chuyển giao quyền lực bất chấp Hiến Pháp của chế độ Đệ Nhất Cọng Hòa theo “kiểu Ngô Đình Nhu” !  Như vậy, trong năm 1963, ông Diệm chỉ là một Tổng thống bù nhìn sắp mất chức, và người thực sự  “cai trị” Đệ Nhất Cọng Hòa chính là ông em “cố vấn” Ngô Đình Nhu đang “bị vấn đề tâm thần” vậy.
Lẽ dĩ nhiên là các Tướng lãnh và giới chính trị Sài Gòn đã phong phanh biết được âm mưu “cướp ngôi” nầy.  Cũng lẽ dĩ nhiên là các cơ quan tình báo nước ngoài của Pháp, Đài Loan, Vatican, … đều có ít nhiều thông tin. Nhưng nhiều dữ kiện và thông tin xác thực nhất là của Mỹ. Và kế hoạch nầy của ông Nhu nghiêm trọng đến nỗi cơ quan CIA tại Sài Gòn phải theo dõi và liên tục thẩm định để báo cáo về Washington.
Dưới đây là phần Việt dịch của Bản Ghi nhớ đề ngày 16 tháng 8 năm 1963 mà Phó Giám đốc Kế hoạch CIA (Richard Helms) gửi cho Phụ tá Ngoại trưởng đặc trách Viễn đông Sự vụ (Roger Hilsman) để lượng giá về tình hình tại Nam Việt Nam, trong đó có đính kèm hai Bản Phụ Đính (Attachment), phân tích khả năng ông Nhu có thể lên thay thế ông Diệm, và từ đó mô tả bộ máy quyền lực hổn loạn của ba anh em nhà Ngô.
Bản Ghi nhớ nầy được lưu lại trong Hồ sơ Lưu trữ FRUS của Bộ Ngoại giao Mỹ [Foreign Relations of the United States, 1961–1963, Volume III, Vietnam, 1963, Document 256], từ trang 569 đến 574.
Bản Ghi Nhớ 256 (Memorandum) có hai Phụ Đính (attachments):
1-    “Phụ đính 1” viết về các điều luật và quy tắc của Hiến Pháp khi xảy ra các trường hợp thay thế chức vụ Tổng thống Việt Nam Cọng Hòa, do đó sẽ không được dịch nguyên văn vì chỉ dùng để làm nền tham chiếu cho “Phụ đính 2”, vốn là phần phân tích và lượng giá của CIA tại Sài Gòn, sẽ được dịch toàn bộ.
2-    Để đọc 5 Cước chú (footnotes) trong văn bản, xin xem nguyên văn Anh ngữ trong phóng ảnh Bản Ghi Nhớ ở cuối bài dịch.


PHẦN DỊCH BẮT ĐẦU:

256   Bản Ghi nhớ do Phó Giám đốc Kế hoạch CIA (Helms) gửi cho Phụ tá Ngoại trưởng đặc trách Viễn đông Sự vụ (Hilsman) 1
Washington, ngày 16 tháng 8 năm 1963
ĐỀ MỤC: Kính chuyển Những Đánh giá về Tình hình tại Nam Việt Nam.
Đính kèm là những đánh giá do CIA Sài Gòn soạn thảo về tình hình bất ổn định của Chính phủ Việt Nam, và khả năng có một cuộc đảo chánh do cuộc khủng hoảng Phật giáo vẫn tiếp diễn. Những thảo luận trong buổi họp ngày 14 tháng 8 2 dựa trên cơ sở của những phúc trình nầy.
Thừa lệnh Phó Giám đốc (Kế hoạch)
W.E.Colby.

Phụ đính 1 3 [Bàn về các điều  32, 33, 34 và 41, 42 của Hiến Pháp VNCH - không dịch]
Phụ đính 2 4

ĐỀ MỤC: Khả năng Ngô Đình Nhu kế vị Tổng thống Ngô Đình Diệm
1-    Những tình huống khi Tổng thống Ngô Đình Diệm rời khỏi chính trường sẽ là những tiền đề cực kỳ quan trọng cho chuyện Ngô Đình Nhu kế vị làm Tổng thống Nam Việt Nam. Những khả năng đó gồm:
a-    Từ chức
b-    Chết tự nhiên hay chết vì tai nạn
c-    Bị ám sát
d-    Bị đảo chánh. Có thể bị giết nhưng không hẵn sẽ xảy ra như thế.

2-    Nhu, dĩ nhiên, là một thành viên của Quốc Hội, đơn vị nhà là tỉnh Khánh Hòa. Với sự loại trừ Diệm, Nhu có thể không vi phạm Hiến Pháp bằng cách dẫn điều 34 để từ đó nắm quyền Tổng thống không quá hai tháng, nếu từ đầu ông ta thuyết phục được Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ và Chủ tịch Quốc Hội Trương Vĩnh Lễ từ nhiệm chức vụ hiện tại và xếp đặt để ông ta lên thay thế Chủ tịch Trương Vĩnh Lễ. Sau đó, Nhu sẽ có thêm hai tháng để chuẩn bị và chiến thắng một cuộc bầu cử toàn quốc để đưa ông ta lên chức vụ Tổng thống một cách hợp pháp.
Trong kịch bản nầy, Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ là một yếu tố không lường được. Dù chưa bao giờ được xem như là một người đặc biệt có thế giá, ông ta có lẽ không phải là một người tầm thường (cipher) như Chủ tịch Trương Vĩnh Lễ và ông ta chưa bao giờ có dịp để chứng tỏ khí phách (mettle) của mình. Trong một cuộc khủng hoảng của Chính phủ VN, Thơ có thể lấy sáng kiến tạo ra đủ lực hổ trợ để ngăn chặn tham vọng của Nhu, ngay cả nếu ông ta [Thơ] cuối cùng không đủ sức để duy trì chức Tổng thống [theo hiến định] đủ lâu để hết nhiệm kỳ theo quy định của Hiến Pháp.
Dù rất khó thẩm định xem Nhu có thành công trong ván cờ thí (gambit) nầy hay không, trên lý thuyết, Nhu có thể thành công và tiến hành nước cờ của mình theo đúng luật pháp, ít nhất là theo tinh thần của luật pháp, với điều kiện Diệm từ chức chứ không phải bị đảo chánh. Rõ ràng là Nhu, người thứ nhì sau Diệm, hiện nay là quyền lực chính trị mạnh nhất tại Việt Nam.
3-    Hậu quả của khả năng thứ tư, nghĩa là Diệm bi lật đổ bằng bạo lực, thì cơ hội để Nhu lên kế vị sẽ rất thấp dù ông ta dùng phương cách cách hợp hiến hay vi hiến. Mặc dầu có thể thừa nhận rằng Nhu có khả năng ở chức vụ lãnh đạo, trên phương diện kinh nghiệm, kỹ năng tổ chức, và là động lực đàng sau chương trình Ấp Chiến lược, v.v…ông ta lại có quá nhiều người chống đối trong giới trí thức và giới có học trong quần chúng, kể cả giới quân nhân. Điều không thể tranh cải là cục nợ (liability) lớn nhất của ông Nhu chính là bà Nhu, mà các thành phần quần chúng nói trên cũng đã biểu lộ một thái độ thù nghịch cá nhân gay gắt vì họ cho rằng bà ta đồi bại (vicious), nhiễu sự (meddlesome), loạn óc (neurotic), hay có khi tệ hơn nữa.
Dù sự chống đối vợ chồng Nhu căn cứ trên thuần túy logic hay trên cảm tính bồng bột thì điều nầy cũng không quan trọng vì cái chính là sự chống đối đó hiện hữu, có thật. Sẽ rất khó, nếu không muốn nói là bất khả, để Nhu nắm được quyền bính, dù bằng cách nào, nếu anh ông ta bị đảo chánh lật đổ. Vợ chồng ông Nhu thoát chết là may mắn lắm rồi, vì thật ra đã có ít nhất là một âm mưu muốn ám sát hai vợ chồng ông ta với ông Diệm được giữ lại để chủ trì một chính phủ Việt Nam được tái định hướng.

4-     Trong một buổi nói chuyện với một quan sát viên Mỹ vào ngày 25 tháng 6 vừa qua (TDCSDB-3/655,297 và CSDB-3/655,373), 5 Nhu dần dần tự du mình vào một tình trạng tâm thần với xúc động cao độ (highly emotional state of mind). Một trong những tình trạng đó là Nhu đã biểu lộ sự chống đối mãnh liệt ông Diệm và chính phủ của ông ta, (he expressed strong opposition to Diem and his government)  đến nỗi ta sẽ thiếu khôn ngoan nếu loại trừ hoàn toàn khả năng Nhu sẽ dư sức thử tiến hành một cuộc đảo chánh chống lại Diệm (Nhu would be capable of attempting a coup d’etat against Diem).
Đây không phải là lần đầu tiên Nhu biểu lộ một cách hung bạo như thế. Trong một buổi nói chuyện hai tháng trước đó mà Đặng Đức Khôi làm thông dịch cho Nhu nói chuyện với hai biên tập viên của báo Time/Life, Nhu trắng trợn nói rằng chế độ hiện tại (mà không bắt buộc với Diệm trong chế độ đó) phải bị tiêu hủy (the present regime must be destroyed). Nhu lập đi lập lại lời nói đó nhiều lần và để nhấn mạnh, ông ta còn thốt ra câu nói bằng tiếng La-tinh “Carthago delenda est” [LND: Lời hiệu triệu “Nước Carthage phải bị tiêu diệt” của Cọng hòa La Mã trong trận chiến tranh Punic vào thế kỷ thứ nhì]. Đã nhiều lần trong quá khứ, Nhu xác định rõ những nhận xét của mình bằng cách  nói rằng ông ta xem chế độ Diệm chỉ như một giai đoạn chuyển tiếp và chỉ như một đứa bé của nhu cầu lịch sử (Diem regime as a transitional stage and the child of historical necessity), nhưng cho cả hai biên tập viên của Time/Life cũng như cho quan sát viên Mỹ hôm 25 tháng 6, Nhu đã không trình bày quan điểm trung gian [chuyển tiếp] đó là gì.
Một cách tổng quát, cơ may Nhu kế vị Tổng thống sẽ giảm thiểu khi cường độ bạo lực thay thế Diệm gia tăng, nhưng Nhu vẫn còn một khả năng lên làm Tổng thống ngay cả trong một tình huống bạo loạn, kể cả khi có thể Diệm bị ám sát, đó là tình huống chính Nhu tổ chức và kiểm soát cuộc bạo loạn nầy.

5-    Điểm then chốt của mọi kế hoạch nhằm ngăn cản Nhu lên làm Tổng thống chính là Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, và kế hoạch hay nhất là tạo ra một ủy ban hành động được cả nước ủng hộ, nằm ngoài chính quyền hiện hữu, mà nhiệm vụ là trong trường hợp Diệm ra đi thì yểm trợ Nguyễn Ngọc Thơ lên làm Tổng thống và duy trì quyền lực đó cho ông ta theo đúng quy định của Hiến Pháp.

6-    Chúng tôi bi quan về khả năng cải tiến hình ảnh đối nội cũng như đối ngoại cho Nhu bằng bất kỳ phương tiện nào mà chúng tôi có thể hình dung ra. Ông ta đã là đối tượng của vô số lời bình phẩm bất lợi tại Việt Nam cũng như ở nước ngoài, và chuyện bà Nhu như một cục nợ thì cũng rất quan trọng như đã nhắc đến trên đây. Còn đối với Quân lực Việt Nam Cọng Hòa (ARVN), thì chỉ có Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh Quân Đoàn 4, là vị tướng duy nhất nỗi tiếng ủng hộ Nhu rõ ràng – nhưng ngay cả điều nầy cũng phải định giá lại vì đó là một điểm cần tranh luận, không biết liệu binh sĩ của hai Sư đoàn mà Cao chỉ huy có trung thành với Cao không.
Do đó, thật khó để nâng tầm vóc của Nhu lên được trước mắt Quân lực VNCH cũng như trước mắt của quần chúng Việt Nam và của thế giới. Như các cấp chỉ huy của Quân đội VNCH đều rõ, ông Diệm luôn luôn tự mình kiểm soát việc bổ nhiệm các chỉ huy cao cấp trong quân đội, và vì vậy mà trong mục nầy, họ không có lý do thôi thúc gì để trung thành sâu đậm với Nhu cả.

7-    Quan hệ giữa Nhu và Ngô Đình Cẩn gồm một số điều phức tạp. Từ nhiều năm, hai anh em đã khác nhau trên nhiều vấn đề, và đã khai sinh ra nhiều tổ chức chính trị nội bộ để thường tranh chấp nhau trên những chuyện như bổ nhiệm người vào các vị trí trung cấp và cấp thấp, hoặc những đặc quyền kinh tế béo bở. Bà Nhu lại cũng là một yếu tố vì bà ta và ông Cẩn vốn ghét nhau. Thêm nữa, Cẩn thường biểu lộ sự chê bai về óc phán đoán và tính thực tiển của khả năng lãnh đạo của Nhu. Tuy nhiên, trong một cuộc khủng hoảng mà Nhu nhắm làm Tổng thống, thì sau khi và chỉ sau khi Diệm biến mất, thì chỉ lúc đó, có lẽ Nhu có thể trông cậy vào sự yểm trợ của Cẩn, và Nhu sẽ hăm hở nỗ lực nhờ cậy Cẫn.
Phần lớn quyền lực của Cẩn ở miền Trung là đến từ Sài Gòn, và để duy trì quyền lực nầy trong một khoảng thời gian lâu dài, Cẩn đã cần một sự yểm trợ liên tục. Cẩn sẽ lý luận rằng với Nhu làm Tổng thống ở Sài Gòn, Cẩn sẽ có nhiều cơ may nhận được yểm trợ hơn là với một tập đoàn lãnh đạo khác. Ảnh hưởng của Cẩn trong một cuộc khủng hoảng thật ra độc lập với Sài Gòn vì chính quyền dân sự và quân sự tại các tỉnh [miền Trung], vốn được Cẩn ban cho và lưu giữ, nên họ đương nhiên đứng về phía Cẩn rồi (identification with him).  Cẩn nắm giữ thủ hạ không phải vì họ trung thành với Cẩn mà vì họ ý thức được rằng không có Cẩn, họ sẽ rất có thể bị mất chức (without him, they could very likely lose their own positions).
Trong khi suy đoán về quan hệ của Cẩn đối với Nhu, và ứng xử của Cẩn nếu Nhu tiến chiếm quyền lực, kinh nghiệm quá khứ cho thấy trong một cuộc khủng hoảng, không thể luôn luôn trông cậy Cẩn sẽ đóng một vai trò thuần lý  (cannot always be counted upon to play a rational role), ngay cả khi có dính líu đến quyền lợi thiết thân của Cẩn. Tuy là một chính trị gia khôn ngoan, Cẩn đã nhiều lần tỏ ra có xu hướng hoảng hốt trong trường hợp khẩn cấp, hay chỉ đơn giản tránh đối diện với tình huống mà Cẩn cho là sẽ gặp những vấn đề khó khăn.

8-    Tóm lại, cơ may để Nhu lên làm Tổng thống được ước định như sau:
a-    Trong tình huống không phải một cuộc đảo chánh chống lại Diệm, cơ may để Nhu lên làm Tổng thống từ đầu là khá thuận lợi (fair)
b-    Trong một cuộc đảo chánh chống lại Diệm, chuyện Nhu lên làm Tổng thống hầu như không thể được (impossible). Không những thế, Nhu và vợ rất có thể trở thành nạn nhân của cuộc đảo chánh.
c-    Nếu chính Nhu tự mình chiếm lấy chức Tổng thống, cơ may cũng cố vị thế và duy trì quyền lực trong một thời gian dài là kém (poor)

Nguyễn Kha
(Người dịch)


Phóng ảnh chụp lại từ FRUS
[Foreign Relations of the United States, 1961–1963,
Volume III, Vietnam, 1963, Document 256],
từ trang 569 đến 574