Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016


TỘI ÁC CỦA ĐẠO KI TÔ

Tác giả: Toshiaki Suzuki
Lược dịch: TP Thanh Tâm

 
Toshiaki Suzuki (ảnh: endangi.com)

Lời người lược dịch: Cho đến nay đã có nhiều sách báo, tài liệu viết về “tội ác của đạo Ki Tô”. Bài dưới đây của tác giả  T. Suzuki cũng viết về đề tài này, nên không có nhiều điều mới. Tuy nhiên, với nhận thức về sự cần thiết nhắc đi nhắc lại những giai đoạn lịch sử đen tối để chúng ta không quên, hầu làm bài học chiêm nghiệm cho hiện tại và tương lai. Đừng để lịch sử đen tối ấy, dù dưới hình thứ khác, trở lại với nhân loại nói chung, với đất nước Việt Nam nói riêng.

***

   Khác với Nhật Bản theo tôn giáo đa thần (nd: hai tín ngưỡng chính tại Nhật Bản là Phật Giáo Bắc Tông gồm nhiều Pháp môn và Thần Đạo. Thần đạo, ngoài việc thờ phụng tôn vinh những vị anh hùng quá khứ người Nhật, họ còn thờ thần sông, thần núi, thần ruộng…với quan niệm rằng con người, thần và thiên nhiên là nhất thể, nên còn được gọi là tôn giáo dân tộc, là tín ngưỡng thiên nhiên với 8 triệu vị thần) thì Âu Mỹ là những nước theo đạo Ki Tô độc thần (Ca Tô Và Tin Lành) với lịch sử gây ra nhiều tội ác không thể che dấu được. Trong đó, phải kể đến những tòa án tôn giáo vô cùng tàn nhẫn. Giáo hội Ca Tô cho rằng họ là tổ chức có uy quyền tuyệt đối đối với thế gian nên những tội ác của họ cũng được họ biện hộ cho là hành vi chính đáng.

   Với nhận thức của người bình thường ngày nay thì giáo hội Ki Tô đã phạm tội lỗi nghiêm trọng với những hành vi tàn nhẫn cùng cực. Trong lịch sử Nhật Bản không hề có một tổ chức mang danh nghĩa tôn giáo nào làm những điều ác đức như giáo hội Ki Tô. Trong một chuỗi những tội ác họ đã gây ra, phải kể đến hai tòa án tôn giáo là “tòa án tra khảo người dị giáo” và “tòa án tra khảo ma nữ (mụ phù thủy)”.
   Về tòa án dị giáo, khi bị cáo bị tòa án dị giáo phán quyết là kẻ “không phải là tín đồ chính thống của Ki Tô” thì kẻ ấy phải chịu hình phạt tử hình mà phương thức thông thường là thiêu sống trên giàn hỏa.
   Vào thời trung cổ, vị Giáo Hoàng nổi tiếng là Innocent III (1198-1216) tuyên bố rằng: “Hãy dùng hình phạt thiêu đốt đối với những kẻ giải thích sai lệch về Thiên Chúa hoặc những kẻ mang tư tưởng mâu thuẫn với lời dạy trong Kinh Thánh”.
   Để tận diệt những kẻ “dị giáo”, giáo hội Ca Tô cũng không từ bỏ việc lợi dụng Thập tự quân - là đội quân được thành lập với mục đích chính là truy đuổi tín đồ đạo Hồi ra khỏi thánh địa Jerusalem- tàn sát đẫm máu những tín đồ Hồi giáo tại nhiều nơi.
 
Giáo hoàng Innocent III (ảnh: Thinklink.com) và Giáo hoàng Gregory IX (ảnh: Wikipedia)
   Năm 1231, GH Gregory IX đã ban hành thành lập một cơ quan độc lập “tòa án tra khảo người dị giáo”. Trong ban tra khảo này có sự tham gia của quan tra khảo đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của GH. Chế độ có những qui định như: tòa án xử kín không công khai, khích lệ mật báo, có quyền được tra tấn tàn nhẫn để lấy lời khai. Tòa án dị giáo đã sử dụng những dụng cụ và phương pháp tra tấn đẫm máu tàn nhẫn để lấy được lời khai.

   Một vài thí dụ về phương pháp tra tấn của tòa án dị giáo như sau: Quan tra khảo mặc một chiếc áo choàng có phủ đầu màu đen bao trùm toàn thân như một tử thần. Để lấy lời khai của bị cáo, họ đã sáng chế ra nhiều dụng cụ tra tấn làm cho kẻ bị tra tấn đau đớn đến mức độ không thể chịu đựng được, như từ từ cắt cưa chân, tay hoặc bẻ gãy hoặc kéo rút những khớp xương của những bộ phận trong cơ thể, v.v...
   Những dụng cụ tra khảo này thường được khắc ghi hàng chữ như “Vinh Quang chỉ dành cho Thiên Chúa”. Những dụng cụ được sử dụng thông thường là:
-Bàn tra tấn: bị cáo bị trói đặt nằm lên bàn, sau đó tay chân bị kéo dài ra cho đến khi các khớp xương bị rớt ra.
-Dụng cụ treo bị cáo lên không: sau khi trói hai tay bị cáo ra phía sau, buộc hai cánh tay bằng sợi dây và kéo lên cao cho đến khi cánh tay bị trật rớt ra.
-Tra tấn bằng cách chế nước: một cái phểu được cắm vào cổ của bị cáo, sau đó đổ nước vào bụng cho đến khi bụng phình chướng to lên.
-Dùng mỡ lợn hoặc dầu bôi lên thân thể bị cáo, sau đó châm lửa thiêu đốt từ từ.
-Trong thời kỳ Đức quốc xã ở thế kỷ 20 đã dùng lò thiêu sống tù nhân một cách tàn nhẫn mà đã bị cả thế giới nguyền rủa. Nhưng thật ra cách thiêu đốt này đã được sử dụng đầu tiên vào thế kỷ 12 của “tòa án tôn giáo” tại Đông Âu. 
- Đẩy bị cáo xuống lỗ có rắn và chôn sống nếu không chịu khai báo.
-Một phương pháp tra khảo tàn nhẫn khác là cho bị cáo nằm ngửa giơ bụng ra. Úp trên bụng một cái tô chụp ngược, trong tô có nhiều chuột. Sau đó đốt lửa trên đáy tô để ngược làm tô nóng lên từ từ. Chuột trong tô hỗn loạn cố gắng cắn bụng bị cáo để tìm cách thoát thân. Nếu bị cáo vẫn không chịu thú tội thì cũng bị thiêu đốt sống.
- Lại có trường hợp thiêu sống tập thể (được gọi là auto-da-fe).
Hình vẽ một phòng tra khảo người dị giáo (ảnh: SPIEGEL Online)
   Trên đây là một vài thí dụ về hình phạt dị giáo của đạo Ki Tô, diễn tả sự tàn nhẫn khủng khiếp khiến mọi người đều kinh hãi. Một khi bị nghi là kẻ dị giáo, thì người đó khó trốn thoát được. Nhiều nhân viên trong ban tra khảo của tòa án dị giáo cải trang làm người thường dân để bí mật theo dõi những kẻ bị tình nghi.

   Những hình phạt tra khảo không chỉ áp dụng cho những kẻ bị cho là không theo hoặc phản đối Thiên Chúa, mà còn được áp dụng cho những tín đồ theo tôn giáo khác hoặc dân tộc khác. Tòa án tôn giáo của Tây Ban Nha vào thế kỷ 15 được nổi danh với sự tàn nhẫn đối với người Do Thái. Quốc vương Tây Ban Nha cho rằng người Do Thái là phần tử làm ô nhiễm xã hội của đạo Ki Tô. Vì vậy, tòa án tôn giáo đã viện mọi lý do như chính trị hoặc tội phạm cá nhân, để bắt xử nhiều người Do Thái sinh sống tại Tây Ban Nha thời bấy giờ, mặc dù phần đông họ là những người Do Thái đã cải qua đạo Ki Tô. Ước tình có khoảng 340 ngàn người là nạn nhân của tòa án dị giáo, trong đó có khoảng 32 ngàn người bị thiêu sống.

   Đối với người Ca Tô, thì đạo Tin Lành là thế lực phát sinh từ vận động cải cách và không tuân phục Ca Tô Vatican, khởi đầu từ khoảng đầu thế kỷ 16, cũng bị cho là dị giáo. Tuy nhiên, vì số tín đồ theo Tin Lành gia tăng nhanh chóng nên tòa án dị giáo của Ca Tô không còn đủ khả năng để khống chế. Đối lại, Tin Lành cũng cho rằng chính tín đồ Ca Tô mới là kẻ dị giáo không thể dung nhận. Tuy cùng là dân tộc da trắng, cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng chỉ vì khác tôn phái nên trở nên thù địch không khoan nhượng lẫn nhau, dẫn đến cuộc chinh chiến sống còn đẫm máu. Cuộc chiến giữa đạo Ca Tô và Tin Lành cho chúng ta liên tưởng đến cuộc chiến tương tàn chưa thấy hồi kết giữa 2 giáo phái Shia và Sunni tại Irak và trung Đông, tuy cùng chủng tộc, cùng tôn giáo đạo Hồi ngày nay.

   Người Nhật Bản khó có thể lý giải được cấu tạo của tinh thần quá khốc liệt về niềm tin của những người theo tôn giáo độc thần. Tại Nhật Bản, có nhiều tôn phái trong Phật giáo. Nhưng không tín đồ của tôn phái nào tự cho mình là chính thống, còn những tôn phái khác là tà phái. Họ tôn trọng, không coi thường hoặc tàn ác đối với những tôn phái khác. Trong lịch sử, chưa hề có sự kiện tranh chấp, hoặc những tố tụng lẫn nhau giữa các giáo phái Phật giáo. Chính Francisco Xavier, nhà truyền đạo Ki Tô phương Tây đầu tiên đến Nhật cũng tỏ ngạc nhiên về sự hòa hiệp, tương ái giữa những giáo phái của đạo Phật.

   Tiếp theo là câu chuyện về “săn lùng ma nữ (mụ phù thủy)”. Đạo Ki Tô tin rằng có sự tồn tại của ma nữ giao tiếp với ác linh. Đối tượng bị cho là ma nữ phần nhiều là những người đàn bà có tuổi với khuôn mặt nhăn nheo trông dễ sợ.
   Theo suy đoán cá nhân (tác giả Suzuki) thì có lẽ phụ nữ Tây Âu có mắt to và mũi cao, nên khi về già thì da nhăn với khuôn mặt co cóp dễ nhìn thấy sợ. Trong các tác phẩm vẽ về phù thủy của Nhật, thường biểu hiện khuôn mặt của người phụ nữ Âu Mỹ da nhăn, má cóp với cặp mắt to và mũi cao. Hình ảnh phụ nữ già Nhật Bản với mũi tẹt, mắt hí ít khi xuất hiện trong truyện tranh diễn tả mụ phù thủy.

   Ngoài những đàn bà lớn tuổi, thì những phụ nữ được nhiều người chú ý như phụ nữ đẹp lôi cuốn, hoặc ngược lại những phụ nữ có khuyết tật về thân thể hoặc tinh thần cũng dễ trở thành đối tượng bị nghi là “ma nữ”. (Một khi có phụ nữ nào được bà hoặc mẹ của mình chỉ cho loại thảo mộc có thể chữa bệnh thì phụ nữ đó cũng bị tình nghi là ma nữ vì nghe theo lời dạy của ma nữ. Vì vậy trong y học Tây Âu, kinh nghiệm sử dụng dược thảo hầu như bị loại trừ, không thể phát triển được cho đến ngày nay).
   Như trên, đạo Ki Tô chủ trương là có sự tồn tại của ma nữ. Nếu tín đồ nào không tin vào điều này cũng bị cho là kẻ dị giáo.

   Nguyên do của niềm tin về sự hiện hữu của ma nữ xuất phát từ thái độ khinh miệt phái nữ của tôn giáo này.
   -Vào thế kỷ thứ 2, St. Clement thuộc Alexandria tuyên bố rằng “Tất cả phụ nữ phải biết hổ thẹn vì mình là người đàn bà”.
   -Vào thế kỷ thứ 6, triết gia Ki Tô giáo Boethius cho rằng “Phụ nữ là nhà thờ được xây trên ống cống thoát nước bẩn”.
   -Vào thế kỷ thứ 10, giáo sĩ Odo thuộc tu viện Cluny nói rằng “Ôm người phụ nữ không khác nào ôm túi phân bón”.
   -Thế kỷ thứ 13, St. Thomas Aquinas tuyên bố “Phụ nữ là tác phẩm thất bại của Thiên Chúa. Trong quá trình sáng tạo vạn vật, không cần sáng tạo bất cứ sản phẩm khuyết tật nào. Vì vậy, phụ nữ cũng là sản phẩm khuyết tật đáng lẽ không nên sáng tạo”.

  Tại Hoa Kỳ, vào năm 1692, tại thuộc địa Salem của Massachutsetts, tòa án tra khảo ma nữ đã được thực thi. Kết quả là có trên 150 phụ nữ bị giam tù, và 19 người bị treo cổ tử hình. Đây là sự kiện tòa án phán xử ma nữ lớn nhất tại Hoa Kỳ. Nhưng nếu so với châu Âu thì không đáng kể. Tại châu Âu, tòa án tra khảo ma nữ đã có từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, trải qua 300 năm. Trong đó thế kỷ 16 và 17 là thời kỳ thịnh hành nhất. Hầu hết những nạn nhân trong tòa án tra khảo ma nữ là phụ nữ, nhưng cũng có trường hợp là đàn ông, tuy rằng rất hiếm.
Treo cổ ma nữ trong vụ án săn lùng phù thủy tại Salem, bang Massachussett, Mỹ
(Ảnh: Salem witch trial, pinterest.com) 
   Tuần tự việc lùng bắt và tra khảo ma nữ thông thường như sau: trước hết phụ nữ bị mật báo là ma nữ sẽ bị bắt bỏ vào ngục. Sau đó đưa ra tòa án tra khảo: bị cáo bị cởi áo quần và cạo sạch tất cả lông trên thân thể. Đạo Ki Tô tin rằng nếu là ma nữ thì sẽ có dấu hiệu khác thường nào đó tại vùng xung quanh cơ quan sinh dục của người phụ nữ. Ngoài ra họ còn tin rằng trong thân thể của ma nữ có bộ phận nào đó không cảm nhận sự đau đớn. Vì vậy họ dùng kim đâm chích khắp nơi trên cơ thể. Nếu có bộ phận nào không còn cảm giác đau đớn vì đã chịu nhiều lần đâm chích thì bị cho đây là chứng cớ của ma nữ. Những phụ nữ bị cho là ma nữ phải chịu nhiều hình phạt tàn nhẫn. Họ bị trói chặt vào chiếc bàn dài, bị tra khảo bằng những cách như kéo dài lưỡi ra, hoặc cột những cục nặng vào hai chân sau đó bắt nằm giữa trên chiếc ghế có 3 nhánh được gọi là “chiếc ghế của ma nữ” trong nhiều giờ. Tất cả những phương pháp tra khảo đều rất tàn nhẫn, đặc biệt đối với phụ nữ. Vì vậy sau khi không chịu nổi hình phạt họ đành phải thú tội mình là “ma nữ”. Kết quả cuối cùng là bị tử hình, mà hầu hết là hỏa thiêu. Ngoài ra, còn có những loại hình phạt khác như tách hai chân ra cho đến chết, hoặc bỏ vào bồn nước sôi, v.v…Trên đây là những phương thức tử hình tàn nhẫn mà ngày nay không thể nào hình dung ra được.

   Một bác sĩ làm việc trong trại ngục nhốt “ma nữ” đương thời đã để lại thổ lộ: Những phụ nữ bị tình nghi là ma nữ bị nhốt vào phòng tối dơ bẩn và thường xuyên bị lôi ra tra khảo...Với những hình thức tra tấn vô cùng tàn nhẫn, nhiều phụ nữ tuyệt vọng muốn chạy trốn bằng cái chết, hoặc nếu không thì phải chấp nhận khai nhận mình là ma nữ, điều mà quan tra khảo mong muốn, mặc dù nó không là sự thật. Trong cuốn sách có tựa đề “Nghiên Cứu về Ma Nữ (Demonology)” mà tác giả là quốc vương Anh quốc James I có viết: Nếu không có những hình phạt tra khảo tàn ác thì họ (bị cáo) không khi nào chịu thú tội (vì nó không thật).
   Trong thời gian tra khảo, nếu quan tra khảo muốn thỏa mãn thú tính sinh lý, hắn có thể sờ mó hoặc làm đau đớn bằng cách dùng kìm, kim hoặc thanh sắt nóng, hoặc bất cứ dụng cụ nào kẹp, kéo, đâm vào nhũ hoa, vào vùng kín của phụ nữ. Hành vi tàn nhẫn đối với việc săn lùng ma nữ không ngừng ở đó. Đối với con cái của nghi phạm “ma nữ” cũng bị giáo hội đối xử tàn nhẫn. Con gái trên 9 tuổi rưỡi và con trai trên 10 tuổi rưỡi phải chịu hình phạt tra khảo để lấy lời khai tố cáo mẹ mình. Ngay cả lời khai của trẻ em 2 tuổi cũng được cho là chứng cứ nếu có lời khai có lợi cho họ.
   Vì hầu hết những tài liệu về số “ma nữ” bị hành hình đã bị thất lạc (hoặc tiêu hủy) nên không có con số chính xác về người bị hành hình. Tuy nhiên, theo ước tính của những nhà nghiên cứu ngày nay thì ít nhất có khoảng 9 triệu phụ nữ đã bị tử hình với tội danh là “ma nữ” trong 2 thế kỷ 16 và 17.

   Dưới đây là một vài thông tin được tìm thấy.
   -Tại địa phương Würzburg Đức, số phụ nữ bị thiêu sống là khoảng 300 người trong vòng 1 năm kể từ năm 1616 đến 1617.
   -Tại Mainz Đức, từ 1611 đến 1629, có trên 1000 phụ nữ bị tử hình.
   -Tại Strasbourg, từ 1615 đến1635, có khoảng 5000 “ma nữ” bị giết.
   -Tại Scotland thuộc Anh, từ 1590 đến1680 có trên 50 ngàn người bị hành hình.
   -Ngay tại thành phố xinh đẹp Como của Ý cũng đã thiêu sống khoảng 1000 người chỉ trong một năm 1523.

   Cả đạo hai đạo Ki Tô (Ca Tô và Tin Lành) đều có chế độ tòa án tra khảo người di giáo và tòa án truy lùng ma nữ. Vì vậy, cả hai tôn giáo Ca Tô và Tin Lành đều đã nhúng vào tội ác ghê gớm.
   Tổng Thống thứ ba của Hoa Kỳ Thomas Jefferson, cũng là vị Tổng Thống biên soạn Tuyên Ngôn Độc Lập của Mỹ, đã viết về đạo Ki Tô vào năm 1785 như sau:
“Để giáo lý của đạo Ki Tô được lan rộng, biết bao nhiêu triệu nam nữ và trẻ em vô tội đã phải hy sinh như bị thiêu đốt, tra khảo tàn nhẫn, hoặc bị tịch thu tài sản hoặc bị nhốt vào tù ngục. Tuy vậy chúng ta đã không tiến được dù một inch nào trong cố gắng thống nhất ý chí giữa chúng ta. Vậy thì chế độ đàn áp của tôn giáo đã mang lại cho xã hội điều gì?. Kết quả là để lại một thế giới mà một nửa là những kẻ ngu dốt và một nửa còn lại là những kẻ đạo đức giả. Thế rồi nhiều người trong thế giới này lại bày tỏ sự ủng hộ hành vi tàn ác sai lầm và phản đạo đức này”.

   Nhiều nước Châu Âu đã dùng vũ lực tiến vào các nước Á Châu, Phi Châu và Trung Nam Mỹ. Trong quá trình áp đặt chế độ thực dân đô hộ tại các nước này, luôn luôn có giáo hội Ca Tô ẩn nấp phía sau để hỗ trợ chính sách thực dân hóa, và song hành với sách lược Ca Tô hóa các nước này.
   Hành vi ác đức của giáo hội Ca Tô vẫn tiếp tục cho đến gần đây.Trong đệ nhị thế chiến, thay vì phản đối kế hoạch tàn sát người Do Thái của Đức Quốc Xã, họ lại bày tỏ sự ủng hộ. Giáo Hoàng đương thời là Pius XII đã ký một hiệp ước với Hitler, theo đó Vatican không phản đối hành vi tàn sát người Do Thái của Đức Quốc Xã, thay vào đó, chính quyền Hitler cũng không được truy hại giáo hội Ca Tô. Thật ra thì giáo hội Ca Tô chấp nhận hành vi truy hại người Do Thái của Đức Quốc Xã, cũng vì giáo hội Ca Tô đã từng có chủ trương đánh phá đạo Do Thái kể từ thế kỷ thứ 4.

   Để làm dịu phần nào sự phẫn nộ và bất tín của thế giới đối với lịch sử tàn ác của giáo hội Ca Tô, năm 2000 GH John Paul II lẩn đầu tiên nhân danh giáo hội Ca Tô chính thức nhận và xin “Thiên Chúa” tha lỗi về những lầm lỗi mà giáo hội đã làm trong quá khứ. Những lầm lỗi mà GH công khai nhận, thứ nhất là giáo hội đã nhiều lần gởi những đội quân thập tự đến những vùng Hồi giáo dùng vũ lực bắt họ cải qua đạo Ca Tô, nếu không sẽ bị giết không thương tiếc. Hành vi này được lập đi lập lại trong suốt thế kỷ 11 và 12. Tiếp theo là tòa án tôn giáo tại Âu Châu, tra khảo và tử hình vô số những người bị cho là “kẻ dị giáo” và “ma nữ” được lập đi lập lại qua nhiều thế kỷ. Tội ác thứ ba là hành vi bách hại người Do Thái.
 
   Theo nhận xét của tôi (tác giả Suzuki) thì không ít người Nhật “ngây thơ, ngu ngơ và dễ tin người” tỏ sự đồng tình hoặc chí ít là tin vào sự hối cải của giáo hội Ca Tô khi Gíao Hoàng nhận lỗi lầm trong quá khứ. Nhưng với tôi thì đây là hành vi ngoại giao vi thiện-đạo đức giả. GH chỉ xin “Chúa” tha thứ cho hành vi lầm lỗi của giáo hội trong quá khứ chứ không hề xin lỗi ai hết. Đây là thái độ không thành thật mà giáo hội Ca Tô đã có tính toán chu đáo. Vì nếu họ xin lỗi nêu đích danh người Do Thái hoặc tín đồ Hồi giáo thì có thể sẽ bị những tổ chức liên hệ tố tụng, yêu cầu bồi thường thiệt hại.

   Ngày nay, Hoa kỳ là nước duy nhất được cho là siêu cường. Chưa có nước nào có đủ sức đối kháng với Mỹ cả về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng để trở thành siêu cường, biết bao nhiều người (trên thế giới) đã phải hy sinh cho quốc gia này. Không ai có thế đếm biết được. (nd: chủ nghĩa đế quốc)
   Cũng như vậy, để trở thành một tổ chức mang tên “giáo hội Ca Tô” có qui mô toàn thế giới như ngày nay, thì không biết bao nhiêu người đã bị tàn sát bởi tôn giáo này. (nd: chủ nghĩa bành trướng độc tôn) 
   Khi viết bài này, tôi đã tham khảo quyển sách “Dark Side of Christian History” của tác giả Helen Ellerbe. Tôi rất cảm phục sự dũng cảm của tác giả khi cho phát hành quyển sách này tại Âu Châu, nơi mà đạo Ki Tô còn rất mạnh. Không khó tưởng tượng ra rằng nếu không bị giết (ám sát) chăng nữa thì bà cũng phải chịu rất nhiều áp lực, hăm dọa từ nhiều phía.
   Tương tự, khoảng 10 năm trước, nhà văn người Anh gốc Ấn Độ Salman Rushdie đã viết quyển tiểu thyết có nội dung trêu chọc và phê phán đạo Hồi. Liền sau đó giáo hội Hồi giáo đã công khai kêu gọi người Hồi giáo tìm cách ám sát ông ta. Để tránh nguy hiểm, Salman Rushdie đã phải ẩn trốn trong một thời gian dài. Sự kiên này cho ta thấy rằng dù là người không phải là tín đồ đạo Hồi, dù chỉ phê bình tôn giáo họ trong tiểu thuyết của mình thì cũng bị tuyên cáo hình phạt tử hình.
   Tôi cũng đồng ý với chủ trương của Bà Helen Ellerbe cho rằng nhân tố chính dẫn đến sự phá hoại môi trường hiện nay là do quá trình phá hoại của các tôn giáo độc thần.

   Sau cùng, tôi xin trích một đoạn trong phần cuối quyển sách của tác giả Helen Ellerbe: “Rõ ràng rằng đạo Ki Tô đã có một lịch sử đen tối. Nhưng không vì vậy mà phủ nhận toàn bộ Ki Tô giáo. Từ xa xưa cho mãi đến ngày nay, vẫn luôn có những tín đồ cam đảm chống đối thái độ độc tài và tội ác của giáo hội Ki Tô chính thống. Họ đã lấy lòng từ và bác ái làm nền tảng để vượt qua sợ hãi và sự trừng phạt. Thay vì chỉ biết vâng phục với niềm tin mù quáng (cuồng tín), họ đã đề cao quyền lợi cá nhân và sự hài hòa”. Số tín đồ này không phải ít”.
Ở đây tôi cũng xin thêm đôi chút như sau: “Nếu đạo Ki Tô chỉ làm những điều ác như kể ở trên thì có lẽ đã không trở thành tôn giáo lớn như hôm nay. Nhưng nhìn mặt ngược lại thì nếu họ không làm cho loài người phải khủng hoảng, khiếp sợ thì đạo Ki Tô chắc chắn không phát triển như ngày nay”.
   Hãy nhìn vào các nước ở Trung Nam Mỹ. Ngày nay hầu hết họ theo đạo Ca Tô. Tổ tiên của họ đã bị binh sĩ là tín đồ hoặc giáo sĩ Ca Tô giết hại rất nhiều không đếm được, và theo đó, văn hóa truyền thống của họ cũng đã hoàn toàn bị tiêu hủy. Những người còn sống sót là những người phải chấp nhận cải đạo thành tín đồ Ca Tô do bị cưỡng bách. Kết quả là người dân các nước Nam Mỹ ngày nay hết lòng tín ngưỡng đạo Ca Tô, tôn giáo đã tàn sát dã man tổ tiên và hủy diệt văn hóa của dân tộc họ.

   Nói tóm lại, trong thế giới ngày nay, nếu các tôn giáo độc thần (Ca Tô, Tin Lành và Hồi) còn lộng hành thì tuyệt đối nhân loại không thể có hòa bình thật sự. Dù nếu các tôn giáo độc thần trên thế giới chịu ngồi lại để bàn thảo về hòa bình chăng nữa thì cũng không thể mang lại hòa bình. Chỉ khi nào những tôn giáo đa thần như Nhật Bản (nd: bất cứ tôn giáo nào hoặc không tôn giáo mà không cuồng tín, không giáo điều, không độc thiện, không phản quốc, đối đãi bình đẳng, bằng tình thương và sự hiểu biết) được phát triển sâu rộng trên thế giới thì mới mong hòa bình đến với trái đất này.

Nguồn: Endanji Blog: http://www.endanji.com/?p=177
(Tết nhớ quê-Bính Thân 2016)


Ghi chú: Dịch giả gửi trực tiếp cho HoangNamGiao

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2016


CỤ TRẦN VĂN HƯƠNG
XEM “CHÍ SĨ” NGÔ ĐÌNH DIỆM
NHƯ MỘT “THẰNG NGU NGỐC VÔ LIÊM SỈ”

Bữu Châu

Sau 1975 và tại hải ngoại, lợi dụng tình trạng khó kiểm chứng độ khả tín của tài liệu và tình hình càng ngày càng vắng dần nhân chứng, đồng thời, nhằm thực hiện lời nguyền đầy hận thù “… tôi chết trả thù cho tôi” của con chiên cuồng tín Ngô Đình Diệm, nhóm tàn dư Cần lao-Công giáo của gia đình nhà Ngô (“the House of Ngo”, như người Mỹ cũng thích dùng từ nầy) đã tung ra trên các diễn đàn Internet và một số báo giấy những tài liệu ngụy tạo trắng trợn,  nhằm hai mục đích đan kết phối hợp với nhau:

HAI MỤC ĐÍCH, MỘT CÔNG MỘT THỦ
● Một mặt, họ xuyên tạc và bôi nhọ tính chính đáng của Phật tử và trí thức Việt Nam trong cuộc vận động đòi bình đẵng tôn giáo dài 6 tháng trong năm 1963, bằng cách chụp mũ cho phong trào Phật giáo là khi thì do CIA Mỹ điều động, khi thì … ngược lại, do Cọng sản Bắc Việt lãnh đạo. Tiêu biểu như bốn bài sau đây:
- Ngụy tạo ra một Đại úy CIA bí mật tên là James Scott như là hung thủ duy nhất, đặt chất nổ trong vụ thảm sát 8 Phật tử tại khuôn viên Đài Phát thanh Huế ngày 8-5-1963 (http://www.talawas.org/?p=5924).
- Vu khống cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức ngày 11-6-1963 tại Sài Gòn là do một “cán bộ Cọng sản nằm vùng” tên Nguyễn Công Hoan lên kế hoạch và đã tự tay tiêm thuốc mê rồi tưới xăng đốt Ngài (http://thuvienhoasen.org/a16529/27-xuyen-tac-ve-cuoc-tu-thieu-cua-ht-thich-quang-duc-phap-lac-va-nguyen-kha).
- Bôi nhọ cuộc “tự hủy mình” của nhà văn Nhất Linh ngày 7-7-1963, cho đó chỉ là hành động quẫn trí vì Nhất Linh vốn bị bệnh tâm thần từ năm 1939, lúc viết truyện Bướm Trắng. (http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/default.aspx?a=143907&z=271).
- Dựng ra một kết luận không hề có cho Bản Phúc trình A/5630 của “Phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc tại Nam Việt Nam” (http://hoangnamgiao.blogspot.com/2013/07/blog-post.html ).

● Mặt khác, họ tìm cách “đánh bóng” cho hai lãnh tụ Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu một lớp sơn để che dấu những sai lầm và tội ác mà hai ông nầy đã gây hại cho đồng bào miền Nam.
Vì đồng bào xứ Huế (nơi biết rõ gốc gác và tư cách của dòng họ Ngô Đình nhất) đã từng lên án rằng: Họ Ngô có bốn gian hùng / Diệm ngu, Nhu ác, Cẩn khùng, Thục điên (trích từ đồng dao xứ Huế trong những năm đầu thập niên 1960’) nên bây giờ, nhóm tàn dư của nhà Ngô phải gian trá gán bừa cho lãnh tụ của mình những giải thưởng có kích thước quốc tế, những tác phẩm nghiên cứu lý luận có giá trị cao … hầu “dựng tượng” văn hóa cho lãnh tụ!!! Tiêu biểu như hai bài sau đây:
- Phong bừa cho ông Diệm làm khôi nguyên giải thưởng “Leadership Magsaysay Award” mà họ bịa ra là vào năm 1962 (hay 1959?) với trị giá 10,000 (hay 15,000?) đô la Mỹ để ông Diệm mau mắn tặng số tiền nầy cho vị lãnh tụ Phật giáo thế giới là ngài Đạt Lai Lạt Ma. (http://giaodiemonline.com/2013/03/suthat.htm).
- Bịa đặt ra những tình tiết không có thật để mạo nhận ông Nhu trở thành tác giả của cuốn khảo luận chính trị “Chính đề Việt Nam” hầu chứng tỏ rằng lý thuyết gia “uyên bác” của chế độ cũng có tác phẩm lập thuyết như ai! Tuy nhiên, công trình nghiên cứu giá trị nầy thật ra là của ông Tùng Phong Lê Văn Đồng, một người từ Pháp về, từng tham gia chính quyền ông Diệm (Bộ Canh Nông) nhưng đã bỏ đi không hợp tác nữa vì bất đồng quan điểm. (http://hoangnamgiao.blogspot.com/2013/02/chinh-e-viet-nam-c-ua-ngo-inh-nhu-ong.html)

Tại sao những xuyên tạc, gian trá và ngụy tạo nầy không được phổ biến rộng rãi khi hai ông Diệm Nhu còn nắm quyền sanh sát trong tay với bộ máy mật vụ ác ôn và hệ thống tuyên truyền muốn nói gì thì nói? Thậm chí trong những năm đầu thập niên 1970’, khi nhóm Cần lao-Công giáo trở lại khống chế chính trường miền Nam với sự thỏa hiệp của con chiên Nguyễn Văn Thiệu để thiết lập một chế độ “Diệm không Diệm” (nhóm từ của Robert Shaplen trong The Cult of Diem), những vu khống, bôi nhọ, mạo nhận hoặc “bốc thơm” như thế nầy hầu như không xuất hiện mà đến nay, ra hải ngoại và sau 1975, mới được ngụy tạo hoặc kích hoạt lại để tung ra một cách quy mô có hệ thống như thế? Câu trả lời gồm 3 vế.

* * *

CÂU TRẢ LỜI BA VẾ
(i) Vế thứ nhất là sau biến cố long trời lỡ đất vào mùa Xuân năm 1975, về phương diện lịch sử và trong lãnh vực tài liệu, khi đề cập đến Miền Nam, hầu như cà hai “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc” đều muốn viết gì thì viết tùy ý đồ chính trị, chẳng còn tiêu chuẫn chuyên môn nào hay tư cách đạo đức gì được tôn trọng hay làm chuẩn mực nữa. Hiện tượng nầy lan tràn một phần vì trong cơn vật đỗi sao dời đó, luôn luôn có một đám đông bị hội-chứng-bầy-đàn, có đầu mà không có óc, sẳn sàng đưa “sọ” cho những phù thủy “nhồi” gì cũng tin.
Một ví dụ nhồi sọ điển hình là trường hợp nữ sinh viên Nguyễn  Phương Uyên. Em sinh năm 1992 trong một gia đình theo đạo gia tiên thờ ông bà, vì chống chế độ nên bị tòa kết án tù treo 3 năm. Phương Uyên ra khỏi tòa sau phiên xữ đó vào tháng 8/2013. Nhưng dù chỉ mới hơn hai tháng sau, và dù không đủ điều kiện để tiếp cận thông tin đa chiều, do đó không biết gì (và biết đúng) về chế độ Ngô Đình Diệm 50 năm trước đây, thế mà vẫn được mấy “cha” Dòng Chúa Cứu Thế trao bằng khen gì đó, rồi “nhồi sọ” đưa lên mộ ông Diệm khóc thương vào dịp mồng 1 tháng 11 cùng năm 2013 để mấy “cha” chụp hình phát tán khoe trên Internet.
Hiện tượng nhồi sọ nầy không những thành công dể dàng với một em nữ sinh viên trẻ tuổi, mà còn “lừa” được một đám trí thức Hà Nội nông nỗi và vọng động, vì quá bất mản với đảng Cọng sản nên tung hô bất kỳ cái gì họ “vớ” được (và xem đó như mẫu mực của “dân chủ tự do”), kể cả hai nền Cọng hòa cũ ở miền Nam mà họ hầu như không có những kiến thức đầy đủ và sâu sắc về quá trình hình thành và bản chất thực sự của hai nền Cọng hòa nầy!  
 
Sinh viên Phương Uyên cầu kinh cùng các cha dòng Chuá Cứu Thế và chụp hình cạnh ngôi mộ của ông “Huynh” (Ngô Đình Diệm) trong ngày 1-11-2013
(Hình: Dân Chúa Đồng Hành – dcdh.bplaced.net) 
(ii) Vế thứ nhì là kỷ năng lan tỏa thông tin tức thời và khắp nơi của Internet. Mạng lưới Internet được khai sinh (packet networking) từ thập niên 1950’, triển khai trong thập niên 1960’ (ARPANET), rồi đi vào ứng dụng phổ quát và khai dụng đại trà trong những năm cuối thập niên 1980’ (ISPs). Internet với những ứng dụng trong lãnh vực  truyền thông xã hội (social media), một phần, đã trở thành công cụ tuyên truyền hữu hiệu cho  những kẻ giấu mặt bất lương hay minh danh nhưng không biết ngượng. Cứ nói láo mãi và nói láo nhiều, thế nào cũng có ngưới tin. Không tin bây giờ thì để lại tài liệu cho thế hệ sau … “tham chiếu”! (Kỹ thuật nhồi sọ nầy đã được bộ máy tuyên truyền của Đức Quốc xã và Đệ Tam Quốc tế học thuộc từ một bậc thầy sành sõi là Giáo hội Công giáo, vốn đã xử dụng để truyền đạo kinh qua cả nghìn năm trước).
Một ví dụ điển hình của hiện tượng lan tỏa rộng rãi lời nói láo trong cyberspace là sự kiện một cựu quan chức cao cấp của Việt Nam Cọng Hòa đã dùng Internet để liên tục gian trá khẳng định rằng lãnh tụ của mình là tác giả của một cuốn sách chính luận có giá trị trí thức cao. Thật vậy, nguyên tác phẩm “Chính Đề Việt Nam” đã được ông Tùng Phong Lê Văn Đồng chấp bút và xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1965. Thế mà ông Tôn Thất Thiện, một “nhà nghiên cứu” hoài-Ngô (đã từng làm Giám đốc Báo chí kiêm Thông dịch viên riêng của ông Diệm, và sau 1963, làm đến Bộ trưởng Bộ Thông Tin của Đệ Nhị Cọng Hòa), mãi đến năm 2009 vẫn cứ tiếp tục khẳng định một cách bất lương và không biết ngượng trong một bài viết được phát tán rộng rãi trên Internet, rằng tác phẩm nầy là “viên ngọc quý trong kho tàng tư tưởng của nhân loại” vốn “kết tụ những nghiên cứu và phân tích dựa trên kinh nghiệm lịch sử của cố vấn Ngô Đình Nhu cùng một số phụ tá thân cận”. Ông Thiện nầy, có bằng tiến sĩ ở Anh, vừa làm báo chí vừa làm thông tin trong cả hai nền Cọng hòa, người tự nhận là “tôi đã được học hỏi ở những Đại học có tiếng là đứng hàng đầu thế giới về các môn Chính trị, Kinh tế, Xã hội học, tôi đã đọc rất nhiều sách, báo, về vấn đề phát triển”, thế mà trong 44 năm (1965-2009) lại không biết đến (?) nên không nhắc đến tác giả thật, và duy nhất, là ông Tùng Phong Lê Văn Đồng, nguyên Đổng lý Văn phòng Bộ Canh Nông thời ông Diệm, ở ngay tại Sài Gòn. Ông tưởng sau 1975 ra đến hải ngoại rồi muốn nói gì thì nói sao? Thật là bất lương hết thuốc chữa!

●Bìa “Chính Đề Việt Nam” của Tùng Phong, Nxb Đồng Nai, Sài Gòn 1965.
●Ông Tiến sĩ Bộ trưởng Tôn Thất Thiện, người đánh tráo tác giả để đề cao lãnh tụ Ngô Đình Nhu.
●Google ngày 14-1-2016 với keyword là tựa đề bài viết của ông Thiện (“CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM MỘT VIÊN NGỌC QUÝ TRONG KHO TÀNG TƯ TƯỞNG NHÂN LOẠI”), Internet cho 199,000 kết quả (đường link URL) dẫn về những trang web/blog hoài-Ngô như “Hồn Việt”, “Chúa Cứu Thế”, “Bảo Cệ Cờ Vàng 2012” … Và sự dối trá nầy sẽ cứ, theo thời gian, tiếp tục lan tràn trong không gian Internet như ý đồ bất lương của đám hoài-Ngô.      
(iii) Nhưng “hội-chứng-bầy-đàn” và mạng lưới Internet mà thôi cũng chỉ mới là những điều kiện “đủ”, nên vẫn chưa kết hợp được để có cả một chiến dịch rộng lớn, phối hợp nhịp nhàng trong và ngoài nước, nhằm xuyên tạc lịch sử và bôi nhọ các tôn giáo khác với một ý đồ chính trị rất rõ ràng. Chiến dịch nầy, để thực hiện nó ở tầm cao của chiến tranh tuyên truyền trong thời hiện đại, phải được một thế lực cực mạnh lãnh đạo và cung cấp phương tiện mới làm được. Thế lực đó, như lịch sử đã chứng nghiệm (từ thời cố đạo Alexandre de Rhodes “gọi Thích Ca bằng thằng”) và thực tế đang chứng minh (như Giáo hoàng Benedict 16 gọi Phật giáo là một loại tâm linh tự dâm – “autoerotic spirituality”) chỉ có thể là Vatican. Và Vatican chính là vế thứ ba trong chiến dịch tuyên truyền xám đó!
Thật vậy, trong “mùa gặt lớn” mà Vatican gọi là “chương trình cứu độ của Giêsu” tại lục địa Á châu, theo đúng chiến lược xâm lăng văn hóa để “cải đạo, cướp linh hồn” được Giáo hoàng Gioan Phaolồ 2 đề xuất trong “Tông huấn Giáo hội tại châu Á” (Ecclesia In Asia) vào năm 1999 tại Ấn Độ (http://giaodiemonline.com/2009/07/tonghuan.htm), Vatican đã cởi lên để khuynh loát làn sóng bất mãn với chính quyền Việt Nam bằng một chiến dịch “thánh hóa” trường hợp Ngô Đình Diệm như một viên đá nhắm hai con chim:
Vừa bóp méo quá  khứ để vinh danh dòng họ con chiên Ngô Đình và Đệ Nhất Cọng hòa hầu mong “giải tội” cho Giáo hội Công giáo Việt Nam về quá trình 100 năm (1858-1954) làm tay sai đắc lực cho thực dân Pháp xâm lăng và đô hộ Việt Nam; lại vừa hướng về tương lai, dùng Giáo hội Công giáo để tiêu diệt chế độ Xã hội Chủ nghĩa tại Việt Nam hầu thành lập một “Philippines toàn tòng thứ nhì”, gợi hứng từ chế độ giáo trị Đệ nhất Cọng hòa của Ngô Đình Diệm, trên bán đảo Hoa-Ấn. Ý đồ chiến lược nầy của Vatican, từ góc độ chính trị, là lập lại trường hợp Ba Lan vào mùa Hè năm 1989, chỉ khác là lần nầy “giòng nước lũ” chỉ đại diện không đến 10% dân số Việt Nam nhưng được Internet và hội-chứng-bầy-đàn khuyếch đại lên nhiều hơn …

Từ đó, ta không lấy làm lạ khi thấy những động thái tưởng là rời rạc nhưng thật ra kết hợp nhất quán và đều khắp để phục vụ cho những mục tiêu chiến lược đó của Vatican:
Từ Giáo hoàng Gioan Phaolồ II viết “Crossing the Threshold of Hope” (Bước qua Ngưỡng cửa Hy vọng) để phỉ báng Phật giáo, đến rửa tội cho nhà thơ Nguyễn Chí Thiện ngay trước giờ lâm chung để tạo uy tín truyền đạo dù ông nầy trước đó chỉ muốn quy y Tam bảo – Từ ồ ạt và gấp rút phong một con số kỷ lục 117 người cả Tây lẫn Ta làm “thánh tử đạo” tại Việt Nam chỉ trong vòng một năm (1988), đến một tên nhà văn Công giáo là Chu Tất Tiến ở tại Little Saigon (Mỹ) to mồm vu khống rằng “Phật giáo Việt Nam giết hại hơn 100 nghìn người cùng máu đỏ da vàng chỉ vì họ theo đạo Ca Tô”. – Từ vận động nhà nước Việt Nam đặt lại tên đường tên trường cho những thành phần Công giáo hợp tác với chính quyền thuộc địa Pháp như Nguyễn Trường Tộ, Petrus Ký, Nguyễn Bá Tòng, cho đến ra sách vinh danh ông Linh mục Trần Lục, người đã từng mộ quân và dẫn đường cho quân Pháp đánh chiếm chiến lũy Ba Đình của anh hùng Đinh Công Tráng. –  Từ Giám mục Ngô Quang Kiệt xách động giáo dân xuống đường bạo động đòi lại một mãnh đất vốn của chùa Báo Thiên, đến vận động nhà nước cho xuất bản sách (Việt dịch) của một nữ tác giả Mỹ viết về bà Nhu. Đó là chưa kể hàng trăm video được phát tán trên YouTube để đề cao Ngô Đình Diệm và phỉ báng Phật giáo và Tướng Dương Văn Minh …

* * *

CỤ TRẦN VĂN HƯƠNG VÀ BÀI THƠ “CẢM HOÀI”
Trong chiến dịch thiên la địa võng, huy động sức mạnh tổng hợp vừa thần quyền vừa thế quyền đó của Vatican, sự kiện cụ Trần Văn Hương làm thơ “mắng” ông Ngô Đình Diệm là “thằng ngu ngốc vô liêm sĩ” (vì bài thơ Cảm Hoài) là một trường hợp tuyên truyền xám điển hình khác về thủ đoạn “thấy sang bắt quàng làm họ” để tô son trét phấn cho lãnh tụ, do “bầy tôi” của ông Diệm thực hiện.  Bài thơ Cảm Hoài nầy, một dạo, đã được tàn dư của ông Diệm phổ biến giới hạn trong nước mà họ chú thích rằng tác giả là ông Diệm. Bài thơ được tán dương là một tuyệt tác với “khẩu khí của nhà ái quốc” đang trong thời kỳ làm ẫn sĩ phải “bao năm lê gót nơi quê người” Mỹ. Đến lúc ra đến hải ngoại sau 1975, bài thơ lại được phổ biến rộng rãi trên các diễn đàn và bổng trở thành “viên ngọc quý của thi ca Việt Nam” mà chỉ có người có tấm lòng yêu nước thương nòi như “chí sĩ” Ngô Đình Diệm mới sáng tác nỗi.
Ai cũng bị “đầu độc” tin như thế cho đến khoảng năm 1995, sau khi Mỹ-Việt bang giao, chuyện về Việt Nam để tìm mua sách cũ hoặc gặp lại bạn bè đồng nghiệp xưa trở nên dễ dàng hơn, nhiều người mới phát giác ra rằng tác giả bài thơ Cảm Hoài là một vị khác. Và chuyện gán cho ông Diệm là tác giả bài thơ nầy chỉ là trò gian trá, mạo nhận của nhóm Cần lao-Công giáo để bốc thơm ông Diệm mà thôi!         
Ngoài ra, cũng nhờ vậy mà thế hệ sau mới biết được rằng trể nhất là từ năm 1974, một số ít người sinh hoạt thi ca trong nước đã biết vụ lừa dối nầy rồi.  Đặc biệt, một trong những người đó là cụ Trần Văn Hương, đã biết từ năm … 1961!
  
Cụ Trần Văn Hương là một nhà giáo, một nhân sĩ nỗi tiếng tại miền Nam. Cụ từng tham gia chính quyền Việt Minh, nhưng rồi vì bị quy chụp là Việt gian nên cụ bỏ kháng chiến về quê Vĩnh Long sống ẫn dật. Sau khi đất nước qua phân, cụ hoạt động trở lại và đã từng là Đô trưởng Thành phố Sài Gòn dưới thời ông Diệm. Nhưng chỉ được vài năm rồi cũng bất mãn vì bản chất độc tài của chế độ nầy nên cụ và một số đồng chí thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, ra Tuyên Ngôn (năm 1960 tại khách sạn Caravelle) để lên án chế độ Diệm. Cũng trong năm 1960 đó, cụ ủng hộ cuộc binh biến của binh chũng Nhãy Dù để lật đổ ông Diệm nên bị Nha Tổng Giám đốc Cảnh Sát và Công An Quốc Gia bắt cầm tù vào ngày 12-11-1960. Cụ được phóng thích khoảng 5 tháng sau đó (7-4-1961).
Năm 1964, cụ trở lại tham chính và đã từng giữ những chức vụ Thủ Tướng, Phó Tổng thống và Tổng thống Việt Nam Cọng Hòa. Sau 1975, cụ chọn ở lại quê hương, tiếp tục sống ở căn nhà cũ ở Sài Gòn. Cụ mất năm 1982. Ngày nay, nhắc đến cụ, người ta vẫn gọi cụ là một mẫu mực tiêu biểu và đúng đắn  của một “Sĩ  phu Nam kỳ”. (Xem toàn bộ tiểu sử và hoạt động của cụ tại  https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_H%C6%B0%C6%A1ng )

Trong thời gian bị tù dưới chế độ Diệm, cụ và một số bạn tù chính trị khác (như các vị Tạ Chương Phùng, Phan Bá Cầm, Trần Văn Tuyên, Phan Khắc Sữu, Nguyễn Trung Hậu, Phan Quang Đán, Phan Huy Quát, …) thỉnh thoảng có làm thơ để ký thác tâm sự. Sau nầy, cụ tập trung một số thơ của mình và của các bạn đồng chí cùng cảnh ngộ in thành một tuyển tập lấy tên là “Lao Trung Lãnh vận” (Những vần thơ lạnh trong tù).
Cụ Trần Văn Hương (1902-1982) và Hình bìa trước của tập thơ Lao Trung Lãnh Vận, Sài Gòn, in lần thứ ba, 1974.  
Trong tuyển tập thơ nầy, cụ có cho đăng bài thơ Cảm Hoài vốn thực sự của cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác mà một người bạn thơ từng bị “tuyên truyền”, nói là của “chí sĩ Ng. Đ.D.”. Sự thực là trong giai đoạn đó, vì bộ máy tuyên truyền của chế độ ông Diệm đã đánh tráo tác giả nên có rất nhiều người bị lầm, tưởng đó là thơ của ông Diệm thật. Cụ Trần Văn Hương và một số bạn thơ cũng đã bị lừa như thế nên sau nầy, khi phát hiện ra bị lừa, đã làm thơ “đã kích ông ta” (ông Diệm). Vì vậy mà  trong bài thơ “Chuyện Trớ Trêu” làm cuối năm 1961 để hoạ lại bài thơ “Phúng Thế” của người bạn “đả kích” ông Diệm từ năm trước, cụ Trần Văn Hương đã kết bài bằng hai chữ mà “muôn đời” sau sẽ dành cho nhà “chí sĩ” Ngô Đình Diệm:
 Tấp tểnh đua đàn tranh “chí sĩ”
             Muôn đời để mãi tiếng thằng công
“Thằng công” là thằng gì? Cuối bài thơ, cụ Trần Văn Hương đã giải thích rằng chữ “thằng công” vốn là diễn âm tiếng Việt của một chữ Pháp là “Un con (tiếng thô tục để mắng mấy thằng ngu-ngốc vô liêm sỉ)”

Dưới đây là phần trích dẫn và phóng ảnh ba bài thơ “Cảm Hoài”, “Phúng Thế” và “Chuyện Trớ Trêu” trong tác phẩm Lao Trung Lãnh Vận của cụ Trần Văn Hương:

Bắt đầu trích, với 3 chú thích của NK trong [ ]  
● [Trang 128] 
“Một bữa kia, ông bạn Long Giang ĐỖ PHONG THUẦN có đưa cho xem một bài thơ “Cảm Hoài”, nói là của “chí sĩ NG. Đ.D.”. Sau mới biết đó là bài thơ của ông NGUYỄN SĨ GIÁC cũng gọi là NGUYỄN SĨ XÁC, hiện còn mạnh giỏi. Hình như ông cũng đã chịu nhiều gian khổ vì chuyện nước nhà, nhơn lúc buồn sanh cảm làm ra bài nầy:
CẢM HOÀI
Gươm đàn nửa gánh muốn sang sông
Hỏi bán: Thuyền không lái cũng không!
Xe muối nặng-nề thương vó ký,
Đường mây rộng-rãi tiếc chim hồng.
Vá trời lấp bể, người đâu vắng?
Bán lợi mua danh chợ vẫn đồng!
Lần-lữa nắng mưa trong cuộc thế,
Cắm sào đợi nước thưở nào trong!
(Theo trong quyển “Chơi Chữ” của LÃNG NHÂN)

● [Trang 130]
Một số thi-hữu tưởng bài thơ nầy thật của “chí sĩ” nọ, nên họa vận đả kích ông ta [ông Diệm]; tôi cũng thế…
Cũng nhơn bài thơ trên, ông bạn LONG GIANG có gởi cho xem bài thơ “Phúng Thế” như sau đây:
PHÚNG THẾ
Đường đời chen lấn, chợ đời đông.
Chác lợi mua danh mới phập phồng
Trách kẻ ham giàu bôi sử sách
Phụ người công khó giúp non song
Con buôn gặp mối đeo như đỉa,
Thằng mổng no cơm hót tợ nhồng
Ái quốc ưu dân, là quảng cáo
Ngân-hàng ngoại quốc dẫy đầy công (1)
LONG GIANG (Tháng chạp, 1961)
(1)   Công: Un compte de dépôt, un compte en banque (số tiền gởi ở ngân hàng). [Hàm ý rằng gia đình nhà Ngô mở miệng thì nói thương nước thương dân, nhưng thực ra đó chỉ là miệng lưởi “quảng cáo” vì chính nhà Ngô đã chuyển tiền ra nhiều trương mục của ngân hàng nước ngoài rồi - NK]

● [Trang 131]
Tôi họa lại như thế nầy:
CHUYỆN TRỚ-TRÊU
Trớ-trêu mật ít lại ruồi đông!
Thầm nghĩ cười ai mũi sớm phồng!
Môi mỏng khoe lo dân với nước,
Mặt dày quên thẹn núi cùng song.
Thấy lâu xốn mắt, lòng lang sói
Nghe lắm rườm tai, giọng cưởng nhồng (1)
Tấp tểnh đua đàn tranh “chí sĩ”
Muôn đời để mãi tiếng thằng công (2)
(26-12-1961)
(1)   Trong Nam dùng 2 tiếng: a) nhàm: nghĩa là nghe chán lắm, -  b) nhờm: nghĩa là nghe thấy gớm ghê lắm. - Chử “rườm”, ngoài Bắc, gồm hết hai ý ấy.
(2)   Un con (tiếng thô tục để mắng mấy thằng ngu-ngốc vô liêm sỉ) – Ông bạn giả-ngộ dùng một tiếng Pháp làm vần thơ, nên tôi cũng dùng một tiếng Pháp trùng-âm để làm vần họa lại. [Nhấn mạnh của NK]

[Hết trích]
Hình:  Ba trang trong tác phẩm  Lao Trung Lãnh Vận - Trang 128, bài “Cảm Hoài” của cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác; trang 130, bài “Phúng Thế” của cụ Long Giang Đỗ Phong Thuần; và trang 131, bài họa “Chuyện Trớ Trêu” của cụ Trần Văn Hương, có cước chú số (2) để giải thích hai chữ “Un con (tiếng thô tục để mắng mấy thằng ngu ngốc vô liêm sĩ)”
Vậy thì cụ Nguyễn Sĩ Giác là ai mà đám tàn dư Ngô Đình Diệm phải hèn hạ dùng thủ đoạn mạo nhận, “thấy người sang bắt quàng làm họ” để đánh bóng cho lãnh tụ không thực tài, không thực danh và không thực lực nên phải dựa hơi người khác!!!
Trích đoạn dưới đây của một người học trò của cụ Nguyễn Sĩ Giác cho ta biết vài nét chấm phá về thân thế và sự nghiệp của Cụ. Tư cách và hành hoạt của Cụ Nghè Giác như vậy nên đám tàn dư nhà Ngô gian trá muốn cho lãnh tụ của mình “bắt quàng làm họ” thật phải!:
 
[Bắt đầu trích - nguyên văn, trừ tấm hình ông Diệm được NK thêm vào để minh họa bài viết]
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Giác (1888- 197?) là giáo sư Hán Văn tại trường đại học Văn Khoa và Sư Phạm Sài gòn trong thập niên 60.Tiên sinh cũng như giáo sư Nguyễn Huy Nhu ,Viện Đại Học Huế là những vị tiến sĩ cuối cùng của nhà Nguyễn.
Nguyễn Sĩ Giác tiên sinh sinh năm mậu tí (1888) quán xã Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông , là con trai của cử nhân Nguyễn Duy Nhiếp, cháu nội của tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp, đỗ tiến sĩ khoa canh tuất, niên hiệu Duy Tân thứ tư (1910) vào lúc 23 tuổi, đồng khoa với các phó bảng Hoàng Tăng Bí, Bùi Kỷ , trước Đinh Văn Chấp một khoa (1913), trước Nguyễn Huy Nhu, Nguyễn Can Mộng hai khoa (1916).
Nguyễn Trọng Hợp là cháu bốn đời của Nguyễn Công Thái (1684-1758), đỗ tiến sĩ khoa Ất Vị (1715), làm quan đến chức Tể tướng. Như vậy, tiến sĩ Nguyễn Sĩ Giác cùng thi sĩ Tản Đà chung một tổ tiên.

 [Hết trích]
(Trích từ “Nguyễn Sỹ Giác Thi Văn Tập”, Lời Nói Đầu, của Nguyễn Thiên Thụ
Trái: Tác giả thật của bài thơ “Hoài Cảm”, Cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác
(Hình: sontrung.blogspot.com) – Phải: “Tác giả” dỏm Ngô Đình Diệm
do nhóm tàn dư nhà Ngô gán ghép phịa ra. (Hình: LIFE)

* * *

KẾT LUẬN
Để kết luận, xin chỉ nhấn mạnh một điều: Trong suốt 9 năm chấp chánh của ông Ngô Đình Diệm và gia đình của ông, xã hội miền Nam gồm nhiều thành phần đã lấy những chọn lựa khác nhau trước chế độ mới. Lẽ xuất xữ  thì tùy từng người trước tình thế mới, nhưng đặc biệt có một thành phần trí thức, dù trong hoàn cảnh nào cũng “gìn vàng giữ ngọc” để bảo tồn nguyên khí quốc gia.

Đó là những vị như Tăng Xuân An, Hoàng văn Chí, Nguyễn Xuân Chữ, Vũ Hoàng Chương, Phùng Tất Đắc, Trần Văn Đỗ, Hồ Sỹ Khuê, Tạ Chương Phùng, Phan Huy Quát, Doãn Quốc Sĩ, Phan Khắc Sữu, Nguyễn Tường Tam, Quách Tấn, Đoàn Thêm, Hoàng Trọng Thược, Nguyễn Thế Truyền, Dương Tấn Tươi, Lương Trọng Tường, Trần Văn Văn, Đào Đăng Vỹ, Nguyễn Vỹ, … mà nhân cách và khí tiết của họ thì dân chúng miền Nam lúc bấy giờ, cũng như sau nầy, đều ngưỡng mộ.
Trong số họ, có người an phận trùm chăn nhìn cuộc hí trường lên voi xuống chó, có người khinh bỉ bất hợp tác với gia đình kẻ cầm quyền. Nhưng cũng có người lấy thái độ quyết liệt hơn, thẳng thắn lên án chế độ, thậm chí còn công khai chống lại anh em nhà Ngô bằng võ lực bất chấp tù đày.  Cụ Trần văn Hương là một người trong số thành phần ưu tú nầy.
Nếu một người khí phách và cương trực như Cụ mà, từ năm 1961, đã xem ông Ngô Đình Diệm là một “thằng ngu ngốc vô liêm sĩ” thì còn gì đề nói về ông ta, và về chế độ “nhân vị” của gia đình nhóm chóp bu quyền lực Ngô Đình nữa!!!  

Bữu Châu
Đầu năm 2016