Hiển thị các bài đăng có nhãn trần văn hương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trần văn hương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2016


CỤ TRẦN VĂN HƯƠNG
XEM “CHÍ SĨ” NGÔ ĐÌNH DIỆM
NHƯ MỘT “THẰNG NGU NGỐC VÔ LIÊM SỈ”

Bữu Châu

Sau 1975 và tại hải ngoại, lợi dụng tình trạng khó kiểm chứng độ khả tín của tài liệu và tình hình càng ngày càng vắng dần nhân chứng, đồng thời, nhằm thực hiện lời nguyền đầy hận thù “… tôi chết trả thù cho tôi” của con chiên cuồng tín Ngô Đình Diệm, nhóm tàn dư Cần lao-Công giáo của gia đình nhà Ngô (“the House of Ngo”, như người Mỹ cũng thích dùng từ nầy) đã tung ra trên các diễn đàn Internet và một số báo giấy những tài liệu ngụy tạo trắng trợn,  nhằm hai mục đích đan kết phối hợp với nhau:

HAI MỤC ĐÍCH, MỘT CÔNG MỘT THỦ
● Một mặt, họ xuyên tạc và bôi nhọ tính chính đáng của Phật tử và trí thức Việt Nam trong cuộc vận động đòi bình đẵng tôn giáo dài 6 tháng trong năm 1963, bằng cách chụp mũ cho phong trào Phật giáo là khi thì do CIA Mỹ điều động, khi thì … ngược lại, do Cọng sản Bắc Việt lãnh đạo. Tiêu biểu như bốn bài sau đây:
- Ngụy tạo ra một Đại úy CIA bí mật tên là James Scott như là hung thủ duy nhất, đặt chất nổ trong vụ thảm sát 8 Phật tử tại khuôn viên Đài Phát thanh Huế ngày 8-5-1963 (http://www.talawas.org/?p=5924).
- Vu khống cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức ngày 11-6-1963 tại Sài Gòn là do một “cán bộ Cọng sản nằm vùng” tên Nguyễn Công Hoan lên kế hoạch và đã tự tay tiêm thuốc mê rồi tưới xăng đốt Ngài (http://thuvienhoasen.org/a16529/27-xuyen-tac-ve-cuoc-tu-thieu-cua-ht-thich-quang-duc-phap-lac-va-nguyen-kha).
- Bôi nhọ cuộc “tự hủy mình” của nhà văn Nhất Linh ngày 7-7-1963, cho đó chỉ là hành động quẫn trí vì Nhất Linh vốn bị bệnh tâm thần từ năm 1939, lúc viết truyện Bướm Trắng. (http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/default.aspx?a=143907&z=271).
- Dựng ra một kết luận không hề có cho Bản Phúc trình A/5630 của “Phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc tại Nam Việt Nam” (http://hoangnamgiao.blogspot.com/2013/07/blog-post.html ).

● Mặt khác, họ tìm cách “đánh bóng” cho hai lãnh tụ Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu một lớp sơn để che dấu những sai lầm và tội ác mà hai ông nầy đã gây hại cho đồng bào miền Nam.
Vì đồng bào xứ Huế (nơi biết rõ gốc gác và tư cách của dòng họ Ngô Đình nhất) đã từng lên án rằng: Họ Ngô có bốn gian hùng / Diệm ngu, Nhu ác, Cẩn khùng, Thục điên (trích từ đồng dao xứ Huế trong những năm đầu thập niên 1960’) nên bây giờ, nhóm tàn dư của nhà Ngô phải gian trá gán bừa cho lãnh tụ của mình những giải thưởng có kích thước quốc tế, những tác phẩm nghiên cứu lý luận có giá trị cao … hầu “dựng tượng” văn hóa cho lãnh tụ!!! Tiêu biểu như hai bài sau đây:
- Phong bừa cho ông Diệm làm khôi nguyên giải thưởng “Leadership Magsaysay Award” mà họ bịa ra là vào năm 1962 (hay 1959?) với trị giá 10,000 (hay 15,000?) đô la Mỹ để ông Diệm mau mắn tặng số tiền nầy cho vị lãnh tụ Phật giáo thế giới là ngài Đạt Lai Lạt Ma. (http://giaodiemonline.com/2013/03/suthat.htm).
- Bịa đặt ra những tình tiết không có thật để mạo nhận ông Nhu trở thành tác giả của cuốn khảo luận chính trị “Chính đề Việt Nam” hầu chứng tỏ rằng lý thuyết gia “uyên bác” của chế độ cũng có tác phẩm lập thuyết như ai! Tuy nhiên, công trình nghiên cứu giá trị nầy thật ra là của ông Tùng Phong Lê Văn Đồng, một người từ Pháp về, từng tham gia chính quyền ông Diệm (Bộ Canh Nông) nhưng đã bỏ đi không hợp tác nữa vì bất đồng quan điểm. (http://hoangnamgiao.blogspot.com/2013/02/chinh-e-viet-nam-c-ua-ngo-inh-nhu-ong.html)

Tại sao những xuyên tạc, gian trá và ngụy tạo nầy không được phổ biến rộng rãi khi hai ông Diệm Nhu còn nắm quyền sanh sát trong tay với bộ máy mật vụ ác ôn và hệ thống tuyên truyền muốn nói gì thì nói? Thậm chí trong những năm đầu thập niên 1970’, khi nhóm Cần lao-Công giáo trở lại khống chế chính trường miền Nam với sự thỏa hiệp của con chiên Nguyễn Văn Thiệu để thiết lập một chế độ “Diệm không Diệm” (nhóm từ của Robert Shaplen trong The Cult of Diem), những vu khống, bôi nhọ, mạo nhận hoặc “bốc thơm” như thế nầy hầu như không xuất hiện mà đến nay, ra hải ngoại và sau 1975, mới được ngụy tạo hoặc kích hoạt lại để tung ra một cách quy mô có hệ thống như thế? Câu trả lời gồm 3 vế.

* * *

CÂU TRẢ LỜI BA VẾ
(i) Vế thứ nhất là sau biến cố long trời lỡ đất vào mùa Xuân năm 1975, về phương diện lịch sử và trong lãnh vực tài liệu, khi đề cập đến Miền Nam, hầu như cà hai “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc” đều muốn viết gì thì viết tùy ý đồ chính trị, chẳng còn tiêu chuẫn chuyên môn nào hay tư cách đạo đức gì được tôn trọng hay làm chuẩn mực nữa. Hiện tượng nầy lan tràn một phần vì trong cơn vật đỗi sao dời đó, luôn luôn có một đám đông bị hội-chứng-bầy-đàn, có đầu mà không có óc, sẳn sàng đưa “sọ” cho những phù thủy “nhồi” gì cũng tin.
Một ví dụ nhồi sọ điển hình là trường hợp nữ sinh viên Nguyễn  Phương Uyên. Em sinh năm 1992 trong một gia đình theo đạo gia tiên thờ ông bà, vì chống chế độ nên bị tòa kết án tù treo 3 năm. Phương Uyên ra khỏi tòa sau phiên xữ đó vào tháng 8/2013. Nhưng dù chỉ mới hơn hai tháng sau, và dù không đủ điều kiện để tiếp cận thông tin đa chiều, do đó không biết gì (và biết đúng) về chế độ Ngô Đình Diệm 50 năm trước đây, thế mà vẫn được mấy “cha” Dòng Chúa Cứu Thế trao bằng khen gì đó, rồi “nhồi sọ” đưa lên mộ ông Diệm khóc thương vào dịp mồng 1 tháng 11 cùng năm 2013 để mấy “cha” chụp hình phát tán khoe trên Internet.
Hiện tượng nhồi sọ nầy không những thành công dể dàng với một em nữ sinh viên trẻ tuổi, mà còn “lừa” được một đám trí thức Hà Nội nông nỗi và vọng động, vì quá bất mản với đảng Cọng sản nên tung hô bất kỳ cái gì họ “vớ” được (và xem đó như mẫu mực của “dân chủ tự do”), kể cả hai nền Cọng hòa cũ ở miền Nam mà họ hầu như không có những kiến thức đầy đủ và sâu sắc về quá trình hình thành và bản chất thực sự của hai nền Cọng hòa nầy!  
 
Sinh viên Phương Uyên cầu kinh cùng các cha dòng Chuá Cứu Thế và chụp hình cạnh ngôi mộ của ông “Huynh” (Ngô Đình Diệm) trong ngày 1-11-2013
(Hình: Dân Chúa Đồng Hành – dcdh.bplaced.net) 
(ii) Vế thứ nhì là kỷ năng lan tỏa thông tin tức thời và khắp nơi của Internet. Mạng lưới Internet được khai sinh (packet networking) từ thập niên 1950’, triển khai trong thập niên 1960’ (ARPANET), rồi đi vào ứng dụng phổ quát và khai dụng đại trà trong những năm cuối thập niên 1980’ (ISPs). Internet với những ứng dụng trong lãnh vực  truyền thông xã hội (social media), một phần, đã trở thành công cụ tuyên truyền hữu hiệu cho  những kẻ giấu mặt bất lương hay minh danh nhưng không biết ngượng. Cứ nói láo mãi và nói láo nhiều, thế nào cũng có ngưới tin. Không tin bây giờ thì để lại tài liệu cho thế hệ sau … “tham chiếu”! (Kỹ thuật nhồi sọ nầy đã được bộ máy tuyên truyền của Đức Quốc xã và Đệ Tam Quốc tế học thuộc từ một bậc thầy sành sõi là Giáo hội Công giáo, vốn đã xử dụng để truyền đạo kinh qua cả nghìn năm trước).
Một ví dụ điển hình của hiện tượng lan tỏa rộng rãi lời nói láo trong cyberspace là sự kiện một cựu quan chức cao cấp của Việt Nam Cọng Hòa đã dùng Internet để liên tục gian trá khẳng định rằng lãnh tụ của mình là tác giả của một cuốn sách chính luận có giá trị trí thức cao. Thật vậy, nguyên tác phẩm “Chính Đề Việt Nam” đã được ông Tùng Phong Lê Văn Đồng chấp bút và xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1965. Thế mà ông Tôn Thất Thiện, một “nhà nghiên cứu” hoài-Ngô (đã từng làm Giám đốc Báo chí kiêm Thông dịch viên riêng của ông Diệm, và sau 1963, làm đến Bộ trưởng Bộ Thông Tin của Đệ Nhị Cọng Hòa), mãi đến năm 2009 vẫn cứ tiếp tục khẳng định một cách bất lương và không biết ngượng trong một bài viết được phát tán rộng rãi trên Internet, rằng tác phẩm nầy là “viên ngọc quý trong kho tàng tư tưởng của nhân loại” vốn “kết tụ những nghiên cứu và phân tích dựa trên kinh nghiệm lịch sử của cố vấn Ngô Đình Nhu cùng một số phụ tá thân cận”. Ông Thiện nầy, có bằng tiến sĩ ở Anh, vừa làm báo chí vừa làm thông tin trong cả hai nền Cọng hòa, người tự nhận là “tôi đã được học hỏi ở những Đại học có tiếng là đứng hàng đầu thế giới về các môn Chính trị, Kinh tế, Xã hội học, tôi đã đọc rất nhiều sách, báo, về vấn đề phát triển”, thế mà trong 44 năm (1965-2009) lại không biết đến (?) nên không nhắc đến tác giả thật, và duy nhất, là ông Tùng Phong Lê Văn Đồng, nguyên Đổng lý Văn phòng Bộ Canh Nông thời ông Diệm, ở ngay tại Sài Gòn. Ông tưởng sau 1975 ra đến hải ngoại rồi muốn nói gì thì nói sao? Thật là bất lương hết thuốc chữa!

●Bìa “Chính Đề Việt Nam” của Tùng Phong, Nxb Đồng Nai, Sài Gòn 1965.
●Ông Tiến sĩ Bộ trưởng Tôn Thất Thiện, người đánh tráo tác giả để đề cao lãnh tụ Ngô Đình Nhu.
●Google ngày 14-1-2016 với keyword là tựa đề bài viết của ông Thiện (“CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM MỘT VIÊN NGỌC QUÝ TRONG KHO TÀNG TƯ TƯỞNG NHÂN LOẠI”), Internet cho 199,000 kết quả (đường link URL) dẫn về những trang web/blog hoài-Ngô như “Hồn Việt”, “Chúa Cứu Thế”, “Bảo Cệ Cờ Vàng 2012” … Và sự dối trá nầy sẽ cứ, theo thời gian, tiếp tục lan tràn trong không gian Internet như ý đồ bất lương của đám hoài-Ngô.      
(iii) Nhưng “hội-chứng-bầy-đàn” và mạng lưới Internet mà thôi cũng chỉ mới là những điều kiện “đủ”, nên vẫn chưa kết hợp được để có cả một chiến dịch rộng lớn, phối hợp nhịp nhàng trong và ngoài nước, nhằm xuyên tạc lịch sử và bôi nhọ các tôn giáo khác với một ý đồ chính trị rất rõ ràng. Chiến dịch nầy, để thực hiện nó ở tầm cao của chiến tranh tuyên truyền trong thời hiện đại, phải được một thế lực cực mạnh lãnh đạo và cung cấp phương tiện mới làm được. Thế lực đó, như lịch sử đã chứng nghiệm (từ thời cố đạo Alexandre de Rhodes “gọi Thích Ca bằng thằng”) và thực tế đang chứng minh (như Giáo hoàng Benedict 16 gọi Phật giáo là một loại tâm linh tự dâm – “autoerotic spirituality”) chỉ có thể là Vatican. Và Vatican chính là vế thứ ba trong chiến dịch tuyên truyền xám đó!
Thật vậy, trong “mùa gặt lớn” mà Vatican gọi là “chương trình cứu độ của Giêsu” tại lục địa Á châu, theo đúng chiến lược xâm lăng văn hóa để “cải đạo, cướp linh hồn” được Giáo hoàng Gioan Phaolồ 2 đề xuất trong “Tông huấn Giáo hội tại châu Á” (Ecclesia In Asia) vào năm 1999 tại Ấn Độ (http://giaodiemonline.com/2009/07/tonghuan.htm), Vatican đã cởi lên để khuynh loát làn sóng bất mãn với chính quyền Việt Nam bằng một chiến dịch “thánh hóa” trường hợp Ngô Đình Diệm như một viên đá nhắm hai con chim:
Vừa bóp méo quá  khứ để vinh danh dòng họ con chiên Ngô Đình và Đệ Nhất Cọng hòa hầu mong “giải tội” cho Giáo hội Công giáo Việt Nam về quá trình 100 năm (1858-1954) làm tay sai đắc lực cho thực dân Pháp xâm lăng và đô hộ Việt Nam; lại vừa hướng về tương lai, dùng Giáo hội Công giáo để tiêu diệt chế độ Xã hội Chủ nghĩa tại Việt Nam hầu thành lập một “Philippines toàn tòng thứ nhì”, gợi hứng từ chế độ giáo trị Đệ nhất Cọng hòa của Ngô Đình Diệm, trên bán đảo Hoa-Ấn. Ý đồ chiến lược nầy của Vatican, từ góc độ chính trị, là lập lại trường hợp Ba Lan vào mùa Hè năm 1989, chỉ khác là lần nầy “giòng nước lũ” chỉ đại diện không đến 10% dân số Việt Nam nhưng được Internet và hội-chứng-bầy-đàn khuyếch đại lên nhiều hơn …

Từ đó, ta không lấy làm lạ khi thấy những động thái tưởng là rời rạc nhưng thật ra kết hợp nhất quán và đều khắp để phục vụ cho những mục tiêu chiến lược đó của Vatican:
Từ Giáo hoàng Gioan Phaolồ II viết “Crossing the Threshold of Hope” (Bước qua Ngưỡng cửa Hy vọng) để phỉ báng Phật giáo, đến rửa tội cho nhà thơ Nguyễn Chí Thiện ngay trước giờ lâm chung để tạo uy tín truyền đạo dù ông nầy trước đó chỉ muốn quy y Tam bảo – Từ ồ ạt và gấp rút phong một con số kỷ lục 117 người cả Tây lẫn Ta làm “thánh tử đạo” tại Việt Nam chỉ trong vòng một năm (1988), đến một tên nhà văn Công giáo là Chu Tất Tiến ở tại Little Saigon (Mỹ) to mồm vu khống rằng “Phật giáo Việt Nam giết hại hơn 100 nghìn người cùng máu đỏ da vàng chỉ vì họ theo đạo Ca Tô”. – Từ vận động nhà nước Việt Nam đặt lại tên đường tên trường cho những thành phần Công giáo hợp tác với chính quyền thuộc địa Pháp như Nguyễn Trường Tộ, Petrus Ký, Nguyễn Bá Tòng, cho đến ra sách vinh danh ông Linh mục Trần Lục, người đã từng mộ quân và dẫn đường cho quân Pháp đánh chiếm chiến lũy Ba Đình của anh hùng Đinh Công Tráng. –  Từ Giám mục Ngô Quang Kiệt xách động giáo dân xuống đường bạo động đòi lại một mãnh đất vốn của chùa Báo Thiên, đến vận động nhà nước cho xuất bản sách (Việt dịch) của một nữ tác giả Mỹ viết về bà Nhu. Đó là chưa kể hàng trăm video được phát tán trên YouTube để đề cao Ngô Đình Diệm và phỉ báng Phật giáo và Tướng Dương Văn Minh …

* * *

CỤ TRẦN VĂN HƯƠNG VÀ BÀI THƠ “CẢM HOÀI”
Trong chiến dịch thiên la địa võng, huy động sức mạnh tổng hợp vừa thần quyền vừa thế quyền đó của Vatican, sự kiện cụ Trần Văn Hương làm thơ “mắng” ông Ngô Đình Diệm là “thằng ngu ngốc vô liêm sĩ” (vì bài thơ Cảm Hoài) là một trường hợp tuyên truyền xám điển hình khác về thủ đoạn “thấy sang bắt quàng làm họ” để tô son trét phấn cho lãnh tụ, do “bầy tôi” của ông Diệm thực hiện.  Bài thơ Cảm Hoài nầy, một dạo, đã được tàn dư của ông Diệm phổ biến giới hạn trong nước mà họ chú thích rằng tác giả là ông Diệm. Bài thơ được tán dương là một tuyệt tác với “khẩu khí của nhà ái quốc” đang trong thời kỳ làm ẫn sĩ phải “bao năm lê gót nơi quê người” Mỹ. Đến lúc ra đến hải ngoại sau 1975, bài thơ lại được phổ biến rộng rãi trên các diễn đàn và bổng trở thành “viên ngọc quý của thi ca Việt Nam” mà chỉ có người có tấm lòng yêu nước thương nòi như “chí sĩ” Ngô Đình Diệm mới sáng tác nỗi.
Ai cũng bị “đầu độc” tin như thế cho đến khoảng năm 1995, sau khi Mỹ-Việt bang giao, chuyện về Việt Nam để tìm mua sách cũ hoặc gặp lại bạn bè đồng nghiệp xưa trở nên dễ dàng hơn, nhiều người mới phát giác ra rằng tác giả bài thơ Cảm Hoài là một vị khác. Và chuyện gán cho ông Diệm là tác giả bài thơ nầy chỉ là trò gian trá, mạo nhận của nhóm Cần lao-Công giáo để bốc thơm ông Diệm mà thôi!         
Ngoài ra, cũng nhờ vậy mà thế hệ sau mới biết được rằng trể nhất là từ năm 1974, một số ít người sinh hoạt thi ca trong nước đã biết vụ lừa dối nầy rồi.  Đặc biệt, một trong những người đó là cụ Trần Văn Hương, đã biết từ năm … 1961!
  
Cụ Trần Văn Hương là một nhà giáo, một nhân sĩ nỗi tiếng tại miền Nam. Cụ từng tham gia chính quyền Việt Minh, nhưng rồi vì bị quy chụp là Việt gian nên cụ bỏ kháng chiến về quê Vĩnh Long sống ẫn dật. Sau khi đất nước qua phân, cụ hoạt động trở lại và đã từng là Đô trưởng Thành phố Sài Gòn dưới thời ông Diệm. Nhưng chỉ được vài năm rồi cũng bất mãn vì bản chất độc tài của chế độ nầy nên cụ và một số đồng chí thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, ra Tuyên Ngôn (năm 1960 tại khách sạn Caravelle) để lên án chế độ Diệm. Cũng trong năm 1960 đó, cụ ủng hộ cuộc binh biến của binh chũng Nhãy Dù để lật đổ ông Diệm nên bị Nha Tổng Giám đốc Cảnh Sát và Công An Quốc Gia bắt cầm tù vào ngày 12-11-1960. Cụ được phóng thích khoảng 5 tháng sau đó (7-4-1961).
Năm 1964, cụ trở lại tham chính và đã từng giữ những chức vụ Thủ Tướng, Phó Tổng thống và Tổng thống Việt Nam Cọng Hòa. Sau 1975, cụ chọn ở lại quê hương, tiếp tục sống ở căn nhà cũ ở Sài Gòn. Cụ mất năm 1982. Ngày nay, nhắc đến cụ, người ta vẫn gọi cụ là một mẫu mực tiêu biểu và đúng đắn  của một “Sĩ  phu Nam kỳ”. (Xem toàn bộ tiểu sử và hoạt động của cụ tại  https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_H%C6%B0%C6%A1ng )

Trong thời gian bị tù dưới chế độ Diệm, cụ và một số bạn tù chính trị khác (như các vị Tạ Chương Phùng, Phan Bá Cầm, Trần Văn Tuyên, Phan Khắc Sữu, Nguyễn Trung Hậu, Phan Quang Đán, Phan Huy Quát, …) thỉnh thoảng có làm thơ để ký thác tâm sự. Sau nầy, cụ tập trung một số thơ của mình và của các bạn đồng chí cùng cảnh ngộ in thành một tuyển tập lấy tên là “Lao Trung Lãnh vận” (Những vần thơ lạnh trong tù).
Cụ Trần Văn Hương (1902-1982) và Hình bìa trước của tập thơ Lao Trung Lãnh Vận, Sài Gòn, in lần thứ ba, 1974.  
Trong tuyển tập thơ nầy, cụ có cho đăng bài thơ Cảm Hoài vốn thực sự của cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác mà một người bạn thơ từng bị “tuyên truyền”, nói là của “chí sĩ Ng. Đ.D.”. Sự thực là trong giai đoạn đó, vì bộ máy tuyên truyền của chế độ ông Diệm đã đánh tráo tác giả nên có rất nhiều người bị lầm, tưởng đó là thơ của ông Diệm thật. Cụ Trần Văn Hương và một số bạn thơ cũng đã bị lừa như thế nên sau nầy, khi phát hiện ra bị lừa, đã làm thơ “đã kích ông ta” (ông Diệm). Vì vậy mà  trong bài thơ “Chuyện Trớ Trêu” làm cuối năm 1961 để hoạ lại bài thơ “Phúng Thế” của người bạn “đả kích” ông Diệm từ năm trước, cụ Trần Văn Hương đã kết bài bằng hai chữ mà “muôn đời” sau sẽ dành cho nhà “chí sĩ” Ngô Đình Diệm:
 Tấp tểnh đua đàn tranh “chí sĩ”
             Muôn đời để mãi tiếng thằng công
“Thằng công” là thằng gì? Cuối bài thơ, cụ Trần Văn Hương đã giải thích rằng chữ “thằng công” vốn là diễn âm tiếng Việt của một chữ Pháp là “Un con (tiếng thô tục để mắng mấy thằng ngu-ngốc vô liêm sỉ)”

Dưới đây là phần trích dẫn và phóng ảnh ba bài thơ “Cảm Hoài”, “Phúng Thế” và “Chuyện Trớ Trêu” trong tác phẩm Lao Trung Lãnh Vận của cụ Trần Văn Hương:

Bắt đầu trích, với 3 chú thích của NK trong [ ]  
● [Trang 128] 
“Một bữa kia, ông bạn Long Giang ĐỖ PHONG THUẦN có đưa cho xem một bài thơ “Cảm Hoài”, nói là của “chí sĩ NG. Đ.D.”. Sau mới biết đó là bài thơ của ông NGUYỄN SĨ GIÁC cũng gọi là NGUYỄN SĨ XÁC, hiện còn mạnh giỏi. Hình như ông cũng đã chịu nhiều gian khổ vì chuyện nước nhà, nhơn lúc buồn sanh cảm làm ra bài nầy:
CẢM HOÀI
Gươm đàn nửa gánh muốn sang sông
Hỏi bán: Thuyền không lái cũng không!
Xe muối nặng-nề thương vó ký,
Đường mây rộng-rãi tiếc chim hồng.
Vá trời lấp bể, người đâu vắng?
Bán lợi mua danh chợ vẫn đồng!
Lần-lữa nắng mưa trong cuộc thế,
Cắm sào đợi nước thưở nào trong!
(Theo trong quyển “Chơi Chữ” của LÃNG NHÂN)

● [Trang 130]
Một số thi-hữu tưởng bài thơ nầy thật của “chí sĩ” nọ, nên họa vận đả kích ông ta [ông Diệm]; tôi cũng thế…
Cũng nhơn bài thơ trên, ông bạn LONG GIANG có gởi cho xem bài thơ “Phúng Thế” như sau đây:
PHÚNG THẾ
Đường đời chen lấn, chợ đời đông.
Chác lợi mua danh mới phập phồng
Trách kẻ ham giàu bôi sử sách
Phụ người công khó giúp non song
Con buôn gặp mối đeo như đỉa,
Thằng mổng no cơm hót tợ nhồng
Ái quốc ưu dân, là quảng cáo
Ngân-hàng ngoại quốc dẫy đầy công (1)
LONG GIANG (Tháng chạp, 1961)
(1)   Công: Un compte de dépôt, un compte en banque (số tiền gởi ở ngân hàng). [Hàm ý rằng gia đình nhà Ngô mở miệng thì nói thương nước thương dân, nhưng thực ra đó chỉ là miệng lưởi “quảng cáo” vì chính nhà Ngô đã chuyển tiền ra nhiều trương mục của ngân hàng nước ngoài rồi - NK]

● [Trang 131]
Tôi họa lại như thế nầy:
CHUYỆN TRỚ-TRÊU
Trớ-trêu mật ít lại ruồi đông!
Thầm nghĩ cười ai mũi sớm phồng!
Môi mỏng khoe lo dân với nước,
Mặt dày quên thẹn núi cùng song.
Thấy lâu xốn mắt, lòng lang sói
Nghe lắm rườm tai, giọng cưởng nhồng (1)
Tấp tểnh đua đàn tranh “chí sĩ”
Muôn đời để mãi tiếng thằng công (2)
(26-12-1961)
(1)   Trong Nam dùng 2 tiếng: a) nhàm: nghĩa là nghe chán lắm, -  b) nhờm: nghĩa là nghe thấy gớm ghê lắm. - Chử “rườm”, ngoài Bắc, gồm hết hai ý ấy.
(2)   Un con (tiếng thô tục để mắng mấy thằng ngu-ngốc vô liêm sỉ) – Ông bạn giả-ngộ dùng một tiếng Pháp làm vần thơ, nên tôi cũng dùng một tiếng Pháp trùng-âm để làm vần họa lại. [Nhấn mạnh của NK]

[Hết trích]
Hình:  Ba trang trong tác phẩm  Lao Trung Lãnh Vận - Trang 128, bài “Cảm Hoài” của cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác; trang 130, bài “Phúng Thế” của cụ Long Giang Đỗ Phong Thuần; và trang 131, bài họa “Chuyện Trớ Trêu” của cụ Trần Văn Hương, có cước chú số (2) để giải thích hai chữ “Un con (tiếng thô tục để mắng mấy thằng ngu ngốc vô liêm sĩ)”
Vậy thì cụ Nguyễn Sĩ Giác là ai mà đám tàn dư Ngô Đình Diệm phải hèn hạ dùng thủ đoạn mạo nhận, “thấy người sang bắt quàng làm họ” để đánh bóng cho lãnh tụ không thực tài, không thực danh và không thực lực nên phải dựa hơi người khác!!!
Trích đoạn dưới đây của một người học trò của cụ Nguyễn Sĩ Giác cho ta biết vài nét chấm phá về thân thế và sự nghiệp của Cụ. Tư cách và hành hoạt của Cụ Nghè Giác như vậy nên đám tàn dư nhà Ngô gian trá muốn cho lãnh tụ của mình “bắt quàng làm họ” thật phải!:
 
[Bắt đầu trích - nguyên văn, trừ tấm hình ông Diệm được NK thêm vào để minh họa bài viết]
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Giác (1888- 197?) là giáo sư Hán Văn tại trường đại học Văn Khoa và Sư Phạm Sài gòn trong thập niên 60.Tiên sinh cũng như giáo sư Nguyễn Huy Nhu ,Viện Đại Học Huế là những vị tiến sĩ cuối cùng của nhà Nguyễn.
Nguyễn Sĩ Giác tiên sinh sinh năm mậu tí (1888) quán xã Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông , là con trai của cử nhân Nguyễn Duy Nhiếp, cháu nội của tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp, đỗ tiến sĩ khoa canh tuất, niên hiệu Duy Tân thứ tư (1910) vào lúc 23 tuổi, đồng khoa với các phó bảng Hoàng Tăng Bí, Bùi Kỷ , trước Đinh Văn Chấp một khoa (1913), trước Nguyễn Huy Nhu, Nguyễn Can Mộng hai khoa (1916).
Nguyễn Trọng Hợp là cháu bốn đời của Nguyễn Công Thái (1684-1758), đỗ tiến sĩ khoa Ất Vị (1715), làm quan đến chức Tể tướng. Như vậy, tiến sĩ Nguyễn Sĩ Giác cùng thi sĩ Tản Đà chung một tổ tiên.

 [Hết trích]
(Trích từ “Nguyễn Sỹ Giác Thi Văn Tập”, Lời Nói Đầu, của Nguyễn Thiên Thụ
Trái: Tác giả thật của bài thơ “Hoài Cảm”, Cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác
(Hình: sontrung.blogspot.com) – Phải: “Tác giả” dỏm Ngô Đình Diệm
do nhóm tàn dư nhà Ngô gán ghép phịa ra. (Hình: LIFE)

* * *

KẾT LUẬN
Để kết luận, xin chỉ nhấn mạnh một điều: Trong suốt 9 năm chấp chánh của ông Ngô Đình Diệm và gia đình của ông, xã hội miền Nam gồm nhiều thành phần đã lấy những chọn lựa khác nhau trước chế độ mới. Lẽ xuất xữ  thì tùy từng người trước tình thế mới, nhưng đặc biệt có một thành phần trí thức, dù trong hoàn cảnh nào cũng “gìn vàng giữ ngọc” để bảo tồn nguyên khí quốc gia.

Đó là những vị như Tăng Xuân An, Hoàng văn Chí, Nguyễn Xuân Chữ, Vũ Hoàng Chương, Phùng Tất Đắc, Trần Văn Đỗ, Hồ Sỹ Khuê, Tạ Chương Phùng, Phan Huy Quát, Doãn Quốc Sĩ, Phan Khắc Sữu, Nguyễn Tường Tam, Quách Tấn, Đoàn Thêm, Hoàng Trọng Thược, Nguyễn Thế Truyền, Dương Tấn Tươi, Lương Trọng Tường, Trần Văn Văn, Đào Đăng Vỹ, Nguyễn Vỹ, … mà nhân cách và khí tiết của họ thì dân chúng miền Nam lúc bấy giờ, cũng như sau nầy, đều ngưỡng mộ.
Trong số họ, có người an phận trùm chăn nhìn cuộc hí trường lên voi xuống chó, có người khinh bỉ bất hợp tác với gia đình kẻ cầm quyền. Nhưng cũng có người lấy thái độ quyết liệt hơn, thẳng thắn lên án chế độ, thậm chí còn công khai chống lại anh em nhà Ngô bằng võ lực bất chấp tù đày.  Cụ Trần văn Hương là một người trong số thành phần ưu tú nầy.
Nếu một người khí phách và cương trực như Cụ mà, từ năm 1961, đã xem ông Ngô Đình Diệm là một “thằng ngu ngốc vô liêm sĩ” thì còn gì đề nói về ông ta, và về chế độ “nhân vị” của gia đình nhóm chóp bu quyền lực Ngô Đình nữa!!!  

Bữu Châu
Đầu năm 2016


Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013


TUYÊN NGÔN CỦA 18 NHÂN VẬT
THUỘC NHÓM "TỰ DO TIẾN BỘ"

GỞI TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA, SÀI GÒN



Thưa Tổng thống,
Chúng tôi ký tên dưới đây, đại diện cho một nhóm đồng bào, nhân vật và trí thức tên tuổi thuộc mọi xu hướng, nhóm những người thiện chí nhận thấy rằng đối diện với sự trầm trọng của tình hình chính trị hiện nay, chúng tôi không thể cứ bàng quan với những thực tế của nước ta.
Vì vậy, chúng tôi chính thức gửi đến Tổng thống hôm nay lời kêu gọi, với mục đích phơi bày với Tổng thống tất cả sự thật trong niềm hy vọng là chính quyền sẽ lưu tâm để gấp rút thay đổi chính sách, hầu cứu vãn tình hình hiện nay để đưa quốc dân ra khỏi cơn nguy biến.
Chúng ta hãy nhìn lại dĩ vãng thời Tổng thống còn ở nước ngoài. Đã 8, 9 năm qua, dân tộc Việt Nam trải qua nhiều thử thách do chiến tranh mang lại; từ sự độ hộ của Pháp đến việc chiếm đóng của Nhật, từ cách mạng cho đến kháng chiến, từ việc Cộng Sản núp sau chiêu bài quốc gia để gạt gẫm cho đến nền độc lập giả tạo che dấu nền thực dân, từ kinh hoàng này đến kinh hoàng khác, hy sinh liên tục - nói tóm lại từ hứa hẹn này đến hứa hẹn khác, cuối cùng cho đến khi niềm hy vọng kết thúc bằng một sự thất vọng chua cay.
Vì vậy, khi Tổng thống sắp sửa hồi hương, toàn dân đã nuôi mối hy vọng là dưới sự lãnh đạo của Tổng thống, toàn dân sẽ lại tìm thấy được nền Hòa bình cần thiết để đem lại ý nghĩa cho cuộc sống, để dựng lại ngôi nhà đã bị phá hủy, để đặt lại được cái cày trên những mảnh đất từng bị bỏ hoang. Nhân dân hy vọng rằng không còn bị bắt buộc buổi sáng hoan hô một chế độ, buổi chiều hoan hô một chế độ khác, không còn là con mồi cho sự tàn bạo và áp lực của một phe phái nào, không còn bị đối xử như cu-li, không còn một nền độc quyền nào thao túng, không còn bị sự cướp bóc của công chức tham nhũng và độc đoán. Nói tóm lại, nhân dân ước mong được sinh sống trong sự an ninh, dưới một thể chế sẽ đem lại cho họ một chút công lý và tự do. Toàn dân nghĩ rằng Tổng thống sẽ là con người của thời thế và sẽ đáp ứng được nguyện vọng của họ.

Lúc Tổng thống mới về nước thì tình trạng quốc gia như thế đó. Hiệp ước Genève năm 1954 chấm dứt cuộc chiến và sự tàn phá của chiến tranh. Quân đội viễn chinh Pháp tuần tự rút đi và nền độc lập cho miền Nam Việt Nam trở thành một sự thật. Ngoài ra, nước nhà còn được sự khích lệ tinh thần và được hưởng sự viện trợ đáng kể của thế giới tự do. Với nhiều yếu tố chính trị thuận lợi như thế thêm vào những điều kiện địa dư may mắn có được đất đai màu mỡ về nông lâm sản và thặng dư về hải sản, đáng lẽ miền Nam Việt Nam đã phải đủ sức để bắt đầu đi đến thắng lợi cuối cùng trong cuộc chiến đấu với miền Bắc, để có thể thỏa mãn được ý dân và đưa đất nước đến hy vọng, tự do và hạnh phúc. Ngày này, sáu năm sau, sau khi hưởng được nhiều lợi điểm không thể chối cãi đến như thế, Chính phủ đã làm được những gì? Chính phủ đã đưa miền Nam đi về đâu? Những ước vọng tha thiết nào của nhân dân đã được thành tựu?
Chúng ta thử tổng kết tình hình một cách khách quan, không xu nịnh mà cũng không buộc tội sai lầm, theo đúng đường hướng xây dựng mà chính Tổng thống vẫn hay nói đến với ước vọng là Chính phủ sẽ thay đổi chính sách để tự đưa mình ra khỏi một tình trạng hết sức hiểm nghèo cho sự sinh tồn của quốc gia.


 VỀ CHÍNH TRỊ
Mặc dù chế độ ngoại lai do thực dân tạo ra và che chở đã bị lật đổ và nhiều phe nhóm từng đàn áp nhân dân đã bị triệt hạ, dân chúng vẫn chưa tìm thấy được một cuộc sống khá hơn hay có nhiều tự do hơn dưới chế độ Cộng Hòa do Tổng thống thành lập. Một hiến pháp đã được lập ra nhưng chỉ có hình thức. Và Quốc hội tuy có đấy nhưng những cuộc thảo luận luôn luôn được diễn ra chỉ theo đường hướng của chính quyền. Và những cuộc bầu cử phản dân chủ. Toàn là những phương pháp và “trò hề” bắt chước các chế độ Cộng Sản độc tài và lẽ tất nhiên là không thể đem ra để so sánh với miền Bắc được.
Những vụ bắt bớ liên tục tiếp diễn làm cho nhà giam và khám đường đầy đến tận nóc như hiện nay đang xảy ra; dư luận quần chúng và báo chí phải câm lặng. Cũng thế, ý dân bị khinh nhục và chà đạp trong những cuộc đầu phiếu (ví dụ trường hợp xảy ra trong cuộc bầu cử nhiệm kỳ 2 mới đây). Tất cả những điều này đã gây ra sự nản chí và bất mãn của dân chúng.
Các chính đảng và giáo phái đã bị loại bỏ. Thay vào đấy là các “Nhóm” và “Phong trào”. Nhưng sự thay thế này chỉ đem đến những điều áp bức mới cho dân chúng mà không che chở được cho dân chúng của các giáo phái từ trước vẫn là những vùng tử địa của Cộng Sản thì nay không những đã mất hết an ninh (cho người Quốc gia) mà còn trở thành những đại lộ cho du kích Việt Cộng mà tình trạng chung như thế xảy ra khắp nơi.
Đây là chứng cớ cho thấy rằng các giáo phái tuy nhỏ nhoi không đáng kể đã là những thành phần chống Cộng hữu hiệu. Việc triệt hạ các giáo phái đã mở lối cho Việt Cộng và vô tình dọn đường cho kẻ thù, trong khi một chính sách thực tế và uyển chuyển hơn đã có thể liên kết họ về chung thành một khối để tiếp sức cho trận tuyến chống Cộng.
Ngày nay, nhân dân muốn được tự do. Đáng lẽ Tổng thống nên mở rộng chế độ, khuyến khích nền dân chủ, bảo đảm các quyền công dân tối thiểu và công nhận đối lập hầu dân chúng được nói lên tiếng nói của mình mà không sợ hãi để dẹp được sự bất mãn và căm thù, vì đối với dân chúng, thế đối lập là lý do độc nhất cho họ tồn tại. Khi Tổng thống thực hiện xong được những điều này thì nhân dân miền Nam Việt Nam có thế đứng của mình đối với miền Bắc mà nhận ra được giá trị của một nền tự do thật sự và một nền dân chủ chân chính. Chỉ đến lúc đó dân chúng mới sẽ nỗ lực và hy sinh tối đa để bảo vệ sự tự do và nền dân chủ ấy.


 VỀ CHÍNH QUYỀN
Lãnh thổ thu hẹp lại, số công chức lại tăng lên mà việc quản trị lại không chạy. Ấy là vì chính quyền giống như Cộng Sản, đã để cho các đoàn thể chính trị (của chính quyền) kiểm soát người dân, tách rời nhóm ưu tư ra khỏi hạ tầng và gieo rắc sự nghi ngờ giữa những kẻ liên hệ với “đoàn thể” và những người “ngoài đoàn thể”. Thực quyền không còn ở trong tay của những người đáng lý có trách nhiệm của “gia đình”, nơi từ đó các mệnh lệnh được truyền ra. Điều này làm cho guồng máy hành chánh bị chậm lại, làm tê liệt mọi sáng kiến và làm nản lòng mọi người có thiện chí. Đồng thời, không một tháng nào trôi qua mà báo chí không đăng đầy những chuyện hối lộ không thể che dấu được, những chuyện này trở thành một chuỗi dài những giao dịch phi pháp hằng triệu bạc.
Guồng máy hành chánh, vốn đã bị đình trệ bây giờ hầu như hoàn toàn trở nên tê liệt. Nền hành chánh cần được cải tổ gấp rút. Những người có khả năng phải được đặt đúng vào những chức vụ từ trên xuống dưới, hệ thống hành chánh và kỷ luật phải được tái lập, quyền lực và trách nhiệm phải đi đôi với nhau; sự hữu hiệu, sáng kiến, lòng ngay thẳng và tính cần kiệm phải là những tiêu chuẩn để dùng vào việc thăng thưởng, khả năng nghề nghiệp phải được tôn trọng. Phải loại trừ tình trạng ban phát ân huệ bằng vào những liên hệ gia đình hay phe phái. Những kẻ buôn bán quyền hành, tham nhũng và lạm dụng quyền thế phải bị trừng trị.

Có như thế thì mọi chuyện vẫn còn có thể cứu vãn được, nhân phẩm còn có thể phục hồi, và có thể dựng lại niềm tin vào một chính quyền thành thật và công bình.


 VỀ QUÂN ĐỘI
Quân đội viễn chinh đã ra khỏi nước và một quân đội Cộng Hòa đã được thành lập; nhờ vào viện trợ Hoa Kỳ quân đội này đã được trang bị với quân trang quân cụ tối tân. Tuy nhiên ngay cả trong lực lượng thanh niên kiêu hãnh như Quân đội Việt Nam - nơi mà đáng lý tinh thần danh dự phải được vun xới, gồm những kẻ mà bầu nhiệt huyết và những cánh tay phải được tận dụng vào việc bảo vệ quốc gia, nơi mà đáng lẽ phải vắng bóng đầu óc phe phái - thì tinh thần “Phong trào Cách mạng Quốc gia” hoặc tinh thần “Nhân vị” đã chia rẽ những kẻ cùng chung một đơn vị, gây ngờ vực giữa những bạn đồng ngũ đồng cấp và lấy “sự trung thành với một đảng để tùng phục mù quáng những kẻ lãnh đạo đảng” làm tiêu chuẩn thăng thưởng. Điều này đã tạo ra những điều kiện cực kỳ nguy hiểm, như trong vụ vừa xảy ra ở Tây Ninh.
Nhiệm vụ của quân đội, rường cột của việc bảo vệ quê hương, là chận đứng những cuộc ngoại xâm và tiêu diệt các phong trào nổi loạn. Quân đội chỉ phục vụ quốc gia và không nên để cho một phe nhóm hay đảng phái nào lợi dụng. Việc cải tổ toàn diện quân đội là một điều cần thiết. Đầu óc phe phái và sự trung thành với một đảng phải được loại bỏ; tinh thần quân đội phải được tái phục hồi cho mạnh lên, phải tạo ra một truyền thống cao đẹp về niềm hãnh diện quốc gia; và tinh thần chiến đấu, lương tâm nghề nghiệp và lòng can trường phải là những tiêu chuẩn dùng trong việc thăng thưởng. Phải khuyến khích binh sỹ biết kính trọng cấp trên và phải khuyến khích sĩ quan phải biết yêu thương binh sĩ. Phải loại bỏ lòng ngờ vực, ganh tỵ và đố kỵ giữa những kẻ đồng đội, đồng ngũ.
Có như thế, gặp thời nguy biến quốc gia sẽ có được một quân đội hào hùng thúc đẩy bởi một tinh thần và có cùng một lý tưởng: bảo vệ cho cái sở hữu chúng ta: quê hương Việt Nam.

 VỀ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI
Một xứ sở giàu có và phì nhiêu với thực phẩm dư thừa, một ngân sách không cần phải đối phó với những chi phí Quốc phòng, (chi phí Quốc phòng của miền Nam Việt Nam do kinh viện và quân viện của Hoa Kỳ đài thọ: ghi nhận thêm của Bernard Fall) những ngân khoản bồi thường chiến tranh lớn lao, mức lời cao đẻ ra từ công khố phiếu quốc gia, một chương trình ngoại viện khổng lồ, một thị trường bành trướng và đủ sức nhận vốn đầu tư của ngoại quốc. Đó là nhiều điều kiện thuận lợi có thể biến Việt Nam thành một quốc gia sản xuất cao và thịnh vượng. Thế mà hiện nay nhiều người không có việc để làm, không có nhà để ở và không có tiền bạc. Gạo nhiều nhưng bán không được, các tiệm đầy hàng mà hàng hóa lại không di chuyển - nguồn lợi nằm trong tay những kẻ đầu cơ, dùng phe nhóm, đoàn thể của chính quyền để che dấu việc buôn bán độc quyền đem lợi về cho một thiểu số tư nhân. Trong lúc đó, hằng ngàn dân bị huy động đi làm việc cực nhọc, bị ép buộc phải rời bỏ công ăn việc làm, nhà cửa gia đình của mình để tham gia vào công tác xây dựng những “Khu Dinh Điền” tuy đồ sộ nhưng vô ích. Điều này làm họ mỏi mệt và mất thiện cảm với chính quyền càng làm cho mối bất mãn thêm trầm trọng và tạo một môi trường lý tưởng cho công tác tuyên truyền của địch.

Kinh tế là nền móng của xã hội và lòng dân là yếu tố sống còn của chế độ. Chính quyền phải phá tan mọi chướng ngại cản trở việc mở mang kinh tế. Phải hủy bỏ sự độc quyền và đầu cơ dưới mọi hình thức; phải tạo môi trường thuận tiện cho việc đầu tư đến từ phía các quốc gia thân hữu cũng như từ chính nhân dân của ta; phải khuyến khích kinh doanh thương mại, khuếch trương kỹ nghệ và tạo công ăn việc làm để giảm thiểu tình trạng thất nghiệp. Đồng thời, chính quyền phải chấm dứt sự bóc lột con người dưới mọi hình thức trong các công trường lao động của những “Khu Dinh Điền”.
Có thế nền kinh tế mới lại phát triển, người dân mới tìm lại được cuộc sống an bình và mới được thụ hưởng đời sống của mình, xã hội mới được tái thiết trong một bầu không khí tự do và dân chủ.

Thưa Tổng thống, có lẽ đây là lần đầu tiên Tổng thống mới được nghe lời phê bình gắt gao và khó chịu ngược lại với ý muốn của Tổng thống. Tuy nhiên, thưa Tổng thống, những lời trình bày ở đây là sự thật hoàn toàn, một sự thật cay đắng nặng nề mà Tổng thống chưa bao giờ biết được vì dù vô tình hay chủ ý, một khoảng trống quanh Tổng thống đã được tạo ra và chính vì cái địa vị cao cả của Tổng thống mà không ai để cho Tổng thống nhận ra được thời kỳ nghiêm trọng khi mà sự thật sẽ tràn tới như những làn sóng căm hờn không cưỡng nổi, sự căm hờn của nhân dân đã từ rất lâu phải nhận chịu sự đau khổ khủng khiếp đến một lúc sẽ vùng lên bẻ gẫy những ràng buộc từng cột chặt mình, đè mình xuống. Làn sóng này sẽ quét sạch sự ô nhục và bất công vốn bao quanh người dân đã áp bức họ.
Vì chúng tôi hoàn toàn thành thật không muốn thấy Quê Cha Đất Tổ phải trải chịu những ngày tháng hiểm nghèo đó nên chúng tôi - không kể đến những hậu quả do hành động của chúng tôi sẽ mang lại cho chúng tôi - hôm nay gióng lên tiếng chuông báo động trước mối nguy cơ cấp thiết đang đe dọa chính quyền.
Cho đến nay, chúng tôi đã giữ im lặng và để cho chính quyền mặc ý hành động. Nhưng bây giờ đã đến lúc khẩn thiết, chúng tôi cảm thấy rằng bổn phận của chúng tôi - và trong lúc nước nhà gặp cảnh rối loạn thì ngay cả những kẻ hèn kém nhất cũng phải chia xẻ bổn phận này - là phải nói lên sự thật, thức tỉnh dư luận, báo động với nhân dân, và liên kết những kẻ đối lập, để cho thấy lối thoát.
Chúng tôi thỉnh cầu chính quyền gấp thay đổi chính sách để cứu vãn tình thế, bảo vệ chế độ Cộng Hòa và bảo vệ sự sống còn của quốc gia. Chúng tôi giữ vững niềm hy vọng là dân tộc Việt Nam sẽ có một tương lai sáng lạn để được hưởng thanh bình và thịnh vượng trong Tự Do và Tiến Bộ.

Trân trọng

1. Trần Văn Văn (quê Nam phần, Tam giáo) Bằng Cao học Thương mại, cựu Bộ trưởng Kinh tế và Kế hoạch.
2. Phan Khắc Sửu (quê Nam Phần, Cao Đài) Kỹ sư Canh Nông, cựu Bộ trưởng Canh Nông.
3. Trần Văn Hương (quê Nam phần, Tam giáo) Giáo sư Trung học, cựu Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn.
4. Nguyễn Lưu Viên (quê Nam phần, Tam giáo) Bác sĩ Y khoa, cựu Cao ủy Di Cư.
5. Huỳnh Kim Hữu (quê Nam phần, Tam giáo, một lãnh tụ thuộc nhóm Tinh Thần) Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Y tế.
6. Phan Huy Quát (quê Trung phần, Tam giáo, một lãnh tụ thuộc đảng Đại Việt) cựu Bộ trưởng Quốc phòng và Giáo Dục.
7. Trần Văn Lý (quê Trung phần, Thiên Chúa giáo, cựu đồng chí của Tổng thống Diệm trong phong trào Cường Để) cựu Thủ hiến Trung-Việt.
8. Nguyễn Tiến Hỷ (quê Bắc phần, Tam giáo, một lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng) Bác sĩ Y khoa.
9. Trần Văn Đỗ (quê Nam phần, Tam giáo, lãnh tụ nhóm Tinh Thần, nhóm đã ủng hộ lập trường chính trị của ông Diệm vào mấy năm trước kho ông Diệm cầm quyền). Bác sĩ Y khoa. Cựu Bộ trưởng Ngoại giao và Trưởng phái đoàn Việt Nam tại Hòa Hội Genève năm 1954.
10. Lê Ngọc Chấn (quê Bắc phần, Tam giáo, một lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng) luật sư, cựu Bộ trưởng Quốc phòng.
11. Lê Quang Luật (quê Bắc phần, Thiên Chúa giáo, lãnh tụ Phong trào Liên hiệp Dân chúng ủng hộ ông Ngô Đình Diệm khi ông Diệm còn ở hải ngoại) Luật sư, nhà báo, cựu đại diện Chính phủ tại Bắc Việt sau khi Hiệp ước Genève ra đời, lãnh đạo việc đưa 800.000 dân di cư vào Nam, và cựu Bộ trưởng Thông tin.
12. Lương Trọng Tường (quê Nam phần, Hòa Hảo) Kỹ sư công chánh, cựu Thứ trưởng Kinh tế Quốc gia.
13. Nguyễn Tăng Nguyên (quê Trung phần, Phật giáo, một lãnh tụ thuộc nhóm Tinh Thần, một sáng lập viên Đảng Cần Lao Nhân Vị) Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Lao Động và Thanh Niên.
14. Phạm Hữu Chương (quê Bắc phần, Tam giáo) Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Y tế và Công tác Xã hội.
15. Trần Văn Tuyên (quê Bắc phần, Tam giáo, một lãnh tụ của VNQDĐ) Luật sư, cựu Bộ trưởng Thông tin và Tuyên truyền.
16. Tạ Chương Phùng (quê Trung phần, Tam giáo, cựu đồng chí của ông Diệm trong phong trào Cường Để) Tú tài Hán học, cựu Tỉnh trưởng Bình Định.
17. Trần Lê Chất (quê Bắc phần, Tam giáo) Tiến sĩ Hán học.
18. Hồ Văn Vui (quê Nam phần) Linh mục, cựu Cha sở một họ đạo thuộc địa phận Sài Gòn và hiện nay là Cha sở tại Tha La, Tây Ninh.
Ngày 26 tháng 4 năm 1960

* Trích, dịch từ “The Two Vietnam” của Bernard Fall, phụ bản II trang 435-441-Hoa Kỳ 1967.
* Phần trong ngoặc đơn là do tác giả thêm vào để làm nổi bật tính chất đại diện rộng rãi của nhóm tác giả bản Tuyên Ngôn này.
Đồng bào Sài Gòn biểu tình chống "Gia đình trị Ngô Đình Diệm"
trong cuộc Binh biến ngày 11 và 12-11-1960 do binh chũng Nhảy Dù phát động