Hiển thị các bài đăng có nhãn võ nguyên giáp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn võ nguyên giáp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015


20 NHÂN VẬT MỸ VÀ VIỆT NỔI BẬT
TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM 1954-1975

 Sparknotes.com/history / LTH Việt dịch

Cuộc chiến tranh Việt Nam (Mỹ) hay cuộc chiến tranh giải phóng (Việt Nam) từ 1954 đến năm 1975 đã đánh dấu biết bao sự kiện bi thảm, đau thương và mất mát cho cả hai phía Mỹ và nhân dân Việt Nam. Chiến tranh đã lưu giữ những biểu tượng anh hùng và tội đồ, chính nghĩa và phi nghĩa, những tội ác phi nhân và những thiệt hại ghê gớm nhức nhối cho đến tận hôm nay. 

Và những nhân vật chính của chiến tranh đã được khái quát, cô đọng nhất trong những dấu ấn mà họ đã để lại sau cuộc chiến mà các sử gia Mỹ ghi nhận. Xin mời độc giả xem tiếp những chấm phá khô khan nhưng đằng sau đó là cả một biển cả sự kiện tạo nên lịch sử khó phai trong ký ức nhân loại. Nhân vật được sắp theo tên/họ, “thứ tự abc”.


1. BẢO ĐẠI
(1913-1997)


Vị hoàng đế cuối cùng của Việt Nam, người đã lên ngôi vào năm 1926. Bảo Đại tỏ ra là người trị vì không ra trò trống gì và không thể thực hiện được bất kỳ quyền lực nào của mình mà không cần sự hỗ trợ của chế độ thực dân Pháp. Ông thoái vị vào năm 1946 (1945 – ND), sau khi Việt Minh đánh đuổi lực lượng chiếm đóng Nhật Bản và nắm quyền kiểm soát chính phủ. Vào năm 1949, người Pháp đã dựng lại Bảo Đại như là thủ tướng của "Việt Nam độc lập", nhưng chỉ là mặt trái vấn đề của nhà nước đã bổ nhiệm công dân Pháp đặc biệt của mình. Chỉ một năm sau khi hội nghị Geneva tạo ra một nước cộng hòa ở miền Nam Việt Nam, Ngô Đình Diệm qua mặt Bảo Đại và tiếm quyền; Bảo Đại sau đó về nghỉ hưu tại Pháp.

The last emperor of Vietnam, who ascended the throne in 1926. Bao Dai proved to be an ineffective ruler and was unable to exercise any of his powers without the support of the French colonial regime. He abdicated in 1946, after the Viet Minh drove out the Japanese occupation forces and took control of the government. In 1949, the French reinstalled Bao Dai as the premier of “independent Vietnam” but left affairs of state to his pro-French appointees. Only one year after the Geneva conference created a republic in South Vietnam, Ngo Dinh Diem outmaneuvered Bao Dai and took power; Bao Dai then retired to France.

2. McGEORGE BUNDY
(1919-1996)



Trợ lý đặc biệt an ninh quốc gia thuộc cả John F. Kennedy lẫn Lyndon B. Johnson. Bundy là người đã thúc ép sự leo thang chiến tranh Việt Nam, nhưng sau khi rời khỏi vị trí của mình vào năm 1966 đã trở thành người phản đối kịch liệt sự leo thang.
The special assistant for national security affairs under both John F. Kennedy and Lyndon B. Johnson. Bundy pressed for escalating the Vietnam war but after leaving his position in 1966 became critical of further escalation.

3. WILLIAM CALLEY
(1943- )



Một trung úy quân đội Mỹ và là ngưỡi chỉ huy nhóm binh lính Mỹ, những người đã giết chết hàng trăm dân thường người Việt Nam không vũ trang trong vụ thảm sát Mỹ Lai năm 1968.  Năm 1971, tòa án quân sự kết án tù Calley, nhưng nhiều người Mỹ tin rằng anh ta chỉ là vật tế thần cho sự tàn bạo lớn hơn của chính phủ, và anh ta được ân xá vào năm 1974.
A U.S. Army lieutenant and the leader of the company of U.S. Soldiers who killed several hundred unarmed Vietnamese civilians in the 1968 My Lai massacre. In 1971 court-martial sentenced calley to a life prison term, but many Americans believed that he was a scapegoat for larger government atrocities, and he was paroled in 1974.

4. DWIGHT D. EISENHOWER
(1890-1969)



Tổng thống thứ 34 của Mỹ, người đã phổ biến lý thuyết domino mà sau này được sử dụng để biện minh cho sự gia tăng việc can dự chính trị và quân sự của Mỹ ở Việt Nam.
The 34th U.S. President, who popularized the domino theory that was later used to justify increased U.S. Political and military involvement in Vietnam.

5. J. WILLIAM FULBRIGHT
(1905-1995)

  
Một thượng nghị sĩ Mỹ từ bang Arkansas và là một nhà chỉ trích hàng đầu chiến tranh Việt Nam trong quốc hội Mỹ. Năm 1966, Fulbright xuất bản cuốn sách có ảnh hưởng đến sự ngạo mạn của quyền lực, mà điều đó đã tấn công tổng thống Lyndon B. Johnson và chiến lược chiến tranh của Mỹ. Năm đó, Fulbright cũng đã chủ trì buổi điều trần truyền hình quốc gia của ủy ban đối ngoại thượng viện qua đó đã chỉ trích chiến tranh.
A U.S. Senator from Arkansas and a leading critic of the Vietnam war in the U.S. Congress. In 1966, Fulbright published the influential book the arrogance of power, which attacked president Lyndon B. Johnson and the U.S. War strategy. That year, Fulbright also chaired nationally televised hearings of the Senate Foreign Relations Committee that criticized the war.

6. HỒ CHÍ MINH
(1890-1969)

  
Nhà lãnh đạo hàng đầu Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc và cộng sản trong thế kỷ XX, chống lại ảnh hưởng của người Pháp, Nhật, và Mỹ ở Việt Nam. Sinh ra trong gia đình nghèo ở xứ Annam bị Pháp chiếm đóng, ông Hồ đi rất nhiều và dành thời gian đáng kể ở Paris, London, và New York, được tiếp xúc với những ý tưởng phương Tây, bao gồm chủ nghĩa cộng sản. Khi trở về Việt Nam, ông thành lập đảng Cộng sản Đông Dương vào năm 1930 và Việt Minh vào năm 1941. Từ khi sáng lập những tổ chức ấy đến khi ông qua đời vào năm 1969, ông Hồ là chủ tịch của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phục vụ như là lãnh đạo hàng đầu Bắc Việt Nam trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam.
The primary Vietnamese nationalist and communist leader during the twentieth century, who resisted French, Japanese, and American influence in Vietnam. Born in poverty in French-occupied Annam, Ho traveled widely and spent considerable time in Paris, London, and New York, gaining exposure to western ideas, including communism. On his return to Vietnam, he founded the Indochina Communist party in 1930 and the Viet Minh in 1941. From its founding to his death in 1969, Ho was president of the Democratic Republic of Vietnam, serving as the primary North Vietnamese leader throughout much of the Vietnam war.

7. LYNDON B. JOHNSON
(1908-1973)



Tổng thống thứ 36 của Mỹ, người hứa sẽ tôn vinh người tiền nhiệm John f. Kennedy vì những cam kết hạn chế của Mỹ ở Việt Nam nhưng cuối cùng lại leo thang chiến tranh quyết liệt sau khi Quốc hội Mỹ thông qua nghị quyết vịnh Bắc Bộ năm 1964. Được trao quyền bởi nghị quyết, Johnson đã ra lệnh chiến dịch Sấm Rền 1965 để ném bom miền Bắc Việt Nam hòng quy phục họ. Khi điều này không thành công, ông đã gửi nhiều hơn 500,000 lính Mỹ sang Việt Nam và cuối cùng chuyển đổi xung đột thành một cuộc chiến tranh kéo dài và cay đắng.
The 36th U.S. President, who promised to honor his predecessor John F. Kennedy’s limited U.S. commitments in Vietnam but ended up escalating the war drastically after the U.S. Congress passed the Gulf of Tonkin resolution in 1964. Empowered by the resolution, Johnson authorized operation Rolling Thunder in 1965 to bomb North Vietnam into submission. When this failed, he sent more than 500,000 U.S. troops to Vietnam and ultimately converted the conflict into a protracted and bitter war.

8. GEORGE F. KENNAN
(1904-2005)



Là một chuyên gia phân tích của Bộ Ngoại giao Mỹ, ông là người đầu tiên đã nêu học thuyết của Chủ thuyết Ngăn chặn vào năm 1947, biện luận rằng Mỹ có thể giữ cho chủ nghĩa cộng sản không phát tán chỉ cần bằng việc ngăn cản mở rộng Sôviết tại những điểm giói hạn, chủ yếu ở châu Âu. Ý tưởng ngăn chặn trở nên rất có ảnh hưởng và đã được xem như là nền tảng chính sách ngoại giao Mỹ của chiến tranh lạnh.
A U.S. State department analyst who first articulated the Doctrine of Containment in 1947, arguing that the United States could keep communism from spreading simply by deterring Soviet expansion at critical points, mostly in Europe. The idea of containment became very influential and served as the basis of U.S. Foreign policy for much of the cold war.

9. JOHN F. KENNEDY
(1917-1963)


Tổng thống Mỹ thứ 35, người đã có quyết định để gửi những " chuyên gia quân sự” Mỹ vào Việt Nam năm 1962, đánh dấu lần đầu tiên chính thức Mỹ đã dính líu vào đất nước này. Mặc dù Kennedy và chính quyền của ông hậu thuẫn chế độ tham nhũng Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam, họ rút cục quyết định hậu thuẫn cuộc đảo chính để lật đổ Diệm vào tháng mười một năm 1963. Chỉ vài tuần sau đó, Kennedy bị ám sát, và phó tổng thống Lyndon B. Johnson trở thành tổng thống.
The 35th U.S. President, whose decision to send U.S. “military advisors” into Vietnam in 1962 marked the first official U.S. involvement in the country. Although Kennedy and his administration backed the corrupt Ngo Dinh Diem regime in South Vietnam, they ultimately decided to back a coup to overthrow Diem in November 1963. Just weeks later, Kennedy was assassinated, and Vice President Lyndon B. Johnson became President.

10. HENRY A. KISSINGER
(1923- )



Là một cựu giáo sư khoa chính trị học, ông là người đã giữ vai trò cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Richard Nixon rồi sau đó giữ chức ngoại trưởng. Kissinger là người gốc Đức, làm việc chặt chẽ với Nixon để tạo ra và triển khai chính sách Việt Nam Hóa và cá nhân tham gia vào đàm phán với phái viên Bắc Việt Lê Đức Thọ vào năm 1972 để thoả thuận một cuộc ngừng bắn. Kissinger cũng giúp Nixon dùng Trung Quốc và Liên Xô để gây sức ép Bắc Việt phải chọn một sự dàn xếp hoà bình.
A former political science professor who served as President Richard Nixon’s National Security Advisor and then as his Secretary of State. The German-born Kissinger worked closely with Nixon to create and implement the policy of Vietnamization and personally engaged in negotiations with North Vietnamese emissary Le Duc Tho in 1972 to hammer out a cease-fire. Kissinger also assisted Nixon in using China and the Soviet Union to pressure North Vietnam to opt for a peace settlement.

11. EDWARD LANSDALE
(1908-1987)



Một đặc vụ của Cục Tình báo Trung ương Mỹ được bố trí ở Sài Gòn bắt đầu vào năm 1953, người đã khởi xướng một số chiến dịch tâm lý hầu hết bị thất bại đchống lại những người Cộng sản Việt Nam và là người đề cao Ngô Đình Diệm đến những nhà hoạch định chính sách Mỹ.
A CIA operative based in Saigon beginning in 1953 who initiated some mostly failed psychological operations against Vietnamese communists and spoke favorably about Ngo Dinh Diem to U.S. policy makers.

12. LÊ DUẪN
(1907-1986)

  
Là người lãnh đạo chủ chốt của Đảng Cộng sản Việt Nam ở miền Bắc sau cái chết của Hồ Chí Minh vào năm 1969.
The primary leader of the North Vietnamese Communist Party after Ho Chi Minh’s death in 1969.

13. LÊ ĐỨC THỌ
(1911-1990)



Là một nhà ngoại giao cao cấp Bắc Việt, ông là người tham gia vào thương lượng bí mật ở Paris với đặc phái viên Mỹ Henry a. Kissinger vào năm 1972, dẫn đến ngừng bắn chấm dứt chính thức sự dính líu của Mỹ tại Việt Nam vào tháng giêng năm 1973.
A senior North Vietnamese diplomat who engaged in secret negotiations in Paris with U.S. Emissary Henry A. Kissinger in 1972, leading to the cease-fire that ended official U.S. involvement in Vietnam in January 1973.

14. ROBERT S. McNAMARA
(1916-2009)



Bộ trưởng quốc phòng dưới thời John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson, từ năm 1961 đến năm 1968. McNamara ban đầu ủng hộ gia tăng sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam nhưng bắt đầu chất vấn chính sách Mỹ trước năm 1966. Sau khi sự cảnh tỉnh càng lớn cùng với chiều hướng chiến tranh, McNamara đã chấp nhận từ chức theo sau cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân đầu năm 1968.
The Secretary of Defense under John F. Kennedy and Lyndon B. Johnson, from1961 to 1968. McNamara initially advocated increasing U.S. involvement in Vietnam but started to question U.S. policy by 1966. After growing disillusioned with the direction of the war, McNamara resigned his position following the Tet offensive in early 1968.

15. NGÔ ĐÌNH DIỆM
(1901-1963)


Là nhà lãnh đạo miền Nam do Mỹ hậu thuẫn của Việt Nam Cộng hoà từ năm 1955 cho đến năm 1963. Diệm đến từ một gia đình vừa Khổng giáo lại vừa Công giáo, và cho dù sự ngoan đạo được yêu chuộng bởi các nhà hoạch định chính sách Mỹ, điều đó đã gạt ông ra khỏi đa số Phật tử của miền Nam Việt Nam. Chế độ của Diệm nhanh chóng trở thành thối nát và độc đoán, mạnh tay khắc nghiệt với lãnh đạo Phật giáo và phớt lờ điều ước hội nghị Geneva của cuộc bầu cử tự do vào năm 1956. Ngày càng tăng thêm chứng hoang tưởng, ông ta đưa người nhà nắm những vị trí quan trọng của bộ máy lãnh đạo trong chính phủ, nơi mà họ đã lạm quyền. Mặc dù Mỹ tiếp tục hỗ trợ Diệm, hỗ trợ này rốt cục cũng tàn lụi, và Diệm và em trai Ngô Đình Nhu bị ám sát năm 1963 xem như một phần của một cuộc đảo chính được Mỹ chấp nhận.
The U.S.-backed leader of the South Vietnamese Republic of Vietnam from 1955until 1963. Diem came from a family that was both Confucian and Catholic, and though his christianity endeared him to many U.S. policy makers, it alienated him from South Vietnam’s Buddhist majority. Diem’s regime quickly became corrupt and autocratic, cracking down viciously on Buddhist leaders and ignoring the Geneva conference’s promise of free elections in 1956. Increasingly paranoid, he gave his family members important positions of leadership in the government, which they abused. Although the United States continued to support Diem, this support ultimately waned, and Diem and his brother Ngo Dinh Nhu were assassinated in1963 as part of a U.S.-approved coup.

16. NGÔ ĐÌNH NHU
(1910-1963)



Là một người anh em của Ngô Đình Diệm, ông ta thực tế đã trở thành một lãnh chúa sau khi Diệm bổ nhiệm ông ta đứng đầu đảng Cần Lao, cảnh sát mật của Nam Việt Nam. Tàn bạo, bóc lột, và tham nhũng, Nhu nhận được sự thù ghét đông đảo của người dân Nam Việt Nam. Vợ của ông ta ăn nói sắc sảo, Madame Nhu, người hành x như là Đệ nhất Phu nhân của Nam Việt Nam, cũng bị thù ghét như chồng của bà ta. Sự thái quá của Nhu chịu trách nhiệm lớn nhất cho cuộc đảo chính do Mỹ hậu thuẫn tháng 11 năm 1963, trong đó cả hai anh em Diệm và Nhu đều bị ám sát.
A brother of Ngo Dinh Diem who effectively became a warlord after Diem appointed him head of the Can Lao, the South Vietnamese secret police. Brutal, exploitative, and corrupt, Nhu earned the universal hatred of the South Vietnamese population. His sharp-tongued wife, Madame Nhu, who served as South Vietnam’s First Lady, was equally hated. Nhu’s excesses were largely responsible for the U.S.-backed coup of November 1963 in which both Diem and Nhu were assassinated.

17. Madame NHU
(1924-2011)



Người vợ của Ngô Đình Nhu trên thực tế là Đệ nhất Phu nhân của chính phủ tham nhũng Nam Việt Nam dưới thời Ngô Đình Diệm. Bà Nhu là một người bị thù ghét và có quan hệ công chúng quá thảm họa, một kiểu Việt của hoàng hậu Pháp Marie-Antoinette người chẳng quan tâm gì cho cuộc đấu tranh của nông dân nghèo Việt Nam và thể hiện một sự yêu thích quá đáng v tất cả những gì thuộc về người Pháp, mặc dù thực tế người Pháp đã từng là ông chủ cựu thuộc địa Việt Nam bị thù ghét. Sau khi một tu sĩ Phật giáo công khai tự thiêu đến chết trong 1963 nhằm phản đối chế độ Diệm, Bà Nhu chế giễu sự kiện đó như là một kiểu "nướng" thịt và tuyên bố rằng bà ta sẽ cung cấp xăng và diêm cho các tu sĩ nào muốn tiếp tục tự thiêu. Bà đang ở nước ngoài khi một cuộc đảo chính do Mỹ hậu thuẫn đã lật đổ Diệm và chồng của bà ta trong tháng 11 năm 1963 và bà đã lánh xa Việt Nam t đó.
The wife of Ngo Dinh Nhu and de facto First Lady of the corrupt South Vietnamese government under Ngo Dinh Diem. Madame Nhu was a hated figure and public relations disaster, a sort of Vietnamese Marie-Antoinette who cared nothing for the struggles of Vietnamese peasants and displayed an extravagant fondness for all things French, despite the fact that the French were the hated former colonial masters of Vietnam. After a Buddhist monk publicly burned himself to death in 1963 in protest of the Diem regime, Madame Nhu derided the incident as a “barbecuing” and stated that she would provide gasoline and matches for the next monk who wanted to follow suit. She was abroad when a U.S.-backed coup toppled Diem and her husband in November 1963 and stayed away from Vietnam thereafter.

18. RICHARD M. NIXON
(1913-1994)

  
Tổng thống Mỹ thứ 37, người đã sắp đặt sự rút lui của Mỹ khỏi Việt Nam đầu những năm 1970. Được trúng cử lần đầu vào năm 1968, Nixon đã tuyên bố giữa sự hỗn loạn dâng cao của những phản kháng chống chiến tranh rằng là một " đa số im lặng" của người Mỹ vẫn ủng hộ chiến tranh. Mặc dù vậy, ông đã tham gia vào chính sách Việt Nam hoá để rút binh lính Mỹ khỏi Việt Nam và chuyển giao quyền hành động quân sự cho Nam Việt Nam. Đồng thời, Nixon lén lút mở rộng phạm vi chiến tranh bằng hành động quân sự bất hợp pháp bí mật ở Cam-pu-chia và Lào. Vào năm 1972, ông và cố vấn an ninh quốc gia của mình, Henry A. Kissinger, đã theo đuổi cuộc thương lượng bí mật với Bắc Việt và quan h ngoại giao với cả Trung Quốc lẫn Liên Xô để gây áp lực Bắc Việt hình thành một cuộc ngừng bắn. Mặc dù Nixon đã được bầu lại và thắng lớn  vào năm 1972, chính quyền của ông đã dính líu đến những vụ bê bối từ Watergate đến Tài liệu Ngũ giác đài tiết lộ ra công luận chiến dịch hoạt động quân sự Mỹ ở Cam-pu-chia. Mặc dù sự lành nghề ngoại giao của ông và thành công ở cuộc triệt thoái binh lính Mỹ khỏi Việt Nam, ông đã từ chức vào năm 1974 để tránh bị luận tội vì những vụ bê bối.
The 37th U.S. President, who orchestrated the U.S. withdrawal from Vietnam in the early 1970s. First elected in 1968, Nixon claimed amid the rising din of antiwar protests that a “silent majority” of Americans still supported the war. Nonetheless, he engaged in a policy of Vietnamization to withdraw U.S. troops from Vietnam and hand over military authority to the South Vietnamese. Meanwhile, Nixon covertly expanded the scope of the war by secretly authorizing illegal military actions in Cambodia and Laos. By 1972, he and his national security advisor, Henry A. Kissinger, were pursuing secret negotiations with North Vietnam and engaging in diplomacy with both China and the Soviet Union in order to pressure North Vietnam into a cease-fire. Although Nixon was reelected in a landslide in 1972, his administration became dogged with scandals ranging from Watergate to the Pentagon Papers to the public revelation of the U.S. military actions in Cambodia. Despite his skilled diplomacy and success at removing U.S. troops from Vietnam, he resigned in 1974 to avoid impeachment over the scandals.

19. VÕ NGUYÊN GIÁP
(1911-2013)

  
Ho Chi Minh’s leading general and the primary commander of Vietnamese Communist forces from the earliest days of the Viet Minh. A former lawyer and history teacher, Giap proved his military brilliance at the battle of Dien Bien Phu in1954, in which he defeated the French to end the first Indochina War and give Vietnam more leverage at the Geneva conference bargaining table. Giap remained involved in the North Vietnamese military throughout the ensuing struggle with the United States.
Là người chỉ huy chính và tổng quát của Hồ Chí Minh để lãnh đạo lực lượng Cộng sản Việt Nam từ những ngày đầu tiên của Việt Minh. Là một cựu luật sư và giáo viên sử học, Giáp đã chứng minh tài năng quân sự xuất chúng của mình tại trận Điện Biên Phủ năm 1954, trong đó ông đã đánh bại Pháp để chấm dứt cuộc chiến Đông Dương thứ nhất, nhờ đó đã cung cấp cho Việt Nam nhiều đòn bẩy hơn tại bàn đàm phán hội nghị Geneva. Giáp vẫn tham gia quân đội Bắc Việt trong suốt cuộc đấu tranh tiếp theo với Mỹ

20. WILLIAM C. WESTMORELAND
(1914-2005)



Một Đại tướng lục quân Mỹ, người mà vào năm 1964 đã trở thành chỉ huy của MACV (Phái bộ Viện trợ Quân sự Mỹ), vốn là quân đoàn "cố vấn quân sự" Mỹ tại Việt Nam. Khi chiến tranh leo thang và Mỹ gửi quân đội sang Việt Nam, Westmoreland đã liên tục thúc đẩy gửi thêm các lực lượng tham chiến Mỹ tại Việt Nam, và tiến hành các nhiệm vụ tìm kiếm và tiêu diệt vì ông tin rằng một kết quả của chiến tranh tiêu hao là chiến thắng của phía Mỹ. Chỉ đạo của ông đã cho quân đội Mỹ những mục tiêu dứt khoát nhưng cũng đặt quân đội trong mối nguy hiểm lớn hơn nhiều so với trước đây, và yêu cầu của ông đòi bổ sung 200.000 quân sau cuộc Tấn công Tết năm 1968 đã là một cú sốc với công chúng Mỹ, vốn đã được trấn an rằng Mỹ đã đạt sự tiến bộ đáng kể trong cuộc chiến tranh.
A U.S. Army general who in 1964 became the commander of the MACV, the corps of U.S. “military advisors” in Vietnam. As the war escalated and the United States sent troops, Westmoreland continually pushed for more U.S. ground forces in Vietnam and instituted search-and-destroy missions, as he believed that a war of attrition would result in a victory for the United States. His direction gave U.S. troops definitive goals but also tended to put them in far greater danger than ever before, and his request for an additional 200,000 troops after the 1968 Tet offensive shocked the American public, who had been reassured that the United States was making substantial headway in the war.

LTH


Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013


HUYỀN THOẠI

Cao Huy Thuần

 
Như một người dân hèn mọn đứng xếp hàng trên đường Hoàng Diệu, tôi xin gửi mấy dòng đơn sơ này kính viếng anh linh Đại Tướng.

Thật lòng mà nói, người dân hèn mọn có cả một nỗi lòng để thốt ra với Đại Tướng trong ngày quốc táng, nhưng nỗi lòng ấy nghẹn lời ở cổ. Nói được gì chăng, chắc Đại Tướng đã nghe rồi và sắp nghe nữa, quá nhiều. Nhưng quá nhiều mà vẫn chưa đủ. Đáng lẽ phải dùng một con tàu mang di hài của Đại Tướng đi từ Ải Bắc đến Cà Mau để Đại Tướng nghe tiếng nói không nói được trong tim mọi người trên mọi con đường của đất nước.

Bởi vì, thưa Đại Tướng, Đại Tướng là anh hùng của dân tộc. Của cả một dân tộc từ Bắc chí Nam, không phải của riêng ai. Và thế nào là anh hùng? Thế nào là anh hùng dân tộc? Anh hùng là người đã hiến cả cuộc đời của mình cho một cái gì cao hơn chính mình. Cái ấy phải là thiêng liêng. Anh hùng dân tộc là người đã hiến cả cuộc đời của mình cho một cái gì cao hơn chính mình và cái đó, dân tộc ấy cho là thiêng liêng chung. Với Việt Nam trong thế kỷ 20, cái đó là độc lập. Nhưng như thế vẫn chưa đủ để Đại Tướng là anh hùng dân tộc. Không ai là anh hùng nếu không được người khác truy nhận. Không ai là anh hùng dân tộc nếu không được chính dân tộc truy nhận. Và sự truy nhận ấy trở thành thiêng liêng khi được chuyên chở trên sức mạnh của huyền thoại. Không có huyền thoại thì không có anh hùng. Không có huyền thoại cộng đồng thì không có anh hùng dân tộc. Huyền thoại ấy không phải do một thế lực nào nặn ra. Tự nhiên nó đến qua sự giao cảm thần kỳ giữa một dân tộc với vị anh hùng của họ.

 
Đại Tướng đang đi vào huyền thoại ấy. Đã là huyền thoại thì không nên cắt nghĩa bằng luận lý. Không nên hỏi: đâu phải chỉ một mình Đại Tướng hiến cả cuộc đời cho độc lập dân tộc? Nhưng huyền thoại là vậy: huyền thoại của Việt Nam muốn rằng vị anh hùng của dân tộc là tướng. Chẳng phải Đại Tướng là cha đẻ của một quân đội chỉ có dăm ba khẩu súng trường lúc khai sinh đó sao? Chẳng phải chỉ gọi "Đại Tướng" là ai cũng biết đích danh một người? Cũng đừng nên hỏi: bao nhiêu vua đã chống xâm lăng, đâu phải chỉ tướng? Nhưng huyền thoại là vậy: huyền thoại là lịch sử được cảm xúc hóa, tưởng tượng hóa. Lịch sử tôn quý vua, nhưng huyền sử sắc phong thần cho tướng. Vua chỉ huy nhưng tướng ra quân. Và trận mạc đã đi vào tưởng tượng của mọi cái đầu từ thời cắp sách trong suốt thế kỷ. Mở sách giáo khoa của lớp ba ngày xưa, cả mấy thế hệ học trò say mê gì, say mê ai, nếu không phải là sông Như Nguyệt, sóng Bạch Đằng, ải Chi Lăng, áo bào đẫm mùi thuốc súng của Nguyễn Huệ, Thoát Hoan chui vào ống đồng chạy dài? Hơn thế nữa, cao tột bậc, lịch sử có Trần Nhân Tông, nhưng huyền sử có đức Thánh Trần. Từ nhỏ, trong tưởng tượng, chiến công là của tướng. Vua thì có minh quân và hôn quân, tướng chỉ có trận mạc hiển hách, vuốt ve tự hào dân tộc. Như con người có xương có thịt, dân tộc cần thương yêu và được thương yêu, cần vỗ về và được vỗ về. Nhất là trong giai đoạn mất nước. Nhất là trong giai đoạn thui chột tự hào.

Tôi đã lặp đi lặp lại quá nhiều hai chữ dân tộc. Là bởi vì huyền sử của dân tộc đang làm nhiệm vụ cảm xúc hóa lịch sử để đưa Đại Tướng vào vai trò trưởng tử của Trần Hưng Đạo. Nhân dân đang sắc phong cho Đại Tướng. Bất cứ ở đâu, mọi con mắt đều nhìn về một phương, mọi trái tim cùng đập chung một nhịp. Trong lịch sử chiến tranh gần đây, nếu lấy một thời điểm để nói chính xác rằng mọi con tim cùng đập một nhịp, thì thời điểm duy nhất ấy là Điện Biên Phủ. Tôi thuộc thế hệ những anh học trò sống trong vùng ảnh hưởng của Pháp có bạn bè, thân nhân bị động viên để tham gia chiến trận ngoài Bắc. Không mấy ai trong các anh ấy nghĩ rằng mình cầm súng để bảo vệ một lý tưởng. Không mấy ai nghĩ rằng mình đang đứng vào phía dân tộc. Họ thầm nghĩ: phía của dân tộc là phía kia. Và phía ấy đang vang vọng gầm trời tiếng pháo Điện Biên. Kể cả những người đang cầm súng ở bên này chiến tuyến, súng ấy cũng có trái tim để cùng đập một nhịp với nhịp máu tự hào của cả một dân tộc chiến thắng. Điện Biên không có giới tuyến. Không phải là chiến thắng của một phe. Cho nên Điện Biên là Bạch Đằng. Điện Biên là duy nhất trong huyền sử thoát nhục thuộc địa. Giống như Bạch Đằng, một bên là dân tộc, một bên là kẻ thù chung, từ phưong Tậy hoặc từ phương Bắc.

Và Điện Biên, và Bạch Đằng chỉ nói lên một điều: là anh hùng dân tộc vị nào đã cầm thanh gươm mà chính dân tộc trao cho để chém một kẻ thù chung. Anh hùng là người ngồi trên ngựa, giữa trận mạc. Huyền sử của Việt Nam muốn thế. Không cần lý luận. Trái tim cộng đồng tạo ra huyền sử ấy không cần lý luận. Cũng không có giới tuyến. Đại bác Điện Biên không có giới tuyến.

"Bất hạnh thay cho những dân tộc nào cần anh hùng", xin Đại Tướng đừng nghe câu nói ấy của Brecht. Dân tộc Việt Nam đang cần anh hùng.

 

 
NHỮNG ĐIỀU ÍT ĐƯỢC BIẾT ĐẾN VỀ TƯỚNG GIÁP

By Trọng Nghĩa / RFI

 
Vào hôm nay, 13/10/2013, Đại tướng Võ Nguyên Giáp về đến nơi an nghỉ cuối cùng tại quê nhà tỉnh Quảng Bình. Từ lúc ông qua đời đến nay, đã có rất nhiều bài viết về cuộc đời và sự nghiệp của ông. Trong khuôn khổ tạp chí đặc biệt hôm nay, RFI Việt ngữ xin giới thiệu nhận định của Giáo sư Carl Thayer - chuyên gia kỳ cựu về quân sự và chính trị Việt Nam tại Học viện Quốc phòng Úc (Đại học New South Wales) - về một số yếu tố ít được nói đến, nếu không muốn nói là hoàn toàn vắng bóng - trong tiểu sử chính thức của Đại tướng Giáp.

 
RFI : Cho đến nay, các nhà báo và các nhà bình luận đã nói rất nhiều về cuộc đời của tướng Giáp. Theo quan điểm của Giáo sư, di sản chính của ông Giáp là gì ?

CarleThayer : Sự nghiệp của Tướng Võ Nguyên Giáp trải dài trên 64 năm kể từ năm 1927, khi ông bị trục xuất khỏi trường Quốc Học vì hoạt động chính trị, cho đến năm 1991 khi ông chính thức rời bỏ tất cả các chức vụ trong Đảng và Nhà nước. Sự nghiệp của ông có thể chia thành năm giai đoạn :

- 1927-1944 : Ông còn là một học sinh đấu tranh, nhà báo, một nhà tuyên truyền chính trị, một tù nhân, một giáo viên và một sinh viên sau đại học ;

- 1944-1973 : Ông giữ nhiều chức vụ trong đó có chức chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Ủy viên Bộ Chính trị ;

- 1974-1980 : Ông từ bỏ quyền kiểm soát hoạt động của quân đội và giữ chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Ủy viên Bộ Chính trị ;

- 1980-1991 : Ông thôi làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Ủy viên Bộ Chính trị ; trong thời gian này, ông phụ trách khoa học và công nghệ, dân số và kế hoạch hóa gia đình, và sau đó giáo dục ;

- 1991-2013 : Tướng Giáp rời khỏi chức vụ cuối cùng là Phó Thủ tướng chính phủ và nghỉ hưu vĩnh viễn.

Di sản chính của Tướng Giáp xuất phát từ vai trò tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hai (1944-1973). Ông bắt đầu chỉ huy một trung đội 34 người và phát triển lực lượng này thành một đạo quân nhân dân gồm vài trăm ngàn người trong không đầy mười năm. Tướng Giáp đồng thời kết hợp các tác phẩm quân sự của Napoleon, Clausewitz và Mao Trạch Đông với truyền thống quân sự cổ xưa của Việt Nam.

Tướng Giáp nắm vững nghệ thuật chiến tranh nhân dân bằng cách vận động dân chúng để chiến đấu và trở thành nhân công trong mạng lưới hậu cần rộng lớn của ông. Tướng Giáp biết kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự. Mục tiêu của ông là đuổi Pháp ra khỏi Việt Nam trong một cuộc chiến tranh trường kỳ.

Chiến công lẫy lừng nhất của ông là chiến dịch dẫn đến sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ. Tướng Giáp dùng chiến thuật nghi binh, gửi lực lượng của mình sang Lào và rồi sau đó cấp tốc chuyển hướng tiến đến vùng thung lũng Điện Biên Phủ. Tướng Giáp đã nhanh chóng bác bỏ lời khuyên của các chuyên gia Trung Quốc tung các làn sóng người tấn công vào doanh trại quân Pháp. Ông đã sử dụng chiến thuật bao vây, với lực lượng được tiếp ứng liên tục về mặt hậu cần, cung cấp lương thực, thiết bị vật tư, vũ khí và đạn dược cho chiến trường.

Tầm quan trọng của trận Điện Biên Phủ là nó không chỉ đánh dấu sự thất bại của thực dân Pháp ở Đông Dương, mà cả của chủ nghĩa thực dân như một hệ thống trên toàn thế giới. Trong vòng tám năm sau đó, Pháp sẽ phải chịu thất bại ở Algeri.

 
Hai tiểu sử : Chính thức và không chính thức

RFI : Giáo sư đánh giá sao về một số « điều được che giấu » về cuộc đời của Tướng Võ Nguyên Giáp, những điều không hề xuất hiện trong tiểu sử chính thức ?

Carl Thayer : Có hai phiên bản về cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trước hết là tiểu sử chính thức mang tính chất tôn vinh, gán cho ông tất cả những thành công quân sự của Việt Nam kể từ năm 1944 và miêu tả ông như một viên tướng tài ba hoàn hảo.

Phiên bản thứ hai về sự nghiệp của Tướng Giáp không mang tính chất chính thức và cho thấy rằng ông là một người kiên định – có người cho đây là tính kiêu ngạo về mặt trí thức – một người cá nhân chủ nghĩa dễ nổi giận khi bị can thiệp vào vai trò tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang của ông. Ông được mô tả như là "ngọn núi lửa dưới lớp băng tuyết" chính vì yếu tố được cho là nóng nảy đó.

Tướng Giáp có nhiều người ủng hộ nhưng cũng bị nhiều người gièm pha. Lúc còn công tác, ông thường xuyên đụng chạm với những người gièm pha và các đối thủ của ông, những người không ngần ngại chỉ trích ông. Những người phê phán ông xuất phát từ hai động cơ : Chủ nghĩa giáo điều về mặt ý thức hệ và lòng ghen tị, sợ rằng Tướng Giáp nổi tiếng sẽ làm quyền lực của họ suy yếu. Đấy là thời kỳ lãnh đạo tập thể vô danh.

Trong suốt sự nghiệp của mình, ông Giáp từng bị chỉ trích vì đã tìm kiếm một học bổng của chính quyền thực dân Pháp, có người thậm chí còn hàm ý rằng - nếu không nói là buộc tội ông - là một nhân viên Sở Mật thám Pháp.

Ông cũng bị đả kích vì học chương trình Pháp, có được bằng tú tài baccalauréat, học tại trường Trung học Albert Sarraut có uy tín, nơi ông đứng đầu môn triết học, và Trường Đại học Luật Hà Nội, nơi ông tốt nghiệp thủ khoa về kinh tế chính trị. Đối thủ của Tướng Giáp đã dùng thành tích học tập của ông để quật lại ông. Dẫu sao thì ông thành viên duy nhất trong ban lãnh đạo bên trong (tối cao) của Đảng có được một nền giáo dục phương Tây.

Các yếu tố không được phép nêu lên trong sự nghiệp của Tướng Giáp cho thấy một tập thể lãnh đạo chia rẽ và sự ganh đua rõ ràng giữa các cá nhân. Cuộc đối đầu giữa Tướng Giáp với nhà ý thức hệ Trường Chinh đã thành huyền thoại, tương tự như các cuộc đụng độ sau này của ông với Tướng Nguyễn Chí Thanh và ông Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất của Đảng Cộng sản.

 
Bất đồng với Trường Chinh về vai trò cố vấn Trung Quốc

Năm 1946, Trường Chinh, đứng thứ hai trong ban lãnh đạo sau Hồ Chí Minh, đã thất bại trong việc ngăn không cho ông Giáp được phong cấp Đại tướng và chức chỉ huy Quân đội Nhân dân. Trường Chinh và Tướng Giáp bất đồng về phạm vi và mức độ mà các cố vấn quân sự Trung Quốc có thể ảnh hưởng đến chiến lược chiến trường của Việt Nam, và trên quyền của Tướng Giáp được đơn phương bổ nhiệm các trợ lý quan trọng.

Vào năm 1951, Tướng Giáp đã cho mở một cuộc tấn công quá sớm vào các vị trí kiên cố của Pháp ở đồng bằng sông Hồng. Chiến dịch thất bại và Quân đội Nhân dân bị thương vong nặng nề. Tướng Giáp bị buộc phải tự phê bình, cách chức một số phụ tá quan trọng, cho phép thành lập một hệ thống chính trị viên trong quân đội, và chấp nhận các cố vấn quân sự Trung Quốc ở các cấp độ khác nhau trong Quân đội Nhân dân.

Sau khi Chiến tranh Đông Dương đầu tiên (1946-1954) kết thúc Việt Nam bị chia cắt. Mặc dù Tướng Giáp đã có uy tín rất lớn, nhưng những kẻ đả kích ông vẫn tiếp tục thách thức quyền lực của ông và đặt nghi vấn về cách ông điều hành cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Bí thư Thứ nhất của Đảng là Lê Duẩn muốn đẩy mạnh việc lật đổ chính quyền miền Nam, ông Giáp thận trọng hơn và hai người kình chống nhau.

Phe gièm pha Tướng Giáp đã thành công trong việc đề bạt ông Nguyễn Chí Thanh (1959) và sau đó là ông Văn Tiến Dũng (1974) lên cấp Đại tướng. Trước lúc những người này được thăng cấp, chỉ có ông Giáp mang cấp Đại tướng mà thôi. Cả hai vị tướng mới đề bạt về sau, đều đã giành lấy quyền kiểm soát hoạt động chiến tranh trong Nam từ tay của ông Giáp.

Vào năm 1960, Tướng Giáp đã bị đẩy lùi từ hàng thứ tư xuống hàng thứ sáu trong Bộ Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba. Chủ trương chung sống hòa bình của lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev vào năm 1960 là điều đã tác hại đến nhiều người trong giới lãnh đạo Việt Nam.

Tướng Giáp, người thiên về phía Liên Xô – nước đã hỗ trợ quân sự cho Việt Nam – và có thái độ phê phán với Trung Quốc, đã không đồng nhịp với các lãnh đạo khác. Một lần nữa, ông đã bị các đồng chí chỉ trích.

Trong năm 1965, khi Hoa Kỳ tung lực lượng chiến đấu vào Việt Nam, Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh ra lệnh tung các đơn vị Quân đội Nhân dân miền Bắc vào cuộc chiến. Nguyễn Chí Thanh là người thiết kế chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 nhưng qua đời vì một cơn đau tim trước khi chiến dịch được thực hiện. Lực lượng Cộng sản miền Nam nằm vùng bị thương vong rất lớn, Tướng Giáp được phuc hồi và uy tín của ông tăng thêm.

Sau cái chết của Hồ Chí Minh vào năm 1969, một bộ ba lãnh đạo mới nổi lên : Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp. Vào thời điểm đó, Tướng Giáp nắm ba vai trò quan trọng : Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, ông không bao giờ lấy lại được quyền kiểm soát hoạt động của các lực lượng vũ trang. Tướng Giáp đã phản đối cả hai chiến dịch Tết Mậu Thân và chiến dịch Nguyễn Huệ 1972, và ý kiến ông đã bị bác bỏ cả hai lần.

Tháng 4 năm 1972, Tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy chiến dịch Nguyễn Huệ và đến tháng 10 năm 1973, ông được trao quyền chỉ huy của cuộc tấn công cuối cùng của cuộc chiến : Chiến dịch Hồ Chí Minh. Điểm đáng chú ý, đó là sự kiện chính một Ủy viên dân sự cao cấp của Bộ Chính trị - ông Lê Đức Thọ - chứ không phải là Tướng Giáp, là người ra chỉ thị cho Quân đội Nhân dân bắt đầu chiến dịch tấn công cuối cùng của mình bằng cách tấn công Ban Mê Thuột ở vùng Cao nguyên.


Sau năm 1975, bị gạt ra bên lề, nhưng vẫn lên tiếng

RFI : Về các hoạt động của ông sau năm 1975, một số người cho rằng ông đã hoàn toàn không còn vai trò gì, nhưng cũng có người thấy rằng người ta gạt được ông ra bên lề, nhưng không hoàn toàn bịt miệng được ông. Ý kiến ​​của Giáo sư như thế nào ?

Carl Thayer : Sau khi Việt Nam thống nhất, Tướng Giáp vẫn làm Bộ trưởng Quốc phòng cho đến năm 1980. Nhưng chính Tướng Văn Tiến Dũng là người chỉ huy quân đội Việt Nam đánh qua Cam Bốt vào cuối năm 1978 và bảo vệ miền Bắc Việt Nam vào tháng Hai - tháng Ba năm 1979 khi Trung Quốc xâm lăng Việt Nam để trả thù.

Rõ ràng ngôi sao của Tướng Giáp vào thời điểm đó lu mờ nhanh chóng. Năm 1976, Tướng Văn Tiến Dũng là người đọc báo cáo quân sự tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ tư, còn Tướng Giáp được phân công nói về các chính sách của Đảng về khoa học và công nghệ. Tướng Giáp cũng không thành công khi phản đối việc giao cho quân đội nhiệm vụ xây dựng đất nước sau chiến tranh. Ông đã phải cúi đầu trước nguyên tắc "tập trung dân chủ" của Đảng và bảo vệ chính sách của Đảng trước công chúng.

Tháng 2 năm 1980, Tướng Giáp rời khỏi Bộ Quốc phòng, nhưng vẫn giữ chức Phó Thủ tướng. Năm 1981, ông thoạt đầu bị giáng cấp từ Phó Thủ tướng thứ nhất xuống làm Phó Thủ tướng thứ ba. Đến tháng Ba năm 1982, Tướng Giáp bị loại ra khỏi Bộ Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ năm, nhưng vẫn giữ được chức Ủy viên Trung ương Đảng.

Tướng Võ Nguyên Giáp rất được lòng dân và có hậu thuẫn mạnh mẽ trong Đảng. Vào giữa những năm 1980, những người ủng hộ ông đã thất bại trong việc đưa ông lên thay thế ông Phạm Văn Đồng ở chức Thủ tướng. Cũng có rất nhiều tin đồn về việc những người ủng hộ Tướng Giáp vận động để ông trở thành lãnh đạo Đảng. Sau đó, ông Giáp lần lượt phụ trách vấn đề nhân khẩu học và kế hoạch hóa gia đình, rồi vấn đề giáo dục. Ông rời khỏi chính quyền vào năm 1991 khi về hưu trong tư cách là Phó Thủ tướng.

Rất khó đánh giá về những đóng góp của Tướng Giáp trong giai đoạn này. Việt Nam khi ấy được lãnh đạo tập thể, và cho đến năm 1986 vẫn tiếp tục đi theo mô hình kế hoạch tập trung không thành công của Liên Xô. Điều đáng nêu bật là Tướng Giáp tiếp tục hoạt động trong chính phủ cho đến năm tám mươi tuổi.

 
Kiên trì bảo vệ chủ quyền Việt Nam trước Trung Quốc

RFI : Có người cho rằng gần đây Tướng Giáp rất lo ngại về sự thao túng của Trung Quốc đối với Việt Nam. Nhận định này có phần nào đúng hay không ?

Carl Thayer : Sự nghiệp quân sự lâu dài của Tướng Giáp cho thấy rõ là ông sẵn sàng chấp nhận sự giúp đỡ của Trung Quốc và kể cả những tư vấn, nhưng ông vẫn đấu tranh để giữ được sự tự chủ và độc lập trong hành động của Việt Nam.

Tướng Giáp nghiêng về Matxcơva nhiều hơn Bắc Kinh trong thời kỳ chiến tranh, vì sự chi viện quân bị to lớn của Liên Xô cho Việt Nam - bao gồm cả tên lửa phòng không. Mặc dù Liên Xô được cho là đã khuyên Tướng Giáp “thực hiện một vụ Afghanistan” bằng cách tấn công Cam Bốt và lật đổ chế độ Khmer Đỏ được Trung Quốc ủng hộ, Tướng Giáp vẫn chống lại việc can thiệp quân sự trên quy mô lớn.

Khi Trung Quốc và Việt Nam bình thường hóa quan hệ trở lại vào năm 1991, Tướng Giáp đã hoàn toàn nghỉ hưu

Trong những năm tháng nghỉ hưu, Tướng Giáp rất được biết đến với hai lần lên tiếng.

Năm 2004, ông đã viết thư cho Bộ Chính trị phê phán sự can thiệp của tình báo quân đội (Tổng Cục II) vào các công việc nội bộ của Đảng.

Năm 2009, ông thu hút sự chú ý của công luận khi viết ba thư ngỏ gửi tới các lãnh đạo Đảng và Nhà nước cảnh báo tác động môi trường của dự án khai thác bauxite, do Trung Quốc tài trợ, ở Cao nguyên Trung phần. Ông đề cập đến vấn đề này với lập luận rằng đó là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia.

Sự kiện đó gây ra một dây chuyền cộng hưởng trong dân chúng nói chung, đang ngày càng lo lắng trước sự quyết đoán của Trung Quốc tại Biển Đông.

 
Vị anh hùng Việt Nam cần khi phải đối mặt với ngoại bang xâm lược

RFI : Giáo sư giải thích thế nào về việc Tướng Giáp được lòng dân đến như vậy ?

Carl Thayer : Tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà chiến lược quân sự tầm cỡ thế giới. Vào năm 1944 - khi ông chỉ huy một trung đội 34 người - ai có thể nghĩ được rằng trong vòng 10 năm, ông đã phát triển lực lượng lên thành một quân đội có hàng trăm ngàn binh sĩ và đánh bại được Pháp, một trong những thế lực quân sự mạnh nhất vào thời điểm đó ? Tướng Giáp đã có được uy phong rất lớn với chiến thắng tại Điện Biên Phủ, một sự kiện đã để lại dấu ấn trong suốt cuộc đời ông.

Sự được lòng dân của ông dựa trên nhiều nền tảng. Trước tiên, hàng triệu người Việt Nam đã phục vụ trong Quân đội Nhân dân khi Tướng Giáp là Tổng chỉ huy và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông là nguồn cảm hứng của họ. Các cựu chiến binh và gia đình của họ là một thành phần to lớn trong cư dân tại Việt Nam.

Thứ hai, sau Hồ Chí Minh và có thể Phạm Văn Đồng, Tướng Giáp là lãnh đạo quốc gia duy nhất nổi bật bên trên một ban lãnh đạo tập thể mờ nhạt. Ông có sức lôi cuốn, phát biểu lưu loát và truyền cảm hứng cho người dân. Ông là vị anh hùng mà Việt Nam cần có khi phải đối mặt với sự xâm lược của ngoại bang, từ năm 1946 đến 1973 và sau đó, trong những năm 2000, khi Trung Quốc đe dọa chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.

Sau thời gian làm một nhà quân sự, Tướng Giáp đã phụ trách những lãnh vực quan trọng liên quan đến sự phát triển như khoa học và công nghệ, dân số và kế hoạch hóa gia đình và giáo dục. Đó là nền tảng thứ ba của việc ông được lòng dân.

Uy tín Tướng Giáp trong dân chúng còn dựa trên sự thành công của ông trong suốt 64 năm phục vụ Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam và đất nước Việt Nam. Ông sẽ luôn luôn được tưởng nhớ như là người chỉ huy chính, đã đánh bại hai cường quốc lớn.

Rõ ràng, Tướng Giáp đã thu hút được cảm tình của cả hai thế hệ trẻ và già tại Việt Nam. Điều này được thấy qua việc người dân đủ mọi lứa tuổi thể hiện sự đau buồn, tự động đổ xô đến nhà ông để thắp nến và hương.

Tướng Giáp là hiện thân của một chính khách Việt Nam biết sử dụng trí tuệ để đưa ra các chiến thuật và chiến lược cho phép kẻ có vẻ là yếu đánh bại được kẻ mạnh.