Hiển thị các bài đăng có nhãn cao huy thuần. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cao huy thuần. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2019


THẦY TRÍ QUANG
Một trang lịch sử

Cao Huy Thuần
  
(Thầy tôi, Trưởng lão Hòa Thượng Thích Trí Quang, vừa thị tịch hôm qua, 8-11-2019. Di huấn để lại: không bàn thờ, không bát nhang, không báo tang, không phúng điếu, không vòng hoa, không đưa đám. Tôi chỉ xin phép Thầy thắp một nén nhang tưởng niệm)
 
           Tôi có hai lần khai sinh. Lần thứ nhất khi tôi sinh ra. Cha mẹ tôi cho tôi hình hài, máu huyết. Nhưng tôi chưa biết tôi là ai, sống như thế nào, trên đường nào tôi sẽ đi. Sinh ra, tôi có hai mắt. Nhưng chưa thấy đường đời. Phải đợi đến khi lên chùa Từ Đàm, sau ngày ông Diệm bị lật đổ, tôi mới thấy con đường sẽ đi. Thảo nào chữ nghĩa bác học gọi con đường là đạo. Thấy đạo, tôi khai sinh cho tôi.
            Đầu năm 1964, một nhóm giáo chức đại học Huế họp nhau tại trường Đại học sư phạm để quyết định về việc ra một tờ báo tranh đấu tiếp nối khí thế của "cách mạng" 1963, chống lại khuynh hướng lập một "chế độ Diệm không có Diệm" được người Mỹ ủng hộ. Trong dự định ban đầu, tờ báo là tiếng nói của lực lượng giáo chức và sinh viên Huế đã tham gia vào việc lật đổ Diệm. Chuếnh choáng hơi men chiến thắng của một cuộc nổi dậy thành công, tham vọng của chúng tôi là biến đại học thành một thành trì chống độc tài. Tuổi trẻ thường có những giấc mơ phạm thượng. Buổi họp giao cho ba chúng tôi, anh Tôn Thất Hanh, anh Lê Tuyên và tôi, trách nhiệm suy nghĩ và điều khiển tờ báo. Tên của tờ báo, Lập Trường, là do chúng tôi đặt ra.
             Lúc đó tôi 27 tuổi. Ít lâu sau buổi họp, tôi được mời ăn cơm với ông tướng chỉ huy Vùng I chiến thuật. Khi đó tôi mới thấy mình đang chơi một trò chơi quá so le trước gươm giáo, với một tuổi đời còn quá non và một tầm nhìn không xa hơn quyển sách. Quần chúng, tờ báo có. Nhưng dăm ba anh nhà giáo thì an ninh quân đội muốn tóm lúc nào chẳng được? Nương thế "cách mạng", chúng tôi ra báo không cần xin phép, nhưng anh sĩ quan tâm lý chiến đang ngồi ăn cơm chình ình trước mắt tôi, tôi qua mặt anh ta được chăng? Viết bài thì phải có lập trường chống Cộng hẳn hoi, anh ta khuyên nhủ thế, không chống Cộng tức là thân Cộng. Tôi viết thế nào đây? Viết thế nào khi có một bức màn sắt chia hai giữa quân đội và quần chúng, một bên biện minh rằng đảo chánh Diệm là để chống Cộng tốt hơn, một bên đòi thanh trừng vây cánh của chế độ cũ để khỏi bị độc tài đàn áp nữa? Trong tình thế đó, Lập Trường là con chuột nhắt khốn đốn dưới nanh vuốt của ba con mèo: tướng tá, người Mỹ, và dư đảng Cần Lao của ông Diệm.
            Về chiến thuật, chúng tôi có thể tạm thời tìm đường sống bằng cách khai thác mâu thuẫn quyền lực giữa các tướng tá cát cứ mỗi vùng để giữ một thế đứng độc lập ở miền Trung, làm đối trọng với thủ đô Sài Gòn. Nhưng đó không phải là một cái thế trường kỳ. Cũng về chiến thuật, chúng tôi có thể nói với người Mỹ: ông chống Cộng mà không có dân thì ông chống với ai? Ông hô hào tự do mà ông không để cho dân tự định đoạt vận mệnh của mình bằng lá phiếu thì ông tự do chỗ nào? Nhưng đó là lấy lý nói với lý; trên thực tế người Mỹ đâu có làm chiến tranh vì lợi ích của dân Việt Nam? Chỉ với hai con mèo ấy thôi, chuột nhắt chúng tôi đã chưa biết tờ báo sẽ sống chết lúc nào. Nói gì con mèo thứ ba, các lực lượng tôn giáo quá khích, sinh ra và lớn lên nhờ chiến tranh. Chỉ với một lý luận này thôi, họ đã dồn chúng tôi vào chỗ bí: quốc sách đã là chống Cộng, vậy thì chỉ có chống Cộng với những lực lượng chống Cộng, không thể chống Cộng với những kẻ lừng khừng.
            Chỗ dựa duy nhất của chúng tôi là quần chúng đang căm giận dư đảng của chế độ cũ. Nhưng quần chúng mà không có tổ chức thì khác nào gạch đá không có xi măng? Sự thế hiển nhiên thúc đẩy chúng tôi đi tìm xi măng. Nghĩa là lên chùa Từ Đàm! Chứ đâu nữa? Từ Đàm chẳng phải là nơi đã khởi đầu và tạo nội dung, hình hài, ngọn lửa cho cuộc tranh đấu hay sao? Tôi phải kể rõ ngọn ngành như vậy để giải thích tại sao một tờ báo bắt nguồn từ đại học lại trở thành một tờ báo được xem như tiếng nói bán chính thức của Từ Đàm, nghĩa là của Phật giáo.
            Chùa không làm chính trị: thái độ đó của Phật giáo chắc như đinh đóng cột. Lý tưởng của bọn trẻ chúng tôi cũng vậy, trùng hợp với chùa như bản chính với bản sao, có ông trời đóng dấu. Hồi đó, Sartre là ông thần triết lý của thời đại chúng tôi, và vở kịch "Les mains sales" của ông làm chúng tôi mê tít: chính trị là lĩnh vực của "những bàn tay bẩn" mà chúng tôi ghê tởm. Chúng tôi đang say men tranh đấu, chưa thừa hưởng được bả rượu chính trị của các bậc trưởng thượng. Lên chùa Từ Đàm với tâm hồn phơi phới giống như đi tìm lại thời gian chưa mất, nói phỏng theo văn chương của Proust. Một lần nữa, tôi kể rõ ngọn ngành như vậy để trả lại cho César cái gì của César: tờ Lập Trường không phải là do chùa Từ Đàm lập ra, không phải là công cụ chính trị của Thầy tôi.
            Thầy tôi, Trí Quang, ngồi trong phòng khách, nhìn ra sân khi chúng tôi đến. Thầy chào bằng một nụ cười, trên miệng và trên mắt. Hai mắt là cái hồn trên mặt Thầy. Mắt Thầy sáng quắc, dữ. Sau 1963, quần chúng thần tượng hóa lãnh tụ, kháo nhau "mắt Thầy có điện". Cặp mắt ấy quyến rũ tôi ngay từ phút đầu, không phải vì "có điện" mà vì nó trở nên hiền hòa ngay khi Thầy cười. Hai con mắt Thầy cùng cười với miệng, cái dữ biến đi đâu mất. Với cái hồn hiền hòa ấy trên mắt Thầy, tôi quên tuốt đã nói chuyện gì buổi chiều hôm đó, hình như chẳng có chuyện gì quan trọng, hình như cũng chẳng đề cập đến cả tờ báo, hình như giữa bản sao với bản chính có chuyện gì nữa đâu mà nói với ông trời. Thế mà, khi từ giã Thầy, chúng tôi có cảm tưởng như mình đã là chiếc đũa trong một bó, muốn bẻ gãy cũng không dễ. Tờ báo ra đời sau đó. In ở nhà in đại học và trong sự chờ đợi nóng hổi của quần chúng, in bao nhiêu cũng không đủ bán, bán cũng không nghĩ đến chuyện thu tiền. Đó là giấy khai sinh thứ hai của tôi.
            Tờ báo ra đời trong bối cảnh "cách mạng" 1963 bị phản bội. Lý lẽ của chiến tranh buộc người Mỹ ủng hộ tích cực những lực lượng chủ trương chiến tranh; những lực lượng này, được thể, quay lại trả thù những người đã tham gia lật đổ chế độ cũ. Diệm đổ, nhưng chính quyền Diệm vẫn còn y nguyên từ trung ương đến xã thôn, với bộ máy đàn áp không suy suyển. Chiến tranh cho phép họ trả thù với một lý lẽ sơ đẳng và đui mù như bom đạn: chúng nó là cộng sản, chúng nó tiếp tay cho cộng sản, cộng sản mạnh lên là vì chúng nó. Chiến tranh còn cho phép họ trả thù những người cầm đầu phong trào một cách "hợp pháp" trâng tráo: tóm chúng nó đi lính là xong! Ai muốn hiểu những diễn biến chính trị trong những năm 1964-66 chỉ cần suy nghĩ trên sự đối đầu giữa hai tranh chấp về thừa kế: thừa kế Diệm hay thừa kế phong trào lật đổ Diệm. Thừa kế Diệm tức là tiếp tục chiến tranh và dựa trên chiến tranh để nắm quyền. Thừa kế 1963 là đòi tuyển cử để lập một chế độ mới. Khí giới của phe kia là bom đạn. Khí giới của phe này là lá phiếu. Có một lúc, người Mỹ cũng bị phanh thây: họ thừa biết bom đạn không giải quyết được tất cả, làm chiến tranh mà không có dân thì khác nào lùa dân qua phía cộng sản. Nhưng, như một ngạn ngữ của họ đã nói, rốt cuộc "chim cùng lông thì cùng bay với nhau".
            Thế nhưng, oái oăm của thời cuộc, dân chúng cũng không phải là con số không, dù là trước mắt tướng tá. Lồng trong chiến tranh còn có một bối cảnh khác cũng lao xao binh khí: tranh giành quyền lực giữa các ông tướng chỉ huy các vùng chiến thuật. Giữa họ với nhau, đảo chánh lật nhau không khó; giữ thế đứng của mình trong vùng cát cứ khó hơn, mà muốn thế phải dựa vào dân, trước hết là mấy ông "nhân sĩ" được dân nghe. Chúng tôi, ở miền Trung, có cái thế đó để đối đầu với các ông tướng ở Sài Gòn và đòi họ "cách mạng". Trong bối cảnh ấy, Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc ra đời tại Huế năm 1964. Do tờ Lập Trường chủ xướng, hành động này là để bảo vệ thành quả của 1963, chống lại một cuộc đảo chánh ở trung ương của phe tướng tá thân chế độ cũ. Tổ chức này cũng vậy, không do Thầy tôi đẻ ra; lúc ấy Thầy đang ở Sài Gòn. Ai học lịch sử cách mạng Pháp đều biết Comité de Salut public. Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc là dịch nguyên văn tổ chức của Robespierre. Trong đầu bọn trẻ trí thức nửa mùa chúng tôi hồi đó, 1963 như được ủ hơi men của cách mạng 1789 thần thoại.
            Ra đời chưa kịp khóc ba tiếng, các tỉnh ở miền Trung đã tức tốc đẻ theo, cùng một khuôn, một mặt, các HĐNDCQ địa phương. Tự động đẻ. Chẳng do chỉ thị một ai. Rồi cũng tự động, các HĐNDCQ khắp miền Trung kéo nhau về Huế để thống nhất đường lối. Tranh đấu trở thành chính trị. Mà toàn là tự động! Ký giả ngoại quốc bắt đầu kéo nhau đến Huế, tưởng như sắp chứng kiến một màn thay bậc đổi ngôi. Người Mỹ lân la dọ ý chúng tôi về tướng Thi, tư lệnh Vùng I, tưởng như HĐNDCQ sắp sửa làm bàn đạp cho một người hùng mới. Miền Trung bỗng nhiên trở thành trung tâm chính trị mà Huế là đầu não một cách tự phát, tự phất. Quần chúng hưởng ứng nhiệt liệt, chẳng cần biết lãnh tụ của HĐNDCM là Bác sĩ Quyến hay là ai. Mơ hồ, họ chỉ thấy ai đó "đằng sau" tờ Lập Trường, nghĩa là Thầy tôi.
            Họ thấy như vậy cũng không phải là vô căn cứ. Không có Thầy, sao lại có một "Thư về Huế" của Thầy đăng trong Lập Trường, ngày 23-5-1964? Thầy viết: "Tiếng "thầy" được kêu lên trong khi chết chóc, trong cơn điên loạn, trong những ngày Từ Đàm bị bao vây và tấn công như một chiến khu, tiếng "thầy" được gọi lên trong nước mắt và máu, tiếng "thầy" đó, tôi biết Phật tử Huế đã dành cho tôi". Giữa lãnh tụ và quần chúng, mấy ai có được sự gắn bó thiết tha như vậy. Chừng đó thôi, mấy lời tình cảm huyết lệ ấy đủ để quần chúng biết Thầy ở đâu mà đứng theo Thầy. Từ tờ Lập Trường cho đến HĐNDCQ, tôi lặp lại, trí thức ở Huế không phải là công cụ của Thầy, Thầy không nhúng tay vào bất cứ hành động nào của họ, nhưng không có Thầy thì họ không phải là họ, được dân thương đến thế. Ai muốn hiểu Thầy tôi thì hãy hiểu Thầy qua ngọn lửa Quảng Đức, đừng lầm Thầy như một chính trị gia, vị thế đó thấp kém lắm, không xứng đáng với Thầy. Tự gánh trên vai trách nhiệm về ngọn lửa Quảng Đức, Thầy không thể cho phép thời cuộc phản bội lại ngọn lửa đó, chỉ thế thôi.
*
            Nhưng thời cuộc không phải lúc nào cũng chiều Thầy. Miền Trung, trở thành một trung tâm chính trị, sẽ đưa Thầy vào một thế khó xử, khi tranh chấp giữa địa phương với trung ương leo thang đến mức ly khai. Ly khai? Sao nghe được! Nhưng  bỏ quần chúng nửa đường, sao đành! Thầy như một sĩ quan chỉ huy một chiến hạm bị địch bắn đắm, danh dự phải giữ là chịu đắm theo tàu. Đây là nguồn cơn của biến động miền Trung năm 1966. Một biến động đè nặng trong lòng Thầy, khó nguôi.
            Bối cảnh của 1966 là chiến tranh lan rộng, tiến gần thành phố, ban đêm đại bác đã dội về tận Sài Gòn, làm rung cửa sổ. Từ chống chiến tranh, Phật giáo đứng lên đòi  hòa bình, theo đề nghị của Thầy. Tiếng nói đó làm phiền cả hai bên, nhưng trực tiếp và sát cạnh là người Mỹ. Đòi cách mạng, họ còn nhịn. Đòi hòa bình, họ nổi khùng. Làm sao vượt qua chống đối của họ bằng chính triết lý căn bản của họ? Thầy đòi bầu cử Quốc hội lập hiến. Trong khí thế sôi động ở miền Trung, Thầy nghĩ ảnh hưởng sẽ lan vào Sài Gòn và bầu cử sẽ bất lợi cho những ai chủ trương chiến tranh. Mà thật vậy! Không riêng gì miền Trung, toàn thể các tỉnh đến tận Sài Gòn, mọi tầng lớp dân chúng, chỉ trừ những lực lượng tôn giáo sống chết với chiến tranh, nhiệt liệt ủng hộ chủ trương bầu cử để thay thế chế độ tướng tá bằng một chính phủ dân sự. Dân chúng biểu tình ở Sài Gòn, chiếm cả sân bay Tân Sơn Nhất, kêu gọi đình công, trương cả biểu ngữ "Yankee Go Home". Miền Trung thì khỏi nói: ngay cả quân nhân, ngay cả tướng tư lệnh, cũng sát cánh với dân thường, cảnh sát, công an sát cánh với công chức, trí thức, sinh viên, thương gia, tạo nên một phong trào đòi hỏi bầu cử. Đố một ông tướng nào tại vị ở miền Trung mà dám đi ngược lại phong trào. Đố Thiệu-Kỳ đưa được một tướng khác thay thế. Đố ông Kỳ lột chức được thị trưởng Đà Nẵng bằng cách nào khác hơn là dọa bắn vào đầu ông Mẫn. Phe quân đội chia hai: một bên là đồng minh của Thiệu-Kỳ, dựa trên những đảng phái và tôn giáo thánh chiến, sợ bầu cử sẽ có lợi cho Phật giáo; một bên là đồng minh của miền Trung, quân và dân hiếm khi một dạ một lòng như vậy. Một lòng đến nỗi tư lệnh sư đoàn I huấn luyện quân sự cho sinh viên, thanh niên, phát vũ khí cho họ để bảo vệ Huế, tiếp ứng Đà Nẵng, dọa sẽ chống lại Kỳ nếu Kỳ dùng bạo lực.
            Quân và dân sát cánh tại miền Trung thì người Mỹ sát cánh với Thiệu-Kỳ trong chiến dịch đàn áp và phân hóa Phật giáo. Họ sẽ phân hóa được bằng cách lập một cánh Phật giáo đối nghịch với Thầy tôi. Nhưng trước khi đó, họ thẳng tay đàn áp phong trào cái đã, tại Sài Gòn trước, tại miền Trung sau. Phân hóa hay đàn áp, mục tiêu họ nhắm là Thầy tôi. Triệt hạ Thầy thì triệt hạ được phong trào hòa bình, đập nát được thanh thế miền Trung mà Westmoreland, mà Taylor, mà Lodge, mà Rostow xem như thành trì Phật giáo. Hơn thế nữa, triệt hạ Thầy tôi thì họ sẽ tương kế tựu kế tổ chức được một Quốc hội theo ý họ, gạt Phật giáo vĩnh viễn ra khỏi các cơ quan dân cử, leo thang chiến tranh. Súng đạn đi đầu lá phiếu.
            Lấy cớ trừng phạt ly khai, ông Kỳ dồn đại quân ra Đà Nẵng, nhắm Huế. Dân chúng tự động đem bàn thờ ra ngoài đường để cản chiến xa từ Quảng Trị vào An Hòa. Trong vòng nửa giờ, các đường chính của thành phố Huế đã đầy bàn thờ Phật. Thầy nói: Thầy bị động. Trước sự đã rồi, Thầy ra lệnh chính thức. Quần chúng thỉnh Phật ra đường, hương án trang nghiêm, tụng niệm như ở trong nhà, như ở trong chùa. Kỳ điều đình với Thầy. Thầy không trả lời. Kỳ giới nghiêm, tung tiểu đoàn "Trâu Điên" xung kích, bắn, bắt, đánh, đập, uống bia cho say rồi vung chai đập đánh, đánh cả sinh viên, học sinh.
            Trước đó, binh sĩ Vùng I và sinh viên "quyết tử" đã quyết ăn thua đủ với Kỳ, dàn trận bên này đèo Hải Vân, chực nổ súng. Công binh đã đặt mìn, sẵn sàng phá hủy các cầu từ Đà Nẵng ra, từ Quảng Trị vào, cắt đứt tiếp vận từ Quảng Trị. Tại Huế, đại pháo và đại liên đã được bố trí dọc theo kỳ đài, chỉa xuống bộ tư lệnh giới nghiêm đóng tại Phu Văn Lâu. Quân nhân hỏi ý Thầy. Đau xót: ông thầy tu trong Thầy không cho phép Thầy dùng bạo lực. Đưa bàn thờ ra đường là tranh đấu bất bạo động. Nổ súng là bạo động, Thầy đành bảo họ hủy mìn, dẹp súng. Nội chiến là chuyện Thầy không làm, dù hậu quả là cả quân lẫn dân Phật tử bị bắt, bị đàn áp sau đó. Thất bại, Thầy đành chịu. Nhưng bất bạo động là kim chỉ nam của Thầy. Khí giới duy nhất của Thầy là tuyệt thực. Bị bắt và giải về Sài Sòn, Thầy tuyệt thực đúng 100 ngày.
            Trong biến cố 1966, một tờ báo lớn Mỹ đặt câu hỏi to tướng: Ông Trí Quang muốn gì? Muốn gì mà ông chống hết chính quyền này đến chính quyền khác? Muốn gì mà ông không biết nhân nhượng? Muốn gì mà ông đòi Quốc hội? Rồi muốn gì mà ông hết đòi Quốc hội lại chống Quốc hội? Trong bấn loạn hỏa mù của đảo chánh và chiến tranh, của ngoại thuộc và nội chiến, nếu chịu khó nhìn và hiểu thì những gì mà Thầy tôi muốn cực kỳ đơn giản, có thể tóm gọn vào trong một bức thư, "Thư về Huế" mà tôi đã nói ở trên.
            Thầy tôi muốn gì năm 1964? Dân đã lật ông Diệm thì cứ tưởng là rạng đông sẽ sáng sau đêm tối âm u. Nhưng ai ngờ! "Ai ngờ sự vận động để cải thiện chính sách thực đã không đơn giản như chúng ta tưởng. Đảo chính quá dễ nhưng cách mạng quá khó. Hóa cho nên đời sống hiện tại của chúng ta và của tín ngưỡng chúng ta gần như vẫn ác mộng giống quá khứ và chưa chừng mà tiếp tục cả đến tương lai". Thầy muốn gì? Muốn cái đuôi của ông Diệm không làm khổ dân và khổ Phật giáo.
            Bằng cách nào? "Nỗ lực và nỗ lực một cách liên tục để chấm cho dứt những chính sách không phù hợp với sự sinh tồn của Dân tộc và Phật giáo, phát triển Phật giáo bằng sự thực hiện của bản thân mà không bằng cách làm thương tổn các tôn giáo khác, càng nêu cao đức tính Từ bi bao nhiêu lại càng thực hiện đức tính Vô úy bấy nhiêu: đó là "ý thức Phật tử" đơn giản vô cùng nhưng khó khăn vô tận".
            Đúng là khó khăn vô tận, vì Thầy thất bại năm 1966. Nhưng thế nào là "ý thức Phật tử" vào thời cuộc 1966? Là đại bác dội đêm, là chiến tranh, là phải hòa bình. Có người tưởng Thầy tôi đòi hỏi Quốc hội để chiếm đa số, để khuynh loát, để thủ diễn vai tuồng mới trên chính trường miền Nam. Họ chịu khó nhìn chính trị ở miền Nam một cách lô gích thì biết Thầy tôi muốn gì: chừng nào còn chiến tranh, chừng đó còn người Mỹ; chừng nào còn người Mỹ, chừng đó còn bộ máy quân sự phục vụ chiến tranh; chừng nào còn bộ máy quân sự phục vụ chiến tranh, chừng đó còn những thế lực ăn theo chiến tranh; chừng nào còn những thế lực ăn theo chiến tranh, chừng đó Phật giáo còn bị đè xuống, chận họng. Cách giải quyết vấn đề, đứng trên cương vị của một ông thầy tu, là tháo vất cái mắc xich đầu tiên, là chấm dứt chiến tranh! Thế là làm chính trị hay sao?
            Thầy tôi mang đủ thứ tiếng. Có người nói Thầy thân Cộng. Có người nói Thầy thân Mỹ. Có lúc Thầy được đội cả hai cái mũ một lần. Lẳng lặng, Thầy nói với người thân: "Càng nhiều mũ càng tỏ ra thật không có mũ nào. Trái lại, càng nhiều mũ càng tốt: càng làm cao lên, và rõ ra, cái tư thế đặc biệt của Phật giáo. Nên Phật giáo không cần tránh mà còn cần đến cái tác dụng  nghịch lý ấy".
            Chính cái nghịch lý ấy làm nên Thầy. Thầy là một nghịch lý to tướng. Một ông thầy tu có tầm cỡ và sức thu hút đặc biệt của một nhà chính trị lớn, lớn nhất miền Nam lúc đó, nhưng lại từ khước cái khả năng hiếm có ấy để làm ông thầy tu. Câu hỏi mà các ký giả Mỹ đặt ra về Thầy không phải là không có căn cơ: họ bị Thầy thu hút như một tài năng chính trị, nên họ không thể tưởng tượng Thầy thật không muốn làm chính trị. Họ lầm.
            Bây giờ thì chắc người ta hiểu Thầy hơn. Thời thế bắt buộc Thầy phải xông trận, như một người lãnh đạo. Nhưng đó là cái thế bất đắc dĩ của một ông thầy tu cỡ lớn, quá lớn để từ khước một trách nhiệm đặc biệt mà lịch sử bất thần đặt lên vai. Nhưng Thầy không bị lịch sử lừa phỉnh để đi vào con đường khác với con đường của ông thầy tu. Cái vui thú của Thầy là lúc Thầy được xa cái chợ chính trị để làm cái việc của ông thầy tu là dịch kinh, giảng kinh. Trăm ngày tuyệt thực, đó là lúc Thầy vui. Vì Thầy làm được cái việc Thầy muốn: viết được hai bản thảo "Nghiên cứu Khởi tín luận" và "Khảo luận Tây du bằng Duy thức học". Ông thầy tu tuyệt thực như thế nào, với tâm trạng gì? Thầy nói: "Có hai việc mà tuyệt thực tuyệt đối phải có. Một là phải có một tâm thức thanh thản, không buồn, không giận, không cầu hồ gì. Không cầu chết cũng không sợ chết, tiếp cận hoàn toàn với đức hỷ xả của Phật. Hai là tuyệt đối không ăn, dĩ nhiên, cũng không uống, không chích bất cứ thứ gì". Thân thì không ăn uống, tâm thì hỷ xả. Ấy là ông chính trị gia hay ông thầy tu?
            Thầy tôi có thắng có bại trong hành động, như bất cứ ai hành động. Nhưng thắng, Thầy dành cho người khác hưởng; bại, Thầy nhận một mình. Thắng hay bại, Thầy đều cô đơn. Suốt đời, Thầy cô đơn. Sau mỗi tranh đấu thắng lợi, bao giờ cũng có  lắm anh chính khách xun xoe sau lưng các lãnh tụ. Ai tranh đấu bên cạnh Thầy chỉ hưởng cơm hẩm nước rau. Suốt đời, Thầy không nhân nhượng với cái gian, cái ác, cái xảo quyệt, cái ma lanh ma lẹ của bán buôn chính trị. Về riêng Thầy, có lần tôi nghe Thầy nói một câu bâng quơ: nước trong quá thì không có cá. Có gì để nhậu nhẹt trong cái am của Thầy đâu! Ai chơi hoa, cắm hoa đều biết: dù hoa thanh khiết đến bao nhiêu đi nữa, sau ba ngày thì nước trong bình bắt đầu hôi. Có kẻ chỉ thấy hoa đẹp, không thấy nước hôi. Thầy thấy nước hôi, không dùng hoa đó để cúng Phật. Tôi học được ở Thầy cái nhìn đó để không sợ cô đơn trong cuộc đời. Và trong sự thật.
*
            Thầy sống cô đơn như vậy từ sau 1975 đến nay, không màng thế sự, khen chê, không thanh minh, không tiếp khách. Thầy sống như Thầy đã tuyệt thực, thanh thản dịch kinh. Thầy sống như để trả lời câu hỏi về Thầy ngày trước: Thầy chỉ là một ông thầy tu không hơn không kém, bây giờ cũng như bao giờ. Có điều là ông thầy tu này có cặp mắt sáng quắc, dữ thì thật dữ mà hiền thì thật hiền, khi dữ thì Vô úy, khi hiền thì Từ bi, hai chữ đỏ như son trong Lập Trường ngày trước. Tôi không biết nên nói gì với tuổi trẻ ngày nay ngoài hai chữ mà tôi đã học được ngày xưa.
            Vô úy, ai cũng đã thấy nơi Thầy. Không sợ! Còn Từ bi? Từ bi không phải chỉ là lòng thương. Phải là lòng thương nào có thể vừa cho vui vừa cứu khổ. Điều này, Phật tử ai cũng rõ. Nhưng ít ai biết tại sao phải từ bi như là một định luật. Thầy giảng: tại vì sống là tương quan, không ai có thể sống một mình, cho nên sống là phải giúp nhau, cho vui và cứu khổ lẫn nhau. Lòng từ bi đó tạo cho mình cái nhìn bình đẳng: thấy tất cả đều khổ, do đó mình phải cho vui và cứu khổ hết thảy.
            Thầy giảng, tôi hiểu suốt. Và tôi biết đó là lý tưởng của Thầy, Thầy sống như vậy. Nhưng thắc mắc của tôi là ông thầy tu của tôi từ bi như thế nào trong những hành động mà dù muốn dù không cũng mang tính chính trị? Tôi đọc Thầy: "Cứu cánh của từ bi là thấy người với mình là một, thân người tức thân ta… Do từ bi, mình tự đưa mình ra chịu khổ cho người. Xem tất cả như con một, thấy thân người như thân mình, thì còn có gì mà không làm nổi?"
            Thầy tôi rất Thầy tôi ở mấy chữ "còn có gì mà không làm nổi". Người ta nể Thầy, sợ Thầy, phe nào cũng sợ Thầy là vì ở Thầy toát ra mấy chữ ấy. Nhưng cái gì nơi người ta sợ Thầy? Cái gì sợ từ bi? Cái ác! "Nhất là vào thời đại này - Thầy viết - thời đại mà về mặt tâm lý ta có thể thấy rõ rệt khắp đây đó hiện thân của lòng tàn ác. Tàn ác, như một ngọn lửa tỏa khói đen nghịt và cao ngất, phủ bọc lấy loài người đau khổ. Mà chống lại lòng tàn ác thì chỉ có lòng từ bi".
            Phải đọc thêm một câu nữa để thấy văn tức là người, giọng văn của Thầy thế nào thì Thầy sắc như thế ấy, hiện thân ra như thế ấy trước mắt đối phương, nghĩa là cái ác: "Bởi vậy, kẻ nào mỉa mai rằng thời đại này mà còn nói đến chuyện từ bi, thì kẻ ấy chính là kẻ đang tàn ác. Kẻ nào trực tiếp hay gián tiếp làm tổn thương đến uy lực của từ bi là kẻ tội ác của nhân loại, kẻ gieo thảm họa cho loài người. Nếu phải thí dụ kẻ đó là kẻ ma quân thì ma quân ấy chỉ khiếp sợ mỗi một tâm lý độc nhất, tâm lý từ bi mà thôi".
            Tôi gặp Thầy tôi khi lịch sử Phật giáo và lịch sử chính trị miền Nam mở đầu một giai đoạn mới với ngọn lửa Quảng Đức. Lịch sử đã chọn Thầy tôi làm kẻ đứng mũi chịu sào trong giai đoạn đó vì lịch sử biết Thầy chống cái ác như thế nào với một tâm lý gì. Bốn phương tám hướng đều thấy: ngọn lửa Quảng Đức là ngọn lửa từ bi. Riêng tôi, ở trong tầm mức thấp bé của một người thường, tôi thấy ngọn lửa đó tiếp tục cháy trong mấy câu hoài niệm Thầy viết cho Lập Trường nhân ngày giỗ đầu của 7 em bé bị đạn của lính ông Diệm bắn chết trước đài phát thanh Huế đêm Phật Đản 1963: "Tôi, cho đến bây giờ, vẫn không sao nguôi ngoai được tâm trạng của một người nhìn thấy đống xương thịt máu huyết bị hất vào một góc tường, xương thịt máu huyết của những kẻ thân yêu mới cười nói với mình trước đó không quá 10 phút! Biết bao giờ, hay sẽ không bao giờ, con người bớt tàn bạo, biết xấu hổ vì tội ác của mình, để con người đừng kinh hãi vì con người".
            Thầy tôi đi vào lịch sử chỉ vì thế: chỉ vì Thầy tự đưa thân ra gánh lấy cái khổ của quần chúng Phật tử, chỉ vì trong xương máu của Thầy có xương máu của 7 em bé trắng trong chết vì cái ác, chỉ vì Thầy lấy cái ác làm kẻ đồng hành khiêu khích không ngừng.
            Về Thầy, tôi nghĩ chỉ có chuyện ấy là đáng nói. Còn tất cả chỉ là một nhầm lẫn to tướng không cần cải chính, bình luận: người ta tưởng nhầm Thầy muốn làm Richelieu, hồng y, thủ tướng của vua Louis XIII nước Pháp. Sự thực, Thầy tôi muốn cao hơn thế: Thầy muốn làm ông thầy tu.
            
Lên trang viet-studies ngày 9-11-19



Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017


CAN THIỆP VỀ NHÂN QUYỀN

Cao Huy Thuần



Các anh chị thân mến, tôi muốn nói lên ở đây cảm giác phân thây của tôi mỗi khi có ai đó can thiệp về vấn đề nhân quyền trong nước khác, nhất là trong nước tôi. Tôi chắc chắn rằng cảm giác của tôi cũng là cảm giác của các anh chị, cảm giác của bất cứ ai yêu nước mình, nhưng cũng yêu công bằng, yêu nhân ái, yêu con người, yêu sự sống. Một đằng, tự hào dân tộc và ký ức về quá khứ nô lệ làm tôi sôi máu khi có kẻ mạnh nào lên mặt dạy bảo về văn hóa và văn minh. Một đằng, bài học nhân nghĩa của Nguyễn Trãi khiến ta mơ ước một xã hội đẹp hơn nữa trong quan hệ giữa người với người, giữa dân với nước. Tôi nghĩ đến lúc chúng ta nói lên được điều này với nhau nhân hội thảo hôm nay về ảnh hưởng của toàn cầu hóa. Can thiệp về nhân quyền là một vấn đề nóng bỏng trong hiện tượng này.


I

Thật ra, can thiệp là chuyện cũ mèm như chiếc tất rách. Bảo vệ Thượng Đế, bảo vệ lòng tin, bảo vệ con chiên, tự do truyền đạo, pax romana, thập tự quân, thánh chiến, chiến tranh trăm năm, ánh sáng văn minh, tối tăm thuộc địa, tù ngục cọng sản, thiên đường tự do… bao nhiêu cớ để can thiệp đã được viện ra trong lịch sử châu Âu và lịch sử bành trướng châu Âu. Cái mới của ngày hôm nay là sự nổ bùng của các tổ chức phi chính phủ và vai trò tiên phong, xung kích của các tổ chức đó, hoặc đồng tình, hoặc độc lập với các chính quyền, trên mặt trận nhân quyền. Uy thế của các tổ chức này dựa trên nhiều hậu quả của tiến trình toàn cầu hóa: toàn cầu hóa về giá trị dân chủ, toàn cầu hóa về hình ảnh trên truyền hình, toàn cầu hóa về dư luận, và từ đó toàn cầu hóa về cảm xúc, thương xót. Bởi vậy tôi sẽ bắt đầu bằng các tổ chức phi chính phủ, tuy rằng trong thế giới ngày nay, đâu là "tư" đâu là "công", đâu là "phi" đâu là chẳng "phi", đâu là bên trong đâu là bên ngoài, rất khó phân biệt biên giới. Dù thò bàn tay vào, dù rút bàn tay ra, các chính quyền không dại gì mà không điều động thị trường thương xót khi xót thương chiếm lĩnh miếng đất cắm dùi của tranh chấp ý thức hệ ngày hôm qua. Trong số mấy ngàn tổ chức phi chính phủ và giữa các tổ chức phi chính phủ về nhân quyền có tiếng trên thế giới, tôi lại hạn chế vấn đề vào các tổ chức của Pháp mà thôi, chẳng phải vì gà gô-loa gáy hay gì mà vì cái tên gọi của họ có liên quan mật thiết đến đề tài hội thảo hôm nay: Médecins sans frontières.

Sans frontières. Không biên giới. Cái tên gọi vừa phát biểu một lý tưởng nhân loại cao đẹp, vừa hiển lộ một tham vọng chính trị lớn, tham vọng phá biên giới. Họ lập luận: quan tâm duy nhất của người thầy thuốc là trị bệnh, không cần biết lý lịch, quốc tịch của người bệnh. Y hệt xe cứu thương chỉ biết bệnh nhân kêu, chạy thật gấp, không cần biết đèn xanh đèn đỏ, thầy thuốc không biết biên giới. Các nạn nhân do thiên tai hoặc con người gây ra cũng cần cấp cứu như thế. Sống chết của họ đặt ra một vấn đề đạo đức, "đạo đức tối khẩn", morale d'extrême urgence. Vì đạo đức đó, biên giới không có ý nghĩa gì nữa, đâu có nạn là ta cứ đi.
Có thật như thế chăng? Có thật chăng xe cứu thương cần một đạo đức mới, đạo đức tối khẩn? Hay đó là đạo đức nghề nghiệp bình thường của mọi người y sĩ? Và nếu xe cứu thương vượt đèn xanh đèn đỏ, phải chăng vì chiếc xe có một quyền đặc biệt được luật lệ giao thông công nhận? Ðó là vấn đề quyền. Chẳng đạo đức gì mới cả. Các ông lang Pháp - French doctors - bày chuyện đạo đức ra như thế để nêu lên vấn đề bổn phận. Bổn phận phải đến với nạn nhân, nghĩa là phải vượt qua bên kia biên giới. Nhưng bổn phận cũng chưa phải là mục tiêu cuối cùng của các ông. Từ bổn phận đó, các ông muốn đòi công nhận một quyền. Quyền gì? Hoặc là quyền của các nạn nhân được cứu trợ, droit d'assistance. Hoặc là quyền can thiệp của chính các ông, droit d'ingérence. Bao nhiêu mực đã chảy ra từ cái droit d'ingérence này!

Từ lâu, luật nhân đạo (droit humanitaire) đã được quy định trong luật quốc tế với Chữ Thập Ðỏ đóng vai trò tiên phong. Các ông French doctors muốn qua mặt Chữ Thập Đỏ trong quan niệm và cách thức cứu trợ. Các ông muốn làm cách mạng trong lĩnh vực luật nhân đạo đó. Chơi theo kiểu cổ điển, với giấy phép xuất nhập cảnh và hàng rào quan thuế, các ông không hưng phấn. Các ông muốn cuộc chơi hào hứng hơn. Chẳng hạn để trợ lực cho chiến khu Papouasie - Nouvelle Guinée, các ông hóa trang y cụ dưới hình thức dàn nhạc rock và vượt biên vào đảo nhân cơ hội một phét-ti-van âm nhạc. Trường ca chiến công của các ông còn ghi hào khí ngất trời của bác sĩ Augoyard vượt biên vào Afghanistan để giúp các trẻ em nạn nhân chiến tranh: ông bị quân đội Liên Xô rượt bắt suốt 72 giờ trên tuyết và nhốt 8 năm tù.

Các ông "vô biên giới" cũng muốn đẩy Chữ Thập Đỏ vào lạc hậu bằng cách kết án lối cứu trợ trong im lặng. Phải cứu trợ và phải la làng. Phải làm nhân chứng. Phải lạnh lùng vung gươm ra sa trường để "cứu các dân tộc đang lâm nguy". Phải faire le tapage, làm rùm beng, dù sẽ bị trục xuất. Chữ Thập Đỏ hoạt động trên nguyên tắc trung lập, Médecins sans frontières lấy lập trường, chọn phe cánh. Cho nên một tay thì các ông cầm ống mạch, một tay cầm máy quay phim. Tay chích tay quay. Phải lấy hình ảnh để tố cáo. Để kích thích lương tâm dư luận. Phải làm thế nào để bà đầm đang ngồi coi tivi với con chó xù kia phải động lòng trắc ẩn để rốt cục phải mở ví rút sổ ngân phiếu ký một đường hào hiệp. Ở thời đại truyền thông có tốc độ ánh sáng này, không có hình ảnh trên tivi thì không ai biết đến mình, không ai biết đến mình thì không ai cho tiền, không ai cho tiền thì dẹp tiệm cứu trợ, dẹp charity business. Đó là luật thép của các tổ chức phi chính phủ. Bernard Kouchner, cha đẻ của lý thuyết can thiệp, giải thích: "Sự phẫn nộ của ngày hôm nay, đạo đức của ngày hôm nay đến từ con mắt". "Can thiệp, trước hết là cái nhìn". "Không có hình ảnh, không có công phẫn". Mồ côi Marx, mồ côi 1968, mồ côi Việt Nam, Kouchner lập thuyết rằng chính trị của ngày mai sẽ được xây dựng trên truyền thông và nhân đạo, và do đó sẽ rất sảng khoái. Cứu trợ sẽ đưa đến giao lưu văn hóa, và hơn thế nữa, "cuộc chiến đấu vì tình nghĩa liên đới diễn ra ở những nước xa xăm là cuộc phiêu lưu cuối cùng mà Tây phương đang chuẩn bị. Can thiệp sẽ tạo ra chất xi măng cho một hợp đồng quốc tế trước khi luật pháp chính thức thừa nhận hợp đồng này". Chưa hết, can thiệp "dự báo trước một chính phủ quốc tế" trong đó công dân của các nước giàu sẽ gánh trên vai thống khổ của loài người. Và như vậy, "can thiệp sẽ giới hạn hoặc ngăn cản chiến tranh" (1).

Có lẽ các anh chị không bằng lòng về cách hành văn diễu cợt của tôi trong một hội nghị khoa học nghiêm túc như thế này. Nhưng làm sao tôi không diễu cợt được khi phải đọc luận thuyết chính trị như thế. Khốn thay, thời đại bây giờ là thời đại của những luận thuyết như vậy, và muốn ăn khách thì phải cần và chỉ cần nói như thế thôi. Bằng chứng là tác giả đã được một tạp chí bầu làm nhân vật ăn khách nhất ở nước Pháp. Một buổi sáng đẹp trời năm 1992, hai con tôi, lúc đó 7 và 10 tuổi, đi học với một lon gạo trong cặp. Ðể làm gì? Để gởi phần của chúng nó cùng với phần của tất cả học sinh tiểu học ở Pháp qua Somalie cứu trợ nạn đói ở đấy. Trước đó, chúng nó đã nghe ca sĩ Patrick Bruel khuyến khích trẻ em mang gạo đến trường như vậy. Mỗi em bé Somalie sẽ nhận 1 ký gạo. Chúng nó vui quá. Ðâu có nghĩ như người lớn, như tôi: với 1 kí gạo, em bé Somalie kia sẽ ký hợp đồng với tử thần không chết ngày mai mà chết ngày mốt. Tôi không độc miệng đâu. Trong một chương trình truyền hình danh tiếng La Marche du Siècle, một chàng thầy thuốc trẻ tuổi kể rằng chàng phát gạo nhiều hay ít cho người này hay người kia tùy theo sự chẩn đoán người nào chết ngày mai hay ngày mốt. Tôi đã không diễu với các con tôi, bởi vì chúng nó đã học một bài học đẹp về liên đới. Nhưng chẳng lẽ tôi không diễu chút đỉnh với các anh chị về tấm hình ông Kouchner vác túi gạo đăng trên báo chí?

Nhưng bây giờ thì tôi không diễu nữa, bởi vì có một nhân vật rất nghiêm trang biết đó không phải là chuyện diễu. Ngày 5-10-1987, nhân lễ dời tro của René Cassin vào điện Panthéon, tổng thống Mitterrand long trọng tuyên bố: "Nhu cầu cứu trợ nhân đạo, giống như hình ảnh, vượt qua những biên giới của ý thức hệ, của ngôn ngữ, của kiểm duyệt, và có khi của cả chủ quyền quốc gia. Bởi vì nó nằm nơi mỗi người, sự thống khổ là phổ quát. Quyền của các nạn nhân được cứu trợ khi họ kêu cứu, và được cứu trợ do những người tự nguyện có thái độ trung lập vì nghề nghiệp, do cái bổn phận gần đây được gọi là "bổn phận can thiệp" nhân đạo, trong những hoàn cảnh cực kỳ khẩn cấp, tất cả những điều đó, không còn nghi ngờ gì nữa, sẽ được ghi một ngày nào đó vào Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Thật vậy, hiển nhiên là không một quốc gia nào được xem như sở hữu chủ của những thống khổ mà quốc gia đó gây ra hay không muốn ai động tới" (2).

Trước đó, đầu năm 1987, cả tổng thống Mitterrand lẫn thủ tướng Chirac cùng đến dự một hội thảo do Kouchner và Bettati tổ chức tại Sorbonne để quảng bá cho khái niệm "bổn phận can thiệp" vừa được tung ra. Tháng 5 năm ấy, Mitterrand tái cử tổng thống, Kouchner được chọn làm thứ trưởng phụ trách hoạt động nhân đạo. Nhân đạo đi vào chính phủ như một chính sách, hấp dẫn, sảng khoái, hiện đại như một cô gái tơ bên cạnh Bộ Ngoại Giao, nghiêm nghị, cổ điển như một bậc mẫu nghi thiên hạ. Sự thống khổ là phổ quát, la douleur est universelle, bởi vì nó nằm nơi mỗi người: câu văn nhẹ như cánh chim, nhưng ý tưởng nặng như quả đấm thôi sơn nện vào khái niệm biên giới. Giữa miệng người kêu khổ với tai người cứu khổ, chẳng còn Trường Sơn, Hy Mã Lạp, U ran gì nữa cả.

Nhẹ như cánh chim, câu văn tìm chỗ đáp xuống. Và nó đáp xuống nhà gương của Liên Hợp Quốc. Ngày 8-12-1988, dưới nổ lực ngoại giao của Pháp, Đại Hội Đồng LHQ biểu quyết một quyết nghị (43/131) nửa nạc nửa mỡ, nửa nạc thì hai ba lần xác nhận chủ quyền quốc gia, nửa mỡ thì nhét vào cho kỳ được nhu cầu khẩn thiết của các tổ chức phi chính phủ phải được đến tận bên cạnh nạn nhân của những thiên tai "và những tình trạng khẩn cấp tương tự". Sau đó, ngày 14-12-1990, vẫn dưới huy động của Pháp, Đại Hội Đồng LHQ biểu quyết quyết nghị 45/100 bổ túc thêm một khía cạnh kỹ thuật bằng cách tổ chức "những hành lang khẩn thiết" để vận chuyển lương thực, thuốc men. Cả hai yếu tố mới đó - nhu cầu đến tận nạn nhân và tổ chức hành lang khẩn thiết - được phần đông giới luật gia ca ngợi như một thắng lợi pháp lý vẻ vang của quyền con người trên quyền của quốc gia, của đạo đức trên sức mạnh trần trụi.

Tình hình quốc tế thuận lợi hồi đó cho phép họ thừa thắng xông lên thêm nữa. Năm 1991, dân Kurdes ở Irak nổi loạn chống lại chính quyền trung ương; bị đàn áp, hàng trăm ngàn người chạy loạn về phía biên giới những nước lân cận, gây tình trạng hỗn loạn, đe dọa hòa bình và an ninh trong vùng, nghĩa là tạo duyên cớ chính đáng cho phép Hội Đồng Bảo An LHQ can thiệp hợp pháp theo điều 2 đoạn 7 của Hiến Chương. Với lý do đó, HÐBA biểu quyết quyết nghị 688 ngày 5-4-1991, một mặt kết án sự đàn áp của Irak, một mặt "nhấn mạnh để Irak cho phép các tổ chức nhân đạo quốc tế đến tận tất cả những người cần cứu trợ trong tất cả mọi vùng ở Irak". Sau khi quyết nghị đó được biểu quyết, Mỹ, Pháp và Anh tung ra chiến dịch quân sự cứu trợ dân di tản Kurdes mang tên là "Provide Comfort". Các giới luật gia nói trên xem quyết nghị 688 này như có tính lịch sử, mở kỷ nguyên mới trong việc giải thích lại nguyên tắc cấm can thiệp nói trong điều 2§7 của Hiến Chương.
Tôi không thừa nhận luận cứ như vậy. Trước hết, quyết nghị 688 không phải nhắm trước tiên đến chuyện cứu trợ dân di tản mà nhắm tránh hỗn loạn tại các biên giới Thổ và Iran, rất nguy hiểm cho quyền lợi của chính các cường quốc Tây phương. Thứ hai, lời lẽ trong quyết nghị rất ôn hòa, rất thận trọng, không có câu nào, chữ nào xâm phạm đến chủ quyền quốc gia của Irak. Thứ ba, chiến dịch Provide Comfort chẳng ăn nhậu gì đến quyết nghị của HÐBA, chỉ là dựa hơi vào cái đuôi của một quyết nghị chứ không phải bắt nguồn từ một văn bản pháp lý. Quyết nghị 688 chỉ là một quyết nghị cá biệt, biểu quyết vì một mục đích cá biệt, áp dụng trong một trường hợp cá biệt, không thể xem như ví dụ của một nguyên tắc tổng quát.

Cũng phải được xem như thế một quyết nghị sau đó của HĐBA, biểu quyết vào tháng 12-1992 trong vụ Somalie. Nhận định rằng cuộc nội chiến tương tàn ở nước đó đã đưa đến những thảm cảnh nhân đạo và thảm cảnh này lại còn tàn khốc hơn nữa vì cứu trợ bị ngăn cản không đến được tay nạn nhân, HÐBA xem đây cũng là một đe dọa cho hòa bình và an ninh thế giới cho phép HĐBA can thiệp. Và cơ quan này đã can thiệp bằng cách gởi lực lượng quân sự đến Somalie để tái lập trật tự. Nhưng HÐBA nói thêm: đây là một "trường hợp cá biệt" đòi hỏi một "phản ứng tức thì và đặc biệt". Trường hợp Somalie lại cũng giống như trường hợp Bosnie cùng năm 1992. Trong cả hai trường hợp, tình thế quá thuận lợi, chưa bao giờ thuận lợi như thế, cho chủ thuyết can thiệp. Các nước mà LHQ đã can thiệp là các nước gần như tan tành xác pháo vì nội chiến, đất đai chia năm xẻ bảy, sắc tộc này xâu xé sắc tộc kia, tôn giáo, bộ lạc, sứ quân sát phạt nhau, diệt chủng nhau. Chính quyền trung ương đâu nữa mà nói chuyện chủ quyền! Chính tình trạng vô chính phủ này đã ngăn cản việc tiếp vận lương thực, chứ không phải một chủ quyền nào cả. Can thiệp ở đây không phải là can thiệp chống lại một chủ quyền quốc gia, hoặc là can thiệp mặc dù chủ quyền quốc gia, mà là can thiệp vào những lãnh thổ vô chủ quyền, phi chủ quyền, những collapsed states nói theo người Mỹ. Không thể nói đó là thắng lợi vẻ vang của chủ thuyết can thiệp trên chủ quyền quốc gia và lấy đó làm cớ để áp dụng như những tiền lệ.

Dù sao, lý thuyết phiêu lưu của Kouchner-Bettati và nổ lực ngoại giao của Pháp ở LHQ đã mang lại một cơn bão lớn trong chén trà chủ quyền. Trong các đại học luật ở Pháp, "droit d'ingérence humanitaire" được sinh viên học như một tiến bộ, một xu thế tất yếu của thời đại. Có thể nhiều thầy và trò đã không tán thành bom Mỹ Anh Pháp dội trên Kosovo, nhưng không mấy ai bênh vực Milosevic và chính sách đàn áp của ông. Lời lẽ cao thượng trong các diễn văn lắm khi chọc cười, nhưng dư luận đã không cười ông Chirac khi ông tuyên bố rằng can thiệp vào Kosovo là hành động của văn minh chống lại man rợ. Droit d'ingérence, dù nửa nạc nửa mỡ, dù chữ "quyền" đươc dùng như một lộng ngôn, vẫn được đại học ở đây trình bày như một khuynh hướng đang thành hình trong quá trình thoái trào của chủ quyền quốc gia trước sự tấn công của các lực lượng xuyên quốc gia mà các tổ chức phi chính phủ là các tay chơi cừ khôi. Chẳng thế sao Médecins sans frontières đã đoạt giải Nobel năm 1999?

Tôi không đủ thì giờ để đi sâu vào tranh chấp pháp lý, bác bỏ thực chất pháp lý của "quyền can thiệp" này. Chỉ nhấn mạnh trên hai điểm sau đây mà thôi. Thứ nhất, đây không phải chỉ là vấn đề cứu trợ nhân đạo. Bettati nói rõ: nạn nhân ở đây còn là nạn nhân của những tai họa chính trị. Kouchner nói rõ hơn nữa: vâng, chúng tôi bảo vệ một quan niệm về quyền của con người và về con người, chúng tôi tranh đấu cho dân chủ. Chiến trận của chúng tôi là chiến trận chính trị, chiến trận vì dân chủ. Vấn đề can thiệp, vì vậy, dù mang tên là nhân đạo, luôn luôn nhá nhem giữa nhân đạo và chính trị. Người can thiệp có lợi ích chính trị của họ. Thứ hai, chính quyền tại các nước châu Âu không dại gì để cho các tổ chức kia nắm độc quyền lấy lòng dân. Các chính đảng cũng vậy, lý tưởng nhân đạo là đề tài thu phục nhân tâm của họ giữa cơn khủng hoảng ý thức hệ và lòng tin nơi dân chúng. Kouchner nói rõ từ đầu: "bộ tam đa nhân đạo của ngày mai sẽ gồm các người tự nguyện, các ký giả và các nhà chính trị". Điều này quá hiển nhiên. Giá thử các người tự nguyện vượt biên giới và gặp cản trở, làm sao họ đến tận nạn nhân nếu không được các chính quyền hậu thuẫn để mở đường? Và nếu lại gặp cản trở nữa, làm sao tiến tới nếu không có súng đạn yểm trợ? Ở Bosnie, nhân đạo đi trước, súng đạn theo sau. Ở Kosovo, súng đạn nhân danh nhân quyền mà nổ và chẳng cần tranh thủ trước một quyết nghị tiên khởi của LHQ. Ngoại giao nhân đạo và bom NATO đã làm hạ màn một bản trường ca trên sân khấu can thiệp. Nếu vở kịch chỉ diễn bạo lực mà thôi, và diễn viên chỉ cầm súng trong tay mà không cầm ống chích nữa, thì đâu có gì mớỉ Thì chiếc tất rách của thế kỷ 19 rồi!

II

Tôi nghe nói có một nhà văn nào đó đã viết một câu bất hủ như thế này:"nửa mẫu bánh mì là bánh mì, nhưng nửa sự thật không phải là sự thật". Phục quá! Khổ thay, trong địa hạt chuyên môn của tôi, và hình như trong bất cứ chuyện gì khác trên đời, sự thật luôn luôn hiện ra dưới dạng hai nửa. Nửa bánh xe đạp cũng không phải là xe đạp. Nửa tờ giấy đô la cũng không phải là đô la. Nửa sự thật không phải là sự thật, nhưng hai nửa thì chắc được. Chuyện tôi đang nói đây về can thiệp nhân quyền cũng thế.

Quả thật tôi có diễu cợt cái mà nhiều đồng nghiệp của tôi gọi là droit d'ingérence. Nhưng tôi cũng gờm nó lắm đấy. Dù nó chẳng có thực chất pháp lý, tôi không nghĩ rằng những gì mà các ông "vô biên giới" đã làm ở LHQ sẽ dừng lại ở đấy. Trào lưu hiện tại là toàn cầu hóa những giá trị của con người và Hiến Chương LHQ có cơ sở để họ làm bàn đạp xông lên keo khác. Từ lâu rồi, các luật gia phương Tây nhấn mạnh rằng Hiến Chương LHQ nhằm hai mục tiêu chứ không phải một: duy trì hòa bình và bảo vệ quyền của con người. Đoạn mở đầu của Hiến Chương, được soạn thảo sau thảm cảnh diệt chủng của Đức Quốc Xã, tuyên bố tức khắc "lòng tin tưởng của chúng tôi vào những quyền căn bản của con người, vào phẩm cách của con người và giá trị của con người". Sự quan tâm đặc biệt về con người đó được xác nhận một lần nữa trong điều 1 nêu rõ "sự tôn trọng quyền của con người và những tự do căn bản của mọi người". Sau đó, nhiều văn bản pháp lý của LHQ đã kể ra một số quyền của con người (3) và tất cả đều nhìn cá nhân, quyền của cá nhân, an ninh của cá nhân ở ngoài và ở trên mọi liên hệ lệ thuộc đối với quốc gia.

Các luật gia đó nói thêm: tuy điều 2§7 cấm can thiệp vào nội bộ các quốc gia, nhưng điều đó đã được trau chuốt về sau trong nhiều quyết nghị để nói thêm rằng nguyên tắc đó "phải được thực hiện trong sự tôn trọng những quyền của con người và những tự do căn bản"(4). Họ giải thích: muốn thế phải có những cơ chế thích hợp và những quốc gia khác có thể dùng những biện pháp thông thường của ngoại giao như áp lực, trừng phạt về chính trị, trừng phạt về kinh tế để đòi hỏi phải tôn trọng những quyền cá nhân đó. Một vài vấn đề đặc biệt như diệt chủng, nô lệ, kỳ thị chủng tộc đã được Tòa án quốc tế xem như những bổn phận liên quan đến bất cứ ai (erga omnes), Nhà nước hay tư nhân. Rõ ràng hơn nữa là gần đây, một Tòa án hình sự quốc tế được thành lập để xử những cá nhân đã phạm tội ác chiến tranh ở Nam Tư và ở Rwanda. Tây phương làm áp lực tối đa để đòi đưa Milosevic ra tòa án đó và đã thành công. Các tay độc tài cũng nên dè chừng: láng cháng đi ra khỏi nước như Pinochet có thể bị tóm cổ. Kissinger đâu có ngờ nhận đước trát đòi ra hầu tòa ở Pháp khi vừa đến một khách sạn Paris!

Trên thực tế, tuy biên giới quốc gia vẫn còn đấy, nhưng hãy xem Irak: một số chủ quyền về lãnh thổ, về kinh tế, về chính trị, về tiềm năng quân sự đã lọt vào tay LHQ, nghĩa là Tây phương. Biên giới vẫn còn, nhưng các lý thuyết gia can thiệp cảnh cáo: từ nay, không chính quyền nào có thể ẩn nấp sau biên giới để làm bất cứ chuyện gì, bởi vì bất cứ chuyện gì cũng đều sẽ bị phanh phui ra giữa thanh thiên bạch nhật. Trong quan hệ quốc tế, một bước tiến quan trọng đã thành tựu: con người trở thành vấn đề quan tâm của thế giới, kể cả mối liên hệ giữa nó với quốc gia của nó.
Như vậy, dù nhìn vấn đề dưới con mắt tiến bộ hay con mắt bảo thủ, phải thấy trào lưu đưa con người lên hàng chủ thể của luật pháp và của bang giao quốc tế, tuy rằng trào lưu đó diễn ra dưới áp lực Tây phương. Chống lại trào lưu đó chăng? Việc gì mà chống? Vẫn có thể chống can thiệp mà không chống trào lưu. Đó chẳng phải là lý tưởng và nguyên do sinh thành của mọi quyền lực chính đáng hay sao? Không bảo vệ con người thì bảo vệ cái gì? Có cái gì quý hơn nữa? Độc lập, tự do để cho ai nếu không phải để con người nô lệ trở thành con người tự chủ?

Hơn nữa, bất cứ ai có chút lương tri đều xúc động trước sự chà đạp nhân phẩm của những bạo quyền trên thế giới. Trong lương tâm mỗi người, ai cũng biết nhận ra đạo đức, ai cũng muốn bênh kẻ yếu thế. Dù phải dè dặt đến bao nhiêu đi nữa đối với những tổ chức nhân đạo như Amnesty International chẳng hạn, khó mà phủ nhận toàn bộ vai trò của họ, khó bất cần biết uy thế tinh thần của họ trên dư luận thế giới, khó quên rằng tại châu Âu, hình ảnh những bộ xương người ở Auschwitz vẫn còn chập chờn trong mặc cảm tội lỗi cộng đồng. Phải biết như vậy để thấy rằng, trên thị trường thương xót, Mã Giám Sinh tràn lan, nhưng những chàng họ Lục tên là Vân Tiên không phải là không có. Đố có ai trong chúng ta ở đây không thường xuyên khắc khoải nghĩ đến vai trò của luật pháp, đến bổn phận của quốc gia đối với công dân của mình. Nói đến Auschwitz, có ai không nghĩ đến trong đầu những sọ người của thời Khmer đỏ? Có ai quên tác động giải phóng con người của Việt Nam khi can thiệp qua bên kia biên giới Tây Nam? Vậy thì can thiệp có khi lại hợp lòng người chăng?

Đó là tranh chấp diễn ra trong lương tâm thâm sâu của mỗi chúng ta, bởi vì con mắt trong lương tâm thường nhận ra hai nửa của một bộ mặt, nửa bênh vực con người, nửa bênh vực chủ quyền. Luật pháp cũng có hai nửa như vậy. Nửa này, như Rousseau đã nói, luật nhắm bảo vệ trật tự đã an bài, nghĩa là kẻ mạnh và kẻ giàu. Nhưng nửa kia, luật làm hòa dịu trật tự đó bằng cách buộc nó phải tuân theo những nguyên tắc, nghĩa là những giới hạn và những bổn phận, và như vậy luật bảo vệ kẻ yếu và kẻ nghèo. Nguyên tắc bất can thiệp là để bảo vệ các nước yếu chống lại tham vọng bá quyền của các nước lớn, nguyên tắc nhân quyền là để bảo vệ cá nhân chống lại áp bức trong lòng mỗi quốc gia. Nguyên tắc nào cũng bao hàm những hậu quả tiêu cực. Bất can thiệp và chủ quyền quốc gia có thể dung dưỡng bạo quyền. Can thiệp có thể tạo ra cái cớ cho đế quốc thao túng. Trong cả hai trường hợp, câu hỏi muôn đời vẫn là câu hỏi mà các con cừu, sống an toàn trước nanh vuốt chó sói, giữa hàng rào bao quanh, be he thốt ra bằng tiếng la tinh: quis custodiet custodet? Ai bảo vệ cho tôi chống lại những người bảo vệ tôi?

Mặc dầu thế, mặc dầu đế quốc và đế quyền đều là tai họa của con người, tôi vẫn bảo vệ chủ quyền quốc gia đến cùng. Bởi vì đó là điều kiện tiên quyết để quyền của con người được tôn trọng. Bởi vì đó cũng là một nửa của sự thật.
Đã đành, khi một ông quan hoạnh họe một người dân đen, ông ta không biết rằng giữa ông với người dân kia có một điểm chung là người. Không thấy người nơi người kia, ông cũng không thấy người nơi mình, không thấy người ở đâu cả. Ông cần phải học quyền của con người để biết rằng con người là có thực. Nhưng khi ông Bush dạy nhân quyền cho tôi, tôi muốn nhắc lại với ông rằng con người phải được nhìn ở cả hai mặt, trừu tượng và cụ thể. Trừu tượng, đó là con người trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948. Nhưng con người đó phải tổ chức thành xã hội để sống và do đó chỉ có thể thành người và phát triển khả năng người của mình một cách cụ thể ở trong những xã hội chính trị. Người thì ở đâu cũng là người, nhưng quyền của người chỉ được thực sự đặt ra và bảo vệ khi người là công dân. Từ xưa, Aristote đã nói rõ điều này. Diogène đã xách đèn đi ban đêm đề tìm cái mà ông không thấy: con người.Ý tưởng về con người chỉ có thể được quan niệm và thực hiện trong một cộng đồng chính trị đặc thù. Rousseau lặp lại quan niệm đó và rút ra những hậu quả rất xa về việc phân biệt giữa bên ngoài và bên trong của mỗi cộng đồng chính trị, giữa công dân ở bên trong và ngoại kiều ở bên ngoài. Từ đó, triết lý chính tri Âu châu bàn tới bàn lui về tính phổ quát và tính đặc thù với trường phái Pháp nghiêng hẳn về khuynh hướng thứ nhất, trường phái Đức, đặc biêt là Fichte, nghiêng hẳn về khuynh hướng thứ hai. Trường phái Pháp cũng không phải đồng nhất: bắt chước Diogène, Joseph de Maistre tuyên bố: tôi chỉ thấy người Đức, người Tàu, người Hy Lạp, còn con người thì thú thật tôi chưa bao giờ thấy trong đời.

Quan niệm này có thể đưa đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhưng ít ra nó cũng trình bày được mặt cụ thể của khái niệm "người" và vai trò quan trọng của lịch sử trong việc cấu tạo ra những xã hội cụ thể trong đó con người được hình thành. Kẻ nào mạnh cũng có khuynh hướng tấn công, kẻ nào tấn công cũng khoác cho mình một ý thức hệ phổ quát, cũng đem phổ quát để xóa những đặc thù: lịch sử, ngôn ngữ, chữ viết, văn hóa, lãnh thổ, và bây giờ biên giới, quốc gia. Đưa nhân đạo lên thành ý thức hệ để can thiệp là cố tình không thèm suy nghĩ về chính trị, là đem quan niệm chính trị đặc thù của mình áp đặt lên người khác.Đưa hình ảnh nạn nhân lên màn ảnh truyền hình là phô cái khoảnh khắc, cái instant, mà dấu cái thiên thu: nơi hình ảnh kia, có cả một chiều sâu lịch sử mà các tác giả không thèm biết vì chẳng có ích lợi gì trong việc moi tiền bà đầm. Cái khổ nơi bộ xương kia, hay nơi chiếc vú không có sữa ấy, là cái khổ chính trị, và cái khổ chính trị thì không thể xoa bóp bằng vài hộp sữa đặc có đường.

Chủ quyền quốc gia có thể viện dẫn ra để che đậy những tội ác tày trời, nhưng không thể lấy những trường hợp đặc biệt để làm chỉ đạo trong bang giao quốc tế. Ngay trong một nước có luật lệ đàng hoàng, luật lệ vẫn không ngăn cấm được tội phạm xảy ra. Không một luật nào có thể ngăn cấm sự lạm dụng luật. Giữa một thế giới cạnh tranh sinh tồn hỗn loạn, nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia là một yếu tố trật tự, là nguyên tắc duy nhất có thể quan niệm để tổ chức cuộc sống chung. Nếu muốn nói phổ quát thì đó là nguyên tắc phổ quát căn bản từ đó mọi văn kiện pháp lý quốc tế đã được tạo ra, bắt đầu là Hiến Chương LHQ. Trên măt pháp lý, thế giới là một tập hợp những chủ quyền quốc gia, và mỗi chủ quyền quốc gia là tuyệt đối đối với các chủ quyền khác. Ðiều đó không có nghĩa rằng cộng đồng quốc tế không thể can thiệp trong vài trường hợp nếu quốc gia nào đó không xứng đáng để hành xử chủ quyền, chẳng hạn có hành động đe dọa hòa bình quốc tế. Điều này được trù liệu trong Hiến Chương (chương VI, VII, VIII) nhưng phải nói rõ rằng đây là trường hợp đặc biệt, là ngoại lệ của nguyên tắc, và vì vậy sự can thiệp phải hội đủ những điều kiện chặt chẽ (5).

Gạt bỏ chủ quyền quốc gia, các lý thuyết can thiệp, với ngôn ngữ nhân đạo cao đẹp, thực sự biện minh cho sự hành xử sức mạnh, bởi vì chẳng bao giờ có sự can thiệp của nước yếu vào nước mạnh. Chủ quyền quốc gia lại càng phải được bảo vệ hơn nữa ngày nay, vì trong thời đại toàn cầu hóa này, chủ quyền đó bị tấn công từ mọi phía, từ trong, từ ngoài, từ trên, từ dưới, nhất là từ bên hông, do những lực lượng xuyên quốc gia mà chính quốc gia phải trải thảm đỏ mời vào. Liên hệ giữa những nền kinh tế, liên hệ giữa những xã hội xóa nhòa biên giới, làm biến đổi chủ quyền. Toàn cầu hóa là những con nhện khổng lồ, giăng tơ cùng khắp. Những lý thuyết mới về bang giao quốc tế đã dời lỗ rốn quan tâm của mình từ bang giao giữa các nước qua bang giao giữa các xã hội, xã hội này luồn vào xã hội kia, thịt này tra vào thịt kia, qua mặt cái xương sống biên giới. Mà không phải chỉ lý thuyết suông. Thực tế chiến lược cũng vậy. Cứ dùng xã hội len lỏi vào xã hội, làm đâm chồi nẩy lộc những thớ thịt xã hội, ấy là can thiệp mà không cần can thiệp. Cứ xem những hạt giống tôn giáo kia đang luồn lỏi đâm rễ như thế nào trong miếng đất mầu mỡ của tham nhũng, bất công và chèn ép đất đai của dân miền núi. Có Bộ Ngoại Giao nào không biết sử dụng hai tay, một tay lèo lái ngoại giao chính thức, một tay đưa đẩy hoạt động của các tổ chức phi chính phủ? Chủ quyền còn là cái gì khi xã hội tan rã hoặc biến đổi từ bên trong? Súng đạn nổ vào đâu, nổ vào ai, nổ vào trong ruột của chính mình? Chưa nói một quốc gia ngửa tay ăn xin viện trợ, một quốc gia muốn gia nhập vào một cộng đồng trù phú: làm sao có thể trú ẩn sau thành quách chủ quyền? Tội nghiệp ông tổng thống mới ở Nam Tư đã cố hết sức giữ cho cái áo giáp chủ quyền của ông khỏi thủng, nhưng mấy tỷ đô la và hơn thế nữa đã buộc ông đành lòng vẫy khăn tiễn Milosevic lên xe qua khám La Haye (*). Mà ví thử người ta để yên cho mình trú ẩn cũng không trốn được, phải xin gia nhập cuộc chơi thôi dù luật chơi chưa nắm vững trong tay. Tổ chức thương mại quốc tế là một ví dụ.

Tôi trót sinh ra trong một nước đã có lần mất độc lập với một hiệp ước bảo hộ. Trong một trang Quốc Văn Giáo Khoa Thư mà tôi học lúc nhỏ có hình cố Bá-Đa-Lộc (Pigneau de Béhaine) cao lớn đặt tay lên vai một chú bé nhỏ xíu tên là Hoàng tử Cảnh đứng nép bên chân. Tôi cũng học thuộc lòng một bài thơ trong đó có câu:
Khai hóa có Đại Pháp 
Văn minh mở Lạc Hồng

Hình ảnh của bảo hộ in chặt trong đầu tôi như thế từ lúc bé. Một Nhà nườc bảo hộ to lớn. Một dân tộc ấu trĩ. Tôi tưởng cái danh từ protectorat đó đã được chôn sâu dưới đáy mồ nô lệ. Bỗng tôi bàng hoàng thấy nó tái hiện và chính thức áp dụng ở Kosovo mà không làm mấy ai chạnh lòng.

III

Chủ quyền quốc gia là điều kiện tiên quyết để thực hiện quyền của con người. Bởi vậy tôi không chấp nhận quyền can thiệp, dù dân sự hay quân sự, chính phủ hay phi chính phủ. Tôi đồng ý với lập trường của Trung Quốc và lập trường của các nước Á châu khác trên điểm này. Nhưng tôi là con cháu của Nguyễn Trãi và không ai quên được rằng sau khi chiếm lại chủ quyền quốc gia, câu đầu tiên, câu mở đầu của Bình Ngô Đại Cáo là tôn vinh dân:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân 
Quân điếu phạt trước cần trừ bạo

Điếu phạt là lấy từ chữ điếu dân phạt tội: thăm dân đánh kẻ có tội. Tội gì? Bạo quyền. Tất cả những lý thuyết chính trị tôi học được ở trường ốc, nói cho cùng, chưa chắc đã có ích lợi thực tiễn gì cho tôi và cho nước tôi bằng hai câu đơn giản mà thâm sâu ấy. Nguyễn Trãi đã đặt dân lên hàng đầu. Tại sao ta học ai khác mà không học chính cha ông của ta? Bởi vậy túi khôn chẳng cần kiếm đâu xa, nó nằm ngay nơi chiếc áo ta mặc. Có thiếu chăng là ý muốn áp dụng chân thành. Đó sẽ là kết luận của tôi. Nhưng trước khi kết luận, tôi muốn lượn qua một vòng vài thái độ về can thiệp và nhân quyền.

Ạ- Trước hết, hiển nhiên là thái độ của Trung Quốc.
Tôi trích nguyên văn lời tuyên bố của cựu thủ tướng Lý Bằng tại Hội nghị thượng đỉnh của Hội Đồng Bảo An ngày 31-1-1992:
"Trật tự quốc tế mới phải được xây dựng trên những nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lăng, không can thiệp vào nội bộ, bình đẳng, có lợi lẫn nhau và chung sống hòa bình, những nguyên tắc mà bản chất là không can thiệp vào nội bộ kẻ khác và quyền lựa chọn theo sở thích những định chế xã hội và ý thức hệ của các chính phủ và các dân tộc tùy theo thực tế trong mỗi nước…
Về nội dung, quyền của con người là một vấn đề thuộc chủ quyền của một nước. Vì vậy, khi xem xét tình trạng nhân quyền trong một nước, không thể tách tình trạng đó ra khỏi lịch sử hoặc những điều kiện cụ thể của nước đó. Về vấn đề nhân quyền, đòi hỏi tất cả các nước trên thế giới chấp nhận những tiêu chuẩn và mẫu mực của một nước hoặc của vài nước là không thích hợp mà cũng không thực tế. Trung Quốc xem quyền con người là quan trọng, nhưng Trung Quốc chống lại việc can thiệp, viện cớ nhân quyền, vào nội bộ nước khác"(6).

Tôi rất trân trọng quan điểm này, kính phục lời lẽ, chỉ xin bày tỏ vài nhận xét:
1. Trung Quốc là một nước lớn, một đại cường, có thể là siêu cường, và siêu cường thì lời nói có trọng lượng của siêu cường. Siêu cường choảng nhau, dọa nhau, nhưng siêu cường hiểu nhau, né nhau, thỏa hiệp với nhau bởi vì bắt chẹt nhau quá thì cả hai đều thiệt. Thế của nước lớn không phải là thế của nước nhỏ.
2. Nhưng nước lớn cũng có cái thế yếu của nó. Hồi thế kỷ 19, Tocqueville đã mượn hình thức liên bang làm một trong những lời giải thích về sức mạnh của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ: liên bang vừa có sức mạnh của một nước lớn, vừa thuận tiện để thực hiện tự do ở mức các nước nhỏ, mức tiểu bang. Trung Quốc có sức mạnh của một liên bang lớn, nhưng tham vọng trở nên siêu cường và mối lo âu thường xuyên về nguy cơ ly tâm phân tán trong lịch sử tiếp tục đè nặng trên quan hệ giữa trung tâm và địa phương và do đó khó giải quyết những nhược điểm của một chính sách tập quyền mà ai cũng thấy. Cái thế yếu đó nơi đại cường Trung Quốc không có nơi nước thường thường bậc trung Việt Nam. Nói theo luận cứ của Tocqueville, Việt Nam có tầm vóc vừa phải để mạnh và để tự do.
3. Hồi Triệu Tử Dưong còn làm tổng bí thư, phong trào phục hưng Khổng giáo với sự đồng tình của chính quyền đã đàm luận sôi nổi chung quanh khái niệm "tân chuyên chế chủ nghĩa", được một số dư luận xem như cơ sở lý thuyết cho giai đoạn chuyển tiếp từ chế độ Mao đến một chế độ hợp với đà tiến triển kinh tế, xã hội ở Trung Quốc hơn. Vụ Thiên An Môn đã chấm dứt những bước chập chững khai thông lý thuyết đó. Ngày nay, một cố gắng lý thuyết mới đang thành hình trong các bài diễn văn của tổng bí thư Giang Trạch Dân, hoặc xoay quanh hai đức tính của chính quyền Khổng giáo ngày xưa: kiến thức và đức độ của người cai trị, hoặc chỉnh lý tính cách đại diện của đảng cộng sản trên khái niệm "tam cá đại biểu": đại diện những lực lượng sản xuất tân tiến, đại diện văn hóa tân tiến, đại diện đa số dân chúng. Gác qua một bên những tranh luận về thực chất và giá trị của những lý thuyết vừa nói, mỗi một việc những lý thuyết mới đã được tạo ra cũng đủ để thấy rằng đà tiến triển ở Trung Quốc đã vượt qua những lý thuyết cũ. Dù hay dù dở, dù đúng dù sai, điểm chung của những lý thuyết mới là đi tìm cái mới. Mới hay cũ, cửa nhà ai thì nhà ấy có chìa khóa thích hơp, đâu có dùng để mở cửa nhà khác được.

B- Quan điểm thứ hai là lý thuyết "giá trị châu Á". Thành công trên địa hạt kinh tế, vài nước công nghiệp mới tấn công lý thuyết và chính sách nhân quyền của Tây phương: lý thuyết thì dựa trên những giá trị riêng của phương Tây, chính sách thì quỷ quyệt, gian trá, trịch thượng, hai mặt. Á châu chủ trương rằng phán đoán chỉ có thể căn cứ trên kinh nghiệm và kinh nghiệm thì cho thấy rằng sự thành công của Á châu là hậu quả của truyền thống văn hóa và giá trị Á châu. Người cầm quyền nào đem lại ấm no, phồn thịnh thì người ấy được dân chúng xem như chính đáng để cai trị. Ðó là cơ sở đích thực để thẩm định tính chính đáng (légitimité), không phải dân chủ hay nhân quyền như Tây phương quảng bá.
Tôi không đồng ý với lý thuyết này từ cách đặt vấn đề. Tôi vẫn có thể công nhận có "giá trị Á châu", mà vẫn có thể chủ trương rằng những giá trị đó không có gì ngăn cản sự thực hiện dân chủ, nhân quyền. Nói cách khác, vấn đề nằm nơi ý đồ. Có ý đồ dân chủ thì diễn dịch giá trị Á châu như ông Kim Đại Trung. Có ý đồ không dân chủ thì diễn dịch như ông Lý Quang Diệu. Tôi sẽ trở lại vấn đề này.

C- Quan điểm thứ ba là chính sách ngoại giao của Pháp. Pháp có hai quan tâm: một là muốn mình vẫn giữ nguyên hình ảnh quê hương của nhân quyền, của Tuyên Ngôn 1789; hai là muốn làm nổi bật sự khác biệt với Mỹ trên chính sách về nhân quyền, dân chủ. Hai quan tâm đó tương phản nhau và lắm khi làm Pháp lúng túng. Nhưng đó đâu phải là mâu thuẫn duy nhất mà nghệ thuật chính trị phải giải quyết!

Về quan tâm thứ nhất, ông Mitterrand đã làm nổ lực ngoại giao ở LHQ như tôi đã trình bày. Ngày 28-6-1992, như một thiên thần, ông từ trên trời đáp xuống giữa địa đàng Sarajevo bị vây hãm dưới tầm đại bác của quân Serbes để cảnh cáo bạo lực và mở đường cho đoàn xe tiếp tế lương thực.
Về quan tâm thứ hai, ông Chirac không mất cơ hội nào để nói khác và làm khác ông Clinton trong chính sách nhân quyền đối với Trung Quốc và các nước Á châu khác. Ông luôn luôn muốn chứng tỏ mình là bạn, là tri kỷ của các văn minh Á châu. Tôi có thể trích cả ông De Gaulle về vấn đề dân chủ. Khi bàn về chính sách ở Maroc, nơi Pháp làm bàn đạp để giữ ảnh hưởng và quyền lợi trên Bắc Phi, ông nói: "Các chế độ dân chủ bao giờ cũng mong manh ít nhiều. Không phải ai cũng có thể tặng cho mình thứ quà sang trọng mong manh đó. Các nước phát triển kia không nên tìm cách trở thành dân chủ quá. Điều quan trọng là quyền lực phải có tính chính đáng nghĩa là phù hợp với tình cảm sâu đậm của dân chúng. Có lẽ đó là trường hợp của Maroc. Dân chủ và tính chính đáng không nhất thiết bao giờ cũng đi đôi với nhau" (7).
Nói như thế e không xa bao nhiêu quan niệm về tính chính đáng của lập luận "giá trị Á châu" chăng? Cả hai đều dựa trên sự bằng lòng của dân chúng. Cả hai đều không nói gì đến biện pháp đo lường sự bằng lòng một cách chuẩn xác. Nhưng hai quan niệm có thể có chỗ không giống nhau. "Tình cảm sâu đậm" nói trong câu của De Gaulle có thể không phải chỉ có tính cách thuần vật chất như trong quan niệm của ông Lý Quang Diệu. Trong "giá trị Á châu", tính chính đáng được đo bằng hiệu quả kinh tế, thành công kinh tế, légitimité = efficacité. Chẳng lẽ con người chỉ có cái bụng thôi sao?

Gần đây nhất, bộ trưởng ngoại giao Hubert Védrine viết sách, viết báo để quảng bá lập trường của Pháp về tính phức tạp của vấn đề dân chủ và nhân quyền ở các nước đang phát triển. Khác với Mỹ, ông chủ trương không nên gây áp lực để buộc các nước đó phải có ngay một thể chế dân chủ như Tây phương mong muốn mà phải để cho các nước đó có thời gian chuẩn bị. Thay vì gây áp lực, hãy khuyến khích, thúc đẩy họ đi từng bước đến dân chủ một cách đích thực. Hành động đi đôi với lý thuyết: ngày 27-6-2000, ông từ chối không ký vào Bản Tuyên Bố Chung về Dân Chủ "Vers une démocratie commune" của Hội Nghị Thế Giới tại Varsovie do Mỹ đỡ đầu. Pháp là nước duy nhất không ký trong số 107 nước tham dự. Đoạn cuối của bản tuyên bố đề nghị "hợp tác giữa các tổ chức quốc tế" để thành lập những "móc nối và liên minh có mục đích yểm trợ những quyết nghị và những hành động quốc tế khác nhằm thúc đẩy một phương thức cai trị dân chủ". H. Védrine nói thẳng: Tây phương khiến người ta có "cảm giác muốn dùng nguyện vọng chung về dân chủ và nhân quyền để gây ảnh hưởng và đô hộ chính trị, kinh tế, văn hóa". Mọi người hiểu ông muốn nhắm ai: nhắm bà Madeleine Albright mà ông đập thêm một đòn nữa khi đả kích quan niệm của Mỹ xem dân chủ như một tôn giáo. Ông chủ trương dân chủ phải đến từ bên trong, bên ngoài chỉ nâng đỡ, khuyến khích các cố gắng tiến đến mục tiêu ấy (8). Giống như câu hát vui mà chúng ta thưởng thức từ tuổi lên hai: vỗ tay bà cho ăn bánh… Dại gì không hát như thế khi anh siêu cường kia đang lăm lẵm cây thước trong tay: không vỗ tay bà đánh ba roi!
Dù sao đi nữa, dù chỉ là khôn ngoan để lấy ảnh hưởng, trong lập trường vừa nói có điểm sau đây mà chắc ai cũng thấy là thực tế: dân chủ, hay nhân quyền, là một quá trình diễn tiến. Muốn đánh giá một kinh nghiệm nào, phải xem những bước nó đã đi, đang đi; đôi khi nó vấp váp, nhưng điều quan trọng là nó tiếp tục đi.

Bởi vậy, tôi có thể kết luận như thế này. Chủ quyền là phương tiện, dân là cứu cánh. Nhân quyền đương nhiên là vấn đề mà mọi nhà cầm quyền phải quan tâm, quan tâm như là thiên chức của mình, chứ không phải vì sợ roi vọt của ai hay ham ăn bánh kẹo gì.Nhân quyền đó là gì? Định nghĩa như thế nào? Tôn trọng đến mức nào? Đâu là hạn chế? Câu trả lời tùy thuộc hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước, không có một mẫu mực nào duy nhất để làm tiêu chuẩn. Cãi nhau trên lý thuyết không khó, nhưng cãi để làm gì? Cụ thể chỉ là thế này thôi. Một, vì chiều hướng của thời đại là xâm nhập xã hội, chính sách của bên trong không có gì khác hơn là củng cố nội bộ, đoàn kết thực sự. Hai, vì nhân quyền cũng như dân chủ là một quá trình thực hiện, điều làm tôi muốn nói ở đây là bước đi đầu tiên trên con đường dài bất tận. Người dân quá đủ thông minh để thấy cái bước đi đó. Họ không đòi hỏi gì nhiều, chưa ai thấy người dân Việt Nam đòi hỏi gì nhiều trong một lúc. Họ có tình có nghĩa với người cầm quyền. Dân tộc chúng ta hiền hòa, độ lượng. Với một dân tộc như thế, nhân quyền, hiểu trong tinh thần trước hết trừ bạo, đâu có phải là vấn đề cấm kỵ?

Nhân quyền lại càng không phải là vấn đề cấm kỵ vì Việt Nam có một chính quyền vững chắc, vững chắc nhất thế giới, không ai có thể thay thế mà cũng chẳng có nguy cơ nào đe dọa. Đó là chính quyền đủ mạnh, đủ có uy thế để bước cái bước đi mà tôi nói ở trên.

Nhìn những kinh nghiệm đã xảy ra trên thế giới và trên phần đất Đông Á này, tôi có một nhận xét liên quan đến bước đi đó, có lẽ chính bước đi đầu tiên, bước đi quyết định: không có một ý muốn thực sự thực hiện nhân quyền, dân chủ, xin anh chị cứ bàn cãi dân chủ, nhân quyền với cái mặt trăng. Nhưng chừng nào có ý muốn đó, ấy là lúc mặt trời mọc. Ý muốn đó không đến từ đâu khác hơn là từ người lãnh đạo. Có thể bàn luận về những yếu tố nào đã đưa đến ý muốn đó. Nhưng có thể mọi yếu tố đã hội đủ nơi ông A mà ý muốn vẫn không có. Cũng chừng ấy yếu tố nhưng đến khi nằm nơi ông B thì ý muốn phát sinh. Tôi không duy tâm chút nào, nhưng nếu ai gạt bỏ hoàn toàn yếu tố cá nhân, yếu tố con người, yếu tố làm cho người này không phải là người kia, tôi sẽ không ngại ngần xắn tay áo, ăn thua đủ.

Các anh chị hãy nhìn Hàn Quốc. Sau 1945, Lý Thừa Vãn, bao nhiêu năm từng lê gót nơi quê người như Ngô Đình Diệm, đâu có thua gì ông này về độc tài, chỉ thua ở chỗ áp đặt tôn giáo. Họ Lý cũng bị đảo chánh lật đổ và Hàn Quốc cũng từng nếm mùi độc tài quân phiệt. Quân đội. Đảo chánh. Biểu tình. Đàn áp. Ấy vậy mà Hàn Quốc giàu lên, xã hội thay đổi. Khi Roh Tae Woo nắm chức tổng thống, liên hệ ruột thịt của ông ta với chế độ độc tài khó làm ai nghĩ rằng Hàn Quốc sắp rẽ qua một bước ngoặt. Ông Roh đã làm gì? Ông tuyên bố chỉ giữ một nhiệm kỳ. Chưa từng nghe tay độc tài nào nói như thế và làm như thế. Ông Roh đã giữ đúng một nhiệm kỳ để canh tân chế độ, mở đường cho Hàn Quốc đi vào thời đại mới. Và ông trao chức cho ông Kim Young Sam được bầu lên một cách dân chủ.

Cũng thế, nếu chúng ta nhìn vào Đài Loan, nơi Tưởng Giới Thạch đã cầm quyền với bàn tay sắt và đã trao quyền lại cho con, Tưởng Kinh Quốc, có ai nghĩ rằng Đài Loan sẽ canh tân chế độ đâu? Trong bao nhiêu năm, bàn tay của con nắm chặt quyền hành không thua gì cha, với cùng bộ máy Quốc Dân Đảng kiện toàn hơn nữa. Nhưng đến một giai đoạn nào đó, chính Tưởng Kinh Quốc quyết định không cho phép một Tưởng khác trong gia tộc lên kế vị, mà cũng không chấp nhận cho quân đội lên nắm quyền. Cái bước đầu của chính thể Đài Loan hiện tại có lẽ là đấy.

Trường hợp Nhật Bản khác hơn. Cái bước đầu dân chủ đó do tướng Mac Arthur áp đặt. Nhưng nếu chỉ một mình Mỹ áp đặt mà thành công thì cả châu Mỹ la tinh đã dân chủ từ lâu rồi. Ở Nhật, cả một tầng lớp lãnh đạo, bảo thủ cũng như xã hội, đồng thanh gạt bỏ quá khứ quân phiệt và quyết tâm đứng dậy từ thảm nhục mà bước lên với một hiến pháp dân chủ đồng thuận. Bắt đầu vẫn là một ý muốn. Có ý muốn của người thắng trận, nhưng ý muốn của người bại trận là chủ chốt.
Đó là chứng minh xuôi. Bây giờ chứng minh ngược. Ở Singapour, cái gì khiến xứ đó đi trên con đường đang đi? Một ý muốn từ đầu: ý muốn của Lý Quang Diệu. Chừng nào chưa có ý muốn khác, chừng đó xứ này vẫn còn cứ giàu, cứ sạch, và cứ có cảm tưởng thiếu một cái gì đó. Ai dám nói cái cảm tưởng đó sẽ không tạo ra ý muốn?
Các anh chị thân mến, tôi sẽ không nói chuyện hôm nay về đề tài này nếu tôi không đang nuôi một niềm lạc quan mãnh liệt ở đất nước tôi và ở dân tộc tôi. Nếu tôi không tin tưởng mãnh liệt ở sự kỳ lạ nơi con người. Nơi tổng bí thư Nông Đức Mạnh. Dù chỉ trên một con chim én, ai dám bảo không thấy mùa xuân?

Cao Huy Thuần

Chú thích:
(1) Về những câu trích dẫn Bernard Kouchner, có thể đọc trong sách của ông: Le malheur des autres, Odile Jacob, 1991, và bài viết của ông: Le mouvement humanitaire, trong tạp chí Le Débat, số 69, tháng 11-12 năm 1991. Thư mục về droit d'ingérence quá nhiều. Tôi có chỉ trích trong cuốn sách của tôi: Mutations internationales et évolution des normes, PUF, 1994. Một số câu nói tôi trích trong đó, ví dụ câu nói trong chương trình truyền hình La Marche du Siècle. 
(2) Mario Bettati, Théorie et réalité du droit d'ingérence humanitaire, trong Géopolitique, số 68, tháng 1-2000. 
(3) Ví dụ: Hiệp ước 9-12-1948 về sự đề phòng và trừng phạt tội ác diệt chủng; Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền 10-12-1948; những hiệp định quốc tế về quyền của con người 16-12-1966:; hiệp ước 1984 chống lại tra tấn; hiệp ước bảo vệ quyền của thiếu nhi 1989 vv… 
(4) Chẳng hạn quyết nghị 21-12-1965 của Đại Hội Đồng LHQ tuy có biểu quyết một "Tuyên ngôn về tính cách không thể chấp nhận được của sự can thiệp vào nội bộ các quốc gia" nhưng cũng nói: "mọi quốc gia phải tôn trọng quyền tự quyết và độc lập của các dân tộc và quyền đó phải được thực hiện trong sự tôn trọng những quyền của con người và những tự do căn bản". 
(5) Phải được HDBA biểu quyết với đa số; phải không có phiếu chống của các thành viên thường trực. 
(6) Trong Marcel Merle, Bilan des Relations internationales contemporelles, Economica 1995, trang 82.

 (7) như trên, trang 87.
 (8) Xem Le Monde 29-6-2000 và quyển sách của ông: Hubert Védrine, Les cartes de la France, Fayard 2000. Quyển sách vừa được dịch ra tiếng Anh, nhan đề: France in an Age of Globalization. 
(*) Con số viện trợ sẽ tháo khoán cho Nam Tư sau khi Milosevic bị giải qua La Haye là: 1,28 tỷ đô la chỉ riêng cho năm 2001. Mỹ hứa sẽ tháo khoán 181,6 triệu đô la cho năm 2001. Ngân Hàng Quốc Tế hứa cấp 150 triệu đô la, Liên Hiệp Âu châu 450 triệu đô la. Chưa kể Pháp (17,5 triệu euros), Ý (115 triệu euros), Nhật (50 triệu đô la) vv… Xem chi tiết trong Le Monde 1 và 2-7-2001. Vỗ tay, vỗ tay….