Hiển thị các bài đăng có nhãn lê xuân nhuận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lê xuân nhuận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2019


TÓM-LƯỢC SỬ-LIỆU
BỨC-TỬ VIỆT-NAM CỘNG-HÒA
(trong cuốn hồi-ký “Biến-Loạn Miền Trung” )

Lê Xuân Nhuận




... Trong lúc đó, ngay tại Thủ-Đô, trong cơn dầu sôi lửa bỏng, những tay điệp-viên chiến-lược của Cộng-Sản, từ lâu vẫn nấp dưới lớp áo tu-hành, như các Linh-Mục Thanh Lãng, Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trần Du, Nguyễn Quang Lãm, Trần Ngọc Nhuận, v.v… (cùng với Linh-Mục Trần Hữu Thanh trong “Phong Trào Chống Tham-Nhũng”), cũng sách-động quần-chúng xuống đường hằng ngày để gây thêm rối-loạn, hoang-mang trong quần-chúng, và tạo sức ép đối với Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu, làm nản thêm lòng người Mỹ, và tạo thêm lợi-thế về mặt chính-trị cho Bắc-Việt xâm-lăng.  (trang 436)

Phong-Trào Chống Tham-Nhũng

Nói đến “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” [gọi tắt từ “Phong trào Nhân dân Chống Tham nhũng để Cứu nước và Kiến tạo Hòa bình”– HNG], tưởng cần nhắc lại một số hoạt-động nổi bật của giới Kitô-Giáo trong và ngoài Việt-Nam Cộng-Hòa.

Trong thời-gian diễn ra Hội-Nghị Paris (từ 1968 đến 1973), Giáo-Hoàng Phaolô VI đã nhiều lần “nhân đạo” kêu gọi chấm dứt chiến-tranh Việt-Nam.
Tháng 12-1969, Giám-Mục Phạm Ngọc Chi, Phó Chủ-Tịch Hội-Đồng Giám-Mục Việt-Nam, qua Hoa-Kỳ, đã tuyên-bố với báo-chí Mỹ:  “Miền Nam [Việt-Nam] đồng-tình với chính-sách ‘Việt-Nam-Hóa Chiến-Tranh’ của Tổng-Thống Nixon.”
Tháng 9-1972, Đại-Hội lần 2 của tổ-chức “Kitô-Hữu Quốc-Tế” gồm hơn 20 nước họp tại Quebec (Canada),  với đề-tài giải-phóng các dân-tộc Việt―Lào―Campuchia, đã “tố-cáo các cuộc xâm-lăng và ném bom vô-nhân-đạo của Mỹ; khẳng-định quyền tự-quyết, tự-do được sống hòa-bình của nhân-dân Việt-Nam.”

Tức là việc Mỹ chuẩn-bị rút lui đã được Kitô-Giáo Việt-Nam, giáo-dân mấy chục nước khác, và nhất là Giáo-Hoàng Phaolô VI tán-đồng, không còn đánh nhau với Cộng-Sản nữa.

Ngày 20-9-1970, Linh-Mục Phan Khắc Từ, Tuyên-Úy Thanh Lao Công Sài-Gòn, qua Châu Âu, đã tuyên-bố tại Thành-Phố Firenze (Ý, nơi có Tòa Thánh Vatican):  “Kinh-nghiệm trước mắt cho chúng tôi xác tín rằng Giáo-Hội[Kitô] tại Việt-Nam hôm nay là một công-cụ hữu-hiệu của người Mỹ.”
Tháng 3-1971, Linh-Mục Nguyễn Viết Khai tuyên-bố:  “Từ chính-quyền trung-ương xuống cho tận anh Trưởng Ấp, người Miền Nam không được phép giải-quyết vấn-đề của mình mà không có người nước ngoài xen vào.”
Tháng 11-1971, Linh-Mục Trương Bá Cần, Tuyên-Úy Thanh Lao Công toàn-quốc, tham-gia vụ đình-công tại Hãng Pin “Con Ó”, bị Cảnh-Sát bắt, đã viết:  “Giáo Hội của tôi không biết chọn, nhất là chọn để chống lại những kẻ đang nắm quyền-hành trong xã-hội này... Giáo Hội của tôi cũng đã biết lựa chọn, nhưng không biết lựa chọn người nghèo khổ...”  

Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam đồng-ý với các lời cáo-buộc và chiêu-bài của đối-phương.

Nhưng, sau Hiệp-Định Paris 27-1-1973 [chấm dứt chiến-tranh Việt-Nam], thì Bắc-Việt gia-tăng nỗ-lực và quyết-tâm tiến-chiếm Miền Nam.

Ngày 19-9-1973, Tổng-Giám-Mục Sài-Gòn Nguyễn Văn Bình [Tên của vị Tổng Giám Mục nầy, từ năm 2016, đã được đật tên cho một con đường bên hông Bưu Điện chính ở trung tâm Sài Gòn – HNG] đọc diễn-văn khai-mạc “Năm Thánh”:  “Chúng tôi hy vọng rằng những cuộc giết chóc và hận thù sẽ thực-sự chấm dứt trên mảnh đất này và đồng thời có được quan hệ hai chiều giữa Bắc và Nam, trong lúc đất nước tạm thời còn phân chia.”  
      Ngày 10-1-1974, sau cuộc Hội-Nghị toàn-thể hàng giáo-phẩm, các Giám-Mục Miền Nam đã công-bố một bản tuyên-ngôn “tha thiết kêu gọi hai chính phủ Bắc và Nam cùng đồng loạt, vì tình thương dân tộc, mà ngưng mọi hoạt động gây chiến và mọi chiến dịch bôi nhọ và thù ghét lẫn nhau.”  
Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam [Cộng-Hòa] không đề-cập đến việc Bắc-Việt vi-phạm Hiệp-Ước Paris, xâm-lăng Miền Nam, mà chỉ muốn Miền Nam bắt tay làm hòa với Miền Bắc―đối-nghịch lập-trường “4 Không” của Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Giáo-Hội Kitô-Giáo Việt-Nam ở Sài-Gòn ra “Thư Chung” phát-động cuộc tranh-đấu “chống tham nhũng”, chống Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu.  Họ đòi Thiệu phải từ-chức, vận-động trưng-cầu dân-ý buộc Thiệu phải ra đi.
Lời kêu gọi đó đã dấy lên liền một “Phong-Trào” gọi là “Chống Tham-Nhũng”.

***
“Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” do Linh-Mục Trần Hữu Thanh cầm đầu, các LM Đinh Bình Định và Nguyễn Học Hiệu cùng Bác-Sĩ Nguyễn Thị Thanh phụ-lực, qua một bản “Tuyên Ngôn” được sự bảo-trợ của 301 linh-mục khác, kể cả “Tuyên-Úy Công Giáo”, ra mắt tại Giáo-Xứ Tân Việt, Sài-Gòn, từ năm 1973, là một tập-hợp tương-đối lớn, có nhiều tín-đồ nhất, và tại nhiều địa-phương nhất―so với Nhóm các linh-mục cộng-sản nằm vùng và thân-Cộng tại Sài-Gòn.
“Phong-Trào” được sự tham-gia của các nhân-vật ngoài Kitô-Giáo, như Thượng-Nghị-Sĩ  Hoàng Xuân Tửu và Dân-Biểu Nguyễn Văn Kim cùng nhiều DB thuộc Đảng Đại-Việt của Hà Thúc Ký và phía Dương Văn Minh; DB Đặng Văn Tiếp phía Nguyễn Cao Kỳ; DB Nguyễn Văn Cử chống Diệm và phía Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng; DB Vũ Công Minh phía Hòa-Hảo; DB Đỗ Sinh Tứ phía quân-đội; Bác-Sĩ Nguyễn Tuấn Anh; Luật-Sư Đặng Thị Tám; Nhân-Sĩ Nguyễn Trân; v.v...
Linh-Mục Thanh được báo-chí ngoại-quốc tặng cho danh-hiệu “Hiệp Sĩ của Người Nghèo”.

Sau đó, “Phong-Trào” công-bố các bản “Cáo Trạng” trong các cuộc biểu-tình, xuống đường rầm-rộ dữ-dội và liên-tục của các tín-đồ do các linh-mục lãnh-đạo có khi có hàng chục ngàn người tham-dự tại Huế, Đà-Nẵng, Quy-Nhơn, Nha-Trang, Cam-Ranh, Sài-Gòn, Mỹ-Tho, Cần-Thơ, v.v... [Có thể xem toàn bộ “Cáo Trạng Số 1” của Phong trào tại   http://www.giaodiemonline.com/2008/vnmlqht/phulucd.htm  - HNG]

Cuối năm 1974, nhất là đầu năm 1975, những cuộc biểu-tình chống-chính-phủ của nhóm Linh-Mục Trần Hữu Thanh, có sự tham-gia của một số chính-khách, lãnh-tụ đảng-phái, cộng với việc Hội-Đồng Giám-Mục Việt-Nam phổ-biến “Thư Chung”, kêu-gọi các Nhà Thờ toàn-quốc “chống tham nhũng”, thúc-đẩy giáo-dân xuống đường rầm-rộ, liên-tục… đã khiến cho các binh-sĩ ngoài tiền-tuyến chán-nản, mất tinh-thần, và ảnh-hưởng tai-hại đến sự sống-còn của đất-nước.

Bên cạnh “Phong-Trào” của LM Trần Hữu Thanh, còn có các Nhóm linh-mục tay sai Cộng-Sản và thân-Cộng, là các LM Trương Bá Cần, Thanh Lãng, Huỳnh Công Minh, Vương Đình Bích, Hồ Thành Biên, Nguyễn Thành Trinh; Nhóm “Đối Diện” của 11 linh-mục phản-chiến Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Phan Khắc Từ, Nguyễn Hữu Khai, v.v... trong mấy tháng cuối-cùng của Việt-Nam Cộng-Hòa, đã lợi-dụng các buổi thuyết-giảng tại các Nhà Thờđể công-khai tuyên-truyền cho “người anh em bên kia”.
(Điển-hình là Linh-Mục Phan Khắc Từ, từ năm 1969 đã đi dự đại-hội Thanh Lao Công Thế-Giới có xu-hướng thân-Cộng được Mạc-Tư-Khoa đỡ đầu, tại Liban.  Ở Pháp thì đến hội-ý với Nguyễn Thị Bình, Trưởng Phái-Đoàn thương-thuyết của “Mặt Trận Giải Phóng”; tham-gia đình-công; biểu-tình đòi công-bằng cho giới lao-động; cùng sinh-viên và công-nhân đòi hòa-bình cho Việt-Nam.  Sau này về nước thì dính vào Mặt Trận Nhân-Dân Tranh-Thủ Hòa-Bình, Phong Trào Học-Sinh Sinh-Viên Đòi Quyền Sống, Phong-Trào Chống Tăng Học-Phí, Chống Độc-Diễn; đóng vai “linh-mục hốt rác” gây sự chú ý của dư-luận; dùng Nhà-Thờ Vườn Xoài làm nơi chế-tạo bom xăng cho phong-trào đốt xe Mỹ trên đường phố; cùng công-nhân đình-công để gây trở-ngại cho các cuộc hành-quân; tiếp tay CS dựng lên Ủy-Ban Bảo-Vệ Quyền-Lợi Lao-Động Miền Nam; rồi lại giả-danh từ-thiện hoạt-động trong tổ-chức trá-hình của CS là Mặt Trận Nhân Dân Cứu Đói...)

Chủ-Tịch Thượng-Nghị-Viện Trần Văn Lắm [tín hữu Công Giáo, phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm – HNG] lên án Tổng-Thống Thiệu “lạm quyền, tham nhũng”.

Một số lãnh-tụ đảng-phái và tôn-giáo, như Phan Bá Cầm (Hòa-Hảo), Trần Quang Vinh (Cao-Đài), Hà Thế Ruyệt (Duy-Dân), Thượng-Tọa Pháp-Tri (Phật-Giáo) và các Ông Ngô-Văn-Ký, Nguyễn Văn Lục, Xuân Tùng (Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng) thành-lập “Trận Tuyến Nhân Dân Cách Mạng”, kêu-gọi TT Nguyễn Văn Thiệu từ-chức và các phe liên-hệ “chấm dứt chiến-tranh, giải-quyết vấn-đề Miền Nam bằng phương-thức hòa-bình”.

Nhóm “Sóng Thần” thì tổ-chức “Ngày Ký-Giả đi Ăn Mày” rồi tiếp theo là “Ngày Công-Lý và Báo-Chí Thọ-Nạn” vào tháng 10-1974.

Các Tuyên-Úy Công-Giáo thì tổ-chức Đại-Hội tại Thủ-Đô.  Họ rao giảng với giáo-dân quân-nhân rằng “cộng-sản cũng là con-cái của Chúa”, rằng “Công-Giáo và CS có thể sống chung hoà-bình”…  

Bản “Cáo Trạng số 1” được ghi là ký tại Huế vào ngày 8-9-1974, khi được tung ra tại Nhà Thờ Tân-Sa-Châu,Sài-Gòn, có báo bảo là “làm lung-lay ghế Tổng-Thống Thiệu.”
      Các báo Time, Newsweek; các đài BBC, VOA đều loan tin.  
      Hậu-quả là Quốc-Hội Mỹ quá chán-ngán Chiến-Tranh Việt-Nam và mệt-mỏi vì đã yểm-trợ một đồng-minh có quá nhiều khuyết-điểm và thối-nát.  

Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam đã tiếp tay cho Hoa-Kỳ chấm dứt viện-trợ và phủi tay đối với Việt-Nam Cộng-Hòa.

Việc Mỹ cắt-giảm quân-viện đã làm tê-liệt hẳn khả-năng chiến-đấu của Quân-Lực VNCH, và từ đó làm suy-nhược tinh-thần kháng-cự, yếu-tố quan-trọng nhất trong bất-kỳ cuộc chiến-tranh nào.
 *
Về phần Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu thì ông đích-thân đi trực-tiếp cầu-cứu tại chính-quốc Hoa-Kỳ, nhưng đã không được nghênh-đón long-trọng tại Thủ-Đô Hoa Thịnh Đốn.  Năm 1968, Johnson (dù là Dân-Chủ nhưng chủ-chiến) chỉ tiếp Thiệu tại thành-phố đảo Honolunu, và chỉ để thảo-luận sách-lược hòa-đàm với Cộng-Sản.  Năm 1969, Nixon (dù là Cộng-Hòa nhưng chủ-hòa) cũng chỉ tiếp Thiệu tại Đảo Midway, và cũng chỉ để thỏa-thuận về chính-sách Việt-Nam-Hóa và lịch-trình rút quân của Mỹ.

Thiệu lại đích-thân đi trực-tiếp cầu-cứu với Giáo-Hội Kitô La-Mã, là một trung-tâm quyền-lực chính-trị khác của thế-giới. Tuy nhiên, Giáo-Hoàng Paul VI, trong cuộc viếng-thăm lục-địa Á-Châu lần đầu-tiên, đã không ghé đến Việt-Nam là quốc-gia đang bị Cộng-Sản đe-dọa, nhất là Việt-Nam có tỷ-số giáo-dân đông thứ nhì tại lục-địa này.  Thiệu đến Tòa Thánh, nhưng không được Giáo-Hoàng tiếp-kiến―dù Thiệu là một Tổng-Thống, một con chiên―vì lập-trường của Vatican về vấn-đề Chiến-Tranh Việt-Nam là chỉ bênh-vực Hà-Nội, chỉ muốn chấm dứt chiến-tranh dù Miền Nam có rơi vào chế-độ Cộng-Sản sắt máu.  Đã thế, Giáo-Hoàng Paul VI còn chỉ-trích Tổng-Thống Thiệu, lại còn tiếp-kiến cặp Nguyễn Thị Bình và Xuân Thủy, trưởng phái-đoàn Cộng-Sản tại Hòa-Hội Paris. 

Từ năm 1968, Giáo Hoàng Phaolồ Đệ-Lục đã lập ra “Ngày Quốc-Tế Hòa-Bình”, cổ-vũ Hòa-Bình bằng thương-thuyết tại Việt-Nam.  Vatican xác-định lập-trường là chấm dứt chiến-tranh, quan-hệ tốt với Miền Bắc và Chính-Phủ Lâm-Thời Miền Nam.  Chính Giáo-Hoàng này trao-đổi công-điện trực-tiếp với Hồ Chí Minh.  

Vào tháng 6-1971, đang lúc tên gián-điệp cộng-sản Vũ Ngọc Nhạ (kẻ được Linh-Mục Hoàng Quỳnh che-chở) bị Việt-Nam Cộng-Hòa cầm tù ở Côn-Đảo, mà Tòa Thánh và Giáo-Hoàng Phaolô VI lại tặng Bằng Khen và Huy Chương “Vì Hòa Bình” cho y.  

Tức là Giáo-Hoàng Paul VI đã biến Vatican và nhiều Giáo-Hội địa-phương thành một guồng máy chính-trị, ngoại-giao, tình-báo khổng-lồ để giúp Hà-Nội tiến chiếm Miền Nam.

***

Thế mà Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng vẫn chưa thấy là Hoa-Kỳ sắp bỏ rơi Việt-Nam, không thay-đổi đường-lối chính-trị, vẫn cứ sử-dụng giải-pháp quân-sự, và không tin là Hà-Nội có đủ sức tấn-công đại-quy-mô.
Ông sửa-đổi Hiến-Pháp để làm Tổng-Thống thêm một nhiệm-kỳ 5 năm nữa, khiến Đại-Tướng Thủ-Tướng Trần Thiện Khiêm phải ra mặt chống-đối, làm tình-hình chính-trị trong nước càng rối-ren thêm.

Ðầu tháng 2-1975, “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” phổ-biến tiếp bản “Cáo-Trạng số 2” tố-cáo TT Thiệu nhiều tội và hô-hào lật đổ bằng vũ-lực, khiến ông phải dùng biện-pháp mạnh, cho bắt giam nhiều chính-khách, trí-thức, lãnh-tụ đảng-phái, như các Thượng-Nghị-Sĩ Thái Lăng Nghiêm, Phạm Nam Sách, Nguyễn Văn Chức; các ông Hà Minh Lý, Trần Thúc Linh, và một số ký-giả trong đó có những nhân-vật nổi tiếng chống-Cộng như Mặc Thu, Lê Trần, Vũ Bằng, Đinh Từ Thức, Trương Cam Vĩnh, Ngô Đình Vận...

Để đối-phó với “Phong-Trào”, Thiệu vận-dụng nhiều đồng-đạo ủng-hộ mình.
Có sáu linh-mục, trong đó có cả Linh-Mục Hoàng Quỳnh, sáu đêm liền, thay phiên nhau lên đài truyền-hình bênh-vực và ca-ngợi Thiệu; ngoài ra, còn có các Nghị-Quyết, Quyết-Định, Đề-Nghị, có chữ ký của 70 Dân-Biểu ủng-hộ Thiệu.
Có cả Giám-Mục Lê Văn Ấn, đặc-trách Tuyên-Úy, Giám-Mục Nguyễn Văn Thuận, Linh-Mục Cao Văn Luận, đứng ra cãi giùm cho Thiệu.

Tình-hình gay-cấn đó, do “Phong Trào Chống Tham-Nhũng”* gây nên, đã tạo ra thế “nội công, ngoại kích”, quả là đã phá rối hậu-phương, làm lung-lạc tinh-thần binh-sĩ nơi tiền-tuyến, làm lợi cho Cộng-Sản, trong khi đó thì Bắc-Việt xua quân tấn-công Miền Nam...

-------
*Năm kia, nhà văn Nguyễn Văn Lục có hỏi xin tôi tài-liệu về “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” của Linh-MụcTrần Hữu Thanh; nhân dịp, tôi đã giới-thiệu với anh nhà văn Nguyễn Lý Tưởng, cũng ở miền Nam Bang California. USA.
(Thời-gian 1973-75 anh Tưởng chưa nắm vững vấn-đề, nhưng đến năm 1989, anh Tưởng sống ở trong nước Việt-Nam Xã-Hội Chủ-Nghĩa, đã trực-tiếp hỏi chuyện Linh-Mục Trần Hữu Thanh ở bên đó nên biết rõ-ràng hơn.)


 Kết-Luận

Có người cho rằng “Phật-Tử Tranh-Đấu”, tức [số người hậu-thuẫn cho] Phái Ấn-Quang của Phật-Giáo Việt-Nam (về sau là Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất) đã liên-tục chống-đối Chính-Quyền Việt-Nam Cộng-Hòa, khiến cho Nền Đệ-Nhất Cộng-Hòa sụp-đổ, rồi Nền Đệ-Nhị Cộng-Hòa cũng suy-tàn theo.  Nghĩa là, theo ý họ, chính cuộc tranh-đấu của Phật-Giáo Ấn-Quang năm 1963 đã đưa đến sự sụp-đổ của VNCH vào năm 1975 (!)

Như thế thì:

Cả một khối lớn, gồm có:
Giáo-Hoàng Phao Lồ Đệ-Lục
Tòa Thánh Vatican
100% Giáo-Hội Ky-Tô-Giáo Hoàn-Vũ [có hơn một tỷ tín-đồ]
20 nước Ky-Tô-Giáo Quốc-Tế
100% Hội-Đồng Giám-Mục Việt-Nam
Phong-Trào Chống Tham-Nhũng và Kiến-Tạo Hòa-Bình
đã tạo biến-loạn vào chính những năm 1974-1975, không những chỉ muốn sử-dụng vũ-lực lật đổ tức-thời Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu, mà còn chống cả chính-thể Việt-Nam Cộng-Hòa  

mà không có tội đối với Quốc Dân, lại đi gán hết trách-nhiệm cho:
                  Một Thượng-Tọa Thích Trí-Quang
                  50% Phật-Tử Ấn Quang [chỉ hơn mươi triệu]
                  vốn đã chấm dứt tranh-đấu sau khi đã có Hiến-Pháp từ 1967, và Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc chỉ mít-tinh ôn-hòa tại chùa và chờ sử-dụng lá phiếu hợp-hiến & hợp-pháp mà thôi?

                                                   ? ? ?

Nhưng, theo như tôi đã lược-dẫn trên, thì:

“Phật-Tử Tranh-Đấu” đã chấm dứt hoạt-động từ ngày thành-lập Nền Đệ-Nhị Cộng-Hòa, cuối năm 1967.  Mãi đến lâu sau Hiệp-Định Paris 1973 mới tái-xuất-hiện trong “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc”.

Cả phía “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” bên giới Phật-Tử, lẫn phía “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” bên giới Giáo-Dân, đều tranh-đấu chống Thiệu để có được một Tổng-Thống trong-sạch.

Tuy nhiên, các điểm khác nhau là:  

● “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” chỉ họp tại Chùa, sinh-hoạt ôn-hòa, bất-bạo-động, không đòi lật Thiệu, chỉ chờ đến ngày bầu-cử Tổng-Thống vào cuối năm 1975 sẽ sử-dụng lá phiếu hợp-Hiến và hợp-Pháp của mình.
● “Phong-Trào Chống Tham Nhũng” thì rầm-rộ xuống đường, biểu-tình tuần-hành, đòi Thiệu từ-chức, và hô-hào dùng bạo-lực để lật đổ Thiệu tức-thời.

“Phật-Tử Tranh-Đấu” mít-tinh ôn-hòa thì không xáo-trộn trật-tự công-cộng, tiến-hành trong vòng luật-pháp cho phép, và theo truyền-thống sinh-hoạt dân-chủ tại các nước Tự-Do.
“Giáo Dân Tranh Đấu” thì triệt-hạ uy-tín và hiệu-năng quyền-lực của một Tổng-Tư-Lệnh Quân-Đội đang đứng trước họng súng của quân thù, lại còn đòi dùng vũ-lực để lật đổ một Tổng-Thống dân-cử, tức là xóa bỏ Hiến-Pháp, tức là trở thành nội-phản/nội-thù của Quốc/Dân.

Phía “Giáo-Dân Tranh Đấu” thì đòi trừng-phạt một cá-nhân tham-nhũng―mà tổng-số vật-sản bị lạm-chiếm so ra không đáng bao lăm đối với tài-nguyên quốc-gia, lại vẫn còn đó, rồi sẽ lấy lại, chưa mất đi đâu―trong lúc Phía “Phật-Tử Tranh Đấu” thì đặt “nợ nước trước thù nhà”, mọi người chung sức đồng lòng chống giặc trước đã, trước hết là để trì níu lại cái Cơ-Đồ Dân-Chủ đang trong cơ nguy bị vĩnh-viễn cướp mất đi.

***

Phần tôi, tôi đối-lập với chính-sách quân-phiệt của Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu―cũng như với chế-độ độc-tôn của Tổng-Thống Ngô Đình Diệm trước kia―nhưng tôi đã chọn trước tiên là làm tròn bổn-phận của một công-dân đối với Chính-Thể Cộng-Hòa.

Riêng về “Phong Trào Chống Tham Nhũng”, có ít nhất là ba vấn-đề quan-trọng hàng đầu mà phía “Giáo Dân Tranh Đấu” (“trả thù cho [cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm]”, theo lời trối-trăn của Diệm “Tôi chết thì trả thù cho tôi”) cố ý không đề-cập đến:
   
I. Việc hạ bệ Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu:  

a/ Họ muốn đảo-chánh quân-sự, nhưng không thuyết-phục được ai, nên không thành-công.
b/ Họ quyết hạ Thiệu, nhưng không tìm ra được một “ứng-viên” nào của “phe ta” xứng-đáng để lên thay Thiệu.  Chỉ nhắm trước mắt mà không nhìn thấy xa hơn―tình-hình hậu-Thiệu―thì tức chỉ là “không lấy thì khuấy cho hôi” mà thôi.

II. Lý-do hạ Thiệu:  

1) Thiệu là thủ-phạm, đã tấn-công Dinh Gia-Long, đưa đến cái chết của Diệm.
2) Nhưng, cái tội lớn nhất của Thiệu, là đã có Đảng Dân-Chủ, lan trong quần-chúng, len trong chính-quyền, luồn trong quân-ngũ, mà lại chỉ lo gia-tăng phe-cánh cho cá-nhân mình, chứ không chịu dùng nó [như một Đảng Cần-Lao tái-sinh] để “mở-mang nước Chúa”.

III. Mục-đích đích-thực của “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”:

Danh-xưng thực-thụ của Nhóm này (cái đuôi mà họ cố giấu) là:
“Phong trào nhân dân chống tham nhũng để cứu nước và kiến tạo hòa bình”.
Toàn câu đã được ghi rõ phía dưới “Cáo Trạng số 1”, làm tại Huế, ngày 8 tháng 9 năm 1974.
Trong các hoạt-động sôi-động trước mọi người, họ cố tình nhấn mạnh mấy chữ “chống tham nhũng” mà lơ đi cái đuôi là mấy chữ “kiến tạo hòa bình”.

Thử hỏi: trong tình-thế dầu sôi lửa bỏng lúc bấy giờ, có ai còn có cách nào “kiến-tạo hòa-bình” khác hơn là tuân giữ “đức vâng lời”, tuân lệnh Giáo-Hoàng PhaoLô VI và ngoại-bang Vatican, bỏ súng, bắt tay với cộng-sản, rước địch vào nhà?

***
Sau Hiệp-Định Paris năm 1973, nói chung là sau “Mùa Hè Đỏ Lửa” năm 1972, các vụ “Bàn Thờ Phật Xuống Đường” cũng như “Tổng-Công-Kích Tết Mậu-Thân” đã là chuyện cũ, đã lùi vào dĩ-vãng rồi.
Các ván cờ đó đã được các bên tham-dự xóa hết rồi.  
Hệ-quả có chăng là sau vụ “Bàn Thờ Phật Xuống Đường” năm 1966 thì Nhóm “Phật-Tử Tranh-Đấu” đã không còn “tranh-đấu” nữa sau khi đã có Hiến-Pháp năm 1967; và sau vụ VC “Tổng-Công-Kích Tết Mậu-Thân” năm 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 thì tinh-thần chống-Cộng của Dân và Quân Miền Nam đã lên cao hơn.  
Cho nên Biến-Động Miền Trung là chuyện đã xưa rồi.

Mới nhất, gian-xảo nhất, và nham-hiểm nhất, là chuyện Biến-Loạn Miền Trung.
Trên bàn cờ thời-sự Miền Nam Việt-Nam, vào giai-đoạn cuối-cùng của lịch-sử Việt-Nam Cộng-Hòa, chỉ còn có một ván cờ mới―chung-kết và chung-quyết:

Đối-thủ chính bên phía đối-lập với Chính-Quyền là các Nhóm “Giáo-Dân Tranh Đấu”, do đại-khối hơn 300 linh-mục trong “Phong Trào Chống Tham Nhũng” và cả đám linh-mục nằm vùng và thân-Cộng, “lãnh-đạo tinh-thần” Kitô-Giáo Việt-Nam, đứng ra thao-túng tình-hình.
Ở trên đầu và sau lưng họ là Tòa Thánh La-Mã với đích-thân Giáo-Hoàng Phaolô VI cùng với hàng chục quốc-gia chư-hầu của Vương-Quốc Vatican.
(Nhưng quốc-gia Việt-Nam của Kitô-Giáo đâu được làm một chư-hầu.  Chư-hầu là một nước nhỏ/yếu, tùng-phục một nước lớn/mạnh, để được tồn-tại, nghĩa là vẫn còn là một nước.  Đằng này, chỉ một Dòng Chúa Cứu-Thế là một giáo-đoàn/chi-phái của Giáo-Hội Kitô, mà đã tự xem là một Quốc-Gia, và thu-tóm cả nước Việt-Nam làm thành một Tỉnh nội-thuộc của Nước họ rồi:
Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.)

Thế đánh cạn-tàu ráo-máng của nội-thù đã chiếu bí Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu, trực-tiếp mở đường cho ngoại-địch hạ gục đối-thủ trong nước cờ kết-thúc giữa Bắc-Việt Xâm-Lược với Việt-Nam Cộng-Hòa.

***
Vận Nước suy-đồi, mỗi người dù nhiều dù ít đều có một phần trách-nhiệm (thất-phu hữu-trách).

Chỉ có những kẻ đầy thiên-kiến, mù lương-tri, có ác-ý, và không tôn-trọng Sự Thật, mới đổ hết lỗi cho một riêng ai.
Ngày nay, mang thân-phận thất-quốc, lưu-vong, chỉ trừ những kẻ đã ở hẳn bên phía cộng-sản Việt-Nam rồi, còn thì không có “Phật-Tử Tranh-Đấu” nào mà không luyến-tiếc Việt-Nam Cộng-Hòa.

Trong lúc đó, có một số “Giáo-Dân Tranh-Đấu”, đến tận ngày hôm nay―đã gần 40 năm qua―mà vẫn còn tự-hào, hãnh-diện về những âm-mưu, toan-tính, nỗ-lực, và hành-động của cái-gọi-là “Phong-Trào Chống Tham Nhũng”, vì mình không những chỉ chống-phá cá-nhân Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu mà đã đạp đổ cả cơ-chế Hiến-Pháp―với Lập-Pháp, Hành-Pháp, Tư-Pháp ở trong Chính-Quyền―và các Khối, các Nhóm trong Dân-Nhân―với các Chính-Đảng và các Giáo-Hội sống dưới Chính-Thể Việt-Nam Cộng-Hòa―nói chung là Việt-Nam Cộng-Hòa.  

Chính những kẻ ủng-hộ “Phong-Trào Chống Tham Nhũng” ngày nay cũng đã công-khai nhìn-nhận là LM TrầnHữu Thanh và cả “Phong Trào” đó đã chống VNCH.

***
Tóm lại, nếu vì một lý-do nào đó mà phải gán riêng cho đích-danh một số người nào đó là “thủ-phạm chính” quấy-rối an-ninh trật-tự công-cộng nhất, lũng-đoạn tình-hình chính-trị quốc-gia nhất, gây cho tinh-thần dân-chúng hoang-mang nhất, khiến cho ý-chí chống-Cộng của chiến-sĩ giao-động nhất, vào mấy năm cuối-cùng của Chiến-Tranh Việt-Nam―tức là đâm một nhát dao chí-tử vào Việt-Nam Cộng-Hòa khi đang hấp-hối―thì số người đórõ-ràng, không thể chối-cãi được, phải là thành-phần cực-đoan trong Nhóm “Giáo-Dân Tranh-Đấu”―các linh-mục cộng-sản nằm vùng, tay sai và thân-Cộng, cùng với Ban Lãnh-Đạo của “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”―dù là một bộ-phận nhỏ―của giới tín-đồ Kitô-Giáo Miền Nam Việt-Nam.
(các trang 472-84)

    LÊ XUÂN NHUẬN  





Thứ Hai, 15 tháng 10, 2018



MANG TÊN NGÔ ĐÌNH DIỆM”
XẢO TRÁ HAY NGU DỐT? – TRẢ LỜI: CẢ HAI!

Lê Xuân Nhuận
(hoangnamgiao lay-out lại bài viết)

LGT – Trong nỗ lực phục hồi hình ảnh tồi tệ của ông Ngô Đình Diệm trong lịch sử nước ta, những người thân cận của gia đình ông Diệm và những “sử gia” Công giáo hoài-Ngô cố gắng đưa ra một số chi tiết “lịch sử” để biện minh cho các sai lầm và tội lỗi của ông Diệm và chế độ Đệ Nhất Cọng hòa. Một trong những biện minh đó là ông Diệm không kỳ thị tôn giáo; ngược lại là khác, theo “nghiên cứu” và “phát hiện” của họ, ông còn thân thiện và giúp đở các quốc gia Phật giáo (như Tây Tạng) hoặc Hồi giáo (như Bangladesh).

Một ví dụ điển hình được tìm thấy trên Internet trong cuối tháng Tám năm 2018 vừa qua. Đó là hai ông “luuvu44” và “albertvu” đã phổ biến một email với chủ đề “Có thể bạn chưa biết ở Bangladesh”, trong đó họ khẳng định rằng “Ở Bangladesh có một con đường mang tên Ngô Đình Diệm”. Rồi họ lý giải rằng sở dĩ có tên đường đó là vì “ … năm 1960 , Bangladesh bị nạn đói hoành hành , thậm chí xảy ra cả việc ăn thịt người , VNCH đã viện trợ cho chính phủ nước BẮC Á này 200.000 tấn gạo và 5 triệu usd hỗ trợ và các gói cứu trợ không hoàn lại khác.” Cho nên “Khi NGÔ TỔNG THỐNG mất, nhân dân đã để quốc tang 7 ngày và khóc không ngừng nghỉ”.

Nhưng bài viết dưới đây của tác giả Lê Xuân Nhuận đã bóc trần sự gian dối và ngu xuẫn của họ, chứng minh một cách đầy thuyết phục rằng sự cố đó là bịa đặt, không đúng sự thật ! Và từ đó, tác giả rút ra một kết luận: “Ông Diệm là người gian+dối”. 
Riêng chúng tôi thì rút ra được một điều: Đọc các tài liệu và/hay “hồi ký” của dư đảng Công giáo hoài- Ngô thì phải cẩn thận. Họ chỉ ngụy tạo thông tin để tô son điểm phấn cho khuôn mặt của một tội đồ dân tộc đã bị Dân tộc quẳng vào Hố rác Lịch sử. Dứt khoát hhông tin họ được ! [hoangnamgiao]

Không “có một con đường mang tên Ngô Đình Diệm” nào cả nhưng lại có một bức tượng toàn thân của ông Diệm, do một ông Công giáo Diệmist cuồng tín hạng nặng là “Tiến sĩ Hồng Lĩnh” xây và đặt sau vườn nhà ông ta ở Thụy Sĩ từ năm 2012. Nhưng tượng xấu quá, chất lượng xi-măng rẽ tiền, khuôn mặt lại không giống, trang phục và điệu bộ (với mũ “Phớt” và “Gậy Ba-toong”) thì gần giống như Hề Charlot (diễn viên điện ảnh thời kỳ phim câm đen-trằng của những năm 1930’s) trông rất quái đản, chỉ làm trò cười cho thiên hạ, nên bị chính nhiều tàn dư Ngô triều phản đối và tẩy chay! 




TỔNG-THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
ĐÃ VIỆN-TRỢ CHO BANGLADESH
200,000 TẤN GẠO & US$5,000,000.00

Lê Xuân Nhuận

Gần cuối Tháng 9 năm nay (2018), có người đã tung lên Mạng một bài “nhắc chuyện” lịch-sử, tự nó mở màn cho cuộc tranh-luận đã thành thông-lệ từ đầu Tháng 10 dương-lịch, thời-điểm đưa đến biến-cố lật đổ chế-độ Ngô Đình Diệm vào ngày 1/11/1963. Nguyên-văn như sau:

From: luu vu luuvu44@yahoo.com [BTGVQHVN-2] <BTGVQHVN-2@yahoogroups.com>
To: Thai Pham <thai999@gmail.com>; Albert Vu LAST_NAME <albertvu@comcast.net>
Cc:  …… (hide)
Sent: Friday, August 24, 2018, 12:52:06 PM CDT
Subject: [BTGVQHVN-2] Re: Fwd: Có thể bạn chưa biết ở Bangladesh. [2 Attachments]
On Thursday, August 23, 2018, 9:43:00 PM PDT, Albert Vu LAST_NAME <albertvu@comcast.net> wrote:
Date: August 23, 2018 at 5:24 AM

Subject: [Quán Cà Phê HỒNG] Fwd: Có thể bạn chưa biết ở Bangladesh.
Có thể bạn chưa biết : ở Bangladesh  có một con đường tên Ngô Đình Diệm , có bước tượng tổng thống đang vẫy chào nhân dân Bangladesh , hai bên là hoa sen , quốc hoa của VN , để tưởng nhớ tổng thống.

Nguyên nhân là năm 1960 , Bangladesh bị nạn đói hoành hành , thậm chí xảy ra cả việc ăn thịt người , VNCH đã viện trợ cho chính phủ nước BẮC Á này 200.000 tấn gạo và 5 triệu usd hỗ trợ và các gói cứu trợ không hoàn lại khác . Khi NGÔ TỔNG THỐNG mất, nhân dân đã để quốc tang 7 ngày và khóc không ngừng nghỉ .


Tôi không thể nào bỏ qua một chuyện quan-trọng như thế, nên đã tìm hiểu Sự Thật thế nào.

Và đây là những chi-tiết liên-quan:
I – Hoa Sen là quốc-hoa của Đệ-Nhất Việt-Nam Cộng-Hòa?
Từ đầu thập-niên 2010 đến nay, trong nước rộ lên nhu-cầu chọn một loại hoa để làm quốc-hoa cho Việt-Nam. Chỉ cần nhìn vào một số websites thì thấy:
● Hoa sen sẽ là quốc hoa của Việt Nam?
QĐCT - Thứ Hai, 24/07/2010, 21:45 (GMT+7)

● HOA SEN – BIỂU TƯỜNG VĂN HÓA VIỆT NAM

● Hình tượng hoa sen trong văn hóa của người Việt Nam
10/02/2013 09:23 GMT+7

● Hoa Sen - Biểu tượng Văn hóa Việt

● Ý nghĩa hoa sen - quốc hoa của Việt Nam 
Oct 3, 2017

● Hoa Sen - Ý nghĩa và Biểu tượng quốc hoa Việt Nam

● Hoa sen trắng, hồng, xanh đẹp và ý nghịa 

● Ý nghĩa của hoa sen loài hoa của sư tinh khôi giản dị thuần khiết
02/01/2018

● Ý nghĩa hình tượng hoa Sen trong văn hóa Việt Nam 
Apr 24, 2018


● Ý nghĩa hoa sen và bí mật của quốc hoa Việt Nam 
lúc 15:38 05/06/2018

Như thế nghĩa là mãi đến thập-niên 20 của thế-kỉ 21 quốc gia Việt-Nam vẫn chưa có một quốc-hoa (mặc dù đã có quốc-hiệu, quốc-kì, quốc-ca, quốc-huy…).
Thế mà quý vị AlbertVu (và LuuVu) lại khẳng-định rằng Bangladesh đã sử-dụng hoa sen – “quốc-hoa củaViệt-Nam” – để trang-trí hai bên bức tượng của Tổng-Thống Ngô Đình Diệm đang vẫy tay chào nhân-dân Bangladesh, được xây-dựng từ thập-niên 60 của thế-kỉ 20 (cả nửa thế-kỉ trước kia).

II – Năm 1960, Tổng-Thống Ngô Đình Điệm đã tặng gạo cho nước nào? Bao nhiêu tấn?
Tài-liệu trích-dẫn (email cuả Luuvu44) ghi rõ: “Nguyên nhân là năm 1960 , Bangladesh bị nạn đói hoành hành , thậm chí xảy ra cả việc ăn thịt người , VNCH đã viện trợ cho chính phủ nước BẮC Á này 200.000 tấn gạo và 5 triệu usd hỗ trợ và các gói cứu trợ không hoàn lại khác”.
II.a/ Việc Tổng-Thống Ngô Đình Diệm viện-trợ gạo cho di-dân Tây-Tạng đã được cộng-đồng Mạng thảo-luận vào năm 2013 (tham-chiếu:http://lexuannhuan.tripod.com/GaoTayTang.html ) Tóm-tắt là theo một tài-liệu tư-nhân ở Ấn-Độ thì Thủ-Tướng kiêm Bộ-Trưởng Ngoại-Giao Ấn-Độ, Ông Shri Jawaharlal Nehru, đã trả lời một câu phỏng-vấn tại Thượng-Nghị-Viện Ấn-Độ vào ngày 19/12/1960, rằng: “Chính-Phủ Việt-Nam Cộng-Hòa đã tặng 1,300 tấn gạo (cho việc cứu-trợ và phục-hoạt các người Tây-Tạng tị-nạn).”

II.b/ Nay, theo “tài liệu” của quý vị hoài Ngô nêu trên, cộng với tài-liệu vừa dẫn, thì trong năm 1960 Tổng-Thống Ngô Đình Diệm đã tặng gạo cho hai (2) dân-tộc/quốc-gia như sau:
1)  Tây Tạng (qua Ấn Độ):      1,300 tấn gạo
2)  Bangladesh                  :  200,000 tấn gạo
                   Tổng-cộng: 201,300 tấn gạo

III – [Thế nhưng] Năm 1960, Việt-Nam Cộng-Hòa xuất-cảng bao nhiêu tấn gạo?
Theo tài-liệu chính-thức của Đệ-Nhất Việt-Nam Cộng-Hòa, là cuốn “Thành-Tích Sáu Năm Hoạt-Động của Chánh-Phủ” (trang 525, đoạn dưới), thì: Trong năm 1960, Việt-Nam Cộng-Hòa đã xuất-cảng được: Ngũ-Cốc (6 tháng đầu năm): 196,584 tấn (1,000 K)

    
Cứ theo đầu-óc kinh-tế thông-thường của các nhà cầm quyền thì ngũ-cốc (trong đó có lúa, gạo) thu-hoạch được, sau khi tiêu-thụ trong nước, số còn lại đưa ra xuất-cảng. Đương-nhiên phải có một số dự-trữ (đề-phòng bão, lụt, hạn-hán, mất mùa; nhưng không thấy báo-cáo số gạo tồn-kho ấy).  Song, với số lượng xuất-cảng là 196,584 tấn trong nửa năm đầu, cho đi là cũng chừng đó trong nửa năm sau, tức là 196,584 nhân 2, ta có 393,168 tấn cho cả năm 1960.
Ở trang 626 có nói rõ rằng ngũ-cốc là gạo và phó-sản, tức là số-lượng gạo ít hơn số-lượng ngũ-cốc. Xuất-cảng 393,168 tấn ngũ-cốc (nếu tính riêng gạo thì số-lượng gạo ít hơn, vì ngũ-cốc là gồm cả mè, gạo nếp, gạo tẻ, kê, ngô, các loại đậu,…), mà đem cho không (có ai bắt buộc?) đến 201,300 tấn gạo!

 IV - Tại sao mãi đến hôm nay mới nhắc đến vụ này?
 Tổng-Thống Ngô Đình Diệm viện-trợ gạo (và 5 triệu Mĩ-kim, v.v…) cho Bangladesh vào năm 1960. Tại sao các tài-liệu văn-khố và tư-liệu ngoại-sử như “Những Ngày Chưa Quên” của Đoàn Thêm, “Việt Nam Niên Biểu” của Chính Đạo, “Những Biến Cố Lớn trong 30 Năm Chiến Tranh tại Việt Nam…” của Nguyễn Đình Tuyến… đều không đề-cập; và tại sao từ đó đến nay, đã (2018-1960=) 58 năm qua, mà không có ai khác hơn nhắc đến vụ nầy, nhất là vào năm 2014 trên Mạng đã có bàn nhiều về vụ Việt-Nam Cộng-Hòa tặng gạo cho di-dân Tây Tạng cũng vào năm 1960? (Nguồn: http://lexuannhuan.tripod.com/GaoTayTang.html )
Hơn nữa, dân Bangladesh đối với Việt-Nam có gì quan-trọng hơn dân tị-nạn Tây-Tạng, mà đối với Tây-Tạng, Tổng-Thống Ngô Đình Diệm chỉ tặng có 1,300 tấn gạo, trong khi tặng cho Bangladeshđến “200,000 tấn gạo và 5 triệu usd (đô-la Mĩ) cùng các gói cứu trợ không hoàn lại khác”?
Đem gạo tặng người tị-nạn hoặc lâm-nạn trong cảnh túng-thiếu, là một việc tốt; nhưng nếu không ám-muội, bất-chính, thì sao lại phải giấu kín, để đến hôm nay mới có người khui ra?

V - Tổng-Thống Ngô Đình Diệm viện-trợ gạo cho Bangladesh là dân/nước nào?
Trong cuốn “Thành-Tích Sáu Năm Hoạt-Động của Chánh-Phủ” (07-07-1954 – 26-10-1960), ở phần “Mối Bang-Giao của Việt-Nam với các Quốc-Gia trên Thế-Giới Tự-Do”, các trang 433-42, Việt-Nam Cộng-Hòa đã lập bang-giao với:  (I.- Á-Châu) 1.- Nhật-Bản, 2.- Đại-Hàn Dân-Quốc, 3.- Trung-Hoa Dân-Quốc, 4.- Phi-Luật-Tân, 5.- Thái-Lan, 6.- Liên-Bang Mã-Lai, 7.- Ai-Lao, 8.- Cao-Miên; (và ở tiểu-mục “Việt-Nam và các quốc-gia Á-Châu khác” có ghi:) Việt-Nam đều có mối bang-giao thân-hữu:  Ấn-Độ, Nam-Dương, Miến-Điện, Hương-Cảng và Tân-Gia-Ba.
Việt-Nam Cộng-Hòa không có bang-giao với một nước nào mang tên Bangladesh cả.
Để tìm hiểu Bangladesh là dân-tộc/quốc-gia nào, tôi dò trên Mạng thì thấy: https://vi.wikipedia.org/wiki/Bangladesh
Đại-í:  Sắc dân Bangal, vốn sinh-tồn giữa Ấn-Độ và Hồi-Quốc, nguyên gồm hai nhóm Bangal Đông-Hồi và Tây-Hồi, nằm dưới quyền đô-hộ của Anh cho đến năm 1947.  Dân-chúng tập-hợp đòi quyền tự-trị khỏi Hồi-Quốc (Pakistan) trong thập-niên 1960; và sau một cuộc chiến-tranh đẫm máu, nhờ Ấn-Độ giúp, sắc dân Bangal đã tuyên-bố độc-lập, và nước Cộng-Hòa Nhân-Dân Bangladesh ra đời năm 1971, chọn thành-phố Dhaka làm thủ-đô.

Tức là trong năm 1960 Tổng-Thống Ngô Đình Diệm đã “viện-trợ 200,000 tấn gạo và 5 triệu usd và các gói cứu trợ không hoàn lại khác” cho một quốc-gia ma [vì đến 11 năm sau mới ra đời], và cái quốc-gia ma đó cũng đã “đặt tên một con đường là đường Ngô Đình Diệm và dựng tượng Ngô Đình Diệm đang vẫy chào nhân dân Bangladesh, hai bên là hoa sen, quốc hoa của VN, để tưởng nhớ tổng thống”, trong thời-gian [1960] mà trên thực-tế thì các nhóm sắc dân Bangal đang lặn-lội đánh du-kích-chiến trong rừng núi trên lãnh-thổ của các nước khác, chưa có riêng cho mình một quốc-thổ, một quốc-hiệu, một thủ-đô, một đại-lộ, (cho đến năm 1971, 11 năm sau đó mới có)!
Tức là Tổng-Thống Ngô Đình Diệm chơi với ma.

VI - Tác-Giả Mẩu Tin Liên-Hệ Muốn Gì?
Chưa hết, người ta lại còn kể thêm là “Khi Ngô Tổng Thống mất [1963], nhân dân [Bangladesh] đã để quốc tang 7 ngày và khóc không ngưng nghỉ.”
VI.a/ Sau khi Chủ Tịch Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh chết vào ngày 2/9/1969, đã có cảnh-tượng người dân khóc thương:

VI.b/ Sau khi Chủ Tịch Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Mao Trạch Đông chết vào ngày 9/9/1976, cũng đã có cảnh-tượng người dân khóc thương:

VI.c/ Sau khi Chủ Tịch Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên Kim Nhật Thành chết vào ngày 8/7/1994, lại cũng đã có cảnh-tượng người dân khóc thương:

VI.d/ Và rồi, sau khi Chủ Tịch kế-tiếp của Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên Kim Chánh Nhật chết vào ngày 17/12/2011, lệnh đảng bắt-buộc dân-chúng người nào cũng phải khóc thương khi lãnh-tụ chết đã trở thành thông-lệ tại các nước cộng-sản, người dân đương-nhiên tiếp-tục diễn cảnh khóc thương:

VI.e/ Những người khóc thương khi lãnh-tụ chết mà ta đã thấy trong các đoạn video nêu trên:
(1)        là dân của nước nào thì thương tiếc lãnh tụ của nước đó;
(2)        chỉ trình-diễn cảnh khóc gào trong các buổi lễ, cuộc họp, trước mắt người lạ, và trước ống kính;
(3)        không bị ấn-định là phải than khóc suốt bao nhiêu ngày, và đâu có phải là trong suốt số ngày đó phải “khóc không ngừng nghỉ”.

VI.f/ Khi các nhóm sắc dân Bangal chính-thức ra mắt thế-giới với lãnh-thổ riêng và nền độc-lập vừa đạt được, họ đặt tên cho nước mình là Bangladesh (Đất Nước Bangal), với chính-thể Cộng Hòa Nhân Dân, với chính-sách đối-ngoại không liên-kết, có quan-hệ hữu-nghị và hợp-tác chặt-chẽ với Ấn-Độ,Liên-Xô và các nước xã-hội chủ-nghĩa… nói chung là ở phía cộng-sản.

Thế mà các vị hoài Ngô albertvu@comcast.net cùng với luuvu44@yahoo.com, đã viết “Khi NGÔ TỒNG THỐNG mất, nhân dân [Bangladesh] đã để quốc tang 7 ngày và khóc không ngừng nghỉ.”  

(a)        Quý vị Hoài Ngô muốn đi ngược dòng lịch-sử – bắt dân Bangladesh phải khóc thương Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, người đã qua đời từ (1971-1963=) hơn 8 năm về trước, trước khi Bangladesh thành-hình trên mặt địa-cầu?
(b)        Hay quý vị Hoài Ngô muốn đi trước cả lịch-sử – xem như âm-mưu về với Cộng-Sản Bắc Việt đã thành-công – sau mấy năm làm Phó thì leo lên làm Chủ-Tịch mấy hồi – nên khi lãnh-tụ chết thì bắt-buộc mọi người dân, dù không thân thương, cũng phải “khóc không ngừng nghỉ” suốt 7 ngày?  [tham chiếu: http://lexuannhuan.tripod.com/PhoChuTich.html ]
(c)        Hoặc-giả quý vị Hoài Ngô muốn làm cách-mạng lịch-sử – phịa sử (chữ của Tú Gàn), xem như vở tuồng khóc thương lãnh-tụ của các nước cộng-sản anh+em, qua 4 lần, từ Hồ Chí Minh năm 1969 đến Kim Chánh Nhật năm 2011, đều là phó sản, xái nhì – trong lúc chính cái chết của Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, vào năm 1963, sáu năm trước cả Hồ Chí Minh, mới thật là … chính-bản, có tính sáng-tạo, ưu-việt, nêu gương cho toàn thế-giới cộng-sản, để mỗi lần lãnh-tụ chết là toàn-dân, không phải chỉ riêng của nước mình, mà là của cả nước mà mình có viện-trợ, phải để quốc tang và khóc không ngừng nghỉ suốt 7 ngày?


Chưa hết !
Kế dưới email động người của quý vị hoài Ngô kể trên, còn có một đoạn nhắc chuyện Ngô Tổng-Thống, sau khi tái-đắc-cử vào năm 1962 (xem) đã đi cám ơn các tu-sĩ Phật-Giáo đã bỏ phiếu cho mình, cùng kể chuyện mình được trao giải lãnh-tụ xuất-sắc của Á Châu và đã tặng lại số tiền của giải ấy cho Đức Đạt Lai Lạt Ma (!)
1/ Về thời-điểm bầu-cử Tổng-Thống đệ-nhất VNCH  lần thứ 2 (không phải vào năm 1962), mời quý vị xem chi-tiết tại đây. ( http://lexuannhuan.tripod.com/NhiemKy.html )

2/ Về Giải Magsaysay và việc gọi-là-tặng-lại Đức Đạt-Lai Lạt-Ma, mời quý vị xem sự thật tại đây. ( http://lexuannhuan.tripod.com/Magsaysay.html ), hay tại http://hoangnamgiao.blogspot.com/2013/03/su-that-vegiai-thuong-magsaysay-tong.html , hay tại

3/ Về lời kể chuyện, khi thì thế này, khi thì thế nọ, của cựu Tùy Viên Lê Châu Lộc, cũng như đặc-tính của nhân-vật nầy, mời quý vị xem chi-tiết tại đây. (http://lexuannhuan.tripod.com/LeChauLoc.html )

4/ [Do hoangnamgiao thêm vào một bài viết khác của cùng tác giả Lê Xuân Nhuận]
“CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM” CỦA … NGÔ ĐÌNH NHU? - Ông Tôn Thất Thiện: Từ lừa người đến bị người lừa ! http://hoangnamgiao.blogspot.com/2013/02/chinh-e-viet-nam-c-ua-ngo-inh-nhu-ong.html