Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2016


TRUNG QUỐC SẼ LÀM GÌ Ở BIỂN ĐÔNG?

Alexander L. Vuving


Alexander L. Vuving là giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương, Honolulu, Mỹ và là một chuyên gia trong lãnh vực An ninh châu Á, Biển Đông, Việt Nam và Trung Quốc. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết phân tích các vấn đề chính sách, chiến lược Biển Đông và quan hệ quốc tế trên các chuyên san như Asian Survey, The Diplomat, The National Interest và website của nhiều trường Đại học, cơ sở nghiên cứu lớn trên thế giới, cũng như là đồng tác giả của nhiều cuốn sách trong cùng lãnh vực. Ông đồng thời là thành viên ban biên tập tờ Chính sách và chính trị châu Á (Asian Politics and Policy) của Tổ chức nghiên cứu chính sách. Thông tin thêm về ông:  http://apcss.org/college/faculty/vuving/

Kể từ năm 2014, quần đảo Trường Sa đã trở thành một công trường xây dựng lớn độc nhất vô nhị. Hàng chục tàu của Trung Quốc đã làm việc suốt ngày đêm, cắt san hô và nạo vét cát đáy biển để biến những rạn đá chìm thành đảo nổi nhân tạo. Trong vòng chưa đầy một năm, Trung Quốc đã tạo ra hơn 10 km vuông đất mới trên bảy địa điểm khác nhau trên cả quần đảo mà tổng diện tích đất ban đầu chỉ có khoảng 4 km vuông. Bãi Chữ Thập, chìm ở thuỷ triều cao khi bị TQ chiếm đóng vào năm 1988, giờ đã là một hòn đảo rộng 2,74 km vuông đủ lớn để chứa một đường băng dài 3.100 mét và một bến cảng rộng 63 ha. Và mặc dù đảo nhân tạo ở Bãi Chữ Thập đã gấp gần 6 lần diện tích hòn đảo tự nhiên lớn nhất ở Trường Sa là đảo Ba Bình, nó vẫn nhỏ hơn hai hòn đảo nhân tạo khác. Vào tháng Sáu năm 2015, Trung Quốc đã tạo được 4 km vuông đất tại Xu bi và và 5,6 km vuông đất tại Vành Khăn, và những con số này vẫn đang tiếp tục tăng trưởng. [1]

Vậy kết cục của cuộc chơi xây dựng đảo này sẽ là gì? Vai trò của các hòn đảo nhân tạo này trong thời kỳ chiến tranh và ở phương diện luật biển rất đáng hoài nghi. Những hòn đảo này quá nhỏ và quá cô lập để có thể chống đỡ các cuộc tấn công lớn, chúng có thể dễ dàng trở thành gánh nặng trong thời gian chiến tranh. Chỉ là đảo nhân tạo, những thực thể địa lý này sẽ không thể được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Vậy tại sao Trung Quốc lại đầu tư những nguồn lực khổng lồ để tạo ra những hòn đảo này? Trung Quốc cần những đảo này làm gì?

Cách tiếp cận truyền thống tập trung vào ý nghĩa quân sự và pháp lý của những hoạt động này không phù hợp để trả lời những câu hỏi trên. Trung Quốc đang theo đuổi một chiến lược dựa trên những nguyên tắc rất khác với lối nghĩ thông thường. [2] Triết lý đằng sau chiến lược này có thể được tìm thấy trong “Binh pháp" của Tôn Tử. Ý tưởng then chốt là làm sao để không đánh mà vẫn thắng. Mục tiêu tổng thể là giành quyền kiểm soát Biển Đông, nhưng không phải thông qua các trận đánh lớn. Thay vào đó, Trung Quốc muốn đạt được mục tiêu của mình thông qua các hoạt động từng bước thay đổi thực địa, tạo dựng một sân chơi có lợi cho mình, làm thay đổi về mặt tâm lý những tính toán chiến lược của các quốc gia khác. Logic cơ bản của chiến lược này là khéo léo tác động lên các cấu hình chiến lược của khu vực để làm thay đổi thực tế theo xu hướng có lợi cho sự thống trị của Trung Quốc.

Có ba yếu tố bắt buộc cần có để theo đuổi chiến lược bành trướng lắt léo này, và sáu thập kỷ can dự vào Biển Đông của Bắc Kinh đã tuân theo những yếu tố này một cách chặt chẽ (Giả thuyết này đã được trình bày lần đầu tiên vào năm 2014 ngoái và đã dự đoán được một cách chính xác các chương trình xây dựng của Trung Quốc ở bãi Xubi và Vành Khăn) [3]

·         Yếu tố bắt buộc đầu tiên là tránh tối đa những trận đánh lớn; có thể tạo ra những đụng độ, nhưng chỉ là để khai thác một tình huống có lợi đang có sẵn. Yếu tố này đã từng là trụ cột trong kế hoạch Trung Quốc chiếm Hoàng Sa từ tay Nam Việt Nam vào năm 1974 và đụng độ với Việt Nam ở quần đảo Trường Sa vào năm 1988.
·         Yếu tố bắt buộc thứ nhì là kiểm soát các vị trí chiến lược trong khu vực: nếu những vị trí này còn chưa có ai chiếm hữu, chúng cần phải được chiếm một cách âm thầm lén lút nếu có thể, và bằng một cuộc xung đột có giới hạn, nếu cần thiết. Có thể dễ thấy yếu tố này nhất khi Trung Quốc chiếm 7 thực thể ở Trường Sa, và bãi cạn Scarborough vào năm 2012.
·         Yếu tố bắt buộc thứ ba là phát triển những vị trí này thành các trạm kiểm soát mạnh, các trung tâm hậu cần vững chắc và các căn cứ triển khai sức mạnh quân sự một cách hiệu quả. Đây chính xác là những gì Trung Quốc hiện đang tiến hành ở Biển Đông.

Những hoạt động này nhằm phục vụ mục tiêu kép là thiết lập uy thế và chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhờ ở những vị trí chiến lược và có tác dụng hỗ trợ hậu cần, các đảo trong tay Trung Quốc sẽ là những căn cứ vững chắc để từ đó vô số các tàu thuyền đánh cá, tàu thực thi pháp luật, tàu chiến và máy bay có người lái hoặc không người lái, toả ra thống trị bầu trời và vùng biển của Biển Đông.
Các vị trí kiểm soát then chốt bao gồm đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, Bãi Chữ Thập, Xu Bi và Vành Khăn ở quần đảo Trường Sa và bãi cạn Scarborough ở phía đông bắc của Biển Đông. Đảo Phú Lâm, Bãi Chữ Thập, Vành Khăn và bãi cạn Scarborough sẽ tạo thành một cụm bốn điểm mà từ đó, với bán kính 250 hải lý, có thể theo dõi chặt chẽ toàn bộ khu vực chính của Biển Đông. Tại quần đảo Trường Sa, các đá Xu bi, Vành Khăn và Chữ Thập tạo ra một tam giác hoàn hảo để bao phủ toàn bộ quần đảo (Xem bản đồ).

Trên đảo Phú Lâm, Trung Quốc gần đây đã nâng cấp một đường băng dài 3.000 mét và một cảng nướcsâu dài 1.000 mét. Đường băng này có khả năng đón nhận ít nhất tám máy bay thế hệ thứ tư như máy bay chiến đấu SU-30MKK và máy bay ném bom JH-7, trong khi các bến cảng có thể tiếp nhận những tàu có trọng tải từ 5.000 tấn trở lên. Một đường băng và một cảng có kích cỡ tương tự đã được xây dựng tại Bãi Chữ Thập. Hình dạng các đảo nhân tạo đang được hình thành ở Xu Bi và Vành Khăn gợi ý rằng ở đây rồi cũng sẽ có những đường băng và một hải cảng với kích thước tương tự. Mặc dù Bắc Kinh hiện chưa tiến hành xây dựng quy mô lớn ở bãi cạn Scarborough, sẽ không ngạc nhiên nếu như trong tương lai cũng sẽ có một đường băng và một cảng nước sâu tại đây.  

Các khu vực đã được mở rộng thông qua lấn biển sẽ cho phép Trung Quốc thiết lập tại các tiền đồn các trang thiết bị quan trọng của quân đội cũng như các thiết bị lưỡng dụng cho cả quân sự và dân sự. Bốn tiền đồn nhỏ hơn của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa hiện giờ đã ít nhiều có kích thước tương tự với tiền đồn lớn nhất của Việt Nam ở đây. Đảo Trường Sa, hòn đảo lớn nhất mà Việt Nam đóng quân trong quần đảo, rộng 15 ha. Bốn tiền đồn Trung Quốc, Châu Viên, Gạc Ma, Gaven, và Tư Nghĩa giờ đã có kích thước lần lượt là 23,1 ha, 10,9 ha, 13,6 ha và 7,6 ha. 
Trung Quốc sẽ đặt các trạm radar, các trạm phát điện và nước, cũng như các kho tàng, bến bãi và những cơ sở hạ tầng dịch vụ trên những đảo họ đang chiếm. Các trang thiết bị ở Hoàng Sa và Trường Sa sẽ có đủ năng lực để hỗ trợ hàng ngàn tàu cá và hàng trăm tàu tuần tra, tàu chiến và máy bay hoạt động ở những vùng biển và vùng trời cách xa bờ biển Trung Quốc hàng trăm dặm. Trung Quốc cũng sẽ đưa hàng ngàn dân, nhân viên quân sự và dân sự tới cư ngụ ở đây. Cùng với vài hòn đảo đã được mở rộng ở Hoàng Sa và bảy đảo nhân tạo ở Trường Sa đóng vai trò như là những điểm dừng chân và tiếp tế nhiên liệu, Trung Quốc có thể triển khai hang ngàn tàu cá và tàu thực thi pháp luật để đẩy người Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Indonesia ra khỏi vùng biển mà Bắc Kinh coi là của riêng mình. 

Trung Quốc có thể không tấn công những thực thể địa lý mà các quốc gia khác đang chiếm đóng nhưng họ sẽ tăng cường nỗ lực bí mật kiểm soát những thực thể địa lý chưa có người mà ở những vị trí chiến lược. Bãi Én Đất và Đá Ba Đầu ở các cụm đảo trung tâm cũng như một vài thực thể địa lý ở phần phía đông quần đảo Trường Sa gần Philippines sẽ tiếp tục là mục tiêu của những nỗ lực này. 
Trung Quốc có thể sẽ không chính thức tuyên bố một khu vực nhận dạng phòng không ở Biển Đông vì một hành động như vậy có thể sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng lớn và khiến nhiều quốc gia Đông Nam Á chống lại Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh sẽ áp đặt một số khu vực phòng không nhỏ ở những vùng trời xung quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc cũng sẽ khẳng định một cách âm thầm rằng vùng trời bên trong đường lưỡi bò là thuộc về họ. 
Với cơ sở vật chất đáng kể hơn trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc sẽ thỉnh thoảng tuyên bố một số vùng an ninh, vùng đánh cá và vùng bảo vệ môi trường ở Biển Đông. Mặc dù những vùng này có thể không phù hợp với luật pháp quốc tế, Trung Quốc sẽ không chịu đưa tranh cãi ra toà, và vì là quốc gia mạnh nhất trong khu vực, Bắc Kinh có thể thi hành bất cứ điều gì mà họ tự cho là hợp pháp. 

Liệu Trung Quốc có thể đạt được ưu thế không quân và hải quân ở Biển Đông không? Như đã đề cập ở trên, các sân bay và bến cảng ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là quá cách biệt và lộ liễu để có thể chống đỡ những cuộc tấn công lớn trong thời chiến. Tàu Liêu Ninh, chiếc tàu sân bay duy nhất hiện nay của Trung Quốc, không phải là đối thủ của bất kỳ tàu sân bay nào trong Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ. Mặc dù tàu Liêu Ninh sẽ được trang bị 30 máy bay chiến đấu đa chức năng SU-33 và nhiều máy bay trực thăng tác chiến chống tàu ngầm, một chiếc tàu sân bay lớp Nimitz của Mỹ thôi cũng đã có năng lực gấp hai lần.

Nhưng mục tiêu của Bắc Kinh dường như là muốn chiếm ưu thế trên không và trên biển vào những lúc mà không có sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ. Khả năng Việt Nam tấn công vào các tiền đồn của Trung Quốc ở Biển Đông bị hạn chế rất lớn bởi khả năng Trung Quốc trả đũa dọc theo 1,450 km đường biên giới trên bộ. Bốn sân bay ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ cho phép Trung Quốc tăng thêm 30-40 máy bay vào số máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư mà Trung Quốc có thể triển khai cùng lúc ở Biển Đông. Điều này sẽ cho phép Trung Quốc qua mặt Việt Nam và Malaysia, những lực lượng không quân lớn nhất trong số các đối thủ Đông Nam Á. Tuy Việt Nam được hưởng một bờ biển dài dọc theo Biển Đông nhưng hiện nay cả nước chỉ có khoảng 36 (cuối năm nay có thể có 48) máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư. Malaysia nằm xa về phía nam và hiện giờ có không nhiều hơn 50 máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư trên toàn bộ lãnh thổ. 

Ngoài máy bay và tàu chiến, Trung Quốc cũng có thể triển khai tên lửa tới Hoàng Sa và Trường Sa. Việc triển khai tên lửa có thể sẽ kích hoạt những phản đối kịch liệt từ Việt Nam, Philippines, Hoa Kỳ và một số chính phủ khác, nhưng Trung Quốc sẽ tìm một thời điểm thuận tiện để biện minh cho việc triển khai đó như là một hành động tự vệ. Những trang thiết bị quân sự của Trung Quốc tại đó sẽ rất dễ bị tổn thương trong thời chiến, nhưng chức năng chính của chúng dường như là để dành cho những cuộc tuần tra thời bình và có tính đe doạ tâm lý.  

Cách tiếp cận của Trung Quốc pha trộn các yếu tố cưỡng chế với các yếu tố hợp tác, sử dụng sự hợp tác để thu hút và bẫy đối phương vào sự cưỡng chế. Trung Quốc có thể cung cấp các cơ sở của mình trên đảo nhân tạo cho các lợi ích chung trong khu vực. Tháng 5 năm 2015, Đô đốc Ngô Thắng Lợi, Tư lệnh Hải quân Trung Quốc, nói với Đô đốc Jonathan Greenert, Tư lệnh Hải quân của Mỹ là các cơ sở trên đảo nhân tạo của Trung Quốc có thể được sử dụng cho những hoạt động cứu nạn và cứu trợ thiên tai. Mặc dù Hoa Kỳ đã từ chối lời rao này của Trung Quốc, Trung Quốc chắc chắn sẽ sử dụng những thực thể địa lý còn đang trong tranh chấp này như bàn đạp cho các hoạt động nhân đạo hay hợp tác nhằm gây sự chú ý cao và lôi kéo các quốc gia khác trong khu vực. Đối với những quốc gia không có tranh chấp đảo hay biển với Bắc Kinh ở Biển Đông, điều này sẽ tạo thêm một động lực để ngầm chấp nhận sự thống trị của Trung Quốc. 
Trung Quốc có thể sẽ không cản trở các tuyến thương mại trên không và trên biển ở Biển Đông, nhưng sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu như Trung Quốc sẽ thỉnh thoảng chặn một số tàu thuyền và máy bay, cả dân sự lẫn quân sự, của những quốc gia phản đối những nỗ lực bá quyền khu vực của họ. Những hành vi đó được thiết kế để tạo ra những hiệu ứng về tâm lý hơn là hiệu ứng vật lý.  

Các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông phù hợp với một chiến lược lớn hơn và lâu dài mà nguyên lý trung tâm là giành quyền kiểm soát khu vực có vị trí chiến lược then chốt này theo những cách mà có thể ngăn chặn các nước khác đáp trả tương tự. Chiến lược này lại là một phần của một nỗ lực lớn hơn để đạt được Giấc mơ Trung Quốc, để khôi phục lại vị trí mà Trung Quốc tự cho là chỗ đứng xứng đáng của nó, đó là ở trên đầu các quốc gia khác. Số phận của những quốc gia trỗi dậy hiếu chiến trong quá khứ và sự dễ bị tổn thương của các tuyến đường thương mại của Trung Quốc cho thấy rằng chiến tranh không phải là cách để Trung Quốc đạt được tham vọng này. Được trang bị với một truyền thống chiến lược ưa chuộng cách tiếp cận gián tiếp, Trung Quốc đã lựa chọn một chiến lược bành trướng lắt léo để tìm cách định hình sân chơi hơn là trực tiếp tấn công đối thủ. Đe dọa là một yếu tố chính của chiến lược này nhưng nó là kết quả của sự áp đảo hoặc trừng phạt nặng có chọn lọc chứ không phải là tấn công bừa bãi. 

Nếu các đối thủ của Trung Quốc không có đối sách bẻ gãy chiến lược này, Trung Quốc sẽ nổi lên như là chúa tể của Biển Đông, ít nhất là trong nhận thức của hầu hết các nước trong khu vực. Từ đây, sẽ chỉ còn vài bước để vươn tới vị trí bá quyền khu vực và toàn cầu. Với thực tế là huyết mạch của nền kinh tế châu Á chạy qua Biển Đông, và châu Á đã trở thành chấn tâm kinh tế thế giới, ai kiểm soát Biển Đông sẽ thống trị châu Á, và bất cứ ai thống trị châu Á sẽ thống trị thế giới.

Chú thích:

[1] http://amti.csis.org/island-tracker/
[2] Alexander L. Vuving, “China’s ‘Sun-Tzu Strategy’: Preparing for Winning Without Fighting,” South China Sea Research, June 29, 2015, https://seasresearch.wordpress.com/2015/06/29/chinass-sun-tzus-strategy-preparing-for-winning-without-fighting/
[3] Alexander L. Vuving, “China’s Grand Strategy Challenge: Creating Its Own Islands in the South China Sea,” The National Interest, December 8, 2014, http://nationalinterest.org/feature/chinas-grand-strategy-challenge-creating-its-own-islands-the-11807

Biên dịch: Huệ Việt (Dự án Đại Sự Ký Biển Đông)
Hiệu đính: Alexander L. Vuving


Thứ Năm, 9 tháng 10, 2014


ĐỘNG LỰC ĐỊA CHÍNH TRỊ:
TRUNG QUỐC, TÂY TẠNG VÀ DALAI LAMA

Zhixing Zhang (Trương Tri Hạnh)
[Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng]




 “Thế lớn trong thiên hạ, cứ tan lâu rồi lại hợp, hợp lâu rồi lại tan,”[i] câu văn mở đầu cho Tam quốc diễn nghĩa, cuốn tiểu thuyết kinh điển của Trung Quốc về chiến tranh và chiến lược, là cách tóm lược tốt nhất các động lực cốt yếu của địa chính trị Trung Quốc. Trọng tâm của nó là cuộc đấu tranh kéo dài hàng thiên niên kỷ của những kẻ muốn làm người cai trị của Trung Quốc nhằm thống nhất và cai trị phần lớn vùng địa lý gần như bất trị của nước này. Đó là câu chuyện của những lực lượng ly tâm và sự chia rẽ không thể vượt qua bắt nguồn từ địa lý và lịch sử cũng như, có lẽ cơ bản hơn, những lực lượng hướng tâm hướng tới sự thống nhất cuối cùng.

Động lực mạnh mẽ không ngừng này không chỉ diễn ra ở Trung Quốc. Cuộc trưng cầu dân ý của Scotland và làn sóng phong trào ly khai — từ vùng tự trị Catalonia ở Tây Ban Nha cho tới người Kurd ở Iraq và Thổ Nhĩ Kỳ — đều đang diễn ra theo các chiều hướng khác nhau. Hơn nửa thế kỷ sau khi Đệ nhị Thế chiến gây ra một làn sóng dân tộc chủ nghĩa hậu thuộc địa làm thay đổi bản đồ thế giới, chủ nghĩa dân tộc và các phong trào bản sắc dân tộc dưới nhiều hình thức khác nhau vốn bị chôn vùi nay đang thách thức ý tưởng hiện đại rằng sự thống nhất của các quốc gia – dân tộc là bất khả xâm phạm.


Các phong trào ly khai lớn trên thế giới hiện nay. Nguồn: Stratfor

Nhưng ngay cả khi những phong trào này chưa đạt được thành công tại các quốc gia này, thì ở Trung Quốc, một trong những vấn đề nan giải nhất của cuộc đấu tranh cho sự thống nhất là địa vị của Tây Tạng lại đã sẵn sàng cho một sự đảo ngược khả dĩ, hay ít nhất là một sự điều chỉnh lớn. Các cuộc đàm phán kéo dài nhưng thường xuyên không được chú ý tới đã đưa ra khả năng Dalai Lama,[ii] lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, có thể gần đạt được một thỏa thuận cho phép ông trở về quê hương Tây Tạng của mình.
Nếu điều đó xảy ra, cuộc lưu vong của Dalai Lama tại Dharamsala, Ấn Độ từ sau sự kiện Nổi dậy Tây Tạng năm 1959, chín năm sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sáp nhập Tây Tạng, sẽ kết thúc. Quan trọng hơn, sự hòa giải giữa Bắc Kinh và Dalai Lama có thể là bước tiến lớn trong việc xoa dịu sự ghẻ lạnh về cả vật chất cũng như tinh thần giữa vùng trung tâm Trung Quốc và Cao nguyên Tây Tạng.

Tây Tạng, Đức Dalai Lama và quyền tự quyết

Sự tồn tại của vấn đề Tây Tạng cho thấy những xu hướng chồng chéo của địa chính trị Trung Quốc. Căn bản nhất, nó phải được hiểu trong bối cảnh Trung Quốc đấu tranh nhằm sáp nhập và mở rộng quyền kiểm soát lên các vùng đất biên cương mà dù thường xa xôi cách trở nhưng lại có ý nghĩa chiến lược về cả quân sự và dân cư. Những vùng đất biên cương này, trải dài từ đông bắc xuống tây nam — Mãn Châu, Cao nguyên Mông Cổ, Tân Cương, Tây Tạng và Cao nguyên Vân Nam — tạo nên một lá chắn, vừa chứa đựng vừa che chở cho phần lõi người Hán thống nhất khỏi các cuộc xâm lăng trên đất liền. Tuy nhiên, trong nỗ lực sáp nhập các khu vực này, Trung Quốc phải đối mặt với vấn đề bản sắc dân tộc cùng sự chia rẽ địa lý trong những vùng đất biên giới bất ổn vốn tìm cách kháng cự, độc lập hoặc tách khỏi Trung Quốc vào những thời điểm khi mà chính quyền trung ương yếu kém làm suy giảm sự gắn kết của nội bộ Trung Quốc.

Tây Tạng về nhiều mặt đại diện cho một khía cạnh tối đa trong mẫu hình này. Thật vậy, đặc điểm địa lý đặc biệt của Cao nguyên Tây Tạng (nằm ở độ cao trung bình 4,5 kilômét so với mực nước biển) đã hầu như giúp ngăn chặn các các mối đe dọa từ biên cương đối với phần lõi Hán so với những vùng dễ tiếp cận hơn như Mãn Châu, Cao nguyên Mông Cổ hay Tân Cương. Có lẽ không vùng biên thùy nào có tầm quan trọng lớn như Tây Tạng trong hoàn cảnh địa chính trị hiện nay của Trung Quốc. Cao nguyên Tây Tạng và các vùng lân cận chiếm khoảng một phần tư diện tích Trung Quốc và là một nguồn nước ngọt chính cho nước này, Tiểu lục địa Ấn Độ và Đông Nam Á lục địa.[iii] Những ngọn núi cao của dãy Himalaya tạo nên vùng đệm tự nhiên cho vùng trung tâm Trung Quốc và định hình nên các mối quan hệ địa chính trị phức tạp giữa nước này và Ấn Độ.

Trong lịch sử, sự can thiệp của Trung Quốc vào Cao nguyên Tây Tạng còn ít và không có sự thống nhất quốc gia. Từ thế kỷ thứ 7, Trung Quốc bắt đầu có những cố gắng lẻ tẻ nhằm mở rộng tầm với của mình tới Cao nguyên Tây Tạng, nhưng phải đến thời nhà Thanh, đế chế này mới có những nỗ lực đáng kể trong việc giành quyền kiểm soát đối với cơ cấu xã hội và văn hóa Tây Tạng thông qua sự kiểm soát các tổ chức Phật giáo ở đây. Sự suy yếu của Trung Quốc sau thời nhà Thanh đã dẫn tới việc các quốc gia ngoại vi, bao gồm Tây Tạng, tuột khỏi tay chính quyền trung ương Trung Quốc.

Kể từ khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bắt đầu cai trị Tây Tạng vào năm 1950, các cuộc đấu tranh kéo dài đã được thể hiện qua sự chia rẽ chính trị, tôn giáo và tinh thần giữa chính quyền Bắc Kinh và Đức Dalai Lama, biểu tượng chính trị và tinh thần lôi cuốn của phong trào tự quyết Tây Tạng, người luôn chống lại sự thống trị về mọi mặt của Trung Quốc đối với vùng đất này. Ở đây, quá trình địa chính trị thường không mang tính cá nhân đã đối mặt với một cá nhân hiếm hoi mang ảnh hưởng lâu dài. Đức Dalai Lama đã tập trung vấn đề Tây Tạng vào chính mình và hình ảnh của mình. Chính Dalai Lama là người đại diện cho bản sắc Tây Tạng ở nước ngoài, giúp gắn kết các phong trào Tây Tạng nhỏ lẻ lại với nhau, và giữ ảnh hưởng đối với cả người Tây Tạng bản địa ở quê hương và những thế hệ người Tây Tạng lưu vong cũ và mới.

Cuộc đấu tranh lâu dài và những bước đi tạm thời

Dưới chính thể Cộng hòa Nhân dân, Trung Quốc có sự kiểm soát từ trung ương và rõ ràng trên thực tế đối với một trong những quốc gia lớn nhất và an toàn nhất trong lịch sử các triều đại Trung Hoa. Tuy nhiên, động lực từ xưa nhằm nắm chắc vùng ngoại biên không phải không được tính đến bởi giới lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc.

Trong những năm qua, chính quyền trung ương đã đẩy mạnh việc tăng cường sự thống trị của người Hán về kinh tế và nhân khẩu học lên các vùng biên ải trong khi cố gắng vượt qua những rào cản về khoảng cách địa lý thông qua các dự án cơ sở hạ tầng hoành tráng, bằng cả đường bộ và đường sắt. Tuy nhiên, sự chia rẽ với Dalai Lama đã khiến Bắc Kinh phải đối mặt với cảm nhận rằng việc kiểm soát Cao nguyên Tây Tạng của họ chưa trọn vẹn và tính hợp pháp của họ bị nghi ngờ. Trong khi đó, uy tín quốc tế của Dalai Lama khiến chính quyền trung ương Trung Quốc dễ bị chỉ trích bởi nhiều nhà phê bình quốc tế. Hơn nữa, nó còn cho New Delhi cơ hội để khai thác các mối quan ngại của Trung Quốc bằng việc cho phép Chính phủ lưu vong Tây Tạng và Dalai Lama lưu trú.
Bắc Kinh không thể cho phép quyền tự chủ theo yêu cầu của phong trào lưu vong Tây Tạng; từ quyền tự chủ mạnh mẽ đến trực tiếp thách thức là một con đường ngắn. Chiến lược của Bắc Kinh là cố gắng làm hạ thấp uy tín quốc tế của Dalai Lama, hạn chế sự tương tác giữa cộng đồng lưu vong với người Tây Tạng ở quê hương, và hi vọng khi vị lãnh đạo tinh thần này chết đi, sự thiếu vắng cá tính mạnh mẽ của ông sẽ khiến Tây Tạng rơi vào tình trạng không có trung tâm, cũng như không có người nào có thể thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế được như Dalai Lama nữa.

Trọng tâm trong tính toán của Bắc Kinh là việc can thiệp vào quá trình kế vị mà theo đó Bắc Kinh đòi quyền chỉ định người kế nhiệm tôn giáo của Dalai Lama, qua đó khai thác sự chia rẽ giữa các giáo phái và phe phái trong Phật giáo Tây Tạng. Bắc Kinh khẳng định quá trình luân hồi chuyển kiếp của Dalai Lama[iv] phải tuân theo truyền thống tôn giáo Tây Tạng kể từ thời nhà Thanh, có nghĩa là nó phải xảy ra trong lãnh thổ Tây Tạng và có ủng hộ của chính quyền trung ương. Quá trình này nhấn mạnh vị thế của Tây Tạng như là một phần của Trung Quốc, chứ không phải một thực thể độc lập.

Kế hoạch của Bắc Kinh có thể có tác dụng, nhưng cái giá sẽ là rất cao. Nếu không được Dalai Lama công nhận, người kế nhiệm được Bắc Kinh bổ nhiệm — và rộng hơn là thẩm quyền của Bắc Kinh đối với Tây Tạng — khó có thể được cộng đồng người Tây Tạng nói chung công nhận. Nhằm chống lại những nỗ lực can thiệp của Bắc Kinh, những năm gần đây Dalai Lama đã nhiều lần tuyên bố hàm ý rằng những truyền thống cổ xưa của quá trình kế vị có thể bị phá vỡ.
Đặc biệt, Dalai Lama đã bàn về khả năng kế vị qua hóa thân (emanation) chứ không phải luân hồi chuyển kiếp (reincarnation). Điều này có thể truyền kiến thức và uy quyền của ông cho nhiều cá nhân khác nhau, mỗi người đều là một phần di sản tinh thần của ông, nhưng không ai là người kế vị duy nhất. Hóa thân có thể được thực hiện khi Dalai Lama còn sống, do đó ông có thể kiểm soát được quá trình chuyển giao. Ông cũng nhắc đến khả năng không chỉ định một người kế nhiệm nào — như thế vòng luân hồi của Dalai Lama sẽ chấm dứt, để lại di sản của ông như là một trọng tâm lâu dài cho người Tây Tạng.

Cụ thể hơn, Dalai Lama đã tách biệt vai trò lãnh đạo tinh thần và chính trị của phong trào Tây Tạng, trên danh nghĩa từ bỏ vai trò lãnh đạo chính trị nhưng giữ nguyên vai trò lãnh đạo tinh thần. Làm như vậy, ông đang cố gắng tạo ra tính liên tục cho phong trào Tây Tạng cho dù những người kế nhiệm tinh thần của ông chưa được xác định. Tuy nhiên, nó cũng tách Dalai Lama ra khỏi bất kỳ phong trào chính trị Tây Tạng nào, điều trên lý thuyết giúp nhà lãnh đạo tinh thần này và Bắc Kinh dễ dàng đạt được một thỏa thuận hơn về khả năng ông quay về Tây Tạng trong vai trò một nhà lãnh đạo tinh thần chứ không phải một nhà lãnh đạo chính trị.

Nhưng những động thái của Dalai Lama phản ánh một thực tế sâu hơn. Phong trào Tây Tạng là không đồng nhất. Phật giáo Tây Tạng có nhiều trường phái vốn vẫn đang cố gắng duy trì sự hợp tác mong manh bởi lòng tôn trọng đối với Dalai Lama. Các phong trào chính trị Tây Tạng cũng bị chia nhỏ, với những người Tây Tạng trẻ được sinh ra ở nước ngoài thường hoạt động mạnh mẽ hơn cho độc lập của Tây Tạng, trong khi những người lưu vong lớn tuổi có giọng điệu ôn hòa hơn và chỉ kêu gọi quyền tự chủ nhiều hơn nữa. Con đường đấu tranh hòa bình mà Dalai Lama thúc đẩy được tôn trọng, nhưng không được đảm bảo vĩnh viễn bởi các thành phần trẻ hơn và cấp tiến hơn của phong trào Tây Tạng, những người chỉ tạm thời từ bỏ việc sử dụng bạo lực để đạt được các mục đích chính trị của họ.

Tương lai của phong trào Tây Tạng sau khi Dalai Lama qua đời là không chắc chắn. Ở mức tối thiểu, danh tiếng của nhà lãnh đạo tinh thần đồng nghĩa với việc không một người kế nhiệm nào có thể có cùng mức độ ảnh hưởng hoặc duy trì được sự gắn kết nội bộ như ông đã làm. Cũng như Dalai Lama lo ngại một cánh cực đoan của thế hệ người Tây Tạng mới sẽ làm suy yếu tư tưởng ôn hòa của ông và làm suy yếu tính hợp pháp của phong trào, Bắc Kinh cũng sợ rằng thời kỳ hậu Dalai Lama sẽ đem đến nhiều phong trào cực đoan, ly khai hoặc thậm chí quân sự, đặt Bắc Kinh vào một vị trí khó khăn hơn nhiều và có khả năng phải đối mặt với mối đe dọa an ninh lớn hơn.

Bắc Kinh và Dalai Lama từng cho thấy sự sẵn sàng để đạt được một giải pháp chính trị trong quá khứ, nhưng những nỗ lực của họ đã thất bại. Trong khi sự bất định lớn dần lên đối với cả hai phía trong bối cảnh những lo ngại về tuổi tác của Dalai Lama và những động lực thay đổi trong nước mà chủ tịch mới của Trung Quốc Tập Cận Bình phải đối mặt, cả hai bên có thể xem việc từ bỏ những thù địch trước đây như là một bước đi hợp lý nhằm hướng tới một giải pháp với chi phí thấp. Nói cách khác, cả Bắc Kinh và Dalai Lama — và rộng hơn là những người ủng hộ ông — đều hiểu họ còn rất ít thời gian như thế nào, và việc những bất định xoay quanh vấn đề Tây Tạng có thể kéo dài mãi mãi ra sao sau cái chết của nhà lãnh đạo tinh thần nếu hai bên không đạt được một giải pháp.

Hiện tại lạc quan, tương lai dè chừng

Báo cáo về việc Dalai Lama có thể trở về Tây Tạng được đưa ra khi Bắc Kinh đã nối lại các cuộc đàm phán với những người đại diện của nhà lãnh đạo tinh thần này. Vòng đàm phán này diễn ra sau chín vòng đàm phán thất bại trong thập kỷ trước và bốn năm sau nỗ lực cuối cùng. Tuy nhiên, tâm thế của cả hai bên ít nhất phần nào cũng có vẻ lạc quan. Trong những tuần gần đây, Dalai Lama đã đưa ra những lời bình luận mang tính hòa giải về Tập Cận Bình và cho biết ông có thể sẵn sàng trở về Tây Tạng, một ước muốn từ lâu của nhà lãnh đạo tinh thần 79 tuổi này. Về phần mình, Bắc Kinh đã thả tự do cho một số tù nhân chính trị Tây Tạng và được cho là đã cho phép sử dụng hình ảnh cũng như phát ngôn của Dalai Lama tại một số khu vực nhất định ở Tây Tạng sau nhiều năm cấm đoán.

Tất nhiên, còn nhiều điều không chắc chắn xung quanh sự trở về của Dalai Lama; việc nó có diễn ra hay không thậm chí còn chưa rõ ràng. Thật vậy, cần một nỗ lực rất lớn để có thể vượt qua được mối quan hệ thù địch đã kéo dài 55 năm, và ngay cả khi Dalai Lama được cho phép trở về Tây Tạng, điều đó chỉ là một trong nhiều bước tiến trong những cuộc đàm phán rộng hơn giữa Bắc Kinh và cộng đồng người Tây Tạng lưu vong để đạt được một thỏa thuận, bao gồm khả năng tái định cư cho 200.000 người Tây Tạng lưu vong, tình trạng của chính phủ lưu vong, thẩm quyền của Đạt-lai Lạt-ma, và cuối cùng là quá trình kế vị của nhà lãnh đạo tinh thần.

Trong những năm qua, Dalai Lama đã nhiều lần bày tỏ mong muốn mạnh mẽ được trở về quê hương Tây Tạng, coi nó như là đích đến cuối cùng trong những nỗ lực lâu dài của ông nhằm giành quyền tự chủ cho Tây Tạng. Dù luôn để ngỏ lựa chọn này, Bắc Kinh đã nhiều lần nhấn mạnh rằng bất cứ cuộc đối thoại nào với Dalai Lama cũng chỉ liên quan tới phạm vi thỏa thuận với nhà lãnh đạo tinh thần này mà thôi, đồng thời không mang hàm ý chính trị nào.
Nói cách khác, bất cứ thỏa thuận nào dựa trên tiền đề mở rộng quyền tự chủ cho Tây Tạng đều không phải là lựa chọn của Bắc Kinh, và thẩm quyền của Bắc Kinh đối với các vùng đất Tây Tạng — và rộng hơn là các vùng biên ải ở Tân Cương và Nội Mông — sẽ không thay đổi. Tương tự, Dalai Lama sẽ không chấp nhận việc thẩm quyền về tinh thần của ông đối với cộng đồng người Tây Tạng hay vai trò của ông trong việc lựa chọn người kế nhiệm bị suy yếu. Tuy nhiên, với mối lo ngại của Bắc Kinh về sự gia tăng của cánh cấp tiến trong phong trào Tây Tạng ở nước ngoài, việc cho phép Dalai Lama trở về Tây Tạng có thể làm xoa dịu một số căng thẳng và mang lại cho Bắc Kinh một cách để chia rẽ và làm suy yếu phong trào Tây Tạng.

Nếu tiến tới một thỏa thuận, hai bên cần phải chuẩn bị cho một số rủi ro chính trị. Với Bắc Kinh, mối quan tâm hàng đầu sẽ là việc quản lý sức ảnh hưởng tôn giáo to lớn của Dalai Lama trên quê nhà, nơi ông được xem là một thách thức đối với vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Với Dalai Lama, mối quan tâm chủ yếu sẽ là việc quản lý vai trò lãnh đạo chính trị Tây Tạng ở nước ngoài và những hậu quả tiềm ẩn trong phong trào lưu vong từ việc thỏa thuận đang được xây dựng đi ngược lại mục đích giành quyền tự chủ cho Tây Tạng của họ.
Có lẽ quan trọng hơn là ngay cả khi có những dấu hiệu cho thấy một giải pháp đang được hình thành, thì vấn đề người kế vị vẫn rất có thể là một rào cản. Bắc Kinh dường như không đưa ra bất kỳ sự nhượng bộ nào liên quan đến thẩm quyền chỉ định nhà lãnh đạo luân hồi của họ, và Dalai Lama cho thấy ông ít có ý định cho phép Bắc Kinh đơn phương hành động.

Đương đầu với một lời nguyền địa chính trị

Cho dù có những sự bất định, nghi vấn và rủi ro, thì những hậu quả tiềm ẩn của khả năng xích lại gần nhau giữa hai bên dù mong manh cũng đã minh họa cho sự vận động địa chính trị từ xa xưa tại Trung Quốc.
Trường hợp này một lần nữa cho thấy cách một cá nhân có thể đóng một vai trò nhất định trong địa chính trị, đồng thời khả năng hòa giải giữa Bắc Kinh và Dalai Lama có thể ảnh hưởng tới sự cân bằng giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Trung Quốc từ lâu đã xem quyết định của Ấn Độ cho phép chính phủ lưu vong Tây Tạng nương náu là một động thái thù địch. Tuy nhiên, khả năng khai khác những mối quan ngại của Trung Quốc về Tây Tạng của Ấn Độ đã giảm do sức ảnh hưởng của chính phủ lưu vong và việc nó tuyên bố đại diện cho Tây Tạng như một thực thể hợp pháp.


Khu vực định cư của người Tây Tạng tại Ấn Độ. Nguồn: Stratfor

Hiện tại, New Delhi đã cho thấy họ ít nhiệt thành hơn trong việc chấp nhận những người Tây Tạng tị nạn, đồng thời ngày càng quan ngại rằng sự chia rẽ nội bộ của cộng đồng này sẽ khiến việc chứa chấp họ trở thành gánh nặng hơn là lợi ích. Tuy nhiên, việc có được một dàn xếp sẽ không loại bỏ sự đối đầu căn bản về địa chính trị giữa Ấn Độ và Trung Quốc trên các mặt khác — từ 4.000 kilômét đường biên giới trên đất liền tới cạnh tranh hàng hải trên Ấn Độ Dương và Biển Đông cũng như các cuộc cạnh tranh giành tài nguyên và năng lượng.

Ngay cả khi có một giải pháp cho vấn đề Tây Tạng xuất hiện trong tương lai xa, cũng không có nghĩa là cuộc đấu tranh Trung Quốc – Tây Tạng sẽ kết thúc. Thật vậy, từ năm 2009 đã có nhiều người Tây Tạng tự thiêu, và sự phát triển kinh tế của Bắc Kinh trong nhiều vùng đất biên cương của người dân tộc thiểu số được cho là khiếm khuyết hoặc không đầy đủ. Rất có thể, sự hòa dịu với Dalai Lama sẽ dẫn đến việc các phần tử cực đoan và cấp tiến hơn xuất hiện ở nước ngoài, tìm kiếm quyền tự quyết và, như nhiều phong trào tương tự trên thế giới — từ Scotland đến người Kurd ở Trung Đông — thách thức các lực lượng hướng tâm của các quốc gia – dân tộc.

Trong lịch sử, khi người Hán lớn mạnh thì sự kiểm soát của họ đối với các vùng đệm cũng vững chắc. Ngược lại, các vùng đệm vững chắc cũng là điều kiện tiên quyết cho sự lớn mạnh và an toàn của người Hán. Sự sắp đặt này sẽ trở nên tối quan trọng khi Bắc Kinh phải vật lộn với những thách thức tiềm ẩn trong quá trình chuyển đổi xã hội, kinh tế và chính trị tại phần lõi người Hán trong những năm sắp tới. Do đó, mặc cho sự biến đổi không ngừng được nhắc tới trong câu nói trích từ Tam quốc diễn nghĩa, với Bắc Kinh, mục tiêu cuối cùng vẫn là phải đối đầu với lời nguyền địa chính trị cổ xưa bằng cách áp đặt kiểm soát lên những vùng đất biên giới và thống nhất Trung Quốc vĩnh viễn, dẫu cho mục tiêu này có phi thực tế đến thế nào đi chăng nữa.

Zhixing Zhang (Trương Tri Hạnh) là chuyên viên phân tích cao cấp về khu vực châu Á Thái Bình Dương tại Stratfor.

Bản gốc tiếng Anh: Stratfor
——————-
[i] La Quán Trung, Tam quốc diễn nghĩa. Bản dịch của Phan Kế Bính. (ND)
[ii] Dalai Lama là danh hiệu của nhà lãnh đạo tinh thần của Phật giáo Tây Tạng. Dalai Lama hiện nay là vị thứ 14, đã được trao giải Nobel Hòa bình năm 1989. (ND)
[iii] Đông Nam Á lục địa bao gồm Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, và Malaysia bán đảo. (ND)
[iv] Người Tây Tạng cho rằng mỗi vị Dalai Lama trong hiện tại là hiện thân của vị Dalai Lama trong kiếp trước. (ND)


Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014


THẾ KỈ TRUNG QUỐC?
Phạm Thị Hoài lược dịch

Chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư ĐCSVN tại Singapore đang được dư luận quan tâm. Cuộc trò chuyện kéo dài ba ngày mới đây giữa hai chính khách kì cựu, một ở phương Đông và một ở phương Tây: cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu và cựu Thủ tướng Đức Helmut Schmidt (Đảng Dân chủ Xã hội) có thể cung cấp cho người đọc Việt Nam một số góc nhìn tham khảo về những đề tài lớn, đặc biệt về sự dịch chuyển quyền lực, sự phân cực trên thế giới và vai trò của Trung Quốc trong thế kỉ này.

Người dịch



Helmut Schmidt: Lần đầu tiên đến Bắc Kinh tôi được Hoàng đế Trung Hoa tiếp – hồi đó ngài là Mao Trạch Đông.
Lý Quang Diệu: (cười)

Helmut Schmidt: Mao là một tay tàn bạo.
Lý Quang Diệu: Ông ta là một nhà lãnh đạo chiến tranh du kích lỗi lạc đã giải phóng Trung Quốc. Nhưng ông ta cũng tàn phá Trung Quốc bằng Cách mạng Văn hóa. 18 triệu người chết đói vì phải đem hết dao và muổng ra để luyện gang. Ông ta thật điên rồ. Tưởng giải phóng Trung Quốc xong rồi thì thay đổi thế giới có khó gì.

Helmut Schmidt: Ông ta cho rằng: Cần gì giai cấp vô sản công nghiệp, dùng vô sản nông thôn cũng được.
Lý Quang Diệu: Đúng vậy.

Helmut Schmidt: Nhưng người nông thôn thường không sẵn tinh thần cách mạng.
Lý Quang Diệu: Điều đó tôi không chắc. Ở thời buổi của iPhone, internet và truyền hình toàn quốc bây giờ, người ta rất bất mãn vì thấy nhà mình thì tồi tàn, còn những thành phố duyên hải lại thịnh vượng.

Helmut Schmidt: Thời ông, ai là nhà lãnh đạo chính trị vĩ đại nhất?
Lý Quang Diệu: Đặng Tiểu Bình.

Helmut Schmidt: Tôi đồng ý. Đặng Tiểu Bình là nhà lãnh đạo chính trị vĩ đại nhất trong tất cả những người tôi từng gặp.
Lý Quang Diệu: Người có một mét rưỡi, nhưng tầm vóc chính trị thì khổng lồ.

Helmut Schmidt: Năm 1983 tôi có một buổi trò chuyện với ông ấy. Hai chúng tôi và một người phiên dịch, khi đó chúng tôi đã quen nhau gần mười năm, nên nói chuyện khá cởi mở và thành thật. Tôi giễu cợt rằng nhìn kĩ vào thực tế thì những người cầm quyền ở Bắc Kinh không được trung thực lắm; họ tuyên bố mình là cộng sản, nhưng thực ra thì họ theo Khổng giáo. Đặng có vẻ hơi sốc một chút, mất vài giây, nhưng sau đó thì ông ấy đáp lại bằng vỏn vẹn ba từ. Ba từ đó là: “Thì đã sao?” (Lý Quang Diệu cười.) Tôi công nhận Đặng là một người vĩ đại.
Lý Quang Diệu: Ông ấy có tinh thần cầu thị. Ông ấy đến thăm Singapore, thấy một hòn đảo nhỏ bé không có tài nguyên gì nhưng thịnh vượng, đầy của cải, mọi người đi mua sắm, trong túi rủng rỉnh tiền. Ông ấy quan sát, đặt những câu hỏi chính xác và đi đến kết luận rằng chính sách đầu tư cởi mở của chúng tôi đã đem lại công nghệ và những thị trường mới. Trở về Trung Quốc, ông ấy lập ra sáu đặc khu kinh tế theo mô hình Singapore. Ông ấy thành công và mở cửa Trung Quốc dần dần. Điều đó đã cứu Trung Quốc.

Helmut Schmidt: Thế kỉ 20 được gọi là thế kỉ Hoa Kì. Thế kỉ 21 liệu có là thế kỉ Trung Quốc không?
Lý Quang Diệu: Về tổng sản phẩm nội địa thì đúng. Đến năm 2035, GDP của Trung Quốc sẽ lớn hơn của Hoa Kì. Còn về Quyền lực Mềm (Soft Power), về sức hấp dẫn đối với kẻ khác thì tôi không chắc lắm, vì Hoa ngữ là một trở ngại cho bất kì ai muốn hội nhập với Trung Quốc.

Tuần báo Zeit: Người ta đang nói nhiều đến sự “dịch chuyển toàn cầu”, từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương. Có phải Đại Tây Dương đã thuộc về quá khứ và Thái Bình Dương là tương lai không?

Lý Quang Diệu: Không, theo tôi không nên đánh giá như vậy. Tôi tin rằng từ góc nhìn của đa số người Mỹ hiện nay, châu Âu là một đồng minh khá chắc chắn. Vấn đề của Mỹ sẽ là Trung Quốc. Vậy sự dịch chuyển đó có nghĩa gì? Có nghĩa là Mỹ phải tập trung đầu tư kinh tế và các hoạt động quân sự vào khu vực Thái Bình Dương. Nhưng không có nghĩa là dịch chuyển quyền lực trên thế giới. Mà có nghĩa là Mỹ hướng tiêu điểm vào một sự đe dọa mới cho vị trí bá quyền của mình.
Helmut Schmidt: Đúng, nhưng vị trí bá quyền của Mỹ sẽ không còn áp đảo như ở cuối thế kỉ 19 và trong suốt thế kỉ 20 nữa, nó sẽ dần dần yếu đi, Trung Quốc sẽ dần dần mạnh lên và Nga thì càng ngày càng không thay đổi. (Lý Quang Diệu cười.)

Lý Quang Diệu: Tôi đồng ý với điểm cuối. Đúng, Trung Quốc sẽ mạnh lên, nhưng sẽ không thể bá quyền tới mức kiểm soát được Thái Bình Dương.
Helmut Schmidt: Không, sẽ rất lâu. Phải mất hơn một thế kỉ.
Lý Quang Diệu: Điều đó không thể xảy ra.
Helmut Schmidt: Tôi không chắc là điều đó có thể xảy ra không, nhưng trong thế kỉ 21 này thì không thể.

Tuần báo Zeit: Một trong những thành công to lớn nhất của châu Âu là giờ đây nó đã trở thành một châu lục hòa bình. Có thể nói rằng châu Âu đã biết học từ lịch sử. Còn châu Á thì sao? Giữa Trung Quốc và Nhật Bản vẫn còn nhiều căng thẳng. Rồi còn đủ thứ lò bạo loạn khác: Triều Tiên, Đài Loan, Kashmir.
Lý Quang Diệu: Ở châu Á có những quyền lợi quốc gia riêng biệt đang xung đột nhau. Có hai động lực chính thúc đẩy. Thứ nhất là nền kinh tế Trung Quốc có một quy mô nuốt chửng các nền kinh tế của Nhật, Hàn Quốc và những nước châu Á khác. Thứ hai là sự tự tin mỗi ngày một lớn của Trung Quốc. Càng giầu và mạnh lên thì người Trung Quốc càng tự tin. Vì thế các nước châu Á khác muốn Mỹ hiện diện ở đây để giữ thế thăng bằng.

Helmut Schmidt: Theo tôi biết thì vào khoảng năm 1500 nền văn minh Trung Quốc, gồm cả các ngành khoa học của nó, vượt xa nền kĩ thuật châu Âu ở thời điểm ấy. Sau đó châu Âu dần dần phát triển một thứ gọi là dân chủ, cái mà người Mỹ gọi là chủ nghĩa tư bản, cái mà người Mỹ ngày nay gọi là responbility to protect, “trách nhiệm bảo hộ”, mà theo họ là việc bảo hộ nhân quyền ở các quốc gia khác. Tôi có cảm giác châu Âu coi ba yếu tố đó là những thứ có thể áp dụng ở mọi nơi. Và tất nhiên là người Trung Quốc, người Singapore và một loạt các dân tộc khác, thí dụ ở thế giới Ả-rập, không tán thành như vậy. Công nghiệp hóa thì họ sẵn lòng tiếp nhận, nhưng dân chủ thì không, và họ không sẵn lòng tiếp nhận nhân quyền.

Lý Quang Diệu: Người Nhật, người Trung Quốc và cả người Hàn Quốc không cho rằng nhiệm vụ của họ là bảo người khác phải thay đổi điều gì để cai quản đất nước tốt hơn. Họ bảo, đó là chuyện của bạn. Tôi làm ăn với bạn trên nền tảng trung lập. Tôi không tìm cách thay đổi bạn. Phương Tây có khuynh hướng truyền đạo, các vị cho rằng hệ thống của các vị có giá trị toàn cầu: dân chủ và nhân quyền. Ở Ấn Độ, vì một lí do lạ lùng nào đó, dân chủ đã cắm rễ nhưng nhân quyền thì không, những vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất diễn ra ở Ấn Độ. Ở Trung Quốc, ý tưởng về nhân quyền vừa mới được nhen nhóm, trong khi ý tưởng về nhà nước đứng trên tất cả và bất khả xâm phạm thì vẫn còn rất mạnh.

Helmut Schmidt: Hệ thống Khổng giáo mà theo tôi vẫn còn tồn tại có một ưu thế lớn, vì nó hầu như không bao hàm những khía cạnh tôn giáo.
Lý Quang Diệu: Đúng thế. Cho nên ở Trung Quốc người ta cũng không đánh nhau vì những vấn đề tôn giáo.
Helmut Schmidt: Đó là một ưu thế lớn. Lòng hăng say truyền đạo của người Mỹ theo Thiên Chúa giáo – không biết cơ sở của nó là ở chỗ nào trong Kinh thánh, có lẽ cũng nên tìm hiểu. Thực ra nó không bám rễ sâu lắm trong đó.

Lý Quang Diệu: Nhưng đặc điểm văn hóa của dân Mỹ và các nhà lãnh đạo họ là muốn giáo dục chính phủ các nước khác. Theo tôi phương Tây có cái nhu cầu tự cho rằng mình đã giác ngộ và muốn người khác cũng giác ngộ như mình. Nhưng cũng có thể nhìn nhận động cơ đó theo hướng tích cực – rằng phương Tây muốn thay đổi thế giới, biến nó thành một thế giới tốt đẹp hơn.
Helmut Schmidt: Đúng.
Lý Quang Diệu: Mặt khác cũng có thể coi đó là thái độ ngạo mạn, các vị cho hệ thống của mình là ưu việt, và các vị muốn ép chúng tôi phải tiếp nhận.

Tuần báo Zeit: Những quyền con người nào thì có giá trị phổ cập và những quyền nào thì không?
Lý Quang Diệu: Quyền được sống theo ý mình của mỗi cá nhân; quyền an toàn cho chính mình và gia đình mình của mỗi cá nhân; quyền có việc làm, được đào tạo và chăm sóc y tế của mỗi cá nhân và con cái được học hành – tôi nghĩ rằng những quyền đó người Trung Quốc sẽ chấp nhận. Nhưng đòi được có một phiên tòa xét xử trước khi bị kết án hoặc tống giam, quyền đó không có trong hình dung của họ. Họ quyết định kẻ nào là mối nguy cho xã hội rồi tống vào tù.

Zeit: Còn các quyền tự do hội họp, tự do chính kiến và tự do tôn giáo?
Lý Quang Diệu: Trung Quốc rất hạn chế quyền tự do hội họp.

Tuần báo Zeit: Vậy phương Tây có nên bảo vệ quyền đó không?
Lý Quang Diệu: Phương Tây có thể can thiệp bằng cách nào nhỉ?!

Tuần báo Zeit: Chính dân Trung Quốc đã đòi những quyền này. Năm 1989, những người biểu tình đã dựng một bản sao bức tượng “Nữ hoàng Tự do” ở Quảng trường Thiên An Môn.
Lý Quang Diệu: Vâng, nhưng họ là những chàng trai trẻ rất lãng mạn, và cuối cùng thì họ bị cắt đầu hoặc bắn sang Mỹ. Và dân chúng chỉ coi đó là một sự kiện nhất thời.
Helmut Schmidt: Dù đã già, cá nhân tôi vẫn sẵn sàng tự tay chống lại những kẻ tước đoạt quyền của mỗi con người, không chỉ riêng quyền được sống mà tất cả các quyền. Nhưng tôi dứt khoát không can thiệp vào một quốc gia khác để bảo vệ quyền con người ở đó. Phải nói là tôi rất sợ cái khái niệm “trách nhiệm bảo hộ”.
Lý Quang Diệu: Như ở Lybia – ném bom diệt được một nhà độc tài thì cuối cùng lại sinh ra nhiều vị chỉ huy quân đội cỡ nhỏ mà mỗi vị đều sẽ thành một nhà độc tài.

Tuần báo Zeit: Không có trường hợp nào mà ông thấy “trách nhiệm bảo hộ” là phản ứng chính đáng hay sao? Như trường hợp Khmer Đỏ ở Campuchia, hay trường hợp diệt chủng ở Ruanda?
Lý Quang Diệu: Tôi tin rằng ngày nay trên bình diện quốc tế, diệt chủng là không thể chấp nhận. Nếu giết người vì lí do chủng tộc hoặc nếu một chủng tộc bị đem ra trừng phạt thì can thiệp là chính đáng. Đặc biệt trong trường hợp một nước lớn trừng phạt một nước nhỏ. Nếu không thì thế giới này sẽ thành vô luật pháp.
Helmut Schmidt: Nhưng cái “trách nhiệm bảo hộ” ấy có nguy cơ phình ra vô hạn. Có lẽ chúng ta có lí do chính đáng để bảo vệ người dân ở Ruanda. Nhưng điều đó quá phức tạp, nên chúng ta đã không làm. Có thể là chúng ta có bổn phận đạo đức phải hành động, cũng như đối với người dân ở Chechnya. Nhưng chúng ta đã không làm. Có thể trong trường hợp vụ thảm sát ở Quảng trường Thiên An Môn, chúng ta có bổn phận hành động. Nhưng chúng ta đã không làm. Chúng ta chỉ tuân theo cái bổn phận đó trong các trường hợp dễ thực hiện hoặc nếu được lợi thế tuyên truyền.
Lý Quang Diệu: Trong thực tế, phải khả thi thì mới hành động được. Không thể can thiệp vào vụ Thiên An Môn, vì như thế là gây hấn với một thế lực cực lớn. Còn Ruanda – tôi tin rằng Mỹ ân hận là đã không can thiệp.

Helmut Schmidt: Ông có ân hận là chúng ta đã không can thiệp không? (Im lặng khá lâu)
Lý Quang Diệu: Nếu ông muốn biết tôi có đồng ý gửi quân đi để ngăn hai phe xung đột không thì tôi xin nói là không. Còn nếu ông muốn biết rằng theo tôi, việc người Mỹ không can thiệp có sai không thì tôi xin trả lời rằng có, việc đó là sai.
Helmut Schmidt: Tôi tin rằng ông ý thức rõ tính đạo đức nước đôi trong câu trả lời vừa rồi.
Lý Quang Diệu: Vâng, tôi ý thức rõ.

Tuần báo Zeit: Phương Tây đã chế ngự thế giới suốt 500 năm. Giai đoạn lịch sử đó đang kết thúc. Thời đại nào sẽ bắt đầu? Thế kỉ Thái Bình Dương?
Lý Quang Diệu: Tôi không chia sẻ cách nhìn nhận thế kỉ này là Thế kỉ Thái Bình Dương. Tôi tin rằng đó sẽ là một thế kỉ mà Trung Quốc và Mỹ sẽ vượt qua Thái Bình Dương mà cạnh tranh. Nếu châu Âu đủ khả năng liên kết thì thế giới sẽ gồm ba cực. Và thêm Nga – nếu họ hồi phục – đó sẽ là một thế giới bốn cực. Trọng điểm của thế giới đã chuyển từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương. Đúng như vậy. Đừng nên quên rằng 300 năm trước, GDP của Trung Quốc đã chiếm gần 50 % của toàn thế giới và hiện nay đang dần dần tiến đến mức đó, chỉ trừ trường hợp nội bộ Trung Quốc có biến động gì đó.

Tuần báo Zeit: Có nghĩa là Trung Quốc không trỗi dậy, mà Trung Quốc hồi sinh?
Lý Quang Diệu: Gọi thế nào thì tùy, đó là một Trung Quốc mạnh hơn, với một tiếng nói vang to hơn trên nhiều diễn đàn quốc tế khác nhau và một sức mạnh quân sự to lớn hơn để không cho kẻ nào tiến gần đến biên giới quốc gia.
Helmut Schmidt: Tôi có cảm tưởng rằng cái khái niệm dịch chuyển trung tâm quyền lực từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương này có xuất xứ từ Mỹ, và hình như nó được dùng để biện minh cho sự dịch chuyển của những mũi tiến và cứ điểm của hải quân và không quân Hoa Kì. Hiện nay Mỹ có một cứ điểm không quân ở Úc, một hạm đội thường trực có thể kiểm soát từ Vịnh Ba Tư, Ấn Độ Dương, Biển Hoa Đông, Biển Đông đến các vùng duyên hải Canada. Theo tôi thì người Mỹ đang cường điệu. Còn châu Âu, nếu không có cuộc khủng hoảng tài chính khiếp đảm năm 2008 thì tôi vẫn đang lặp lại câu quảng cáo rằng chúng ta đang tiến tới một thế giới ba cực, gồm Trung Quốc, Hoa Kì và châu Âu.

Nguồn: Lược dịch từ nguyên bản tiếng Đức “Wie chinesisch wird die Welt?”, Matthias Nass thực hiện, Die Zeit số 57, ra ngày 06-9-2012
Bản tiếng Việt © 2012 pro&contra