Hiển thị các bài đăng có nhãn đào văn bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đào văn bình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2019



MƠ MỘT MÙA PHẬT ĐẢN

Đào Văn Bình



Ngày nay Đại Lễ Vesak (Hợp nhất của ba ngày Đản Sinh, Thành Đạo và Nhập Diệt) của Đức Phật đã được Liên Hiệp Quốc công nhận. Trong ngày lễ này, Tổng Thư Ký LHQ, các vị nguyên thủ quốc gia, các giới chức chính quyền cao cấp tại những quốc gia Phật Giáo, hoặc tham dự hoặc gửi điện văn chúc mừng, chiêm bái tự viện, viếng thăm hoặc dâng hoa cúng dường chư tăng ni và Lễ Hội Phật Đản đã được quần chúng tổ chức trang nghiêm, cung kính.

Tuy nhiên theo thiển ý nó vẫn chưa cân xứng với tầm vóc của một tôn giáo hiện diện trên 2500 năm mà vị giáo chủ là một bậc thầy vĩ đại của nhân lọai mà giáo pháp của Ngài đang dần dần trở thành Lương Tâm Của Nhân Lọai. Một tôn giáo mà quá trình phát triển của nó không làm tổn hại tới một sinh linh, không hủy diệt văn hóa, truyền thống bản địa, không bị kết tội diệt chủng, không gây thánh chiến, không khủng bố, không tiến hành những cuộc chinh phạt đẫm máu. Một tôn giáo Tối Thiện, Tối Lành, Thực Tiễn nhưng vô cùng Khiêm Tốn. Một tôn giáo như thế thì ngày đản sanh của đức giáo chủ phải được tổ chức như thế nào- không ngòai mục đích làm sáng tỏ những đức tính ưu thắng của Phật Giáo, đồng thời cũng là dịp để chúng sinh được tắm gội trong “pháp vũ”, hiển lộ Phật tánh có sẵn trong Tâm mình, để từng chúng sinh, từng bộ tộc, từng quốc gia hoặc toàn thế giới, ít ra có một ngày sống trong Thanh  Tịnh, Giải Thóat, Yêu Vui, Thương Yêu, Cảm Thông với nhau. Trong tinh thần đó, tôi đã mơ một Mùa Phật Đản trong đó những gì chúng ta không nên làm và những gì chúng ta cần phải làm. Những điều đó như sau:

1) Không nên mua sắm ồn ào, tiệc tùng hoang phí, đốt pháo bông (pháo hoa). Thanh niên, thiếu nữ không nên lái xe đua lượn trên đường phố để biến ngày linh thiêng thánh thiện thành một ngày gây chết chóc vì tại nạn lưu thông, ăn nhậu thỏa thích, là một dịp để chào hàng, quảng cáo, bán buôn, tiêu thụ.
2) Là ngày mà các nhà máy nghỉ ngơi, tạm ngưng nhả khói lên trời để tòan dân được thở hít không khí trong lành. Mùa Phật Đản cũng là mùa bảo vệ môi trường.
3) Ngày mà các lò sát sinh ngưng họat động để chúng ta không tạo thêm nghiệp dữ, và cũng để cho trâu, bò, lợn, gà… có thể sống thêm một ngày, vì lòai vật cũng có tình cảm và yêu mến cuộc sống như chúng ta. Ngày Phật Đản là ngày không giết hại và bảo vệ thú vật.
4) Ngày mà các trò chơi săn bắn, đua ngựa, đấu bò, chọi gà, câu cá...cũng tạm ngưng để cho lòai thú được nghỉ ngơi, chúng nó được rong chơi, chúng nó được nhởn nhơ, bơi lội, bay lượn.
5) Ngày mà nhà nhà, người người đều ăn chay, không cần những món ăn cầu kỳ …vừa bảo vệ sức khỏe, hơi thở nhẹ nhàng thơm tho, vừa nhắc nhở mình trau giồi đạo đức.
6) Ngày mà phụ nữ không đeo nữ trang, không mặc áo lông thú, không xức nước hoa bởi vì người phụ nữ không phải chỉ đẹp vì kim cương, vàng bạc, lụa là mà còn đẹp vì phẩm hạnh nữa.
7) Ngày mà các các quán nhậu, bia ôm, tắm hơi, đấm bóp, phòng trà, ca vũ, sòng bài cũng tạm đóng cửa để tâm hồn được thanh thản, để có dịp lắng đọng tâm tư, giống như những giây phút nghỉ ngơi cho một một chiếc xe, một con tàu trong cuộc hành trình dài.
8) Ngày mà các pháp đình ngưng xét xử, án tử hình cũng khoan thi hành để các quan tòa bớt đau đầu nhức óc, để các luật sư bớt chộn rộn lo toan, để  tử tội được hưởng thêm một ngày sống sót.
9) Ngày mà chúng ta bảo nhau đi thăm viếng các trại giam, an ủi các phạm nhân bởi xét cho cùng họ đều là những người đáng thương, là nạn nhân của nguồn tam độc Tham-Sân-Si giống như Vua Lý Thánh Tông ngồi xử án ở Điện Thiên Khánh năm 1064 đã chỉ vào Động Thiên Công Chúa đang đứng bên cạnh mình và phán với triều thần “ Trẫm yêu thương thần dân của trẫm cùng nhiều như yêu thương con gái trẫm. Họ phạm tội vì họ không biết (luật) và trẫm có nhiều tình thương cho họ. Từ nay trở đi, trẫm muốn tất cả các tội phạm, nặng hay nhẹ, đều phải được xét xử với sự khoan hồng.” Làm được như thế thì chúng ta đã thể hiện đúng lời nguyện của Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát và làm sống lại thời đại huy hòang Đinh- Lê-Lý-Trần.
10)  Ngày mà chúng ta bảo nhau đi thăm các cô nhi viện, cho các em ăn, cho các em tắm, cho các em đồ chơi, an ủi người già trong các viện dưỡng lão, tặng những đóa hoa cho những người côi cút. Sự thăm viếng, ủi an…dù chỉ là trong đôi phút nhưng quý gía vô vàn bởi vì chúng ta không quên nhau.
11)  Ngày mà mọi người khi ra đường chào nhau bằng tiếng “A Di Đà Phật” hoặc “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”. Thái Tử Tất Đạt Đa là Phật đã thành, tất cả chúng ta đều là Phật sẽ thành.
12)  Ngày mà tâm ý mọi người thật nhẹ nhàng, bao dung, cử chỉ khoan thai. Không vội vàng. Không hấp tấp. Không nóng giận. Ngày mà mọi tranh chấp đều có thể bỏ qua, vui mà xả bỏ do đó mà cảnh sát, an ninh, tòa án, chính quyền cũng bớt đau đầu, căng thẳng. Ngày không có lời đay nghiến, nguyền rủa, kết tội, nhục mạ, đánh đập, tra tấn. Một ngày thật thanh tịnh, an lành. Làm được như thế là chúng ta đã “đồng cư Tịnh Độ” với các bậc hiền thánh.
13)  Ngày mà khắp nơi treo đèn kết hoa, người người bảo nhau thăm viếng chùa chiền, cúng dường chư tăng ni. Còn đối với chư tăng ni, đây là dịp để quán xét lại mình, xem mình có xứng đáng là bậc “Ứng Cúng”, theo đúng lời dạy của Thế Tôn? Có xứng đáng là đấng “trưởng tử của Như Lai” không?
14)  Ngày mà quê hương đất nước không có một tiếng khóc, không tiếng oán than. Ngày tặng quà, thực phẩm, thuốc men, tài vật cho người nghèo khó. Ngày mà không một ai bị bỏ rơi. Mọi người đều được quan tâm, được an ủi, được giúp đỡ.
15)  Ngày mà chúng ta gửi những tấm thiệp chúc lành tới bằng hữu, thầy cô, gọi là Thiệp Phật Đản. Ở xa nếu không thể về thăm, thì cũng gọi điện thọai, gửi điện thư chúc mừng cha mẹ, anh chị em được tăng tuổi thọ và “thân tâm thường an lạc”.
16)  Nhưng dù sao, tất cả những gì nói ở trên vẫn thuộc “hình, danh, sắc, tướng”. Chúng ta phải làm sao để tất cả cùng được hưởng những giây phút bình an “thân tâm vắng lặng” và đó cũng chính là chỗ an trú của Chư Phật và Chư Bồ Tát. Thiết nghĩ, sau khi đã làm tất cả những gì nói ở trên, chúng ta nên tổ chức một cuộc tọa thiền vĩ đại tại một trung tâm, một quảng trường, một đạo tràng giống như Đạo Tràng Dhammakaya Cetiya ở Thái Lan với sức chứa khoảng 1 triệu người. Trong cuộc tọa thiền vĩ đại này, sau lễ cầu cho Quốc Thái Dân An, dưới sự hướng dẫn của chư tăng, ni tất cả sẽ ngồi trong tư thế kiết già, lắng đọng tâm tư, nhập chánh định. Tôi nghĩ rằng trong giờ phút linh thiêng, màu nhiệm này đây, các vầng mây ấm áp, vầng mây kiết tường, các vầng mây hỉ xả, các vầng mây giải thóat sẽ theo gió mà bay tới, chư Thiên, Trời Đế Thích, Thiên Long Bát Bộ sẽ trải hoa tán tán ở trên không và “Chư Phật Hải Hội Tất Dao Văn”. Chỗ chúng ta đang ngồi là Đất Phật, là Quốc Độ là Tịnh Độ, là Tòa Sen tỏa ngát hương thơm, còn gì hoan hỉ cho bằng ?


Trải qua hơn 2000 năm, con người đã quỳ lạy, van vái, cầu nguyện thần linh nhưng thế giới ngày hôm nay quá nhiều hận thù (hatred), quá nhiều bạo lực (violence), quá nhiều căng thẳng (stress), quá nhiều thúc ép (pressure), quá nhiều thuốc ngủ, thuốc an thần và dĩ nhiên quá nhiều đau khổ. Đã đến lúc chúng ta phải “tự thắp đuốc lên mà đi” như lời Phật dạy. Bằng nỗ lực và trí tuệ con người đã khám phá ra trái đất quay chung quanh mặt trời. Bằng bằng nghiên cứu con người đã có thể bay trên trời bằng chiếc máy bay, thám hiểm và bước ra ngòai không gian bằng chiếc phi thuyền. Bằng khoa học, con người đã có thể đi dưới nước bằng chiếc tàu ngầm, có thể chế ra thuốc men để chữa bệnh. Vậy thì cũng bằng nỗ lực và trí tuệ con người có thể tự kiến tạo hạnh phúc cho chính mình. Với tinh thần Bi-Trí-Dũng con người có thể hoàn thiện cuộc sống này và từ từ biến nó thành “niết bàn tại thế” mà không cần phải tìm kiếm Thiên Đường ảo vọng ở bất cứ nơi nào khác. Ngày Phật Đản là một thuận duyên tốt lành nhất để làm điều đó và chúng ta có thể làm được. Trong tinh thần Bi-Trí-Dũng, thì Dũng là điều quan trọng nhất. Dũng ở đây không có nghĩa là dũng cảm tiến lên tiêu diệt quân thù, hoặc tiến lên để giành chiến thắng. Mà Dũng có nghĩa là dũng cảm làm điều thiện, dũng cảm chiến đấu với những điều bất thiện, dũng cảm đương đầu với những cám dỗ không chính đáng, dũng cảm chiến đấu chống lại sự kiêu căng, ngã mạn trong con người mình. Cuộc chiến đấu này rất cam go mà nếu không chiến thắng được thì Bạo Lực, Tham Tàn, Kiêu Căng, Cuồng Điên, Vô Minh sẽ lên ngôi thống trị. Lúc đó con người sẽ trở  thành một sức mạnh để hủy diệt chính nó và hủy diệt đồng lọai. Ý nghĩa của Đại Hùng, Đại Lực của nhà Phật là như thế đó.

Nói về hạnh phúc và an vui chung, chúng ta đừng tưởng rằng chúng ta có thể sống thản nhiên trước sự nghèo đói, khổ đau và ngu dốt của người khác. Chúng ta đang sống trên hành tinh này, ẩn dụ như tất cả cùng ngồi trên một con tàu. Giả sử trên con tàu có một ngàn người mà chỉ có khoảng 100 người được ăn uống no đủ, trang phục đẹp đẽ và học hành tới nơi tới chốn. Chín trăm con người còn lại đều là những người thiếu ăn, thiếu mặc, không được học hành chi cả …thì số phận con tàu sẽ như thế nào? Ý niệm cộng nghiệp của nhà Phật cho thấy chúng ta không những chỉ chết vì nghiệp dữ của mình gây tạo trong quá khứ mà còn chết vì cộng nghiệp. Cứ nhìn vào lịch sử lòai người khoảng một thế kỷ nay thôi chúng ta thấy sự Nghèo Đói và Ngu Dốt là vũ khí hủy diệt còn ghê gớm hơn bom nguyên tử.

Ngay tại Hoa Kỳ là quốc gia giàu mạnh nhất thế giới, có những khu gần như bỏ hoang, ít ai dám cư ngụ chỉ vì dân ở đây nghèo quá và không được học hành. Cho nên để thế giới này yên vui và cũng là để bảo vệ hạnh phúc của chính mình, chúng ta phải quan tâm đến người khác. Sau khi đã phấn đấu với đời để ngoi lên, chúng ta cần san sẻ bớt thực phẩm, quần áo cho người nghèo khó. Hãy cho họ ăn no như chúng ta được ăn no. Hãy cho những người kém may mắn được học hành, mở mang trí tuệ như chúng ta đã được học hành, mở mang trí tuệ. Chúng ta đã có tình thương rồi thì san sẻ một chút tình thương cho đồng lọai. Chư vị Bồ Tát là những vị đã vượt qua nỗi bất hạnh của chúng sinh, quay trở lại nhìn chúng sinh, xót thương mà phát nguyện cứu độ. Chúng ta thờ phượng chư vị Bồ Tát là thờ phượng cái hạnh nguyện “cứu đời, cứu khổ” của các ngài, và chúng ta sẽ trở thành Bồ Tát khi chúng ta làm đúng những gì chư vị Bồ Tát đã làm. 

Tinh hoa của Đạo Phật, sự linh thiêng, thánh thiện, sự trường tồn trong gian khổ của Đạo Phật là ở chỗ đó. Làm như thế là chúng ta sẽ thể hiện đúng tinh thần của Ngài Phổ Hiển Bồ Tát trong Pháp Hội Hoa Nghiêm “Hằng thuận lợi ích của chúng sinh là cúng dường chư Phật.”
Ngày Phật Đản là một thuận duyên lớn lao để thể hiện hạnh nguyện này. Xin trình bày với tất cả tấm lòng để những bậc thiện tri thức cùng chia xẻ./.

Đào Văn Bình
(Trích trong Đạo Phật: Đất Nước, Cuộc Sống và Tâm Linh
do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017)


Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2018


Đọc “Phật Giáo và Chánh Trị tại Việt Nam Ngày Nay”
của Tiến Sĩ Hoàng Xuân Hào

Đào Văn Bình

 
Hinh bìa Quyển I và II của Luận án Tiến Sĩ Luật khoa (Ban Công Pháp) “Phật Giáo và Chính Trị Tại Việt Nam Ngày Nay” của Tiến sĩ Hoàng Xuân Hào, đệ trình tại Trường Đại Học Luật Khoa, Viện Đại Học Sài Gòn, năm 1972. Từ năm 2018, phóng ảnh toàn bộ Luận án 700 trang nầy được lưu trữ online tại Thư Viện Quốc hội Mỹ (Library Of Congress), Washington DC.

Đây là luận án Tiến Sĩ đệ trình tại Đại Học Luật Khoa Sài Gòn năm 1972. Tài liệu gồm 700 trang đánh máy, chưa bao giờ in thành sách, vừa được đưa vào Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ (2018). Luận án này được bảo trợ và hướng dẫn bởi cố GS. Nguyễn Văn Bông, Thạc Sĩ Công Pháp (*), nguyên Viện Trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.

Tôi có một vài kỷ niệm nhỏ với Tiến Sĩ Hoàng Xuân Hào. Khi tôi bước vào Đại Học Luật Khoa Sài Gòn năm 1962 nằm trên con đường Duy Tân “cây dài bóng mát” thì Ô. Hoàng Xuân Hào đang là Phụ Khảo cho Giáo Sư Vũ Văn Mẫu dạy môn Tư Pháp năm Thứ Nhất. Như thế Hoàng Xuân Hào ít ra phải học Luật trước tôi 5 năm. Khi tôi tốt nghiệp Đại Học Luật Khoa thì không còn biết gì về Hoàng Xuân Hào nữa cho đến khi báo chí loan tin ông đắc cử vào Liên Danh Thượng Nghị Viện và trở thành Thượng Nghị Sĩ. Với chức vụ này, sau 1975,  ông bị đưa đi cải tạo 16 năm và định cư vào Hoa Kỳ rất muộn. Tại San Diego, California, ngày nào ông cũng trì tụng Kinh Pháp Hoa, ẩn cư, không giao tiếp với ai. Thỉnh thoảng tôi có gọi điện thoại, nhất là dịp Tết để thăm hỏi “Đại Ca”, may mắn lắm mới được ông tiếp chuyện và tôi rất mong được đọc luận án Tiến Sĩ của ông. Hoàng Xuân Hào là người bình dị, khiên tốn, cởi mở và có lòng tin sâu vào Phật Giáo. Có lẽ ông là vị trí thức trẻ có học vị cao nhất trong hàng ngũ dân cử Miền Nam lúc bấy giờ.

Khi bàn về “Tôn Giáo và Chính Trị” có lẽ chỉ nên bàn về các quốc gia Âu Châu hay Hồi Giáo. Trong lịch sử khoảng 2000 năm nay, tại Á Châu, điển hình như Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam…Phật Giáo chưa bao giờ trở thành một thế lực chính trị để ảnh hưởng, khống chế hoặc lật đổ chính quyền. Các vị vua Á Châu chưa bao giờ biến Phật Giáo thành một lực lượng chính trị để hậu thuẫn cho mình. Thậm chí có những vị vua chúa là Phật tử thuần thành như Lương Vũ Đế của Trung Hoa, Trần Nhân Tông, Lê Dụ Tông của Việt Nam, Chúa Sãi ở Đàng Trong. Thậm chí các tu sĩ Phật Giáo cũng không dựa vào nhà cầm quyền để bành trướng tôn giáo. Phật Giáo chủ trương “giác ngộ” rồi tin theo chứ không hề dụ dỗ, tuyên truyền hoặc cưỡng ép. Tại các quốc gia Á Châu, Phật Giáo chỉ là một hệ thống triết học, hành động (qua tu thân) vừa mang tính đạo đức, vừa mang tính tâm linh (đời sau, kiếp sau, cõi Cực Lạc) để hoàn thiện và đem lại hạnh phúc ngay bây giờ (here now) cho con người. Giới luật của nhà Phật cấm tu sĩ can dự vào chính quyền. Trong khi đó tại Âu Châu và Trung Đông với Ca-tô Giáo La Mã và Hồi Giáo, Thần Quyền đã khống chế Thế Quyền, hai bên khắng khít như gia đình mà giáo hội đóng vai tôn trưởng. Tôn giáo lợi dụng sức mạnh của chính quyền để bành trướng tôn giáo. Chính quyền lợi dụng tôn giáo, thông qua giáo sĩ để củng cố chính quyền. Thế nhưng theo thời gian, sự “hợp tác” này đã đưa tới nhiều vấn nạn. Tại Hoa Kỳ, năm 1797 đã đưa nguyên tắc “Tách biệt Nhà Thờ và Chính Quyền” (Separation of Church and State) vào Hiến Pháp. Tại Pháp vào ngày 3/7/1905  ”Phong trào chống lại các tu sĩ Công Giáo thành công lớn khi lưỡng viện Quốc Hội Pháp bỏ phiếu ban hành luật tách rời chính quyền ra khỏi Giáo Hội Ca-tô La Mã. “ (Chronicle of the 20th Century). Còn ở Anh, mãi tới năm 1919, chính phủ mới không còn tài trợ cho Giáo Hội Anh nữa.

Vì Phật Giáo tại Á Châu nói chung và Việt Nam nói riêng không can dự vào chính trị, cho nên chúng ta thử xem tác giả đã có luận điểm như thế nào về vai trò chính trị của Phật Giáo Việt Nam? Để hoàn tất luận án, ngoài tài liệu bằng Anh và Pháp Ngữ, báo chí, tài liệu, sách vở liên quan đến Chính Trị Học và Phật Giáo, ông còn tham vấn một số vị tiểu biểu như: Thượng Tọa Thích Tâm Châu, Thượng Tọa Thích Thiện Minh, Thượng Tọa Thích Minh Châu, LM. Hoàng Quỳnh, GS. Vũ Văn Mẫu, GS. Trần Ngọc Ninh, GS. Nguyễn Ngọc Huy, GS. Tạ Văn Tài, LS. Vũ Văn Huyền, Thiếu Tá Đặng Sĩ (Phó Tỉnh Trưởng Nội An Huế năm 1963) cùng một số Sinh Viên Phật Tử.

Luận Án gồm bốn phần:
Phần Dẫn Nhập
Phần I: Những Thành Tố Của Thế Lực Phật Giáo
Phần II: Sự Tham Gia Chánh  Trị Của Phật Giáo
Phần III: Giải Pháp Đề Nghị Cho Vấn Đề Phật Giáo Tại Việt Nam.

■ Phần Dẫn Nhập:
Tác giả đã đưa ra nhận định, “Từ năm 1963, Phật Giáo đã trở thành lực lượng quan trọng trên chính trường VNCH. Hiện tượng này có tính cách mới mẻ trong lịch sử hiện đại và gây nên những chủ trương trái ngược về vai trò của tôn giáo trong đời sống quốc gia…Dầu có nhiều ý kiến mâu thuẫn về hoạt động chánh trị của Phật Giáo Việt Nam (PGVN), người ta vẫn phải đồng ý với nhau rằng tương quan giữa tôn giáo và chánh trị là một thực tại phổ quát đã xuất hiện cùng lúc với sự thành lập xã hội loài người.”
(Sociologie de la Religion, Payot, Paris 1955).
Thế nhưng trong sự cộng tồn, tác động qua lại đó, Thần Quyền đã lấn át Thế Quyền, “Trên đường hoàn tất cuộc phân công vĩ đại ấy (đạo và đời), tương tranh mãnh liệt đã bùng nổ hàng mấy thế kỷ liền giữa Giáo Hội Công Giáo La Mã và các quốc gia Âu Châu để rồi kết thúc bằng sự toàn thắng của lý tưởng quốc gia thế tục.”

Còn về lịch sử PGVN, tác giả viết, “Phật Giáo Việt Nam đã có một dĩ vãng vô cùng oanh liệt, du nhập Việt Nam từ Thế Kỷ II sau Tây Lịch, qua hai ngả Trung Hoa và Ấn Độ, Phật Giáo ngay trong buổi ban đầu đã góp phần tích cực vào việc xây dựng một quốc gia Việt Nam tự chủ. Các danh tăng là những bậc trí thức đầu tiên trong nước đã hỗ trợ đắc lực các Triều Đinh (968-980), Lê (980-909), Lý (1010-1225), Trần (1225-1400) thâu hồi độc lập, thống nhất giang san và phục hưng xứ sở. Hầu hết các vị vua hai triều đại Lý-Trần đều là Phật tử thuần thành và trong việc trị quốc họ thường nhờ cậy tới tài học uyên bác của một số danh tăng. Trong bầu không khí mộ đạo ấy, tư tưởng Từ Bi của Đức Phật đã thấm nhuần trong cả chính sách quốc gia lẫn nếp sống quần chúng…Trong thời kỳ cực thịnh, PGVN cũng không hề khống chế chính quyền do đó đã không có một ảnh hưởng chính trị quá quan trọng như Phật Giáo tại các nước Miến Điện, Tích Lan, Thái Lan, Ai Lao và Cao Miên. ”
Và tác giả đã có một khám phá rất thích thú về dòng sinh mệnh hay số phận của PGVN, “Theo Paul Mus, nhiệm vụ lịch sử của Phật Giáo Việt Nam giống như “một tôn giáo thay thế” (Religion Relai) tức nó nổi bật lên để khẳng định tính độc lập tự chủ của dân tộc để tránh sự đồng hóa của ngoại bang qua Khổng Giáo . Nhưng nó lại thoái lui khi đất nước đã ổn định, và các nhà cai trị lại quay về với Khổng Giáo khiến Phật Giáo bắt đầu mất ảnh hưởng từ Thế Kỷ 15.” Tác giả đã nhận định về sự suy yếu của Phật Giáo trên chính trường như sau, “Tình trạng phi tổ chức và quan niệm xuất thế (không màng chuyện đời) trội yếu nơi tăng sĩ đã khiến Phật Giáo cổ truyền Việt Nam trong thời cực thịnh lẫn buổi suy vi không thể trở thành một đoàn thể áp lực (Pressure Group) đúng với ý nghĩa hiện đại của danh từ để hành xử một quyền hành thực tế đối diện với uy quyền quốc gia và ảnh hưởng tích cực tới sinh hoạt chính trị.”

Trong phần này tác giả cũng nhắc lại biến cố Phật Giáo 1963 tại Huế mà mọi người đều biết rõ. Thế nhưng tác giả lại cho rằng “Một chế độ độc tài không lối thoát cho các lực lượng chính trị đối lập bị đàn áp và khủng hoảng trầm trọng trong bang giao Việt-Mỹ…Xét cho cùng, cuộc tranh đấu của Phật Giáo chỉ là hiện tượng xã hội tất nhiên phải xảy ra. Nếu không có vụ hạ cờ năm 1963, thì rồi cũng có những sự kiện khác được chọn làm lý do tranh đấu.” Để rồi từ đó PGVN chuyển mình, “Như vậy trong suốt dòng lịch sử 18 thế kỷ của PGVN, năm 1963 đánh dấu đánh dấu một chuyển mình vĩ đại, từ đó nền Tân Phật Giáo do các tăng sĩ cấp tiến đại diện đã từ bỏ địa vị cổ truyền có tính cách xuất thế để trở thành một đoàn thể áp lực mạnh mẽ.”
Và tác giả cho rằng, “Hiện tượng Phật Giáo can dự vào chính trị đã đạp đổ cả một thành trì lâu dài đối với các vị sư. Thật vậy, ngày nay chư Tăng không còn bị coi là những người hủ lậu, yếm thế, “trốn việc quan đi ở chùa” như xưa nữa. Trái lại, chư Tăng xuất hiện từ năm 1963 như những chiến sĩ dũng cảm của Nhân Quyền, những lý thuyết gia chánh trị xuất sắc và những cán bộ hành động mẫn cán.”

■ Phần Thứ I:
Tác giả nói về Những Thành Tố Của Thế Lực Phật Giáo Việt Nam.
Trong phần này tác giả nói về sức mạnh của Phật Giáo nói chung và cuộc tranh đấu 1963  do đâu mà có.

1)      Tác giả cho rằng đó là nhờ hoàn cảnh hay thời cơ chính trị. “Chính sách độc tài của nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã từ chối mọi hình thức đối lập khiến các lực lượng chính trị độc lập với chính quyền (các đảng phái) ngày càng công phẫn. Nhưng trước khi vụ Phật Giáo bùng nổ người ta không có cơ hội nào để phản kháng chính quyền một cách có hiệu quả.” Tác giả nhận xét rằng, “Quyền hạn của Ô. Ngô Đình Diệm còn lớn hơn quyền hạn của tổng thống Hoa Kỳ…Do hoàn cảnh bi đát của Miền Nam sau khi Pháp bại trận, Ô. Ngô Đình Diệm cũng chưa được coi là một lãnh tụ siêu việt có thể gây cảm hứng cho lòng chung thủy (đoàn kết) quốc gia. Do đó an ninh quốc gia được dùng như lý do để biện minh cho các biện pháp độc tài. ” Theo sử gia Hoa Kỳ Schlesinger, “Cuộc tranh đấu ấy, ngoài nguyên do tôn giáo, còn có những nguyên do xã hội và chính trị. Đó là cuộc nổi dậy chống lại cơ cấu đẳng cấp xã hội Việt Nam cổ truyền, chống lại thế hệ già nua của những người gọi là “quốc gia Việt Nam” thuộc giai cấp thượng lưu Công Giáo nói tiếng Pháp để ủng hộ một thế hệ quốc gia trẻ trung.”

2)      Trong đoạn này, tác giả nói rằng khủng hoảng niềm tin giữa Hoa Thịnh Đốn và Sài Gòn đã có từ năm 1961 và mỗi lúc trở nên trầm trọng hơn. Chính vì thế mà Hoa Kỳ có thiện cảm với cuộc tranh đấu của Phật Giáo. Thế nhưng các giới chức Hoa Kỳ phủ nhận việc chủ mưu trong vụ này và thú nhận họ đã không tiên đoán được sự bùng nổ của Phật Giáo. Thế nhưng còn về cuộc đảo chính 1963, theo các tài liệu thì rõ ràng Hoa Kỳ (Đại Sứ Henry Cabot Loge) đã biết trước nhưng không hề ngăn cản.

3)      Do vấn đề kỳ thị tôn giáo:
Vấn đề Phật Giáo tại Việt Nam đã được 16 quốc gia hội viên đưa vào nghị trình của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc Khóa thứ 18. Phái đoàn điều tra của LHQ nhận được hai phúc trình trái ngược. Phật Giáo đồ dẫn chứng những điều khoản khắc nghiệt của Đạo Dụ Số 10. Còn chính quyền phủ nhận những cáo buộc này. Tại nơi trang 53, tác giả đã mô tả một khía cạnh của chính sách kỷ thị tôn giáo như sau: “Được ưu đãi suốt 80 năm Pháp thuộc và chín năm Đệ Nhất Cộng Hòa, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã trở thành một định chế (tổ chức) trù phú với những lợi tức về điền địa, thương mại và thế lực chánh trị. Thêm vào đó, việc thiết lập Viện Đại Học Đà Lạt dưới sự bảo trợ của Đức Tổng Giám Mục  Ngô Đình Thục càng phát triển địa thế vững mạnh của Giáo Hội trong tầng lớp thị dân khá giả. Ưu thế ấy đã giúp Công Giáo dễ dàng gia tăng mau lẹ số lượng tín đồ.”

4)      Ảnh Hưởng Của Phong Trào Phục Hưng Phật Giáo Tại Á Châu:
Phong trào phục hưng Phật Giáo phát khởi tại các quốc gia Á Châu từ những thập niên đầu tiên của Thế Kỷ XX đã đánh dấu sự thức tỉnh và sức quật khởi của các Phật tử trước sức tấn công của nền văn minh Tây Phương. Phong trào đã gây cho các Phật tử tiến bộ trong các nước Phật Giáo, trong đó có Việt Nam, niềm tin mãnh liệt vào khả năng quý giá của Đạo Phật và một ý thức rõ rệt về vai trò chánh trị của Phật Giáo. Các nhà Tân-Phật-Học cho rằng nhiệm vụ của Phật Giáo là giúp cho dân được no ấm để khỏi bận tâm về sinh kế, ngõ hầu có thể tu học. Theo Giáo Sư Vũ Văn Mẫu, giáo lý của Phật Giáo đã hàm chứa một lý tưởng “quốc gia an lạc”. Người ta có thể tìm thấy trong đạo Phật đủ mọi tư tưởng dân chủ, tự do, nhân bản, khoa học…Đức Phật đã được tôn vinh là đại tư tưởng, đại cách mạng, đại giáo dục và đại sứ giả hòa bình. Dĩ nhiên muốn thế, phong trào Phật Giáo phải cải cách cả phương thức tổ chức lẫn lề lối hoạt động. Tác giả lấy các Hội Reiyo-kai và Rissho-Keseikai của Nhật Bản làm tiêu biểu. Theo tác giả, hiện nay Phật Giáo Nhật Bản có khuynh hướng hợp tác với những Phật tử thuộc các quốc gia khác nhằm mục đích thiết lập nền thống nhất Phật Giáo và tìm kiến hòa bình cho nhân loại.

5)      Vai Trò Của Phật Giáo Trong Sinh Hoạt Chính Trị:
Theo tác giả, Phật Giáo hiện đại đang đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt chính trị tại ÁChâu do một yếu tố lớn là phong trào giải phóng dân tộc thoát khỏi ảnh hưởng kìm kẹp của Tây Phương.

6)      Do những Giá Trị Cổ Truyền Của Phật Giáo:
Đó là sự hòa hợp với dân tộc tính Việt Nam và khoan dung với các tôn giáo khác. Các nhà Phật học Việt Nam đều quả quyết rằng PGVN là một nền Phật Giáo dân tộc. Tác giả dẫn chứng quan niệm Tam Giáo Đồng Quy, tôn trọng tục lệ thờ cúng tổ tiên của người Việt, cùng hòa hợp và bổ túc lẫn cho nhau. (Khổng Giáo duy trì kỷ luật từ làng xã tới quốc gia. Lão Giáo tu tiên, tập trung vào cái “tôi” để hưởng nhàn. Còn Phật Giáo phá bỏ giai cấp, phá bỏ tự ngã, chúng sinh cùng bản thể, dùng Từ Bi và Hỷ Xả để đối xử với nhau.)

7)      Diễn Trình Phục Hưng Của PGVN: Xuất hiện từ năm 1930 tới năm 1946. Miền Nam có tờ Từ Bi Âm (1932), ngoài Bắc có tờ Đuốc Tuệ (1934). Tuy nhiên sự phục hưng chỉ có căn bản vững vàng khi các Phật Học Viện được thành lập khắp ba miền. Năm 1940, một đơn vị đầu tiên của thanh niên Phật tử ra đời gọi là Thanh Niên Phật Tử Đức Dục. Tổ chức này sau đổi thành Gia Đình Phật Tử.
8)      Trong một chương rất dài khoảng 145 trang, tác giả nói về: Tổ chức, điều hành và mục tiêu của Giáo Hội Phật Giao Việt Nam Thống Nhất (lúc bấy giờ), con người và quan điểm chính trị, cách giải quyết cuộc Chiến Tranh Việt Nam của các Thượng Tọa Thích Trí Quang, Thượng Tọa Thích Thiện Minh, Thượng Tọa Thích Thiện Hoa, Thượng Tọa Thích Tâm Châu, Thượng Tọa Thích Tâm Giác cùng hậu quả của sự mâu thuẫn giữa hai Thượng Tọa Tâm Châu và Trí Quang khiến chia thành hai giáo hội Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự. Chương này cũng đề cập đến vài trò cần thiết của cư sĩ trong dòng sinh mệnh Phật Giáo như trí thức Phật Tử (cư sĩ), Gia Đình Phật Tử, Thanh Niên Sinh Viên Phật Tử.

■ Phần Thứ II:
Sự Tham Gia Chính Trị Của Phật Giáo:
Trong phần này  tác giả nhận định, “Cuộc đấu tranh từ trong khoảng 1963-1965 đã đạt được nhiều kết quả mong muốn. Trái lại từ năm 1966 trở đi, hình thức tranh đấu bất hợp pháp đem lại thất bại nặng nề, vì một mặt chính quyền trở dần dần nên ổn định một mặt khác Phật Giáo bị phân hóa.”

1)      Kỹ Thuật Tham Gia Chánh Trị Của Phật Giáo: Gồm hai kỹ thuật ôn hòa và mạnh bạo.
-Vận động quần chúng, thông tin tuyên truyền tạo áp lực nhưng không gây bạo động, đồng thời tiếp xúc và thương thuyết với chính quyền. Không vận động giới lập pháp như các quốc gia Tây Phương mà trực tiếp đối thoại với hành pháp/chính phủ. Không đòi hỏi quyền lợi riêng mà chỉ nhân danh quyền lợi của dân tộc.
Cuộc vận động này đã ảnh hưởng tới quần chúng Phật tử và quần chúng không phải là Phật tử, tới các quốc gia Phật Giáo và không Phật Giáo. Cuộc tự thiêu của Thượng Tọa Thích Quảng Đức đã ảnh hưởng tới các quốc gia Tây Phương như Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Thụy Sĩ, Bỉ, Úc, Đức và cả các quốc gia Á-Phi.
-Liên lạc với giới truyền thông/báo chí kể cả các hãng thông tấn quốc tế, đặc biệt là báo chí Mỹ có mặt tại Sài Gòn. Hoa Kỳ lúc đó chia thành hai phe. Phe ủng hộ Ô. Diệm và phe lật đòi lật đổ Ô. Diệm. Báo chí đứng về phe thứ hai vì chính sách bưng bít tin tức và đàn áp báo chí của chính quyền. Các bài phóng sự của các ký giả Malcoln Brown và David Halberstam gây xúc động mạnh mẽ khắp nơi trên thế giới khiến chánh phủ Việt Nam lâm cảnh lưỡng bề thọ địch: Phật Giáo và ký giả Hoa Kỳ. Tòa Thánh Vatican trong thông điệp ngày 30/8/1963, Giáo Hoàng Paul VI đã tuyên bố, “Chúng tôi có bổn phận nói lên nỗi ưu tư, đau đớn của chúng tôi đứng trước những diễn tiến đáng buồn đang đè nén dân tộc Việt Nam thân mến. Mối lo ngại của chúng tôi mỗi ngày thêm thâm trầm, bi đát…”
-Dù không trực tiếp nhưng khuyến khích, đỡ đầu cho các Phật tử tham gia các cuộc bầu cử từ tỉnh, thị xã tới hội đồng Đô Thành (Sài Gòn). Thế nhưng ảnh hưởng của Phật Giáo chỉ có tại Miền Trung, đặc biệt là Huế-Thừa Thiên. Cuộc bầu cử Bán Phần Thượng Viện năm 1970 đã đưa Liên Danh Hoa Sen do GS. Vũ Văn Mẫu thụ ủy đã đạt số phiếu cao nhất trong số 16 liên danh. Qua cuộc bầu cử này người ta thấy tôn giáo là yếu tố quan trọng nhất. Ngoài ra cũng phải kể tới lập trường hòa bình của Liên Danh Hoa Sen- phản ảnh khát vọng hòa bình của toàn dân Việt Nam. Thế nhưng theo tác giả, không phải không có bàn tay bí mật nhúng vào, áp lực chính quyền Nguyễn Văn Thiệu phải để ít ra một liên danh “đối lập” hiện diện trong ngành Lập Pháp để Tổng Thống Nixon dễ bề chống đỡ với dư luận là, Hoa Kỳ đã và đang ủng hộ một chế độ độc tài phi dân chủ và rằng qua Liên Danh Bông Sen, Miền Nam có bầu cử tự do.
-Đình công của công nhân, bãi khóa của sinh viên, tuyệt thực của tăng sĩ cũng là những phương thức đấu tranh hữu hiệu.
-Bàn thờ xuống đường và đấu tranh vũ trang ở Miền Trung năm 1966 suýt đưa tới nội chiến. Cuộc đấu tranh bạo động của Phật Giáo năm 1966 hoàn toàn thất bại.

2) Tác giả bàn về chủ thuyết đấu tranh bất bạo động gốc Phạn ngữ là Ahimsa, phát khởi bởi Gandhi của Ấn Độ.Ahimsa không chỉ dừng lại ở việc không sử dụng bạo lực mà còn không làm tổn hại tới bất cứ sinh vật nào, kể cả kẻ thù. Và được dùng bởi các quốc gia Tây Phương qua khẩu hiệu “Bất tuân dân sự” của Mục Sự Martin Luther King đấu tranh cho quyền bình đẳng của người Da Màu.

3) Thế nhưng ngày nay, trên thế giới, phương thức đấu tranh “bất bạo động” bị quên lãng vì người ta cho rằng nó không đủ hữu hiệu để chiến thắng. Từ đó tác giả nêu câu hỏi, “Trong tương lai Phật Giáo có đủ phương tiện và kiên nhẫn để theo đuổi cuộc đấu tranh bất bạo động không?” Theo tác giả, “Đấu tranh bất bạo động là khôn ngoan và phù hợp với bản chất của một tôn giáo rộng lượng, khoan dung.”

4)      Tương quan giữa Phật Giáo và các lực lượng chính trị.
Mở đầu chương này tác giả đưa ra một nhận định khái quát nhưng nó giống như một định luật, một chân lý, “ Chính trị là một diễn trình những tác động hỗ tương liên tục giữa các lực lượng xã hội. Biến chuyển chính trị thường xuất phát do sự thúc đẩy của ba nguồn gốc: Nhà nước, các đoàn thể trung gian và các hệ thống chính trị quốc tế (nôm na là ngoại bang)”.

5)      Tương quan giữa Phật Giáo và các tôn giáo khác:
Phật Giáo cố kéo Cao Đài và Hòa Hảo vào cuộc đấu tranh nhưng hai tôn giáo này giữ vai trò trung lập và dè dặt với lập trường chính trị của Phật Giáo. Thế nhưng thành quả của cuộc đấu tranh lại giúp cho Cao Đài và Hòa Hảo thoát khỏi sự kìm kẹp của Dụ Số 10. Còn đối với Công Giáo, “Vì tình trạng giao hảo giữa hai tôn giáo này trong thời kỳ bất ổn đã căng thẳng quá mức, nên Công Giáo đã thành lập nhiều lực lượng chính trị để đối phó với tình hình nghiêm trọng như :Ủy Ban Trung Ương Tranh Đấu Công Giáo, Lực Lượng Đại Đoàn Kết, Tổng Liên Đoàn Sinh Viên-Học Sinh Tự Dân, Cộng Đồng Giáo Dân Việt Nam, Khối Công Giáo Dân. Trong Công Giáo có ba khuynh hướng. Quá khích có LM. Trần Du và LM. Mai Ngọc Khuê. Ôn hòa có LM. Hoàng Quỳnh. Cấp tiến có LM. Nguyễn Ngọc Lan. ” Hai vị tướng ủng hộ lập trường của Phật Giáo Ấn Quang là Dương Văn Minh và Trần Văn Đôn.

6)      Đối với các thế lực bên ngoài đó là Hoa Kỳ và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tác giả cho rằng, “Mặt Trận Giải Phóng chỉ lợi dụng được phong trào tranh đấu nhưng không nắm được phong trào”. Còn đối với Hoa Kỳ, “Họ ủng hộ cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963, sau đó mối liên hệ trở nên lạnh nhạt  và Phật Giáo trở nên chống đối Hoa Kỳ vì những yêu sách không được thỏa mãn.” Trên báo Chánh Đạo của Phật Giáo ký giả Việt Bằng viết thẳng thừng, “Sự phục hồi những nhân vật cũ trực tiếp đàn áp Phật Giáo cũng như những khó khăn trong nội bộ Phật Giáo đều do người Mỹ gây nên.” Tác giả còn cho biết quân số của Hoa Kỳ tại Miền Nam đã giảm từ 534,000 xuống còn 200,000 vào Tháng 10, 1971. (Điều này cho thấy Hoa Kỳ rõ ràng không còn nhìn thấy chiến thắng ở Việt Nam nữa mà trông chờ vào giải pháp chính tri, tức Hiệp Định Paris 1973 để rút lui  trong êm thắm.) Kết luận chương này tác giả đưa lời cảnh báo:
-Tại Miến Điện, Tích Lan, Thái Lan, “Quyền lực chính trị và tiện nghi vật chất của đời sống văn minh Tây Phương  đã làm suy đồi đạo đức của một số tăng sĩ.”
-Sự can thiệp trực tiếp của tăng sĩ vào sinh hoạt chính trị đã gây nên tình trạng bất phân ranh giới giữa tôn giáo và chánh trị. Tình trạng ấy phát sinh mối tương tranh giữa quốc gia và giáo hội.
Phần Thứ III: Giải Pháp Đề Nghị Cho Vấn Đề Phật Giáo Tại Việt Nam:
Mở đầu phần này tác giả đưa ra câu hỏi, “Bảo vệ tôn giáo có nhất thiết là bảo vệ dân tộc không?”

Theo nghiên cứu của tác giả, “Sự can thiệp trực tiếp của tôn giáo vào chính trị chỉ là một hiện tượng chậm tiến” (ở các quốc gia chậm tiến). Từ Thế Kỷ 17, Âu Châu đã quyết tâm xác định vị trí của tôn giáo trong đời sống quốc gia, một quan niệm quốc gia thế tục. Trong các tôn giáo lớn trên thế giới, chỉ có Công Giáo và Hồi Giáo là đối lực mạnh nhất của quốc gia. Trong suốt thời Trung Cổ quốc gia phải đặt dưới sự chi phối của giáo hội, phải phụng sự giáo quyền và quyền bính của Thánh Quốc phải lan rộng khắp quốc gia. Thần quyền và đức tin dùng để giải thích những hiện tượng thiên văn, địa lý, vật lý…Theo các giáo sư Chính Trị Học, tín ngưỡng có ảnh hưởng tới tổ chức xã hội, nền kinh tế và lập trường chính trị của tín đồ. Như thế quốc gia không thể đoạn tuyệt được với tôn giáo mà trái lại trong tình trạng dù thế quyền và thần quyền phân lập, vẫn phải quan tâm tới sự kiện tôn giáo. Các tôn giáo lớn có khả năng tạo áp lực trên quy mô toàn cầu. Khối Âu Châu có Công Giáo, Bắc Mỹ có Tin Lành, Trung Đông có Hồi Giáo và Á Châu có Phật Giáo. Lịch sử cũng chứng tỏ rằng các Giáo Hội đã dùng thủ đoạn chính trị , tức dựa vào sức mạnh quốc gia để đi gieo rắc đức tin.

Tác giả cũng đưa ra câu hỏi, “Liệu Phật Giáo hiện đại có chấp nhận quan niệm nhà nước/chính quyền thế tục? Tác giả cho rằng kinh qua lịch sử, quan niệm này phù hợp với truyền thống của dân tộc Việt Nam. Đó là tinh thần “Khoan dung tôn giáo” chuyện tôn giáo và chuyện nhà, chuyện nước là hai việc khác nhau. Thế nhưng tác giả nhắc lại một vụ kỳ thị tôn giáo duy nhất xảy ra đó là việc bách hại Gia Tô Giáo dưới Triều Nguyễn. Bởi vì thời đó Đạo Gia Tô không chấp nhận sự sùng bái (thờ cúng) tổ tiên nên bị coi là trái với luân lý và văn hóa cố hữu của dân ta. Vua Minh Mạng hạ Dụ cấm đạo đã nói rằng, “Đạo rối của người Tây làm mê hoặc lòng người. Giáo sĩ Gia Tô làm tà vạy nhân tâm, phá hại mỹ tục, thật là mối hại lớn cho nước nhà.”  Theo Thạc Sĩ Sử Học Nguyễn Thế Anh, “Việc cấm đạo ấy nhằm duy trì sự thống nhất của quốc gia. Thái độ hoài nghi càng trầm trọng khi các giáo sĩ Công Giáo giúp Lê Văn Khôi nổi loạn.”

Còn Giáo Sư Nguyễn Văn Bông cũng đã có nhận xét thật xác đáng, “Nguyên tắc nhà nước thế tục không những phù hợp với trào lưu tiến hóa của nhân loại, đồng thời còn là truyền thống của dân tộc Việt Nam. Giở trang sử cũ, chúng ta có thể quả quyết rằng người Việt Nam ngày xưa có tinh thần khoan dung rõ rệt và không có xung đột nào gọi là xung đột tôn giáo.” Tác giả cũng công tâm khi nói rằng, “Sau khi chế độ ngoại thuộc cáo chung, năm 1946 chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ban hành một Hiến Pháp thế tục.” Thậm chí Hiến Pháp Đệ I Cộng Hòa cũng ghi “Ý chí quốc dân là nguồn gốc của mọi ngành hoạt động quốc gia.”

■ Phần Thứ III:
Trong phần cuối, tác giả đưa ra nguyên tắc căn bản, ” Giáo hội và tăng sĩ chỉ có quyền hoạt động trong các lãnh vực tôn giáo, văn hóa và xã hội. Còn lãnh vực chính trị phải dành cho người thế tục.” Tác giả còn bàn thêm, “ Với triết lý  Vô Ngã và Vô Thần, Giáo Hội Phật Giáo không phải là hình ảnh của Đấng Sáng Thế nào hết. Không phải là một đoàn thể của Chúa Jesus được cấu tạo một cách siêu nhiên bằng thân xác con người. Nó chỉ là một tổ chức của con người do con người lập ra và vì con người.” Đây là lý luận của Thương Tọa Thích Trí Quang. Thế nhưng dù nói thế, khi truyền bá trong nhân gian, Phật Giáo đã trở thành Hữu Ngã và Hữu Thần. Thế nhưng các hàng tăng sĩ cao cấp Phật Giáo đã phủ nhận sự “biến thái” này khi nói rằng, “Giáo hội không thể đụng chạm mạnh mẽ bằng cách phá bỏ sự tin tưởng truyền thống của đa số Phật tử Việt Nam: Đó là tin cả Trời lẫn Phật. Giáo hội chỉ có thể từ từ thuyết phục họ thế nào là Chánh Pháp.” (Đây là quan niệm “khế cơ và khế lý” của Phật Giáo cũng như không phá bỏ niềm tin truyền thống của dân bản địa.)

Tác giả cũng không đồng ý quan niệm “quốc giáo” vì hiến pháp đã quy định một chính quyền thế tục, mọi tôn giáo đều bình đẳng. Tác giả cho rằng tăng sĩ có thể khuyến cáo chính quyền nếu chính quyền đi ra ngoài nguyện vọng chính đáng của quần chúng. Thế nhưng chính quyền không thể coi những khuyến cáo này là hành vi chen vào chính trị.

Còn về vấn đề tu sĩ có được miễn trừ nghĩa vụ quân sự không (quân dịch), tác giả đưa ra nhiều luận cứ. “Chẳng hạn trong thời chiến sẽ có nhiều người sợ chết, giả bộ đi tu để trốn lính, làm sao biết ai thật ai giả? Đối với các quốc gia hùng mạnh như Tây Phương thì vấn đề tương đối dễ. Còn như đối với Việt Nam luôn luôn phải vận dụng sức mạnh toàn dân để bảo vệ sự tồn vong của mình. Hiện nay các quốc gia dân chủ đều thực hiện nguyên tắc “Bình đẳng của mọi công dân trước nghĩa vụ quốc gia”.

Sau hết tác giả chủ trương để đạt tới cứu cánh cao đẹp của đạo mình, tăng sĩ phải tự giới hạn sức ảnh hưởng của mình. Nếu không thì luật pháp quốc gia sẽ buộc mọi đoàn thể phải tuân thủ quyền lực tối cao của nhà nước/chính phủ - vì chính phủ đại diện cho quyền lợi của toàn dân.  Tác giả đã viện dẫn Đạo Luật 1905 của Pháp quy định những ngăn cấm tu sĩ. Thí dụ:
-Điều 34 và 35 của Đạo Luật 1905  quy định rằng vị cha sở nào lăng nhục hay phỉ báng tại nơi phụng tự các nhân viên công sở hay kêu gọi chống đối những đạo luật hay những quy tắc hành chính sẽ phải chịu những hình phạt đặc biệt và bị đưa ra tòa án hình sự.
-Một vị cha sở cử hành theo nghi thức tôn giáo trước khi đương sự làm giá thú trước mặt viên xã trưởng sẽ bị chế tài bởi Điều 99 của Bộ Hình Luật.
-Các cha sở không được giảng về tôn giáo trong giờ học.
Tác giả còn nói thêm, “Kinh nghiệm lịch sử cho biết khi tình cảm tôn giáo nhảy vào chính trị, thì lý trí sẽ bị lấn át và con người tôn giáo trở thành quá khích khiến hậu quả thảm khốc dễ xảy ra vì việc bảo vệ đức tin.”
-Khi tu sĩ đặt ngang với các nhà hoạt động chính trị thế tục, với thủ đoạn tranh đấu thật gian manh, tu sĩ khó lòng biện minh cho nhiệm vụ xuất thế của mình, khiến tầm thường hóa tôn giáo.
-Khi tu sĩ làm chính trị, sẽ có tác động dây chuyền sang tôn giáo khác, khiến họ có cảm tưởng là bị đe dọa, cho nên họ có thể thành lập một lực lượng chính trị khác hoặc sẽ chống lại. Chẳng hạn, “Những hoạt động tôn vinh cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm như một chiến sĩ quốc gia yêu nước nhân ngày giỗ năm thứ sáu của ông khiến một số Phật tử hạ bệ ông năm 1963 bực bội.”
-Khi tu sĩ hoạt động chính trị thành công, họ sẽ đi đến chỗ độc tài chuyên chế. Nếu tôn giáo đứng ra ngoải chính trị thì có thể lấy sự thanh thản và minh triết của mình để soi sáng lương tâm con người.
-Nơi trang 487, tác giả nói rằng nếu lợi dụng tôn giáo để chống Cộng Sản thì vẫn chưa giải quyết được gốc rễ mà phải tạo ra cuộc cách mạng hầu đem lại công bằng, ấm no, thịnh vượng và tự do cho mọi người.
-Tuy nhiên nguyên tắc “Tu sĩ không được làm chính trị “ cũng có hai ngoại lệ đó là: Quyền lợi tối thượng của quốc gia và sự sống còn của tôn giáo. Như tăng sĩ và Nho sĩ là lực lượng căn bản yểm trợ cho Phong Trào Cần Vương chống Pháp từ 1885-1898.
-Tác giả biện luận về cụm từ “Dân Tộc và Đạo Pháp”. Nếu hiểu Đạo Pháo là cộng đồng Phật Giáo thì sự liên hệ giữa Dân Tộc và Đạo Pháp càng sâu xa vì trong thời kỳ Phật Giáo cực thịnh đồng thời cũng là thời kỳ huy hoàng của dân tộc. Có thể nói trong giai đoạn ấy Dân Tộc và Đạo Pháp là một. Nếu hiểu Dân Tộc là một trong ba thành tố của Quốc Gia thì Đạo Pháp không thể là Dân Tộc vì trong dân tộc có nhiều tín đồ của các tôn giáo khác. Nhưng Đạo Pháp có thể đồng hành, chia xẻ trách nhiệm và chịu vinh nhục với Quốc Gia và Dân Tộc.
-Vì Phật Giáo không  tạo được một tổ chức có uy quyền bao trùm lên tăng, ni, Phật tử toàn quốc, không có được quyền hành độc lập với nhà nước nên Phật Giáo tỏ ra bất lực trước làn sóng xâm lăng của Tây Phương. PGVN phải khắc phục nhược điểm ấy để tiến tới tự lực tự cường đóng vai trò quan trọng trong quốc  gia thế tục.

Tác giả đã kết luận chương này như sau:
“Sự phân lập (tách biệt) Phật Giáo với Quốc Gia, tăng sĩ với chính trị, giáo quyền với chánh quyền. Nếu sự xác định ấy được thực hiện một cách trung thực (nghiêm chỉnh) sẽ có lợi là bảo vệ giá trị siêu việt của tôn giáo, uy tín đạo đức cao trọng của giới tăng sĩ, quyền lực chính trị của các nhà lãnh đạo thế tục và sự ổn cố chính trị. Đó là điều kiện tiên quyết để phát triển quốc gia. Chính trong vị trí đó, Phật Giáo phải có một ảnh hưởng chính trị rất quan trọng.”

Thay Lời Kết:
Qua luận án này chúng ta được nhìn lại quá trình hội nhập của Phật Giáo vào Việt Nam gần 2000 gắn bó và trở thành văn hóa cũng như tâm linh của dân tộc (chiếm 85% dân số). Phật Giáo không thể tách rời khỏi dân tộc này. Ngày nay Chủ Nghĩa Thực Dân không còn, nhưng bành trướng tôn giáo vẫn còn. Tranh chấp giữa các tôn giáo lúc công khai, lúc ngấm ngầm vẫn còn. Các tôn giáo cực đoan luôn luôn muốn chiếm lấy hay khống chế chính quyền để mưu cầu lợi ích riêng cho họ. Chính vì thế mà tác giả cổ vũ cho quan niệm “nhập thế” của cả hàng tu sĩ lẫn Phật tử là hãy “xây dựng một quốc gia an lạc” trước - thì mới có thể tu hành hay phát triển tâm linh. Không thể tu thành Phật, thành Bồ Tát, La Hán, Bích Chi Phật, tụng kinh, ngồi thiền…khi mà đất nước chính trị rối beng, nghèo đói, xã hội bất an. Hương Hải Thiền Sư đời Lê Dụ Tông dạy rằng, “Mạc giáo mộng trung tầm tri thức”. Đừng tìm Phật hay Chân Lý trong mơ mộng mà phải thực tiễn. Cá nhân có thể mơ mộng nhưng cả một giáo hội thì không thể mơ mộng.

Cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963 được nhìn theo nhãn quan của một học giả và được đánh giá đây là bước chuyển mình lịch sử của Phật Giáo sau 18 thế kỷ. Đây còn là một tài liệu phản ảnh khá đầy đủ tình hình chính trị rối beng của Miền Nam 1963-1967 sau khi Đệ I Cộng Hòa xụp đổ. Luận án còn trình bày một số chi tiết về nội tình chính trị Hoa Kỳ, cũng như hoạt động can dự vào chính trường Miền Nam của chính phủ Mỹ. Những điều “bí mật và cấm kỵ” này thường chỉ được bàn tán qua các các cuộc màn đàm hoặc rỉ tai giữa các chính trị gia, hoặc úp mở trên báo chí. Thế nhưng nó đã  xuất hiện trong một khung cảnh có tính “trường ốc, kinh điển ” (Academy) và cổ kính như Đại Học Luật Khoa mà sau này có thể trở thành giảng khóa để giảng dạy cho sinh viên về môn Chính Trị Học.

Đây còn là cuốn sử liệu quý giá viết bởi một trí thức khoa bảng, nặng tình với Dân Tộc và Đạo Pháp nhưng không thiên lệch, vì tiêu chuẩn và mạng sống của Đại Học là: Khoa học, trung thực, thuần lý (logic) và là khuôn mẫu cho đời sau. Đại Học không phải là một diễn đàn chính trị, không phải là đảng phái, không phải là tổ chức tôn giáo, cho nên Đại Học không bênh-chống ai. Nhưng đại học có quyền mổ xẻ, phân tích, tổng luận về những diễn biến liên quan đến xã hội, đất nước để giảng dạy cho đời sau. Dĩ nhiên trong khuôn khổ bảy, tám trang tôi không thể trình bày mọi chi tiết của luận án. Quý vị có thể tìm đọc nơi Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ (Library of Congress Online).

Trân trọng.
Đào Văn Bình
(California ngày 6/9/2018)

Cước chú: 
-        Dấu ngoặc (…) là phần chú thích của tác giả bài viết này.
-        Thạc Sĩ (Agrégé): Sau khi tốt nghiệp Tiến Sĩ phải qua một cuộc thi tuyển để trở thành Giáo Sư Thực Thụ của một đại học danh tiếng của Pháp. Trong nước bây giờ gọi bằng Cao Học (Maste Degree) là Thạc Sĩ.





Thứ Hai, 16 tháng 1, 2017


LẠI NÓI VỀ TIẾNG VIỆT TỆ HẠI
CỦA BBC-VIỆT NGỮ

Đào Văn Bình


Vào ngày 20/3/2013 tôi đã viết một bài nhan đề, “Trình độ Việt Ngữ của BBC và VOA tiếng Việt” trong đó đề cập tới trình độ Việt ngữ quá kém cỏi, bạ đâu viết đó, không hề có chủ bút, chủ biên, trưởng ban ghé mắt coi qua, tức khinh thường độc giả quá đỗi. Nếu BBC chỉ là loại báo chợ, báo biếu, báo lá cải quăng ở các siêu thị thì tác động không bao nhiêu. Thế nhưng vì nó là một trang tin, có thể có cả triệu độc giả ghé mắt coi qua hoặc theo dõi cho nên nó có thể tạo ảnh hưởng nếu những người đọc vốn Việt ngữ kém hoặc trình độ Việt ngữ không có. Nếu loại tiếng Việt ba trợn này tiếp tục được duy trì nó sẽ phá nát tiếng Việt truyền thống lúc nào không hay.

Do vậy, một lần nữa tôi có lên tiếng thì không phải vì ghét bỏ, kỳ thị các anh chị em đang dịch, đang viết bản tin cho BBC mà chỉ vì tiền đồ văn hóa của dân tộc. Tôi biết anh/chị em đang làm việc cho Ban Việt ngữ BBC phần lớn đều sinh trưởng ở Miền Bắc. Tôi cũng sinh ra và lớn lên ở Hải Phòng, làm sao tôi có thể ghét bỏ Miền Bắc và tiếng Bắc được chứ? Nhưng vì loại tiếng Bắc mà anh chị em đang sử dụng không phải tiếng Bắc truyền thống mà là loại tiếng Bắc bát nháo, đường phố của giới ít học, buôn lậu, mánh mung, đứng bến… chứ không phải tiếng Bắc của “cửa Khổng sân Trình”, tiếng Bắc của gia đình nề nếp, thanh lịch, thừa kế cả gia tài ngôn ngữ và văn chương phong phú, bác học, trữ tình của tổ tiên.

Ngoài ra tôi không biết anh/chị em được dạy Việt ngữ như thế nào ở bậc tiểu học và trung học. Không biết anh chị em có được dạy văn phạm không? Văn phạm tức là quy tắc viết văn sao cho đúng. Một câu văn đúng văn phạm là câu văn phải tránh những lỗi sau đây: ­ Câu văn què,­ Câu văn tối nghĩa,­ Câu văn ngớ ngẩn,­ Câu văn dùng chữ không chính xác,­ Câu văn thừa,­ Câu văn trùng lập hay dài lòng thòng,­ Câu văn gây hiểu lầm,­ Câu văn lai căng dùng chen tiếng Tây, tiếng Mỹ,­ Câu văn làm dáng /kiểu cọ,­ Câu văn dị hợm,­ Câu văn cường điệu, đao to búa lớn,­ Câu văn xúc phạm hay dâm ô chẳng hạn như kiểu “đố tục giảng thanh”, Nói có sách, mách có chứng. Dưới đây tôi sẽ hài ra một số lỗi và xin quý anh chị coi qua:

1)      Câu văn què tức câu văn chưa đủ nghĩa hoặc dùng thiếu chữ. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 8/9/2015: “Đồng rúp mất giá ảnh hưởng du lịch Việt Nam?”. Khi nói ảnh hưởng thì phải nêu rõ ảnh hưởng tới cái gì chẳng hạn “ảnh hưởng tới sức khỏe”, “ảnh hưởng tới môi trường”, “ảnh hưởng tới cuộc sống” v.v… Do đó câu văn hoàn chỉnh phải là, “Đồng rúp (ruble) mất giá ảnh hưởng tới ngành du lịch của Việt Nam”. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 10/9/2015: “Tên lửa phát xít đưa Anh lên vũ trụ ra sao?” Câu hỏi đặt ra ở đây là “tên lửa phát­xít” là tên lửa gì?” Đây là câu văn què. Ngoài ra câu văn mắc phải lỗi lầm nữa là: Con người chỉ có thể “lên” Mặt Trăng, “lên” Hỏa Tinh…chứ không thể “lên” vũ trụ được. Vũ trụ rộng bao la vô biên như thế làm sao có thể “lên” được, mà phải nói khám phá hoặc bay vào vũ trụ. Câu văn hoàn chỉnh phải là, “Tên lửa của phátxít Đức giúp Anh bay vào/khám phá vũ trụ ra sao?” ­
-          BBC tiếng Việt ngày 14/9/2015: “Vụ bom Bangkok: Malaysia bắt ba người”. Trong đời tôi chưa bao giờ thấy một câu văn què cụt, lạ kỳ đến như vậy. Câu văn đúng đắn phải là: “Mã Lai bắt giữ ba người liên quan đến vụ đánh bom ở Bangkok” hoặc “Vụ đánh bom ở Bangkok: Mã Lai bắt giữ ba người” ­
-          BBC tiếng Việt ngày 16/9/2015: “Trong cách cúi của người Nhật”. Đây là câu văn què. Câu văn rõ nghĩa phải là, “Trong cách cúi đầu của người Nhật.”

2)      Câu văn tối nghĩa tức câu văn khiến người đọc không hiểu ý thế nào. Đọc câu văn tối nghĩa độc giả khó chịu, đôi khi nhức đầu. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 9/9/2015: “Muộn Đại hội Đảng ở VN vì còn bất đồng?” Đây là câu văn tối nghĩa hoặc dịch ra từ tiếng Anh. Câu văn rõ nghĩa phải là, “Đại Hội Đảng tổ chức trễ vì còn bất đồng?” ­
-          BBC ngày 9/9/2015, “Đan Mạch dừng đường tàu qua Đức”. Thú thực đọc đoạn văn này tôi nhức đầu quá, không hiểu ra làm sao. Đọc nội dung, thì ra, “Đan Mạch ngưng các chuyến xe lửa tới Đức”. Ngưng là ngưng các chuyến xe chứ không thể ngưng đường tàu được. Xin nhớ, đặt một câu văn ngắn gọn cho tiêu đề không phải dễ. Luôn luôn phải có chủ bút duyệt lại. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 2/9/2015: “Cà phê và triển vọng kết cục cay đắng”. Đây là câu văn rất tối nghĩa. Có lẽ chính tác giả cũng chẳng hiểu mình viết gì. Đọc kỹ nội dung, câu chuyện chỉ là, “Biến đổi khí hậu khiến ảnh hưởng tới số phận của cà­phê” hoặc, “Biển đổi khí hậu: Tương lai đen tối của cà­phê”. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 30/8/2015: “Làm gì để đối phó với chính trị văn phòng?” Đọc kỹ nội dung thì tiêu đề phải viết, “Làm sao để đối phó với áp lực chính trị tại nơi làm việc?” hoặc “Làm sao thoát khỏi bầu không khí chính trị/ khuynh hướng chính trị tại văn phòng?” Làm gì có “Chính trị văn phòng”? mà chỉ có khuynh hướng chính trị nào đó tại nơi mình làm việc mà thôi. Xin đừng bịa ra chữ hoặc không rành tiếng Anh lẫn tiếng Việt nên dịch bừa thành câu văn ngô nghê. Nếu có “chính trị văn phòng” thì lại phải có “chính trị cơ xưởng”, “chính trị nhà máy”, “chính trị đơn vị”, “chính trị siêu thị”… nữa sao? ­
-          BBC tiếng Việt ngày 7/9/2015: “Khu kinh tế mở Chu Lai”. Thú thực tôi không hiểu “khu kinh tế mở” là khu kinh tế như thế nào. Không biết tác giả dịch từ chữ nào của tiếng Anh? Sau khi tra cứu tôi mới thấy đây là một khu kinh tế mô phỏng theo Trung Quốc mà tiếng Anh gọi là “Special Economic Zone” hay “Open Economic Zone”. Hiện nay Trung Quốc có bốn khu như vậy. Nếu đúng thế thì phải gọi, “Đặc Khu Kinh Tế Chu Lai” hoặc “Khu Kinh Tế Mở Rộng Chu Lai”, hoặc “Khu Kinh Tế Không Hạn Chế Chu Lai”.

3)      Câu văn ngớ ngẩn, tức câu văn không biết tác giả muốn nói gì… cứ viết đại ra cho có: ­
-          BBC tiếng Việt ngày 10/9/2015: “Tướng Thanh tiếp khách Ấn Độ”. Có cả ngàn khách Ấn Độ… nào là khách ngoại giao, thương mại, quân sự, biết tiếp ai đây? Và khách Ấn Độ ở đây là ông nào? Tiêu đề đúng đắn phải là, “Tướng Phùng Quang Thanh tiếp Đại Tướng Ấn Độ Arup Raha”. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 7/9/2015: “21 tuổi và mạng lưới phòng khách sạn lớn nhất Ấn Độ”. Khách sạn đương nhiên là có phòng rồi. Mình tới khách sạn là để mướn phòng ngủ thế mà lại dùng chữ “phòng khách sạn” hết sức ngây ngô, chứng tỏ trình độ Việt ngữ kém cỏi. Ngoài ra chữ “mạng lưới” chỉ dùng cho “mạng lưới điện”, “mạng lưới toàn cầu” (Internet). Một hệ thống khách sạn hoặc chuỗi (chain) khách sạn hoặc hệ thống nhà hàng McDonals… dù nhiều cách mấy cũng không thể là một mạng lưới được. Mạng lưới có nghĩa là chằng chịt. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 20/9/2015: “Người dân Hy Lạp đi tổng tuyển cử”. Đây là câu văn ngớ ngẩn và khinh thường độc giả quá đỗi. Câu văn hoàn chỉnh phải là, “Người dân Hy Lạp tham gia tổng tuyển cử”. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 20/9/2015: “Cuba: Đông đảo sẽ dự Thánh lễ với Giáo hoàng”. Đây là câu văn cẩu thả không còn ra thể thống gì nữa. “Đông đảo” là một “tính từ” (adjective) nó không thể làm chủ từ cho câu văn được. Học sinh Lớp 4, Lớp 5 cũng không viết một câu văn tệ hại đến như vậy. Câu văn hoàn chỉnh phải là, “Đông đảo tín đồ sẽ tham dự thánh lễ với Giáo Hoàng”. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 20/9/2015: “Khủng hoảng di dân: 13 người chết”. Câu văn này khiến người đọc phì cười bởi vì khủng hoảng di dân gì mà chỉ có 13 người chết thôi sao? Có lẽ tác giả bản dịch này vừa đặt tiêu đề vừa tán dóc với bạn bè cho nên bạ đâu viết đó. Tiêu đề hoàn chỉnh phải là,” Lại thêm 13 người chết trong cuộc khủng hoảng di dân” hoặc “Khủng hoảng di dân: Thêm 13 người chết”. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 26/9/2015: “’Trần tuổi’ với Đại hội Đảng thế nào?” Đây là câu văn dịch ngô nghê chứng tỏ người dịch kém tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Câu văn thuần Việt và rõ nghĩa phải là, “Hạn tuổi ảnh hưởng thế nào tới đại hội đảng?” ­
-          BBC tiếng Việt ngày 26/9/2015: “Ô. Tập Cận Bình… đã được Tổng thống Barack Obama đón tiếp khá thẳng thắn.” Đây là bài viết của ông Tiến Sĩ Vũ Cao Phan gửi cho BBC từ Hà Nội. Từ lúc cha sinh mẹ đẻ tới giờ tôi chỉ đọc và nghe nói, “tiếp đãi nồng hậu” , “tiếp đãi ân cần” hoặc “đón tiếp lạnh nhạt”, chứ chưa bao giờ đọc và nghe nói “ đón tiếp thẳng thắn”. Nhưng tôi đã được đọc và nghe nói, “thảo luận thẳng thắn”. Xin ông tiến sĩ mở từ điển, coi lại sách vở từ ngàn xưa đến giờ xem có cuộc tiếp đón nào gọi là “thẳng thắn” hay không? Phải chăng “tiếp đón thẳng thắn” có nghĩa là Ô.Tập Cận Bình vừa bước vào cửa Tòa Bạch Ốc, Ô. Obama đã chỉ vào mặt nói, “Này, ông phải thẳng thắn không được giấu diếm gì nghe không!” Nếu Ô. Obama làm thế, cả nước Mỹ sẽ nghĩ Ô. Obama điên mất rồi và cần phải vào dưỡng trí viện (nhà thương điên) nghỉ ngơi một thời gian cho nó “thư giãn” rồi sẽ về làm tổng thống tiếp.

4)      Câu văn dùng chữ không chính xác hoặc chính tác giả cũng không hiểu rõ nghĩa nhưng cứ viết bừa. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 10/9/2015, “Redstone là phiên bản phát triển từ chiếc V2” Theo đúng văn tự thì Redstone không phải là “phiên bản” (bản sao chép, copy giống hệt 100%) mà “phát triển” từ hỏa tiễn V2. Như vậy Redstone là bản mô phỏng (version) chứ không phải phiên bản tức sao chép. Do đó câu văn chính xác phải là. : “Redstone là bản mô phỏng từ V2” Xin tác giả nhớ cho: Danh từ “copy” được người Tàu dịch là “phiên bản”. Còn Việt Nam dịch là “sao chép”. Trong giấy tờ hành chính gọi là, “Sao y bản chính”. Còn “version” là mô phỏng (không đúng 100%). ­
-          BBC tiếng Việt ngày 29/8/2015: “Công nghệ cho xe ôm ở Jakarta” thú thực đọc đoạn văn này tôi không hiểu gì cả. Theo chỗ tôi biết “công nghệ” là kỹ nghệ chế tạo cơ khí, máy móc. Miền Nam trước đây có Trường Kỹ Sư Công Nghệ. Đọc kỹ nội dung thì đây chỉ là “Điện thoại thông minh giúp tìm xe ôm ở Jakarta” hoặc “Điện thoại thông minh giúp nghề xe ôm ở Jakarta”, chứ chẳng có khoa học, kỹ thuật gì ở đây cả. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 19/9/2015: “Đạt cực đỉnh với một cú nhấn nút”. Đây là câu văn dùng chữ sai và bát nháo. “đạt cực đỉnh” là đạt cái gì? Theo nội dung bài viết thì đây là một thiết bị điện tử gắn vào các dây thần kinh ở xương sườn giúp người bị rối loạn tình dục (không nói rõ rối loạn tình dục là gì) đạt khoái cảm chỉ một lần bấm nút. Do đó câu văn hoàn chỉnh phải là, “Đạt khoái cảm chỉ một lần bấm nút”. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 25/9/2015: “Giáo hoàng kêu gọi Mỹ nhân bản với di dân”. Theo từ điển Việt Nam, “nhân bản” có nghĩa là “lấy con người làm gốc”. Câu văn dùng chữ không đúng, mà phải nói, “Giáo Hoàng kêu gọi Mỹ bày tỏ lòng nhân đạo với di dân”. Ngoài ra câu văn còn sai văn phạm. “Nhân bản” là một danh từ chứ không phải một động từ. Trong câu trên, hai chữ “nhân bản” được dùng như một động từ.

5)      Câu văn thừa tức câu văn lập lại những chữ cùng nghĩa như nhau hoặc thêm vào khiến câu văn vô duyên, không biết gom ý, thiếu đầu óc tổng hợp, thiếu kiến thức. Nếu kiến thức sâu rộng, chỉ cần vài chữ là có thể diễn đạt cả một câu văn hoặc ý tưởng. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 13/8/2014: “Ánh Viên đạt thêm thành tích bơi mới” Ai cũng biết Ánh Viên là lực sĩ bơi lội rồi, do đó thêm chữ “bơi” là thừa. Tiêu đề hoàn chỉnh phải là, “Kình ngư Ánh Viên đạt thêm thành tích mới” hoặc, “Ánh Viên lập thêm thành tích mới”.

6)      Câu văn sai văn phạm: ­
-          BBC tiếng Việt ngày 17/9/2015, “Hối tiếc việc trao giải Nobel cho Obama”. Đây là câu hoàn toàn sai văn phạm. Sau chữ “hối tiếc” phải là chữ “đã” chứ không thể là một danh từ. Thí dụ: “Tôi hối tiếc đã không theo học nghành y khoa” hoặc, “Tôi hối tiếc đã từ chối lời mời hôm đó.” Do đó câu văn đúng văn phạm phải là, “Hối tiếc đã trao Giải Nobel Hòa Bình cho Obama”. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 21/9/2015: “Tiếp tục tìm hai ngư dân nổ tàu cá”. Đây là câu văn sai văn phạm. Câu văn hòan chỉnh phải là, “Tiếp tục tìm kiếm hai ngư dân của tàu cá bị nổ”.

7)      Câu văn gây hiểu lầm khiến người đọc hiểu sai ý tác giả. Nguyên do dùng chữ không chính xác, cẩu thả hoặc tiếng Việt kém. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 7/8/2015: “Manuel Pellegrini gia hạn hợp đồng tại City”. Tiêu đề này khiến chúng ta hiểu lầm rằng Manuel Pelligrini gia hạn hợp đồng để mướn một cầu thủ nào đó của đội Manchester City. Nhưng đọc nội dung thì mới vỡ lẽ ra chính Manuel Pelligrini được gia hạn hợp đồng. Do đó tựa đề hoàn chỉnh phải là, “Manuel Pellegrini được gia hạn hợp đồng tại Manchester City”. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 14/9/2015: “Du khách Mexico bị giết ở Ai Cập”. Câu văn này gây hiểu lầm là du khách Mexico bị giết bởi nhiều lý do như trộm cướp, khủng bố… do tình trạng mất an ninh, nhưng thực tế là, “Du khách Mexico bị bắn lầm trong chiến dịch chống khủng bố ở Ai Cập” hoặc, “Du khách Mễ Tây Cơ bị bắn lầm tại Ai Cập”.
-          BBC tiếng Việt ngày 16/8/2015: “Djokovic và mùi cần sa khi thi đấu”. Câu văn này gây hiểu lầm là mùi cần sa toát ra từ chính cây vợt Djokovic. Câu văn không gây hiểu lầm là “Djokovic và mùi cần sa toát ra từ khán đài”. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 26/9/2015: “Hãy thẳng thắn với ông Tập Cận Bình”. Câu văn này gây hiểu lầm là Việt Nam đã lươn lẹo, gian trá, quanh co cho nên không “thẳng thắn” với Ô. Tập Cận Bình. Chẳng hạn chúng ta thường nói, “Ông ta không phải là người thẳng thắn” tức ông ta lươn lẹo, nói dối, khó chơi. Câu văn đúng đắn và không gây hiểu lầm là, “Hãy nói thẳng với ông Tập Cận Bình” hoặc “Hãy nói rõ vấn đề với ông Tập Cận Bình”. Khi hai người đang thảo luận với nhau, nếu chúng ta nói, “Xin ông đi thẳng vào vấn đề.” thì không sao. Nhưng nếu chúng ta nói, “Xin ông thẳng thắn cho.” thì người nghe có thể nổi đóa và đấm vào mặt chúng ta vì câu văn thứ hai là câu văn chạm tự ái. Đây là sự tế nhị của ngôn ngữ đòi hỏi phải học rộng, giao tiếp nhiều và suy nghĩ nhiều mới thấy. Bài viết có tiêu đề trên là của tác giả Tiến Sĩ Vũ Cao Phan gửi cho BBC từ Hà Nội.
8)      Câu văn lai căng dùng chen tiếng Tây, tiếng Mỹ “ba rọi” mà những từ này đã được dịch qua Việt ngữ hoặc có tiếng tương đương. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 7/9/2015, “Dự trữ ngoại tệ TQ sụt 94 tỷ USD” Trong khi biết dịch đồng Ruble ra tiếng Việt (rúp) thì lại không biết dịch USD ra tiếng Việt. Xin thưa tiếng Việt gọi đó là đồng đô­la. Ngày xưa lính Mỹ vào Việt Nam xài hai loại đô­la cùng lúc: Đô­la Xanh và Đô­la Đỏ. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 7/9/2015, “Tập đoàn Hong Kong nắm casino ở Hội An”. Và “dự án resort casino Nam Hội An”. Xin thưa “casino” là sòng bài. Còn “resort casino” là vừa sòng bài vừa nghỉ mát/nghỉ dưỡng. Nếu không biết thì nên tra từ điển.
-          BBC tiếng Việt ngày 1/9/2015: “Bỏ logo của Thế vận hội Tokyo”. Xin nhắc “logo” là viết tắt của “logotype” tức huy hiệu hay nhãn hiệu. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 17/8/2015: “Từ vụ scandal với bác sĩ Carneiro”. Xin nhắc “scandal” là vụ tai tiếng.
BBC Việt ngữ tức là dùng 100% Việt ngữ chứ không phải “BBC tiếng Việt pha tiếng Anh ba rọi”. Ngày xưa ai nói tiếng Việt thỉnh thoảng chen vào vài câu tiếng Tây cho nó oai, bị mỉa mai là nói tiếng Tây “ba rọi”. Thực Dân Pháp cút về nước lâu lắm rồi, nay lại nảy sinh tệ nạn nói tiếng Mỹ “ba rọi”. Đây là đầu óc nô lệ hoặc mặc cảm với tiếng Việt, cho rằng ngôn ngữ Việt thấp kém, hoặc không rành tiếng Anh nên không biết dịch ra làm sao nên để “nguyên” cho nó tiện, trong khi đó mình đã có tiếng tương đương đầy rẫy trong từ điển.

9) Câu văn làm dáng ­
-          BBC tiếng Việt ngày 8/8/2015: “HAGL: Chút nắng vàng giờ đây cũng vội”. Tiêu để giống như một câu thơ của một người đầu óc lãng đãng, để làm dáng (Miền Nam gọi là kiểu cọ) chứ không phải người bình luận về những trận đấu bóng tròn. Thực ra thì đội Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) mùa này đá tệ quá khiến người hâm mộ tiếc nuối thời kỳ vàng son mà tác giả gọi là “bao tia nắng ấm áp” của ngày xưa. Ông ký giả này nên bỏ nghề bình luận thể thao để làm thi sĩ… có lẽ thành công hơn.

10) Câu văn dị hợm do sáng chế chữ không thuyết phục được độc giả hoặc làm cho tiếng Việt trở nên bát nháo hay một mớ xà bần, hổ lốn, tả­ pín­ lù. Xin nhớ muốn sáng chế chữ thì phải có tài về văn chương mà ai cũng phục… như thế mới gọi là sáng tạo. Sáng tạo mà bị người ta chê, phê bình, chỉ trích là phá hoại ngôn ngữ. ­
-          BBC tiếng Việt ngày 9/9/2015: “Rooney viết nên trang sử mới cho tuyển Anh”. Bây giờ tại Việt Nam, các chữ như đội tuyển Việt Nam, đội tuyển Anh Quốc, đội tuyển Pháp, đội tuyển Mỹ v.v… đểu được viết thành: tuyển Việt Nam, tuyển Anh, tuyển Pháp, tuyển Mỹ… Đây là lối viết vô cùng bát nháo, sáng tạo kiểu đường phố, vỉa hè. Tuyển Anh, tuyển phu, tuyển quân, tuyển thí sinh, tuyển lựa ca sĩ v.v… Tuyển Anh là tuyển chọn nước Anh để làm một cái gì đó chăng? ­
-          BBC tiếng Việt này 9/9/2015, “đi nghỉ bằng du thuyền lớn là biểu tượng đẳng cấp của người Trung Quốc” Câu hỏi ở đây là đẳng cấp là gì? Đệ nhất đẳng huyền đai hay đẳng cấp chuyên nghiệp hay đẳng cấp cao? Đẳng cấp cao chưa hẳn là người giàu có. Đây là loại tiếng Việt bát nháo, là loại ngôn ngữ của “hè phố” mánh mung, ít học. Ngôn ngữ đàng hoàng phải là, “Nghỉ mát bằng du thuyền là biểu tượng giàu có của dân Trung Quốc” ­
-          BBC tiếng Việt ngày 7/9/2015 “bên ngoài căn hộ”. Thú thực cứ mỗi lần đọc tới hai chữ “căn hộ” là tôi khó chịu. Hai chữ “căn nhà” vừa thuần tiếng Việt, vừa có trong văn chương ngàn đời nay sao không dùng mà lại ghép chữ theo kiểu lai căng, kém cỏi? Thà dùng nguyên câu ngạn ngữ Hán­Việt như “môn đăng hộ đối” thì không ai nói gì. Chỉ cần dùng một câu đơn giản “ngoài nhà” là người ta hiểu rồi. Miền Nam trước đây có câu nói để đời, “Dốt thường hay nói chữ” chẳng hạn như: “căn nhà” không nói mà lại nói “căn hộ”, “cô ấy đẹp” hoặc “cô ấy có chút nhan sắc” không nói mà lại nói “cô ấy sở hữu một nhan sắc ”, “cô ấy sở hữu đôi môi đẹp”. Chữ “gia đình” cũng thế, đã có cả ngàn năm nay không nói mà lại nói “hộ dân”, “một con hổ” không nói mà lại nói “một cá thể hổ”, tình hình “căng thẳng lắm” không nói mà lại nói “tình hình căng lắm”, trận so găng trên võ đài, trận đá bóng, trận đấu quần vợt, các môn điền kinh… không nói mà lại nói “trận thi đấu”, “cầu thủ bị treo giò sáu tháng” không nói mà lại nói, “bị cấm thi đấu sáu tháng”. Cái gì cũng “thi” như thi công, thi đấu, thi đua…“Công nhân đang làm việc trong nhà máy” không nói mà lại nói, “Công nhân đang thi công.” “hoàn thành đúng thời hạn” không nói mà lại nói, “đạt tiến độ thi công” nghe nhức đầu quá. Ngay trong trường học cũng “thi đua”. Thầy cô chỉ cần làm đúng bổn phận của mình là tốt rồi. Cả thế giới đều như vậy. Thi đua để làm gì? Thi đua để kiệt sức mà chết hay vào bệnh viện (À quên, phải nói “nhập viện” mới đúng) tốn tiền chính phủ? ­
-          BBC tiếng Việt ngày 17/9/2015, “Việt Nam nói Thái Lan phải ‘khẩn trương điều tra’ vụ tàu Thái Lan”. Tôi sợ hai chữ “khẩn trương” lắm rồi. Đi ỉa, đi đái cũng “khẩn trương lên!”. Tại sao không nói, “Việt Nam yêu cầu Thái Lan điều tra ngay vụ tàu Thái Lan…” hoặc “Việt Nam yêu cầu Thái Lan điều tra gấp vụ tàu Thái Lan…” Các quốc gia trên thế giới khi đất nước sắp lâm nguy hoặc một thiên tai thảm họa sắp đổ xuống, chính quyền ban bố tình trạng gọi là “tình trạng khẩn trương” (State of Emergency). Khẩn trương ở đây không có nghĩa là nhanh lên, gấp lên, lẹ lên mà là tình trạng khó khăn của đất nước mà mọi người phải chuẩn bị sẵn sàng ứng phó.

11) Câu văn dùng chữ “đao to búa lớn” không thích hợp ­
      - BBC tiếng Việt ngày 14/9/2015: “Đường lối Đỏ đang lên ở Anh và Mỹ?” Câu văn này có vẻ cường điệu hơn là trình bày sự thực. Khuynh hướng của hai ông Sanders (Mỹ) và Corbyn (Anh) là khuynh hướng của người theo Chủ Nghĩa Xã Hội hơn là “Đỏ” tức Chủ Nghĩa Cộng Sản.

Kết Luận: Với những lỗi rất sơ đẳng mà học sinh tiểu học năm xưa ở Miền Nam cũng không mắc phải, tôi đề nghị nếu Ban Việt Ngữ BBC không tuyển được những cộng tác viên kha khá tiếng Việt thì nên đóng cửa trang tin này để đừng làm khổ độc giả.
Tôi không hề có ác cảm hoặc mặc cảm với trang Việt ngữ này. Chỉ vì tiền đồ văn hóa của dân tộc mà tôi nói. Khi mình viết ra chỉ để người yêu hoặc bạn bè mình đọc thì muốn viết sao cũng được. Nhưng khi đã viết trên một trang tin điện tử có cả triệu độc giả thì phải hết sức cẩn trọng vì trong số độc giả có rất nhiều người là bậc thầy của mình chứ không phải tất cả chỉ là phường bát nháo.
Nếu cảm thấy không rành, không khá, không am tường Việt ngữ thì nên tìm nghề khác sinh sống. Cầm bút là sự nghiệp liên quan đến văn hóa chứ không phải chuyện đùa. Trên thế giới này có rất nhiều nhà bình luận, ký giả, phóng viên, truyền thông đi vào lịch sử ngành báo chí và được quần chúng nhớ mãi. Nhưng những người này, ngoài kiến thức sâu rộng, khả năng lý luận, nhận xét bén nhậy, tính công minh chính trực…còn được Trời phú cho vốn ngôn ngữ mẹ đẻ rất quảng bác, truyền thống và mẫu mực.
Cứ thử đọc các bản tin của các hãng thông tấn lớn như AP, AFP, Reuters, UPI, các báo lớn của Hoa Kỳ như New York Times, Washington Post, Boston Globe…chúng ta thấy họ viết bằng lối văn rất mẫu mực, nghiêm túc bởi vì các bản tin mà các hãng thông tấn này gửi đi được cả ngàn tờ báo trên thế giới trích đăng lại, bao nhiêu chính trị gia, các vị nguyên thủ quốc gia cũng phải theo dõi các bản tin này.
Xin nhớ cho văn chương báo chí là ngôn ngữ bình dị, dễ hiểu, trong sáng, không gây hiểu lầm, không hai nghĩa, nghiêm túc, không đùa cợt, không làm dáng, không được dùng tiếng lóng hoặc loại ngôn của phường đứng bến xe, bến cảng, đầu đường, cuối chợ, mánh mung, chụp giựt.
Mình không phải là người thô tục nhưng dùng ngôn ngữ thô tục thì chính mình là kẻ thô tục. Mình không phải là phường bát nháo nhưng dùng ngôn ngữ của hạng người đứng bến, đầu đường cuối phố thì chính mình là phường bát nháo… Mình chưa hẳn là người xấu nhưng dùng ngôn ngữ cay độc, đâm bị thóc chọc bị gạo, vu oan giá họa, bôi lọ, chụp mũ… thì người đọc sẽ nghĩ rằng mình là người gian ác… bởi vì “văn tức là người”. Mình là nhà văn, nhà báo thì phải hướng dẫn “đường phố” để dân “đường phố” từ từ có chút học hành, ăn nói đúng đắn, thanh lịch hơn lên… chứ không phải chạy theo “đường phố” bởi vì ngôn ngữ “đường phố” là ngôn ngữ của những kẻ ít học.
Không hiểu rõ những nguyên tắc đó mà nhảy vào nghề làm báo, làm phóng viên, bình luận, phiên dịch… là một thảm họa, cho chính mình trước và sau đó cho văn hóa nước nhà.

ĐÀO VĂN BÌNH
(California ngày 27 Tháng 9, 2015)