Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014


THẾ KỈ TRUNG QUỐC?
Phạm Thị Hoài lược dịch

Chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư ĐCSVN tại Singapore đang được dư luận quan tâm. Cuộc trò chuyện kéo dài ba ngày mới đây giữa hai chính khách kì cựu, một ở phương Đông và một ở phương Tây: cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu và cựu Thủ tướng Đức Helmut Schmidt (Đảng Dân chủ Xã hội) có thể cung cấp cho người đọc Việt Nam một số góc nhìn tham khảo về những đề tài lớn, đặc biệt về sự dịch chuyển quyền lực, sự phân cực trên thế giới và vai trò của Trung Quốc trong thế kỉ này.

Người dịch



Helmut Schmidt: Lần đầu tiên đến Bắc Kinh tôi được Hoàng đế Trung Hoa tiếp – hồi đó ngài là Mao Trạch Đông.
Lý Quang Diệu: (cười)

Helmut Schmidt: Mao là một tay tàn bạo.
Lý Quang Diệu: Ông ta là một nhà lãnh đạo chiến tranh du kích lỗi lạc đã giải phóng Trung Quốc. Nhưng ông ta cũng tàn phá Trung Quốc bằng Cách mạng Văn hóa. 18 triệu người chết đói vì phải đem hết dao và muổng ra để luyện gang. Ông ta thật điên rồ. Tưởng giải phóng Trung Quốc xong rồi thì thay đổi thế giới có khó gì.

Helmut Schmidt: Ông ta cho rằng: Cần gì giai cấp vô sản công nghiệp, dùng vô sản nông thôn cũng được.
Lý Quang Diệu: Đúng vậy.

Helmut Schmidt: Nhưng người nông thôn thường không sẵn tinh thần cách mạng.
Lý Quang Diệu: Điều đó tôi không chắc. Ở thời buổi của iPhone, internet và truyền hình toàn quốc bây giờ, người ta rất bất mãn vì thấy nhà mình thì tồi tàn, còn những thành phố duyên hải lại thịnh vượng.

Helmut Schmidt: Thời ông, ai là nhà lãnh đạo chính trị vĩ đại nhất?
Lý Quang Diệu: Đặng Tiểu Bình.

Helmut Schmidt: Tôi đồng ý. Đặng Tiểu Bình là nhà lãnh đạo chính trị vĩ đại nhất trong tất cả những người tôi từng gặp.
Lý Quang Diệu: Người có một mét rưỡi, nhưng tầm vóc chính trị thì khổng lồ.

Helmut Schmidt: Năm 1983 tôi có một buổi trò chuyện với ông ấy. Hai chúng tôi và một người phiên dịch, khi đó chúng tôi đã quen nhau gần mười năm, nên nói chuyện khá cởi mở và thành thật. Tôi giễu cợt rằng nhìn kĩ vào thực tế thì những người cầm quyền ở Bắc Kinh không được trung thực lắm; họ tuyên bố mình là cộng sản, nhưng thực ra thì họ theo Khổng giáo. Đặng có vẻ hơi sốc một chút, mất vài giây, nhưng sau đó thì ông ấy đáp lại bằng vỏn vẹn ba từ. Ba từ đó là: “Thì đã sao?” (Lý Quang Diệu cười.) Tôi công nhận Đặng là một người vĩ đại.
Lý Quang Diệu: Ông ấy có tinh thần cầu thị. Ông ấy đến thăm Singapore, thấy một hòn đảo nhỏ bé không có tài nguyên gì nhưng thịnh vượng, đầy của cải, mọi người đi mua sắm, trong túi rủng rỉnh tiền. Ông ấy quan sát, đặt những câu hỏi chính xác và đi đến kết luận rằng chính sách đầu tư cởi mở của chúng tôi đã đem lại công nghệ và những thị trường mới. Trở về Trung Quốc, ông ấy lập ra sáu đặc khu kinh tế theo mô hình Singapore. Ông ấy thành công và mở cửa Trung Quốc dần dần. Điều đó đã cứu Trung Quốc.

Helmut Schmidt: Thế kỉ 20 được gọi là thế kỉ Hoa Kì. Thế kỉ 21 liệu có là thế kỉ Trung Quốc không?
Lý Quang Diệu: Về tổng sản phẩm nội địa thì đúng. Đến năm 2035, GDP của Trung Quốc sẽ lớn hơn của Hoa Kì. Còn về Quyền lực Mềm (Soft Power), về sức hấp dẫn đối với kẻ khác thì tôi không chắc lắm, vì Hoa ngữ là một trở ngại cho bất kì ai muốn hội nhập với Trung Quốc.

Tuần báo Zeit: Người ta đang nói nhiều đến sự “dịch chuyển toàn cầu”, từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương. Có phải Đại Tây Dương đã thuộc về quá khứ và Thái Bình Dương là tương lai không?

Lý Quang Diệu: Không, theo tôi không nên đánh giá như vậy. Tôi tin rằng từ góc nhìn của đa số người Mỹ hiện nay, châu Âu là một đồng minh khá chắc chắn. Vấn đề của Mỹ sẽ là Trung Quốc. Vậy sự dịch chuyển đó có nghĩa gì? Có nghĩa là Mỹ phải tập trung đầu tư kinh tế và các hoạt động quân sự vào khu vực Thái Bình Dương. Nhưng không có nghĩa là dịch chuyển quyền lực trên thế giới. Mà có nghĩa là Mỹ hướng tiêu điểm vào một sự đe dọa mới cho vị trí bá quyền của mình.
Helmut Schmidt: Đúng, nhưng vị trí bá quyền của Mỹ sẽ không còn áp đảo như ở cuối thế kỉ 19 và trong suốt thế kỉ 20 nữa, nó sẽ dần dần yếu đi, Trung Quốc sẽ dần dần mạnh lên và Nga thì càng ngày càng không thay đổi. (Lý Quang Diệu cười.)

Lý Quang Diệu: Tôi đồng ý với điểm cuối. Đúng, Trung Quốc sẽ mạnh lên, nhưng sẽ không thể bá quyền tới mức kiểm soát được Thái Bình Dương.
Helmut Schmidt: Không, sẽ rất lâu. Phải mất hơn một thế kỉ.
Lý Quang Diệu: Điều đó không thể xảy ra.
Helmut Schmidt: Tôi không chắc là điều đó có thể xảy ra không, nhưng trong thế kỉ 21 này thì không thể.

Tuần báo Zeit: Một trong những thành công to lớn nhất của châu Âu là giờ đây nó đã trở thành một châu lục hòa bình. Có thể nói rằng châu Âu đã biết học từ lịch sử. Còn châu Á thì sao? Giữa Trung Quốc và Nhật Bản vẫn còn nhiều căng thẳng. Rồi còn đủ thứ lò bạo loạn khác: Triều Tiên, Đài Loan, Kashmir.
Lý Quang Diệu: Ở châu Á có những quyền lợi quốc gia riêng biệt đang xung đột nhau. Có hai động lực chính thúc đẩy. Thứ nhất là nền kinh tế Trung Quốc có một quy mô nuốt chửng các nền kinh tế của Nhật, Hàn Quốc và những nước châu Á khác. Thứ hai là sự tự tin mỗi ngày một lớn của Trung Quốc. Càng giầu và mạnh lên thì người Trung Quốc càng tự tin. Vì thế các nước châu Á khác muốn Mỹ hiện diện ở đây để giữ thế thăng bằng.

Helmut Schmidt: Theo tôi biết thì vào khoảng năm 1500 nền văn minh Trung Quốc, gồm cả các ngành khoa học của nó, vượt xa nền kĩ thuật châu Âu ở thời điểm ấy. Sau đó châu Âu dần dần phát triển một thứ gọi là dân chủ, cái mà người Mỹ gọi là chủ nghĩa tư bản, cái mà người Mỹ ngày nay gọi là responbility to protect, “trách nhiệm bảo hộ”, mà theo họ là việc bảo hộ nhân quyền ở các quốc gia khác. Tôi có cảm giác châu Âu coi ba yếu tố đó là những thứ có thể áp dụng ở mọi nơi. Và tất nhiên là người Trung Quốc, người Singapore và một loạt các dân tộc khác, thí dụ ở thế giới Ả-rập, không tán thành như vậy. Công nghiệp hóa thì họ sẵn lòng tiếp nhận, nhưng dân chủ thì không, và họ không sẵn lòng tiếp nhận nhân quyền.

Lý Quang Diệu: Người Nhật, người Trung Quốc và cả người Hàn Quốc không cho rằng nhiệm vụ của họ là bảo người khác phải thay đổi điều gì để cai quản đất nước tốt hơn. Họ bảo, đó là chuyện của bạn. Tôi làm ăn với bạn trên nền tảng trung lập. Tôi không tìm cách thay đổi bạn. Phương Tây có khuynh hướng truyền đạo, các vị cho rằng hệ thống của các vị có giá trị toàn cầu: dân chủ và nhân quyền. Ở Ấn Độ, vì một lí do lạ lùng nào đó, dân chủ đã cắm rễ nhưng nhân quyền thì không, những vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất diễn ra ở Ấn Độ. Ở Trung Quốc, ý tưởng về nhân quyền vừa mới được nhen nhóm, trong khi ý tưởng về nhà nước đứng trên tất cả và bất khả xâm phạm thì vẫn còn rất mạnh.

Helmut Schmidt: Hệ thống Khổng giáo mà theo tôi vẫn còn tồn tại có một ưu thế lớn, vì nó hầu như không bao hàm những khía cạnh tôn giáo.
Lý Quang Diệu: Đúng thế. Cho nên ở Trung Quốc người ta cũng không đánh nhau vì những vấn đề tôn giáo.
Helmut Schmidt: Đó là một ưu thế lớn. Lòng hăng say truyền đạo của người Mỹ theo Thiên Chúa giáo – không biết cơ sở của nó là ở chỗ nào trong Kinh thánh, có lẽ cũng nên tìm hiểu. Thực ra nó không bám rễ sâu lắm trong đó.

Lý Quang Diệu: Nhưng đặc điểm văn hóa của dân Mỹ và các nhà lãnh đạo họ là muốn giáo dục chính phủ các nước khác. Theo tôi phương Tây có cái nhu cầu tự cho rằng mình đã giác ngộ và muốn người khác cũng giác ngộ như mình. Nhưng cũng có thể nhìn nhận động cơ đó theo hướng tích cực – rằng phương Tây muốn thay đổi thế giới, biến nó thành một thế giới tốt đẹp hơn.
Helmut Schmidt: Đúng.
Lý Quang Diệu: Mặt khác cũng có thể coi đó là thái độ ngạo mạn, các vị cho hệ thống của mình là ưu việt, và các vị muốn ép chúng tôi phải tiếp nhận.

Tuần báo Zeit: Những quyền con người nào thì có giá trị phổ cập và những quyền nào thì không?
Lý Quang Diệu: Quyền được sống theo ý mình của mỗi cá nhân; quyền an toàn cho chính mình và gia đình mình của mỗi cá nhân; quyền có việc làm, được đào tạo và chăm sóc y tế của mỗi cá nhân và con cái được học hành – tôi nghĩ rằng những quyền đó người Trung Quốc sẽ chấp nhận. Nhưng đòi được có một phiên tòa xét xử trước khi bị kết án hoặc tống giam, quyền đó không có trong hình dung của họ. Họ quyết định kẻ nào là mối nguy cho xã hội rồi tống vào tù.

Zeit: Còn các quyền tự do hội họp, tự do chính kiến và tự do tôn giáo?
Lý Quang Diệu: Trung Quốc rất hạn chế quyền tự do hội họp.

Tuần báo Zeit: Vậy phương Tây có nên bảo vệ quyền đó không?
Lý Quang Diệu: Phương Tây có thể can thiệp bằng cách nào nhỉ?!

Tuần báo Zeit: Chính dân Trung Quốc đã đòi những quyền này. Năm 1989, những người biểu tình đã dựng một bản sao bức tượng “Nữ hoàng Tự do” ở Quảng trường Thiên An Môn.
Lý Quang Diệu: Vâng, nhưng họ là những chàng trai trẻ rất lãng mạn, và cuối cùng thì họ bị cắt đầu hoặc bắn sang Mỹ. Và dân chúng chỉ coi đó là một sự kiện nhất thời.
Helmut Schmidt: Dù đã già, cá nhân tôi vẫn sẵn sàng tự tay chống lại những kẻ tước đoạt quyền của mỗi con người, không chỉ riêng quyền được sống mà tất cả các quyền. Nhưng tôi dứt khoát không can thiệp vào một quốc gia khác để bảo vệ quyền con người ở đó. Phải nói là tôi rất sợ cái khái niệm “trách nhiệm bảo hộ”.
Lý Quang Diệu: Như ở Lybia – ném bom diệt được một nhà độc tài thì cuối cùng lại sinh ra nhiều vị chỉ huy quân đội cỡ nhỏ mà mỗi vị đều sẽ thành một nhà độc tài.

Tuần báo Zeit: Không có trường hợp nào mà ông thấy “trách nhiệm bảo hộ” là phản ứng chính đáng hay sao? Như trường hợp Khmer Đỏ ở Campuchia, hay trường hợp diệt chủng ở Ruanda?
Lý Quang Diệu: Tôi tin rằng ngày nay trên bình diện quốc tế, diệt chủng là không thể chấp nhận. Nếu giết người vì lí do chủng tộc hoặc nếu một chủng tộc bị đem ra trừng phạt thì can thiệp là chính đáng. Đặc biệt trong trường hợp một nước lớn trừng phạt một nước nhỏ. Nếu không thì thế giới này sẽ thành vô luật pháp.
Helmut Schmidt: Nhưng cái “trách nhiệm bảo hộ” ấy có nguy cơ phình ra vô hạn. Có lẽ chúng ta có lí do chính đáng để bảo vệ người dân ở Ruanda. Nhưng điều đó quá phức tạp, nên chúng ta đã không làm. Có thể là chúng ta có bổn phận đạo đức phải hành động, cũng như đối với người dân ở Chechnya. Nhưng chúng ta đã không làm. Có thể trong trường hợp vụ thảm sát ở Quảng trường Thiên An Môn, chúng ta có bổn phận hành động. Nhưng chúng ta đã không làm. Chúng ta chỉ tuân theo cái bổn phận đó trong các trường hợp dễ thực hiện hoặc nếu được lợi thế tuyên truyền.
Lý Quang Diệu: Trong thực tế, phải khả thi thì mới hành động được. Không thể can thiệp vào vụ Thiên An Môn, vì như thế là gây hấn với một thế lực cực lớn. Còn Ruanda – tôi tin rằng Mỹ ân hận là đã không can thiệp.

Helmut Schmidt: Ông có ân hận là chúng ta đã không can thiệp không? (Im lặng khá lâu)
Lý Quang Diệu: Nếu ông muốn biết tôi có đồng ý gửi quân đi để ngăn hai phe xung đột không thì tôi xin nói là không. Còn nếu ông muốn biết rằng theo tôi, việc người Mỹ không can thiệp có sai không thì tôi xin trả lời rằng có, việc đó là sai.
Helmut Schmidt: Tôi tin rằng ông ý thức rõ tính đạo đức nước đôi trong câu trả lời vừa rồi.
Lý Quang Diệu: Vâng, tôi ý thức rõ.

Tuần báo Zeit: Phương Tây đã chế ngự thế giới suốt 500 năm. Giai đoạn lịch sử đó đang kết thúc. Thời đại nào sẽ bắt đầu? Thế kỉ Thái Bình Dương?
Lý Quang Diệu: Tôi không chia sẻ cách nhìn nhận thế kỉ này là Thế kỉ Thái Bình Dương. Tôi tin rằng đó sẽ là một thế kỉ mà Trung Quốc và Mỹ sẽ vượt qua Thái Bình Dương mà cạnh tranh. Nếu châu Âu đủ khả năng liên kết thì thế giới sẽ gồm ba cực. Và thêm Nga – nếu họ hồi phục – đó sẽ là một thế giới bốn cực. Trọng điểm của thế giới đã chuyển từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương. Đúng như vậy. Đừng nên quên rằng 300 năm trước, GDP của Trung Quốc đã chiếm gần 50 % của toàn thế giới và hiện nay đang dần dần tiến đến mức đó, chỉ trừ trường hợp nội bộ Trung Quốc có biến động gì đó.

Tuần báo Zeit: Có nghĩa là Trung Quốc không trỗi dậy, mà Trung Quốc hồi sinh?
Lý Quang Diệu: Gọi thế nào thì tùy, đó là một Trung Quốc mạnh hơn, với một tiếng nói vang to hơn trên nhiều diễn đàn quốc tế khác nhau và một sức mạnh quân sự to lớn hơn để không cho kẻ nào tiến gần đến biên giới quốc gia.
Helmut Schmidt: Tôi có cảm tưởng rằng cái khái niệm dịch chuyển trung tâm quyền lực từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương này có xuất xứ từ Mỹ, và hình như nó được dùng để biện minh cho sự dịch chuyển của những mũi tiến và cứ điểm của hải quân và không quân Hoa Kì. Hiện nay Mỹ có một cứ điểm không quân ở Úc, một hạm đội thường trực có thể kiểm soát từ Vịnh Ba Tư, Ấn Độ Dương, Biển Hoa Đông, Biển Đông đến các vùng duyên hải Canada. Theo tôi thì người Mỹ đang cường điệu. Còn châu Âu, nếu không có cuộc khủng hoảng tài chính khiếp đảm năm 2008 thì tôi vẫn đang lặp lại câu quảng cáo rằng chúng ta đang tiến tới một thế giới ba cực, gồm Trung Quốc, Hoa Kì và châu Âu.

Nguồn: Lược dịch từ nguyên bản tiếng Đức “Wie chinesisch wird die Welt?”, Matthias Nass thực hiện, Die Zeit số 57, ra ngày 06-9-2012
Bản tiếng Việt © 2012 pro&contra


Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014


XIN HÃY ĐỨNG CHUNG VỚI ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
VÀ LÊN TIẾNG ỦNG HỘ NGÀI !

Quỳnh Vi


From: lienhoa5951@hotmail.com
Subject: Xin hãy đứng chung với Đức Đạt Lai Lạt Ma và lên tiếng ủng hộ Ngài!
Date: Sun, 14 Sep 2014 21:33:52 -0700

Dưới áp lực của nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc, Nam Phi đã từ chối cấp visa cho Đức Đạt Lai Lạt Ma tham dự buổi họp mặt lần thứ 14 của những người đã từng nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình.
Tồ chức Tibetan National Congress đang kêu gọi những nhà đoạt giải Nobel Hoà Bình tẩy chay và không tham dự cuộc họp mặt này khi Đức Đạt Lai Lạt Ma bị cấm nhập cảnh vô cớ, vi phạm quyền tự do đi lại của Ngài và là một quyền con người được bảo vệ bởi Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế.
Như người bạn của tôi, anh Jigme Ugen đã viết trong lời kêu gọi: Nếu các nhà đoạt giải Nobel Hòa Bình mà cũng không đứng lên đòi hỏi công bằng cho một người đoạt giải khác trong lúc cần thiết, đặc biệt là vì sự đàn áp của một chính phủ, thì có lẽ chúng ta đang sống trong một thời kỳ tồi tệ nhất của lịch sử nhân loại ...
Đừng để Trung Quốc biến thời đại của chúng ta trở thành thời kỳ tăm tối nhất, điều đó chỉ và sẽ xảy ra khi chúng ta ngồi im và không hành động gì ...

Mong mọi người ủng hộ và chia sẻ dùm!  Xin cảm ơn tất cả!
Quỳnh Vi



Chúng tôi lên án hành động từ chối thị thực cho Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 của chính phủ Nam Phi, vì đó thật sự là việc ngăn chặn Ngài tham gia Hội nghị Cấp cao Quốc Tế lần thứ 14 dành cho những Nhà đoạt giải thưởng Nobel Hòa Bình ở Cape Town.
Chúng tôi yêu cầu những Nhà đoạt giải thưởng Nobel Hòa Bình được mời đến cuộc hội nghị cấp cao lần này hãy đứng chung thành một khối thống nhất và từ chối có mặt trừ phi Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng được cho phép tham dự. Chúng tôi kêu gọi quý vị hãy ký tên vào lá thư chung. Hãy để cho họ nghe đưọc sự lên tiếng của quý vị.
Lá thư chung sẽ được chuyển đến những Nhà đoạt giải Nobel Hòa Bình đã đưọc mời tham dự cuộc Hội Nghị Cấp Cao sau đây:
Mrs. Mairead Corrigan Maguire, Dr. Shirin Ebadi, Mrs. Betty Williams, Prof. Jody Williams, Prof. Muhammad Yunus, President Mikhail Gorbachev, Mrs. Tawakkol Karman, Mrs. Leymah Gbowee, President José Ramos-Horta, President Lech Walesa, Lord David Trimble, President Frederik Willem De Klerk and Archbishop Desmond Tutu


Dear Nobel Peace Laureate:
As one of the Laureates’ invited to the 14th World Nobel Peace Summit, you may be surprised to learn that in yet another incomprehensible and disheartening move, the South African Government has denied a visa to His Holiness the 14th Dalai Lama to attend the Summit with you.
South Africa, synonymous with the triumph of truth over falsehood, the powerless over the powerful and right over wrong, has produced some of the most inspirational freedom fighters in recent history. Leaders who have not only regained their country from the clutches of colonial masters but more importantly, chaperoned the country to a new dawn of co-existence and peace, choosing to leave the past of racism, hatred, and bigotry behind. South Africa has set unparalleled standards of morality for itself and the world to learn from.
So, it is deeply painful to hear that South Africa’s government has yet again denied His Holiness the Dalai Lama a visa, especially to an event meant to celebrate the Late Nelson Mandela’s Legacy and to promote Peace. Nelson Mandela once famously said: “To be free is not merely to cast off one’s chains, but to live in a way that respects and enhances the freedom of others." This is a question the South African government must ask themselves on this occasion. His Holiness the Dalai Lama's role as an advocate for peace is universally known and respected, and he has consistently sought to bring humanity to a new age of cooperation and coexistence based on mutual respect and love.
I ask you be guided by the same courage that characterizes your legacy and stand in solidarity with a fellow Laureate, who is clearly being denied the right to be at this historic event due to outside pressure exerted by the Chinese Government, the same government that holds prisoner another Laureate, Liu Xiaobo, at this very moment.
If the civilized world continues to bow under pressure to such a megalomaniacal regime, it only encourages and rewards such behavior in the future, and in turn undermines the progress of genuine progressive and harmonious relationship between nations to a better cohesive future world.
THEREFORE, I hope you, a moral compass of humanity, will take a unified stand with the other Nobel Peace Laureates invited to this Summit, and forego your attendance unless His Holiness the Dalai Lama is permitted to attend with you.
Thank you for your leadership.
Deepest respect,
[Signature]

14 KHÔI NGUYÊN GIẢI NOBEL HÒA BÌNH
YÊU CẦU TỔNG THỐNG NAM PHI JACOB ZUMA
HÃY CẤP HỘ CHIẾU CHO ĐỨC DALAI LAMA.

14 Nobel Laureates urge Zuma to give Dalai Lama visa
2014-09-15 16:39

Johannesburg - Fourteen Nobel Peace Laureates have asked President Jacob Zuma to guarantee the Dalai Lama a visa to South Africa, after the Tibetan spiritual leader was forced to abandon a trip to the country.

The Dalai Lama was to attend a summit of Nobel peace prize winners in Cape Town next month, the first-ever meeting of its kind in Africa.
But, according to an aide, he cancelled after he was denied a visa in a bid to avoid angering China, which regards the Buddhist monk as a campaigner for Tibetan independence.
"We are deeply concerned about the damage that will be done to South Africa's international image by a refusal - or failure - to grant him a visa yet again," the group said in a letter to Zuma.
Signatories include Poland's Lech Walesa, Bangladeshi entrepreneur Muhammad Yunus, Iranian lawyer Shirin Ebadi, Liberian activist Leymah Gbowee and Northern Irish peacemakers David Trimble and John Hume.

The Dalai Lama has applied three times in the last five years to visit South Africa.
Each time the government has dragged its heels until the trip was called off.
Each prior rejection has been met with public outcry by South Africans who see it as a betrayal of the commitment to human rights embraced by their government since the end of apartheid 20 years ago.
Two years ago, a top court found that the government had acted unlawfully by dragging its heels on a visa application by the Tibetan until it was too late.

China - South Africa's biggest single trading partner, with two-way trade worth $21bn in 2012 - regularly uses its economic and political clout to put pressure on governments around the world to limit contact with the Dalai Lama.
"We understand the sensitivities involved - but would like to point out that His Holiness, the Dalai Lama, no longer holds any political office," the signatories said.
Instead, they insisted, he "would participate in the summit solely in his capacity as a globally respected spiritual leader".
The Nobel summit in Cape Town on 13 October - 15 October is backed by foundations representing four South African peace laureates - Archbishop Emeritus Desmond TutuNelson Mandela, FW de Klerk and Albert Luthuli.

Along with the surviving South Africans - Tutu and de Klerk - the organisers say 13 individuals and eight organisations had confirmed that they would attend the summit, including former Soviet president Mikhail Gorbachev.
Previous summits have been held in cities including Rome, Paris, Chicago and Warsaw.
The Dalai Lama was previously barred from entry to South Africa in 2011, when he was invited to give a lecture as part of celebrations for anti-apartheid activist Tutu's 80th birthday.
At the time, Tutu described the ANC as being "worse than the apartheid government".

The Dalai Lama was also denied a visa in 2009, but had visited three times before that and was personally welcomed by former president Mandela.


Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2014


PHẬT GIÁO VÀ HÒA BÌNH CHÂN THỰC

Nguyên Giác


Phật Giáo là hòa bình, không chỉ riêng cho người tu học, mà cho cả xã hội. Và độc đáo là, trong một thế giới đầy khắp những cuộc thánh chiến, Phật Giáo vẫn tồn tại cũng là một hy hữu – và do vậy, nhiều nhà hoạt động trên toàn cầu đã tin rằng Phật Giáo có thể đóng một vai quan trọng trong việc gìn giữ hòa bình thế giới.

Tác nhân hòa hài của Phật Giáo là điều ai cũng thấy hiển nhiên, tuy rằng có nơi và có lúc, một vài Phật Tử cực đoan, trong một số hoàn cảnh cá biệt.

Phương pháp thiền chánh niệm của Phật Giáo cũng được nhiều chính phủ đem dạy trong quân đội, trong trạị tù -- những nơi đối diện với chiến tranh hay bạo lực, và nơi lòng người dễ bất an. Giá trị hòa bình của Phật Pháp đang được ca ngợi và tu tập ở nhiều nơi, trong nhiều cộng đồng.
Đó là điểm độc đáo của Phật Giáo. Chúng ta có thể nhớ rằng Tổng Thống George W. Bush đã hàm ý rằng cuộc chiến của ông ở Iraq là thiện chống lại ác, là lành chống lại dữ -- đó là ngôn ngữ Kinh Thánh, không phải ngôn ngữ bang giao quốc tế. Bởi vì, thiện và ác là hai kháí niệm trừu tượng, trong khi chiến tranh và hòa bình là những hoàn cảnh xã hội cụ thể của những dân tộc cụ thể, và của từng cá nhân cụ thể -- không có gì trừu tượng hay mơ hồ, nơi những người  tham dự thánh chiến đều nhân danh Thượng Đế của họ để đi tàn sát người thờ một đấng Thượng Đế khác.

Ngôn ngữ thánh chiến của TT Bush hiển lộ trong bài diễn văn ở Trường Võ Bị West Point năm 2002: “We are in a conflict between good and evil, and America will call evil by its name.” (Chúng ta đang ở trong một cuộc chiến giữa thiện và ác, và Hoa Kỳ sẽ gọi cái ác bằng đúng tên của nói.)
TT Bush đã chỉ diễn lại từ Kinh Thánh Cơ Đốc, sách Romans 12:21:
Do not be overcome by evil, but overcome evil with good.” (Đừng để bị đánh bại bởi cái ác, nhưng hãy đánh bại các ác bằng cái thiện.”
Cũng trong Kinh Thánh, nơi sách Isaiah 5:20:
Woe to those who call evil good and good evil...” (Sầu khổ cho những ai gọi ác là thiện, và gọi thiện là ác...”
Trong tháng 6-2003, Tướng tình báo Hoa Kỳ William G. Boykin đứng thuyết trình trong nhà thờ Good Shepherd Community Church tại Sandy, Ore., chiếu các hình dương bản về Osama bin Laden, Saddam Hussein và Kim Jung Il (lãnh tụ Bắc Hàn), nói:
Why do they hate us? The answer to that is because we're a Christian nation.... We are hated because we are a nation of believers. Our spiritual enemy will only be defeated if we come against them in the name of Jesus.” (Tại sao họ thù chúng ta? Câu trả lời rằng, vì chúng ta là một đất nước Cơ Đốc... Chúng ta bị căm thù vì chúng ta là quốc gia của những người có đức tin. Kẻ thù tâm linh của chúng ta sẽ chỉ bị đánh bại nếu chúng ta nhân danh Chúa Jesus để chống lại họ.)

Câu hỏi là: Phật Giáo nằm ở đâu trong cuộc thánh chiến toàn cầu đó? Thực sự, trong tận cùng của Phật Giáo, cuộc “thánh chiến” thực sự nằm trong tâm của mỗi Phật Tử: họ luôn luôn phải giữ tâm chánh niệm, luôn luôn phòng hộ tâm ý để xa lìa tham sân si, luôn luôn thấy các pháp sinh khởi trong tâm và ngoài xã hội đều là do duyên mà khởi – và do vậy, họ sẽ tùy thuận nơi từng quốc độ họ cư trú, để dấn thân vào chợ theo cách riêng, và đó là khi Vua Trần Nhân Tông dẫn quân ra trận để đánh dẹp quân Bắc phương, và rồi về lại ở nơi một góc núi sân chùa.
Nghĩa là, Phật Tử không có thánh chiến theo nghĩa những cuộc thánh chiến đang diễn ra ở toàn cầu, và họ cũng không hề nhân danh bất kỳ một đấng nào để trừu tượng hóa một cuộc chiến dưới trần gian cho thành một cuộc chiến tìm lên cõi trời – nơi các khoa học gia như Albert Einstein cũng đã nói thẳng rằng không hề có Thượng Đế nào tạo ra thế gian này cả.
Do vậy, với đặc tính hòa binh và khoa học, Phật Giáo đã hiển lộ với sức quyến rũ lớn đối với giới trí thức, từ lĩnh vực khoa học cho tới nghệ sĩ.

Vấn đề là, giữa những cuộc thánh chiến, khi nhiều tôn giáo bị các chính phủ vận dụng và  lèo lái (1), Phật Giáo có thể làm được hay không để tự hòa nhập với dân tộc trong mọi quốc độ, để gìn giữ cho dân tộc đó không tham dự một số cuộc thánh chiến lẽ ra có thể tránh, hay để có thể làm hòa cho những cuộc thánh chiến đó? Đó là vị trí cực kỳ khó, và không ai có thể trả lời được.
Và vấn đề nữa, khi giới trí thức Châu Âu, Hoa Kỳ và Ả Rập bám lấy chiếc phao Phật Giáo, họ có thể sẽ hội nhập vào Phật Pháp thêm những điểm nhìn của Cơ Đốc Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo, vân vân. Đó là lý do có các danh từ mới, như: chữ JewBu, còn gọi là JuBu, là viết tắt của Jewish Buddhist, chỉ người gốc Do Thái Giáo tu thêm một số phương pháp Phật Giáo, hay đã quy y thành Phật Tử.
Một điều cũng nên suy nghĩ: giáo lý hòa bình của Phật Giáo có thể được các chính phủ địa phương vận dụng, hội nhập với các tín ngưỡng khác ở địa phương để khắc phục cái hung hăng ở các tôn giáo khác và để dùng như một phương tiện để trị an xã hội?

***

Có thể nhìn thấy một thí dụ ở Trung Quốc, nơi chế độ chính thức vẫn là vô thần, và vẫn một quốc gia theo chế độ xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước Bắc Kinh nhìn thấy cần phải dựa vào Phật Giáo để làm cho hòa hài xã hội. Một phần, để dễ dàng làm cho an lòng dân ở Tây Tạng, và cũng để có thể kết hợp lòng dân Hoa Kiều toàn cầu, kể cả để vuốt ve nhà nước Đài Loan.

Khi hai tượng Phật khổng lồ có từ thế kỷ thứ 6, nơi vách núi Bamiyan, miền Trung Afghanistan, bị quân Taliban dùng mìn phá hủy vào tháng 3-2001, cả thế giới văn minh sững sờ... Nhà nước Trung Quốc ngay lập tức nghĩ ra một độc chiêu: cho hàng trăm thợ đá, tạc một pho tượng Phật khổng lồ theo mô hình Bamiyan ở Leshan, tỉnh Sichuan.(2)
Bạn có thể nghĩ rằng chính phủ TQ giỏi nghề làm hàng copy, hay có thể nghĩ rằng đây là cách để tăng thương vụ du lịch. Nhưng nếu chúng ta thấy các võ tăng Thiếu Lâm lưu diễn khắp toàn cầu, nhiều người chúng ta có thể nghĩ rằng nhà nước TQ đã trở thành Phật Tử thuần thành, hay ít nhất cũng đang diễn trò vận dụng tôn giáo để trị an xã hội.

Cũng nên nhìn từ chiều ngược lại: nhà nước Trung Quốc đã từng cáo buộc nhiều Linh mục Thiên Chúa Giáo làm gián điệp cho Sở Tình Báo Hoa Kỳ OSS (tiền thân của CIA) từ cuối thập niên 1930s.
Xem trang 150 của sách “A New History of Christianity in China,” tác giả Daniel H. Bays, nêu cụ thể trường hợp Linh mục Vincent Lebbe và LM Thomas Megan được Sở OSS tuyển dụng (và đó cũng là một lý do TQ cấm Đạo Thiên Chúa La Mã hoạt động).
  


Chính những kinh nghiệm quá khứ đã cho Bắc Kinh thấy  rằng CIA hiện nay vẫn có thể sử dụng những phương pháp cũ, hoặc sẽ có thể vận dụng các tôn giáo  mới để làm suy yếu chế độ. Do vậy, dễ hiểu tại sao Bắc Kinh chụp ngay cơ hội làm tượng Phật, và vẫn luôn luôn tổ chức nhiều lễ hội Phật Giáo để an toàn trăm bề, và được tiếng lành hy vọng đồn xa, trong khi vẫn bàn tay sắt với người Tây Tạng.

***

Trong cuộc chiến chống khủng bố Hồi Giáo ở Bắc Phi và Trung Đông, tôn giáo có bị vận dụng hay không? Đó lại là chuyện khác, nơi đây, chúng ta muốn nêu nghi vấn rằng, giáo lý hòa bình của Đức Phật có được sử dụng trong cuộc chiến chống Hồi Giáo cực đoan hay không? Chính xác, chúng ta không biết rõ câu trả lời.
Tuy nhiên, có thể có trường hợp nào Phật Giáo đã được hội nhập với Hồi Giáo để trở thành những nguyên tắc sống mới, cho hòa bình hơn? Nghĩa là, kết hợp giáo lý (hay bóp méo giaó lý?) vì những mục tiêu trần gian? Hay vì một trực giác tâm linh của một thế hệ mới trong thời của thánh chiến này?

Về phương diện học thuật, đã có một tác phẩm quan trọng, tựa đề “Common Ground Between Islam and Buddhism” (Điểm Chung Giữa Hồi Giáo và Phật Giáo) của Reza Shah Kazemi (tốt nghiệp Tiến sĩ Tôn giáo Đối chiếu ở University of Kent, Hoa Kỳ năm 1994).
Làm sao có thể tìm được điểm chung giữa kháí niệm Thượng Đế trong Hồi Giáo với bất kỳ khái niệm nào trong Phật Giáo, một tôn giáo không công nhận có Thượng Đế?
Tuy nhiên, trong thời thánh chiến bùng nổ khắp nơi, những cuộc đối thoại tôn giáo liên tục được thực hiện, lý tưởng hòa bình và phương pháp tu học hòa bình của Phật Giáo đã nổi bật, và đã trở thành chiếc phao cho tất cả các quốc gia đa tôn giáo bám víu, nếu không công khai như ở Trung Quốc thì cũng lặng lẽ như ở Singapore.

Tác phẩm của Kazemi đã đáp ứng nhu cầu nhấn mạnh yếu tố hòa bình vào các xã hội có khuynh hướng Hồi Giáo. Sách này có lời giới thiệu của Đức Đạt Lai Lạt Ma đời 14, và lời giới thiệu của Hoàng Tử Ghazi bin Muhammad, người ở vị trí Cố Vấn Tối Cao về Tôn Giáo của vua Jordan.   
Học giả Elena Lloyd-Sidle nhận định về cuốn sách trên:
Although Buddhism is clearly non-theistic, the ultimate Reality affirmed by Buddhist thought, and the supreme goal sought by it, is proposed to correspond closely with the Essence (al-Dhāt) of God in Islam.” (Mặc dù Phật Giáo hiển nhiên là phủ nhận Thượng Đế, nhưng công nhận có Thực Tại tối hậu và đó là mục đích tối cao để phải tìm đến – nơi này [trong sách Kazemi] được giải thích là có nghĩa rất gần với Yếu Tính của Thượng Đế trong Hồi Giáo.)  
Có đúng như thế không? Hẳn là nhiều Phật Tử không đồng ý. Nhưng nhiều học giả Tây Phương  muốn nói như thế, và trong các hội nghị liên tôn, các khái niệm nhấn mạnh tới hòa bình trong Phật Giáo (và dĩ nhiên, cả trong Hồi Giáo) đều được nhấn mạnh nhiều hơn là nói tới dị biệt.
Đặc biệt, Kazemi cũng có tác phẩm biên khảo về một hệ phái Hồi Giáo, tưạ đề "Sufism: Love and Wisdom" (Hồi Giáo Sufism: Yêu Thương và Trí Tuệ) in năm 2006.
Tựa sách hiển nhiên là rất Phật Giáo, kiểu Phật Tử ưa nói, là từ bi và trí tuệ.
Chưa hết, Kazemi còn có một bài viết năm 2011 trên tạp chí Religions (tạp chí cổ vũ hòa đồng liên tôn), tưạ đề "Loving Compassion in Islam and Buddhism: Rahma and Karunā" (Yêu Thương Từ Bi trong Hồi Giáo và Phật Giáo: Rahma và Karuna).

Những công trình như thế rất tốt cho hòa bình thế giới. Nhưng câu hỏi là, giáo pháp Đức Phật có thể sẽ tới một lúc bị hiểu nhầm, bị ngộ nhận không?
Đó cũng nên là quan tâm của người học Triết Học.
Trên tập san Triết học (triethoc.edu.vn) ngày 26-3-2014, học giả Bùi Văn Nam Sơn có bài viết tựa đề “Từ hậu - hiện đại đến hậu hậu - hiện đại trong tư tưởng tôn giáo,”  trong đó cũng nói về một số khuynh hướng tôn giáo mới.
Bài này đăng lại trên báo Văn Hóa Nghệ An ngày 19-4-2014.
Thực ra, nguyên khởi bài này đượtác giả họ Bùi ghi là “Bài tham luận hội thảo quốc tế: Chủ nghĩa Hậu hiện đại và tôn giáo mới, tổ chức tại Trường Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, ngày 14.06.2013.”
Như thế, qua hội thảo quốc tế này, chính phủ và học giới VN cũng bộc lộ quan tâm về hiện tượng các tôn giáo mới.

Tác giả Bùi Văn Nam Sơn đặc biệt giớí thiệu với học giới VN về 3 trào lưu tôn giáo mới.
Theo tác giả:
Cả ba tìm cách tích hợp khoa học, lý tính và tâm linh theo cách mới mẻ, bằng cách nối kết tính khách quan của khoa học tự nhiên, khoa học nhân văn và tâm lý học với tính chủ quan phê phán hậu-hiện đại.”
Trong đó, người học Phật có thể chú ý đặc biệt tới, trích:
A. H. Almaas[7], với cách “tiếp cận Kim Cương”, tìm cách mở ra con đường tâm linh hiện đại tích hợp các truyền thống minh triết Đông-Tây với tâm lý học miền sâu, dành sự chú ý đặc biệt đến cách thức trải nghiệm cá nhân về Bản chất đích thực của Tồn tại. Trong khi Tồn tại là bản tính đích thực của thực tại thì Bản chất là phần tồn tại tạo nên bản tính đích thực của cá nhân. Nó phải được thể nghiệm trong Hiện tại với nhiều chất lượng phương diện khác nhau như từ bi, cương nghị, ý chí, an lạc, v.v…”(hết trích)
Ghi chú [7] được họ Bùi ghi chú là:
[7] Xem: A. H. Almaas: Essence: The Diamond Approach to Inner Realization, 1986.”
Tưạ sách trong ghi chú trên có thể dịch là “Yếu Tánh: Phương Pháp Kim Cương để Nội Chứng,” in năm 1986.
Nghĩa là, mới đọc tựa sách, đã thấy ngay ngôn ngữ Phật Giáo Tây Tạng. Nhưng có phải đây là đúng là Phật Giáo Tây Tạng?
Tác giả A.H. Almaas hiện cư ngụ ở Hawaii, ngoài việc viết sách, rao giảng tôn giáo riêng, ông cũng mở các khóa nhập thất.
Khóa nhập thất sắp mở vào cuối tháng 5-2014 có tên là “Quasar 2014 Retreat: Tantra of Everyday Life” (Nhập Thất 2014 Thiên Hà: Mật Pháp của Đời Sống Hàng Ngày).
Ngôn ngữ rất đặc chất Phật Giáo Tây Tạng.

Đạo sư này tên thật là Hameed Ali, sinh năm 1944 tại  Kuwait (quốc gia Ả Rập này có 60-70% là Hồi Giáo Sunni, và 30-40% là Hồi Giáo Shias), vào Mỹ năm 18 tuổi. Khi ghi danh học bậc Tiến Sĩ ở đại học UC Berkeley, đột nhiên ông chuyển hướng tâm linh. Và bây giờ, ông rao giảng một tôn giáo kiểu như tổng hợp giữa Hồi Giáo và Phật Giáo.
A. H. Almaas đã viết một bài tưạ đề “God as Essence” (Thượng Đế là Yếu Tính) trên trang web riêng của ông, được ghi là trích tứ sách “For the Love of God” (Vì Lòng Yêu Thương Thượng Đế) in năm 1990, trong đó có hội nhập một số yếu tố ngộ nhận Phật Giáo như Kazemi (đã nêu trên):
I was brought up, in a Muslim community, with a belief in God...
... Essence is not something we have to work toward, for it is what we truly are...
... this presence revealed itself to be the inner nature of everything, and I began feeling more and more that this living conscious-ness, this pure essence of being, was God. I called it Truth, Reality, Being, or God...
...God can be seen in His beingness and God can be seen in His essence.”(hết trích)
Dịch:
“Tôi trưởng thành trong một cộng đồng Hồi Giáo, với niềm tin vào Thượng Đế...
...Bản tánh không phải là cái gì chúng ta phải làm cho ra, mà nó chính là cái chúng ta thực sự là... Hiện thể này tự hiển lộ nó để là bản tánh bên trong tất cả, và tôi đã bắt đầu cảm thấy mạnh mẽ hơn rằng cái ý thức sinh động này, cái yếu tánh trong sạch của hữu thể, chính là Thượng Đế. Tôi gọi đó là Sự Thật, Thực Tại, Hữu Thể, hay Thượng Đế...
...Thượng Đế có thể được thấy trong Sự Hữu của Ngài, và Thượng Đế có thể được thấy trong Yếu Tánh của Ngài.” (hết dịch)

Đó cũng là ngô nhận rất lớn của rất nhiều học giả (và đạo sư) quốc tế khi nói về  Phật Giáo. Cả Kazemi và Almaas cũng muốn đồng nhất Phật Tánh với Thượng Đế. Có thể đây là nhu cầu liên tôn cần ngăn chận thánh chiến từ những người Hồi Giáo cực đoan? Hay chỉ là ngộ nhận vì họ thực sự không hiểu và không trải qua những kinh nghiệm tu học Phật pháp?
Hãy nhớ rằng, Cơ Đốc Giáo và Hồi Giáo tin rằng: Thượng Đế sinh ra vũ trụ.
Hãy đọc kỹ đoạn văn vừa dịch trên, chúng ta thấy ngay rằng các học giả quốc tế đã ngộ nhận về Phật Tánh, còn gọi là Bản Tánh, hay Tự Tánh, khi họ cho đồng nghĩa với Thượng Đế. Điều nguy hiểm là, Almaas đang sử dụng ngôn ngữ Phật Giáo Tây Tạng, như chữ “Kim Cương” hay chữ “Tantra”...

Thực sự, Bản Tánh không hề sinh ra vũ trụ nào hết, cũng không là bất kỳ pháp nào hết.
Mà căn bản là: tất cả các pháp, tất cả vũ trụ, tất cả đều do duyên sinh ra.  Lý duyên khởi đã nói rằng không hề có pháp nào độc lập tự hữu. Nếu không tin lý duyên khởi, tất cũng sẽ không tin Tứ Thánh Đế, và không còn gì là Phật Pháp.
Do vậy, nói Bản Tánh, hay nói Tự Tánh, chỉ có nghĩa là Vô Tự Tánh. Vì làm gì có pháp nào tự sinh, tự hữu. Lý duyên khởi này còn được xương minh là Tánh Không, hay Không Tánh. Và hoàn toàn không có nghĩa là có cái Tánh Không nào tự hữu.
Nếu nói rằng Phật Tánh đồng nghĩa Thượng Đế, hẳn là phá hoại Phật pháp vậy.
Do vậy, nếu nói Phật Tánh là có, tất là sai; nếu nói Phật Tánh không có, tất cũng sai. Ngôn ngữ này phải lìa tứ cú. Trong khi đó, nếu bạn nói rằng “nếu nói Thượng Đế là có, tất là sai,” thì người Hồi Giáo cực đoan có thể chặt đầu bạn liền.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhiều lần giảỉ thích minh bạch, nhưng các học giả (và đạọ sư) quốc tế không chịu đọc (và học) kỹ.

Trong bản tin tựa đề “The Essence of Emptiness” (Cốt Tủy của Tánh Không), ngày 30-10-2011, kể chuyện Đức Đạt Lai Lạt Ma thăm Nhật Bản, dạy về Bát Nhã Tâm Kinh (Heart Sutra).
Trích dịch như sau:
Dĩ nhiên, Tánh Không  không giống như không có gì hết, Ngài nhấn mạnh... Ngài nói, ‘Nếu tôi đang ngồi ở đây, nơi đâu là Đạt Lai Lạt Ma? Phần nào của tôi là Đạt Lai Lạt Ma? Và nếu bạn nghĩ về bạn, phần nào là bạn? Nơi nào cái ‘bạn’ đó  từ đâu tới? Có phải là thân xác của bạn? Hay tay bạn? Hay tâm bạn?
...
Nếu bạn ghét ai đó, nơi nào là người đó? Phần nào trên cơ thể đó là người đó? Nó hầu như chỉ trong đầu của bạn. Và tương tự, [hãy tự nêu câu hỏi như thế] khi bạn thương ai đó. Nếu bạn ghét ai đó, chúng ta có thể gần như nói, ai là ‘bạn’ và ai là ‘người kia’? Tự do tới chỉ khi bạn cắt bỏ ảo giác và sự phóng chiếu
...
Đức Đạt Lai Lạt Ma nói, ‘Dính chấp vào cái hiển lộ có vẻ là thật là điều làm cho tâm chúng ta không sáng suốt. Và cũng vậy, là cái in hình của cái hiển lộ như là thật.’
Khi một cậu bé hỏi, là hai hình ảnh phóng chiếu đó có thể kết làm bạn hay không, Đức Đạt Lai Lạt Ma đàò sâu cuộc thảo luận về các pháp hiện ra như nó là. Ngài nói, ‘Chúng ta vừa ăn trưa xong, và đó là có thật. Và cũng có thật là thân xác vừa mới ăn trưa đó. Nhưng nếu quý vị đi tìm cái tự ngã, sẽ không tìm được ở nơi đâu.
...
 ‘Đôi khi chúng ta cực kỳ giận dữ  đối với ai đó, thậm chí thù nghịch nữa. Nhưng chính xác là, chúng ta giận nhắm vào đâu? Thân xác người đó? Hay tâm người đó? Thực sự, người chúng ta ghét đó không hề hiện hữu. Người này gọi là kẻ thù: người đó ở đâu? Khi chúng ta khảo sát chân thực, chúng ta không thể tìm ra hắn...
...
Ngài kết luận: ‘Bản tánh của Tánh Không là, tất cả các pháp đều tùy thuộc vào tất cả các pháp khác. Và tại Nhật Bản, các bạn có nền khoa học cao cấp, nhưng các bạn không thể mua hòa bình nôi tâm bằng khoa học. Các bạn phát minh ra nhiều máy ảnh, nhưng máy ảnh không chụp được tâm của bạn. Chưa đâu!
Khi một người đàn ông từ đại chúng hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma về vô thường, trong tương quan tới trận động đất ở Nhật bảy tháng trước, Ngài nói rằng có hai mức độ vô thường” cái thứ nhất thấy được, hiển nhiên. Nhưng vô thường cũng đang xảy ra, từ từ, từng giây đồng hồ. Do vậy, cái thấy rõ chỉ là một hiển lộ đột ngột của cái đang luôn luôn diễn tiến. Ngài nói, ‘Trí tuệ về Tánh Không đôi khi được ví như mẹ của Phật Giáo, trong tất cả mọi thừa, mọi tông phái. Còn Bồ Đề Tâm, tức lòng từ bi, là cha...” (Bản gốc ở đây: http://www.dalailama.com/news/post/762-the-essence-of-emptiness)

Nhắc lại chỗ Đức Đạt Lại Lạt Ma nói, bản tánh của Tánh Không là tất cả các pháp đều tùy thuộc vào tất cả các pháp khác. Câu nói này là lý duyên khởi, là phủ nhận rốt ráo mọi kháí niệm Thượng Đế của Cơ Đốc hay Hồi Giáo.
Phương pháp Đức Đạt Lai Lạt Ma hướng dẫn trên gọi là “analytical meditation” (thiền phân tích), dùng nhiều câu hỏi để khảo sát tâm mình.
Điều cũng cần cảnh giác rằng, nhiều đạo sư đang có khuynh hướng nói rằng đạọ nào cũng là đạọ, và tất cả các đạo đều nói như nhau về nguyên lý tối hậu. Nhưng thực sự là khác hẳn: Phật Giáo là dùng lý duyên khởi, và do vậy sẽ là sai nếu có ai nói rằng Phật Tánh cũng là Thượng Đế.

Hãy nhớ rằng, hòa bình chỉ thực sự có khi mọi người cùng nhận ra Tánh Không của các pháp, tất nhiên lòng căm thù không còn nữa, vì không thấy có ai thù ghét và không thấy có ai bị thù ghét.
Trong khi tất cả những người tin vào Thượng Đế đều có lý do để nhân danh đấng tối cao đó để tàn sát, để thánh chiến.
Ngắn gọn, Phật Giáo mới là hòa bình thực sự.


GHI CHÚ:

(1) Sở Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ CIA đã rải Kinh Thánh Cơ Đốc trong vùng Đông Dương, và đã dùng một số giáo sĩ làm tai mắt... (Thiện Pháp. Nhìn Về Ảnh Hưởng Tôn Giáo. Link: http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-94_14-1_5-50_6-1_15-1_4-20290_17-94/nhin-ve-anh-huong-ton-giao.html#detail)

(2) BBC, Oct 5, 2001: Buddha rises again. (http://news.bbc.co.uk/2/hi/south_asia/1581411.stm)