Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2016


NGƯỜI CỘNG SẢN CHỐNG CỘNG

Bùi Minh Quốc


Trong cuộc CÁCH MẠNG LẬP QUYỀN DÂN – cuộc cách mạng nhằm thiết lập quyền làm chủ thực sự của nhân dân, tiến hành một cách ôn hoà, công khai, hợp hiến hợp pháp – có một lực lượng đặc thù, về mặt nào đó là khá quan trọng, làm những việc mà các lực lượng khác không dễ làm thay.

Đó là lực lượng những người cộng sản chống Cộng.

Bây giờ, hai tiếng “Cộng sản” chợt nghe đã khiến người ta muốn ói. Bởi đó là tên gọi của một thế lực quỷ dữ, một thế lực kết xoắn mọi độc ác và dối trá, một thiết chế của chế độ nô lệ mới.

Nhưng vào thời trẻ của tôi ở miền Bắc Việt Nam, những năm 60 thế kỷ 20, danh xưng người cộng sản là hiện thân của một phẩm chất cao quý. Đó là con người đặt Tổ Quốc lên trên hết, Quyền Dân lên trên hết.Vì Tổ Quốc và Quyền Dân, con người ấy dâng hiến cả đời mình, bất chấp mọi gian khổ, hiểm nguy, tù đày, chết chóc. Tôi đã thấy những con người như thế trong đời thực.

Đó là vợ tôi, nhà báo nhà văn Dương Thị Xuân Quý, luôn nghiêm khắc tự rèn luyện cho đạt những phẩm chất ấy để trở thành đảng viên và đã hy sinh anh dũng trong quá trình rèn luyện. Đó là Chu Cẩm Phong, bạn tôi, nhà báo nhà văn, người cán bộ đảng, bí thư của chi bộ Văn nghệ Khu 5 (thuộc Ban tuyên huấn Khu 5). Chu Cẩm Phong ghi trong nhật ký ngày  kỷ niệm 7 năm anh vào đảng : “Mình có thể hy sinh trong mùa xuân lịch sử này lắm, nếu mình ngã xuống như Phương Thảo, Văn Cận, Xuân Quý, thì ba mình và nhất là mẹ, sẽ đau khổ đến nhường nào. Mình biết điều đó. Mình là đứa con trai được cả nhà yêu thương... nhưng dầu thế nào mình cũng không xê dịch cái phương châm sống của mình : dũng cảm, say sưa và quên mình như những chiến sĩ cộng sản chân chính đi trước. Dẫu ngã xuống một giờ, nửa giờ trước khi ta giành thắng lợi hoàn toàn, cũng Hạnh phúc lắm thay !”.

Chu Cẩm Phong luôn sống gương mẫu và đã hy sinh anh dũng dưới hầm bí mật trong một cuộc chiến tuyệt đối không cân sức vào tuổi 30. Những dòng nhật ký vừa dẫn trên cho ta biết, vậy là Chu Cẩm Phong đã thấy trong đảng có những người cộng sản chân chính và những người cộng sản không chân chính – tức là  những phần tử có động cơ xấu tìm cách chui vào đảng đội danh cộng sản để mưu lợi riêng. Trong lớp người cộng sản chân chính đi trước, tôi đã thấy những Kim Ngọc, những Trần Độ, Nguyễn Hộ, Võ Văn Kiệt… Đó là những chiến sĩ cách mạng đích thực đến trọn đời, họ luôn lấy lợi ích của Tổ Quốc của Nhân Dân, lấy thực tế khách quan làm căn cứ để suy nghĩ và hành động, dám nghĩ, dám nói, dám làm, thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh, tuyệt đối không nghĩ và làm theo bất cứ giáo điều chủ nghĩa nào, cho dù có thể bị khại trừ, bị cách chức, thậm chí có thể bị hãm hại. Vào thời ấy, những người cộng sản chân chính chiếm đa số trong đảng. Điều lệ đảng xác định : đảng viên là “người chiến sĩ cách mạng tiền phong gương mẫu, gắn bó máu thịt với nhân dân”. Thời ấy, phần lớn đảng viên đã sống như thế, và vì thế đại đa số nhân dân mới tin đảng đi theo đảng và nhờ thế mới giành được thắng lợi để đưa đảng lên cầm quyền trên một nửa nước rồi cả nước.

Nhưng khi cầm quyền, và nắm độc quyền chính trị, đảng trở thành chỗ để “thăng quan phát tài”. Từ sau năm 1975, nhất là từ khi đảng cầm quyền buộc phải trở về theo cái dòng chảy bình thường muôn đời của nhân loại là kinh tế thị trường, có thể khẳng định mà không sợ nhầm rằng phần lớn đảng viên vào đảng là để thăng quan phát tài. Hiện tượng mua một chân đảng viên, một chân cấp ủy, một chân đại biểu (như ngày xưa “mua một chân lý trưởng”), mua chức mua quyền (tất nhiên để có tiền) diễn ra phổ biến mà chưa thấy dấu hiệu gì ngăn chặn được.Và thực tế cho thấy sẽ không thể ngăn chặn được nếu không cải cách chính trị, nếu không có một thiết chế luật pháp buộc mọi hoạt động của đảng – nhà nước phải minh bạch kèm theo là một thiết chế luật pháp đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình đối với mọi hoạt động của đảng – nhà nước .

Chủ nghĩa cộng sản là một ảo tưởng, một thiết chế phản động kéo lùi sự phát triển của xã hội, một mối đại hoạ của nhân loại còn khủng khiếp ghê tởm hơn cả chủ nghĩa phát-xít.

Nhưng phẩm chất, bản lĩnh, khí phách người cộng sản chân chính thì lại là một giá trị, một sức mạnh có thật. Đó là phẩm chất của những con người quên mình vì mọi người, giàu sang không thể làm hư hỏng, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục mà nhân loại thời nào và ở đâu cũng luôn trân trọng.

Tôi nhớ năm 1993, tại Mặt trận Tổ Quốc tỉnh Lâm Đồng, trong cuộc hội thảo nhân kỷ niệm 100 năm TP Đà Lạt và tưởng niệm công lao của bác sĩ Yersin, người phát hiện ra vùng đất để lập nên TP Đà Lạt, TS Hà Sĩ Phu bạn tôi, người đã có 15 năm được coi là đối tượng để kết nạp vào đảng (CSVN),  phát biểu : theo những tiêu chí về người cộng sản chân chính thì ông Yersin đích thực là một người cộng sản chân chính dù ông ấy hoàn toàn xa lạ và có thể rất dị ứng với chủ nghĩa cộng sản. Bạn tôi, anh Hồ Hiếu, nguyên chánh văn phòng Ban dân vận thành ủy TP HCM, hiện là một trong những người chống Cộng hàng đầu, ngay sau 30/4/1975 đã đặt ra câu “đảng viên nhan nhản, Cộng sản khó tìm” rồi ngầm lan truyền như thành ngữ dân gian nhằm báo động một tình trạng tồi tệ mà hiện nay đã trở nên thảm hại – bình thường : đảng viên ngày càng đông, người cộng sản chân chính –  chiến sĩ cách mạng đích thực ngày càng hiếm.

Năm 1988, trong chuyến đi Xuyên Việt vận động ra tuyên bố do 128 văn nghệ sĩ và công dân ký tên đòi đổi mới đồng bộ, triệt để, bạn tôi nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự có lời thơ : “Ai cộng sản / ai giả danh cộng sản / chân lý chói ngời sự thật / mắt nhân dân xuyên suốt lũ gian tà”, hai tiếng “cộng sản” ở đây là để chỉ người chiến sĩ cách mạng đích thực như đã nêu trên.

Cách đây mấy năm, bạn tôi, nghệ sĩ ưu tú Kim Chi, người đã tuyên bố không cần một bằng khen có chữ ký của một kẻ (là quan chức cộng sản hàng chóp bu) làm nghèo đất nước, làm hại nhân dân, khi trả lời phỏng vấn đã khẳng đinh mình tuyên bố điều đó với tư cách một người cộng sản chân chính.

Một lô-gích không gì cưỡng nổi: người cộng sản chân chính tất yếu trở thành người cộng sản chống Cộng khi đảng CS cầm quyền trở thành đảng cướp, đúng như dân gian từ xa xưa đã định danh “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”.

Vậy là đã xuất hiện một lực lượng cộng sản chống Cộng, tức là một lưc lượng lấy sức mạnh phẩm chất, bản lĩnh, khí phách của người cộng sản chân chính chống chế độ độc tài cộng sản nhằm thiết lập quyền làm chủ thực sự của nhân dân để bảo vệ nền độc lập của Tổ Quốc và tự do của mỗi con người, và với quyền tự do ấy, mỗi con người phát huy mọi khả năng để mưu cầu hạnh phúc của bản thân và cho cả cộng đồng.

Người cộng sản chống Cộng từ nay đương nhiên đã tự rũ bỏ bỏ 2 chữ cộng sản, chỉ tự xác định mình là “người chiến sĩ cách mạng tiền phong gương mẫu, gắn bó máu thịt với nhân dân”.

Và họ quyết trọn đời không ngừng tiền phong gương mẫu vì nhân dân quên mình chiến đấu cho Tổ Quốc và Quyền Dân, thiết lập bằng được quyền làm chủ thực sự của Nhân Dân..

Đà lạt tháng 10/2016

Bùi Minh Quốc

Thứ Năm, 20 tháng 10, 2016


ĐIỂM LẠI CHỦ NGHĨA DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA LY KHAI

Nguyễn Quang Dy


Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc (cực đoan) và chủ nghĩa ly khai (theo “Brexitism”) đang đe dọa toàn cầu hóa, tự do thương mại, và các thể chế khu vực (như EU và ASEAN). Nó còn là nguyên nhân chính gây mất ổn định quốc gia và quốc tế, dẫn đến tình trạng vô chính phủ tại lục địa Á-Âu (Robert Kaplan, “Eurasia’s Coming Anarchy”, Foreign Affairs, March/April, 2016). Đó không phải là một viễn cảnh, mà là một thực tế đang diễn ra, không phải chỉ ngoài xã hội, mà còn trong tâm thức con người, một phần do quy luật, một phần do tầm nhìn hạn chế và tư duy quản trị lỗi thời của giới cầm quyền (establishment).
Vấn đề cần đặt ra là: Liệu đó có phải là xu thế lâu dài hay chỉ là nhất thời? Liệu có thể hóa giải và đẩy lùi được nó không? Và bằng cách nào?  

Nhất thời hay lâu dài
Chủ nghĩa dân tộc (xu hướng cực đoan) có thể là nhất thời (khi nó đang trỗi dậy), nhưng nếu không kiểm soát được và hóa giải kịp thời để trở thành ôn hòa, nó có thể trở thành hiểm họa lâu dài. Đó là bài học về chủ nghĩa phát xít (Đức, Ý, Nhật) dẫn đến Chiến tranh Thế giới thứ 2. Mầm mống của chủ nghĩa cực đoan và chủ nghĩa dân tộc quá khích (muốn phục thù) vẫn tồn tại ở lục địa Á-Âu, như tại Trung Quốc (Tập Cận Bình đang phục hồi Maoism) và tại nước Nga (Putin muốn phục hồi đế chế Nga). Chủ nghĩa dân tộc là một động lực tốt, nhưng một khi trở thành cực đoan thì rất nguy hiểm. Dân chúng có thể bị lợi dụng, trở thành công cụ của giới cầm quyền trong trò chơi quyền lực (games of thrones).

Toàn cầu hóa là một quá trình mà trong đó có cao trào và thoái trào, như mọi quy luật xã hội. “Thế giới phẳng” cũng là một khái niệm tương đối và một quá trình, chứ không phải một kết cục tuyệt đối. Vì vậy thế giới ngày nay vẫn có lúc, có chỗ “không phẳng”, thậm chí gập gềnh. Vì vậy, trong thời đại toàn cầu hóa, chủ nghĩa dân tộc muốn có hiệu quả tích cực, cần liên kết thành chủ nghĩa khu vực (regionalism) như EU và ASEAN. Nhưng đáng tiếc, EU đang bị phân hóa bởi xu hướng “Brexitism”, và ASEAN đang bị chia rẽ bởi “Hunsenism” và “Duterteism” vì lợi ích riêng của mỗi quốc gia, bị Trung Quốc thao túng. 

Yêu cầu cải cách thể chế 
Trong khi chủ nghĩa dân tộc (cực đoan) là đặc trưng của “Xi Jinpingism” tại Trung Quốc, và “Putinism” tại Nga, thì tầm nhìn hạn chế, tư duy quản trị lỗi thời, và thái độ vô cảm của giới cầm quyền tại Mỹ và phương Tây đã dẫn đến phong trào phản kháng như “Occupy Wall Street” hay “Tea Party”, và gần đây là hiện tượng “Trumpism” tại Mỹ, cũng như “Brexitism” tại Anh. Nói cách khác, “Brexitism “ hay “Trumpism” là những dấu hiệu bất ổn, do dân chúng mất lòng tin và nổi giận. Nhưng giới cầm quyền trong một thời gian dài đã không nhận ra, hoặc có nhận thấy nhưng không đổi mới quản trị để hóa giải.  

Muốn đẩy lùi xu hướng này để cứu vãn EU và ASEAN, hay các thể chế tự do thương mại cũ và mới (như TPP), các quốc gia và cộng đồng quốc tế đang đứng trước một thách thức lớn, như leo lên dốc (uphill). Mọi nỗ lực lúc này có thể là “quá ít và quá muộn” (too little too late).  Đây là cái giá phải trả cho tầm nhìn hạn chế, tư duy quản trị lỗi thời, và thái độ vô cảm của giới cầm quyền mỗi nước.  Vì vậy, muốn hóa giải và đảo ngược xu hướng này, đòi hỏi giới cầm quyền phải thay đổi triệt để tư duy quản trị, đổi mới thể chế, để từng bước lấy lại lòng tin của dân chúng, vì lòng tin một khi đã mất sẽ rất khó lấy lại.

Nghịch lý với Mỹ và Trung quốc
Chưa bao giờ bầu cử tổng thống mỹ lại tồi tệ như lần này. Lãnh đạo Đảng Cộng Hòa đã “thất thủ” trước “Trumpism” và buộc phải chấp nhận Donald Trump. Nhưng sau 3 lần tranh luận, bộc lộ nhiều khuyết tật và tai tiếng, nhiều lãnh đạo Cộng Hòa đã phải quay lưng lại với Trump. Báo chí Mỹ cũng đang quay lưng lại với Trump, với những lời chỉ trích thậm tệ nhất đối với một ứng cử viên tổng thống. Họ gọi Trump là “kẻ điên rồ” (lunatic) và “hành động như con lợn” (acting like a pig), vì xúc phạm phụ nữ và “phân biệt chủng tộc vô lối” (rampant racism). Tuy nhiên, họ cũng thừa nhận Trump là “sản phẩm chính hiệu của Mỹ” (authentically made in America) và phái bảo thủ phải tự trách mình. (“Donald Trump, the Worst of America”, Charles Blow, Op-Ed Columnist, New York Times, October 17, 2016).
Không phải chỉ đảng Cộng hòa mà đảng Dân chủ cũng bị động trước xu hướng bảo thủ và biệt lập của chủ nghĩa quốc gia. Trong bối cảnh đó, dù Hillary Clinton có thắng Bernie Sanders và Donald Trump thì chính quyền mới cũng phải chiều xu hướng cử tri đang chống giới cầm quyền (establishment) chống người nhập cư và tự do thương mại (kể cả TPP). Dù muốn hay không, chính sách của chính quyền mới (liên quan đến xoay trục sang Châu Á, và quan hệ với đồng minh khu vực, để kiềm chế Trung Quốc) cũng bị hạn chế bởi xu hướng này. Dù là chính quyền Dân chủ hay Cộng hòa thì cũng không thể quay lưng lại với cử tri (hay đồng minh). Đối với Trung Quốc, “nếu Mỹ coi Trung Quốc là kẻ thù, thì sẽ được kẻ thù” (Joe Nye). Dù ganh đua không phải là tất yếu, thì cũng không thể tránh được. Vì vậy với Trung Quốc, Mỹ phải “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” (cooperate where we can but contend when we must). (“In support of US alliances”, Richard Bush, Brookings, September 29, 2016).  

Gần đây, nhiều người cho rằng Trung Quốc đang mạnh lên chứ không yếu đi, và không thể sụp đổ. Nếu nhìn bề nổi thì có vẻ đúng là như vậy, vì nhiều nước đang chạy theo Trung quốc. Không phải chỉ có Campuchea mà cả Philippines và Thailand là hai đồng minh truyền thống của Mỹ. Trong khi Campuchea đang theo Trung quốc, gây chia rẽ ASEAN, thì Nga cũng đang liên minh với Trung Quốc để chống phán quyết của tòa PCA và đối phó với chiến lược xoay trục (và TPP) của Mỹ nhằm ngăn chặn Trung Quốc. Nhưng nếu nhìn bề chìm, Trung Quốc càng bộc lộ sức mạnh cứng bên ngoài thì lại càng suy yếu bên trong, vì nội tạng đầy bệnh nan y của nền kinh tế Trung Quốc đã “kịch đường” (Paul Krugman) nhưng chưa có lời giải. Dự trữ ngoại hối đang giảm dần, dân chúng đang bỏ chạy ra nước ngoài, vì chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” đang đến giai đoạn cuối đầy kịch tính (trước đại hội Đảng tới). Lối thoát duy nhất là phải cải cách thể chế chính trị, nhưng họ lại không thể. Đó là một nghịch lý.

Trước đây, không ai hình dung Liên Xô, “thành trì vững chắc” của phe XHCN, sẽ có ngày sụp đổ. Nhưng Liên Xô và CNCS đã sụp đổ như một quy luật tất yếu. Tập Cận Bình muốn làm ngược lại với Gorbachev, để duy trì chế độ. Nhưng Tập càng làm ngược lại thì kết cục lại càng giống với Gorbachev, thậm chí còn làm sụp đổ nhanh hơn (David Shambaugh). Vì vậy, liên minh Trung-Nga chỉ là tạm thời như “cuộc tình một đêm” giữa hai đối tác “đồng sàng dị mộng”, trong khi Hunsen (tại Campuchea) và Duterte (Philippines) là những chính khách cơ hội, sẵn sàng trở cờ như thay áo, vì lợi ích riêng của nước mình.   
     
Bài học cho Việt Nam
Việt nam không phải ngoại lệ, và cũng không đứng ngoài xu hướng nói trên. Việt Nam có thể chịu hậu quả của xu hướng đó, hoặc Việt Nam cũng đang sa vào xu hướng đó (hoặc cả hai). Vì vậy, thái độ cực đoan và vô cảm, tư duy quản trị lỗi thời, thậm chí thối nát (do tham nhũng và độc quyền) đều phương hại cho lợi ích quốc gia. Có lẽ chính sách mị dân không còn tác dụng, nếu lòng tin đã xuống đến đáy.  Giới cầm quyền phải thay đổi tư duy quản trị để cải cách thể chế, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng thị trường, nới lỏng tự do dân chủ và nhân quyền, khuyến khích xã hội dân sự, để từng bước lấy lại lòng tin của dân chúng. Đó là lối thoát duy nhất để tránh khủng hoảng xã hội và chính trị, nâng cao năng lực đối phó với suy thoái kinh tế, thảm họa môi trường, thiên tai và nhân họa (do con người gây ra).

Hiện nay, Việt Nam có ba huyệt đạo lớn đang ách tắc cần tháo gỡ. Thứ nhất là khủng hoảng lãnh đạo. Không nên biến việc chống tham nhũng thành đấu tranh quyền lực, xung đột lợi ích nhóm, dẫn đến các hành động cực đoan (như vụ thảm sát cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh tại Yên Bái). Nguy cơ sụp đổ chế độ chủ yếu là do mâu thuẫn phe phái và xung đột lợi ích từ bên trong, chứ không phải do mối đe dọa của các “thế lực thù địch” từ bên ngoài, hay do phong trào đấu tranh vì tự do dân chủ và nhân quyền (còn khá non yếu). 

Thứ hai là thảm họa môi trường miền Trung. Phải xử lý tận gốc nguyên nhân để Formosa gây ra thảm họa môi trường. Ngoài Formosa, còn nhiều dự án khác như lọc dầu, nhiệt điện, thủy điện, cả cũ lẫn mới như thép Hoa Sen Cà ná, và điện hạt nhân Ninh Thuận, tiềm ẩn hiểm họa khôn lường. Thiên tai không bằng nhân họa, do phá rừng, làm thủy điện tràn lan, thiếu quản trị rủi ro, gây lụt lội bất thường, không chỉ đe dọa môi trường, sinh mạng người dân, mà còn phương hại cho nền kinh tế và an ninh chính trị. Dân chúng tức nước vỡ bờ sẽ nổi dậy ngày càng lớn. Biểu tình (ôn hòa) của cộng đồng thiên chúa giáo mới chỉ bắt đầu.
  
Thứ ba là đồng bằng Nam Bộ, tâm điểm của Tiểu vùng Me Kong. Phải cứu vùng này khỏi vấn nạn hạn hán và ngập mặn, gây khủng hoảng cơ cấu nông nghiệp. Điều này có ý nghĩa sống còn đối với các tỉnh miền Tây, chiến lược an ninh lương thực, cũng như có ý nghĩa địa chính trị to lớn đối với an ninh quốc gia. Chính phủ và các thể chế tài trợ quốc tế cần hỗ trợ kịp thời các sáng kiến và mô hình sáng tạo của các địa phương (như tại 4 tỉnh ABCD), theo hướng đổi mới thể chế, ứng dụng kinh nghiệm quốc tế, và công nghệ mới.
Nói cách khác, phải sớm triển khai cải cách thể chế toàn diện, như đề xuất của Báo cáo Việt Nam 2035 mà Chính phủ và Ngân hàng Thế giới đã cam kết.     
   
Tham khảo
1. “In Support of US Alliances”, Richard Bush, Brookings, September 29, 2016
2. “The American Brexit Is Coming”, Foreign policy, October 7, 2016
3. “The Rebalance and Asia Pacific Security: Building a Principled Security Network”, Ash Carter, Foreign Affairs, November/December 2016
4. “Donald Trump, the Worst of America”, Charles Blow (Op-Ed Columnist), New York Times Opinion Page, October 17, 2016
5. “Duterte’s China visit could move regional goalposts”, Bill Hayton, Nikkei Asian Review, October 17, 2016

NQD. 20/10/2016

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2016


NHÂN NGHỊ QUYẾT SCR-165
XÉT LẠI HIẾN PHÁP 1956 CỦA ĐỆ NHẤT CỌNG HÒA

Nguyễn Kha

SACRAMENTO, California (Người Việt) – Quốc Hội California vừa chọn vinh danh Tháng Mười, 2016 là Tháng Việt Nam Cộng Hòa, sau khi thông qua Nghị Quyết SCR-165, do Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn làm tác giả, thông cáo báo chí của văn phòng vị dân cử gốc Việt này gởi ra cho biết.
“Tháng Mười, 2016 được chọn là Tháng Việt Nam Cộng Hòa nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa ra đời, thiết lập nền dân chủ đầu tiên của miền Nam Việt Nam,” Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn được trích lời phát biểu. “Tôi rất tự hào là tác giả của nghị quyết này và chọn Tháng Mười để tưởng nhớ những sự hy sinh vĩ đại của nhiều quốc gia, đặc biệt là các lực lượng quân đội miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ.”



Hiến pháp Việt Nam 1956 của đệ nhất Cọng hòa do Quốc hội biểu quyết ngày 20/10/1956 được Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành ngày 26/10/1956, thành lập nền Đệ nhất Cộng hòa. Hiến pháp gồm 98 điều, chia làm 8 thiên. Hiến pháp tuy là do sự đóng góp của nhiều người [1], kể cả đóng góp một cách gián tiếp của các chức sắc trong Giáo hội Công giáo Việt Nam (như linh mục Bữu Dưỡng và nhóm Tinh Thần), nhưng nội dung chính vẫn do ông Ngô Đình Nhu, người được cho là lý thuyết gia của chế độ, duyệt xét chung quyết. Bản Hiến pháp này, ngoài một vài từ ngữ mà trên mặt … tượng thanh có vẻ rút ra từ “chủ nghĩa” gọi là “Nhân Vị” như “giá trị siêu việt”, “nhân vị”, “duy linh”, “Đấng tạo hóa”, ... còn nội dung thật sự của nó chỉ là một nỗ lực “đầu Ngô mình Sở” (từ của ông Đoàn Thêm trong Những Ngày Chưa Quên, Đại Nam, 1969) của một ít thần học Thiên Chúa giáo Âu châu, pha trộn vài điều của Tổng thống chế Mỹ và một ít triết lý Đông phương mà thôi.
Tiếc rằng nỗ lực đó hoàn toàn thất bại. Có hai lý do để giải thích sự thất bại này:
● Thứ nhất là vì lúc bấy giờ (và sau đó tan dần không còn dấu vết gì đáng kể theo sự sụp đổ của chế độ vào năm 1963) thuyết Nhân Vị của ông Nhu là tổng hợp trụy thai [2] còn hỗn tạp và còn ở dạng sơ khai nên không có những yếu tính đặc thù để tạo ra nét độc đáo riêng cho Hiến pháp;
● Thứ hai là vì nhu cầu quyền lực chính trị quá lớn nên ông Nhu đã bất chấp nội dung “Nhân Vị” - dù còn mơ hồ chưa thành hình - để đưa vào Hiến pháp những nguyên tắc chuyên chính độc tài, chà đạp sinh hoạt dân chủ của quốc gia và quyền tự do của công dân, với mục đích tập trung quyền hành vào một thiểu số thống trị. Nghĩa là áp đặt càng nhiều càng tốt tính độc tài trong bộ luật căn bản và cao cấp nhất của quốc gia.

Thực vậy, ông Nhu đã muốn cho anh mình trở thành một thứ Đế vương phong kiến với những hình thức và ngôn ngữ có vẻ dân chủ tự do... Chính ông Ngô Đình Diệm cũng đã công khai bày tỏ sự tán đồng nội dung của bản Hiến pháp này trong bài phỏng vấn của nhật báo Pháp Le Figaro số ra ngày 23 và 24 tháng 3 năm 1959: “Cần phải nhớ lại quá khứ của chúng tôi. Chế độ chính trị ở Việt Nam thời nào cũng vậy, đã thành lập trên nguyên tắc điều khiển việc nước không phải do những đại biểu của quốc dân mà do những ông vua có những tể tướng sáng suốt phụ tá... Chúng tôi phải lập lại ở Việt Nam hệ thống luân lý như ngày xưa [3]  Ông Nhu đúng là vị “tể tướng sáng suốt” đã sơn son thếp vàng cho ông vua Ngô Đình Diệm phong kiến của thời đại quân chủ lên làm nguyên thủ của nước Việt Nam Cộng hòa theo Tổng thống chế, để xây dựng tự do dân chủ cho miền Nam chống Cộng! Trách gì dân miền Nam chẳng rủ nhau theo Việt Cọng.

Nói chung, để kiểm soát và bóp nghẹt quyền của người dân, Hiến pháp 1956 đã tung ra một mớ gươm Damoclès treo trên đầu người dân với những từ ngữ mà chính quyền muốn giải thích như thế nào cũng được như “điều kiện luật định, lý do quốc phòng, an ninh công cộng, an toàn chung, trật tự chung, lợi ích công cộng, đạo lý công cộng...”. Và để bảo đảm tối đa sự kiểm soát này, Hiến pháp còn nâng chủ trương nầy lên thành nguyên tắc tổng quát trong điều 28: “quyền của mỗi người đều được xử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định”. Điều 28 quỷ quyệt này đóng kín một cách hoàn toàn và vĩnh viễn tất cả mọi hy vọng của người dân về một sinh hoạt dân chủ và an toàn cá nhân dưới chế độ, đồng thời trao lại một cách hoàn toàn và vĩnh viễn quyền sinh sát vào tay một thiểu số gia đình họ Ngô đang nắm quyền lực trong tay.

Theo Wikipedia thì: 
“Về mặt pháp lý, bản Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 khẳng định việc phân chia quyền lực của chế độ là tam quyền phân lập và có mục tiêu để hai ngành lập pháp và hành pháp kiểm soát lẫn nhau. Về ngành tư pháp thì quyền lực kém hơn và không được độc lập hoàn toàn vì lệ thuộc vào Bộ Tư pháp và phủ Tổng thống bổ nhiệm và điều hành. So sánh với các quốc gia khác thì Hiến pháp 1956 dồn nhiều quyền lực vào ngành hành pháp hơn cả vì tổng thống có những đặc quyền trong những trường hợp nội loạn, chiến tranh hay khủng hoảng tài chánh.
Điều đáng ghi nhận là nền tảng của bản hiến pháp nêu ra ba khía cạnh: "văn minh Việt Nam", "duy linh", và "giá trị con người" như ghi rõ trong lời mở đầu. Vì văn bản ghi là dân tộc có "sứ mệnh" trước "Đấng Tạo hóa"nên có người cho rằng đây chứng minh sự thiên vị của chính quyền với Thiên Chúa giáo trong khi các tôn giáo khác không được đề cập đến.”

Ngoài một số nhà nghiên cứu Mỹ như Joseph Buttinger (trong Vietnam, a Political History, 1968), Stanley Karnow (trong VietnamA History, 1983), Frances Fitzgeral (trong Fire in the Lake, 1972), Robert Shaplen (trong The Cult of Diem, 1972) đã phân tích và chỉ trích nặng nề Hiến pháp 1956 của Đệ nhất Cộng hòa, nhiều luật gia Việt Nam tên tuổi cũng đã nghiêm khắc lên án Hiến pháp đó là thoái hóa, kỳ thị và độc tài:

■ Luật gia Nguyễn Hữu Châu, giáo sư đại học Luật khoa Paris, anh rễ bà Nhu (chồng bà Trần thị Lệ Chi) , nguyên Bộ trưởng Bộ Phủ Thủ tướng năm 1957 và 1958, đã có những phán xét không tốt đẹp gì cho Hiến pháp Nhân Vị 1956 của Đệ nhất Cộng hòa. Trong Luận án Cao học Luật khoa (Mémoire DES, 1960) ông Nguyễn Hữu Châu sau khi phân tách từng chương từng mục đã kết luận rằng:
 “Xét đến lịch sử các cơ chế và tư tưởng chính trị của Việt Nam, thật khó mà không công nhân rằng hệ thống của Hiến pháp ngày 26-10-1956 quả là một sự thoái hóa so với hệ thống chính trị cổ truyền. Tại vì Hiến pháp 26-10-1956 đã giữ lại những gì kém tiến bộ nhất của chế độ xưa cũ, rồi bổ túc bằng những sự kiềm chế tân tiến nhất.
Do đó mà cái ý niệm về lãnh đạo (leadership) được trình bày trong bản dịch chính thức của Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa không có cái ý nghĩa mà các nhà Xã hội học Mỹ trao gửi lúc đầu [4].

■ Giáo sư Thạc sĩ Luật Vũ Văn Mẫu (1914-1998), nguyên Bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ Ngô Đình Diệm, sau nầy, cũng đã tố cáo ý đồ thiên vị Thiên Chúa giáo của bản Hiến pháp 1956 như sau:
 Điều 17 của Hiến pháp Việt Nam 1956 đã được giáo sư Bửu Hội chiếu dẫn trước tổ chức Liên Hiệp Quốc để chứng minh rằng tại Việt Nam không có sự kỳ thi tôn giáo. Điều 17 này qui định như sau: “Mọi người dân đều có tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo và tự do truyền giáo, miễn là xử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.” Hiến pháp 26/10/1956 như vậy đã minh thị công nhận nguyên tắc tự do tín ngưỡng và bình đẵng giữa các tôn giáo.
Tuy nhiên trong phần “Mở đầu của Hiến pháp, đã có một đoạn phản chiếu của một sự thiên vị Thiên Chúa giáo khá rõ rệt như sau:
“Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưỡng tiến bộ để hoàn thành sứ mệnh trước Đấng Tạo Hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh nhân bản và phát triễn con người toàn diện....
Trong đoạn văn trích dẫn này, phần mở đầu của Hiến pháp 1956 đã đề cập đến sứ mạng trước Đấng Tạo Hóa, tức là trước Đức Chúa trời trong Thiên Chúa giáo, mà không đề cập tới các tôn giáo khác.
Đoạn văn này đã đượm sắc thái thiên vị Thiên Chúa giáo. Vô tình hay cố ý, đoạn văn này đã tạo cho Thiên Chúa giáo một địa vị ưu đãi đặc biệt tại Việt Nam vì Hiến pháp 1956 nói rõ là nhằm mục đích hoàn thành sứ mạng trước Chúa tức là Đấng Tạo hóa đã tạo dựng ra trời đất và vạn vật theo như Thánh kinh của Thiên Chúa giáo đã chép. [5]

■ Còn giáo sư Nguyễn Văn Bông (1929-1971), Thạc sĩ Công Pháp Đại học Sorbonne (Paris), Viện trưởng Viện Quốc gia Hành chánh (Sài Gòn) thì trong đoạn kết của giáo trình năm thứ nhất Cử nhân Luật về môn “Luật Hiến pháp và Chính trị học” của Đại học Luật khoa Sài Gòn, 1966, đã viết rằng:
Thật vậy, ngay ở điều khoản thứ ba, chúng ta nhận thấy “Tổng thống Lãnh đạo Quốc gia”. Tổng thống bổ nhiệm và cách chức các sứ thần cùng công chức cao cấp không cần ý kiến của Quốc hội. Trái với nguyên tắc phân nhiệm mà điều 3 ghi rõ là “nguyên tắc phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt”. Hiến pháp 1956 dành cho Tổng thống quyền ký sắc luật giữa hai khóa họp Quốc hội, quyền ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm.
Một sự tập trung quá mức quyền hành cùng sự thủ tiêu đối lập và sự hiện diện của một chính đảng duy nhất đã đưa chế độ Ngô Đình Diệm lần lần đi đến một chế độ quyền hành cá nhân áp dụng những phương tiện chuyên chế mà tiếng súng ngày 1-11-1963 đã đưa vào dĩ vãng.
 

Luật gia Bộ trưởng Nguyễn Hữu Châu (trái) và Giáo sư Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu

 
Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Bông và hình bìa giáo trình năm thứ nhất 
Cử nhân Luật về môn “Luật Hiến pháp và Chính trị học” 
của Đại học Luật khoa Sài Gòn, 1966 
Hiến pháp là văn bản công khai và là nền tảng quy chiếu luật pháp của quốc gia mà ngay từ những ngày đầu của chế độ Ngô Đình Diệm, những người đẻ ra nó còn đưa vào đó một nội dung phi dân chủ  phản dân quyền độc tài trắng trợn như thế thì trên thực tế, một thực tế đã được bưng bít và che đậy bằng màng lưới công an mật vụ dày đặc, người dân còn chịu thống khổ ngần nào, giá trị và vị thế con người còn có nghĩa gì trước mặt kẻ cầm quyền!

Thật vậy, trừ vài năm đầu, lúc mà bộ máy của chế độ đang trong giai đoạn cũng cố và người dân còn cọng tác để cùng ông Diệm xây dựng miền Nam, còn kể từ năm 1959, khi những công cụ đàn áp khủng khiếp như Đảng Cần Lao, Lực lượng Đặc biệt (của ông Ngô Đình Nhu do Lê Quang Tung chỉ huy), Đoàn Công tác Đặc biệt miền Trung (của ông Ngô Đình Cẩn), Sở Nghiện cứu Chính trị Xã hội (của bác sĩ Trần Kim Tuyến), và 5 cơ quan an ninh, công an, mật vụ … đã được cũng cố như thiên la địa võng chụp xuống miền Nam, thì Hiến pháp 1956 trở thành tờ giấy lộn  Quốc hội Lập pháp trở thành một bầy gia nô để “hợp pháp” hóa lệnh của phủ Tổng thống mà thôi.
Từ đó, theo đánh giá của ông Trần Văn Chương, thân phụ của Bà Trần Lệ Xuân (Bà Nhu), Đại sứ Việt Nam Cọng hòa tại Mỹ (1955-1963), thì  chế độ Diệm đã hiện hình trọn vẹn là “một chế độ độc tài toàn trị [6]

Nguyễn Kha
(Cập nhật 10-2016)

CƯỚC CHÚ:

[1] Sau cuộc Trưng cầu Dân ý ở phía Nam vĩ tuyến 17 vào tháng 10 năm 1955 với kết quả là Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế thì tân tổng thống Ngô Đình Diệm cho nhóm họp Ủy ban Thảo hiến vào cuối năm 1955 gồm 11 thành viên để soạn Hiến pháp cho quốc gia cộng hòa mới. Sang tháng 3 năm 1956 thì mở cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến với 123 đại biểu  để hoàn tất công việc soạn thảo và thông qua bản hiến pháp. Chính Quốc hội cũng đề cử 15 người lập ra Ủy ban hiến pháp riêng, chủ tịch là Trần Chánh Thành [Bộ trưởng bộ Thông Tin] để cùng hiệp soạn. Tháng 7 năm 1956 thì Quốc hội bỏ phiếu thuận và đến 26 tháng 10, sau khi một vài điểm dị biệt giữa hai ngành lập pháp và hành pháp được giải quyết, thì tổng thống ký văn bản ban hành. (Theo Wikipedia)

[2] Trụy thai” là nhóm chử của Linh mục Kim Định dùng để đánh giá một cách diễu cợt hệ tư tưởng Duy Dân của ông Lý Đông A. Thật ra thì Linh mục viết … nặng hơn nhiều, ngài dùng nhóm chử “thiên tài trụy thai” để phê phán toàn bộ tư tưởng và hành động của cá nhân vị Thư ký trưởng đảng Duy Dân nầy. Người viết dùng lại nhóm chử nầy để “trả lại cho César những gì của César”.

[3] Bản dịch của nhật báo Tự Do ngày 4-4-1959.

[4] Dans l’histoire des institutions et des idées politiques du Vietnam, il sera difficile de ne pas reconnaitre que le système de la constitution du 26 Octobre 1956 constitua une regression par rapport au système politique traditionnel. Car il a repris de l’ancien système ce qu’il a le moins progressiste pour le completer par lesmoyens de contrainte les plus modernes. Ainsi cette notion de Leadership qui figure dans la traduction officielle de la Constitution de la République du Vietnam n’a pas le sens que les sociologues Américains lui donnent originalement.

[5] Vũ Văn Mẫu, Sáu tháng Pháp nạn, in Ronéo trong nước năm 1984. Giao Điểm in lại, 2003, California.

[6] Foreign Relations of the United States FRUS 1961-1963, Tập III, Memo của Forrestal gửi Harriman ngày 8-3-1963.

Nguồn: Tuyển tập “1963-2013 Năm Mươi Năm Nhìn Lại” Thiện Tri Thức, California, 2013

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2016


CHỈ MỚI THÁNG 5 NĂM 1960
MÀ CIA ĐÃ TIÊN ĐOÁN CHẾ ĐỘ DIỆM
SẼ BỊ “LẬT ĐỔ NHƯ CHẾ ĐỘ LÝ THỪA VÃN”

Sưu tầm của Kevin Trần

 
TRÁI (ảnh của Korea Times): Trong cuộc nổi dậy của sinh viên ngày 19-4-1960 tại Seoul, Cảnh sát chống bạo loạn đang cố gắng giải tán những sinh viên biểu tình. Nhưng sau khi dân chúng và các giáo sư đại học gia nhập đoàn biểu tình, ông Lý Thừa Vãn, tổng thống đầu tiên của Đại Hàn Dân quốc, đã phải từ chức.
PHẢI (ảnh của LIFE Magazine): Sau khi Lực lượng Đặc biệt của Ngô Đình Nhu tổng tấn công chùa chiền đêm 20-8-1963, lực lượng sinh viên học sinh thủ đô Sài Gòn, với sự hổ trợ của nhiều giáo sư đại học và đảng phái chính trị, đã xuống đường đấu tranh chống độc tài và bị đàn áp rồi bắt nhốt vào Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Cho đến sau khi chế độ Diệm bị lật đổ (1-11-1963), nhiều người trong số họ mới được thả ra.

Trong thập niên 1950s của thế kỷ trước, Việt Nam và Hàn Quốc là hai nước có nhiều điểm định hình giống nhau: Cùng chấm dứt chế độ phong kiến (nhà Nguyễn và nhà Joseon) mà tác nhân là hai cuộc xâm lăng của ngoại bang (Pháp ở Việt Nam và Nhật ở Triều Tiên), cùng bị áp lực chia đôi đất nước (tại vĩ tuyến 17 năm 1954 và vĩ tuyến 38 năm 1953) từ một thỏa hiệp giữa các siêu cường, và cả hai lãnh thổ phía Nam cùng trở thành tiền đồn “nóng” dưới sự lãnh đạo và  yểm trợ của Mỹ để chống lại sự bành trướng của Cọng sản từ miền Bắc.
Vì thế, lãnh tụ của hai nước nầy cũng “tình cờ” mà có vài điểm chung giống nhau:
Giống ở điểm xuất sinh: Cùng là đạo Chúa và được Mỹ “bồng” từ Mỹ về nước. Ông Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee, 1875-1965) lúc đầu là một đệ tử Nho gia, nhưng sau khi theo học một trường Methodist thì quyết định theo Tin Lành. Năm 1904, sang Mỹ học lấy bằng Tiến sĩ Chính trị học tại đại học Princeton rồi được Mỹ yểm trợ lên làm Tổng thống đầu tiên của Nam Hàn. Còn ông Gioan Baotixita Ngô Đình Diệm (1901-1963), lúc đầu định đi tu đạo Chúa nhưng bỏ dở nửa chừng để đi vào con đường làm quan. Ông đã phò nhà Nguyễn, làm việc với Tây, thân với Nhật, “bao năm từng lê gót nơi quê người” ở Mỹ, rồi cuối cùng được Mỹ “bồng” về cũng để làm Tổng thống đầu tiên của Nam Việt Nam.
Mọi việc đều tiến triển nhịp nhàng như bàn cờ mà Washington thiết kế cho đến đầu thập niên 1960’s, trong lúc quan hệ giữa Mỹ và hai “tiền đồn chống Cọng” tại Á châu đang nồng ấm, kinh viện và quân viện ồ ạt đổ vào hai xứ sở nầy, thì hai ông lãnh đạo bắt đầu “tiến nhanh tiến mạnh” thiết lập chế độ độc tài “theo cung cách Á châu” của mình.  Đặc biệt, cả hai ông đều đạp lên Hiến Pháp (như kiểu “sau lưng Phật giáo trong nước hãy còn có Hiến pháp, nghĩa là có Tôi” của ông Diệm) để tiêu diệt đối lập chính trị cho mình độc tôn. Một ông Hàn độc tôn như Hoàng đế phong kiến theo kiểu Khổng, một ông Diệm độc tôn như Giáo hoàng trung cổ kiểu Vatican.

Riêng tại miền Nam Việt Nam, thì đặc biệt trong nửa đầu năm 1960, đã có những biến cố báo hiệu các rạn nứt trầm trọng trong nền móng của chế độ Ngô Đình Diệm (trích một phần theo Đoàn Thêm và Lê Xuân Nhuận):
·         Dù đến tháng 12 cuối năm mới chính thức thành lập, thế mà ngay từ đầu năm, ngày 26/1/60, lực lượng vũ trang của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (“Vietcong”) đã đủ sức đột-kích Bộ Chỉ-Huy Trung-Đoàn 32 của Sư-Đoàn 21, ở Tây Ninh, gây tổn thất nặng nề cho Quân đội Việt Nam Cộng Hòa, khiến 23 quân-nhân tử-thương và cướp đi hằng ngàn vũ-khí. (Xem thêm A Bright Shining Lie của Neil Sheehan)
·         Ngày 28/1/60 nhật-báo Tự Do số Xuân Canh Tý (do nhóm trí thức văn nghệ sĩ gốc Bắc di cư như Tam Lang, Mặc Thu, Như Phong, Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan …chủ trương), đăng lên bìa trước một bức hoạ của hoạ-sĩ Nguyễn Gia Trí, vẽ 6 con chuột (ám chỉ gia-đình họ Ngô: Diệm, Thục, Nhu, bà Nhu, Cẩn, Luyện) đang gậm nhắm một trái dưa hấu tượng trưng cho miền Nam Việt Nam. Sau đó, nhóm chủ trương bị ông Nhu sai mật vụ bắt cầm tù và Tòa soạn bị đập phá.
(Ảnh bìa báo: Thư viện Đại học Cornell, Hoa Kỳ)
·         Ngày 24/2/60, Wolf Ladejinsky, Cố-Vấn cho ông Diệm về Cải-Cách Điền-Địa, thảo-luận với các ông Nguyễn Ngọc Thơ (Phó Tổng thống), Lê Văn Đồng (Bộ Canh Nông) và Võ Văn Hải (Bí-Thư riêng của ông Diệm), bày tỏ quan tâm về sự suy-thoái an-ninh, hoạt-động ám-muội của Đảng Cần Lao, nạn tham-nhũng trong giới lãnh-đạo cao-cấp của đảng này, lòng căm phẫn của nông-dân, tình-trạng bất-mãn trong hàng-ngũ sĩ-quan, và ý muốn loại bỏ Nhu.
·         Ngày 9/4/60, Cố-Vấn Parsons nêu lên với Bộ-Trưởng Thuần các vấn-đề tham nhũng và liên-hệ giữa chính-phủ Diệm với dân-chúng.
·         Ngày 26/4/60, 18 nhân-vật chính trị tên tuổi có uy tín với dân chúng miền Nam họp báo ở khách sạn Caravelle tại trung tâm Sài Gòn, ra kháng thư vạch ra sự bất tài của chính phủ trong bốn lãnh vực và phản đối các chính sách độc tài của ông Diệm (Kháng thư nầy, sau đó, được báo chí và dân chúng gọi là “Tuyên ngôn Caravelle”).  Trong số 18 người đó, có một Linh mục và 10 người đã từng là ân nhân, đồng chí, đã từng hợp tác với (hoặc ở trong nội các của) ông Diệm. Đó là các ông: Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, Trần Văn Đỗ, Trần Văn Văn, Trần Văn Lý, Lê Quang Luật, Nguyễn Lưu Viên, Trần Văn Tuyên, Huỳnh Kim Hữu, Nguyễn Tiến Hỉ,  Lê Ngọc Chấn, Lương Trọng Tường, Nguyễn Tăng Nguyên, Phạm Hữu Chương, Tạ Chương Phùng, Trần Lê Chất, Hồ Văn Vui. 

-         
Trang đầu và cuối của “Tuyên Ngôn Caravelle” do 18 nhân sĩ trí thức
và đảng phái yêu cầu ông Diệm thay đổi chính sách, trong sạch hóa
chính quyền  để vượt khủng hoảng, xây dựng lại sức mạnh cho quốc gia.
(Ảnh của Kỹ sư Trần Văn Tòng, trưởng nam của ông Trần Văn Văn,
một trong những nhân vật khởi xướng Tuyên ngôn)
Lẽ dĩ nhiên là gia đình ông Diệm không đếm xĩa gì đến kháng thư nầy, tiếp tục đàn áp các lực lượng chính trị khác như đã từng đàn áp Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Duy Dân, Dân Xã, … trong các năm trước. Để củng cố chế độ toàn trị, mọi hoạt động của đối lập hoàn toàn bị tiêu diệt tại miền Nam Việt Nam nên cuối cùng, cơn phẩn uất chính trị mới nỗ bùng thành “Tuyên Ngôn Caravelle”.
Thật vậy, Việt Nam Cọng Hòa dưới thời ông Diệm không có quy chế đảng phái, Truyền thanh thì của nhà nước còn báo chí thì bị mua chuộc và/hoặc bị mật vụ khống chế, toàn bộ quốc hội là dân biểu gia nô, nhà tù biệt giam P42 (của Ngô Đình Nhu) Chín Hầm (của Ngô Đình Cẩn) để tra khão và giam giữ tù nhân chính trị thì hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của hệ thống tư pháp… khiến dân chúng càng thêm căm phẩn chế độ Diệm. Và bất mãn cũng nẫy mầm từ chính ngay trong lòng bộ máy cầm quyền.
Tình hình phản dân chủ nguy hiểm cho chế độ nầy đã khiến Cục Trung Ương Tình Báo CIA của Mỹ phải lo lắng cảnh báo với giới lãnh đạo Washington về khả năng một cuộc lật đổ chế độ Diệm, như chỉ một tháng trước đó (4-1960), chế độ Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee) đã bị lật đổ tại Nam Hàn. Ngày 12-5-1960, trong tài liệu Tóm Tắt Tin Tức Tình Báo Hàng Tuần (Current Intelligence Weekly Summary), CIA đã cảnh báo điều đó.

Điều đáng nói là ba năm sau, năm 1963, tình hình bắt bớ, giam cầm và xử tội đối lập chính trị còn tệ hại hơn. Trước tình hình đàn áp thô bạo của chính quyền nhà Ngô, văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã dùng cái chết của mình để cảnh cáo chế độ Ngô Đình Diệm một cách quyết liệt hơn: “Sự bắt bớ và xử tội các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản.”
Rồi sau năm 1963, các đảng phái chính trị chưa kịp hồi sinh vì 8 năm suy kiệt dưới chế độ Diệm thì lại phải đối đầu với chế độ độc tài quân phiệt của ông Tổng thống Công giáo Nguyễn Văn Thiệu, một chế độ “Diệm Không Diệm” (cụm từ của ký giả Robert Shaplen) nên các chính đảng đã không đóng góp gì được cho một nên dân chủ đích thức tại miền Nam Việt Nam.  Và lời tiên đoán của Nhất Linh từ thời ông Diệm đã thành sự thật: “nước mất về tay Cọng sản
Chúc thư 7-7-1963 được viết trong ngày Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự sát
để phản đối và lên án chế độ Diệm “chà đạp mọi thứ tự do”



Dưới đây là bản dịch và phóng ảnh Bản Tóm Tắt Tình Báo Hàng Tuần (Current Intelligence Weekly Summary) số 2214/60, ngày 12-5-1960  do Cục Trung Ương Tình Báo CIA soạn thảo.


CURRENT INTELLIGENCE WEEKLY SUMMARY
Office of Current Intelligence OCI No. 2214/60, 12-5-1960
(Tóm Tắt Tin Tức Tình Báo Hàng Tuần, Phòng Tình Báo Hiện Hành)

CHẾ ĐỘ DIỆM TẠI NAM VIỆT NAM CÀNG LÚC CÀNG BỊ CHỈ TRÍCH
(GROWING CRITICISM OF DIEM REGIME IN SOUTH VIETNAM)


Tổng thống Diệm của Nam Việt Nam, vốn đang bị bao vây bởi một thách đố nghiêm trọng do các lực lượng du kích Cọng sản nỗi dậy, nay lại phải đối diện với một vấn đề càng lúc càng lớn dần từ sự bất mản của các viên chức trong chế độ của ông ta cũng như từ quần chúng [a growing problem of dissatisfaction among officials of his own regime, as well as among the public ]. Diệm đang lấy những biện pháp khẩn cấp - chủ yếu về quân sự - trong nỗ lực khôi phục lại tình hình an ninh trong nước, nhưng không có dấu hiệu thiên về việc mở rộng tự do chế độ của ông ta dù [chế độ] đang càng lúc càng bị chỉ trích. Thái độ nầy thì nhất quán với tính cứng rắn cũng như niềm tin của ông ta rằng tình thế đòi hỏi một nền cai trị độc đoán.

Một số nhân vật Việt Nam quan trọng, kể cả nhân viên cao cấp trong chính phủ, nhân vật trong nghiệp đoàn, các vị dân cử trong Quốc Hội, và lãnh đạo các đảng phái chính trị đã bày tỏ trong riêng tư sự bất mãn và nổi thất vọng của họ về vai trò “bù nhìn” mà họ phải đóng. Họ phàn nàn rằng Diệm không chịu ủy quyền cho ai ngoài một nhóm nhỏ thân thuộc và người phụ tá, đã khiến cho chính phủ bị tê liệt một cách vô hiệu, làm nãy sinh tình trạng thiên vị và tham nhũng khiến nhân dân xa lánh, và tạo lý do dễ dàng cho Cọng sản đánh phá [has paralyzed effective government, fostered favoritism and corruption, aleniated the people, and facilitated Communist subversion]. Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ và một số thành viên Nội các lo sợ cho sự ổn định của chính phủ nếu cải cách chính trị không được tiến hành tức thì.

Một lý do khiến sự oán giận lan rộng là vì ảnh hưởng thâm nhập của đảng Cần Lao [A principal cause for widespread resentment is the pervasive influence of the Can Lao], một tổ chức nửa bí mật nửa công khai, nhân danh Diệm để thực thi quyền lực và kiểm soát chính phủ. Dưới sự điều khiển của Ngô Đình Nhu, em trai và cố vấn chính trị của Tổng thống, đảng Cần Lao từ từ tạo thành một mạng lưới kiểu ủy-viên-chính-trị xuyên suốt hạ tầng cơ sở chính trị và quân sự của chính phủ.

Cho đến nay, Diệm không công nhận sự bất cập nào của các cọng sự viên và gạt bỏ mọi chỉ trích chế độ, coi đó như là của bọn cơ hội chủ nghĩa, bọn lập dị, hay bọn thân Cọng. Ông ta đã gạt bỏ và coi như “vụn vặt” một kiến nghị đòi hỏi sinh hoạt dân chủ hơn, được công khai phổ biến tại Sài Gòn gần đây bởi một nhóm cựu viên chức chính phủ, lãnh tụ quần chúng. Tuy nhiên, động thái chưa bao giờ xãy ra nầy của một nhóm không-Cọng sản đuợc kết hợp chặt chẻ nhằm tấn công chế độ Diệm có thể là một chỉ dấu báo trước cho những diển biến giống như đã từng xãy ra ở Nam Hàn mà kết quả là vụ lật đổ chế độ Lý Thừa Vãn. [This unprecedented attack on the Diem regime by a cohesive non-communist group, however, could be the forerunner of developments similar to those in South Korea, which resulted in the overthrow of the Rhee regime]. Tuy tức thời có vẽ như không có điểm gì tương đồng, nhưng cuộc chống phá của Cọng sản – vốn đã đặt chân được vào vài vùng thôn quê – quả là một yếu tố đặc biệt nguy hiểm cho tình hình chung.

[Tài liệu được chấp thuận cho phổ biến ngày 29-6-2009]