Hiển thị các bài đăng có nhãn Năm 1960. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Năm 1960. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2016


CHỈ MỚI THÁNG 5 NĂM 1960
MÀ CIA ĐÃ TIÊN ĐOÁN CHẾ ĐỘ DIỆM
SẼ BỊ “LẬT ĐỔ NHƯ CHẾ ĐỘ LÝ THỪA VÃN”

Sưu tầm của Kevin Trần

 
TRÁI (ảnh của Korea Times): Trong cuộc nổi dậy của sinh viên ngày 19-4-1960 tại Seoul, Cảnh sát chống bạo loạn đang cố gắng giải tán những sinh viên biểu tình. Nhưng sau khi dân chúng và các giáo sư đại học gia nhập đoàn biểu tình, ông Lý Thừa Vãn, tổng thống đầu tiên của Đại Hàn Dân quốc, đã phải từ chức.
PHẢI (ảnh của LIFE Magazine): Sau khi Lực lượng Đặc biệt của Ngô Đình Nhu tổng tấn công chùa chiền đêm 20-8-1963, lực lượng sinh viên học sinh thủ đô Sài Gòn, với sự hổ trợ của nhiều giáo sư đại học và đảng phái chính trị, đã xuống đường đấu tranh chống độc tài và bị đàn áp rồi bắt nhốt vào Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Cho đến sau khi chế độ Diệm bị lật đổ (1-11-1963), nhiều người trong số họ mới được thả ra.

Trong thập niên 1950s của thế kỷ trước, Việt Nam và Hàn Quốc là hai nước có nhiều điểm định hình giống nhau: Cùng chấm dứt chế độ phong kiến (nhà Nguyễn và nhà Joseon) mà tác nhân là hai cuộc xâm lăng của ngoại bang (Pháp ở Việt Nam và Nhật ở Triều Tiên), cùng bị áp lực chia đôi đất nước (tại vĩ tuyến 17 năm 1954 và vĩ tuyến 38 năm 1953) từ một thỏa hiệp giữa các siêu cường, và cả hai lãnh thổ phía Nam cùng trở thành tiền đồn “nóng” dưới sự lãnh đạo và  yểm trợ của Mỹ để chống lại sự bành trướng của Cọng sản từ miền Bắc.
Vì thế, lãnh tụ của hai nước nầy cũng “tình cờ” mà có vài điểm chung giống nhau:
Giống ở điểm xuất sinh: Cùng là đạo Chúa và được Mỹ “bồng” từ Mỹ về nước. Ông Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee, 1875-1965) lúc đầu là một đệ tử Nho gia, nhưng sau khi theo học một trường Methodist thì quyết định theo Tin Lành. Năm 1904, sang Mỹ học lấy bằng Tiến sĩ Chính trị học tại đại học Princeton rồi được Mỹ yểm trợ lên làm Tổng thống đầu tiên của Nam Hàn. Còn ông Gioan Baotixita Ngô Đình Diệm (1901-1963), lúc đầu định đi tu đạo Chúa nhưng bỏ dở nửa chừng để đi vào con đường làm quan. Ông đã phò nhà Nguyễn, làm việc với Tây, thân với Nhật, “bao năm từng lê gót nơi quê người” ở Mỹ, rồi cuối cùng được Mỹ “bồng” về cũng để làm Tổng thống đầu tiên của Nam Việt Nam.
Mọi việc đều tiến triển nhịp nhàng như bàn cờ mà Washington thiết kế cho đến đầu thập niên 1960’s, trong lúc quan hệ giữa Mỹ và hai “tiền đồn chống Cọng” tại Á châu đang nồng ấm, kinh viện và quân viện ồ ạt đổ vào hai xứ sở nầy, thì hai ông lãnh đạo bắt đầu “tiến nhanh tiến mạnh” thiết lập chế độ độc tài “theo cung cách Á châu” của mình.  Đặc biệt, cả hai ông đều đạp lên Hiến Pháp (như kiểu “sau lưng Phật giáo trong nước hãy còn có Hiến pháp, nghĩa là có Tôi” của ông Diệm) để tiêu diệt đối lập chính trị cho mình độc tôn. Một ông Hàn độc tôn như Hoàng đế phong kiến theo kiểu Khổng, một ông Diệm độc tôn như Giáo hoàng trung cổ kiểu Vatican.

Riêng tại miền Nam Việt Nam, thì đặc biệt trong nửa đầu năm 1960, đã có những biến cố báo hiệu các rạn nứt trầm trọng trong nền móng của chế độ Ngô Đình Diệm (trích một phần theo Đoàn Thêm và Lê Xuân Nhuận):
·         Dù đến tháng 12 cuối năm mới chính thức thành lập, thế mà ngay từ đầu năm, ngày 26/1/60, lực lượng vũ trang của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (“Vietcong”) đã đủ sức đột-kích Bộ Chỉ-Huy Trung-Đoàn 32 của Sư-Đoàn 21, ở Tây Ninh, gây tổn thất nặng nề cho Quân đội Việt Nam Cộng Hòa, khiến 23 quân-nhân tử-thương và cướp đi hằng ngàn vũ-khí. (Xem thêm A Bright Shining Lie của Neil Sheehan)
·         Ngày 28/1/60 nhật-báo Tự Do số Xuân Canh Tý (do nhóm trí thức văn nghệ sĩ gốc Bắc di cư như Tam Lang, Mặc Thu, Như Phong, Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan …chủ trương), đăng lên bìa trước một bức hoạ của hoạ-sĩ Nguyễn Gia Trí, vẽ 6 con chuột (ám chỉ gia-đình họ Ngô: Diệm, Thục, Nhu, bà Nhu, Cẩn, Luyện) đang gậm nhắm một trái dưa hấu tượng trưng cho miền Nam Việt Nam. Sau đó, nhóm chủ trương bị ông Nhu sai mật vụ bắt cầm tù và Tòa soạn bị đập phá.
(Ảnh bìa báo: Thư viện Đại học Cornell, Hoa Kỳ)
·         Ngày 24/2/60, Wolf Ladejinsky, Cố-Vấn cho ông Diệm về Cải-Cách Điền-Địa, thảo-luận với các ông Nguyễn Ngọc Thơ (Phó Tổng thống), Lê Văn Đồng (Bộ Canh Nông) và Võ Văn Hải (Bí-Thư riêng của ông Diệm), bày tỏ quan tâm về sự suy-thoái an-ninh, hoạt-động ám-muội của Đảng Cần Lao, nạn tham-nhũng trong giới lãnh-đạo cao-cấp của đảng này, lòng căm phẫn của nông-dân, tình-trạng bất-mãn trong hàng-ngũ sĩ-quan, và ý muốn loại bỏ Nhu.
·         Ngày 9/4/60, Cố-Vấn Parsons nêu lên với Bộ-Trưởng Thuần các vấn-đề tham nhũng và liên-hệ giữa chính-phủ Diệm với dân-chúng.
·         Ngày 26/4/60, 18 nhân-vật chính trị tên tuổi có uy tín với dân chúng miền Nam họp báo ở khách sạn Caravelle tại trung tâm Sài Gòn, ra kháng thư vạch ra sự bất tài của chính phủ trong bốn lãnh vực và phản đối các chính sách độc tài của ông Diệm (Kháng thư nầy, sau đó, được báo chí và dân chúng gọi là “Tuyên ngôn Caravelle”).  Trong số 18 người đó, có một Linh mục và 10 người đã từng là ân nhân, đồng chí, đã từng hợp tác với (hoặc ở trong nội các của) ông Diệm. Đó là các ông: Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, Trần Văn Đỗ, Trần Văn Văn, Trần Văn Lý, Lê Quang Luật, Nguyễn Lưu Viên, Trần Văn Tuyên, Huỳnh Kim Hữu, Nguyễn Tiến Hỉ,  Lê Ngọc Chấn, Lương Trọng Tường, Nguyễn Tăng Nguyên, Phạm Hữu Chương, Tạ Chương Phùng, Trần Lê Chất, Hồ Văn Vui. 

-         
Trang đầu và cuối của “Tuyên Ngôn Caravelle” do 18 nhân sĩ trí thức
và đảng phái yêu cầu ông Diệm thay đổi chính sách, trong sạch hóa
chính quyền  để vượt khủng hoảng, xây dựng lại sức mạnh cho quốc gia.
(Ảnh của Kỹ sư Trần Văn Tòng, trưởng nam của ông Trần Văn Văn,
một trong những nhân vật khởi xướng Tuyên ngôn)
Lẽ dĩ nhiên là gia đình ông Diệm không đếm xĩa gì đến kháng thư nầy, tiếp tục đàn áp các lực lượng chính trị khác như đã từng đàn áp Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Duy Dân, Dân Xã, … trong các năm trước. Để củng cố chế độ toàn trị, mọi hoạt động của đối lập hoàn toàn bị tiêu diệt tại miền Nam Việt Nam nên cuối cùng, cơn phẩn uất chính trị mới nỗ bùng thành “Tuyên Ngôn Caravelle”.
Thật vậy, Việt Nam Cọng Hòa dưới thời ông Diệm không có quy chế đảng phái, Truyền thanh thì của nhà nước còn báo chí thì bị mua chuộc và/hoặc bị mật vụ khống chế, toàn bộ quốc hội là dân biểu gia nô, nhà tù biệt giam P42 (của Ngô Đình Nhu) và Chín Hầm (của Ngô Đình Cẩn) để tra khão và giam giữ tù nhân chính trị thì hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của hệ thống tư pháp… khiến dân chúng càng thêm căm phẩn chế độ Diệm. Và bất mãn cũng nẫy mầm từ chính ngay trong lòng bộ máy cầm quyền.
Tình hình phản dân chủ nguy hiểm cho chế độ nầy đã khiến Cục Trung Ương Tình Báo CIA của Mỹ phải lo lắng cảnh báo với giới lãnh đạo Washington về khả năng một cuộc lật đổ chế độ Diệm, như chỉ một tháng trước đó (4-1960), chế độ Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee) đã bị lật đổ tại Nam Hàn. Ngày 12-5-1960, trong tài liệu Tóm Tắt Tin Tức Tình Báo Hàng Tuần (Current Intelligence Weekly Summary), CIA đã cảnh báo điều đó.

Điều đáng nói là ba năm sau, năm 1963, tình hình bắt bớ, giam cầm và xử tội đối lập chính trị còn tệ hại hơn. Trước tình hình đàn áp thô bạo của chính quyền nhà Ngô, văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã dùng cái chết của mình để cảnh cáo chế độ Ngô Đình Diệm một cách quyết liệt hơn: “Sự bắt bớ và xử tội các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản.”
Rồi sau năm 1963, các đảng phái chính trị chưa kịp hồi sinh vì 8 năm suy kiệt dưới chế độ Diệm thì lại phải đối đầu với chế độ độc tài quân phiệt của ông Tổng thống Công giáo Nguyễn Văn Thiệu, một chế độ “Diệm Không Diệm” (cụm từ của ký giả Robert Shaplen) nên các chính đảng đã không đóng góp gì được cho một nên dân chủ đích thức tại miền Nam Việt Nam.  Và lời tiên đoán của Nhất Linh từ thời ông Diệm đã thành sự thật: “nước mất về tay Cọng sản”
Chúc thư 7-7-1963 được viết trong ngày Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự sát
để phản đối và lên án chế độ Diệm “chà đạp mọi thứ tự do”



Dưới đây là bản dịch và phóng ảnh Bản Tóm Tắt Tình Báo Hàng Tuần (Current Intelligence Weekly Summary) số 2214/60, ngày 12-5-1960  do Cục Trung Ương Tình Báo CIA soạn thảo.


CURRENT INTELLIGENCE WEEKLY SUMMARY
Office of Current Intelligence OCI No. 2214/60, 12-5-1960
(Tóm Tắt Tin Tức Tình Báo Hàng Tuần, Phòng Tình Báo Hiện Hành)

CHẾ ĐỘ DIỆM TẠI NAM VIỆT NAM CÀNG LÚC CÀNG BỊ CHỈ TRÍCH
(GROWING CRITICISM OF DIEM REGIME IN SOUTH VIETNAM)


Tổng thống Diệm của Nam Việt Nam, vốn đang bị bao vây bởi một thách đố nghiêm trọng do các lực lượng du kích Cọng sản nỗi dậy, nay lại phải đối diện với một vấn đề càng lúc càng lớn dần từ sự bất mản của các viên chức trong chế độ của ông ta cũng như từ quần chúng [a growing problem of dissatisfaction among officials of his own regime, as well as among the public ]. Diệm đang lấy những biện pháp khẩn cấp - chủ yếu về quân sự - trong nỗ lực khôi phục lại tình hình an ninh trong nước, nhưng không có dấu hiệu thiên về việc mở rộng tự do chế độ của ông ta dù [chế độ] đang càng lúc càng bị chỉ trích. Thái độ nầy thì nhất quán với tính cứng rắn cũng như niềm tin của ông ta rằng tình thế đòi hỏi một nền cai trị độc đoán.

Một số nhân vật Việt Nam quan trọng, kể cả nhân viên cao cấp trong chính phủ, nhân vật trong nghiệp đoàn, các vị dân cử trong Quốc Hội, và lãnh đạo các đảng phái chính trị đã bày tỏ trong riêng tư sự bất mãn và nổi thất vọng của họ về vai trò “bù nhìn” mà họ phải đóng. Họ phàn nàn rằng Diệm không chịu ủy quyền cho ai ngoài một nhóm nhỏ thân thuộc và người phụ tá, đã khiến cho chính phủ bị tê liệt một cách vô hiệu, làm nãy sinh tình trạng thiên vị và tham nhũng khiến nhân dân xa lánh, và tạo lý do dễ dàng cho Cọng sản đánh phá [has paralyzed effective government, fostered favoritism and corruption, aleniated the people, and facilitated Communist subversion]. Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ và một số thành viên Nội các lo sợ cho sự ổn định của chính phủ nếu cải cách chính trị không được tiến hành tức thì.

Một lý do khiến sự oán giận lan rộng là vì ảnh hưởng thâm nhập của đảng Cần Lao [A principal cause for widespread resentment is the pervasive influence of the Can Lao], một tổ chức nửa bí mật nửa công khai, nhân danh Diệm để thực thi quyền lực và kiểm soát chính phủ. Dưới sự điều khiển của Ngô Đình Nhu, em trai và cố vấn chính trị của Tổng thống, đảng Cần Lao từ từ tạo thành một mạng lưới kiểu ủy-viên-chính-trị xuyên suốt hạ tầng cơ sở chính trị và quân sự của chính phủ.

Cho đến nay, Diệm không công nhận sự bất cập nào của các cọng sự viên và gạt bỏ mọi chỉ trích chế độ, coi đó như là của bọn cơ hội chủ nghĩa, bọn lập dị, hay bọn thân Cọng. Ông ta đã gạt bỏ và coi như “vụn vặt” một kiến nghị đòi hỏi sinh hoạt dân chủ hơn, được công khai phổ biến tại Sài Gòn gần đây bởi một nhóm cựu viên chức chính phủ, lãnh tụ quần chúng. Tuy nhiên, động thái chưa bao giờ xãy ra nầy của một nhóm không-Cọng sản đuợc kết hợp chặt chẻ nhằm tấn công chế độ Diệm có thể là một chỉ dấu báo trước cho những diển biến giống như đã từng xãy ra ở Nam Hàn mà kết quả là vụ lật đổ chế độ Lý Thừa Vãn. [This unprecedented attack on the Diem regime by a cohesive non-communist group, however, could be the forerunner of developments similar to those in South Korea, which resulted in the overthrow of the Rhee regime]. Tuy tức thời có vẽ như không có điểm gì tương đồng, nhưng cuộc chống phá của Cọng sản – vốn đã đặt chân được vào vài vùng thôn quê – quả là một yếu tố đặc biệt nguy hiểm cho tình hình chung.

[Tài liệu được chấp thuận cho phổ biến ngày 29-6-2009]



Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2016


NĂM 1960
ĐỐI VỚI ĐỆ-NHẤT CỘNG-HOÀ

Lê Xuân Nhuận


Nhìn lại chế-độ Đệ-Nhất Cộng-Hoà cuả cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, ta thấy có sự khác-biệt rõ-ràng giữa hai thời-kỳ, trước và sau năm 1960.
Đúng ra thì có thể có sự thay-đổi mặt này mặt nọ trước năm ấy hoặc sau năm ấy, nhưng nói chung thì năm 1960 là năm đánh dấu rõ nét nhất sự thoái-trào, xuống dốc quá mức cuả chế-độ Diệm.
Sau đây là một vài (trong nhiều) dấu chỉ liên-quan.

* * *
        
KẾ HOẠCH 5 NĂM

Chính-phủ Liên-Bang Hoa-Kỳ giao cho Bang Michigan đảm-trách hầu hết mọi việc trong mối hợp-tác Mỹ-Việt (chính-trị, quân-sự, kinh-tế, văn-hoá, xã-hội...), thể-hiện qua các lãnh-vực của ngành ngoại-viện (tổ-chức, huấn-luyện, xây-dựng, tái-thiết, trang-bị, tài-trợ...), cụ-thể là để thành-lập một bộ máy hành-chánh lành-mạnh và hữu-hiệu và một quân-lực thống-nhất và hùng-mạnh, mục-đích là nhằm ngăn-chận đà tiến của cộng-sản từ phương Bắc cũng như thành-lập và phát-triển một nước Cộng-Hoà gương-mẫu tại Miền Nam Việt-Nam.

Cơ-quan đại-diện cuả Bang Michigan mang tên là Phái-Bộ MSU (Michigan State University).
MSU yểm-trợ cho “Kế-Hoạch 5 Năm” đầu tiên cuả chính-phủ Ngô Đình Diệm.
Năm 1960 là năm đúc-kết kết-quả 5 năm đầu tiên, để rút-tỉa ưu-khuyết-điểm dọn đường cho “Kế-Hoạch 5 Năm” tiếp theo.
Chính-sách cuả chính-phủ Hoa-Kỳ đối với chính-phủ Ngô Đình Diệm tốt xấu thế nào phần lớn là tuỳ vào kết-quả cuả “Kế-Hoạch 5 Năm” đầu tiên, tức là vào năm 1960.

TÌNH-TÌNH VIỆT-NAM
Gần đến thời-điểm 1960:

■ Về phía cộng-sản:
- Ban Chấp-Hành Trung-Ương Đảng Lao-Động Việt-Nam (Cộng-Sản) mở đại-hội lần thứ 15, họp từ tháng 1, đến ngày 13/5/1959 và ra Nghị-Quyết số 15 thống-nhất đất nước (xâm-lăng Miền Nam) bằng vũ-lực.  Tức là từ 1954 đến nay cộng-sản chưa thật-sự “đánh” Miền Nam, nên Miền Nam mới có được một thời-kỳ tạm yên.  Tổng-Thống Diệm đã biết rõ điều đó nên mới ban-hành Luật 10/59, chứ nếu không thì tại sao chống Cộng mà không ban-hành luật ấy từ khi mới lên cầm quyền (từ 1954-55) mà phải đợi cho đến năm 1959?
- Báo “Nhân Dân” của CSBV tố-cáo Diệm giết hơn 1,000 “đồng-bào yêu nước” ở trại giam Phú Lợi (Bình Dương).  Võ Nguyên Giáp yêu-cầu Uỷ-Hội Quốc-Tế điều-tra vụ này.  “Mặt Trận Tổ Quốc” phát-động phong-trào đấu-tranh, và Hà Nội tổ-chức biểu-tình, phản-đối vụ tàn-sát ở Phú Lợi.
- Quốc-Hội Bắc Việt thông qua Hiến Pháp mới.
- Bắc Việt phản-đối với Ủy-Hội Quốc-Tế về cuộc bầu-cử Quốc-Hội của VNCH vào ngày 30/8/1959.
- Phạm Văn Đồng vận-động Anh và Liên Xô yêu-cầu Mỹ chấm dứt can-thiệp vào Việt Nam.
- Hoa-Cộng gay-gắt đả-kích chủ-nghĩa đế-quốc xâm-lược (Hoa Kỳ). 
CSVN gây được sự chú ý của thế-giới qua các đề-tài “nóng bỏng” kể trên.
- Hồ Chí Minh qua Mạc Tư Khoa dự Đại Hội thứ 21 của Đảng Cộng-Sản Liên-Xô rồi về Hà Nội họp. Đảng học-tập về Đại Hội ấy; lại qua Bắc Kinh “làm việc” với cộng-sản Trung Hoa.
Cộng-Sản quốc-tế bắt đầu phối-hợp chặt-chẽ hơn trong mưu-đồ thôn tính Miền Nam.

■ Về phía Hoa-Kỳ:
- Bộ Ngoại-Giao Mỹ xác-nhận là cộng-sản bắt đầu sử-dụng bạo-lực, ám-sát công-chức, tấn-công đồn-điền, đánh phá chương-trình cải-cách điền-địa hay tài-trợ nông-dân....
- Phó Phụ-Tá Graham Parsons, đặc-trách Viễn Đông của Ngoại-Trưởng Mỹ, qua gặp Phó Tổng-Thống Nguyễn Ngọc Thơ, Bộ-Trưởng Nguyễn Đình Thuần và Tổng-Thống Ngô Đình Diệm. 
- Đại-Sứ Mỹ Elbridge Durbrow yêu-cầu Parsons mang theo một cây gậy khi vào gặp Diệm.
- Chính-phủ Mỹ không chịu gia-tăng quân-viện vì Diệm không chịu cải-thiện bang-giao với Cao Miên.
- Nhà báo Albert Colgrove viết một loạt bài về Việt Nam, nhất là về Đảng Cần Lao, khiến Thượng-Nghị-Viện chất-vấn Bộ Ngoại-Giao, Đại-Sứ Durbrow phải bàn thảo với Cố-Vấn Ngô Đình Nhu, và tướng Creighton Williams, Tư-Lệnh MAAG, phải về điều-trần trước Quốc-Hội.
- Lãnh-Sự Mỹ Theodore Heavner tại Huế (Miền Trung) điều-tra các hoạt-động kinh tài của Đảng Cần Lao tại Huế, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Ngãi; phản ảnh những lời giải-thích của ông Nhu, tiếp-xúc với ông Cẩn.
- Đại-Sứ Durbrow nghiên-cứu vai trò của quân-đội Việt-Nam, tìm một khuôn mặt quân-sự có thể thay Diệm; tạm-thời ủng-hộ Nguyễn Ngọc Thơ.
Bang-giao Mỹ-Việt căng thẳng hơn.

■ Về phía Việt-Nam Cộng-Hoà:
- Tướng Dương Văn Đức từ-chức để chống lại kế-hoạch của Cố-Vấn Nhu đưa chính-trị vào quân-đội; các tướng chắc không hài lòng với việc Diệm thăng thưởng mà chỉ tuỳ theo sở-thích cá-nhân và dựa vào lòng trung-thành riêng với mình (Đức tuyên-bố “thà làm bồi bàn ở Paris hơn là làm tướng cho Diệm”). 
- Ông Nhu lên tiếng phê-bình các tướng. Tướng Williams (dù là thân Diệm) cực-lực bài-bác lời phê-bình của Nhu; Williams xác-nhận khả-năng của các tướng(Việt-Nam Cộng-Hoà) xuất-sắc hơn các tướng ở Đông Nam Á hay Nam Mỹ.
- Phó Tổng-Thống Nguyễn Ngọc Thơ không đồng ý với chủ-trương thuần dùng vũ-khí quân-sự để chống Việt-Cộng mà Diệm áp-dụng theo lời cố-vấn của Nhu; Thơ muốn đáp-ứng đòi-hỏi của nông-dân và lôi-kéo họ về với chính-phủ bằng cách thuyết-phục.  Lê Văn Đồng, Bộ-Trưởng Canh Nông, một cán-bộ Cần Lao cao-cấp, đồng ý với Thơ.
- Hai nhân-vật đối-lập Phan Quang Đán và Hoàng Cơ Thụy bị gạch tên trong danh-sách ứng-cử-viên Quốc-Hội.  Do áp-lực của Đại-Sứ Durbrow, Tổng-Thống Diệm cho phép họ tranh-cử nhưng báo trước là nếu đắc-cử kết-quả kiểm-phiếu có thể bị huỷ bỏ. Rốt cuộc, Đán và Nguyễn Trân (cũng là đối-lập) đắc-cử nhưng bị loại bỏ.
- Bắt đầu từ đầu năm 1959, trong lúc Cộng-Sản gia-tăng hoạt-động khắp nơi, nhứt là đồng-bằng sông Cửu Long, Cà Mau và vùng biên giới Cam Bốt, thì Ngô Đình Nhu giảm-thiểu số đồn bót, bỏ ngỏ một phần lớn xã thôn cho Cộng sản. Dân-Vệ phải nạp vũ-khí tốt để nhận vũ-khí thô-sơ và dao găm, không đủ khả-năng tự-vệ cho chính họ, nói chi bảo-vệ dân-chúng.
- Hai đại-đội của Sư-Đoàn 23 bị Tiểu-Đoàn 2 Giải-Phóng phục-kích thiệt-hại nặng ở Đồng Tháp Mười. 
- Một tiểu-đoàn của VC đánh chiếm Đầm Dơi ở Cà Mau.
Tổng-Thống Diệm gặp khó-khăn dồn-dập đối với các tướng trong quân-đội của mình, các thành-viên cao-cấp trong nội-các của mình, các lãnh-tụ đối-lập trong dân-chúng, đồng-minh Hoa Kỳ, kẻ thù cộng-sản, lẫn dân-chúng Việt-Nam.

Trong năm 1960:
■ Về phía cộng-sản:
- Hồ Chí Minh ký Sắc Lệnh số 1/SL ban-hành Hiến Pháp mới.
- Ngày 17/2/60, Ban Bí-Thư Đảng Lao-Động Việt-Nam ra chỉ-thị đẩy mạnh công-tác chống bọn “phản cách-mạng” (gồm có “Mỹ+Ngụy” Miền Nam).  
- Ngày 5/4/60, Quốc-Hội Bắc Việt thông-qua luật nghĩa-vụ quân-sự (tăng-cường quân-số để đưa vào Nam).  
- Ngày 8/5/60, CS Bắc Việt bầu-cử Quốc-Hội Khoá II (quyết-định mới, cho tình-hình mới). 
- Tháng 8/60, Tổng Bí-Thư Liên-Xô Khruschev tiếp-kiến Hồ Chí Minh tại Yalta.
- Ngày 9/5/60, Thủ-Tướng Hoa-Cộng Chu Ân Lai qua thăm Bắc Việt (thắt chặt thêm tình hữu-nghị, nhất là viện-trợ cho VNDCCH).
- Ngày 5/9/60, Đảng Lao Động Việt Nam họp Đại Hội lần thứ III, mệnh-danh là Đại Hội Xây Dựng Xã Hội Chủ Nghĩa và Đấu Tranh Thực Hiện Thống Nhất Nước Nhà (giải-phóng Miền Nam bằng vũ-lực).
- Ngày 20/12/60, cộng-sản cho ra đời “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam”.

■ Về phía Hoa-Kỳ:
- Hội-Đồng Phối-Hợp Hành-Động của Mỹ soạn-thảo kế-hoạch mới, về Việt-Nam.  Kế-hoạch này nhằm dung-hoà dị-biệt giữa các Bộ trong liên-hệ với Việt-Nam.
 (Kế-hoạch mới, tức là có những đổi mới.  Xem phần cụ-thể dưới đây).

■ Về phía Việt-Nam Cộng-Hoà:
- Tổng-Thống Ngô Đình Diệm tiếp tân đầu năm, tỏ vẻ thân-thiết đặc-biệt với Đại-Sứ Pháp Roger Lalouette.  Ngày 9/1/60, Diệm gặp riêng Lalouette, câu chuyện kéo dài 2 giờ (Pháp muốn phá Mỹ, trung-gian hoà-giải giữa Ngô và Hồ).
 - Ngày 26/1/60, VC đột-kích Bộ Chỉ-Huy Trung-Đoàn 32 của Sư-Đoàn 21, ở Tây Ninh, gây cho 23 quân-nhân tử-thương và cướp đi hằng ngàn vũ-khí.  Tư-Lệnh Sư-Đoàn là Trung-Tá Trần Thanh Chiêu và Trung Đoàn Trưởng liên-hệ bị cách chức và giáng cấp, thêm đình thăng thưởng trong 5 năm.
- Đầu năm Canh Tý, nhật-báo Tự Do (mặc dù ấn-hành nhờ tiền Mật-Vụ của Nhu), số Xuân, đăng lên bìa trước một bức hoạ của hoạ-sĩ Phạm Tăng, vẽ 6 con chuột đang gậm nhấm trái dưa hấu Việt-Nam (ám chỉ gia-đình họ Ngô: Diệm, Thục, Nhu, bà Nhu, Cẩn, Luyện).

Hình bìa Tạp chí Tự Do “Xuân Xanh Tý”
vẽ 6 con chuột (ám chỉ gia-đình họ Ngô: Diệm, Thục, Nhu, bà Nhu, Cẩn, Luyện)
đang gậm nhấm trái dưa hấu (ám chỉ miền Nam). 
- Ngày 29/1/60, VC xâm-chiếm Đồng Xoài, ở Bình Long, và cướp của của một chủ đồn-điền Pháp.
- Tháng 2/60, Ngô Đình Nhu ra lệnh Cảnh-Sát, Hiến-Binh và An-Ninh Quân-Đội trừng-trị những người chủ-trương nhật-báo Tự Do; toà soạn bị đập phá, nhân-viên bị lùng bắt.
- Ngày 8/2/60, Lalouette báo-cáo về Pháp nội-tình Miền Nam Việt-Nam.
- Ngày 24/2/60, Wolf Ladejinsky, Cố-Vấn cho Diệm về Cải-Cách Điền-Địa, thảo-luận với Nguyễn Ngọc Thơ, Lê Văn Đồng và Võ Văn Hải (Bí-Thư riêng của TT Diệm), bày tỏ quan tâm về sự suy-thoái an-ninh, hoạt-động ám-muội của Đảng Cần Lao, nạn tham-nhũng trong giới lãnh-đạo cao-cấp của đảng này (thí-dụ vụTrần Quốc Bửu với công-ty Sterling Oil), lòng bất-mãn của nông-dân, những thất-bại mới đây của quân-đội, tình-trạng bất-mãn trong hàng-ngũ sĩ-quan, và ý muốn loại bỏ Nhu.
- Ngày 24/2/60, Lalouette báo-cáo về tình-hình Miền Nam.
- Ngày 5/4/60, Khmer chiếm hai đảo phía bắc quần-đảo Les Pirates ở Cà Mau.
- Ngày 6/4/60, Đại-Sứ Mỹ Durbrow trực-tiếp than phiền với TT Diệm, vào ngày 6/4, về sự lộng-hành của Đảng Cần-Lao.
- Ngày 8/4/60, Lalouette báo-cáo về Đảng Cần Lao.
- Ngày 9/4/60, Cố-Vấn Parsons nêu lên với Bộ-Trưởng Thuần các vấn-đề tham nhũng và liên-hệ giữa chính-phủ Diệm với dân-chúng.
- Ngày 13/4/60, Đại-Sứ Durbrow gặp Trần Trung Dung, Phụ-Tá Quốc-Phòng, thắc-mắc về lời phát-biểu của Chánh Văn Phòng của Dung.  Theo Dung, kẻ kia là đảng-viên Cần Lao, tay chân của Cẩn, có thể được gài vào Bộ Quốc-Phòng để phá Nhu và Thuần.
 - Ngày 19/4/60, Tổng-Thống Diệm xin Mỹ cho tướng Edward Lansdale, nguyên là "cột trụ chống đỡ" của mình từ những ngày đầu, trở lại Việt-Nam giúp mình, nhưng bị Durbrow phản-đối; hiềm-khích cá-nhân giữa hai người này gia-tăng.
- Ngày 21/4/60, Thuần xin gặp Durbrow về vụ hãng đường Hiệp Hoà.
- Ngày Lễ Hai Bà Trưng (mồng 6 tháng 2 âm-lịch= 3/3/60), Lê Xuân Nhuận, người vốn tích-cực ủng-hộ Ngô Đình Diệm (một mình chống lại tập-đoàn Nguyễn Văn Hinh & Trương Văn Xương của Quân-Đội Quốc-Gia tại Đệ Nhị Quân Khu) từ những ngày đầu Diệm gặp khó-khăn lúc mới về nước, đã đứng lên trong lớp học-tập “chính-trị và công-dân giáo-dục” tại cơ-quan Cảnh-Sát Huế, tố-cáo các sai-trái của chế-độ Diệm (xem thêm) Biến-cố này xảy ra trước cả chuỗi những biến-cố khác.
- Ngày 26/4/60, 18 nhân-vật tên tuổi họp báo ở khách-sạn Caravelle, Saigon, ra kháng-thư phản-đối chế-độ độc-tài của Diệm.  Đó là các ông: Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, Trần Văn Đỗ, Trần Văn Văn, Trần Văn Lý, Lê Quang Luật, Nguyễn Lưu Viên, Trần Văn Tuyên, Huỳnh Kim Hữu, Nguyễn Tiến Hỉ,  Lê Ngọc Chấn, Lương Trọng Tường, Nguyễn Tăng Nguyên, Phạm Hữu Chương, Tạ Chương Phùng, Trần Lê Chất, Hồ Văn Vui (trong đó có đến 11 Tổng-Trưởng, Bộ-Trưởng cuả chính Đệ-Nhất Cộng-Hoà).
Ngày 30/4/1960, Phan Khắc Sửu và Trần Văn Văn họp báo, phân-phối bản kháng-thư ký ngày 26/4/60.
Nguyên bản tiếng Việt của “Tuyên Ngôn Caravelle” ngày 26-4-1960
(Hình của kỹ sư Trần Văn Tòng, trưởng nam của ông Trần Văn Văn,
một trong 18 người khởi xướng Tuyên Ngôn)
- Ngày 30/4/60, Trưởng Phái-Bộ MSU, Wesley Fishel, viết thư cho Diệm, cho biết là Trần Văn Chương (Đại-Sứ VNCH tại Mỹ) chống-đối Diệm, và Nguyễn Phú Đức (Đệ-Nhất Thư-Ký của Toà Đại-Sứ ấy) đã khiến cho Diệm mất dần những người bạn Mỹ.  Dư-luận ở Mỹ chú ý kháng-thư của Nhóm Caravelle.
- Ngày 3/5/60, Durbrow thấy đã đến lúc “thêm răng cho lời thuyết-phục” - nói thẳng với Diệm, về các vấn-đề: nạn tham-nhũng, sự lộng-hành của Đảng Cần-Lao, chuyện không tận-dụng tài-lực trong công-cuộc chống Cộng, việc nên ngưng khiêu-khích và thù-hận với Miên.  Nếu Diệm không thay-đổi, sẽ tạm ngưng gia-tăng viện-trợ.
- Ngày 9/5/60, Ladejinsky báo-cáo với Durbrow:  Diệm không coi trọng tuyên-cáo của nhóm Caravelle, không chịu hoà-hoãn với Miên.  Nguyễn Ngọc Thơ và Lê Văn Đồng lo ngại Diệm mất dần lòng dân.
- Ngày 9/5/60, Bộ Ngoại-Giao Hoa-Kỳ đồng-ý cho Đại-Sứ Durbrow cảnh-cáo Diệm về các tệ-nạn.
- Ngày 9/5/60, Phan Quang Đán và các chính-hữu gửi Thư Ngỏ cho Ngô Đình Diệm.
- Ngày 13/5/60, Durbrow gặp Diệm, nói về Cần Lao và liên-hệ với Miên.  Diệm bảo Cần Lao chỉ chống tham-nhũng, chứ không tham-nhũng.
- Ngày 28/5/60, VC tấn-công quận-lỵ Đức Hoà ở Gia-Định.
- Ngày 22/6/60, VC chạm súng với Biệt-Động-Quân tại Đức Huệ ở Long An.
- Ngày 6/7/60, VC xúi dân nổi dậy tại quận Mõ Cày ở Kiến Hoà.
- Ngày 11/7/60, Ladejinsky nói chuyện về Diệm với các Trưởng Sở Việt-Miên-Lào của Nha Hợp-Tác Quốc-Tế:  Diệm quá tự-kiệu tự-đại, ngày một xa rời đám đông, công-khai che-chở Cần-Lao và các thân-thuộc.  Người thay-thế Diệm có thể là Thơ.  Mỹ cần cứng-rắn với Diệm.  Diệm chẳng còn nơi nương-tựa.
- Ngày 1/8/60, Phan Khắc Sửu (Mặt Trận Quốc-Gia Đoàn-Kết) và một số nhân-sĩ yêu-cầu Diệm chấm dứt quốc-sách Khu Trù Mật.
- Ngày 20/8/60, VC tràn ngập quận-lỵ Hiệp Đức, rồi phục-kích đả-viện, ở Quảng-Nam.
- Ngày 22/8/60, Đại-Sứ Lalouette báo-cáo tình-hình chính-trị Miền Nam ngày càng suy-thoái.
- Ngày 23/8/60, theo bản Ước-Lượng Tình-Báo của Mỹ tại Washington DC thì sự chống-Diệm ngày càng gia-tăng, hoạt-động cộng-sản cũng ngày càng tăng.
- Ngày 5/9/60, Durbrow báo-cáo tình-hình an-ninh ngày càng suy-thoái:  bất-mãn trong mọi giới, đặc-biệt trong quân-đội và trong cộng-đồng giáo-dân Ky-Tô-Giáo di-cư.  Giáo-dân dự-định biểu-tình vào ngày 19/8 (nhưng bị ngăn chận).  (Dương Văn Minh tuyên-bố: giết được 1 tên VC thì chúng tăng-cường 10 tên).
- Ngày 16/9/60, Durbrow sợ rằng đảo-chính sẽ xảy ra: bất-mãn trong mọi tầng-lớp dân-chúng; người dân tin vào dư-luận về vợ chồng Nhu; nên gửi Nhu làm đại-sứ đâu đó, cũng như Trần Kim Tuyến.
- Ngày 21/9/60, Hội-Đồng An-Ninh Quốc-Gia Hoa-Kỳ họp phiên thứ 460, quyết-định Diệm phải mở rộng chính-phủ.
- Ngày 23/9/60, Loyd Musolf, Trưởng Đoàn Chuyên-Viên MSU, báo-cáo: tình-hình Việt-Nam ngày càng tồi-tệ.  Mỗi tháng có khoảng 5,000 tù-nhân chính-trị bị bắt.
- Ngày 6/10/60, Phan Quang Đán lại gửi thư ngỏ cho Diệm.
- Ngày 7/10/60, XLTV Ngoại-Trưởng Mỹ, Clarence Dillon, chỉ thị Durbrow khéo léo khuyên Diệm đưa Nhu đi làm đại-sứ.
- Ngày 14/10/60, Durbrow trao Diệm văn-thư yêu-cầu thi-hành một chính-sách cởi-mở hơn, và tuyên-bố đổi mới trong bài diễn-văn nhân Ngày Quốc-Khánh 26/10 sắp tới.
- Ngày 21/10/60, VC tấn-công hàng loạt tiền đồn VNCH tại Dakpek, Daksut và Dakse ở Kontum. Quận lỵ Toumorong bị CSVN chiếm giữ nhiều ngày.      
- Ngày 24/10/60, Lalouette lại báo-cáo tình-hình Miền Nam tồi-tệ.
- Ngày 28/10/60, VC lại tấn-công vào công-trường xây đường Kontum‒Quảng-Ngãi.
- Ngày 11/11/60, Đại-Tá Nguyễn Chánh Thi, Chỉ Huy Trưởng Nhảy Dù, làm đảo chính:  Tham-dự có các Trung-Tá Nguyễn Triệu Hồng và Vương Văn Đông, các Thiếu-Tá Phan Trọng Chinh và Phạm Văn Liễu.  03g30 Lực-lượng nòng-cốt gồm 4 tiểu-đoàn Dù và Liên-Đoàn Biệt-Động-Quân của Thiếu-Tá Lữ Đình Sơn, dưới quyền Thiếu-Tá Chinh đóng tại vườn Tao Đàn.  Đại-Uý Phan Lạc Tuyên, một nhà thơ, cùng tham-dự.  Ngoài ra, còn có một tiểu-đoàn Thuỷ-Quân Lục-Chiến do Đại-Uý Nguyễn Kiên Hùng chỉ-huy.  Lúc 12g, phe đảo-chính chiếm Đài Phát-Thanh Quốc-Gia, công-bố danh-sách Uỷ-Ban Cách-Mạng, có các tướng Phạm Xuân Chiểu và Lê Văn Kim.  Hoàng Cơ Thuỵ (luật-sư) và Phan Quang Đán (lãnh-tụ Tự Do Dân Chủ) lên đài phát-thanh, ra thời-hạn choDiệm phải đầu hàng trước 14g.  Thương-thuyết tiếp-tục.  Durbrow góp ý là hai bên nên hoà-giải, nhấn mạnh là tránh nội-chiến, và cho biết không thể đưa Thủy-Quân Lục-Chiến Mỹ vào như Diệm yêu-cầu. 
Dân chúng thủ đô Sài Gòn xuống đường ủng hộ cuộc đảo chính
11-11-1960 của Binh chủng Nhảy Dù và  các đảng phái chính trị
chống lại “Chế độ Gia đình trị Ngô Đình Diệm”
Nhu muốn Durbrow can-thiệp để phe cách-mạng đồng ý giữ Diệm làm Tổng Thống.  Durbrow nói rằng Mỹ muốn phe Cách-Mạng vẫn giữ Diệm làm Tổng-Thống, và duy-trì đoàn-kết để chống Cộng, nhưng không muốn can-thiệp vào nội-tình Việt-Nam, để hai phe tự dàn-xếp với nhau. 20g30 Đài Saigon phát-thanh mỗi 15 phút; một thông-báo của Tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham-Mưu-Trưởng, cho biết Diệm đã ký giấy-tờ chuyển-giao chính-quyền cho Tỵ và 18 người khác.  Ba nhân-vật quan-trọng của chế-độ đều vắng mặt: Tướng Nguyễn Văn Là, Tổng-Giám-Đốc Cảnh-Sát Công-An (đi trốn), Trần Kim Tuyến, Giám-Đốc Sở Nghiên-Cứu Chính-Trị (đến trưa ngày 12 mới ra mặt), các Trung-Tá Lê Quang Tung, Tư-Lệnh Lực-Lượng Đặc-Biệt, và Nguyễn Văn Châu, Giám-Đốc Nha Chiến-Tranh Tâm-Lý (trốn vào nhà thờ cho đến chiều ngày 11).  Phe thân Diệm:  Nguyễn Đình Thuần, Bộ-Trưởng Phủ Tổng-Thống kiêm Quốc-Phòng, liên-lạc với Đại-Sứ Durbrow.  Tướng Raymond Nguyễn Khánh leo qua cổng hậu vào Dinh Độc-Lập.  Võ Văn Hải, Chánh Văn-Phòng của Diệm, ra ngoài vòng thành trực-tiếp thương-thuyết với nhóm Vương Quang Đông.
- Ngày 12/11/60, 06g20 Đài phát-thanh Saigon phát hiệu-triệu của Diệm gửi đồng-bào, tuyên-bố giải-tán chính-phủ, kêu gọi các tướng chỉ-huy quân-đội thành-lập một chính-phủ lâm-thời.  Trong khi chờ-đợi, Diệm sẽ hợp-tác với Uỷ-Ban Cách-Mạng để thành-lập một chính-phủ liên-hiệp.  Diệm cũng cho lệnh ngưng bắn để tránh đổ máu.  Thuần báo cho tướng Lionel McGarr, Tư-Lệnh MAAG, là một chính-phủ quân-nhân, với Diệm làm Tổng-Thống, đã được thành-lập.  07g00 Đại-Sứ Durbrow báo tin hai phe đã đạt thoả-ước: 1/ Diệm làm Tổng-Thống (không có thực-quyền).  2/ Tướng Lê Văn Tỵ làm Thủ-Tướng một chính-phủ quân-sự. Đông nói là các tướng Mai Hũu Xuân, Phạm Xuân Chiểu (Tham-Mưu-Trưởng Liên-Quan), Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, đã được chọn vào chính-phủ.  3/ Hội-Đồng Cách-Mạng sẽ được duy-trì, gồm có: Nguyễn Chánh Thi, Vương Quang Đông, Nguyễn Huy Lợi, và Hoàng Cơ Thụy (Ki-Tô-Giáo).
Đông yêu-cầu chính-phủ Mỹ ra tuyên-cáo yểm-trợ tân-chính-phủ; Durbrow xin Bộ Ngoại-Giao duyệt-xét bản thông-cáo.  Bộ Ngoại-Giao Mỹ đồng ý, chỉ sửa vài chữ và chờ Durbrow xác-nhận lại trước khi phổ-biến cho báo-chí Mỹ, thì tình-hình thay đổi.
08g30 Nguyễn Khánh từ Dinh Độc-Lập thuyết-phục các tướng đứng ngoài hãy nhập cuộc để ổn-định tình-thế, ra lệnh cho lực-lượng Dù của Nguyễn Chánh Thidi-chuyển về Bộ Tổng Tham-Mưu, và ngưng bắn; nhưng các đơn-vị của Sư-Đoàn 5 của Trần Thiện Khiêm từ Mỹ Tho thì tăng-cường cho lực-lượng trung-thành với Diệm tại Saigon, đánh lại phe đảo-chính.
18g Diệm đọc diễn-văn trên Đài Saigon, tuyên-bố là đã ra lệnh Quân-Đội Cộng-Hoà thanh-toán lực-lượng phản-loạn, hứa sẽ tiếp-tục phục-vụ đất nước và dân-tộc theo đường lối Cộng-Hoà và Nhân-Vị.
Trong ngày, các cơ-quan an-ninh của Dỉệm âm-thầm bắt giữ các chính-khách đối-lập, như Trần Văn Hương, v.v...
- Ngày 13/11/60 Đại-Uý Phan Phụng Tiên, Trưởng Phi-Đoàn 1 Vận-Tải, lái C-47 bay qua Nam Vang (Cao Miên) chở theo 15 nhân-vật cầm đầu cuộc đảo-chính (trong đó có Đại-Tá Nguyễn Chánh Thi, Trung-Tá Vương Quang Đông, Thiếu-Tá Phạm Văn Liễu, v.v...).  Phan Lạc Tuyên thì dùng xe Jeep vượt biên qua theo. 
       
Tóm lại, Tổng-Thống Diệm đã nhượng-bộ, đồng ý giải-tán chính-phủ để thành-lập một chính-phủ liên-hiệp với các tướng, nhưng chỉ trì-hoãn để chờ phản-công lại phe đảo-chính.  
Đó là kinh-nghiệm cho phe Cách-Mạng 1/11/1963 sau này.

- Ngày 25/11/60, Lalouette báo-cáo, đại-ý từ ngày cầm quyền, Diệm đáng lẽ phải tạo nên màng lưới liên-hệ ngoại-giao; cuộc đảo-chính này gây sự mất mặt cho Diệm ở trên phương-vị quốc-trưởng.  Trong hai ngày 11 và 12 báo-chí quốc-tế hầu như đồng-thanh đã nói nhiều về sự yếu-kém và sai-lầm của chế-độ Diệm. Nhật-Bản ngần-ngại trong việc bồi-thường chiến-tranh, kế-hoạch xây đập thuỷ-điện Đa Nhim.  Các quốc-gia viện-trợ cho Diệm, đặc-biệt là Đức, tự đặt vấn-đề. Bộ Ngoại-Giao Mỹ chúc mừng Diệm thoát cơ nguy nhưng đã nhắc Diệm phải đặt quyền-lực trên những căn-bản rộng-rãi hơn, thực-hiện những cải-cách cấp-tiến, hành-động nghiêm-khắc đối với tệ-nạn tham-nhũng.  Bắc Việt tưởng bở, nhưng phe đảo-chính có lập-trường chống Cộng, nên giữ im-lặng.
- Ngày 4/12/60 Đại-Sứ Durbrow nhận-định là dân-chúng ngày càng bất-bình Diệm vì thiếu khả-năng chống Cộng và dùng chính-sách bàn tay sắt với các nhóm đối-lập.  Nếu Diệm không thay đổi, có lẽ phải nghiên-cứu việc thay-đổi lãnh-đạo trong một tương-lai không xa.
- Ngày 9/12/60 Cơ-quan CIA báo-cáo về những nhân-vật có thể thay Diệm.
Ngày 14/12/60 Durbrow thuyết-phục Diệm cởi mở hơn nhưng Diệm vẫn bào-chữa cho chế-độ và vợ+chồng Nhu.
- Ngày 16/12/60 Bộ Ngoại-Giao Mỹ chỉ-thị Durbrow gặp Diệm, hỏi về những đề-nghị cải-cách đã trao cho Diệm từ ngày 14/10/60 (trao thêm quyền choQuốc-Hội và nới lỏng kiểm-duyệt báo-chí).
- Ngày 20/12/60 cộng-sản công-khai ra mặt: Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam chính-thức ra mắt (thành-lập từ ngày 12/12) tại chiến-khu Dương Minh Châu ở Tây Ninh.

Nguồn:
Nhiều đoạn trên đây được trích từ tác-phẩm “Việt-Nam Niên-Biểu - Tập I-C: 1955-1963” của Tiến-Sĩ Vũ Ngự Chiêu tức Chính Đạo do Văn Hoá ở Texas xuất-bản năm 2000.