Hiển thị các bài đăng có nhãn nguyễn quang dy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nguyễn quang dy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2021

 

CHIẾM NHÀ QUỐC HỘI VÀ GIỌT NƯỚC TRÀN LY

Nguyễn Quang Dy

Ngày 6/1/2021 sẽ đi vào lịch sử khi hàng ngàn người ủng hộ Trump quá khích xông vào Nhà Quốc Hội gây bạo loạn. Nếu Nhà Quốc Hội (Capitol), Tượng đài Washington (Monument) và Bảo tàng Lincoln (Memorial) ở Washington D.C. là biểu tượng của nền dân chủ Mỹ thì vụ tấn công vào Capitol là lần đầu tiên đánh thẳng vào nền dân chủ Mỹ. Joe Biden gọi đó là “khủng bố trong nước” (domestic terrorists), để so sánh với vụ máy bay khủng bố của Al Qaeda đánh sập Tháp Đôi (11/9/2001) của Trung tâm Thương mại ở New York.  

Cùng tắc biến

Người Mỹ phẫn nộ nhưng không ngạc nhiên khi bạo loạn xảy ra trên đường phố, như “Black Lives Matter” (BLM) gần đây. Nhưng họ thực sự sốc khi thấy Capitol bị tấn công, làm phó Tổng thống Mike Pence và các nghị sỹ đang họp phải trốn. Hình ảnh Capitol thất thủ không chỉ làm người Mỹ phẫn nộ mà còn làm nhiều nước lo ngại. Khi các nhà báo phỏng vấn những người quá khích đó, nhiều người không biết họ muốn gì, vẫn tưởng rằng nghe lời kêu gọi của Trump tấn công Capitol là “Làm Nước Mỹ Vĩ đại Trở lại” (MAGA).

Cảnh bạo loạn ở Capitol có thể làm người ta nhớ lại hình ảnh hồng vệ binh thời Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc, và làm nhiều người khác nhớ lại hình ảnh nước Cộng hòa Chuối (Banana Republic). Trong khi Trump mỵ dân bằng MAGA, ông đã làm xấu nước Mỹ bằng MADA (Make America Disgraced Again). Trump đã làm nước Mỹ ngày càng giống một nước Cộng hòa Chuối, và làm cho chính mình giống “Đại tá Trump”. Có người gọi Trump là “trùm kích động” (Inciter-In-Chief) cũng như “trùm nói dối” (Liar-in-Chief).  

Những người ủng hộ Trump quá khích xông vào Capitol có thể bị truy tố vì tội phá hoại, nhưng  họ chỉ là nạn nhân bị xúi giục. Cách đây bốn năm, Trump đã từng khoe “Tôi có thể đứng giữa Đại lộ số Năm và bắn ai đó, nhưng không mất phiếu”.  Chắc không có chính khách nào dám nói như vậy. Nhưng Không chỉ có Trump, mà một số nghị sỹ (như TNS Ted Cruz và TNS Josh Hawley) đã ủng hộ Trump và xúi giục họ phản đối Quốc Hội xác nhận kết quả bỏ phiếu, vì động cơ cá nhân của họ là gây quỹ và tìm cơ hội tranh cử năm 2024.

Giọt nước tràn ly

Trump đắc cử năm 2016 với ảo tưởng (delusion). Khi Trump thất cử năm 2020 ảo tưởng đó bị tổn thương, kích hoạt hội chứng ngạo mạn (nascissism) trở nên cực đoan. Trong khi đó, những người ủng hộ Trump bị mê hoặc bởi chủ nghĩa mị dân Trumpism, và thuyết âm mưu pha trộn tâm linh của Epoch Times, biến thành một thứ bùa mê như một loại cocktail. Họ ngộ nhận về Trump như một thánh nhân chứ không phải bệnh nhân (psychopath). Bùa mê đó lây lan như virus Corona, nên năm 2020, nước Mỹ mắc hai loại virus nguy hiểm.   

Năm 2016, Trump đắc cử nên chưa có cơ hội ăn vạ rằng “bầu cử gian lận” (fraud). Năm 2020, Trump thất cử nhưng không chấp nhận thất bại, tiếp tục đấu lý và ăn vạ rằng bầu cử gian lận, tuy các luật sư của Trump (như Rudy Giuliani) không đưa ra được bằng chứng nào trước tòa. Hai tháng đấu lý vô vọng và tốn kém (lương Giuliani $ 20.000/ngày), trong khi hình ảnh Rudy Giuliani và Sidney Powell ngày càng phản cảm. Trump không chỉ thất cử mà còn bị cô lập ngay trong đảng Cộng Hòa, vì ngạo mạn hành xử như “con bạc khát nước”.  

Trump kêu gọi người ủng hộ đến Capitol để ngăn cản Quốc Hội xác nhận kết quả kiểm phiếu, nhưng ảo tưởng của Trump trở thành “điểm bùng phát” (tipping point) làm “giọt nước tràn ly”.  Cuộc đối đầu thầm lặng (standoff) hai tháng qua đã kết thúc tại Capitol (như “anti-climax”),  phản ánh cuộc khủng hoảng chính trị và truyền thông. Tình trạng chia rẽ và phân hóa không chỉ diễn ra giữa hai đảng, mà còn trong nội bộ của đảng Cộng Hòa đã bị Trump thao túng, nay hàng loạt quan chức Nhà Trắng và Nội các đang từ chức (tuy quá muộn).

Bốn năm qua, tuy Trump làm được những điều mà các tổng thống khác chưa làm được là dám chống Trung Quốc, nhưng ông lại rút khỏi TPP, giúp Trung Quốc một cơ hội vàng. Gần đây, Trung Quốc đã ký được hiệp định thương mại RCEP với 10 nước ASEAN và bốn nước Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Tân Tây Lan) mà không có Mỹ và Ấn Độ. Tuy chính quyền Trump chống Trung Quốc mạnh hơn, nhưng làm suy yếu quan hệ đồng minh. Tuy bức tranh kinh tế tốt hơn, nhưng đại dịch Corona năm 2020 làm Mỹ phải trả giá quá đắt.

Lời cuối

Tuy buộc phải “lên án bạo lực và hứa sẽ chuyển giao quyền lực”, Trump khuyên người ủng hộ mình “về nhà” (go home, I love you!), trong khi Quốc Hội vận dụng Tu Chính án 25 để phế truất Trump (lần hai). Nếu Trump bắt chước Nixon từ chức để Mike Pence ân xá (trước 20/1), thì có thể thoát tội liên bang, nhưng khó thoát tội tiểu bang New York. Trump từng dọa Hillary Clinton (lock her up), nay đến lượt mình (lock him up). Tuy chưa điều tra vụ Capitol, nhưng Trump bị Facebook và tweeter khóa tài khoản vì “kích động bạo lực”.

Tuy còn quá sớm để biết Trump và những người liên quan có thoát tội hay không, nhưng chắc Trump sẽ không được hoan nghênh trong “câu lạc bộ các cựu thổng thống”. Hôm trước, Trump kêu gọi những người ủng hộ mình kéo đến Đại lộ số Năm và Nhà Quốc Hội, nhưng hôm sau Trump lên án bạo lực và “quay lưng lại với họ”. Tấn công vào Capitol là một vết đen cùng Trump đi vào lịch sử như một hiện tượng xấu xa của Trumpism. Đáng tiếc là có nhiều người Việt ủng hộ Trump, và treo lá cờ VNCH trên nóc nhà Quốc Hội Mỹ.   

Đây là sự thật chứ không phải đang xem vở kịch “Fawlty Towers”!

NQD. 09/01/2021

Nguồn: http://www.viet-studies.net/kinhte/NQuangDy_ChiemNhaQuocHoi.html

 

Thứ Tư, 19 tháng 7, 2017



NHỮNG NGHỊCH LÝ VÀ NGỘ NHẬN VỀ VIỆT NAM

Nguyễn Quang Dy


“Chúng ta không thể thay đổi được quá khứ, nhưng chúng ta có thể sắp xếp lại tương lai” “We cannot change the past, but we can reshape the future” (Dalai Lama)



Chiến tranh Viêt Nam đã đi vào lịch sử lâu rồi. Đã 42 năm kể từ khi cuộc chiến đó chấm dứt, nhưng người ta vẫn còn tranh luận về Chiến Tranh Việt Nam (hay còn gọi là cuộc “Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai”). Tại sao “bóng ma Việt Nam” đến giờ vẫn còn ám ảnh người Mỹ và người Việt, nhất là thế hệ những người đã trực tiếp dính líu vào Việt Nam, dù là quân nhân hay dân sự và nhà báo. Tại sao người ta vẫn tiếp tục viết sách và làm phim về Việt Nam? Phải chăng vì Chiến tranh Việt Nam có quá nhiều nghịch lý và ngộ nhận?

Hệ quả chiến tranh

Chiến tranh Việt Nam đã làm 58.000 người Mỹ và hàng triệu người Viêt (cả hai phía) bị thiệt mạng, và làm cho hai quốc gia bị tổn thất nặng nề và chia rẽ sâu sắc. Sau chiến tranh, hầu hết các trường hợp người Mỹ mất tích (MIA) đã được kiểm chứng, nhưng hàng vạn người Việt mất tích (cả hai phía) vẫn chưa được kiểm chứng. Ngay lúc này, tại khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, người ta vẫn đang tìm kiếm mộ tập thể của hàng trăm liệt sỹ thiệt mạng trong “Tết Mậu Thân” (1968) mà đến nay vẫn coi như “mất tích”. Người ta vẫn đang phải chi nhiều triệu USD để rà soát bom mìn và tẩy độc dioxin tại nhiều nơi ở Việt Nam.   
Ngoài 257 nhà báo quốc tế sống sót sau Chiến tranh Viêt Nam, tham gia câu lạc bộ “Vietnam Old Hacks”, 73 đồng nghiệp xấu số của họ bị mất tích trong chiến tranh, đến nay vẫn chưa được kiểm chứng. Sau nhiều năm tìm kiếm vô vọng, phóng viên ảnh Tim Page và thân hữu vẫn chưa chịu bỏ cuộc, tuy Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam vẫn chưa làm gì để giúp họ tìm kiếm. Trong khi những người Mỹ mất tích trong chiến tranh đã được kiểm chứng, tại sao các nhà báo quốc tế mất tích trong chiến tranh lại bị Mỹ và Việt Nam “bỏ quên”? Thật là bất công và bất nhẫn khi số phận người sống lẫn người chết vẫn chưa hóa giải.

Trong bộ phim tài liệu mới “The Vietnam War” (gồm 10 tập, dài 18 giờ, sẽ chiếu trên PBS từ 17/9/2017) Ken Burns và Lynn Novick đã chọn cựu binh Mỹ John Musgrave để nói lên một sự thật đau lòng (ngay từ đầu bộ phim): “Có lẽ chúng tôi là những đứa trẻ cuối cùng của một thế hệ tin rằng chính phủ của mình không bao giờ nói dối chúng tôi” (We were probably the last kids of any generation that actually believed our government would never lie to us). Câu nói đó chắc sẽ ám ảnh khán giả, và tiếp tục ám ảnh người Mỹ và Việt Nam.
Bộ phim “The Vietnam War” làm tôi nhớ lại một kỷ niệm vào năm 1985 khi chúng tôi đứng trên đỉnh đèo Hải Vân nhìn xuống bãi biển Non Nước (còn gọi là “China Beach”). Thomas Vallely (một cựu binh ở Massachusetts) đứng trước ống kính máy quay phim để làm một “stand-up” giữa trời nắng chang chang, đã phải lặp lại nhiều lần một câu nói làm tôi bị ám ảnh, nên đã thuộc đến tận bây giờ: “Hai mươi năm trước tôi đã đổ bộ vào Đà Nẵng khi còn là một thanh niên 19 tuổi. Chính tại Việt Nam tôi đã hiểu về cuộc chiến tranh, về bản thân, và về đất nước của mình… Chúng ta không nên đưa thanh niên vào chỗ chết, chỉ vì lòng tự hào của mấy ông già”. (Twenty years ago, I landed here in Da Nang as a nineteen years old. It was here in Vietnam that I had learned about the War, about myself and about my country… We should not be in the businees of sending young men to die for the old men’s pride).

Lịch sử thường lặp lại với nhiều nghịch lý. Nước Mỹ đã lặp lại một sai lầm mà tướng Omar Bradley đã từng cảnh báo (15/5/1951): Chiến tranh Việt Nam đã trở thành “một cuộc chiến sai lầm, tại một địa điểm sai, vào một thời điểm sai, và chống một kẻ thù sai” (The wrong war, in the wrong place, at the wrong time, and with the wrong enemy). Tại sao một chính quyền có nhiều người tài giỏi như vậy, mà vẫn mắc sai lầm?  Phải chăng là do “ngạo mạn về quyền lực”, nên họ đã ngộ nhận về “quyền năng tuyệt đối”? Phải chăng do cực đoan và tự phụ nên họ không chịu lắng nghe lời khuyên, mà còn lừa dối Quốc hội và Nhân dân.   

Tại sao Việt Nam

Năm 1990, tôi có dịp gặp ông Archimedes Patti tại Bangkok trong khi ông ấy chờ máy bay đi Việt Nam để dự kỷ niệm sinh nhật cụ Hồ. Ông đã ký tặng tôi cuốn sách “Tại sao Việt Nam” (“Why Vietnam: Prelude to America’s Albatross”, University of California Press, 1980) và kể lại nhiều kỷ niệm với cụ Hồ và OSS. Tuy ông Patti và cuốn sách đã đi vào lịch sử, nhưng câu hỏi Why Vietnam vẫn còn ám ảnh nhiều người Mỹ và người Việt Nam.
Khi tôi hỏi ông Patti là người Mỹ có đọc cuốn sách của ông không, ông buồn rầu trả lời là rất ít người đọc. Mãi sau này người ta mới đưa nó vào danh mục sách tham khảo của các trường đại học. Trong một lần trả lời phỏng vấn (1981), ông Patti nói:“Theo tôi, chiến tranh Viêt Nam là một sự lãng phí khồng lồ. Trước hết, nó không cần phải xảy ra. Hoàn toàn không. Không đáng tí nào cả. Trong suốt những năm chiến tranh Việt Nam, không ai đến gặp tôi để tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra năm 1945 hoặc 1944. Trong suốt những năm tôi làm việc ở Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại giao và Nhà Trắng, không một ai có quyền hành đến gặp tôi cả…”

Năm 1995, nhân kỷ niệm 20 năm kết thúc chiến tranh, ông Robert McNamara đã viêt cuốn sách “Hồi tưởng: Bi kịch và Bài học Việt Nam” (Robert McNamara, “In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam”, Vintage books, 1995). Cuối cùng ông McNamara đã thừa nhận sai lầm. Nhiều người đặt câu hỏi tại sao một người thông minh tài giỏi như vậy, phải mất tới 20 năm mới nhận ra hay thừa nhận sai lầm. Phải chăng nghịch lý quá khó để nhận ra, hay sai lầm quá lớn để thừa nhận? Trong khi sử gia Arthur Schlesinger khen ngợi ông McNamara là dũng cảm và chân thành thừa nhận sai lầm, thì nhiều người khác lại cho rằng ông McNamara thừa nhận sai lầm quá chậm trễ như vậy là thiếu tử tế (indecent). Những người trong cuộc phải hiểu cái giá của sự chậm trễ trước mỗi bước ngoặt của lịch sử. Theo Đại tá Andre Sauvageot, “Đáng lẽ Tổng thống Nixon phải rút quân khỏi Việt Nam sớm hơn…”

Năm 1997, ông H.R. McMaster đã viết cuốn “Bỏ rơi Nhiệm vụ” (H.R. McMaster, “Dereliction of Duty: Lyndon Johnson, Robert McNamara, the Joint Chiefs, and the Lies that led to the War”, Harper, 1997). Đó là nhận xét thẳng thắn của một sỹ quan dũng cảm dám nói ra sự thật, dù là sự thật đau lòng. Chắc lúc đó ông McMaster không biết rằng sau này mình sẽ trở thành Chủ tịch Hội đồng An Ninh Quốc gia. Liệu ông có thể làm gì để sửa chữa sai lầm khi có cơ hội, vì sau Việt Nam, Chính quyền Mỹ tiếp tục nói dối và mắc sai lầm tại Iraq.
Trong cuốn sách đó, McMaster đã nói rõ không chỉ có Chính quyền Johnson lừa dối Quốc Hội trong sự kiện Vịnh Bắc Bộ, mà các tướng lĩnh cầm đầu cũng tham gia sự “đồng thuận dối trá” (Contriving consensus). Tướng Earle Wheeler và các tham mưu trưởng liên quân, được gọi là “năm người đàn ông im lặng” (five silent men) đã giúp Tổng thống lừa dối Quốc Hội, leo thang chiến tranh tại Việt Nam, bằng gia tăng ném bom và tăng quân để gây sức ép (graduated pressure). McMaster gọi đó là “bãi lầy dối trá” (quicksand of lies).

Nhà báo Peter Arnett (CNN) gọi đó là“sự bất tài, dối trá, và ngạo mạn của những quan chức Mỹ cao cấp nhất” (the ineptness, duplicity and arrogance among the most senior officials of the US). Còn nhà báo Joe Galloway (US News & World Reports) đã nhận xét:“Những người có quyền lực và trách nhiệm đã gây ra thảm họa chiến tranh và để lại dấu vết khắp nơi…McMaster đã làm sáng tỏ hơn và biết rõ hơn về ‘những người tài giỏi và thông minh nhất’ đã dùng dối trá và bí mật để che đậy cho họ như thế nào, nhằm khuynh đảo và thao túng đất nước này, xô đẩy Mỹ trượt theo con đường chiến tranh và thất bại cay đắng” (men of power and responsibility caused that disastrous war and left their fingerprints all over it. He sheds fresh light and understanding on how ‘the best and the brightest’ shielded by lies and top secret, maneuvered and manipulated our country down the road to war and bitter defeat).  

Bất đồng chính kiến

Khác với Robert McNamara (cựu Bộ trưởng Quốc phòng) và McGeorge Bundy (cựu Cố vấn An ninh Quốc gia), George Ball (cựu Thứ trưởng Ngoại giao, 1961-1966) lúc đó đã nhận ra sai lầm và cố khuyên can Tổng thống Kennedy và Johnson đừng can thiệp vào Việt Nam: “Tôi nhìn thấy trước một cuộc phiêu lưu rất nguy hiểm…Chúng ta sẽ sa vào một cuộc xung đột kéo dài, còn nguy hiểm hơn cả Triều Tiên”. Trong số những nhân vật mà David Hamberstam gọi là the Best and the Brightest trong Chính quyền Kennedy, George Ball là thiểu số đơn độc giữa sự đồng thuận ngạo mạn và tự phụ về quyền lực. Tuy lập luận của George Ball rất thuyết phục, nhưng họ không buồn nghe, nên ông đã từ chức (năm 1966).   
    
George Ball là một nhân vật đóng vai phản biện (devil’s advocate) có uy tín trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ trong thập niên 1960. Ông đã cố thuyết phục Tổng thống Kennedy đừng gửi quân sang Việt Nam và đã cảnh báo từ rất sớm là cuối cùng Mỹ phải đưa tới đó hàng trăm ngàn quân: “Việt Nam như một cái vòng luẩn quẩn với những khe sâu và bãi lầy khó thoát” (Vietnamese detour with its deep ruts and treacherous quicksands). Ông dự đoán chiến tranh sẽ kéo dài, quân Mỹ sẽ mắc kẹt vào một cuộc chiến tranh trong rừng rậm, Trung Cộng sẽ can thiệp, sự ủng hộ của dân chúng Mỹ sẽ mất dần khi thương vong tăng lên, dư luận quốc tế sẽ phản đối chiến tranh, và cuối cùng Mỹ sẽ thất bại.
Ngay từ đầu thập niên 1960, George Ball đã nhấn mạnh giá trị của ngoại giao, và khuyến nghị “rút quân chiến thuật” để tránh thảm họa. Ông kêu gọi ngừng bắn, có ủy ban quốc tế giám sát, tiếp theo là bầu cử tại Miền Nam, cho Việt Cộng tham gia, tiến tới thống nhất Việt Nam. Ông khuyến nghị tìm kiếm một giải pháp ngoại giao, vì nếu thiếu thì Mỹ sẽ khó tránh được thảm họa, dẫn tới thất bại nhục nhã. Lịch sử đã chứng minh George Ball có tầm nhìn sáng suốt, tuy lúc đầu ông không phản đối quyết liệt. Chính ông George Ball và TNS William Fulbright đã ủng hộ “Nghị quyết vịnh Bắc Bộ” (mà George Ball cùng soạn thảo).

Nhưng có lẽ chính họ cũng đã bị lừa dối. Sau đó, George Ball ngày càng bất đồng chính kiến, với những khuyến nghị ngày càng quyết liệt. TNS Fulbright đã viết cuốn “Sự Ngạo mạn của Quyền lực” (William Fulbright, “The Arrogance of Power”, Random House, 1966). Ông cho rằng khi “quyền lực bị lẫn lộn với đạo đức thì nó thường bị ngộ ngận là quyền năng tuyệt đối” (omnipotence). Ông lập luận “trong một nền dân chủ, bất đồng chính kiến là từ lòng tin, giống như tin vào thuốc chữa bệnh, mà giá trị của nó không phải vị đắng ta nếm, mà là công hiệu của thuốc”. Không phải chỉ có George Ball và William Fulbright bất đồng chính kiến, mà còn một số người khác như TNS Earnest Gruening và TNS Wayne Morse, là hai người dũng cảm trong Thượng viện đã bỏ phiếu chống “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ” (1964). Sau TNS Fulbright, TNS Gruening đã viết cuốn Vietnam Folly, làm thay đổi nhận thức nhiều người Mỹ về Chiến tranh  Việt Nam (Earnest Gruening, “Vietnam Folly”, National Press, 1968).  

Sự kiện Vịnh Bắc Bộ

Ngày 2/8/1964, ba tàu phóng ngư lôi của Bắc Việt Nam đã tấn công tàu khu trục USS Maddox trong vịnh Bắc Bộ (cuộc “tấn công lần thứ nhất”). Hai ngày sau (4/8/1964) tàu USS Maddox và USS Tuner Joy tiếp tục tuần tra trinh sát tại vịnh Bắc Bộ. Trong đêm tối mịt mù, sóng to gió lớn làm mất tầm nhìn, thủy thủ hai tàu phát hiện trên màn hình radar những đốm sáng và hơn 20 vật thể di chuyển giống ngư lôi của đối phương, nên tàu phải tăng tốc để tránh, thả thủy lôi và bắn trả 650 quả pháo xuống biển (tưởng là cuộc “tấn công lần thứ hai”).
Nhưng sau đó, họ không tìm thấy dấu vết ngư lôi hay tàu của đối phương bị phá hủy hay tháo chạy trước hỏa lực cực mạnh của hai tàu Mỹ. Trong vòng mấy giờ sau đó, thuyền trưởng tàu USS Maddox John Herrick đã gửi điện khẩn về Honolulu báo cáo không phát hiện thấy địch bằng mắt thường, và báo động bị địch tấn công bằng ngư lôi có thể là do thời tiết xấu và phản ứng hồ đồ của các kỹ sư sonar. Ông khuyến nghị “cần đánh giá lại toàn bộ trước khi có hành động tiếp theo” (complete evaluation before any further action taken). Nhưng Bộ trưởng Quốc phòng McNamara đã lập tức khuyến nghị ném bom Bắc Việt Nam, và Tổng thống Johnson đã nghe lời khuyên của McNamara, vội vã tuyên bố Mỹ bị “tấn công vô cớ” (unprovoked attack) trên hải phận quốc tế. Ba ngày sau, hai viện Quốc Hội thông qua “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ” cho phép Tổng thống toàn quyền hành động, triển khai quân đội Mỹ tại Đông Nam Á. Đó là bước ngoặt để Chính quyền Johnson quyết định leo thang chiến tranh.

Năm 2003, trong bộ phim tài liệu “Sương mù Chiến tranh” (Fog of War) ông McNamara đã thừa nhận “không có cuộc tấn công lần thứ hai, ngày 4/8/1964”. Tổng thống Johnson cũng nói “Theo tôi biết, hải quân của chúng ta đã bắn cá voi ở đó” (For all I know, our navy was shooting at whales out there). Phi công James Stockdale, lúc đó đang lái máy bay hải quân F-8 Crusader bay trên vùng “có chiến sự” đã báo cáo về như sau: “Tôi đang ngồi ở vị trí tốt nhất để quan sát “các tàu khu trục của chúng ta đang bắn vào các mục tiêu bóng ma…Chẳng có cái gì ở đó ngoài nước biển tối đen và hỏa lực của Mỹ” (our destroyers were shooting at phantom targets ... There was nothing there but black water and American firepower).

Năm 2005, Cục An ninh Quốc gia (NSA) đã giải mật nhiều tài liệu bao gồm các bức điện trao đổi xung quanh “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, nên các sử gia có cơ sở để kết luận là “không có cuộc tấn công lần thứ hai” (ngày 4/8/1964). Sử gia Edwin Moise tin rằng do thời tiết xấu, các đàn cá bơi gần mặt nước, hoặc sự cố cảm biến của radar đã làm các kỹ sư sonar hiểu lầm các tín hiệu trên màn hình. Biển cả đầy rẫy các hiện tượng lạ mà thủy thủ có thể hiểu lầm là mối đe dọa.  Các nhà khoa học đã nghiên cứu và chứng minh thủ phạm trong “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” là một loài cá họ mực có tên là pyrosomes, thường đi ăn ban đêm hàng đàn gần mặt nước, với đội hình trông giống quả ngư lôi, tuy tốc độ di chuyển chậm hơn, nhưng cũng phát sáng và tạo vệt sóng, nên hình ảnh trên màn hình radar trông giống ngư lôi.

Giáo sư Todd Newberry (University of California, Santa Cruz) cho rằng hình ảnh và tập quán di chuyển của loài cá pyrosomes khớp với sự cố Vịnh Bắc Bộ. Newberry cho biết vào mùa hè 1966 ông đã gặp một kỹ sư sonar của tàu USS Turner Joy tại Monterey Bay. Anh ta kể lại sự cố đêm hôm đó với ông Newberry (một giáo sư sinh vật biển). Theo lời anh ta, trên màn hình radar của tàu USS Turner Joy xuất hiện những vật thể trông giống như ngư lôi, nhưng cách nó di chuyển không giống những quả ngư lôi mà từ trước tới nay anh ta đã thấy. Câu chuyện của Newberry về loài cá pyrosomes phát sáng là một ví dụ về những ngộ nhận cực đoan của con người về thế giới tự nhiên đa dạng, nhưng có thể làm thay đổi cục diện chiến tranh.
Thực ra hơn nửa thế kỷ qua, các nhà hải dương học đã nghiên cứu và kể lại nhiều mẩu chuyện về loài cá pyrosomes trong các bài giảng ở trường đại học, nhưng ít người để ý (ví dụ trong sự cố Vịnh Bắc Bộ). Trong bộ phim the Fog of War, ông McNamara nói “Chiến tranh quá phức tạp để đầu óc con người có thể hiểu được tất cả các biến số. Nhận định và hiểu biết của chúng ta không đủ, và chúng ta giết người một cách không cần thiết” (War is so complex it’s beyond the ability of the human mind to comprehend all the variables. Our judgment, our understanding, are not adequate. And we kill people unnecessarily).

Bóng ma Việt Nam và Iraq 

Sau Việt Nam, người ta tưởng Mỹ sẽ không bao giờ mắc lại sai lầm nữa. Nhưng Iraq đã làm sống lại bóng ma Việt Nam. Chính quyền Bush đã mắc lại sai lầm cũ, làm mất lòng dân, không chỉ người Mỹ mà còn nhiều dân tộc khác trên thế giới. Tuy Mỹ chống chủ nghĩa khủng bố là đúng, nhưng đã sai khi ngộ nhận và ngạo mạn về quyền lực. Mỹ đã sai khi Washington đi theo chủ nghĩa đơn phương (unilateralism), chỉ dựa vào sức mạnh cứng (hard power) mà quên mất sức mạnh mềm (soft power) làm vũ khí chống khủng bố. Mỹ đã sai lầm khi Chính quyền Bush đã nói dối Quốc hội và nhân dân Mỹ về lý do tấn công Iraq.    

Hình như người ta không chịu học bài học Việt Nam: Bắt đầu một cuộc chiến mà không có tầm nhìn rõ ràng, không biết giới hạn của quyền lực, nên cuối cùng không thắng được và không thu phục được lòng dân địa phương. Iraq một lần nữa lại chia rẽ nước Mỹ khi chiến tranh kéo dài với tổn thất quá lớn, nhưng không có lối thoát. Có thể nói, bóng ma Việt Nam được phục sinh bởi Iraq, và lịch sử đã lặp lại một lần nữa. Mỹ lại đứng trước thế “tiến thoái lưỡng nan” (như Catch-22): hoặc mất Iraq hoặc phải “Iraq hóa” chiến tranh để Mỹ có thể rút quân nhằm tránh những rắc rối lớn hơn trong nước. Đó không chỉ là thất bại của bộ máy chiến tranh với “sự ngạo mạn của quyền lực”, mà còn là thất bại của một triết lý chiến tranh dược dẫn dắt bởi một tầm nhìn thiển cận, dựa trên chủ nghĩa đơn phương và sức mạnh cứng.
Bài học Việt Nam là một trường hợp điển hình về sức mạnh cứng được sử dụng tối đa, nhưng cuối cùng vẫn thất bại. Ông McNamara đã mất hơn 2 thập kỷ mới nhận ra sai lầm chết người đã xô đẩy nước Mỹ vào một cuộc chiến tàn khốc, không chỉ đem lại thương vong và tổn thất to lớn cho nước Mỹ, mà còn tàn phá Việt Nam “trở về thời kỳ đồ đá” (lời tướng Curtis LeMay), khó tái thiết sau chiến tranh. Kết cục cả Mỹ và Việt Nam đều bị tổn thương và chia rẽ nghiêm trọng, cả về vật chất lẫn tinh thần, đến tận bây giờ vẫn chưa lành vết thương.  

Vì vậy mà hai thập kỷ sau chiến tranh, cuốn sách “Hồi tưởng” của ông McNamara lại mở ra vết thương lòng với vết sẹo Chiến tranh Việt Nam vẫn chưa lành. Ba thập kỷ sau chiến tranh, bóng ma Việt Nam vẫn ám ảnh John Kerry và George Bush trong cuộc vận động tranh cử tổng thống (2004). Đến tận bây giờ, bóng ma Việt Nam vẫn tiếp tục ám ảnh hai quốc gia và và chia rẽ hai cộng đồng người Việt, làm cho hòa giải vẫn vô cùng khó khăn. Nhiều người Việt và người Mỹ vẫn như là “tù binh của quá khứ”, không thể kiến tạo được tương lai.

Hình như có một nghịch lý “yêu-ghét” (love-hate paradox) giữa hai quốc gia, do ám ảnh của quá khứ với mặc cảm tội lỗi (như trường hợp ông Bob Kerrey). Nó nuôi dưỡng những ẩn ức và ngộ nhận do “tư duy cũ” (mindset) bị “bất cập” trước thực tế mới với “khác biệt lớn” (big gaps). Chỉ khi nào những “bất cập” đó được tháo gỡ, mở đường cho thiện chí hợp tác dựa trên những giá trị nhân bản của con người, thì mới có thể hàn gắn được vết thương lòng và vết sẹo chiến tranh. Quá trình này chỉ có thể thực hiện được khi quan hệ con người được xây dựng trên nền tảng “sức mạnh mềm” để khai thác được tiềm năng con người qua giao lưu và kết nối, như “hệ quả không định trước” của chiến tranh, với một tầm nhìn mới về tương lai.

Nhà báo David Lamb (Nieman Fellow, LA Times, mất năm 2016) nhận xét: “Một trong những sai lầm lớn nhất của chúng ta là không hiểu người Việt Nam, không hiểu lòng kiên nhẫn, sự ngoan cường, chủ nghĩa dân tộc, khả năng chiến đấu, lịch sử, văn hóa, và ngôn ngữ của họ. Đối với thắng thua trong chiến tranh thì đó là sự thiếu hiểu biết chết người. Tôi ước rằng Mỹ đã có thể rút ra được bài học kinh nghiệm từ Việt Nam, nhưng đáng tiếc là chúng ta lại sa vào cuộc chiến tại Iraq, một thảm họa không khác cuộc chiến tranh Việt Nam”.

Thoát Trung và Biển Đông

Trong Chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã từng đánh Bắc Việt Nam để bảo vệ Nam Việt Nam nhằm ngăn chặn Trung Quốc. Nhưng sau khi Mỹ bắt tay với Trung Quốc, họ đã bỏ rơi Nam Việt Nam (năm 1975). Trong mấy thập kỷ tiếp theo, Mỹ đã hợp tác và giúp Trung Quốc trỗi dậy bằng chính sách “tham dự tích cực” (Constructive Engagement), với hy vọng Trung Quốc sẽ “trỗi dậy hòa bình”. Nhưng đáng tiếc, Trung Quốc đã bộc lộ bộ mặt thật hung hăng như con quái vật Frankeinstein (lời cố Tổng thống Nixon). Trung Quốc bắt nạt các nước láng giềng, quân sự hóa Biển Đông để độc chiếm nó như cái ao riêng của mình, đồng thời thách thức vai trò và lợi ích cơ bản của Mỹ và các đồng minh / đối tác tại Châu Á. 
Năm 1964-1965, tàu chiến Mỹ thuộc Hạm đội 7 (như tàu khu trục USS Maddox) đến Vịnh Bắc Bộ để chống Việt Nam. Còn bây giờ tàu khu trục USS John McCain đến Cam Ranh để hợp tác với Việt Nam nhằm ngăn chặn Trung Quốc bành trướng tại Biển Đông. Lịch sử đang lặp lại “Trò chơi Vương quyền” (Game of Thrones), nhưng đổi chỗ diễn viên theo luật chơi mới với kịch bản mới. Lịch sử Việt Nam có nhiều nghịch lý và uẩn khúc bất thường. Làm thế nào người Việt Nam có thể bảo vệ được chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc, mà không để các nước lớn lợi dụng biến mình thành quân cờ của họ trong bàn cờ nước lớn?

Bàn cờ Biển Đông đầy cạm bẫy, nhất là từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan HD981vào Biển Đông, như một bước ngoặt bất ngờ gây ra cuộc khủng hoảng Viêt-Trung (5/2014). Việt Nam đã phải trả giá quá nhiều và quá lâu, bởi những sai lầm của kẻ khác, cũng như của chính mình, trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, cũng như suốt thời hậu chiến (sau 1975), với cuộc chiến “bạn thù” với Campuchia và Trung Quốc. Sau bài học đẫm máu xung đột Viêt-Trung (2/1979), là bài học xương máu Thành Đô (9/1990). Đã đến lúc người Việt phải quyết tâm đổi mới tư duy, vượt qua ý thức hệ đã lỗi thời, để đổi mới thể chế và kiến tạo lại tương lai.  

Có thể nói “thoát Trung” không phải là “bài Trung” (chống Trung Quốc) mà thực chất là đổi mới tư duy và ý thức hệ đã lỗi thời để đổi mới thể chế, nhằm kiến tạo một nước Việt Nam độc lập và tự cường, có thể bảo vệ được chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc của mình. Nói cách khác, muốn “tái cân bằng tích cực” (active rebalance) với Trung Quốc, Việt Nam cần phải hợp tác chặt chẽ với các nước lớn (như Mỹ, Nhật, Ấn) trong khuôn khổ đối tác chiến lược vì an ninh tập thể, nhưng không nên quá phụ thuộc vào các nước lớn (như hiện nay đang phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc). Đã đến lúc Việt Nam phải đổi mới thể chế toàn diện, bao gồm đổi mới những nguyên lý cơ bản của chính sách đối ngoại, trong bối cảnh mới.

Thay lời kết

Trong một bài diễn văn để vinh danh TNS John McCain và TNS John Kerry vì đã đóng góp cho hòa giải Mỹ-Việt (Boston, 2001), Đại sứ Mỹ Pete Peterson nói: “Chiến tranh không chấm dứt khi ngừng tiếng súng…Chiến tranh chỉ thực sự chấm dứt khi hai bên hòa giải với nhau”. Nhưng hòa giải không chỉ diễn ra trên bàn đàm phán giữa hai chính phủ, mà còn diễn ra trên chiến trường xưa, giữa những người cựu chiến binh đã từng bắn giết lẫn nhau, và trong lòng những người thân của họ (ở cả hai phía). Nó đòi hỏi phải vươt qua thù hận.

Cách đây không lâu, cựu ngoại trưởng John Kerry đã nói tại một cuộc hội thảo tại California (10/10/2016): “Tôi đã từng chiến đấu tại Việt Nam. Chúng tôi tưởng là đến đây để ngăn chặn nơi này biến thành cộng sản… Nhưng nay chỉ có chủ nghĩa tư bản cuồng nhiệt tại Việt Nam”.  Dù đúng hay sai, ông Kerry phản ánh một nghịch lý trớ trêu tại Việt Nam. Thực ra, đó cũng là “hệ quả không định trước” (unintended consequences). Nhưng đáng buồn là Việt Nam đang bị nhầm lẫn chạy theo những gì tồi tệ nhất của CNXH và CNTB. Đó là “CNXH thân hữu” để bảo kê cho thế lực “Tư bản Đỏ” (còn gọi là “các nhóm lợi ích”), lợi dụng “định hướng XHCN” để thao túng chế độ và cướp đoạt thành quả cách mạng của thế hệ trước. 

Ông Phạm Xuân Ẩn, (“Điệp viên Hoàn hảo”) có kể với tôi một câu chuyện vui đầy nghịch lý. Khi ông đến gặp một quan chức CIA vừa mới tới Sài Gòn (khoảng năm 1961-1962), ông bạn Mỹ đã khuyên ông Ẩn phải cẩn thận với ông Ngô Đình Nhu. Khi ông Ẩn hỏi tại sao thì được ông ấy “bật mí” rằng ông Ngô Đình Nhu “có thể là cộng sản”. Ông Ẩn về kể lại câu chuyện đó với ông Nhu. Sau mấy giây ngỡ ngàng, ông Nhu phá ra cười. Khi ông Ẩn hỏi “tại sao toi lại cười?” ông Nhu đã trả lời (không biết đùa hay thật) “có lẽ nó nói đúng đấy…”. Việt Nam đầy nghịch lý. Nhưng có một nguyên lý cần phải nhớ là trên đời này “không có đồng minh hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn” (Winston Churchill).  

Tham khảo
1. William Fulbright, “The Arrogance of Power”, Paperback, 1966)
2. Robert McNamara, “In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam”, Vintage, 1995
3. H.R. McMaster, “Dereliction of Duty: Lyndon Johnson, Robert McNamara, the Joint Chiefs, and the Lies that led to the War”, Harper, 1997).
4. Errol Morris, “The Fog of War: Eleven Lessons from the Life of Robert McNamara”, Sony Pictures Classics (documentary), May 2003.  
5. Nguyen Quang Dy, “Iraq has revived the ghosts of Vietnam, Nieman Watchdog Discussion, May 31, 2006
6. Chris Reeves, “Did a Glowing Sea Creature Help Push the US Into the Vietnam War?”, Atlantic, July 11, 2017
7. Ken Burns & Lynn Novick, “The Vietnam War”, Florentine Films & WETA (documentary), September 2017

NQD.18/7/2017


Thứ Ba, 30 tháng 5, 2017


TRIỄN VỌNG QUAN HỆ VIỆT-MỸ
Nguyễn Quang Dy
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã bắt đầu chuyến thăm Mỹ chính thức (29-31/5/2017). Đã có nhiều người bình luận và phỏng đoán về sự kiện này. Có lẽ đây là một dịp tốt để nhìn lại quan hệ Việt-Mỹ trong bối cảnh thế giới mới đầy biến động bất thường và bất định. Muốn hiểu hiện tại và biết về tương lai, chúng ta không được quên quá khứ. 

Trở về tương lai
Mỗi khi đề cập đến quan hệ Việt-Mỹ, người ta thường nhớ lại quá khứ đau buồn khi Chiến tranh Việt Nam đã biến hai quốc gia này thành kẻ thù. Nhưng nhiều người quên mất lịch sử trước đó khi hai quốc này gia suýt nữa trở thành đồng minh. Ngày 16/7/1945, OSS đã cử nhóm “Con Nai” (Deer Team) đến Tân Trào để giúp Việt Minh, sau khi cụ Hồ thỏa thuận với Archimedes Patti (chỉ huy OSS tại Kunming). Hơn bốn thập kỷ sau Chiến tranh Việt Nam, nay hai quốc gia lại đang cố gắng để trở thành đồng minh, như “trở về tương lai” (back to the future). Vậy số mệnh trong tử vi của hai quốc này là kẻ thù hay đồng minh? Các sử gia cần làm rõ và xác định xem vì sao đoàn tàu Việt-Mỹ đã bị bẻ ghi đi chệch sang hướng khác, với những “hệ quả không định trước”, và làm thế nào để đưa đoàn tàu này “trở về tương lai”.
Nếu đặt quan hệ Việt-Mỹ vào bức tranh lịch sử đầy nghịch lý và trớ trêu đó, chuyến thăm Mỹ của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lần này (cũng như các chuyến thăm của lãnh đạo hai nước trước đây) chỉ là những điểm dừng chân của đoàn tàu Việt-Mỹ tại các nhà ga (cả ga chính và “ga xép”). Thế giới hiện nay còn nhiều nghịch lý và điên rồ hơn trước, vì ngày càng nhiều kẻ khùng đang cướp lái và bẻ ghi các đoàn tàu quốc gia. Trong khi có những người tin rằng thế giới đang tiến gần đến “ngày tận số”, thì nhiều người khác mất hết lòng tin vào cả hiện tại và tương lai, vì họ đã quên hoặc hiểu nhầm quá khứ. Ảo tưởng và nhầm lẫn trong lịch sử đã phải trả giá rất đắt, nên nếu lặp lại sai lầm một lần nữa thì thật là ngu xuẩn và điên rồ.
Có thể nói đoàn tàu Viêt-Mỹ đã vượt qua một quãng đường dài, có lúc chạy nhanh, có lúc chạy chậm, có lúc thậm chí dừng lại một chỗ vì lúng túng không biết chạy hướng nào trước ngã ba đường. Vấn đề không phải là đường ray hay biển chỉ đường bị sai mà là do đầu óc của những người lái tàu bị hồ đồ nhầm lẫn nên lầm đường lạc lối. Đoàn tàu đã rời ga “Đối tác Toàn diện” gần bốn năm, nay đang hướng tới ga mới là “Đối tác Chiến lược Toàn diện”. Nhưng không hiểu sao đoàn tàu Việt-Mỹ chạy mãi mà vẫn chưa tới được cái ga đó (cứ như một nhà ga ảo). Có lẽ chuyến thăm Mỹ của ông Nguyễn Xuân Phúc cũng chỉ tới được một cái “ga xép” dọc đường, chứ chưa tới được cái ga chính, vì chủ nhân của Nhà Trắng đã thay đổi. Một năm trước đây khi ông Obama còn làm chủ Nhà Trắng, chỉ cần Hà Nội dấn thêm một bước nữa là đoàn tàu Việt-Mỹ có thể tới được cái ga đó rồi (nhưng nay cơ hội đó đã trôi qua).

Những rào cản lớn    
Chặng đường trước mắt của đoàn tàu Việt-Mỹ còn nhiều trắc trở, với những rào cản hữu hình và vô hình (mà người ta sợ “nhạy cảm” nên không nói ra). Rào cản lớn nhất có tên là Bắc Kinh. Cứ mỗi khi đoàn tàu Việt-Mỹ định tăng tốc thì nó lại xuất hiện, làm cho đoàn tàu lắc lư phải chạy chậm lại, hoặc dừng hẳn. Ví dụ, khi đoàn tàu Việt-Mỹ đang chạy tới ga “Normalization” (hay “WTO” và “BTA”) thì lại có biển báo dừng lại, không phải biển cấm vì tàu đi vào đường một chiều, mà là biển báo hiệu nguy hiểm vì “diễn biến hòa bình”. Điều trớ trêu là Bắc Kinh ngăn cản Hà Nội kết bạn với Washington, trong khi họ làm tình với nhau.
Mặc dù Hà Nội biết cái biển báo đó là của Bắc Kinh, nhưng đoàn tàu vẫn phải chạy chậm hay dừng lại, không phải vì người lái tàu Hà Nội sợ sai luật giao thông mà sợ sai “quy trình”, như sợ một bóng ma vô hình. Cứ mỗi khi Hà Nội cử một lãnh đạo nào sang Washington, thì lại phải sang Trung Nam Hải trước, như một tiền lệ “bất thành văn”. Cái bóng Bắc Kinh đã ám ảnh đoàn tàu Viêt-Mỹ suốt 27 năm qua (từ 9/1990) khi những người lái Tàu Hà Nội và Bắc Kinh gặp nhau bí mật tại Thành Đô để “bẻ ghi” đoàn tàu Việt-Trung chạy theo hướng ngược lại. Từ “kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất”, Trung Quốc trở thành “đối tác chiến lược toàn diện” với “16 chữ vàng”. Đó là một bước ngoặt chiến lược nguy hiểm để “trở về tương lai” của mối quan hệ “Bắc thuộc” (mà ông Nguyễn Cơ Thạch lúc đó đã cảnh báo).       
Rào cản lớn thứ hai đối với đoàn tầu Việt-Mỹ là Nhân Quyền, mà trước đây là vấn đề MIA đã từng cản trở quan hệ Việt-Mỹ suốt thời hậu chiến. Điều trớ trêu là trong khi Washington chấp nhận chế độ cộng sản Hà Nội mà biểu tượng là Tổng thống Obama đã tiếp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong “Phòng Bầu dục” của Nhà Trắng, thì Washington lại không thể bỏ qua hồ sơ vi phạm nhân quyền, do sức ép của Quốc Hội và dư luận báo chí. Hiện nay, mặc dù Tổng thống Donald Trump có thể bị nhiều người Mỹ lên án là vi phạm nhân quyền hay vi phạm quyền tự do báo chí, nhưng vấn đề Nhân quyền vẫn là một “cục xương mắc họng” trong quan hệ Viêt-Mỹ. Vì vậy không nên nhầm lẫn giữa hai vấn đề này. Trong khi rào cản Bắc Kinh là một thực tế khách quan mà Hà Nội không làm gì được (trừ phi “thoát Trung”), thì rào cản Nhân quyền là một vấn đề mà Hà Nội có thể tháo gỡ bằng đổi mới thể chế.
Rào cản lớn thứ ba là sự “bất cập” của năng lực lãnh đạo (trong ngoại giao cá nhân). Mặc dù ai cũng biết ông Donald Trump là một Tổng thống bất bình thường, thậm chí có nhiều tai tiếng, nhưng nguyên thủ nước nào cũng phải đến Washington gặp ông Trump, từ Thủ tướng Nhật Abe đến Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, thủ tướng Đức Merkel, thủ tướng Anh May, v.v. Đơn giản vì Mỹ vẫn là siêu cường số một thế giới. Vì vậy, Thủ tướng Việt Nam muốn đến Nhà Trắng gặp ông Trump cũng là điều dễ hiểu, vừa vì lợi ích quốc gia (để đối phó với những vấn nạn hiện nay), vừa vì lợi ích cá nhân (để tăng cường vị thế chính trị của mình).
Tuy các cố vấn chủ chốt của ông Trump như Cố vấn An ninh Quốc gia HR McMaster, ngoại trưởng Rex Tillerson (trong nhóm “Axis of Adults”) có thể ủng hộ quan hệ đối tác Việt-Mỹ, vì lợi ích chung của hai nước. Nhưng họ có thuyết phục được ông Trump coi Việt Nam là “đối tác quan trọng” về kinh tế và chiến lược hay không, còn phụ thuộc vào ông Phúc có chứng minh được điều đó hay không, bằng cách trực tiếp thuyết phục ông Trump khi gặp gỡ. Ông Trump vốn thích “ngoại giao cá nhân” (personal diplomacy) và hay hành động theo cảm tính, đôi khi thất thường nên rất khó đoán. Trong khi ông Trump có thể tùy hứng thay đổi kịch bản có sẵn (script), thì ông Phúc (và hầu hết lãnh đạo Việt Nam) lại quen dựa vào kịch bản một cách cứng nhắc, nên dễ bị động và lúng túng. Vấn đề là ông Phúc làm thế nào để gây ấn tượng cá nhân tốt đẹp với ông Trump (như các nguyên thủ khác vẫn làm). Điểm mạnh của ông Trump lại là điểm yếu của ông Phúc (đã từng mang tiếng là “Thủ tướng CLMV”).
Tuy nhiên ông Phúc có thể dùng chiến thuật du kích làm ông Trump bất ngờ, như đề nghị mua thêm vũ khí tối tân, hoặc lập luận rằng trong số 32 tỷ USD thâm hụt thương mại mà Mỹ nhâp siêu từ Việt Nam (năm 2016), hầu hết là sản phẩm điện tử của hãng Samsung và Intel (như điện thoại di dộng và linh kiện máy tính) sản xuất gia công tại Việt Nam. Số hàng hóa “nhập siêu” này thực chất không phải là hàng Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ, mà là hàng Việt Nam gia công cho nước ngoài, để hưởng dịch vụ (chỉ khoảng 5-8% gía trị hàng hóa). Nói cách khác, đây là một sự nhầm lẫn “oan” cho Việt Nam, do khác nhau về cách thống kê.     

Xung quanh chuyến đi
Trước khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sang thăm Mỹ (29-31/5/2017), Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã thăm chính thức Bắc Kinh (11/5/2017) nhân dịp dự diễn đàn quốc tế “Một Vành Đai một Con Đường” (14-15/5/2017). Ông đã gặp Thủ tướng Lý Khắc Cường và Chủ tịch Tập Cận Bình, và hai bên đã thông qua Thông cáo Chung về Biển Đông. Trong một động thái khác, ngày 22/5/2017, đại sứ Mỹ Ted Osius đã trao cho Cảnh sát biển Việt Nam 6 tàu tuần tra biển (Metal Shark) trong số 18 chiếc mà Tổng thống Obama đã cam kết 4 năm trước. Tiếp đó, ngày 24/5/2017, chiến hạm USS Dewey đã đi vào khu vực 12 hải lý quanh đảo Vành Khăn tại Trường Sa, mà không thông báo trước như thường lệ “đi qua vô hại” (innocent passage). Đây là chuyến tuần tra FONOP đầu tiên, kể từ khi ông Trump lên làm tổng thống.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là lãnh đạo đầu tiên của một nước ASEAN đến Nhà Trắng gặp ông Trump, dù trước đó các lãnh đạo Châu Á khác đã gặp ông Trump như Thủ tướng Shinzo Abe và Chủ tịch Tập Cận Bình. Để thu xếp cho lãnh đạo nước họ gặp ông Trump và tháo gỡ những rào cản, người Nhật và người Trung Quốc đã phải khôn khéo vận động (lobby). Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Mấy tháng qua, lãnh đạo Hà Nội đã chủ động bày tỏ mong muốn gặp ông Trump, và cử các đoàn đi Mỹ vận động Quốc Hội và các thế lực ủng hộ quan hệ với Việt Nam và duy trì tuần tra tại Biển Đông (FONOP). Theo Reuters, Viêt Nam thuê một người vận động hành lang (lobbyist) với giá 30.000 USD/tháng.
Ngày 20-21/4/2017, Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh đã đến Mỹ để “tiền trạm”, gặp gỡ các quan chức chủ chốt của Chính quyền và Quốc hội, trong đó có Ngoại trưởng Rex Tillerson và Cố vấn An ninh Quốc gia H.R. McMaster. Trong dịp đó, ông McMaster đã trao cho ông Minh thư của Tổng thống Donald Trup mời Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sang thăm Mỹ. Đồng thời, ông Minh cũng chuyển lời mời chính thức của Chủ tịch nước Trần Đại Quang mời Tổng thống Donald Trump tham dự cuộc họp thượng đỉnh APEC tại Đà Nẵng (tháng 11/2017) và thăm Việt Nam. Ông Trump đã nhận lời và khẳng định sẽ tham dự. 
Mặc dù ông Trump đã quyết định rút khỏi TPP, bỏ rơi chính sách xoay trục sang Châu Á của ông Obama, và tỏ ra không tha thiết với vấn đề Biển Đông, nhưng trước chuyến thăm của ông Phúc, Reuters (28/5/2017) nhận thấy một số dấu hiệu tích cực. Nhà Trắng gọi Việt Nam “là một trong những đối tác quan trọng của Mỹ ở Đông Nam Á”. Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Mỹ (Katrina Adams) nói rõ, “Quan hệ đối tác Việt-Mỹ là một phần cốt yếu trong chính sách đối ngoại của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương” (the US-Vietnam partnership is a critical component of US foreign policy in the Asia-Pacific region). Theo Carl Thayer, Viêt Nam là “một con bài quan trọng trong cấu trúc an ninh đa phương trong khu vực” của Mỹ, nhất là trong bối cảnh ông Rodrigo Duterte “lánh xa Mỹ và xích lại với Trung Quốc”.
Theo Carl Thayer, lúc này Việt Nam gần với Mỹ còn hơn cả hai nước đồng minh có hiệp ước quân sự với Mỹ là Thái Lan và Philippines. Việt Nam cần tham gia nhóm các nước đối tác của Mỹ trong khu vực (mà Singapore là đối tác số một). Theo Diplomat (5/2016) Việt Nam đang trở nên quan trọng hơn trong chiến lược kiềm chế Trung Quốc bành trướng ảnh hưởng trong khu vực. Các nhà phân tích cho rằng dưới thời Trump, Mỹ đã lặng lẽ rút lui khỏi khu vực, để Trung Quốc tự do hành động bá quyền, làm phương hại cho các nước như Việt nam. Sự nhân nhượng của Washington là một củ cà rốt to để đánh đổi lấy sự giúp đỡ của Bắc Kinh nhằm đối phó với Bắc Triều Tiên, một việc Trump rất cần nên sẵn sàng thỏa hiệp. 

Đánh giá triển vọng
Hãy tham khảo một số đánh giá của những chuyên gia quen biết.
Theo Alexander Vuving ( “What Vietnam Can Offer America”, Alexander Vuving, National interest, May 27, 2017) vấn đề sống còn của Việt Nam là làm thế nào cân bằng mối quan hệ với Bắc Kinh và Washington. Đó là bối cảnh cho chuyến thăm Mỹ của ông Phúc. Vuving cho rằng trong quan hệ với Mỹ có 3 vấn đề quan trọng nhất thiết phải đạt được. Thứ nhất là phải đạt được một hiệp định thương mại và đầu tư có triển vọng. Thứ hai là phải thỏa thuận được quan điểm về Biển Đông không chấp nhận hiện trạng. Thứ ba là phải xây dựng quan hệ đồng minh Viêt-Mỹ trên cơ sở “đối tác chiến lược toàn diện”. Tuy quan hệ đối tác phải mang tính chiến lược sâu sắc hơn, nhưng không nhất thiết phải là cam kết quốc phòng.   
Theo Minxin Pei (“The TPP’s Second Act”, Minxin Pei, Project Syndicate, May 24, 2017), quan điểm đồng thuận cho rằng thực tế ông Trump đã nhân nhượng và trao Đông Á cho Trung Quốc tuy có cơ sở, nhưng lại bỏ qua một thực tế địa chính trị cơ bản. Đó là nhiều nước Đông Á đã dựa dẫm ỷ lại vào vai trò đứng đầu của Mỹ nên không đầu tư cho an ninh kinh tế và quốc phòng của mình. Nay không còn dựa dẫm được vào Mỹ để duy trì hòa bình và thinh vượng, họ đang đứng trước các sự lựa chọn rất khó khăn, và phân hóa làm 3 nhóm.  
Nhóm thứ nhất chọn cách ngả theo Trung Quốc, bao gồm một số nước như Thailand, Malaysia, Cambodia, Laos. Nhóm thứ hai chọn chiến lược đề phòng rủi ro (hedging strategy), gồm các nước như Australia, South Korea, Singapore. Nhóm thứ ba chọn chiến lược tự lo cho mình (self-help strategy) gồm các nước như India, Japan, Vietnam, Indonesia. 
Để lấp lỗ trống do Mỹ rút khỏi TPP, Nhật phải dẫn đầu TPP11, thuyết phục các nước Châu Á xiết chặt hàng ngũ, không khuất phục Trung Quốc. Muốn vậy, Nhật phải có chính sách sẵn sàng chấp nhận phí tổn cao hơn để giữ cho Nhật và các đối tác khác thoát khỏi quỹ đạo Trung Quốc. Nếu Hàn Quốc và Indonesia tham gia TPP11, thì cán cân sẽ thay đổi.
Theo Jonathan London (“High Stakes for Vietnam Prime Minister’s Visit to Washington”, Jonathan London, CSIS CogitAsia, May 29, 2017), chuyến thăm của ông Phúc có ý nghĩa quan trọng trên 3 lĩnh vực. Thứ nhất là thương mại. Mỹ và Việt Nam có nhiều lý do để mở rộng và đa dạng hóa quan hệ thương mại. Điều này sẽ giúp Việt Nam tránh được tình trạng sử dụng những công nghệ rẻ tiền, gây ô nhiễm cao, có hại cho người lao động, đồng thời khuyến khích Chính phủ bỏ những dự án nhiệt điện gây ô nhiễm và thay bằng những dự án mới dựa trên công nghệ và đầu tư của Mỹ, ví dụ như khai thác nguồn khí đốt ngoài khơi. 
Thứ hai là vấn đề an ninh. Làm thế nào để Mỹ và Việt Nam (cùng các nước khác) có thể đảm bảo cho môi trường an ninh hàng hải ở Đông Á, phù hợp với luật quốc tế. Trước những dấu hiệu Bắc Kinh đang theo đuổi những mục đích ngược với lợi ích của Mỹ, thì lợi ích an ninh của Việt Nam và Mỹ ngày càng song trùng, hơn với bất cứ nước nào khác.  Hai nước cần tiếp tục hợp tác về an ninh, như vừa rồi Mỹ đã chuyển giao cho Việt Nam 6 tàu tuần tra biển. Vì Trump quan tâm đến mua bán vũ khí, nên đây có thể là một lĩnh vực dễ hợp tác.  
Thứ ba là một khía cạnh không đo đếm được nên dễ bị bỏ qua, liên quan đến vai trò của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, liệu ông ấy có vị thế quan trọng như thế nào trong sự phát triển kinh tế và chính trị của Việt Nam. Trong khi có vẻ thiếu khí thế và tiếng nói về vấn đề nhân quyền, ông Phúc lại là người có ý tưởng cải cách. Vừa rồi, khi Ban Tuyên giáo kêu gọi đối thoại với giới bất đồng chính kiến, một bầu không khí chống lại tư tưởng bảo thủ lại trỗi dậy. Theo các nhà quan sát, đây là một tín hiệu xấu cho tương lại cải cách ở Việt Nam. Trong bối cảnh đó, không biết chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng có ý nghĩa gì tốt đẹp. 
Vì vậy, hy vọng Nhà Trắng, Quốc hội, và các lãnh đạo khác trong chính quyền có tiếng nói rõ ràng và tha thiết để biểu lộ cam kết thúc đẩy quan hệ song phương với Việt Nam. Xét cho cùng, chỉ có người Việt Nam mới tự quyết định được tương lai của mình. Nếu nhìn xa hơn, bỏ qua chuyện chính trị trước mắt, thì Việt Nam và Mỹ có nhiều lợi ích lâu dài để xây dựng một quan hệ vững mạnh, đặc biệt là về lĩnh vực thương mại và quốc phòng.   
Theo David Brown (“Vietnam’s Premier Phuc Enters the US Cobra Den”, David Brown, Asia Sentinel, May 29, 2017), TPP là công cụ để Hà Nội tháo gỡ sự ách tắc về ý thức hệ. Còn đối với quan hệ Viêt-Mỹ, TPP là chất keo kinh tế để gắn kết một quan hệ đối tác chiến lược bền vững. Tuy ông Trump đã rút khỏi TPP, nhưng Hà Nội vẫn hy vọng đạt được một hiệp định thương mại song phương với Mỹ tương tự như TPP (ưu tiên cao nhất của ông Phúc). Biết đâu một ngày nào đó, Việt Nam sẽ trở thành cầu nối để đưa Mỹ trở lại sân chơi TPP.
David Brown cho rằng bản thân cuộc gặp ông Trump 30 phút tại Phòng Bầu dục là một sự kiện quan trọng, vì 3 ý nghĩa. Thứ nhất, Ngoại trưởng Phạm Bình minh và Đại sứ Phạm Quang Vinh đã thu xếp để ông Phúc trở thành thủ tướng đầu tiên của ASEAN được ông Trump tiếp đón tại Nhà Trắng. Thứ hai, Hà nội có lý do để hy vọng đàm phán thương mại song phương như TPP sẽ có kết quả. Thứ ba, món quà của Hà Nội mà ông Phúc đem đến cho ông Trump có thể là đề nghị mua một số vũ khí tối tân của Mỹ. Đây sẽ là cái chốt của cuộc gặp. Trong khi ông Phúc có thể bám vào kịch bản có sẵn, thì ông Trump lại hay nói nhiều và tùy hứng, nên không loại trừ tình huống bất ngờ, có thể lái quan hệ Viêt-Mỹ theo một hướng khác.   

Thay lời kết
Tuy các nhà quan sát có thể phân tích nhưng rất khó dự đoán kết quả của sự kiện ngoại giao này, liệu có xảy ra trục trặc hay sai sót nào không. Đây vừa là một cơ hội vừa là thách thức và rủi ro đối với ông Phúc, vì Donald Trump là một bài toán đố khó tìm lời giải. Là một lái buôn (dealer) đầy cá tính, Donald Trump không phải là Bill Clinton hay Barack Obama. Ông ấy muốn phủ nhận mọi di sản của chính quyền trước. Đối với một tổng thống khác, kết quả gặp gỡ tùy thuộc nhiều hơn vào sự chuẩn bị (homework) và làm việc nhóm (teamwork). Nhưng đối với ông Trump, nó tùy thuộc nhiều hơn vào ngoại giao cá nhân và tương tác cá nhân (là một điểm yếu của ông Phúc). Cuộc gặp gỡ này có thể là một màn trình diễn của hai nhân vật có cá tính, như trong một chương trình “truyền hình thực tế” (reality television show).  
Hiện nay, lo ngại lớn nhất của Việt Nam là liệu Mỹ và Trung Quốc có trở nên quá gần gũi và do đó không đếm xỉa đến lợi ích của Việt Nam hay không. Đối với Việt Nam lúc này, lựa chọn đối sách khả thi là rất khó, nên phải chơi cờ thế (gambit) bằng đề phòng rủi ro (hedging). Vì vậy, Việt Nam đang tăng cường hợp tác chặt chẽ với Nhật (chơi “lá bài Nhật”) và chuyển sang “phương án B” về TPP (còn gọi là TPP11). Vì Mỹ đã rút khỏi TPP nên Nhật trở thành động lực chính đối với TPP11, cũng như đối với Việt Nam trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc. Vì vậy, sự kiện ngoại giao song phương Việt-Mỹ này còn có ý nghĩa đa phương.  

NQD. 30/5/2017


Thứ Tư, 1 tháng 2, 2017


CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN MỚI

Nguyễn Quang Dy

 
Trước cơn địa chấn chính trị với hệ quả khôn lường đang diễn ra tại Mỹ và toàn cầu, trước đám mây đen và sóng dữ tại Biển Đông, con tàu Việt Nam phải làm thế nào để thoát hiểm và vượt ra biển lớn? Đây là thách thức to lớn và cơ hội mong manh đối với Việt Nam, tại bước ngoặt lịch sử khi thế giới đang bước sang một giai đoạn mới. 

Bước ngoặt lịch sử  
Tuy đã hơn bẩy thập kỷ sau ngày độc lập (2/9/1945) và hơn bốn thập kỷ sau ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam (30/4/1975), nhưng đất nước dường như vẫn còn luẩn quẩn tại ngã ba đường của lịch sử. Việt Nam có quyết tâm đổi mới thể chế toàn diện hay không? Có thực sự đi theo con đường kinh tế thị trường và dân chủ hóa hay không? Liệu tranh luận về “hai con đường” đã đến lúc ngã ngũ, hay Việt Nam vẫn tiếp tục “đu dây”? 

Một yếu tố mới xuất hiện, như một cơn địa chấn chính trị đang xô đẩy Việt Nam phải chọn một con đường. Ngày 8/11/2016 là “ngày định mệnh” đối với nước Mỹ (cũng như nhiều nước khác), khi Donald Trump bất ngờ thắng cử, trở thành tổng thống thứ 45 của Mỹ. Đó là một chính biến làm thay đổi cuộc chơi (game changer), khiến nước Mỹ (và phần lớn thế giới) ngỡ ngàng, bối rối và lo sợ. Đó không phải chỉ là sự kiện thay đổi tổng thống Mỹ như “đến hẹn lại lên”, mà là một bước ngoặt lịch sử, mở ra một giai đoạn mới bất định. Khủng hoảng chính trị Mỹ có thể làm đảo lộn trật tự thế giới, “như khi Liên Xô sụp đổ” (năm 1991). (“America: the Failed State”, Francis Fukuyama, Prospect, December 13, 2016)

Cơn địa chấn chính trị bất ngờ và bất định này đang làm nước Mỹ chia rẽ sâu sắc, đe dọa trật tự thế giới cũ và quan hệ quốc tế. Trong cuốn sách mới xuất bản, Richard Haass (Chủ tịch Council on Foreign Relations) nhận xét rằng từ đầu năm 2017, chúng ta đang chứng kiến “sự đảo lộn có tính hệ thống” (systemic disorder) và “mất phương hướng chiến lược” (strategic disorientation). (“A World in Disarray: American foreign Policy and the Crisis of the Old Order”, Richard Haass, Penguin Press, January 2017).

Nếu Donald Trump chơi lá bài Nga để chống Tàu (khác với Nixon-Kissinger chơi lá bài Tàu để chống Nga trước đây) thì ông ta có thể làm đảo lộn bàn cờ chiến lược Biển Đông, cũng như chính sách đối ngoại của các nước Đông Á và ASEAN (trong đó có Việt Nam). Học thuyết Kissinger về tam giác chiến lược Mỹ-Nga-Trung có thể bị đảo ngược (“Reverse Kissinger”, Blake Franko, American Conservative, January 10, 2017).
Nghịch lý Donald Trump là một hiện tượng lạ, nhưng đã có tiền lệ trong lịch sử. Thời xưa tại Trung Quốc, Lã Bất Vi ngộ ra rằng “buôn vua” lãi hơn tất cả, nên đã bỏ kinh doanh đi “buôn vua” và dựng lên Tần Thủy Hoàng. Lã Bất Vi còn đúc kết kinh nghiệm viết “Lã Thị Xuân Thu”. Nay tại Mỹ, Donald Trump cũng bỏ kinh doanh bất động sản, nhưng không “buôn vua” mà làm vua luôn. Donald Trump là Lã Bất Vi của nước Mỹ!

Trump vốn là con người thất thường, nên chính sách của Trump cũng bất thường. Đặc điểm chính sách của Trump là hành động ngay (không cần nghĩ trước), vì vậy mọi chính sách của chính quyền Trump có thể là “lâm thời” (adhoc). Chính vì Trump thiếu nhất quán nên làm thiên hạ khó đoán. Lệnh cấm nhập cảnh (travel ban) đối với 7 nước Hồi giáo là một ví dụ, đang gây tranh cãi và phản ứng làm náo loạn cả nước Mỹ.
Trong khi Trump quyết định rút khỏi TPP (bỏ ngỏ khu vực này cho Trung Quốc thao túng) thì ông ấy lại bổ nhiệm những nhân vật “diều hâu” chống Trung Quốc (như Peter Navarro và Rex Tillerson) vào những vị trí then chốt. Trước đây, Nixon-Kissinger đã “vô tình” tạo ra con quái vật Frankenstein và dung dưỡng nó lớn mạnh bằng kế sách “Constructive Engagement”, nay Trump lại “vô ý” rút khỏi TPP vì “America First”, mà hệ quả là bỏ rơi khu vực này để nó tha hồ lũng đoạn. Trung Quốc có thể thay thế TPP (do Mỹ đứng đầu) bằng RCEP (do TQ cầm cái), phân hóa và làm đảo lộn trật tự của Mỹ tại khu vực này.  
       
Sắp xếp nhân sự
Sắp xếp nhân sự chủ chốt của Trump chính là dấu hiệu về đường lối chính sách (đối nội cũng như đối ngoại). Không chờ nhậm chức (20/1/2017) Trump đã bất ngờ ra tay trước bằng mấy nước cờ táo bạo, làm đảo lộn bàn cờ quốc gia lẫn quốc tế, đe dọa xóa sổ di sản của Tổng thống Obama và các đời tổng thống trước đó. Theo Newt Gingrich, “khoảng 60 hoặc 70% sắc lệnh của Obama sẽ bị Trump hủy bỏ” (Fox News, 26/12/2016).  

Thứ nhất, Trump không đợi Trung Quốc nắn gân mà đã phá lệ, thách thức Trung Quốc trước bằng cuộc điện đàm với tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn (2/12/2016). Sự kiện đó không phải ngẫu nhiên, mà là kết quả chuẩn bị nhiều tuần trước đó, giữa các quan chức hàng đầu hai bên (Bob Dole, Reince Priebus, Edwin Feulner). Bằng 10 phút điện đàm, Trump đe dọa làm sụp đổ chính sách “Một Trung Quốc” đã tồn tại hơn 4 thập kỷ. Tiếp theo điện đàm, Trump còn khẳng định, “Tôi quá hiểu chính sách ‘Một Trung Quốc’, nhưng tôi không hiểu tại sao chúng ta bị ràng buộc bởi chính sách đó” (Fox News, 11/12/2016).

Thứ hai, Trump bổ nhiệm Peter Navarro đứng đầu Hội đồng Thương mại Quốc gia, có văn phòng ngay trong Nhà Trắng, có nhiệm vụ phối hợp chính sách kinh tế để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Navarro là nhân vật chống Tàu, tác giả cuốn sách (và bộ phim) “Chết Bởi Trung Quốc”, nay trở thành nhà kinh tế quyền lực nhất. Bắc Kinh bị sốc trước quyết định bổ nhiệm Peter Navarro, cũng như Wilbur Ross (Bộ trưởng Thương mại), Robert Lighthier (Đại diện Thương mại). Sau cuộc điện đàm với Thái Anh Văn, việc bổ nhiệm ba nhân vật “diều hâu” chống Tàu là tín hiệu rõ ràng về ưu tiên của Trump. Chiến tranh thương mại và chạy đua vũ trang với Trung Quốc chỉ là vấn đề thời gian. Có nhiều lý do để Trung quốc lo ngại vì kinh tế đang xuống dốc và chính trị bất ổn. (“Peter Navarro is about to become one of the world’s most powerful economists”, Economist, Jan 21, 2017).

Thứ ba, Trump bổ nhiệm Rex Tillerson làm Ngoại Trưởng, một quyết định gây tranh cãi, không phải chỉ vì Tillerson là CEO của Exxon-Mobil, mà còn là nhân vật thân với Putin. Phát biểu của Tillerson trong buổi điều trần tại Thượng Viện (12/1/2017) càng làm lãnh đạo Trung Quốc bị sốc. Tillerson đã nói thẳng thừng rằng chiến dịch Trung Quốc xây đảo nhân tạo trị giá hàng tỷ đô-la tại Biển Đông (với tài nguyên dầu khí) là “bất hợp pháp và giống Nga chiếm Crimea…” và “Chúng ta sẽ nói rõ với Trung Quốc rằng trước hết, họ phải chấm dứt xây dựng đảo và thứ hai, chúng ta sẽ không cho phép họ tiếp cận các đảo này…”
Đó là một tín hiệu thay đổi lớn trong quan điểm của Mỹ về Biển Đông, với hàm ý là Mỹ sẽ dùng sức mạnh quân sự để ngăn chặn Trung Quốc bành trướng. Phát biểu của Tillerson đã làm chính giới và dư luận Trung Quốc bất ngờ và tức giận. Thực ra, Tillerson từ lâu đã lo ngại về Trung Quốc và thấy phải chống lại ý đồ quân sự hóa và bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông, sau vụ Exxon-Mobil (và các công ty khác) bị Trung Quốc ngăn cấm hợp tác dầu khí với Việt Nam. (“Rex Tillerson’s South China Sea Remarks Foreshadow Possible Foreign Policy Crisis”, Michael Forsythe, New York Times, Jan 12, 2017).

Stephen Bannon (chiến lược gia của Trump tại Nhà Trắng) cũng quan tâm đến chiến lược Châu Á và cho rằng chủ trương “xoay trục” sang Châu Á của Obama thất bại vì thiếu ngân sách quốc phòng nên yếu thế. Trump cũng bổ nhiệm nhiều tướng “diều hâu” và chuyên gia về Trung Quốc vào các vị trí chủ chốt như Bộ trưởng Quốc phòng (James Mattis), Cố vấn An ninh Quốc gia (Michael Flynn), Bộ trưởng Hải Quân (Randy Forbes), Giám đốc Châu Á tại Hội đồng An ninh Quốc gia (Matt Pottinger), Trợ lý Bộ trưởng về Châu Á tại Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng (Randall Schiver và Victor Cha). Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc là Terry Branstad, tại Nhật là William Hagerty, tại Ấn Độ là Ashley Tellis. (“Trump could make Obama’s pivot to Asia a reality”, Josh Rogin, Washington Post, Jan 8, 2017).  

Bối cảnh quốc tế
Có thể nói, chính sách đối ngoại của chính quyền mới hình thành ngay trong giai đoạn chuyển giao quyền lực, trước khi Donald Trump nhậm chức. Diễn văn nhậm chức của Trump sặc mùi dân túy, chẳng khác diễn văn tranh cử trước đó, khẳng định quan điểm đối ngoại cứng rắn của Trump, và phủ nhận gần hết các di sản của Obama. Nó không chỉ làm người Mỹ chia rẽ mà còn làm thế giới hoang mang lo ngại, nhất là Trung Quốc.

Một số nhà phân tích cho rằng Trump sẽ chơi trò “ngoại giao tay ba” (Triangular Diplomacy) với Nga và Trung Quốc, nhưng “tinh tế hơn” (Alexander Vuving). Thay vì dùng lá bài Trung Quốc để chống Nga (thời Nixon-Kissinger), Trump sẽ dùng lá bài Nga để chống Trung Quốc. Lãnh đạo Trung Quốc tỏ ra lúng túng và bị động (như bị “phục kích”), chưa biết nên phản ứng và đối phó thế nào. Họ chưa gặp một Tổng thống Mỹ nào lại ăn nói và hành xử như vậy. Đối với một người không biết sợ như Trump, Trung Quốc rất khó nắn gân và hù dọa. Khó đoán được ý đồ thực của Trump là một thách thức lớn đối với Trung Quốc (“Trump Tweets China Retreats”, Gordon Chang, National Interest, Jan 6, 2017).

Trong khi Trung Quốc trỗi dậy “không hòa bình”, bắt nạt các nước khu vực và thách thức vai trò của Mỹ, thì Mỹ vẫn “chiều” họ bằng chính sách “Một Trung Quốc” (như chiều “Frankenstein”).  Tuy Nixon đã qua đời, nhưng Kissinger, là tác giả của chính sách “Một Trung Quốc” (theo “Shanghai Communique”), vẫn còn nhiều ảnh hưởng như một cây cổ thụ về chính sách đối ngoại từ thập niên 1970 (dù nay đã 93 tuổi). Tính đến nay, Kissinger đã đến thăm Trung Quốc tới 80 lần, và quen biết hầu hết lãnh đạo nước này.

Gần đây nhất, sau khi Trump đắc cử, Kissinger đã đến Bắc Kinh gặp Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn (1/12/2016), trong khi Trump điện đàm với Thái Anh Văn (3/12/2016). Không biết là Kissinger đã nói gì với Trump khi họ gặp nhau bàn về Trung Quốc, nhưng sau đó khi được hỏi ông nghĩ gì về cựu ngoại trưởng Kissinger, Trump đã Twitted, “Một cây cổ thụ đã mục ruỗng, thì không nên tưới bón làm gì, chỉ tốn thời gian”.
Không phải Kissinger chỉ quan hệ chặt chẽ với Bắc Kinh, mà còn quan hệ chặt chẽ với Nga. Gần đây nhất, Kissinger đã đến Moscow đàm phán (bí mật) với Putin (3/2/2016). Ông cho rằng Mỹ sai lầm lớn nếu để Nga và Trung Quốc hình thành một liên minh kinh tế và chính trị. Vì vậy, Mỹ phải hợp tác với Nga để “cân bằng lực lượng toàn cầu”.  Nhưng tại sao Trump lại thân thiện với Nga mà không thân thiện với Trung Quốc, trong khi cả Nga và Trung Quốc đều tìm cách thách thức lợi ích và vai trò toàn cầu của Mỹ? 

Theo các cơ quan tình báo Mỹ (CIA và FBI), Nga đã can thiệp vào chính trị Mỹ bằng hacking (qua tin đồn giả) không phải chỉ làm Hillary Clinton thất cử, mà còn làm Donald Trump đắc cử, nhưng trở thành tổng thống “vịt què”, vì có tin đồn là Trump đã quan hệ với gái điếm Nga tại Moscow. Nói cách khác Trump đã từng bị tình báo Nga theo dõi và khống chế. Việc rò rỉ tin xấu vào đúng lúc Trump sắp nhậm chức có thể là đòn gió của Putin, muốn tác động vào sắp xếp nhân sự và chính sách của Trump (đối với Nga).

Dưới chính quyền Obama, chủ trương xoay trục sang Châu Á là một tầm nhìn đúng, nhưng thực hiện lại yếu vì Obama thiếu quyết đoán. Nay dưới chính quyền Trump, triển vọng có thể ngược lại, vì Trump là một tổng thống “con buôn” (dealer). Theo John Hudak (Brookings), có nhiều khả năng Trump sẽ điều hành Nhà Trắng như CEO của một tập đoàn kinh doanh. Có người còn cho rằng lãnh đạo thực sự của nước Mỹ không phải là Donald Trump mà là Rex Tillerson, vì “nước Mỹ không còn là một chế độ dân chủ, mà là một chế độ tài phiệt”. (Jimmy Carter interviewed by Oprah Winfrey, September 27, 2015).   

Bối cảnh khu vực
Tuy ASEAN đã trở thành “cộng đồng kinh tế” (AEC), nhưng đoàn kết ASEAN ngày càng yếu, vì bị Trung Quốc thao túng. Không chỉ có Campuchea và Thailand, mà cả Philippines và Malaysia cũng “xoay trục” sang Trung Quốc. Nếu không sớm cải tổ cơ chế thì ASEAN có thể mất vai trò và “Đoàn kết ASEAN” chỉ còn là khẩu hiệu.

Nếu vai trò lãnh đạo của Mỹ về kinh tế và an ninh khu vực giảm đi, với tương lai bất định của TPP và chính sách “xoay trục” dưới chính quyền mới, thì vai trò kinh tế và an ninh của Nhật tại khu vực phải mạnh lên tương ứng. Bất ổn trong “tam giác Mỹ-Trung-Việt” cần được hóa giải bằng “tứ giác Nhật-Úc-Ấn-Việt” trên cơ sở đối tác chiến lược toàn diện, với vai trò đầu tàu của Nhật, thay thế một phần vai trò lãnh đạo của Mỹ. 

Quan điểm cứng rắn của Rex Tillerson về Biển Đông là một dấu hiệu đáng mừng, xuất phát từ kinh nghiệm của ông ấy tại khu vực này, khi Exxon-Mobil có quan hệ hợp tác tốt về dầu khí với PetroVietnam (năm 2009) để khoan thăm dò hai vị trí tại Biển Đông. Khi bị Trung Quốc phản đối, các công ty khác buộc phải rút, nhưng Exxon-Mobil không bỏ cuộc, mà vẫn lặng lẽ theo đuổi dự án khai thác dầu khí tại Biển Đông. Vai trò của Exxon-Mobil (như một cường quốc) không chỉ có hợp tác dầu khí, mà còn vì địa chính trị.  
  
Đáng chú ý là quan điểm cứng rắn của Rex Tillerson lại trùng hợp với quan điểm cứng rắn của TNS John McCain (và một số người khác). McCain cho rằng không quốc gia nào ủng hộ cho sự thành công của Trung Quốc nhiều hơn là Mỹ… nhưng Trung Quốc lại chọn cách sử dụng sức mạnh và vị thế đang lớn lên của họ để phá vỡ trật tự đó. Trung quốc đã từng bước triển khai chính sách dọa dẫm và cưỡng bức để hỗ trợ cho mục tiêu bành trướng, một tiến trình được tăng tốc quyết liệt dưới sự lãnh đạo của Tập Cận Bình.
McCain còn cho rằng Mỹ và Việt Nam chia sẻ một loạt những quyền lợi kinh tế và chiến lược, và tin rằng đã đến lúc hai quốc gia cần triển khai “Sáng kiến Hàng hải Việt-Mỹ” (US-Vietnam Maritime Initiative). Sáng kiến này có thể bao gồm việc mở rộng các cuộc tập trận hỗn hợp trên biển. McCain hoan nghênh Việt Nam tham gia cuộc tập trận “Pacific Rim” và cho rằng Hải quân Hoa Kỳ cần tăng cường thăm Việt Nam…
TNS John Mccain và TNS Jack Reed đã cộng tác để bảo trợ “Sáng kiến An ninh Hàng hải” (Maritime Security Initiative), với kinh phí 1/2 tỉ USD, cho phép Bộ Quốc phòng Mỹ nâng cao năng lực hàng hải cho các đối tác của Mỹ tại Đông Nam Á…Năm nay, Ủy ban hành động lưỡng đảng sẽ nâng cấp sáng kiến này và cung cấp thêm nhiều nguồn lực mới. McCain cũng ủng hộ TPP, và cho rằng “Nếu TPP thất bại thì sự lãnh đạo của Mỹ tại Châu Á-Thái Bình Dương có thể thất bại theo…” (“The Need for Renewed American Leadership in Asia-Pacific”, John McCain, the Herritage Foundation, December 29, 2016). 

Bối cảnh Việt Nam
Trong giai đoạn mới, ngoại giao Việt Nam lại đứng trước ngã ba đường. Việt Nam phải định hướng lại mục tiêu chiến lược (vì lợi ích dân tộc) và điều chỉnh chính sách kịp thời. Chính sách “đu dây” của Việt Nam nhằm giữ thăng bằng với hai nước lớn (Trung Quốc và Mỹ) là một đặc thù lâu nay gây nhiều tranh cãi. Đây là một dịp tốt để lý giải nhằm làm rõ và điều chỉnh chính sách “đu dây” này trong bối cảnh quốc tế mới.

Trong lịch sử, Việt Nam đã từng phải “đu dây” giữa hai cường quốc cộng sản “thân hữu” nhưng “đồng sàng dị mộng” là Liên Xô và Trung Quốc. Muốn hay không, đó là định mệnh (hay nghịch lý) đối với Việt Nam, một nước nhỏ phải dựa vào hai nước lớn “thân hữu” để “chống Mỹ cứu nước”.  Thật trớ trêu, Việt Nam nay lại phải “đu dây” giữa Mỹ và Trung Quốc, như sự kế thừa và tiếp nối một định mệnh (hay một nghịch lý).
Trong khi Trung Quốc là nước láng giềng khổng lồ mà Việt Nam không được lựa chọn nhưng phải chung sống suốt đời, thì Liên Xô và Mỹ (cũng như Pháp) là những đế quốc “ngoại bang” mà Trung Quốc luôn ôm mối hận để phục thù. Điều đó lý giải tại sao Việt Nam phải “đu dây”.  Vấn đề không phải chỉ là hành động “đu dây” mà là lý do “đu dây”, và cách thức “đu dây”, liên quan đến bối cảnh lịch sử, lợi ích dân tộc, ràng buộc ý thức hệ, có thể làm người ta lẫn lộn về thái độ chính trị và ngộ nhận về bạn/thù. Đừng quên rằng, “không có đồng minh và kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích dân tộc vĩnh viễn” (Palmerston). 

Chủ nghĩa “tiệm tiến” (gradualism) và quan niệm “đặc thù” (exceptionalism) trong chính sách của Việt Nam, phản ánh tư tưởng bảo thủ (vì ý thức hệ), tư duy truyền thống (theo quy trình), và tâm trạng lo sợ hoặc nghi ngại (do tâm lý). Tâm trạng này có thể trở thành rào cản đối với tư duy đổi mới sáng tạo trong một cục diện mới. Theo Alexander Vuving, “Việt Nam tiếp tục tách xa dần (nhưng không quá xa) Trung Quốc, và tiếp tục xích lại gần (nhưng không quá gần) Mỹ, sợ làm Trung Quốc tức giận”.  (“Cops, Robbers and the South China Sea’s New Normal”, Alexander Vuving, National Interest, Dec 23, 2016). 

Đến lúc phải xoay trục   
Đã đến lúc phải “kiểm toán” chính sách đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ “Hậu Thành Đô” (1990-2016), trên cơ sở thành công hay thất bại. Qua mấy thập kỷ, Việt Nam đã bị lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc, cả về kinh tế, chính trị, và đối ngoại, vì mắc phải cái vòng “kim cô”. Muốn khắc phục những hệ lụy to lớn và lâu dài đó, Việt Nam phải đổi mới thể chế toàn diện, cả về kinh tế lẫn chính trị, cả về đối nội lẫn đối ngoại.

Quan hệ “4 tốt” và “16 chữ vàng” chính là cái vòng “kim cô” để Trung Quốc thực hiện tham vọng bành trướng bá quyền ở Biển Đông (như “Đường 9 đoạn”). Nó làm Việt Nam tụt hậu, bất ổn, và mất dần chủ quyền lãnh thổ. Theo World Bank, Viêt Nam đã mất 15.420 km2 đất liền (năm 2000), ngoài mất Hoàng Sa (1974) và một phần Trường Sa (1988). Sự kiện dàn khoan HD981 tại Biển Đông là một bước ngoặt bộc lộ bộ mặt thật của Trung Quốc, làm lãnh đạo Việt Nam giật mình tỉnh giấc khỏi ảo tưởng và ngộ nhận.

Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn trước dựa trên bốn trụ cột: (1) độc lập tự chủ (trong đó có chính sách “3 không”), (2) đa phương đa dạng hóa (trong đó có chủ trương “thêm bạn bớt thù”), (3) vừa hợp tác vừa đấu tranh (trong đó có “đối tác hợp tác” và “đối tượng đấu tranh”), (4) chủ động và tích cực hội nhập quốc tế (để trở thành “đối tác tin cậy” của cộng đồng quốc tế). Các trụ cột đó về cơ bản là đúng (như khẩu hiệu), nhưng không ổn (về thực chất) vì sự bất cập giữa tuyên bố chính sách (declared policy) và thực tiễn (reality), do thể chế lỗi thời và cái “vòng kim cô” làm lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc.  
  
Chính sách đối ngoại giai đoạn mới phải giúp Việt Nam thoát khỏi lệ thuộc vào Trung Quốc, để quan hệ dựa trên “tái cân bằng tích cực” (active rebalance). Tái cân bằng tích cực không phải là “đu dây”, và “thoát Trung” không có nghĩa là quay lưng lại với Trung Quốc. Sau sự kiện dàn khoan HD 981 và chiến dịch quân sự hóa các đảo mà Trung Quốc chiếm giữ tại Biển Đông, Việt Nam đã xích lại gần Mỹ. Chuyến thăm Mỹ chính thức của CTN Trương Tấn Sang (7/2013) và TBT Nguyễn Phú trọng (7/2015) là một bước ngoặt cho “đối tác toàn diện” và tầm nhìn chung Mỹ-Việt về an ninh quốc phòng, làm tam giác Mỹ-Trung-Việt thay đổi, nhưng vẫn chưa đủ trở thành “đối tác chiến lược” (vì cái “vòng kim cô”). 
Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Obama (23/5/2016) với tuyên bố bỏ cấm vận vũ khí, đã kết thúc quá trình bình thường hóa hơn 2 thập kỷ. Nhưng đáng tiếc, Việt Nam đã “đu dây” quá lâu (suốt 8 năm) không tranh thủ được cơ hội “xoay trục” của Mỹ dưới thời Obama để nâng cấp quan hệ thành “đối tác chiến lược” (như với 10 nước khác). Cơ hội đó đã bị tuột mất vì dưới chính quyền Donald Trump, TPP đã bị gác lại, chủ trương “xoay trục” cũng bị xem xét lại, và di sản của Tổng thống Obama có thể bị xóa sổ.   

Những giá trị cốt lõi
Thực chất quan hệ Trung-Việt (thời kỳ “Hậu Thành Đô”) là bất bình đẳng và lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Đã đến lúc Việt Nam phải “xoay trục” để thoát khỏi tình trạng “cân bằng tiêu cực”, thể hiện qua chính sách “3 không” và “đu dây” với các nước lớn để tồn tại. Chính sách đối ngoại trong giai đoạn mới (đổi mới vòng 2) cần dựa trên ba tiêu chí cơ bản, như giá trị cốt lõi: (1) độc lập trưởng thành (mature independence), (2) tái cân bằng tích cực (active rebalance), và (3) hội nhập tích cực (proactive integration).

● Một chính sách đối ngoại “độc lập trưởng thành” phải nhất quán về tư duy chiến lược, lấy lợi ích dân tộc làm mục tiêu tối hậu, không lệ thuộc vào ý thức hệ đã lỗi thời.  Đã đến lúc người Việt phải đổi mới tư duy triệt để, không thể tiếp tục “đu dây” cả về đối nội và đối ngoại tại ngã ba đường, như mấy thập kỷ qua. Cái giá phải trả về lợi ích lâu dài (do sự trì trệ) lớn hơn nhiều so với cái lợi trước mắt (vì “hoàng hôn nhiệm kỳ”).
● Một chính sách đối ngoại “tái cân bằng tích cực” phải dựa trên sự cân đối và tương hỗ giữa đối nội và đối ngoại, giữa lợi ích quốc gia và hội nhập quốc tế, giữa cải cách thể chế kinh tế và đổi mới thể chế chính trị, để phát triển bền vững và dân chủ hóa. Để khai phóng năng lượng sáng tạo của người dân, phải xóa bỏ cơ chế lỗi thời về quyền sở hữu ruộng đất và độc quyền cho doanh nghiệp nhà nước theo “định hướng XHCN”.
● Một chính sách đối ngoại “hội nhập tích cực” phải giúp các doanh nghiệp có điều kiện và cơ hội để hội nhập quốc tế, tham gia chuỗi giá trị và cung ứng toàn cầu. Dù tương lai TPP ra sao, thì Việt Nam vẫn phải sẵn sàng tham gia các thể chế tự do mậu dịch quốc tế (thế hệ mới). Việt Nam đã đi được một quãng đường dài từ WTO đến TPP, nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa quen với sân chơi toàn cầu hóa. Cần giúp họ phát huy các lợi thế tương đối của mình, để tăng cường năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Trong bối cảnh Tổng thống đắc cử Donald Trump điện đàm với bà Thái Anh Văn, bổ nhiệm Peter Navarro làm chủ tịch Hội đồng Thương mại Quốc gia, và cử Rex Tillerson làm Ngoại trưởng (với những phát biểu cứng rắn chống Trung Quốc), thì TBT Nguyễn Phú Trọng lại vội vàng sang thăm Trung Quốc (từ 12/1/2017). Ngay hôm sau, ngoại trưởng Mỹ John Kerry tới thăm Việt Nam lần cuối (13/1/2017). Thời điểm hai chuyến thăm bộc lộ sự bất cập chứng tỏ Việt Nam vẫn đang “đu dây” (vì sức ép của Trung Quốc).
Trong khi đó, PetroVietnam và Exxon-Mobil ký hai hợp đồng về khí tại mỏ “Cá voi xanh” (Blue Whale). Điều đáng lưu ý là thời điểm ký kết trùng với chuyến thăm của TBT Nguyễn Phú Trọng và ngoại trưởng John Kerry, điều trần tại Thượng Viện của Rex Tillerson (ngoại trưởng mới được đề cử) với những phát biểu cứng rắn chống Trung Quốc. Trong bối cảnh Trump quyết định rút khỏi TPP, thì hợp đồng hợp tác dầu khí với Exxon-Mobil tại Biển Đông không chỉ quan trọng về kinh tế, mà còn có ý nghĩa lớn về địa chiến lược.

Ngay sau đó, thủ tướng Nhật Shinzo Abe đã đến thăm Việt Nam (16/1/2017) nhằm tăng cường hợp tác tại Biển Đông. Nhật muốn cải thiện năng lực tuần duyên của Việt nam, nên đã quyết định viện trợ cho Việt Nam thêm 6 tầu tuần duyên mới. Một quan chức Bộ Ngoại Giao Việt Nam phát biểu “hy vọng Nhật có vai trò lớn hơn về hợp tác an ninh quốc phòng”. Quan hệ Nhật-Việt cần phát triển theo hướng xây dựng nền tảng cho một tứ giác chiến lược mới do Nhật làm đầu tầu (“Japan-Australia-India-Vietnam Partnership”).     

Thay lời kết
Khi môi trường quốc tế và khu vực có nhiều biến động khó lường, và tình hình kinh tế, chính trị trong nước có nhiều bất ổn, đòi hỏi phải cải cách thể chế toàn diện (cả kinh tế và cính trị), thì chính sách đối ngoại cũng phải đổi mới theo tương ứng. Chính sách đối ngoại tuy là cánh tay kéo dài của chính sách đối nội, nhưng có nhiệm vụ làm đòn bẩy, hỗ trợ quá trình “đổi mới vòng 2” để phát triển bền vững. Đề cương đổi mới chính sách đối ngoại cần dựa trên đề cương đổi mới toàn diện của chiến lược phát triển quốc gia.

“Báo cáo Việt Nam 2035” chính là đề cương đổi mới, làm cơ sở xây dựng chính sách đối ngoại thời kỳ mới. Muốn thay đổi, phải gắn kết được trên với dưới, trong với ngoài, để huy động tối đa nguồn lực của dân tộc, nhằm kiến tạo một quốc gia giàu mạnh và văn minh. Đến lúc người Việt phải chứng minh Việt Nam không phải là một quốc gia hèn kém và lệ thuộc, quen dựa vào viện trợ nước ngoài, rằng người Việt Nam có thể hòa giải dân tộc, đứng dậy từ đổ nát và li tán, để tái tạo một quốc gia độc lập và dân chủ. Chỉ có độc lập và dân chủ mới thu phục được nhân tâm để kiến tạo một quốc gia giàu mạnh và văn minh.  

NQD. 1/2/2017 (5 Tết Đinh Dậu)