Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015


KẺ THÙ CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC

Bá Dương



Trên thế giới không có nước nào có lịch sử lâu đời như Trung Quốc, không có nước nào có một nền văn hóa không đứt đoạn như Trung Quốc, mà cái văn hóa đó lại đã từng đạt đến một nền văn minh cao độ. Người Hy-Lạp thời nay với người Hy-Lạp ngày xưa chẳng liên quan gì với nhau. Người Ai-Cập cũng vậy. Nhưng người Trung Quốc hôm nay thì đúng là hậu duệ của người Trung Quốc cổ đại. Tại sao một nước khổng lồ như vậy, một dân tộc to lớn như vậy ngày nay lại ra nông nỗi xấu xa ấy? Chẳng những bị người nước ngoài ức hiếp mà còn bị ngay dân mình ức hiếp. Nào là vua bạo ngược, quan bạo nguợc, mà cả dân (quần chúng) cũng bạo ngược.  

Thế kỷ thứ XIX, quần đảo Nam Dương - thời nay tức là Đông Nam Á, còn là thuộc địa của Anh và Hà Lan, có một chuyên viên Anh đóng ở Malaysia nói rằng: "Làm người Trung Quốc ở thế kỷ thứ XIX là một tai họa". Bởi vì ông này đã thấy cộng đồng người Hoa sống ở quần đảo Nam Dương giống một lũ lợn, vô tri vô thức, tự sinh tự diệt, tùy thời còn có thể bị sát hại hàng loạt. Thế mà tôi thấy người Hoa ở thế kỷ XX so với người Hoa ở thế kỷ XIX tai họa của họ còn lớn hơn. 

Điều làm chúng ta đau khổ nhất là bao mong đợi của người Hoa từ một trăm năm nay cơ hồ như đã bị tiêu tan toàn bộ. Cứ mỗi lần có một mong chờ trở lại, hứa hẹn nước nhà một tương lai sáng sủa hơn, thì kết quả lại càng làm cho chúng ta thất vọng và tình hình lại càng trở nên tệ hại hơn. Một mong chờ khác lại đến, để rồi lại đem về những ảo vọng, thất vọng, những tồi tệ liên miên vô tận. 

Dân tộc cố nhiên là trường tồn, sinh mệnh của cá nhân là hữu hạn. Một đời người có được bao ước vọng lớn? Có được bao lý tưởng lớn, chịu được mấy lần tan vỡ ? Con đường trước mặt sáng sủa thế nào? Hay lại đen tối? Thật khó nói cho hết!  

Bốn năm trước, lúc tôi diễn giảng tại New York, đến đoạn "chối tai", có một người đứng dậy nói: "Ông từ Đài Loan đến, ông phải nói cho chúng tôi nghe về những hy vọng, phải cổ võ nhân tâm. Sao lại đi đả kích chúng tôi?". Con người đương nhiên cần được khích lệ, vấn đề là khích lệ rồi sau đó làm gì nữa? Tôi từ nhỏ cũng từng được khích lệ rồi. Lúc 5, 6 tuổi, tôi được người lớn nói với tôi: "Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các cháu đấy!" Tôi cho rằng trách nhiệm của tôi lớn quá, chắc không thể nào đảm đương nổi. Sau đó tôi lại nói với con tôi: "Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!" Bây giờ con tôi lại nói với cháu tôi: "Tiền đồ Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!" 

Một đời, rồi một đời, biết bao nhiêu lần một đời ? Đến đời nào thì mới thật khá lên được ? Tại Trung Quốc đại lục rộng lớn, sau thời Phản hữu (Phong trào chống phe hữu năm 1958), tiếp theo lại là Đại Cách Mạng Văn Hóa long trời lở đất. Từ ngày loài người có lịch sử đến nay chưa bao giờ thấy được một tai họa do con người làm ra to lớn đến như vậy. Chẳng nói đến tổn thất sinh mạng, cái tổn thương lớn lao nhất là sự chà đạp nhân tính, dầy xéo lên phẩm hạnh cao quý. Con người nếu rời bỏ nhân tính và những đức hạnh cao quý thì sánh với cầm thú 

Bây giờ người ta nói nhiều về Hương Cảng [Hồng-Kông]. Bất cứ nước nào, nếu có đất đai bị nước ngoài chiếm cứ đều cảm thấy tủi nhục. Chờ cho đến lúc lấy được về chẳng khác nào lòng mẹ bị mất con. Ai cũng nhớ chuyện nước Pháp lúc phải cắt hai tỉnh Alsace và Lorraine giao cho Đức đã đau khổ như thế nào, lúc lấy lại được về đã sung sướng ra sao. 

Nhưng Hương Cảng của chúng ta chỉ cần nghe đến việc trả về tổ quốc là lập tức hồn bay phách lạc. Chuyện gì mà lạ thế? 

Còn nói về Đài Loan, hiện nay nhiều thanh niên người tỉnh này hoặc người nơi khác ở đây đều chủ trương Đài Loan độc lập. Tôi nhớ lại 30 năm trước đây, lúc Nhật Bản trả lại Đài Loan cho Trung Quốc (1945), mọi người sung sướng như si cuồng chẳng khác nào đứa con lạc mẹ lại tìm được đường về nhà. Cái gì đã xảy ra sau 30 năm đó để cho đứa con kia lại muốn bỏ nhà ra đi?  

Ở nước ngoài, có lúc tôi dừng lại trong công viên, nhìn trẻ con ngoại quốc, thấy sao chúng sung sướng thế. Trong lòng tôi lúc ấy tự nhiên cảm thấy thèm thuồng quá. Chúng không phải mang gánh nặng, con đường chúng đi bằng phẳng, rộng rãi quá, tâm lý khỏe mạnh, sung mãn, sảng khoái. Con trẻ Đài Loan chúng ta đến trường học, đeo kính cận, mặt khó đăm đăm vì phải đối phó với áp lực bài vở. Mẹ ngất ngã xuống đất, con đến đỡ mẹ dậy, mẹ kêu rống lên:

" Mẹ có chết cũng chẳng sao, việc gì đến con! Con đi học bài đi ! Đi học bài đi ! "  

Vợ tôi lúc dạy học ở Đài Loan, thỉnh thoảng cứ đề cập đến đạo đức làm người, tức thì sinh viên nhao nhao phản đối: "Chúng tôi không cần học làm người, chỉ cần học để ứng phó với việc thi cử". Lại nhìn về trẻ con ở Trung Quốc lục địa, từ nhỏ đã phải học đánh đấu nhau, lừa dối bịp bợm nhau, lại luyện tập cách lừa bạn, phản đồng chí, lại phải học cách bốc phét, bịa đặt. Một nền giáo dục đáng sợ thay! Một thế hệ nữa những đứa trẻ này lớn lên sẽ như thế nào? 

Người ta thường nói: "Mình nắm tương lai mình trong tay mình". Lúc đã luống tuổi, tôi thấy câu này không ổn; sự thực, có lẽ chỉ nắm được một nửa trong tay mình, còn một nửa lại ở trong tay của kẻ khác. 

Kiếp người trên đời này giống như một cục sỏi trong một máy nhào xi-măng, sau khi bị nhào trộn, thân chẳng tự chủ được. Điều ấy khiến tôi cảm thấy đó không phải là một vấn đề của riêng một cá nhân nào, nhưng là một vấn đề xã hội, văn hóa. 

Lúc chết, Chúa Giê-Su (Jesus) bảo: "Hãy tha thứ cho họ, họ đã làm những điều mà họ không hề hiểu". Lúc trẻ, đọc câu này tôi cho rằng nó chỉ là một câu tầm thường. Lớn lên rồi lại vẫn thấy nó không có gì ghê gớm cả, nhưng đến cái tuổi này rồi tôi mới phát hiện rằng nó rất thâm thúy, thật đau lòng thay! Có khác nào người Trung Quốc sở dĩ trở thành xấu xí như ngày nay bởi chính vì họ không hề biết rằng mình xấu xí.  

Chúng ta có đủ tư cách làm chuyện đó và chúng ta có lý do tin rằng Trung Quốc có thể trở thành một nước rất tốt đẹp. Chúng ta không cần cứ phải muốn có một quốc gia hùng mạnh. Quốc gia không hùng mạnh thì có can hệ gì ? Chỉ cần sao cho nhân dân hạnh phúc rồi thì đi tìm quốc gia hùng mạnh cũng chưa muộn. 

Tôi nghĩ người Trung Quốc chúng ta có phẩm chất cao quý. Nhưng tại sao cả trăm năm rồi, cái phẩm chất ấy thủy chung vẫn không làm cho người Trung Quốc thoát khỏi khổ nạn?

Nguyên do vì sao? 

Tôi muốn mạo muội đề xuất một câu trả lời có tính cách tổng hợp: Đó là vì văn hóa truyền thống Trung Quốc có một loại siêu vi trùng, truyền nhiễm, làm cho con cháu chúng ta từ đời này sang đời nọ không khỏi được bệnh. 

Có người sẽ bảo: "Tự mình không xứng đáng, lại đi trách tổ tiên!". Xét cho kỹ câu nói này có một sơ hở lớn. Trong vở kịch nổi tiếng "Quần ma" (Những con ma) của Ibsen (íp-sen) có kể chuyện hai vợ chồng mắc bệnh giang mai sinh ra một đứa con cũng bị bệnh di truyền. Mỗi lần phát bệnh nó lại phải uống thuốc. Có lần tức quá nó kêu lên: "Con không uống thuốc này đâu! Con thà chết đi thôi! Bố mẹ đã cho con cái thân thể như thế này à ? " Trường hợp này thì nên trách đứa bé hay trách bố mẹ nó? Chúng ta không phải trách bố mẹ, cũng không phải trách tổ tiên chúng ta, nhưng nhất quyết phải trách cái thứ văn hóa họ đã truyền lại cho chúng ta. 

Một nước rộng ngần đó, một dân tộc lớn ngần đó, chiếm đến một phần tư dân số toàn cầu, lại là một vùng cát chảy của sự đói nghèo, ngu muội, đấu tố, tắm máu mà không tự thoát được. Tôi nhìn cách cư xử giữa con người với nhau ở những nước khác mà lại càng thèm. Cái văn hóa truyền thống kiểu nào để sinh ra hiện tượng này? Nó đã khiến cho người Trung Quốc chúng ta mang sẵn trong mình nhiều đặc tính rất đáng sợ! 

Một trong những đặc tính rõ nhất là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Đài Loan đã từng có một dạo phải chống bẩn và chống hỗn loạn, nhưng chỉ được mấy ngày. Cái bếp của chúng ta vừa bẩn vừa lộn xộn. Nhà cửa chúng ta cũng vậy. Có nhiều nơi hễ người Trung Quốc đến ở là những người khác phải dọn đi. Tôi có một cô bạn trẻ tốt nghiệp đại học chính trị. Cô này lấy một người Pháp rồi sang Pa-ri sinh sống. Rất nhiều bạn bè đi du lịch Âu châu đều ghé nhà cô trú chân. Cô ta bảo với tôi: "Trong tòa nhà tôi ở, người Pháp đều dọn đi cả, bây giờ toàn người Á đông nhảy vào!" (Người Á đông có khi chỉ người châu Á nói chung, có khi lại chỉ người Trung Quốc). Tôi nghe nói vậy rất buồn, nhưng khi đi xem xét tận mắt mới thấy là chỗ nào cũng đầy giấy kem, vỏ hộp, giầy dép bừa bãi, trẻ con chạy lung tung, vẽ bậy lên tường, không khí trong khu bốc lên một mùi ẩm mốc. Tôi hỏi: "Các người không thể tổ chức quét dọn được hay sao?" Cô ta đáp: "Làm sao nổi!" 

Không những người nước ngoài thấy chúng ta là bẩn, loạn, mà qua những điều họ nhắc nhở chúng ta cũng tự thấy mình là bẩn, loạn. 

Còn như nói đến ồn ào, cái mồm người Trung Quốc thì to không ai bì kịp, và trong lĩnh vực này người Quảng Đông phải chiếm giải quán quân. Ở bên Mỹ có một câu chuyện tiếu lâm như sau: Có hai người Quảng Đông lặng lẽ nói chuyện với nhau, người Mỹ lại tưởng họ đánh nhau, bèn gọi điện báo cảnh sát. Khi cảnh sát tới, hỏi họ đang làm gì, họ bảo: " Chúng tôi đang thì thầm với nhau". 

Tại sao tiếng nói người Trung Quốc lại to? Bởi tâm không yên ổn. Cứ tưởng lên cao giọng, to tiếng là lý lẽ mình mạnh. Cho nên lúc nào cũng chỉ cốt nói to, lên giọng, mong lý lẽ đến với mình. Nếu không, tại sao họ cứ phải gân cổ lên như thế? 

Tôi nghĩ những điểm này cũng đủ để làm cho hình ảnh của người Trung Quốc bị tàn phá và làm cho nội tâm mình không yên ổn. Vì ồn ào, dơ bẩn, hỗn loạn dĩ nhiên có thể ảnh hưởng tới nội tâm, cũng như sáng sủa, sạch sẽ với lộn xộn, dơ bẩn là hai thế giới hoàn toàn khác xa nhau. 

Còn về việc xâu xé nhau thì mọi người đều cho đó là một đặc tính nổi bật của người Trung Quốc. Một người Nhật đơn độc trông chẳng khác nào một con lợn, nhưng ba người Nhật hợp lại lại thành một con rồng. Tinh thần đoàn kết của người Nhật làm cho họ trở thành vô địch.

Bởi vậy trong lĩnh vực quân sự cũng như thương mại người Trung Quốc không thể nào qua mặt được người Nhật. Ngay tại Đài Loan, ba người Nhật cùng buôn bán thì lần này phiên anh, lần sau đến lượt tôi. Người Trung Quốc mà buôn bán thì tính cách xấu xa tức thì lộ ra bên ngoài theo kiểu: Nếu anh bán 50 tôi sẽ bán 40. Anh bán 30 tôi chỉ bán 20. 

Cho nên, có thể nói, mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Người Trung Quốc ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi - nơi không cần quan hệ với người khác - thì lại có thể phát triển tốt. Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng cả một con giòi nữa. Bởi vì người Trung Quốc có biệt tài đấu đá lẫn nhau. 

Chỗ nào có người Trung Quốc là có đấu đá, người Trung Quốc vĩnh viễn không đoàn kết được, tựa hồ trên thân thể họ có những tế bào thiếu đoàn kết. Vì vậy khi người nước ngoài phê phán người Trung Quốc không biết đoàn kết thì tôi chỉ xin thưa: "Anh có biết người Trung Quốc vì sao không đoàn kết không? Vì Thượng đế muốn thế. Bởi vì nếu một tỷ người Hoa đoàn kết lại, vạn người một lòng, anh có chịu nổi không? Chính ra Thượng Đế thương các anh nên mới dạy cho người Hoa mất đoàn kết!" Tôi tuy nói thế nhưng rất đau lòng. 

Người Trung Quốc không chỉ không đoàn kết, mà mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tại sao họ lại không đoàn kết. Cái điều này thấy rõ nhất tại nước Mỹ với những hình mẫu ngay trước mắt. Bất cứ một xã hội người Hoa nào ít nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau. 

Ở Trung Quốc có câu: "Một hòa thượng gánh nước uống, hai hòa thượng khiêng nước uống, ba hòa thượng không có nước uống". Người đông thì dùng để làm gì? Người Trung Quốc trong thâm tâm căn bản chưa biết được tầm quan trọng của sự hợp tác. Nhưng nếu anh bảo họ chưa biết, họ lại có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đoàn kết. 

Lần trước (năm 1981) tôi sang Mỹ ở tại nhà một người bạn làm giáo sư đại học - anh này nói chuyện thì đâu ra đấy; thiên văn, địa lý; nào là làm sao để cứu nước... - Ngày hôm sau tôi bảo:

"Tôi phải đi đến đằng anh A một tý!". Vừa nghe đến tên anh A kia, anh bạn tôi trừng mắt giận dữ. Tôi lại bảo: "Anh đưa tôi đi một lát nhé!". Anh ta bảo: "Tôi không đưa, anh tự đi cũng được rồi!". 
Họ cùng dạy học tại Mỹ, lại cùng quê với nhau mà tại sao không thể cùng đội trời chung? Có thể nào nói như vậy là hợp lý được? Bởi vậy việc người Hoa cắn xé nhau là một đặc trưng nghiêm trọng. 

Những người sống tại Mỹ đều thấy rõ điều này: đối xử với người Trung Quốc tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính lại là người Trung Quốc với nhau. Bán rẻ người Trung Quốc, hăm dọa người Trung Quốc lại cũng không phải là người Mỹ mà là người Hoa. Tại Ma-lai-xi-a có một chuyện thế này. Một ông bạn tôi làm nghề khai thác mỏ khoáng sản. Anh ta bỗng nhiên bị tố cáo một chuyện rất nghiêm trọng. Sau khi tìm hiểu mới biết rằng người tố cáo mình lại là một bạn thân của anh ta, một người cùng quê, cùng đến Ma-lai-xi-a tha phương cầu thực với nhau. Người bạn tôi chất vấn anh kia: "Tại sao anh lại đi làm cái việc đê tiện đó?". Người kia bảo: "Cùng đi xây dựng cơ đồ, bây giờ anh giàu có, tôi vẫn hai tay trắng. Tôi không tố cáo anh thì tố ai bây giờ?"

Cho nên kẻ thù của người Trung Quốc lại là người Trung Quốc.  

Không hiểu vì sao người ta lại so sánh người Trung Quốc với người Do Thái được? Tôi thường nghe nói "người Trung Quốc và người Do Thái giống nhau ở chỗ cần cù". Điều này phải chia làm hai phần: 

Phần thứ nhất: cái đức tính cần cù từ mấy nghìn năm nay cũng chẳng còn tồn tại nữa, nó đã bị thời kỳ "Tứ nhân bang" (bè lũ bốn tên) phá tan tại lục địa rồi. 

Phần thứ hai: chúng ta còn gì để có thể đem so sánh với người Do Thái được? Báo chí Trung Quốc thường đăng: "Quốc hội Do Thái (Knesset) tranh luận mãnh liệt, ba đại biểu là ba ý kiến trái ngược nhau", nhưng cố ý bỏ sót một sự kiện quan trọng là sau khi họ đã quyết định với nhau thì hình thành một phương hướng chung. Tuy bên trong quốc hội tranh cãi tơi bời, bên ngoài đang giao chiến, bốn phía địch bao vây, nhưng I-xra-en vẫn tổ chức bầu cử. 
Ai cũng biết cái ý nghĩa của bầu cử là vì có đảng đối lập. Không có đảng đối lập thì bầu cử chỉ là một trò hề rẻ tiền.  

Tại Trung Quốc chúng ta, hễ có ba người sẽ cũng có ba ý kiến, nhưng cái khác nhau là: sau khi đã quyết định xong, ba người đó vẫn làm theo ba phương hướng khác nhau. Giống như nói hôm nay có người đề nghị đi New York, người đề nghị đi San Francisco. Biểu quyết, quyết định đi New York, nếu ở I-xra-en cả hai người sẽ cùng đi New York, nhưng ở Trung Quốc thì một người sẽ bảo: "Anh đi New York đi, tôi có tự do của tôi, tôi đi San Francisco!"  

Người Trung Quốc không thể đoàn kết, hay cắn xé nhau, những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Không phải vì phẩm chất của họ không đủ tốt. Nhưng vì con siêu vi trùng trong văn hóa Trung Quốc ấy làm cho chúng ta không thể đè nén, khống chế hành vi của chúng ta được. Biết rõ rành rành là xâu xé nhau, nhưng vẫn xâu xé nhau. Nếu nồi vỡ thì chẳng ai có ăn, nhưng nếu trời sụp thì người nào cao hơn người đó phải chống đỡ. 

Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: "Chết cũng không chịu nhận lỗi". Có ai nghe thấy người Trung Quốc nhận lỗi bao giờ chưa? Giả sử anh nghe một người Trung Quốc nói: "Việc này tôi đã sai lầm rồi!" Lúc đó anh phải vì chúng tôi mà uống rượu chúc mừng. 

Con gái tôi hồi bé có một lần bị tôi đánh, nhưng cuối cùng hóa ra là nó bị oan. Nó khóc rất dữ, còn tâm can tôi thì đau đớn. Tôi biết rằng đứa con thơ dại và vô tội của tôi chỉ biết trông cậy vào bố mẹ, mà bố mẹ bỗng nhiên trở mặt thì nó phải sợ hãi biết nhường nào. Tôi ôm con vào lòng rồi nói với nó: "Bố xin lỗi con. Bố không đúng. Bố làm sai. Bố hứa lần sau bố không làm như vậy nữa. Con gái ngoan của bố, con tha thứ cho bố nhé!" Nó khóc mãi không thôi. Cái sự việc này qua rồi mà lòng tôi vẫn còn đau khổ. Nhưng đồng thời tôi lại cảm thấy vô cùng kiêu hãnh bởi tôi đã dám tự nhận lỗi của mình đối với nó.  

Người Trung Quốc không quen nhận lỗi và có thể đưa ra hàng vạn lý do để che dấu cái sai trái của mình. Có một câu tục ngữ: "Đóng cửa suy gẫm lỗi lầm" (Bế môn tư quá). Nghĩ về lỗi của ai ? Dĩ nhiên của đối phương. 

Lúc tôi đi dạy học, học sinh hàng tuần phải viết tuần ký để kiểm thảo hành vi trong tuần. Kết quả kiểm thảo thường là: "Hôm nay tôi bị người này người nọ lừa tôi. Cái người lừa tôi ấy đã được tôi đối xử mới tốt làm sao, cũng bởi vì tôi quá trung hậu!". Lúc đọc đến kiểm thảo của đối phương, lại cũng thấy anh học trò kia nói mình quá trung hậu. Mỗi người trong kiểm thảo của mình đều là người quá trung hậu. Thế còn ai là người không trung hậu? 

Người Trung Quốc không thể nhận lỗi, nhưng cái lỗi vẫn còn đó, đâu phải vì không nhận mà nó biến mất. Để che đậy một lỗi của mình người Trung Quốc không nề hà sức lực tạo nên càng nhiều lỗi khác hòng chứng minh rằng cái đầu tiên không phải là lỗi. Cho nên có thể nói người Trung Quốc thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa. 

Họ liên miên khoa trương về dân Trung Quốc, về tộc Đại Hán, huyên thuyên về truyền thống văn hóa Trung Quốc, nào là có thể khuếch trương thế giới,v.v...Nhưng bởi vì không thể đưa ra chứng cớ thực tế nào nên tất cả chỉ toàn là những điều bốc phét. 

Tôi chẳng cần nêu ví dụ về chuyện nói khoác, láo toét làm gì. Nhưng về chuyện nói độc của người Trung Quốc thì không thể không nói được. Ngay như chuyện phòng the, người phương Tây vốn rất khác chúng ta, họ thường trìu mến gọi nhau kiểu "Em yêu, em cưng" [Bá Dương dùng chữ "đường mật" và "ta linh" để dịch chữ Honey, Darling của tiếng Anh -ND] thì người Trung Quốc gọi nhau là "kẻ đáng băm vằm làm trăm khúc" (sát thiên đao đích). 
Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hoặc tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định, khiến cho ai nấy nghe thấy cũng phải tự hỏi: "Tại sao người Trung Quốc lại độc ác và hạ lưu đến thế?" 

Lại nói ví dụ về chuyện tuyển cử. Nếu là người phương Tây thì tác phong như sau: "Tôi cảm thấy tôi có khả năng giữ chức vụ đó, xin mọi người hãy bầu cho tôi!". Còn người Trung Quốc sẽ xử sự như Gia Cát Lượng lúc Lưu Bị tới cầu hiền (tam cố thảo lư). Nghĩa là nếu được mời, anh ta sẽ năm lần bảy lượt từ chối, nào là "Không được đâu! Tôi làm gì có đủ tư cách!" Kỳ thực, nếu anh tưởng thật mà đi mời người khác thì anh ta sẽ hận anh suốt đời. 

Chẳng khác nào nếu anh mời tôi diễn giảng, tôi sẽ nói: "Không được đâu, tôi chẳng quen nói chuyện trước công chúng!" Nhưng nếu anh thật sự không mời tôi nữa, sau này nếu nhỡ lại gặp nhau ở Đài Bắc, có thể tôi sẽ phang cho anh một cục gạch vào đầu. 

Một dân tộc hành xử theo kiểu này không biết đến bao giờ mới có thể sửa đổi được lầm lỗi của mình; sẽ còn phải dùng mười cái lỗi khác để khỏa lấp cái lỗi đầu tiên, rồi lại dùng thêm trăm cái khác để che đậy mười cái kia thôi. 

Trung Quốc diện tích rộng thế, văn hóa lâu đời thế, đường đường là một nước lớn. Thế mà, thay vì có một tấm lòng bao la, người Trung Quốc lại có một tâm địa thật hẹp hòi. 

Cái tấm lòng bao la đáng lẽ chúng ta phải có ấy chỉ đọc thấy được trong sách vở, nhìn thấy được trên màn ảnh. Có ai bao giờ thấy một người Trung Quốc có lòng dạ, chí khí sánh ngang được với tầm vóc nước Trung Quốc không? Nếu chỉ cần bị ai lườm một cái là đã có thể rút dao ra rồi, thử hỏi nếu có người không đồng ý với mình thì sự thể sẽ ra sao? 

Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết.

Mọi người Trung Quốc đều sợ sệt đến độ không còn biết quyền lợi mình là gì thì làm sao còn biết đấu tranh, gìn giữ nó được? Mỗi khi gặp một chuyện gì xảy ra y nhiên lại nói: "Bỏ qua cho rồi!" 

Mấy chữ "bỏ qua cho rồi" này đã giết hại không biết bao nhiêu người Trung Quốc và đã biến dân tộc Trung Quốc thành một dân tộc hèn mọn. 

Giả sử tôi là một người nước ngoài hoặc một bạo chúa, đối với loại dân tộc như thế, nếu tôi không ngược đãi nó thì trời cũng không dung tôi. 

Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa bạo quan ở Trung Quốc không bao giờ bị tiêu diệt. 

Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, các vị có thể xem ở "Tư trị thông giám" (Một pho sử của Tư Mã Quang tóm hết chuyện hơn 2.000 năm để làm gương cho người đời sau), cái việc bo bo giữ mình đã được xem là kim chỉ nam và nhấn mạnh năm lần bảy lượt. Bạo chúa, bạo quan cũng chỉ cần dân chúng cứ bo bo giữ mình là được, cho nên người Trung Quốc mới càng ngày càng khốn đốn đến như thế. 

Nơi nào người Trung Quốc đã đặt chân đến thì không thể có chỗ nào là không bẩn. Có hơn một tỷ người Trung Quốc trên thế giới này, làm sao mà không chật chội được?  Ngoài ồn, chật, bẩn, loạn, lại còn thêm cái tật "thích xem" (người khác đau khổ), hoặc "chỉ quét tuyết trước nhà mình mà không động tý gì đến sương trên mái ngói nhà người khác". 

Họ luôn mồm "nhân nghĩa" mà tâm địa ích kỷ, tham lam. Một đằng hô to khẩu hiệu: "Phải tử tế với người và súc vật!", trong khi đó ngày ngày không ngừng xâu xé lẫn nhau. 

Tóm lại, người Trung Quốc đúng là một dân tộc vĩ đại, vĩ đại đến độ làm cho người đời nay không có cách nào hiểu nổi tại sao họ có thể tồn tại được trên quả địa cầu này những 5.000 năm?


Bá Dương
Nguồn: Trích đoạn "Người Trung Quốc Xấu Xí"
http://lmvn.com/truyen/index.php?func=viewpost&id=KZAREJlWDnLhOrlZkMBPG3YCUz9Xh1Xr


Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2015


VÀI KINH NGHIỆM TRONG NHẬN THỨC VÀ 
TU TẬP CỦA MỘT PHẬT TỬ̉

Nguyễn Tường Bách


Kính thưa Quí vị và các bạn,

Trước hết tôi xin cảm ơn Thiền Viện Trúc Lâm đã có sáng kiến tổ chức buổi Hội thảo này và cho phép tôi có cơ hội phát biểu. Nơi đây tôi bùi ngùi nhớ lại thầy Thiện Châu cùng năm tháng đi về Trúc Lâm hai mươi năm về trước. Nếu Thầy chứng kiến được buổi gặp ngày hôm nay chắc hẳn Thầy hài lòng.

Đề tài của ngày hôm nay hầu như trùng khớp với đề tài của 20 năm trước, đồng thời cũng là đề tài muôn thuở của đạo Phật: “Đạo Phật trong xã hội hiện đại“. Vì lẽ đó mà những điều cần nói, như Phật giáo và xã hội, Phật giáo và chiến tranh hòa bình, Phật giáo và Khoa học, Quí vị cũng như mọi diễn đàn trong và ngoài nước đã nói và sẽ nói hết. Sau đây tôi chỉ có vài lời tâm sự của một người theo đạo Phật và 20 năm qua đã có cơ hội tiếp xúc nhiều với bà con Phật tử và cũng đã nhiều lần suy tư về nhận thức và hành động trong giáo lý của Phật. Những lời tâm sự sau đây có thể có chút bi quan nhưng là lòng chân thật, phát xuất những gì tôi nghĩ.

1.     Trước hết sau đây là một suy tư lạc quan. Đó là càng với thời gian qua, tôi càng vui mừng thấy mình đã gặp được đạo Phật trong đời mình. Đó là một tôn giáo – nếu ta gọi là tôn giáo – hiền hòa, tôn trọng sự sống, yêu sự thật, yêu hòa bình, yêu dân chủ, tôn trọng sự khác biệt, kể cả sự khác biệt tôn giáo. Những năm gần đây đạo Phật còn dạy cho tôi phép thiền định. Đó là một cách quán sát tâm, giúp tôi an lạc trong tâm, làm tôi nhận thức sự vật và thế giới một cách tỉnh táo, sáng tỏ.

2.      Thứ đến tôi có một nhận định có thể bi quan, có thể gây tổn thương cho một số người nghe. Đó là khi đạo Phật được tổ chức thành định chế (Institution), như tăng đoàn, giáo hội, đoàn thể, tập hợp...thì tuy các giá trị của Phật giáo như vô ngã, đối trị tham sân si, an lạc nội tâm...vẫn được nhắc nhở đến, nhưng các nổi khổ, phiền não sinh ra do một tập thể được tổ chức dường như nghiêm trọng hơn. Phải chăng các định chế đó phát sinh phiền não hơn an lạc. Sẽ sinh ra giáo hội của tôi, tông môn của tôi, đạo sư của tôi. Vì lẽ đó tôi nghĩ rằng đạo Phật có lẽ chỉ hiệu quả trong sự tu học cá thể hay trong những nhóm rất nhỏ, không có tính chất tổ chức. Phải chăng Phật giáo sẽ không bao giờ trở thành một phong trào quần chúng và cũng không bao giờ nên hướng về điều đó. Ở đây tôi chỉ nêu câu hỏi chứ không dám khẳng định.

3.      Lại một nhận định bi quan nữa. Thời đại hiện nay là thời đại của bạo lực. Bạo lực nuôi dưỡng bạo lực, được trả lời bằng bạo lực. Bạo lực trên cả 3 phương diện Thân Khẩu Ý. Bạo lực từ phạm vi nhỏ trong xã hội đến trong mức độ giữa các quốc gia trên thế giới. Phật nói, chỉ có tình thương mới hóa giải hận thù, nhưng xin hỏi ai làm được điều này? Trước tình hình thế giới hiện nay, theo tôi, Phật giáo hoàn toàn bất lực. Cũng trên khía cạnh này, ta thấy Phật giáo chỉ giúp được con người cá thể được hạnh phúc và an lạc. Phật giáo hầu như không đóng vai trò nào trong qui mô rộng lớn của xã hội và thế giới.

4.      Theo tôi đạo Phật phải nằm xa chính trị, xa nhà cầm quyền, không tham gia quyền lực. Khi gần với quyền lực, đạo Phật không bao giờ “cải tạo“ được con người của quyền lực, ngược lại tăng sĩ bị tha hóa, bị lung lạc. Sự kiện các nhà vua thời Lý Trần của Việt Nam vừa là nhà vua vừa là thiền sư là một trường hợp hi hữu của lịch sử. Đạo Phật không bao giờ nên là "quốc giáo" cho bất kỳ quốc gia nào, ngược lại mọi tăng sĩ chỉ nên là các "sơn tăng“ sống xa đời sống thế tục. Quá trình suy sụp của Phật giáo tại Tây Tạng, trong đó suốt mấy trăm năm giới tăng lữ vừa là nhà tu vừa lãnh đạo quốc gia, để lại cho chúng ta một bài học đáng suy nghĩ. Các lần pháp nạn trong lịch sử Phật giáo Trung quốc cũng cho thấy một khi tăng sĩ có nhiều quyền lực chính trị thì lúc đó Phật giáo sẽ suy tàn.

5.      Tôi nghĩ rằng, một mặt Phật giáo với tính cách là một tôn giáo có quần chúng, sẽ mất dần ảnh hưởng trên toàn thế giới. Trong các quốc gia như Ấn Độ, Trung quốc, Tây Tạng, Việt nam... Phật giáo chỉ còn là cái vỏ, nhiều hình thức hơn nội dung. Giáo lý của Phật ít người biết đến. Tuy nhiên giáo lý của Phật lại còn tồn tại trong những người thực hành giáo pháp của Ngài, thí dụ trong các nhóm tu học theo ba hướng Thiền, Tịnh Độ và Kim cương thừa. Và chỉ những người thực hành giáo pháp của Phật mới giữ được tinh thần của giáo pháp.

6.      Cuối cùng theo tôi người theo đạo Phật phải nên tu tập thông qua thực hành. Chỉ qua thực hành, giáo pháp của Phật mới sáng tỏ thực sự. Những nguyên lý như Vô thường, Vô Ngã, Khổ...sẽ sáng tỏ hơn khi ta thực tập, thí dụ thực tập Thiền Định. Nếu không tu tập, giáo lý của Phật chỉ như một số lý thuyết về đạo đức cá nhân, đạo đức xã hội. Qua sự thực hành tu tập, người Phật tử mới có cơ may thoát khỏi phiền não. Nếu không thực hành, Phật tử biết có phiền não nhưng không thoát khỏi phiền não.

7.      Đạo Phật có khái niệm “hoằng pháp“, tức là giữ gìn và làm lan tỏa giáo lý của Phật. Thế nhưng điều đó không có nghĩa Phật tử nên tìm cách "cải đạo" người khác. Theo tôi, Phật tử luôn luôn sẵn sàng trình bày và giải thích giáo lý của Phật với ý nguyện giúp đỡ người khác, nhưng với điều kiện là người nghe cũng sẵn sàng nghe chuyện. “Vô vấn vô thuyết“ (Không hỏi không nói), đó cũng là điều mà Phật đã thực hành lúc Ngài còn tại thế.

8.      Cá nhân tôi chọn Thiền làm phương pháp thực hành tu tập. Các phương pháp khác thuộc Tịnh Độ hay Kim cương thừa có thể thích hợp cho một số hành giả khác. Tôi tôn trọng các tông môn khác và không phê bình chỉ trích. Họ có phương pháp, bí quyết và thành tựu của họ mà người ngoài không hiểu hết. Họ không muốn tìm đến thuyết phục chúng ta cũng như chúng ta không có nhu cầu thuyết phục họ. Ngay cả Thiền cũng có nhiều phương pháp, bí quyết, tông môn khác nhau, hành giả không cần giải thích hay thuyết phục lẫn nhau.

9.      Tu tập theo phương pháp Thiền Phật giáo cần thời gian vì hành giả cần đi ngược mọi thói quen trong tâm. Hành giả Thiền Phật giáo rất dễ bỏ cuộc vì phép tu cần kiên trì miên mật. Chỉ khi nào hành giả cảm nhận có niềm vui trong tâm khi thực hành Thiền định thì lúc đó ta có thể xem bước đầu đã đạt được. Nếu còn dụng công, cố gắng...thì còn xa cửa Thiền.

Kính thưa Quí Vị và các bạn,
Trên đây là những nhận thức riêng tư và thành thật của tôi. Trong bài, tôi nêu câu hỏi nhiều hơn là khẳng định. Đó chính là vì tôi chỉ là một Phật tử sơ cơ trên con đường tầm cầu. Mong được sự chỉ giáo và chia sẻ của Quí Vị và các bạn.

Kính chúc Quí vị và các Bạn an lành.
Nguyễn Tường Bách


Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015


TẠI SAO CHÚA TRỜI KHÔNG THỂ HIỆN HỮU ?
 
A.L de Silva




Chúng ta đã thấy rằng các luận cứ dùng để chứng minh sự hiện hữu của Chúa Trời (xem Chương 2) là không đúng và không đầy đủ. Bây giờ chúng ta sẽ chứng minh rằng bằng luận lý rằng Chúa Trời toàn thiện, toàn trí và toàn năng , như nhân vật mà tín đồ Thiên Chúa giáo tin tưởng, là  không thể hiện hữu được.

Vấn đề Tự do Ý chí
Để cho cuộc sống tín ngưỡng có ý nghĩa, chúng ta phải có tự do ý chí trong niềm tin, chúng ta phải có quyền chọn lựa giữa cái tốt và cái xấu, cái thiện và cái ác. Nếu chúng ta không có tự do ý chí (để chọn lựa) thì chúng ta không thể chịu trách nhiệm điều mà chúng ta làm.Theo tín đồ Thiên Chúa giáo, Chúa Trời thì Toàn trí – Ngài biết tất cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Nếu thế thì Chúa Trời phải đã, từ rất lâu, biết trước tất cả mọi điều chúng ta sẽ làm. Điều này có nghĩa là toàn bộ đời sống chúng ta đã được định trước và chúng ta hành động nhưng không được tự do theo ý chí của chính mình mà lại theo các bản tính tiền định của chúng ta. Nếu chúng ta được tiền định là thiện chúng ta sẽ thiện, và nếu bị tiền định lá ác thì chúng ta sẽ ác. Chúng ta hành động không theo ý chí  hay sự tự do chọn lựa mà theo cách thức Chúa Trời đã tiên liệu chúng ta sẽ hành động. Mặc dầu tín đồ Thiên Chúa giáo cứ khăng khăng rằng chúng ta có tự do ý chí  nhưng chính cái tính Toàn trí của Chúa Trời đã làm cho điều “tự do ý chí” này không còn hợp lý được nữa. Thật ra thì sự kiện con người sẽ hành động theo những quyết định của Chúa Trời đã được khẳng định trong Kinh Thánh:Nếu có người xấu thì đấy là vì Chúa Trời đã quyết định chọn lựa tạo ra họ xấu (Rom, 1:24-28) và sở dĩ ho xấu vì họ đã không tuân phục Ngài (Rom, 11:32). Nếu họ không hiểu lời phán truyền của Chúa Trời thì đấy là do Ngài đã tạo ra tâm trí họ đần độn (Rom, 11:8) và làm cho họ bướng bỉnh(Rom, 9:18). Chúa Trời ngăn cấm rao giảng Kinh Thánh ở một vài khu vực nào đó (Act, 16:6-7) và Ngài đã định sẵn từ rất lâu trước khi chuyện xẩy ra, rằng khi nào thì một người sẽ được sinh ra hay sẽ chết đi (Act, 17:26). Những ai sẽ được cứu rỗi đã được Đức Chúa Trời chọn trước lúc bắt đầu có thời gian (ii Tim 1:9, Eph 1:11). Nếu một người có lòng tin và do đó được cứu rỗi , thì lòng tin đó đến từ Chúa Trời, chứ không phải từ bất cứ nỗ lực nào của họ (Eph, 2:9-10). Người ta có thể hỏi “Nếu một người chỉ có thể làm cái mà Chúa Trời định sẵn cho họ, thì làm sao Ngài lại có thể để họ chịu trách nhiệm về các hành vi của mình được ?” Kinh Thánh đã có đáp án cho vấn nạn này.

Một trong các bạn sẽ bảo tôi rằng “Nếu thế thì làm sao Chúa Trời có thể bắt lỗi ai? Tại vì ai mà dám chống lại ý Chúa?” Nhưng này bạn, bạn là ai mà đòi đối đáp với Chúa Trời? Một cái lọ đất không được quyền hỏi ai là người làm ra nó rằng “Tại sao ông lại tạo ra tôi như thế nầy?” Rốt cuộc, người tạo ra chiếc lọ có toàn quyền sử dụng đất sét như ông ta muốn, và ông ta đã tạo ra hai cái lọ từ một tảng đất sét, một cái cho các dịp đặc biệt và một cái để sử dụng lúc bình thường. Và Chúa Trời cũng đã làm y như vậy (Rom, 9:19-22).

Như thế, hình như trong Thiên Chúa giáo, cuộc sống và số phận của một người là hoàn toàn do ý thích của Chúa Trời, và vì chỉ là loài người nên chúng ta không có quyền than phiền hoặc khiếu nại gì về những điều mà Chúa Trời đã quyết định cho chúng ta cả. Ý tưởng cho rằng tất cả đều được (hay bị) tiền định thì hoàn toàn nhất quán với ý tưởng về một Chúa Trờitoàn trí, nhưng lại trở nên vô nghĩa trước ý niệm về nổ lực tự thân của con người muốn làm điều lành và tránh điều dữ.

Vấn đề của Điều Xấu
Có lẽ luận cứ mãnh liệt nhất chống lại sự hiện hữu của một Chúa Trời toàn năng, toàn thiện là thực tế không thể chối cãi rằng có quá nhiều đau đớn khổ sở trên thế giới nầy. Nếu thực sự có một Chúa Trời lòng lành (toàn thiện) với quyền phép vô biên (toàn năng), tại sao ông Chúa đó không chấm dứt mọi đau khổ xấu xa đó đi ? Những tín đồ Thiên Chúa giáo đã cố gắng trả lời câu hỏi này theo nhiều cách.
Đầu tiên, họ sẽ bảo rằng điều xấu là do con người chứ không phải do Chúa Trời gây ra, và rằng nếu con người tuân theo các điều răn của Chúa thì sẽ không còn đau đớn, xấu xa, khốn khổ nữa. Tuy nhiên, nếu thực sự các điều xấu như chiến tranh, cưỡng đoạt, giết chóc và bóc lột có thể đổ tội cho con người, thì khó có thể đổ tội (cho con người) khi có hàng triệu người chết hàng năm do động đất, lũ lụt, dịch bệnh và tai nạn, tất cả vốn đều là những biến cố tự nhiên. Thực ra, theo Kinh Thánh, vi khuẩn gây ra những bệnh tật ghê gớm như ho lao, bại liệt, dịch tả, phong cùi v.v. và mọi thống khổ, dị dạng và đau đớn do những bệnh nầy gây ra, đều do Chúa Trời tạo ra trước khi Ngài tạo ra con ngưòi. (Gen, 1:11-12).

Vài sản phẩm của một Chúa Trời “Lòng lành, Toàn năng, Toàn trí” ?



 
Bảo lụt tại Việt Nam - Vi khuẩn West Nile - Núi lữa Etna


Trẻ em dị hình tại Irak

Một cách khác mà những tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ cố giải thích là họ cho rằng đó chính là hình phạt của Chúa Trời cho những ai không tuân theo những lời răn của Ngài. Tuy nhiên điều này lại hàm ý rằng những điều kinh khủng đó chỉ xẩy ra đối với kẻ xấu, mà điều này thì chắc chắn không đúng. Chúng ta thường nghe nói đến những bệnh tật đau đớn hay các tai ương thường xảy ra cho người tốt, kể cả những tín đồ Thiên Chúa giáo ngoan đạo. Và tương tự, chúng ta cũng nghe nói đến có những kẻ thực sự cực kỳ xấu thì hình như họ lại không bị gì cả, nhiều khi họ lại may mắn và thành công. Vì thế, không thể bảo rằng đau khổ và xấu xa là cách thức Chúa Trời trừng phạt kẻ tội lỗi.

Kế đến, những tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ nói rằng Chúa Trời cho phép xấu xa hiện diện trên trần thế vì Ngài muốn cho chúng ta tự do chọn lựa điều thiện thay vì cái ác, và nhờ vậy mà linh hồn sẽ được cứu rỗi. Họ sẽ bảo phải có xấu xa để thử thách chúng ta. Thoạt tiên đây có vẻ là một giải thích hay. Nếu một người thấy kẻ khác bị bắt nạt, anh/chị ta có thể chọn lựa giữa hành động  là bỏ lơ đi (làm sai) hay quyết định giúp đỡ nạn nhân (làm đúng). Nếu lấy quyết định giúp đỡ thì anh/chị ta được xem như đã qua thử thách và được công nhận là tốt. Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy trong phần trước, một Chúa Trời toàn trí thì phải đã biết trước một người sẽ chọn lựa như thế nào rồi, như vậy thì còn thử thách chúng ta làm gì nữa ? Lại nữa, cứ cho là đau khổ và xấu xa tồn tại trên trần thế là để thử thách chúng ta, thế thì một Chúa Trời đầy nhân từ không thể nghĩ ra cách thực hiện thử thách này một cách ít tàn bạo và đau đớn hơn hay sao? Chúa Trời có vẻ không có tình thương và tỏ ra bất công khi để cho đau đớn giáng xuống trên một người này hầu một người khác có cơ hội  chọn lựa giữa cái tốt lành và cái xấu xa.
Một vài tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ cố tránh cho Chúa Trời trách nhiệm về cái xấu bằng cách nói rằng không phải Chúa Trời  mà chính Quỷ Dữ đã tạo ra điều xấu. Điều này cũng có thể đúng, nhưng nếu Chúa Trời quá nhân từ thì rất đơn giản, tại sao Ngài không ngăn Quỷ Dữ làm các điều xấu này ? Vã lại, ai đã tạo ra Quỷ Dữ vậy ? Theo Kinh Thánh thì chắc chắn chính là Chúa Trời chứ ai.

Đến đây thì những tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ bắt đầu hơi thất vọng, họ sẽ chuyển luận cứ từ lý luận sang chủ nghĩa thực dụng . Họ sẽ nói cho dù có đau khổ trên thế gian nầy thì chúng ta có thể dùng sự đau khổ đó như là một cơ hội để phát huy lòng can đảm và tính nhẫn nại. Điều đó thực sự đúng, nhưng vẫn không giải thích được tại sao một Chúa Trời đầy nhân từ lại cho phép các đứa trẻ còn rất nhỏ tuổi (chưa có óc phán đoán về Thiện-Ác) lại chết vì ung thư hay bị dị hình ngay từ lúc còn là bào thai, những kẻ bàng quang vô tội bị chết trong các tai nạn, và những nạn nhân phong cùi khốn khổ vì dị dạng và đau đớn. Thực ra, sự hiện dịên quá nhiều đau đớn, khốn khổ và xấu xa không cần thiết trên trần thế nầy chính là bằng chứng mạnh mẽ rằng không có một  Chúa Trời  lòng lành và toàn năng.    
       
Tại sao Sáng tạo?
Tín đồ Thiên Chúa giáo khẳng định rằng Chúa Trời thì hoàn hảo, rằng Ngài là hoàn chỉnh trong mọi trường hợp, nhưng nếu thực sự Chúa Trời đã sáng tạo ra vũ trụ thì điều này lại sẽ chứng tỏ rằng Ngài không hoàn hảo gì cả. Chúng ta sẽ xem xét tại sao. Trước khi Chúa Trời sáng tạo ra vũ trụ thì chẳng có gì – không mặt trời, không quả đất, không con người, không tốt, không xấu, không đau khổ … - không có gì cả mà chỉ có Chúa Trời là, theo tín đồ Thiên Chúa giáo, hoàn hảo. Nếu Chúa Trời hoàn hảo và không có gì ngoài sự hoàn hảo tồn tại, thì cái gì đã thúc đẩy Chúa Trời đưa  sự không hoàn hảo vào vũ trụ ? Phải chăng do Ngài buồn quá nên muốn làm một cái gì đó ? Phải chăng vì Ngài cô đơn nên muốn tạo ra ai đó để cầu nguyện Ngài ?

Tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ nói rằng Chúa Trời  tạo ra mọi thứ vì Ngài thương yêu con người, nhưng điều này cũng không thể được. Chúa Trời  không thể yêu thương loài người trước khi sáng tạo ra họ cũng như phụ nữ không thể cụ thể yêu thương con mình trước khi mang thai. Nhu cầu phải sáng tạo của Chúa Trời đã chỉ ra rằng Ngài đang không hài lòng, mà nếu “không hài lòng” thì Ngài không hoàn hảo. Tín đồ Thiên Chúa giáo lại có thể nói rằng Chúa Trời đã bất chợt sáng tạo ra vũ trụ, mà không cần phải có nhu cầu hay ước muốn gì. Tuy nhiên điều này sẽ có nghĩa là toàn bộ vũ trụ xuất hiện mà không có mục đích hay chủ tâm gì cả, nếu thế thì Chúa Trời  quả thật không phải là một đấng sáng tạo nhân từ.

Vấn đề Chúa Trời giấu mặt
Tín đồ Thiên Chúa giáo khẳng định rằng chính Chúa Trời  muốn chúng ta tin vào Ngài để có thể được cứu rỗi – nhưng nếu thế thì sao Ngài  không xuất hiện và thực hiện một phép lạ để cho mọi người thấy và tin? Tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ trả lời rằng Ngài muốn chúng ta tin tưởng Ngài qua niềm tin, chứ không phải tin tưởng vì chúng ta thấy Ngài qua mắt trần. Tuy nhiên, theo Kinh Thánh, Chúa Trời  trong quá khứ đã thực hiện những phép lạ kinh khiếp nhất và thường nhiều lần can thiệp đột ngột vào công việc của con người, để con người biết đến sự hiện diện của Ngài. Thế thì nếu Ngài đã làm khá nhiều phép mầu trong quá khứ cho nhiều người thấy, tại sao bây giờ Ngài lại không làm?
Tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ nói Chúa Trời  ngày nay có thực hiện các phép lạ (chữa bệnh, giải quyết các khó khăn cá nhân v.v.) nhưng vì cứng  đầu và xấu xa nên hầu hết mọi người đều từ chối  tin Ngài. Tuy nhiên, những điều gọi là “phép lạ” này thì chỉ riêng cho từng cá nhân, lại ít xảy ra và rất đáng nghi ngờ. Nếu Chúa Trời  công khai thực hiện  một phép lạ thực sự ấn tượng mà không ai có thể giải thích được thì hầu hết mọi người chắc chắn sẽ tin vào Ngài.
Theo Kinh Thánh, dân Chúa lang thang trong sa mạc 40 năm, 
sống sót được nhờ thực phẩm của Chúa làm phép lạ ban cho. 
Thế mà năm 1980 (hình phải), hàng vạn trẻ em, trong đó có cả trẻ em Công giáo, 
lại bị chết đói vì thiếu thực phẩm mà chẳng thấy Chúa làm phép lạ gì cả!!!


 Theo Kinh Thánh, khi người Do Thái lang thang trong sa mạc bốn mươi năm, Chúa Trời  đã nuôi sống họ bằng cách làm cho thức ăn từ trên trời rơi xuống đều đặn (Ex, 16:4). Trong năm 1980, hàng triệu tín đồ Thiên Chúa giáo ở Ethiopia đã chết dần mòn và đau đớn vì đói ăn và hạn hán kéo dài. Lúc bấy giờ, Chúa Trời há  đã chẳng có một cơ hội làm thức ăn rơi từ trời xuống như Kinh Thánh  khẳng định Ngài đã làm trong quá khứ, đẽ chứng tỏ sự hiện diện của Ngài, quyền năng và lòng yêu thương của Ngài hay sao?. Phật tử sẽ nói rằng Chúa Trời đã không biểu diễn sự hiện diện của Ngài chỉ đơn giản vì Ngài không có thực.

Chúa Trời và Tsunami
Có lẽ bằng chứng hay nhất về một Chúa Trời toàn năng, toàn trí và lòng lành không thể hiện hữu thì không phải đến từ logic hay triết lý hay lý trí hay phản ứng đời thường mà đến từ thiên nhiên. Ngày 26-12-2004, một trận động đất ngoài khơi Sumatra (Indonesia) đã gây ra một đợt sóng thần vĩ đại đập vào bờ biển các nước Indonesia, Thái Lan, Ấn Độ, Tích Lan và Maldives. Hơn 230.000 người chết, khoảng nữa triệu người bị thương và hơn 2 triệu người mất hết gia tài nhà cửa.
Tsunami 26-12-2006 và Cảnh tàn phá sau Tsunami, hình phải.

Nạn nhân của Tsunami

 
Nếu lần tới mà có một nhà truyền đạo Thiên Chúa giáo đến để giảng đạo, tôi đề nghị bạn hãy hỏi vị đó tại sao một Chúa Trời lòng lành lại để chuyện kinh hoàng nầy xảy ra. Nếu lần tới mà có một nhà truyền đạo Thiên Chúa giáo đến để giảng đạo và nói với bạn rằng Chúa Trời hiệp thông với họ khi họ cầu nguyện, thì xin bạn hỏi họ tại sao Chúa Trời không nói trước với họ, hay với bất kỳ ai khác, rằng sẽ có trận sóng thần Tsunami xảy ra. Bạn hảy cho họ biết rằng Tsunami xảy ra vào ngày Chủ nhật, khi mà các tín đồ Thiên Chúa giáo trong vùng đó đang cầu nguyện trong nhà thờ. Hỏi họ sao Chúa Trời không báo trước cho dù chỉ một con chiên trong bọn họ là tai họa ghê gớm sẽ xảy ra. Thế mà Kinh Thánh lại dạy về Giê-su rằng “Ngay cả gió và sóng cũng vâng lệnh Ngài” (Matt, 8:27), vậy bạn hãy hỏi tín đồ Thiên Chúa giáo sao Giê-su không dập tắt sóng gió của Tsunami. Nếu lần tới mà có một nhà truyền đạo Thiên Chúa giáo nói rằng Chúa Trời chửa lành bệnh cho một người, bạn hảy hỏi họ sao Chúa Trời không cứu sống 230.000 người, trong đó có cả tín đồ Thiên Chúa giáo, đang chết đuối.

Nếu bạn hỏi tín đồ Thiên Chúa giáo, từ tín đồ bình thường đến chức sắc cao cấp, những câu hỏi bình thường nầy, họ sẽ tránh né, trả lời vòng vòng, đưa ra một vài giải thích thần bí, hay là chuyển đề tài qua chuyện khác. Nhưng chắc chắn họ sẽ không đưa ra được một câu trả lời có tính thuyết phục. Vì sao ? Đơn giản chỉ vì làm gì có Chúa Trời.

Người dịch: T.T.
--------------------------------------------------
[Trích từ Chương 3 của tác phẩm “Tin Không Nổi - Một Phê bình Thiên Chúa giáo bảo thủ từ góc độ Phật  giáo” (Beyond Belief – A Buddhist Critique of Fundamentalist Christianity) của cựu Mục sư A.L. de Silva.]


Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015


QUY LUẬT CỦA THÁNG TÁM ĐỊNH MỆNH

Lý Nguyên Diệu

Phật tử phản đối chế độ Ngô Đình Diệm

Tất cả bắt đầu từ ngày 26 tháng 6 năm 1954, khi ông Ngô Đình Diệm từ Paris trở về Sài Gòn sau 5 năm “từng lê gót nơi quê người” để “cứu đất nước và tranh đấu cho tự do” tại … quê người!.
Uy tín của ông ở trong nước là một vị quan thanh liêm, không màng danh lợi, cương quyết chống thực dân Pháp và Cọng sản. Uy tín của ông ở ngoại quốc là vua Bảo Đại đã phong cho ông làm Thủ tướng cộng với sự ủng hộ tài lực và nhân sự của đại cường Mỹ và ủng hộ tinh thần cùng uy tín của toà thánh Vatican. Thật là đầy đủ “danh chánh ngôn thuận”.

Trong bối cảnh ông Hồ Chí Minh đã nắm quyền ở Hà Nội, thực dân Tây còn quân đội ở trong Nam, ông Ngô Đình Diệm đã đủ uy tín để được sự ủng hộ của người dân Việt không chấp nhận thực dân Tây và cộng sản. Hai lực lượng chính yếu là chính trị và quân đội đã tin tưởng ông đến mức phiá dân sự, chính quyền của ông có ông Phan Khắc Sửu làm Bộ trưởng, ông Trần Văn Đỗ cầm đầu phái đoàn họp Hội nghị Genève, ông Trần Văn Hương làm Đô trưởng Sài Gòn …, và phía quân nhân có sự ủng hộ của các sĩ quan như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Nguyễn Ngọc Lễ, Đỗ Mậu, Thái Quang Hoàng…
Trong những ngày đầu lãnh đạo lực lượng cơ bản xây dựng chế độ đó, ông Diệm đã bắt đầu lộ ra dấu hiệu độc tài và yếu kém chính trị khi tổ chức Trưng cầu Dân ý ngày 23/10/1955 để truất phế vị vua đã giao cho mình quyền Thủ tướng với tỉ số phiếu 98.2% cho mình và 1.1% cho đối thủ Bảo Đại đang ở bên Tây. Hành động phản bội vua Bảo Đại một cách quá lố bịch đó đã làm cho “danh ông Diệm không còn chánh” và bầu cử gian lận quá độ đã làm cho “ngôn ông Diệm không còn thuận” nữa.
Vua Bảo Đại và Thượng Thư Ngô Đình Diệm lúc còn là vua-tôi.
Hình chân dung vua Bảo Đại bị vất xuống đất sau "Trưng cầu Dân ý" 23/10/1955

Nhưng tuần trăng mật của Tổng thống Diệm với miền Nam Việt Nam vẫn kéo dài được 6 năm (1955-1960). Đây là thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hoà của Việt Nam được yên ổn phát triển mà những người viết sử sau nầy thường nhắc đến. Có hai nguyên nhân chính cho sự “yên ổn” nầy: Cả hai chính quyền ông Hồ và ông Ngô cần thời gian chấn chỉnh để bắt đầu một cuộc thư hùng đầy núi xương sông máu. Nguyên nhân thứ hai là chính quyền Mỹ vẫn còn viện trợ tuy chưa ồ ạt nhưng rất căn bản nên chưa cần phải cân nhắc mức độ ủng hộ.

Cho đến năm 1960, ba biến cố xảy ra báo hiệu sự sụp đổ phải đến cho chế độ Tổng thống Diệm: (i) Cuối tháng 4 là cuôc họp báo của 18 nhân sĩ và chính trị gia của miền Nam để công khai trình bày một bản tuyên ngôn yêu cầu chính phủ ông Diệm cải tổ vì những lý do chính trị độc tài, chính quyền tham nhũng, quân sự lũng đoạn, kinh tế yếu kém, xã hội băng hoại. Trong số những người ký tên trên bản tuyên ngôn nầy lại có chính các người cộng sự cũ của ông Diệm là các ông Phan Khắc Sửu, Trần Văn Đỗ, Trần Văn Hương, … (ii) Giữa tháng 11 là cuộc nổi dậy của binh chủng Nhảy Dù, lực lượng thiện chiến nhất của chế độ ông Diệm. Tuy thất bại nhưng cuộc nổi dậy đã làm thức tỉnh ý thức chính trị của quân đội, vốn là một tập thể kỷ luật đã ủng hộ ông Diệm từ ngày đầu tiên khi ông trở lại Sài Gòn. Và (iii), cuối tháng 12, là sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam cho thấy miền Bắc đã nhận thức được chính quyền ông Diệm đang mất long dân và chỉ sống chủ yếu nhờ quân kinh viện của Mỹ nên họ đủ mạnh để khởi đầu cuộc chiến thống nhất đất nước.
Nhưng ông Diệm đã không thấy qua ba biến cố đó ông đã mất đi sự ủng hộ chính trị và quân sự trong miền Nam đồng thời kẻ thù miền Bắc đã sẵn sàng để tấn công. Vì không thấy nên ông vẫn tiếp tục càng ngày càng lún sâu vào con đường độc tài và chủ quan của ông bà Nhu ở Sài Gòn, thối nát và tàn bạo của ông Cẩn ở Huế và cuồng tín và tham ô của ông Thục trên toàn miền Nam cho đến năm 1963.

Giọt nước làm tràn ly là lệnh cấm treo cờ Phật giáo nhân lễ Phật Đản ngày 7 tháng 5 ở Huế ngay sau khi cờ Thiên Chúa giáo Vatican (màu vàng và trắng) bay đầy thành phố Huế như quoấc lễ để đón Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục mừng Lễ Ngân Khánh (25 năm được Vatican phong Linh mục). Giọt nước nầy đưa đến sự phẫn nộ trên toàn quốc qua những cuộc biểu tình, đình công bãi thị, sinh viên học sinh bãi khoá, giáo sư từ chức, các vị sư Phật giáo tự thiêu. Đây là những biểu lộ của quần chúng còn sâu đậm và toàn diện hơn cả những gì chúng ta đang thấy ở Syria, Ai Cập, … Từ bà bán hàng ở chợ Đông Ba đến ông Viện trưởng Linh mục Cao Văn Luận, từ giáo sư Phạm biểu Tâm, khoa trương Y khoa Sài Gòn đến ông già đạp xích lô ở NhaTrang, từ Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu đến người lính Thủy quân Lục chiến gác biểu tình, … nhưng ông Diệm vẫn không thấy. Hoặc là ông Ngô Đình Nhu không muốn cho anh của mình thấy. Dù cuộc tự thiêu đầu tháng 6 của Hoà thượng Thích Quảng Đức và cuộc tự vẫn đầu tháng 7 của nhà văn Nhất Linh đã làm xúc động trên toàn thế giới, nhưng hai cái chết nầy vẫn không làm rung chuyển ba người sống trong dinh Gia Long là ông bà Nhu và ông Diệm. Họ không ra khỏi tháp ngà đó nên đêm 20 rạng ngày 21 tháng 8 họ tổ chức một biến cố đã làm vỡ toang ly nước đời họ.


Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 8-5-1963,
Văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam uống thuốc tự vẫn ngày 7-7-1963
để phản đối chế độ Diệm kỳ thị Phật giáo và đàn áp đối lập chính trị

Tạp chí Hợp Lưu, xuất bản tại Little Saigon ở miền Nam California, số 88, 89, 90, đã trích đăng lại một bài viết kể lại biến cố được gọi là “chiến dịch Nước Lũ” đêm 20/8/1963 nầy như sau:
Khoảng nửa giờ sau khi Thiết Quân luật có hiệu lực, Nhu cho lệnh tấn công các chùa trên toàn quốc. Tại chùa Xá Lợi Sài Gòn, nơi đặt bản doanh Ủy ban Tranh đấu Liên Phái, hai đại đội thuộc Liên đoàn 31 Lực Lượng Ðặc Biệt [LLÐB], Ðại đội 16 Bảo An, và Cảnh Sát mặc giả quân phục đánh chiếm mục tiêu. Hòa thượng Tịnh Khiết, Thượng tọa Tâm Châu, cùng nhiều tăng sĩ bị bắt giam sau một giờ chống cự. Khoảng 30 tăng sĩ bị thương, và 2 người bị mất tích. Ðích thân Ðại tá Lê Quang Tung, Chỉ huy trưởng LLÐB, và Giám đốc Cảnh sát CA Ðô thành, Trần Văn Tư [tài liệu Pháp ghi là Cò Túc?], chỉ huy, dưới sự điều động của Ðính. Do mật báo từ Dinh Ðộc Lập, ký giả ngoại quốc biết trước tin này và có mặt tại chùa Xá Lợi để chứng kiến cuộc “vét chùa”, và quyết tâm bảo vệ đạo pháp của các tăng ni. Các chùa Ấn Quang, Chantareansay (Sài Gòn) đều bị chiếm. Các tăng trụ trì, Thiện Hoa và Lâm Em, bị bắt. ( 168) Ðồng thời, hai chùa Linh Mụ và Từ Ðàm (Huế), cùng các chùa ở Ðà Nẵng, Nha Trang v.. v… đều bị chìm trong “nước lũ” bạo lực.
Tại Huế, khoảng 3 giờ đêm, tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng kêu cầu cứu vang lên khắp nơi. Ðồng bào quanh chùa đánh mõ, gõ thùng thiếc báo nguy. Ðợt tấn công đầu, Cảnh sát bị đẩy lui. Sau đó, Ðỗ Cao Trí cho lệnh nổ súng. Những giáo sư, sinh viên và học sinh tranh đấu cũng bị bắt giữ.( 169) Tổng cộng khoảng 1,400 tăng sĩ, bị bắt trên toàn quốc. Chỉ có hai sư từ chùa Xá Lợi thoát được tới Phái Bộ Kinh Tế [USOM] gần đó xin tị nạn. Qua ngày 23/8, Trí Quang cũng trốn được vào Toà Ðại sứ Mỹ.
[Trích từ “Mùa Phật Đản Đẫm Máu” của tác giả Chính Đạo - Tạp chí Hợp Lưu số 88,89,90)]
Tạp chí Bách Khoa của giới trí thức Việt Nam, do ông Hùynh Văn Lang sáng lập theo huấn thị của ông Ngô Đình Nhu, số 169 và 170, sau 1963, đã đăng một bài của tác giả Phạm Trọng Nhân với đề tựa: “Cuốn sổ tay của một nhân viên ngoại giao nhân vụ tấn công chùa Xá Lợi”. Sau đây là một vài trích đoạn (nhấn mạnh của LND):

■ …“Đầu tháng 8 dương lịch. Tình thế ngày thêm trầm trọng. Vì vấn đề Phật giáo trước dư luận quốc tế; uy tín quốc gia xuống quá thấp!
Một vị Bộ trưởng, một hôm nhận xét:
Nguy quá! Nhiều sinh viên, học sinh bị bắt bớ, giam cầm … Động đến tôn giáo, đến sinh viên … Chánh phủ không thể đứng vững, nếu còn tiếp tục như hiện nay. Lịch sử cổ kim chứng tỏ khi chánh quyền đàn áp tôn giáo, khủng bố thanh niên, ấy là chánh quyền bắt đầu tự diệt …
Sau này, chúng ta được biết có lần ô. Vũ Văn Mẫu nhân danh là Giáo sư Đại học, đã can thiệp để trả tự do cho một số sinh viên. Và cấp thẩm quyền khi đó, thản nhiên, bình tĩnh, trả lời: Sinh viên, thanh niên, làm loạn thì phải bỏ tù. Các trường có đóng cửa một năm cũng chẳng hại gì …”.
■… “Ngày 16-8, lễ độ nhưng cứng rắn Ô. Trần Văn Chương (thân phụ của bà Ngô Đình Nhu) Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, tường trình vị Nguyên thủ về tình thế nước nhà trước công luận quốc tế. Các báo Mỹ sau có đăng tải bản phúc trình, đại cương có thể tóm tắt:
“Tôi hân hạnh kính trình Tổng thống tường: dư luận quốc tế và nhất là ở Mỹ, tin rằng chánh thể do Tổng thống lãnh đạo không thể mang thắng lợi cho đất nước. Cuộc khủng hoảng Phật giáo vốn dĩ chẳng phải là nguyên nhân, mà là hậu quả: thật chẳng khác giọt nước làm tràn chiếc ly đã quá đầy. Vấn đề không thể giải quyết bằng một công trình vá víu hay dối trá. Cần phải chân thành triệt để từ bỏ chánh thể này đã mất hết hậu thuẫn và tín nhiệm của quốc dân. Đó là điều mà chính Tổng thống không ngờ và không biết!”
■ …“Tổng thống chỉ có thể tiếp tục lãnh đạo quốc gia, với điều kiện tất yếu từ bỏ hẳn chánh sách độc tài chuyên chế, mà trong thực tế, Tổng thống đã ủy quyền cho hai em là NHU và CẨN. Tổng thống không biết rằng hai người này đã lạm quyền …”
■ …“Quốc dân chán ghét chánh thể này quá lắm rồi!”
■…“Ba ngày sau, bất thình lình, trong đêm tối, đoàn Mật vụ chiến đấu tấn công chùa Xá Lợi. Có tiếng súng nổ, tiếng hò reo, tiếng kêu rên, rồi máu chảy đầu rơi, và một đoàn người ra đi, không hẹn ngày trở lại! …
Một nhân viên cao cấp nhà ở gần chùa Xá Lợi, được ông Bộ trưởng Ngoại giao điện thoại cho biết nên nhờ đó được thưởng thức một màn khẩu trình bất ngờ, bi đát; lời nói nghẹn ngào hoà với tiếng chuông ngân kêu cứu, tiếng súng nổ hãi hùng … Điện đàm được chùng 15 phút thì dây điện thoại bị cắt.”
■…“Chi tiết vụ tấn công chùa Xá Lợi không hề được chánh thức công bố. Các nhân viên nội các đã tự truy tầm tìm hiểu, bằng những phương tiện riêng. Và ai nấy kết luận: “Cộng sản thâm nhập ngay ngưỡng cửa thủ đô” (như Tổng thống tuyên bố đầu buổi họp hội đồng nội các sáng sớm ngày 21/8) là điều sai sự thực. Hôm trước (20-8) Hội đồng liên bộ họp tại Hội trường Diên Hồng từ 9 giờ sáng đến 4 giờ chiều, mà nào có ai nghe thấy ông Bộ trưởng Nội vụ (ông Lâm Lễ Trinh) nói tới vấn đề Cộng sản …”

Cũng trên hai số 169 và 170 của tạp chí Bách Khoa đó, ta đọc được những phản ứng của các quốc gia đồng minh với Việt Nam sau khi chính quyền ông Diệm tấn công chùa chiền đêm 20 tháng 8 năm 1963 như sau:
■ Ngày 22-8-1963:
- Bộ trưởng Ngoại giao Vũ Văn Mẫu cạo đầu từ chức sau 8 năm làm Ngoại trưởng.
- Thái Lan: Thủ tướng Sarit Thanarat đòi đưa vấn đề Việt Nam ra trước Liên Hiệp Quốc.
- Mỹ: Báo Washington Post: “Chính quyền đã khủng bố, trong khi đáng lẽ phải thuyết phục. Đối với Hoa Kỳ, sự kiện nêu lên một câu hỏi quan hệ và trầm trọng: cần duyệt lại chánh sách viện trợ. Viện trợ nhằm mục đích chống Cộng chớ không phải giúp Cộng sản thành công …”
- Úc: Tổng trưởng Ngoại giao tuyên bố trước Quốc hội: “rất lo ngại về chánh sách kỳ thị và cố chấp của các nhà đương cuộc Việt Nam.”
- Anh: báo Daily Telegraph (Bảo thủ) viết: “Chánh thể đã tự hạ phẩm đến mức thuộc quyền sở hữu của một gia đình, khiến những thiện chí qúy hoá nhất cũng bị xuyên tạc.”
■ Ngày 23-8:
- Đại sứ Trần Văn Chương, thân phụ bà Trần Lệ Xuân, từ chức.
“Tin ông Trần Văn Chương từ chức (Đại sứ) được loan sáng 23-8. Và nhật báo New York World Telegram trong nhóm Scripps Howard nêu câu hỏi: “Ô. Trần Văn Chương mà còn không thể tiếp tục cộng tác, thì chúng ta làm sao có thể tiếp tục ủng hộ chánh phủ này đã mất hết hậu thuẫn của quốc dân?”
- Miến Điện: Báo The Guardian viết: “ … nhà cầm quyền Việt Nam đã lâm tình trạng thác loạn. Hành động qủa là một lầm lỗi phi thường, ra ngoài trí tưởng tượng của nhân loại.”
- Nhật: Thứ trưởng Ngoại giao, ông Shigenobu Shima hội kiến với Đại sứ Việt Nam yêu cầu cho biết sự thực về chùa Xá Lợi.”.
- Mỹ: Thượng nghị sĩ Wayne Morse của tiểu bang Oregon tuyên bố: – Mỹ ủng hộ chánh phủ Ngô Đình Diệm chỉ là làm lợi cho Cộng sản.”
■ Ngày 25-8:
- Đại Hàn: Tướng Chang Chung Son (một nhân viên trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng) đã gay gắt lên án  nhà cầm quyền Việt Nam đàn áp Phật giáo đồ.
- Ấn độ: “Dân tộc Ấn độ lấy làm công phẫn trước những hành động tàn ác hiển nhiên kia …”
- Phi Luật Tân (đa số dân theo Ki-tô giáo): Báo Manila Chronicle: “Nếu công cuộc đàn áp Phật giáo không chấm dứt, lệnh giới nghiêm không bãi bỏ, Phi có thể sẽ là một trong những nước đầu tiên đoạn giao với Việt Nam.”
■ Ngày 26-8:
- Hội nghị Phật giáo Tích Lan yêu cầu “các đoàn thể Phật giáo toàn quốc treo cờ rũ để tang cho các Phật tử Việt Nam bỏ mình vì tín ngưỡng.”
■Ngày 27-8:
- Cao Mên đoạn giao với Việt Nam và hợp với Tích Lan đem vấn đề đàn áp Phật giáo của chính quyền Diệm ra trước Liên Hiệp Quốc.
■ Ngày 28-8:
- Pháp: Chủ tịch “Hội nghị Tranh đấu cho Tự do Văn hoá”, Denis Rougemont tuyên bố: “Hội nghị phản đối kịch liệt chánh phủ Việt Nam đã chà đạp những quyền căn bản của người Phật giáo”.
■ Ngày 29-8:
- Trung hoa Dân quốc: “… rất lo ngại về tình hình tại Việt Nam.”

Cuối cùng là ý kiến của hai nhân vật với uy tín toàn cầu:
■ Ngày 30-8-1963: Thông điệp của Giáo hoàng Paul VI có đoạn: “Chúng tôi có bổn phận nói lên nỗi ưu tư đau đớn của chúng tôi, đứng trước những diễn biến đáng buồn đang đè nén dân tộc Việt Nam thân mến. Mối lo ngại của chúng tôi mỗi ngày thêm thâm trầm bi đát.”
■ Ngày 31-8-1963: Ông U Thant, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc gửi thư cho Tổng thống Diệm có câu: “Thúc dục bởi những ý niệm nhân đạo mà toàn thể chúng tôi đều tôn trọng, nhân danh là thành phần của đại gia đình nhân loại, tôi cảm thấy có bổn phận gửi thư nầy tới Ngài, cùng với lời kêu gọi tha thiết của cá nhân tôi …”
Ngày 12-9-1963: Ông U Thant đã họp báo và tuyên bố như một tiên đoán: “Tình hình tại Việt Nam mỗi ngày thêm trầm trọng. Những đức tính cần thiết của dân chủ, ví dụ trách nhiệm thay đổi chánh phủ theo thủ tục hiến pháp không cần bạo động, và điều động công quyền với phương pháp thuyết phục không cần võ lực, đối với Việt Nam hiện nay đều hoàn toàn xa lạ …”


Đức Giáo hoàng Paul 6: “…có bổn phận nói lên nỗi ưu tư đau đớn của chúng tôi
trước những diễn biến đáng buồn đang đè nén dân tộc Việt Nam thân mến”
Ông Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc U Thant: “Những đức tính cần thiết của dân chủ,… theo thủ tục hiến pháp không cần bạo động… đối với Việt Nam hiện nay đều hoàn toàn xa lạ …”


KẾT LUẬN

Ngày 1-11-1963, hậu qủa tất yếu mà ông U Thant cảnh báo đã xảy ra tại Sài Gòn với cuộc cách mạng khởi đầu từ quân đội để lật đổ một chế độ chỉ trong 2 ngày ngắn gọn với hai anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu đi qua bên kia của “cõi đi về” để trùng phùng với Hoà thượng Thích Quảng Đức và văn hào Nhất Linh trong cõi vĩnh hằng.

Nhà văn nhà giáo Doãn Quốc Sỹ, đã nói về cái chết của hai ông Diệm Nhu như sau: “Bảo là người Mỹ đã giết Diệm. Không! Diệm đã chết trong lòng dân tộc từ lâu. Mỹ chỉ đến lượm xác sống của y.”   [Người Việt Đáng Yêu, (Lời Mở Đầu) Nhà xuất bản Sáng Tạo, Sài Gòn, 1965. Đăng lại trên Tạp chí Việt Nam Hải Ngoại số 8 ngày 15-9-1977, San Diego, Hoa Kỳ.]
Từ Louis XVI ở Pháp đến Ngô Đình Diệm ở Việt Nam đến Mubarak ở Ai Cập, bài học lịch sử lập đi lập lại cho những nhà lãnh đạo quốc gia là gìn giữ yếu tố LÒNG DÂN. Dù được hay mất Tây, dù được hay mất Mỹ, dù được hay mất Tàu, dù được hay mất Vatican, … mà mất yếu tố lòng dân là mất tất cả.

Quy luật đó là bà mẹ đẻ ra nguyên tắc dân chủ làm cho nước Mỹ ngày càng hùng mạnh khi áp dụng hiến pháp một cách trung thực. Những ai đang/sẽ làm chính trị ở Việt Nam chỉ cần thuộc nguyên tắc “dân vi qúy, xã tắc thứ chi” nầy.

© Lý Nguyên Diệu
(extracted from Internet, Aug.20, 2011)