Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2014


KHÍA CẠNH TRIẾT HỌC CỦA CUỘC NÉM BOM
DINH ĐỘC LẬP 1962 TRONG QUAN HỆ VỚI PHÁP NẠN 1963

Minh Thạnh


Cuộc ném bom Dinh Độc lập năm 1962 của 2 phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc đã được đề cập nhiều dưới các khía cạnh quân sự, chính trị, sử học, nghệ thuật, đã là một sự kiện làm tốn khá nhiều giấy mực, nhất là ở khía cạnh chính trị.

Về mặt quân sự, đây được coi là một cuộc ném bom rất chính xác trong hoạt động cường kích không quân, với kỹ năng nghiệp vụ cao, bất ngờ, táo bạo, áp đảo.
Về mặt sử học, người ta đã từng tranh luận xem đây là một cuộc ám sát hay đảo chính. Một số sử gia xem đây là một cuộc đảo chính dù mục tiêu giết chết Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng rất rõ ràng.
Hai máy bay cường kích đã làm chủ không phận Sài Gòn nửa giờ và liên tục tấn công xuống Dinh, trực diện với pháo phòng không bắn lại từ nhiều điểm, không phải là một cuộc ra tay ám sát ngắn ngủi.
Wikipedia tiếng Anh cũng cho rằng “Cử và Quốc hy vọng cuộc không kích sẽ cho thấy những lỗ hổng của chính quyền Diệm và kích hoạt một cuộc tổng nổi dậy” (Cử and Quốc hoped that the airstrike would expose Diệm's vulnerability and trigger a general uprising).

Máy bay Skyrider của 2 sĩ quan Không quân VNCH  Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử bay nhào xuống sông Sài Gòn để chuẩn bị cho lượt ném bom xuống Dinh Độc Lập (Tổng thống phủ)  

Về nghệ thuật, có thể kể đến bài hát của Phạm Duy “Huyền sử ca một người mang tên Quốc” (các bản ghi âm của bài hát này hiện nay, vì lý do rõ ràng là bênh vực cho chế độ Diệm, đã bỏ đi lời ca ngợi Phạm Phú Quốc “bay lên đập vỡ bạo quyền”, hạ thấp người phi công này xuống chỉ là như một người tử trận trong chiến tranh).

Về mặt tôn giáo, có lời đồn đại hòa thượng Thích Tâm Châu là người cùng vạch kế hoạch cuộc ném bom với ông Nguyễn Văn Lực, một nhà lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng, cha phi công Nguyễn Văn Cử, vì hòa thượng Thích Tâm Châu là bạn của ông Nguyễn Văn Lực. Lời đồn đại này xuất hiện sau tháng 11/1963, tức sau cuộc đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo của Phật giáo.
Đây là một đồn đoán huyễn hoặc, không có cơ sở, vì chỉ từ quan hệ bạn bè mà suy diễn. Và vào năm 1962, mâu thuẫn giữa Phật giáo và chính quyền Ngô Đình Diệm chưa phải đã lên cao như trong năm sau đó. Hiện nay, lời đồn đoán đó đã đi vào quên lãng. Các tài liệu sử học đáng tin cậy chỉ nói đến vai trò của ông Nguyễn Văn Lực trong cuộc đảo chính quân sự này.

Trong các tài liệu sử học mà tôi đọc được, đều không thấy đề cập đến mối liên hệ nào giữa cuộc ném bom Dinh Độc Lập năm 1926 của hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc với pháp nạn Phật giáo 1963, dù một vài tài liệu có nói ông Phạm Phú Quốc là Phật tử (pháp danh Như Hưng). Bài viết này sẽ bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa 2 sự kiện đó, từ khía cạnh triết học.
Tuy nhiên, cần xác định rõ không phải là Phật giáo miền Nam có liên hệ gì với cuộc không kích Dinh Độc Lập năm 1962, mà là chỉ ra những tác động của cuộc ném bom này về mặt triết học đối với tổng thống Ngô Đình Diệm trong hành động đàn áp Phật giáo. Chính vì vậy, nên đây là một câu chuyện có liên hệ đến Phật giáo và do đó trở thành đối tượng tìm hiểu của bài viết này.

Cuộc không kích Dinh Độc Lập năm 1962

Như đã nói, đây là một cuộc đảo chính, với lực lượng quân sự được sử dụng là không quân, tấn công vào nơi cư trú của gia đình Ngô Đình Diệm, là đầu não của chế độ này.
Cuộc đảo chính trước hết là vấn đề của mâu thuẫn giữa chế độ Ngô Đình Diệm và Việt Nam Quốc dân Đảng, không có liên hệ gì đến Phật giáo. Khẳng định lại một lần nữa như thế để xóa tan lời đồn đại sự dính líu của Phật giáo miền Nam vào cuộc đảo chính này.
Lập kế hoạch cho cuộc đảo chính là ông Nguyễn Văn Lực, một người lãnh đạo Việt Nam Quốc dân Đảng, chống chế độ Ngô Đình Diệm, đã từng bị tù tội. Theo kế hoạch, con trai ông Lực, trung úy Nguyễn Văn Cử, phi công lái máy bay cường kích Skyraider A1 cùng với một đồng đội, trung úy Phạm Phú Quốc, sinh năm 1935, lái phi cơ cùng loại thứ 2 tấn công Dinh Độc Lập.

Dinh Độc Lập (Phủ Tổng thống) bị không kích vào sáng 27-2-1962

Bảy giờ sáng ngày 27/2/1962, cuộc tấn công đã diễn ra, khi 2 phi công nói trên điều khiển 2 máy bay cường kích quay về Sài Gòn trong một phi vụ ở đồng bằng sông Cửu Long và tấn công Dinh Độc Lập. Bom, rocket không điều khiển, đạn pháo đã được sử dụng, đánh chính xác vào cánh phía tây Dinh Độc Lập, nơi gia đình Ngô Đình Diệm cư trú, phá sập phần lớn cánh phía Tây của dinh thự này.
Hai máy bay đã không kích chỉ đánh vào mục tiêu một căn phòng trong Dinh Độc Lập và chịu đựng trong 30 phút đạn phòng không từ dưới đất bắn lên. Máy bay của Phạm Phú Quốc trúng đạn, bị rơi xuống sông Sài Gòn và phi công bị bắt giữ. Máy  bay của Nguyễn Văn Cử bị đạn làm hư hại, hạ cánh khẩn cấp xuống Phnom Penh, phi công tị nạn chính trị.
Có cả máy bay cất cánh để không chiến, nhưng gặp trở ngại vì hỏa lực phòng không dưới đất không phân biệt được với máy bay tấn công Dinh Độc Lập.
Ngoại trừ bà Ngô Đình Nhu bị xây xát nhẹ ở tay, ông Ngô Đình Diệm và những người còn lại trong gia đình không hề hấn gì.

Vấn đề triết học phát sinh từ cuộc không kích

Chính việc gia đình và cá nhân ông Ngô Đình Diệm không hề hấn gì đã tạo nên những tác động về mặt triết học. Tác động này diễn ra trên chính ông Diệm, gia đình, tức bộ máy cầm quyền, trung ương và các quan chức thân cận với gia đình này, gồm cả những binh lính, viên chức chính quyền cấp dưới của chế độ Ngô Đình Diệm.
Số đông người này đã chịu ảnh hưởng từ một chiến dịch truyền thông cho chế độ Ngô Đình Diệm phát động, mang màu sắc triết học.
Các phi công đảo chính đã thực hiện xuất sắc cuộc ném bom. Họ xác định đúng căn phòng Ngô Đình Diệm ở và thời điểm ông ta có mặt trong phòng. Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc nghĩ rằng cuộc ném bom đã đạt mục tiêu khi nhìn thấy khu vực được xác định của Dinh bị đánh sập hoàn toàn, nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược (1).

Trung úy Không quân Phạm Phú Quốc (trái), và Trung úy Không Quân Nguyễn Văn Cử
sau khi hạ cánh khẩn cấp xuống Campuchia

Quả bom 230 kg đầu tiên đã ném trúng căn phòng ông Diệm đang ngồi đọc sách trong đó. Trái bom không nổ! Sau đó, Ngô Đình Diệm, Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, vợ chồng ông Ngô Đình Nhu và các con nghe tiếng máy bay rít ngang kịp thời biết có cuộc không kích, đã trốn xuống tầng hầm ở cánh phía đông của Dinh.
Trong khi đó, bom và đạn pháo phá sập một phần cánh phía tây của Dinh.

Để hiểu được vấn đề triết học nảy sinh từ đây, chúng ta điểm qua về niềm tin tôn giáo và tư duy triết học của Ngô Đình Diệm và gia đình.
Ông Diệm theo đạo Ca tô La Mã một cách cực đoan, đồng thời, chịu ảnh hưởng nặng nề từ Nho giáo. Ông ta tin vào “mệnh trời” trong sự nghiệp chính trị của mình. Toàn bộ gia đình Ngô Đình Diệm là những người ngoan đạo, cùng niềm tin như thế.
Niềm tin tôn giáo này có quan hệ chặt chẽ với hệ tư tưởng triết học của chính quyền Ngô Đình Diệm là triết học nhân vị. Triết học nhân vị của chính quyền Ngô Đình Diệm do Ngô Đình Nhu, cố vấn chính trị khai sinh, lấy từ triết học nhân vị Pháp, của một nhóm trí thức cấp tiến, đứng đầu là E. Mounier (1905 - 1950).

Sách “Nửa thế kỷ nghiên cứu và giảng dạy triết học ở Việt Nam”, Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên, nhà xuất bản Hà Nội, 2001, đã viết như sau “Nhằm tạo ra một thứ triết học phục vụ lợi ích chính trị, Ngô Đình Nhu đã du nhập chủ nghĩa nhân vị của các nhà triết học Pháp để nhào nặn, tỉa rút, biến lý thuyết triết học này thành chỗ dựa để chống cộng sản” (trang 570).
Còn sách “Lịch sử triết học”, Bùi Thanh Quất, Vũ Tình (đồng chủ biên), nhà xuất bản Giáo dục, 2001, nhận định triết học nhân vị ở miền Nam “gắn liền thần học với chủ nghĩa duy linh”. Chủ nghĩa duy linh ở đây là chủ nghĩa tôn thờ thượng đế, đấng thiêng liêng tạo ra vũ trụ, vạn vật con người. Tất nhiên, đó là chúa trời đạo Ca tô La Mã, trong bối cảnh cầm quyền của Ngô Đình Diệm.

Trong sách “Ảnh hưởng của triết học phương tây hiện đại ở Việt Nam”, Lê Thị Tuyết, Dương Quốc Quân đồng tác giả, nhà xuất bản Chính trị Hành chính, 2013, các tác giả viết: “Chủ nghĩa nhân vị được chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng như một công cụ chống cộng sản, nó hoàn toàn tương ứng với giáo lý của Công giáo. Đó vẫn chỉ như một giáo hội công giáo trung cổ, trung thành nghiêm ngặt với những giáo điều của cộng đồng Trent (1545-1563). Công giáo miền Nam Việt Nam muốn kiên trì những kỷ cương, đảm bảo tính liên tục của giáo lý, từ đó bác bỏ mọi cải cách”.

Đối với vai trò nhà cầm quyền, chủ nghĩa nhân vị thần thánh hóa vai trò người cầm quyền, mà ở đây là Ngô Đình Diệm và gia đình. Các tác giả Lê Thị Tuyết, Dương Quốc Quân (sách đã dẫn) nhận định: “Nó cho rằng quyền xã hội là quyền do Chúa ủy thác cho người nào đó, để người ấy thay chúa trị vì thiên hạ. Nó đòi hỏi mỗi nhân vị phải phục tùng quyền lực đó như “sứ mạng”, “trách nhiệm” đối với Đấng tạo hóa, thậm chí phải hy sinh tính mạng của mình cho quyền lực. Bổn phận đối với chính phủ còn cao hơn đối với cha mẹ, nếu bổn phận đối với cha mẹ mười phần, thì bổn phận đối với chính phủ còn gấp trăm, nghìn lần, vì đây là “ân huệ tràn trề”, “tình thương vô biên” của tạo hóa ban phát cho loài người.
Đề tài về quyền xã hội do chúa ủy thác này rất gắn với chủ nghĩa nhân vị Mỹ mà có lúc Diệm đã thừa nhận. Khác với nhóm E. Mounier ở Pháp, nó ra sức bảo vệ chế độ tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, đây không chỉ đơn thuần là việc bắt chước một học thuyết của nước ngoài. Đằng sau chủ nghĩa nhân vị Mỹ này, người ta thấy hiện lên hệ tư tưởng Khổng giáo với đạo tam cương hà khắc. Đó là vũ khí tinh thần cần thiết của tập đoàn địa chủ mại bản ở miền Nam Việt Nam trong những năm 60 của thế kỷ XX”.

Niềm tin vào “mệnh trời” ở Ngô Đình Diệm ngày càng củng cố sau các thành quả chính trị quân sự, như hạ bệ Bảo Đại, đánh dẹp Bình Xuyên và Hòa Hảo, mua chuộc tướng lĩnh quân đội Cao Đài, loại trừ Hộ pháp Phạm Công Tắc, dập tắt đảo chính của quân Dù trước đó. 
Niềm tin “mệnh trời” ở Ngô Đình Diệm đã lên tới tột đỉnh khi bom đánh trúng phòng ông ở, lúc ông đang có mặt mà không nổ, nơi cư trú của gia đình ông bị san bằng mà hầu như không ai hề hấn gì. Ông Diệm coi đây là sự linh nghiệm của tôn giáo mà ông đang tôn thờ, sự xác tín của thứ triết học mà ông đang truyền bá. Ông ta tự xác định mình được sự che chở của Thượng đế theo mệnh trời một cách thiêng liêng, trở thành một tổng thống bất khả xâm phạm.

Do vậy, phản ứng của Ngô Đình Diệm sau cuộc ném bom không phải là bàng hoàng, hoảng hốt, sợ hãi, mà điềm tĩnh, tự tin, chiến thắng có phần đắc chí. Khía cạnh triết học của cuộc ném bom bắt đầu từ đây. Trong diễn văn ngắn trên đài phát thanh sau cuộc ném bom, ông Diệm nói mình thoát chết là do sự bảo vệ thiêng liêng.
Không lâu sau khi thoát hiểm, ông Diệm đi thăm các binh sĩ bị thương trong cuộc không kích, đơn vị không quân có máy bay không kích… Sau đó, nữa là một thánh lễ tạ ơn được quảng bá rầm rộ như một cuộc khải hoàn vinh quang.
Bộ máy truyền thông của chính quyền Ngô Đình Diệm đã ra sức tuyên truyền cho điều được gọi là sự bảo vệ thiêng liêng này, nhằm củng cố cho quyền lực của chế độ.
Tất nhiên, việc thoát chết của tổng thống Diệm được sử dụng như một minh chứng cho triết học nhân vị với vị tổng thống “thiên mệnh”, được thượng đế che chở. Rằng việc cai trị của tổng thống là “do Chúa ủy thác”, không thể thay đổi, không thể đảo ngược.

Về khía cạnh tôn giáo, các thánh lễ tạ ơn được tổ chức ở các xứ đạo thể hiện niềm tin thiên chúa ủng hộ và che chở tổng thống, tổng thống là người trời, là bất khả xâm phạm. Từ đó, lan truyền những tin đậm màu sắc tôn giáo, như có người đã thấy Đức Mẹ hiện ra trên Dinh Độc Lập khi 2 máy bay Skyraider ném bom. Người ta coi việc bom rơi trúng phòng tổng thống mà không nổ là một phép lạ, một sự mầu nhiệm của ơn trên…
Cả tổng thống, gia đình, nhiều người trong bộ máy chính quyền và bộ phận tín đồ một tôn giáo đã như bị say thuốc trong chiến dịch tuyên truyền mang màu sắc triết học nhân vị. Họ tin cũng đúng, bởi ngoài cỗ máy tuyên truyền được huy động đến công suất đỉnh, còn một sự thật rất hiển nhiên và ấn tượng là Dinh Độc Lập sụp gần hết cánh trái, mà gia đình tổng thống, trong đó có giám mục Ngô Đình Thục vô sự. Trong khi đó, trong Dinh Độc Lập, có 3 người chết và 30 người khác bị thương.
Báo chí đăng bức ảnh bà Ngô Đình Nhu đứng trên đống đổ nát của Dinh Độc Lập, chỉ tay kẻ cả không phải với nét mặt đau xót, tiếc nuối, buồn bã, mà là kiêu hãnh, phấn chấn, tự tin. Một cuộc tấn công với 2 phi cơ đầy bom đạn, nửa giờ chiếm lĩnh bầu trời Sài Gòn, Dinh Độc Lập sụp đổ, nhưng nhà Ngô vẫn đứng vững, quyền lực vẫn nguyên vẹn. 


Những hệ quả

Các vấn đề triết học liên hệ đến việc ném bom Dinh Độc Lập, được cỗ máy tuyên tuyền của chế độ Ngô Đình Diệm khuếch đại, đã có những tác động ngược chiều và tai hại cho chính chế độ Ngô Đình Diệm.
Ngô Đình Diệm và gia đình từ tháng 2/1962, đã xử lý công việc chính trị với tư duy “thiên mệnh”, “được ơn trên bảo vệ” lên đến đỉnh điểm. Người ta thấy một sự ngạo mạn mang màu sắc duy tâm triết học. Tư duy ngạo mạn mang màu sắc triết học nhân vị đó đã đưa chế độ Ngô Đình Diệm lên đến đỉnh điểm độc tài, tàn bạo và mù quáng. Triết học nhân vị kiểu Ngô Đình Nhu được xác định đúng đắn trong thực tế và có tính chất thiêng liêng, nên ảnh hưởng của nó đối với hoạt động chính trị của chế độ Diệm trở nên tuyệt đối.

Triết học nhân vị trong môi trường như thế sau cuộc ném bom bất thành đến kỳ lạ đã làm Diệm và chế độ điều khiển chính sự miền Nam không còn bằng đầu óc của một nhà chính trị tỉnh táo nữa, mà bằng sự tự tin mụ mị, khinh thường tất cả phản ứng nguy hiểm. Pháp nạn 1963 diễn ra trong bối cảnh đó.
Triết lý trong sự kỳ thị và áp bức Phật giáo của chế độ Diệm là từ triết học nhân vị kiểu Nhu, được củng cố bởi niềm tin “thiên mệnh” lên tới cao điểm sau vụ ném bom. Tư tưởng công đồng Trent (1545-1563), cốt lõi của chủ nghĩa nhân vị kiểu Ngô Đình Nhu là tư tưởng coi mọi tôn giáo khác ngoài Ca tô La Mã đều là ma quỷ với sự miệt thị. Những người theo triết học nhân vị này, trong tình trạng say thuốc “thiên mệnh”, đã đối xử với Phật giáo một cách hết sức tàn bạo và không sợ những hậu quả có thể phát sinh. Chính điều đó đã dẫn chế độ Diệm đến chỗ sụp đổ.

Cuộc ném bom Dinh Độc Lập năm 1962 có quan hệ gián tiếp với pháp nạn Phật giáo 1963 như vậy. Nó tạo một hiệu ứng triết học, từ đó ảnh hưởng đến hành động của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với tất cả mọi trường hợp, trong đó có việc gây ra pháp nạn 1963. Có thể thấy điều này khi so sánh với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Giữa chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và Phật giáo miền Nam cũng có mâu thuẫn, nhưng chính quyền Thiệu giải quyết vấn đề không bằng cơn say triết học nhân vị thiên mệnh, nên có những diễn tiến khác.
Quan điểm ảnh hưởng của triết học nhân vị thiên mệnh về tổng thống “mệnh trời” được đấng thiêng liêng bảo vệ cũng có thể làm những người tuy theo Diệm, thậm chí trong các lực lượng vũ trang, bán quân sự do Diệm Nhu lập ra, nuôi dưỡng nhưng đã đứng trơ ra nhìn cuộc đảo chính 1/11/1963, vì tin là tổng thống bất khả xâm phạm, giao phó mọi việc cho trời lo, mà trời rõ ràng cứu Diệm trong cuộc không kích 1962.

Bài này được viết để gởi đến những người bài Phật giáo ở hải ngoại đang toan tính phục hồi Ngô Đình Diệm cùng với triết học nhân vị. Cơn say thuốc triết học nhân vị từ 2/1962 cần được ghi nhận một cách nghiêm túc. Triết học nhân vị kiểu Ngô Đình Nhu đã lên đến đỉnh điểm từ những sự “mầu nhiệm” hay “phép lạ” như thế. Phục hồi Ngô Đình Diệm và những tư tưởng của ông ta qua triết học nhân vị, bài xích Phật giáo, chính là trở về với vết xe đổ hơn 50 năm trước. 
Lịch sử đã làm cho thuyết lý về sứ mệnh trị quốc thiêng liêng, về một tổng thống “mệnh trời” sụp đổ một cách thảm hại. Triết học nhân vị của Ngô Đình Nhu không phải chỉ là một mớ hỗ lốn triết học của E. Mounier, triết học nhân vị Mỹ, công đồng Trent, mà đã trở thành trò cười từ chiến dịch tuyên truyền sau cuộc không kích Dinh Độc Lập 1962. 

Những người lớn tuổi đã trải qua những ngày tháng hơn 50 năm trước nên nhớ lại việc này khi nói chuyện hoài niệm nhà Ngô. Còn những người trẻ ở hải ngoại thì nên biết có một chuyện bi hài như thế đã xảy ra, khi nghe những luận điệu “suy tôn Ngô Tổng Thống”.
Về mặt học thuật, bài viết muốn cung cấp cho bạn đọc nói chung một nội dung tìm hiểu mới về bối cảnh diễn ra Pháp nạn Phật giáo 1963, một vấn đề Phật giáo Việt Nam cần nghiên cứu.

MT

(1)          Nhiều ý kiến quanh việc này. Có ý kiến cho rằng số vũ khí một máy bay cường kích Skyraider A1 mang theo, 3600kg mà ở đây là 2 chiếc, có thể san bằng Dinh Độc Lập, một tòa nhà xây dựng cuối thế kỷ XIX, lợp ngói, không bê tông cốt thép, khi đánh sập các cột chính. Nhưng Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử không muốn phá nát Dinh Độc Lập, mà chỉ nhắm đánh vào căn phòng riêng của Ngô Đình Diệm, là nơi ông này theo thông lệ có mặt vào buổi sáng sớm. Skyraider A1 là máy bay cánh quạt, có thể bay chậm và khi không kích Dinh Độc Lập đã bay rất thấp (150 mét, theo Wikipedia tiếng Anh, mục từ “1962 South Vietnamese Independence Palace bombing”), ném bom rất chính xác. Người viết bài này từng thấy phi công quân đội Sài Gòn dùng Skyraider A1 biểu diễn ném bom giả rơi đúng vào một chiếc thùng nổi trên sông Sài Gòn. Nếu san bằng Dinh Độc Lập thì cả gia đình Ngô Đình Diệm sẽ bị vùi trong đám đổ nát, kết quả có thể khác, nhưng nhiều người không liên quan đến gia đình họ Ngô sẽ đều chết hết. Chỉ vì 2 phi công đảo chính quá tự tin và không muốn hại người vô can, nên họ không đạt kết quả, chứ không có phép lạ gì ở đây.
Trong bài “Phạm Phú Quốc và phi vị thả bom Dinh Độc Lập, Sài Gòn, 1962”, đăng trên hon.net.co.uk, một phi công lái máy bay đánh chặn cuộc tấn công của Phạm Phú Quốc – Nguyễn Văn Cử viết rằng Phạm Phú Quốc có thả bom an toàn trên sông Sài Gòn trước khi đáp xuống nước. Bài này diễn giải “thả bom an toàn là thả bom mà ngòi nổ còn gài chốt, nên bom rời khỏi phi cơ, chìm xuống nước mà không nổ”. Việc bom không được ném hết cho thấy các phi công đảo chính không có ý định san bằng Dinh Độc Lập.

Minh Thạnh
12/01/2014




Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2014


ĐIỂM SÁCH

BOM LỬA NAPALM: MỘT ĐẶC SẢN CỦA MỸ


Tựa: NAPALM: AN AMERICAN BIOGRAPHY
Tác giả: Robert Neer
Nhà Xuất bản: Belknap/Harvard, Massachusetts, 2013 * 352 Trang
Người điểm sách: Peter C. Baker
Trích từ: Tuần báo The Nation, số ngày 30 tháng 9 năm 2013.
Bài phỏng dịch của Lý Nguyên Diệu


Vào một ngày mùa Hè năm 1942, trên sân bóng đá trường đại học Harvard, một sự  thay đổi đã xãy đến cho bộ mặt của chiến tranh hiện đại. Đúng ngày lễ Độc lập 4 tháng 7 của nước Mỹ năm đó, giáo sư Louis F. Fieser, Giám đốc “Dự án Nghiên cứu Vô danh số 4” của Uỷ ban Nghiên cứu  Quốc phòng, bật một nút bấm làm phát nổ chất phốt-pho trắng phía trong một trái bom chứa dầu hoả đông đặc. Từ thế kỷ 13, việc dùng lửa trong chiến trận đã bớt dần sau khi thuốc súng trở nên thông dụng, nhưng phát kiến của ông Fieser đã cho thấy máy bay có thể thả những ngọn lửa nhảo nhẹt từ trên không xuống mặt đất.
Cuốn sách “Bom Lửa Napalm: Một Đặc Sản Của Mỹ” (nhà xuất bản Belknap/Harvard; giá $29.95) của tác giả Robert Neer mô tả rằng phát kiến nầy đã được thành hình là phải dựa trên tiền thuế của dân, trên kiến thức khoa học hàn lâm và trên nguyên tắc tư bản sản xuất hàng loạt để gia lợi nhuận của nền công nghệ. Để bảo đảm cho kết quả tàn khốc của bom lửa napalm đạt đúng ý muốn, các nhà khoa học đã di tản hàng loạt xóm nhà ở vùng Trung Tây nước Mỹ để thử nghiệm mức tàn phá của bom. Họ cũng xây những ngôi nhà kiểu mẫu theo đúng kiến trúc của dân Đức và dân Nhật để đo lường tốc độ của lửa cháy. Loại heo Chesire trắng cũng bị thả bom lửa napalm vì, theo tác giả Neer, “loại heo nầy có một loại da gần giống nhất với loại da của loài người.”

Dù được nổi tiếng nhất qua những hình ảnh của cuộc chiến ở Việt Nam, nhưng bom lửa napalm lại được xử dụng nhiều nhất trong Đệ Nhị Thế Chiến, đặc biệt là trên nước Nhật.  Ngày 9 tháng 3 năm 1945, máy bay Mỹ đã thả 690 ngàn cân bom nầy trên thủ đô Đông Kinh làm hơn 87 ngàn người chết trong chỉ một đêm (nhiều hơn cả số nạn nhân của bom nguyên tử đã chết ở Hiroshima hoặc Nagasaki - Một độc giả của báo The Nation sau đó  đã viết thư cho biết con số mới nhất của các nạn nhân bom nguyên tử năm 1945 ở Hiroshima là 140 ngàn và Nagasaki là 75 ngàn -LND). Đoạn tường thuật cuộc oanh tạc trong sách của Neer thì thật là kinh khủng: Ngọn lửa toả rộng ra thật nhanh đốt hết dưỡng khí trên mặt đất. Mọi vật đều trở nên nóng bỏng không còn có thể sờ mó dược. Xác người bị cháy như những bó đuốc bay tung lên không vì ngọn cuồng phong. Những nạn nhân chưa bị cháy tìm cách nhảy xuống nước thì bị luộc sống vì nước nóng. Phi hành đoàn Mỹ trong máy bay ở cao độ 5 ngàn bộ (khoảng 1.5 cây số) mà vẫn bị nôn mửa vì ngửi mùi thịt người bị cháy từ đất bốc lên. Cuộc oanh tạc đêm đó là khời đầu của chiến dịch không kích đầu tiên bằng bom lửa napalm kéo dài 10 ngày trên không phận các thành phố Nhật.

Sau khi tiếng tăm của vũ khí mới nầy được xác nhận, bom lửa napalm trở thành vũ khí không tập được cả thế giới ưa chuộng tìm mua để xử dụng. (Đúng với nguyên tắc sản xuất nhiều, lợi nhuận tăng của kinh tế tư bản – LND) Hy Lạp dùng bom nầy để oanh tạc phiến quân cọng sản. Các cường quốc Âu châu thả bom nầy trên các thuộc địa ở Phi châu và Á châu. Brazil thả bom nầy trên quân theo Mao, Ai Cập trên Do Thái, Do Thái trên Palestine, Thổ Nhĩ Kỳ trên Cyprus, Ấn Độ trên Hồi quốc, và Iraq trên sắc dân Kurds. Trong 3 năm của cuộc chiến tại Hàn quốc (1950-1953), số bom lửa napalm được Mỹ xử dụng còn nhiều hơn cả tổng số bom trên mặt trận Thái Bình Dương của Đệ Nhị Thế Chiến. Và nhiều nhất là số bom lửa napalm đã được rót xuống trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng khi mà quần chúng Mỹ phải đối diện với những hình ảnh khủng khiếp của các nạn nhân thường dân – không chỉ hiện trên các báo thiên tả như Ramparts, mà ngay cả trong các báo bình dân như Ladies’ Home Journal – thì bom lửa napalm đã trở thành biểu tượng cho sự bạo tàn một cách vô cớ của chiến tranh kiểu Mỹ.

Một phong trào phản kháng bom lửa napalm bắt đầu hình thành qua những cuộc biểu tình trước các hãng chế tạo bom hoặc trong các đại học mỗi khi có cuộc thăm viếng của đại diện các hãng làm giàu nhờ bom như hãng Dow Chemical (cũng là hãng chế chất độc Da Cam xử dụng tại Việt Nam). Năm 1972, khi báo chí toàn cầu đăng tải hình ảnh em bé 9 tuổi Nguyễn Kim Phúc không áo quần chạy trên một đường nhỏ mà da thịt bị cháy phỏng vì lửa của dầu hoả đông đặc từ bom lửa napalm thì “vũ khí” nầy bắt đầu bị gọi là “tội ác chiến tranh.” Trong khi đó  thì Tổng thống Nixon vẫn  tự  hỏi không biết tấm hình em bé nầy có “bị chỉnh sửa” hay không. 


Hình chụp gần Trảng Bàng ngày 8 tháng 6 năm 1972 
Hình của (Huỳnh Công) “Nick” Út / AP

Trong những chương cuối cùng của cuốn sách, tác giả Robert Neer kể lại một cách tương đối đơn giản về ngày tàn của bom lửa napalm. Có hai sự cố nổi bật đáng đề cập. Trong cuộc chiến Iraq năm 2003, trên đường tiến quân chiếm thủ đô Baghdad của Tổng thống Hussein, không quân Mỹ đã dùng “bom lửa” Mark-77. Bom nầy bùng cháy như bom lửa napalm nhưng dùng một công thức dầu hoả khác nên đối với các nhà quân sự Mỹ, bom nầy không phải là bom lửa napalm nữa. Năm năm sau, Thượng viện Hoa kỳ thông qua Nghị định (Protocol) III của Hiệp định Quốc tế về Một số Vũ khí Thông thường (ban hành năm 1980) để cấm xử dụng bom lửa napalm và những hoả khí chống lại thường dân. Nhưng khi Tổng thống Obama ký vào Hiệp định nầy, ông thêm vào một ngoại lệ: Nước Mỹ sẽ ngưng thả bom lửa - ngoại trừ khi quân đội Mỹ thấy ... cần thiết!

                                                                                 Peter C. Baker

Lời bàn thêm của Lý Nguyên Diệu:

Giữa cao điểm của cuộc chiến tranh ở Việt Nam, khi bom lửa napalm được xử dụng tối đa và bị kết án cũng tối thậm, trong một bài phỏng vấn của tuần báo Times ngày 1 tháng 5 năm 1968, giáo sư Louis F. Fieser đã tuyên bố:  “I have no right to judge the morality of Napalm just because I invented it.” (Tôi không có việc gì mà phải xét đoán giá trị đạo đức của bom lửa Napalm dù chính tôi là người đã phát minh ra trái bom nầy.)
Câu tuyên bố vô lương tâm và vô trách nhiệm nầy làm chúng ta liên tưởng đến hai lời tuyên bố trước và sau Louis Fieser.
Trước Fieser 13 năm là Tuyên Ngôn chung năm 1955 gửi giới khoa học gia thế giới để chống bom nguyên tử và chống chiến tranh của hai nhà khoa học Bertrand Russell và Albert Einstein trong đó có 6 chữ cô đọng “Remember humanity and forget the rest.” (Hãy nghĩ đến nhân loại và quên đi những chuyện khác.)
Còn sau Fieser là câu tuyên bố của nữ khoa học gia người Mỹ gốc Việt Dương Nguyệt Ánh (trích từ bài “Bomb Lady” của nhà báo Andrew Lam viết ngày 8 tháng 4 năm 2004.) Bà là người được nhiều giải thưởng của chính phủ Mỹ nhờ công trình chế ra những vũ khí cho bộ Quốc phòng, Không quân và Hải quân Mỹ. Một trong những vũ khí “nổi tiếng” đó là bom “áp nhiệt” (thermobaric bomb) để giết những người trốn trong hang động của Afghanistan. Khi được hỏi về khiá cạnh sát sinh của vũ khí mà bà chế tạo, câu trả lời của bà  Dương Nguyệt Ánh là: “I’m not on the operation side. We don’t deal with human fatality.” (Tôi không ở phiá hành quân. Cái chết của con người không phải là vấn đề của chúng tôi.) Đây quả là lời tuyên bố của một người có tim mà không có tâm, phản ánh đúng như câu cảnh báo của  nhà  văn Rabelais “Science sans conscience n’est que ruine de l’âme.” (Khoa học mà không có lương tâm thì chỉ là sự hủy hoại của tâm hồn.)


Bà Dương Nguyệt Ánh và một cuộc thử nghiệm Bom Áp nhiệt

SHELF LIFE

Modern warfare changed on a Harvard soccer field in the summer of 1942. On July 4 of that year, Louis Fieser, head of the National Defense Research Committee’s “Anonymous Research Project No. 4,” flipped a switch, triggering a white phosphorous explosion inside a bomb filled mostly with jellied gasoline. The use of flame in war had been on the decline since the spread of gunpowder in the thirteen century, but Fieser showed that with napalm, planes could drop sticky fire from the sky.
  As described by Robert Neer in Napalm: An American Biography (Belknap/Harvard; $29.95), the innovation depended on taxpayer money and academic know-how, and required the fervent corporate desire for more products to sell. To ensure that napalm would have the desired effect, its architects emptied entire villages in the Midwest so they could be test-bombed, and built detailed replicas of German and Japanese homes to see how fast they would burn. White Cheshire pigs were napalmed too, because, Neer writes, their “skin was thought most closely to resemble that of humans.”
Though it is closely associated with the war in Vietnam, napalm was used extensively in World War II, mostly on Japan. On March 9, 1945, US planes dropped 690,000 pounds on Tokyo, killing more than 87,000 people in a single night (more than would die in the atomic blasts at either Hiroshima or Nagasaki). Neer’s account of that bombing is horrific: the fire spread quickly, seizing all the oxygen for itself; everything became too hot to touch; people were lifted from the ground and whipped about by the firestorm’s wind like airborne torches; many who sought refuge from the flames in water were boiled alive; 5,000 feet up, the pilots and crewmen smelled the burning flesh and vomited. It was the beginning of a ten-day campaign that introduced napalm to cities across Japan.
The new weapon’s effectiveness established, it would become an aerial weapon of choice worldwide. Greece dropped it on communist insurgents, European powers on their colonies in Africa and Asia, Brazil on Maoists, Egyptians on Israel, Israel on Palestine, Turkey on Cyprus, India on Pakistan, and Iraq on its Kurds. In Korea, the United States used more napalm than it has dropped in the Pacific in World War II, and in Vietnam it used even more. But as the US public was increasingly exposed to graphic news stories and photographs documenting napalm’s effects on civilians – which appeared everywhere, from left-wing outlets like Ramparts to mass-market glossies like Ladies’ Home Journal – the weapon came to represent all that was needlessly brutal about the American way of war.
An anti-napalm movement started with protests outside napalm production facilities and on college campuses during visits by representatives of napalm profiteers like Dow Chemical (which also manufactured the defoliant Agent Orange). By 1972, when newspapers around the world ran the now-famous photo of a naked 9-year old Vietnamese girl named Phan Thi Kim Phúc running down a road with jellied gasoline singeing her flesh, napalm’s demotion from “weapon” to “war crime” was well under way. President Nixon wondered if the photograph was “fixed”.
Neer’s closing chapters, which chronicle the decline in napalm use, are comparatively thin. Two incidents stand out. In 2003, the US military dropped Mark-77 “firebombs” during its advance toward Baghdad. The combustion looked and acted like napalm fire, but the Mark-77 had been made with a new kerosene-based formula – and so, in the eyes of the military, it was no longer napalm. Five years later, the Senate finally ratified Protocol III of the international Convention on Certain Conventional Weapons (written in 1980), which ban the use of napalm and other incendiaries against civilians. But when President Obama signed the treaty into law, he appended a caveat: The United States will no longer drop incendiary weapons – unless the military deems it necessary.
                                                                                                            Peter C. Baker



Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014


VÀI KỶ NIỆM VỚI CA SĨ HÀ THANH

Sư cô Chân Không (ghi nhanh)


Ca sĩ Hà Thanh lúc 16 tuổi. (Hình: Sư Cô Chân Không cung cấp)

Theo Wikipedia thì ca sĩ Hà Thanh tên thật là Trần Thị Lục Hà, sinh ở Liễu Cốc Hạ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Cô là con thứ tư trong một gia đình gia giáo có 10 anh chị em mà không một người nào đi theo con đường văn nghệ, ngoài một người anh tỏ ra khuyến khích cô khi nhận thấy em mình có biệt tài ca hát. Là một người theo đạo Phật, ngày nhỏ Lục Hà theo học trường nữ trung học Ðồng Khánh và đã hát trong chương trình Tiếng Nói Học Sinh Quốc Học - Ðồng Khánh trên đài phát thanh Huế.


Năm 1955, trong cuộc tuyển lựa ca sĩ do đài phát thanh Huế tổ chức, Lục Hà khi đó mới 16 tuổi tham dự. Lục Hà đạt giải nhất với sáu nhạc phẩm rất khó, trong đó có bài Dòng Sông Xanh, và tên bài hát đó đã trở thành nghệ danh của cô: Hà Thanh. Hà Thanh tiếp tục học và có đi hát cho đài phát thanh Huế.
Năm 1963, trong chuyến vào thăm Sài Gòn, Hà Thanh đã được các trung tâm đĩa nhạc Continental, Tân Thanh, Sóng Nhạc, Asia, Việt Nam mời thu thanh nhiều nhạc phẩm. Năm 1965, Hà Thanh chính thức gia nhập sinh hoạt ca nhạc ở Sài Gòn. Cô trở thành một trong những giọng ca hàng đầu của Sài Gòn khi đó. Vào giữa thập niên 1960, tiếng hát Hà Thanh thường xuyên hiện diện trên các đài phát thanh Sài Gòn, Quân Ðội, Tự Do, trong các chương trình đại nhạc hội... Cô rất nổi tiếng với những nhạc phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông như Hàng Hàng Lớp Lớp, Chiều Mưa Biên Giới...
(Lời người viết: Năm 1965, ca sĩ Hà Thanh đã đến hát cho sinh viên trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội của trường Ðại Học Vạn Hạnh nghe.)

Trong giới văn nghệ Sài Gòn trước 1975, có nhiều người yêu thích Hà Thanh. Nhà thơ Bùi Giáng từng làm nhiều thơ và viết sách ca ngợi nhan sắc của cô. Nhà văn Mai Thảo là một người rất si mê Hà Thanh, ông đã từng từ Sài Gòn ra Huế để xin cưới Hà Thanh, Tiến Sĩ Lê Văn Hảo cũng là người rất hâm mộ Hà Thanh. Năm 1970, Hà Thanh kết hôn với Trung Tá Bùi Thế Dung của Binh chủng Thiết Giáp. Năm 1972, hai người có một con gái là Kim Huyền.

Sau năm 1975, Bùi Thế Dung phải đi cải tạo. Năm 1984 Hà Thanh cùng con gái được gia đình bảo lãnh sang định cư tại miền Ðông Hoa Kỳ.

Tại hải ngoại, năm 1988 Hà Thanh đã ghi tên theo Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đi hành hương 3 tuần lễ ở Ấn Ðộ. Khi đoàn lên núi Linh Thứu, Hà Thanh xin được quy y lại với thiền sư và được cho pháp danh mới là Tâm Ca Lăng Tần Già, mặc dù cô đã được quy y Phật hồi bé ở Huế.
Kinh A Di Ðà kể rằng ở cõi Tịnh Ðộ mỗi lần chim Ca Lăng Tần Già hót lên thì người nghe khởi chánh niệm, tiếp xúc ngay với Bụt, Pháp và Tăng của tự thân, và ý thức rằng mình đang ở cõi Tịnh Ðộ. Ca Lăng Tần Già Hà Thanh cũng vậy, cô đã làm đúng như lời thầy mong ước, cô chỉ trình diễn trong những đại hội Phật Giáo, những đại nhạc hội lạc quyên giúp thuyền nhân ở các trại tị nạn, giúp cứu trợ nạn nhân lũ lụt ở quê nhà, hay góp phần xây ngôi thiền đường này, hoặc ngôi bảo tự kia... Tiếng hát cô bây giờ là hát vì mọi người, đem niềm vui cho người giúp người bớt khổ, cô không còn hát cho riêng mình. Ðiều quan trọng là cô chỉ hát những bài nhạc đạo giúp người ta tu tập, đúng như điều thầy của cô, Thiền Sư Nhất Hạnh khi đặt tên cho cô và mong ước mỗi lần cô cất tiếng hát là thính giả lại được tiếp xúc với Bụt, Pháp, Tăng của tự thân và phát khởi chánh niệm.

Năm 1990 Hà Thanh có đến thiền đường Hoa Quỳnh của Làng Mai tại Paris, tập hát với nhạc sĩ Chí Tâm và sư cô Chân Không một số bài nhạc Phật Giáo mà thầy mới sáng tác. Hôm sau, tại nhà hát lớn Palais de la Mutualité trước 2,200 người Việt Nam cô đã trình diễn bài Ý Thức Em Mặt Trời Tỏ Rạng của Thiền Sư Nhất Hạnh và bài Hải Triều Âm của nhạc sĩ Bửu Bác sáng tác. Giọng hát của Hà Thanh rất trong, rất thanh và khi cất lên cao vút thì lại thật ấm và ngọt ngào, tỏa lan... ngân xa như những tiếng chuông hay nhất xứ Huế.

Suốt trong những năm 1990 đến 2000 khi Việt Nam còn cấm đoán nhạc vàng, Phật tử hay chuyền nhau những băng cassette pháp thoại của thầy và rất ngạc nhiên thích thú được nghe Hà Thanh hát những bài như Quay Về Nương Tựa, Tiếng Chuông Chùa Cổ, Ba Sự Quay Về, Ðây Là Tịnh Ðộ, Ý Thức Em Mặt Trời Tỏ Rạng, Cẩn Trọng, Trầm Hương Ðốt, trước và sau các bài giảng.
Năm 1997 Tâm Ca Lăng Tần Già Trần Thị Lục Hà - Hà Thanh tiếp thọ 14 giới Tiếp Hiện với pháp hiệu là Chân Hỷ Ca.

Trong một buổi pháp thoại cho đồng bào ở Hoa Kỳ, Thiền Sư Nhất Hạnh có đọc cho thính chúng nghe bài thơ của thầy Bên Mé Rừng Ðã Nở Rộ Hoa Mai. Khi nghe lần đầu câu “Thầy đi tìm con, từ lúc non sông còn tăm tối...” cô đã khóc và đã quyết tâm phổ nhạc bài này với những nốt nhạc rất dân tộc, rất Việt Nam và đã nhiều lần đến hát cho tăng thân Làng Mai nghe, và đã hát cho tăng thân nghe bài Bên Mé Rừng Ðã Nở Rộ Hoa Mai, do chính cô phổ nhạc thật tuyệt vời, nhiều thiền sinh có mặt ở khóa tu hôm đó đã khóc vì cảm động và hạnh phúc.

Năm 2011, Hà Thanh báo tin cô bị bệnh dư hồng huyết cầu, nhờ trị bệnh này đã bảy tám năm nên bác sĩ đã giúp cô làm chủ được tình hình sức khỏe. Như mọi khi, cô rất vui mừng mỗi khi nghe thầy ghé qua miền Ðông Hoa Kỳ và vẫn tiếp tục sẵn sàng ngồi xe đi hơn 5 giờ đến thăm thầy ở Tu Viện Bích Nham của Làng Mai ở tiểu bang New York. Cô đã mang tặng thầy cái CD chót mà Hà Thanh mới đặt nhạc mới bài Sám Hối (thi kệ của Thầy Nhất Hạnh) mà cô mới viết nhạc lại (không phải nhạc của Anh Việt) trong đó Hà Thanh lại thêm đoạn Thất Phật Diệt Tội Chơn Ngôn, rất “ăn khách” nhất là khi Hà Thanh cất giọng lên như những tiếng chuông khánh thanh tao nhất của nhà chùa!

Mới cách đây hơn hai tháng, ngày 14 và 15 Tháng Chín, 2013, Hà Thanh có đến tận Boston Park Plaza Hotel, chỗ mà thiền sư đang hướng dẫn một khóa tu hai ngày cho 1,120 bác sĩ y khoa và tâm lý trị liệu do Ðại Học Harvard tổ chức để hát cho thầy nghe bài Bên Mé Rừng Ðã Nở Rộ Hoa Mai một lần nữa. Các sư em tôi không ngờ đó là lần chót Hà Thanh hát cho thầy và tăng thân nghe. Nhưng tôi thì vẫn đang còn nghe vẳng vẳng ngay lúc này đây, cái giọng ngọt ngào ấy, trong như những giọt sương mai long lanh, đầm ấm mà từ bi như tiếng chuông ngân xa, ngân xa... thật xa biến cõi buồn phiền thành tịnh độ.

Lá la là la lá... lá la là la lá... Lá la là la lá... lá la là la lá... la la... là la...

“Qua ngõ vắng, lá rụng đầy, tôi theo con đường nhỏ, đất hồng như môi son bé thơ... Bỗng nhiên tôi cẩn trọng, từng bước chân đi...” Tiếng hát ấy của Hà Thanh như những giọt lưu ly đang tung tăng reo vui, reo vui trong cõi tịnh độ bây giờ và ở đây với chúng ta ngay giây phút này.


Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014


KENNETH TODD YOUNG VÀ NGÔ ĐÌNH DIỆM:
SỰ RA ĐỜI CỦA LIÊN MINH VIỆT-MỸ

Stephen B. Young



Đầu năm 1954, ông  Cụ của tôi, Kenneth Todd Young, đương làm việc cho Bộ Ngoại giao Mỹ với chức Chủ Sở Đông-Bắc Á Châu vụ.  Cụ tham gia cuộc thương lượng chắm dứt chiến tranh Triều tiên tại Pan Mun Jom. Sau khi Trung Quốc và Hoa Kỳ đồng ý ngưng chiến tại Triều Tiên, và Chánh phủ Pháp quyết định không kéo dài chiến tranh kiểu xăm lăng thuộc địa tại Đông Dương nữa, các cường quốc đồng ý mở một hội nghị tai Genève để giải quyết hai vấn đề giữa thế giới tự do và khối cộng sản quốc tế.

Bố tôi đi Genève để phụ tá cho Ngoại trưởng John Foster Dulles trong nhiệm vụ chấm dứt chính thức chiến tranh Triều Tiên.  Sau việc đó xong rồi, Ngoại trưởng Dulles giao cho ông trách nhiệm về Đông Nam Á để giải quyết sự ra đi của Chánh phủ Pháp tại Đông Dương.
Ông  đã thăm viếng Việt Nam và Cao Miên lúc còn thanh niên năm 1937 để xem cho biết Hà Nội, Sài Gòn và Angkor Wat. Ngoài ra, ông không biết nhiều về Việt Nam. Nhưng ông đã học tiếng Trung hoa tại Quảng Châu và Bắc Kinh năm 1936 và hiểu biết được sự tranh quyền giữa đảng cộng sản tàu và chánh phủ quốc gia tàu. Ông đã nghĩ chủ nghĩa cộng sản không hợp với người Á châu vi các dân tộc Á châu đã có sẳn dân tộc tính, nền văn hóa lâu đời và tiếng nói riêng từ mấy ngàn năm trước. Ông nghĩ rằng chủ nghĩa Mác-Lê là thứ xa lạ từ Tây phương du nhập qua Á châu sẽ khó tránh khỏi sự xung đột văn hóa, tư tưởng.
Vì vậy ông cũng nghĩ rằng chế độ thuộc địa Âu châu của thể ký thứ 19 cũng  không có nghĩa lý gì  nữa ở Đông Dương. Nó không thể tồn tại lâu dài. Các dân tộc Á châu, theo ông, nên đi đến tự trị và chọn cho mình chế độ chánh trị độc lập như các dân tộc khác trên thế giới.

Tháng 7 năm 1954, Chánh phủ Mỹ phải lựa chọn một trong hai đường đối với Đông Dương. Một là theo Pháp để giúp duy trì  ảnh hưởng của Pháp tại Việt Nam, Cao Miên và Lào. Thứ hai là ủng hộ thành lập các chánh phủ độc lập tại ba nước đó để tránh áp lực của người Pháp theo đuổi tham vọng lâu đời nhằm tái lập chế độ thuộc địa.
Cụ Young lựa chọn con đường thứ hai. Vậy là Hoa kỳ phải một lúc làm ba việc: ủng hộ các chánh phủ mới tại Sài Gòn, Nam Vang và Vientianne; chống sự phá hoại, xâm lăng, của Hà Nội và đảng Cộng sản Việt Nam và đảng Cộng sản Trung Quốc, đồng thời nhờ đó khuyến khích người Pháp dẹp bỏ chủ trương và hành động kiểu đế quốc cũ.

Lúc Trung Quốc đề nghị chia Việt Nam làm hai quốc gia: một cho đảng Cộng sản và một giao cho người Pháp cai trị, dĩ nhiên người Pháp đồng ý, bố tôi bàn với Ngoại trưởng Dulles rằng Hoa Kỳ phải chấp nhận như vậy nên phải dốc lòng, dốc sức ủng hộ một miền Nam Việt Nam độc lập tự do, có khả năng  phòng thủ và chống lại Cộng sản Bắc việt.  Ông Dulles đồng ý và quyết định chánh sách của Hoa kỳ tại Việt nam là ủng hộ những người Việt Nam  không cộng sản và đồng thời không ngã theo lập trường của Phap. Tức là chánh sách của Hoa Kỳ là đi tìm kiếm những người Việt Nam “nationalist”, có tinh thần dân tộc mạnh.
Cụ Young cũng nghĩ rằng nếu chánh phủ mới không tranh đấu cho quyền lợi đích thực của quốc gia dân tộc mà cứ làm tay sai cho Paris, dân miền Nam sẽ không ủng hộ và Hà Nội sẽ dễ xâm chiếm trọn nước Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau.
Nếu người Việt Nam có lòng ái quốc, biết rỏ các thủ đọan gian manh của cộng sản, muốn đẩy lui và thanh toán các nổ lực bạo động của cộng sản để bảo vệ phần đất cuối cùng của mình thì họ phải biết làm  cho mọi người thấy rỏ chánh nghĩa quốc gia, thấy rỏ rệt và toàn diện,  từ chánh trị tự do dân chủ đến kinh tế thật sự là nến kinh tế tư hữu lành mạnh và nền văn hóa giáo dục khoa học, khai phóng, nhơn bản áp dụng đồng đều từ thành thị đến xã ấp.

Lúc đó cụ Ngô Đình Diệm là Thủ tướng Chánh phủ Quốc gia Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại bổ nhiệm. Cụ Young tìm hiểu về ông Diệm và nghe nói ông Diệm có tiếng chống Pháp. Tại Genève, Ngoại trưởng Việt Nam là cụ Trần Văn Đỗ. Cụ Young làm quen ông Đỗ và hai người trở thành bạn lâu năm. Năm 1970, ông Cụ tôi bịnh, không qua Việt Nam được để tham dự  lễ  cưới của tôi, con trai đích tôn của ông, nên cụ Đỗ đã vui lòng nhận lời đứng ra đại diện họ đàng trai.
Ông Cụ tôi có lúc nói với tôi rằng ông Diệm vừa có lập trường vững vàng, không theo Pháp và không nhượng  cộng sản và có được  một số người quốc gia chống cộng, nhứt là những người Bắc di cư công giáo tín nhiệm, ủng hộ. Nên Cụ quyết định cho ông Diệm một cơ hội để xem ông Diệm có khả năng thật sự xây dựng Miền Nam trở thành một quốc gia dân chủ tự do và phát triển được  hay không.

Sau hội nghị Genève, người Pháp không thuận với chánh sách của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ muốn người Pháp rút hết những viên chức của họ ra khỏi Việt Nam và Mỹ sẽ đưa cố vấn tới thay thế. Hoa Kỳ sẽ cho tiền và huấn luyện quân đội miền Nam Việt Nam đủ sức ngăn chận quân đội Bắc việt khi xâm nhập qua biên giới.  Sau mấy tháng thương lượng với Chánh phủ Pháp, cụ Young thấy rằng họ không có thiện chí giúp miền Nam đứng vững theo nghĩa một quốc gia độc lập.
Vì vậy Cụ Young phải vận động  Chánh phủ Mỹ để Hoa kỳ sẽ thương lượng với Pháp để Hoa Kỳ một mình ủng hộ chánh phủ của ông Diệm.
Tháng 10 năm 1954, cụ Young soạn thảo một bức thơ để Tổng thống Eisenhower gởi cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Trong thơ,  Hoa Ky hứa sẽ ủng hộ Việt Nam nếu Việt Nam áp dụng đường lối chánh trị theo lý thuyết quốc gia dân tộc (tức “nationalist”), tức ý muốn nói Việt Nam phải xây dựng một chế độ dân chủ tự do thật sự để có thể động viên được sức mạnh của toàn dân chống cộng sản xâm lược Hà Nội. Bức thư đó viết:
“The purpose of this offer is to assist the Government of Vietnam in developing and maintaining a strong, viable state, capable of resisting attempted subversion or aggression through military means. The Government of the United States expects that this aid will be met by performance on the part of the Government of Vietnam in undertaking needed reforms. It hopes that … such a government (of Vietnam) would … be so responsive to the nationalist aspirations of its people, so enlightened in purpose and effective in performance, that it will be respected both at home and abroad and discourage any who might wish to impose a foreign ideology on your free people”.

Cuối năm 1954, Hoa Kỳ bắt đầu gia tăng gởi viện trợ quân sự và kinh tế trực tiếp giúp chánh phủ Sài Gòn, không thông qua chánh phủ Pháp nữa. Dĩ nhiên chánh phủ Pháp không vui lòng. Họ thấy ông Diệm thật sự là người cứng rắn, có lập trường chống Pháp, không muốn nghe lời họ nữa. Vi vậy họ tìm cách hạ ông Diệm để thay thế bằng người khác.
Tổng Tư lịnh Pháp, Tướng Ely, vốn bạn khá thân với Tướng Collins của Mỹ, dành nhiều thì giờ thuyết phục ông bạn Tướng Collins, người Đại diện đặc biệt của Tổng Thống Eisenhower, rằng ông Diệm bất tài, mưu sỉ, không thành thật, có tinh thần độc tài, không chịu lắng nghe ý kiến phải trái của ai hết cả, không có uy tín, không có quần chúng ủng hộ. Pháp xui Tướng Nguyễn văn Hinh chống lại Ông Diệm.
Đến tháng 4 năm 1955 có biến loạn xảy ra.  Cuối cùng, Tướng Collins nghe theo Pháp và đi về Washington xin Tổng thống Eisenhower không ủng hộ ông Diệm nữa. Lúc Tướng Collins lên đường đi Washington, ông Diệm ra lịnh cho Quân đội tấn công căn cứ của lực lực lượng võ trang của Bình Xuyên ở Cầu Chữ Y. ( Lực lượng Bình Xuyên, truớc tình hình mới, rủ áo giang hồ anh chị, nhiệt tình tham gia kháng chiến chống Pháp. Sau không chịu theo cộng sản Hà Nội, không chịu nổi áp lực của Tướng cộng sản Nguyễn Bình, chấp nhận thương lượng với Pháp rút về Chợ lớn, lập vùng Chợ lớn như khu tự trị để cán binh kháng chiến thuần túy, không cộng sản, có con đường trở về không bị mặc cảm về với Tây nhưng Pháp không giữ lới hứa để cho “khu tự trị thật sự được tự trị ”, mà “ thực dân hóa ” lực lượng võ trang này. Từ đây, lực lượng Bình xuyên bắt đầu mang nhiều tai tiếng xấu do nhóm cán binh gây ra trong dân chúng. Nhưng lực lượng Bình Xuyên khi về Chợ Lớn, kiểm soát an ninh được vùng này, đẩy lui Việt Minh ra khỏi ven đô khá xa, đã làm cho Nguyễn Bình bị Hà Nội khiển trách và sau đó, triệu hồi về Bắc ).

Về tới Washington, Tướng Collins họp với Tổng thống Eisenhower và Ngoại trưởng Dulles tại Tòa Bạch ốc. Tổng thống Eisenhower  nhân nhượng trước những lời yêu cầu thiết tha của Tướng Collins và đồng ý trở lại hợp tác với chánh phủ Pháp, cho ngưng chức Thủ tướng của ông Diệm, thay thế bằng ông Phan Huy Quát.
Ông Dulles về Bộ Ngoại giao chỉ thị cho ông Cụ tôi gởi điện tín cho Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn nói rằng Hoa Kỳ không ủng hộ Ông Diệm nữa. Ông Cụ tôi rất buồn vì biết rằng nếu Pháp có quyền thực sự tại miền Nam nữa, thì chắc chắn Hà Nội sẽ lại cướp luôn phần đất này. Đó chỉ là vấn đề thời gian mà thôi. Tuy nghĩ như thế nhưng bố tôi vẫn phải làm theo chỉ thị của cấp trên.
Gởi điện tín xong,  ông về phòng làm việc. Bổng có cú điện thoại của chính ông Ngoại trưởng Foster Dulles. Ông báo tin : “Tại cơ quan CIA, Ông Allen Dulles (em ruột của Ngoại trưởng Foster Dulles, lúc đó làm Giám đốc CIA ) mới nhận được một điện tín của Ed Lansdale  gởi từ Sài Gòn.  Lansdale nói rằng Ông Diệm ra lịnh dẹp Bình Xuyên, Quân đội Quốc gia nghe theo lịnh đang đánh Bình Xuyên, và dân chúng Sài Gòn ra đường mừng và ủng hộ quân đội (?). Yêu cầu Allen cho biết quyết định phải làm thế nào bây giờ”.
Cụ Young lập tức gọi ông Allen Dulles. Hai ngườii lấy quyết định không bỏ ông Diệm vì nếu bỏ ông Dìệm lúc này chỉ có lợi cho Pháp và sau đó, khó tránh sẽ bị Pháp buông ra cho cộng sản Hà Nội.

Sau đó, ông Cụ tôi phụ trách về “ Chánh sách liên hệ giữa Hoa kỳ và Việt nam Cộng hòa ”. Ông qua Việt Nam mấy lần nghiên cứu tình hình. Ông đã gặp cụ Diệm riêng mấy lần.  Cụ cũng có dịp gặp Ông bà Ngô Đình Nhu, Giám mục Ngô Đình Thục, và nhiều người lớn trong chánh phủ nữa.
Sau này, ông Cụ tôi nói rằng ông Diệm là người tốt, khá thông minh, lương thiện, tỏ ra có khả năng, có thể dám hy sinh cho quyền lơi của dân tộc, biết suy nghĩ, biết lo cho người làm ruộng, làm việc chăm chỉ, hết mình.  Nhưng ông Cụ tôi đã thấy sớm rằng ông  Ngô Đình Nhu có ảnh hưởng bao trùm lên chế độ. Nhiều lúc Cụ gặp mặt ông Diệm có ông Nhu nữa. Nhiều khi, lúc ông Diệm đương nói, ông Nhu chen vào, dành nói hết, không để khách  nghe riêng lời nói của ông Tổng thống. Có khi ông Nhu cải với ông Diệm hay cắt lời của 6ng Diệm đang nói mà ông Diệm vẫn im lặng.


Ông Cụ tôi trọng Ông Diệm là người đứng đắn và quí mến ông vì ông tỏ ra thành thật với ông Cụ tôi. Ông Diệm có vẻ tin ông Cụ tôi vì Cụ đã ủng hộ ông ấy vô điều kiện trong biến cố tháng 4 năm 1955.
Lần cuối cùng mà ông Cụ tôi gặp mặt cụ Diệm là đầu năm 1963 tại phòng khách ở Dinh Gia Long, Sài gòn. Phòng đó ở trên lầu hai cùa dinh Gia Long. Ông Diệm lo lắng lắm về sự nhượng bộ của Hoa Kỳ ở Lào, việc này do  Ông Averill Harriman phụ trách vì ông Harriman không thích chống cộng ở Đông Nam Á. Hiệp định Genève 1962 về Lào không bắt buộc Hà Nội rút ra khỏi Lào. Như vậy, ông Diệm biết Hà Nội sẽ dùng đường mòn Hồ Chí Minh vượt qua Lào để đẩy mạnh sự xâm lăng ngầm miền Nam nhằm đánh lừa dư luận thế giới rằng cuộc chiến ở miền Nam chỉ là cuộc chiến tranh du kích do nhơn dân miền Nam bất mản nổi dậy chống Mỹ Ngụy cứu nước.
Nói chuyện xong rồi, cụ Diệm đưa ông Cụ tôi ra khỏi phòng khach, tới đầu cầu thang đi xuống. Cụ Diệm bắt tay ông Cụ tôi và nói bằng tiếng Pháp: “ Tôi sẽ tiếp tục tranh đấu cho tới khi họ …”. Và lúc đó, cụ Diệm đưa tay mặt lên làm bộ cầm súng và bắn một viên đạn vào đầu ông.

Trên đây là những kỷ niệm đẹp của ông Cụ tôi giử riêng đối với Cụ Ngô Đình Diệm từ  những ngày đầu cụ Diệm về lập chánh phủ do sự bổ nhiệm của Quốc trưởng Bảo Đại.
Không biết phải chăng vì ảnh hưởng bố tôi mà tôi năng duyên nợ với Việt Nam, một đất nước xa xôi với quê hương của tôi? Sau này, trong những năm cuối 60 và đầu 70, tôi tới Việt Nam làm việc cho chương trình CORDS (Civil Operations and Revolutionary Development Support), chương trình đặc biệt của Hoa kỳ về bình định và phát triển xã ấp. Trong chức vụ cố vấn an ninh và phát triển, tôi tiếp xúc, quen biết nhiều giới chức VNCH trong đó có các bạn của bố tôi như Bs Trần Văn Đỗ, Bs Phan Huy Quát và những đảng viên Đại Việt Quốc Dân đảng, Việt Nam Quốc Dân đảng, những nhơn sĩ từng ủng hộ cụ Diệm khi về chấp chánh. Tôi cũng để thì giờ tìm hiểu về các tôn giáo như Đạo Phật, Cao Đài và Hòa Hảo nữa. Qua sự quen biết này, tôi bắt đầu tìm hiểu về chế độ Đệ I Cộng hòa. Tôi cũng tìm đọc thêm nhiều thông tin liên quan đến cụ Diệm và gia đình của cụ. Tôi thấy bản thân cụ là người trong sạch, không tham nhũng. Nhưng cụ nặng tình gia đình, nặng tinh thần phân biệt đối xử, phán quyết độc đoán, nên đã để mất sự thuận lợi của tình hình lúc ban đầu cho thế đại đoàn kết dân tộc; điều này chắc chắn đã không tránh khỏi góp phần tạo ra sự lớn mạnh nhanh chóng của Việt Cộng mà hậu quả vô cùng thảm hại sau này.

Riêng Đại Việt, với Bs Nguyễn Tôn Hoàn và Ông Nguyễn Ngọc Huy liên lạc viên giữa hai người, đã từng hợp tác chặt chẻ với ông Ngô Đình Nhu, Giám mục Ngô Đình Thục, …trong giải pháp Bảo Đại từ những năm 40. Thế mà những người này và nhiều nhơn sĩ khác như  các  Ông Vũ Tam Anh, Nguyển Phan Châu, Nguyễn Bảo Toàn, Phạm Thái Nguyễn Ngọc Tân, …kẻ bị giết, người phải bỏ chạy trốn ra nước ngoài. Hai ông Nguyễn Tôn Hoàn, Nguyễn Ngọc Huy phải đi bán hủ tiếu ở đường Montagne Ste Geneviève, Paris, cho tới sau 1963 mới có cơ hội hồi hương.

Tôi nhớ lại năm 1967, lúc tôi đương học tiếng việt tại “ Việt nam Training Center ”, ở Arlington, Virginia, tôi được mấy lần gặp Ông Bà Trần Văn Chương tại nhà riêng ở Chevy Chase, Washington, DC. Ông Chương là cựu Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa kỳ. Ông Bà là bố mẹ của Bà Trần thị Lệ Xuân, vợ của ông Ngô Đình Nhu, Cố vần của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Một hôm, ông Chương mời tôi uống trà với ông tại phòng ăn. Tôi hỏi ông Chương tại sao ông Diệm có vẻ không tin ai ngoài gia đình. Ông Chương cười và đáp: “Ông Diệm không tin chính ông thì thử hỏi làm sao tin người khác được?”.
Một buổi khác nữa, ông Chương tiết lộ một chuyện, tôi cho là rất quan trọng và rất đặc biệt. Trước cuộc đảo chánh 1/11/1963 độ 10 hôm hay một tuần, ông Diệm nhận thấy ông không còn đủ uy tín  để tiếp tục chức Tổng thống.  Tình hình phức tạp quá, khó tìm người ủng hộ ông hết mình. Ông Diệm có ý từ chức và xuất ngoại để Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ lên thay.  Lúc đó, bà Nhu đang ở ngoại quốc vận động dư luận thế giới ủng hộ đường lối của  chánh phủ Sài Gòn.  Sau khi ông Diệm nói ra quyết định  từ chức, ông Nhu gọi điện thoại cho bà Nhu báo tin quan trọng này. Lúc đó bà Nhu đang ở Nhựt Bổn. Ông Nhu cho vợ biết rằng ông và Ông Diệm sẽ xuất ngoại và ông sẽ gặp bà ở Nhựt trong vài ngày nữa.
Bà trả lời với sự giận dử, lớn tiếng, chửi chồng nặng nề, nói rằng nếu hai người (ông Nhu và ông Diệm) hèn như thế, nhát như thế, thì bà sẽ không làm vợ ông Nhu nữa. Bà nhắc Ông Nhu rằng lúc cuộc chỉnh lý 1960, cả hai người đều muốn chịu thua phe đảo chánh, chỉ có bà là không chịu thua và nhứt định giữ lập trường cứng rắn bảo vệ chế độ bằng cách đi kiếm các tướng lãnh trung thành  để cứu mình.  Bà nhấn mạnh với ông Nhu rằng bà không bao giờ muốn làm vợ người không đủ can đảm, đủ tài trí đối phó với hoàn cảnh khó khăn. Bà chỉ làm vợ kẻ anh hùng chớ không thể làm vợ kẻ tiểu nhơn được.
Ông Nhu nghe những lời vợ nói như vậy và không cải lại được một lời nào hết.  Ông phải dẹp bỏ ý định đi ra nước ngoài lánh nạn với Ông Diệm, ở lại giử Dinh Gia long theo ý bà vợ muốn. Ông Diệm cũng nghe theo em.



Một chuyện khác về ông Diệm và ông Nhu. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, một lần cho tôi biết, thời gian 1954/1955, chính Ông Diệm muốn có sự hợp tác của Bs Nguyễn Tôn Hoàn trong chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng. Ông Diệm nhờ ông Nhu mời ông Hoàn. Ông Nhu không liên lạc với ông Hoàn, trái lại nói dối với ông Diệm rằng ông Hoàn từ chối, không muốn ủng hộ chánh phủ  của ông Diệm. Nghe qua, ông Diệm tức giận lắm. Vì sự hiểu lầm này mà ông Diệm đã không ngăn cản ông Nhu khi đàn áp các đảng phái và cả Đại Việt.

Buồn, tiếc ! Nhưng tôi cũng hiểu, và hiểu rỏ, trong chánh trị có ai là bạn muôn thuở, có ai là kẻ thù muôn đời bao giờ đâu. Chánh trị chỉ là “mục tiêu” !
Nhưng theo nhà triết lý Hy- lạp thời xưa, số mạng được hiểu theo đức tính “character is destiny”. Đức tính của ông Ngô Đình Diệm, như đức tính của mọi người, có phần thuận lợi và có phần bất lợi. Ông làm được một số việc lịch sử có giúp ích cho dân tộc của ông, nhưng có một số việc khác ông làm không đúng theo sự mong đợi của dân.

Thi hào Việt Nam Nguyễn Du đã viết:
“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng ”.
Sau 50 năm, từ sự ra đi của cụ Ngô Đình Diệm, tôi cảm thấy đời người dường như không khỏi bị hệ lụy theo số mạng do Trời Đất xếp đặt sẳn, như cụ Nguyễn Du đã để lại cho chúng ta.

Stephen B. Young
St Paul, Minnesota, Oct 27, 2013