Hiển thị các bài đăng có nhãn Vietnam War. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vietnam War. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2014


ĐIỂM SÁCH

BOM LỬA NAPALM: MỘT ĐẶC SẢN CỦA MỸ


Tựa: NAPALM: AN AMERICAN BIOGRAPHY
Tác giả: Robert Neer
Nhà Xuất bản: Belknap/Harvard, Massachusetts, 2013 * 352 Trang
Người điểm sách: Peter C. Baker
Trích từ: Tuần báo The Nation, số ngày 30 tháng 9 năm 2013.
Bài phỏng dịch của Lý Nguyên Diệu


Vào một ngày mùa Hè năm 1942, trên sân bóng đá trường đại học Harvard, một sự  thay đổi đã xãy đến cho bộ mặt của chiến tranh hiện đại. Đúng ngày lễ Độc lập 4 tháng 7 của nước Mỹ năm đó, giáo sư Louis F. Fieser, Giám đốc “Dự án Nghiên cứu Vô danh số 4” của Uỷ ban Nghiên cứu  Quốc phòng, bật một nút bấm làm phát nổ chất phốt-pho trắng phía trong một trái bom chứa dầu hoả đông đặc. Từ thế kỷ 13, việc dùng lửa trong chiến trận đã bớt dần sau khi thuốc súng trở nên thông dụng, nhưng phát kiến của ông Fieser đã cho thấy máy bay có thể thả những ngọn lửa nhảo nhẹt từ trên không xuống mặt đất.
Cuốn sách “Bom Lửa Napalm: Một Đặc Sản Của Mỹ” (nhà xuất bản Belknap/Harvard; giá $29.95) của tác giả Robert Neer mô tả rằng phát kiến nầy đã được thành hình là phải dựa trên tiền thuế của dân, trên kiến thức khoa học hàn lâm và trên nguyên tắc tư bản sản xuất hàng loạt để gia lợi nhuận của nền công nghệ. Để bảo đảm cho kết quả tàn khốc của bom lửa napalm đạt đúng ý muốn, các nhà khoa học đã di tản hàng loạt xóm nhà ở vùng Trung Tây nước Mỹ để thử nghiệm mức tàn phá của bom. Họ cũng xây những ngôi nhà kiểu mẫu theo đúng kiến trúc của dân Đức và dân Nhật để đo lường tốc độ của lửa cháy. Loại heo Chesire trắng cũng bị thả bom lửa napalm vì, theo tác giả Neer, “loại heo nầy có một loại da gần giống nhất với loại da của loài người.”

Dù được nổi tiếng nhất qua những hình ảnh của cuộc chiến ở Việt Nam, nhưng bom lửa napalm lại được xử dụng nhiều nhất trong Đệ Nhị Thế Chiến, đặc biệt là trên nước Nhật.  Ngày 9 tháng 3 năm 1945, máy bay Mỹ đã thả 690 ngàn cân bom nầy trên thủ đô Đông Kinh làm hơn 87 ngàn người chết trong chỉ một đêm (nhiều hơn cả số nạn nhân của bom nguyên tử đã chết ở Hiroshima hoặc Nagasaki - Một độc giả của báo The Nation sau đó  đã viết thư cho biết con số mới nhất của các nạn nhân bom nguyên tử năm 1945 ở Hiroshima là 140 ngàn và Nagasaki là 75 ngàn -LND). Đoạn tường thuật cuộc oanh tạc trong sách của Neer thì thật là kinh khủng: Ngọn lửa toả rộng ra thật nhanh đốt hết dưỡng khí trên mặt đất. Mọi vật đều trở nên nóng bỏng không còn có thể sờ mó dược. Xác người bị cháy như những bó đuốc bay tung lên không vì ngọn cuồng phong. Những nạn nhân chưa bị cháy tìm cách nhảy xuống nước thì bị luộc sống vì nước nóng. Phi hành đoàn Mỹ trong máy bay ở cao độ 5 ngàn bộ (khoảng 1.5 cây số) mà vẫn bị nôn mửa vì ngửi mùi thịt người bị cháy từ đất bốc lên. Cuộc oanh tạc đêm đó là khời đầu của chiến dịch không kích đầu tiên bằng bom lửa napalm kéo dài 10 ngày trên không phận các thành phố Nhật.

Sau khi tiếng tăm của vũ khí mới nầy được xác nhận, bom lửa napalm trở thành vũ khí không tập được cả thế giới ưa chuộng tìm mua để xử dụng. (Đúng với nguyên tắc sản xuất nhiều, lợi nhuận tăng của kinh tế tư bản – LND) Hy Lạp dùng bom nầy để oanh tạc phiến quân cọng sản. Các cường quốc Âu châu thả bom nầy trên các thuộc địa ở Phi châu và Á châu. Brazil thả bom nầy trên quân theo Mao, Ai Cập trên Do Thái, Do Thái trên Palestine, Thổ Nhĩ Kỳ trên Cyprus, Ấn Độ trên Hồi quốc, và Iraq trên sắc dân Kurds. Trong 3 năm của cuộc chiến tại Hàn quốc (1950-1953), số bom lửa napalm được Mỹ xử dụng còn nhiều hơn cả tổng số bom trên mặt trận Thái Bình Dương của Đệ Nhị Thế Chiến. Và nhiều nhất là số bom lửa napalm đã được rót xuống trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng khi mà quần chúng Mỹ phải đối diện với những hình ảnh khủng khiếp của các nạn nhân thường dân – không chỉ hiện trên các báo thiên tả như Ramparts, mà ngay cả trong các báo bình dân như Ladies’ Home Journal – thì bom lửa napalm đã trở thành biểu tượng cho sự bạo tàn một cách vô cớ của chiến tranh kiểu Mỹ.

Một phong trào phản kháng bom lửa napalm bắt đầu hình thành qua những cuộc biểu tình trước các hãng chế tạo bom hoặc trong các đại học mỗi khi có cuộc thăm viếng của đại diện các hãng làm giàu nhờ bom như hãng Dow Chemical (cũng là hãng chế chất độc Da Cam xử dụng tại Việt Nam). Năm 1972, khi báo chí toàn cầu đăng tải hình ảnh em bé 9 tuổi Nguyễn Kim Phúc không áo quần chạy trên một đường nhỏ mà da thịt bị cháy phỏng vì lửa của dầu hoả đông đặc từ bom lửa napalm thì “vũ khí” nầy bắt đầu bị gọi là “tội ác chiến tranh.” Trong khi đó  thì Tổng thống Nixon vẫn  tự  hỏi không biết tấm hình em bé nầy có “bị chỉnh sửa” hay không. 


Hình chụp gần Trảng Bàng ngày 8 tháng 6 năm 1972 
Hình của (Huỳnh Công) “Nick” Út / AP

Trong những chương cuối cùng của cuốn sách, tác giả Robert Neer kể lại một cách tương đối đơn giản về ngày tàn của bom lửa napalm. Có hai sự cố nổi bật đáng đề cập. Trong cuộc chiến Iraq năm 2003, trên đường tiến quân chiếm thủ đô Baghdad của Tổng thống Hussein, không quân Mỹ đã dùng “bom lửa” Mark-77. Bom nầy bùng cháy như bom lửa napalm nhưng dùng một công thức dầu hoả khác nên đối với các nhà quân sự Mỹ, bom nầy không phải là bom lửa napalm nữa. Năm năm sau, Thượng viện Hoa kỳ thông qua Nghị định (Protocol) III của Hiệp định Quốc tế về Một số Vũ khí Thông thường (ban hành năm 1980) để cấm xử dụng bom lửa napalm và những hoả khí chống lại thường dân. Nhưng khi Tổng thống Obama ký vào Hiệp định nầy, ông thêm vào một ngoại lệ: Nước Mỹ sẽ ngưng thả bom lửa - ngoại trừ khi quân đội Mỹ thấy ... cần thiết!

                                                                                 Peter C. Baker

Lời bàn thêm của Lý Nguyên Diệu:

Giữa cao điểm của cuộc chiến tranh ở Việt Nam, khi bom lửa napalm được xử dụng tối đa và bị kết án cũng tối thậm, trong một bài phỏng vấn của tuần báo Times ngày 1 tháng 5 năm 1968, giáo sư Louis F. Fieser đã tuyên bố:  “I have no right to judge the morality of Napalm just because I invented it.” (Tôi không có việc gì mà phải xét đoán giá trị đạo đức của bom lửa Napalm dù chính tôi là người đã phát minh ra trái bom nầy.)
Câu tuyên bố vô lương tâm và vô trách nhiệm nầy làm chúng ta liên tưởng đến hai lời tuyên bố trước và sau Louis Fieser.
Trước Fieser 13 năm là Tuyên Ngôn chung năm 1955 gửi giới khoa học gia thế giới để chống bom nguyên tử và chống chiến tranh của hai nhà khoa học Bertrand Russell và Albert Einstein trong đó có 6 chữ cô đọng “Remember humanity and forget the rest.” (Hãy nghĩ đến nhân loại và quên đi những chuyện khác.)
Còn sau Fieser là câu tuyên bố của nữ khoa học gia người Mỹ gốc Việt Dương Nguyệt Ánh (trích từ bài “Bomb Lady” của nhà báo Andrew Lam viết ngày 8 tháng 4 năm 2004.) Bà là người được nhiều giải thưởng của chính phủ Mỹ nhờ công trình chế ra những vũ khí cho bộ Quốc phòng, Không quân và Hải quân Mỹ. Một trong những vũ khí “nổi tiếng” đó là bom “áp nhiệt” (thermobaric bomb) để giết những người trốn trong hang động của Afghanistan. Khi được hỏi về khiá cạnh sát sinh của vũ khí mà bà chế tạo, câu trả lời của bà  Dương Nguyệt Ánh là: “I’m not on the operation side. We don’t deal with human fatality.” (Tôi không ở phiá hành quân. Cái chết của con người không phải là vấn đề của chúng tôi.) Đây quả là lời tuyên bố của một người có tim mà không có tâm, phản ánh đúng như câu cảnh báo của  nhà  văn Rabelais “Science sans conscience n’est que ruine de l’âme.” (Khoa học mà không có lương tâm thì chỉ là sự hủy hoại của tâm hồn.)


Bà Dương Nguyệt Ánh và một cuộc thử nghiệm Bom Áp nhiệt

SHELF LIFE

Modern warfare changed on a Harvard soccer field in the summer of 1942. On July 4 of that year, Louis Fieser, head of the National Defense Research Committee’s “Anonymous Research Project No. 4,” flipped a switch, triggering a white phosphorous explosion inside a bomb filled mostly with jellied gasoline. The use of flame in war had been on the decline since the spread of gunpowder in the thirteen century, but Fieser showed that with napalm, planes could drop sticky fire from the sky.
  As described by Robert Neer in Napalm: An American Biography (Belknap/Harvard; $29.95), the innovation depended on taxpayer money and academic know-how, and required the fervent corporate desire for more products to sell. To ensure that napalm would have the desired effect, its architects emptied entire villages in the Midwest so they could be test-bombed, and built detailed replicas of German and Japanese homes to see how fast they would burn. White Cheshire pigs were napalmed too, because, Neer writes, their “skin was thought most closely to resemble that of humans.”
Though it is closely associated with the war in Vietnam, napalm was used extensively in World War II, mostly on Japan. On March 9, 1945, US planes dropped 690,000 pounds on Tokyo, killing more than 87,000 people in a single night (more than would die in the atomic blasts at either Hiroshima or Nagasaki). Neer’s account of that bombing is horrific: the fire spread quickly, seizing all the oxygen for itself; everything became too hot to touch; people were lifted from the ground and whipped about by the firestorm’s wind like airborne torches; many who sought refuge from the flames in water were boiled alive; 5,000 feet up, the pilots and crewmen smelled the burning flesh and vomited. It was the beginning of a ten-day campaign that introduced napalm to cities across Japan.
The new weapon’s effectiveness established, it would become an aerial weapon of choice worldwide. Greece dropped it on communist insurgents, European powers on their colonies in Africa and Asia, Brazil on Maoists, Egyptians on Israel, Israel on Palestine, Turkey on Cyprus, India on Pakistan, and Iraq on its Kurds. In Korea, the United States used more napalm than it has dropped in the Pacific in World War II, and in Vietnam it used even more. But as the US public was increasingly exposed to graphic news stories and photographs documenting napalm’s effects on civilians – which appeared everywhere, from left-wing outlets like Ramparts to mass-market glossies like Ladies’ Home Journal – the weapon came to represent all that was needlessly brutal about the American way of war.
An anti-napalm movement started with protests outside napalm production facilities and on college campuses during visits by representatives of napalm profiteers like Dow Chemical (which also manufactured the defoliant Agent Orange). By 1972, when newspapers around the world ran the now-famous photo of a naked 9-year old Vietnamese girl named Phan Thi Kim Phúc running down a road with jellied gasoline singeing her flesh, napalm’s demotion from “weapon” to “war crime” was well under way. President Nixon wondered if the photograph was “fixed”.
Neer’s closing chapters, which chronicle the decline in napalm use, are comparatively thin. Two incidents stand out. In 2003, the US military dropped Mark-77 “firebombs” during its advance toward Baghdad. The combustion looked and acted like napalm fire, but the Mark-77 had been made with a new kerosene-based formula – and so, in the eyes of the military, it was no longer napalm. Five years later, the Senate finally ratified Protocol III of the international Convention on Certain Conventional Weapons (written in 1980), which ban the use of napalm and other incendiaries against civilians. But when President Obama signed the treaty into law, he appended a caveat: The United States will no longer drop incendiary weapons – unless the military deems it necessary.
                                                                                                            Peter C. Baker



Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013


“HÔME” – CHUYẾN LỮ HÀNH VỀ QUÁ KHỨ

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-09-28

Cuộc triển lãm của nhiếp ảnh gia, nghệ sĩ Brian Doan mang một cái tên ngắn ngủi: “Hôme”, đang diễn ra tại New York được tổ chức Vilcek Foundation bảo trợ được giới thưởng lãm mỹ thuật New York đánh giá cao ngay trong ngày khai mạc 14 tháng 9 vừa qua.


Nhiếp ảnh gia - Nghệ sĩ Brian Doan (Courtesy Brian Doan)

Chiến tranh VN đã kết thúc hay chưa?

Các tác phẩm được thực hiện theo phong cách Media Installation gồm điêu khắc, photograph tái tạo từ những bức ảnh nổi tiếng bằng nhân vật và ý tưởng mới, video trình chiếu và mô hình với nhiều chất liệu.

Brian Doan hiện là giảng viên nhiếp ảnh, tạo hình của đại học Long Beach, tiểu bang California. Là lớp người Việt thế hệ một rưỡi, Brian có cái nhìn sâu và nhiều dấu hỏi về cuộc chiến tranh Việt Nam sau khi anh và gia đình rời khỏi quê nhà để định cư tại một vùng đất mới. Những trăn trở của Brian trong nhiều chục năm đã đeo đuổi, ám ảnh và thúc đẩy anh tìm hiểu những gì đã xảy ra khiến anh và một triệu người khác phải gia nhập cuộc hành trình đau đớn có cái tên mỹ miều là tìm tới bến bờ tự do.

Từ mảnh đất tự do ấy, trong khi hầu như tuyệt đại đa số hướng về phía trước tìm cho mình trái ngọt của vùng đất mới trù phú thì Brian lại canh cánh về quá khứ để tìm một câu trả lời mà rất nhiều người không muốn biết: Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc hay chưa?

Bước vào phòng trưng bày tác phẩm của Brian, người xem không khỏi ngỡ ngàng khi nhìn thấy tấm hình nổi tiếng của Eddie Adams chụp cận cảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan xử bắn ông Bảy Lốp, một đặc công cộng sản bị bắt trong chiến dịch Mâu Thân tại Sài Gòn năm 1968. Chính tác phẩm này góp phần làm cho phong trào phản chiến tại Mỹ lên cao và cuối cùng dẫn tới sự sụp đổ của Miền Nam năm 1975.

Tuy nhiên khi tiến tới gần thì người xem phát hiện trên tay của tướng Loan không cầm súng mà lại cầm một bình nước, còn ông Bảy Lốp thì tuy khuôn mặt vẫn đậm nét sợ hãi nhưng không còn là cái sợ hãi của người sắp bị bắn. Đó là nỗi sợ khó định nghĩa, rất mơ hồ nhưng có thật trong tâm tưởng của bất cứ ai trước nghĩa cử chia sẻ của kẻ thù. Nghi ngờ và xúc động đan xen nhau khiến khuôn mặt Bảy Lốp méo mó và đầy bi kịch.

Tấm hình được tái tạo từ tác phẩm nổi tiếng của Eddie Adams chụp cận cảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan và ông Bảy Lốp, một đặc công cộng sản (Brian Doan trong vai tướng Nguyễn Ngọc Loan). Photo courtesy of Brian Doan.

Chính Brian đóng vai tướng Loan và một người bạn của anh trong vai Bảy Lốp. Tác phẩm nhiếp ảnh này tái tạo lại một tấm hình đã đi vào lịch sử của cuộc chiến Việt Nam. Brian sáng tạo cái khoảnh khắc kinh hoàng của một cuộc xử bắn được xem là dã man bằng những giòng nước mát như cố gắng gột đi những di căn mà bao nhiêu năm sau vẫn làm đau lòng cho người trong cuộc.

“Tấm hình này tái tạo lại hình ảnh của nhiếp ảnh gia Eddie Adams năm 1968 trong bối cảnh ông Nguyễn Ngọc Loan xử bắn ông Việt cộng Bảy Lốp ngay tại chỗ. Đối với tôi tấm hình này mang rất nhiều thiệt hại cho phía miền Nam. Bởi vì khi thế giới nhìn vào nó nói lên cục diện của cuộc chiến. Nó nói lên sự thương tâm trong chiến tranh Việt Nam. Đối với tôi phía nào cũng có những hình ảnh như thế nhưng phía miền Bắc chúng ta không thấy được những hình ảnh như vậy.

Khi tôi tái tạo lại tấm hình này thì thay vì xử bắn tôi lại đưa cho anh tù binh ca nước uống và anh ta có nét mặt rất đau khổ và hối hận. Đối với tôi thì thông điệp ấy qua tái tạo lại hình ảnh nhằm mục đích cho bớt chết chóc, bớt sự chia cắt. Tôi muốn cho người ta thấy rằng cái gì cũng có thể có một cơ hội, vì vậy khi cho người ta cơ hội thì sẽ được thông cảm hơn.

Đồng ý là trong cuộc chiến Việt nam hai bên bắn nhau, tàn sát lẫn nhau nhưng nếu có cơ hội nhìn lại thì câu hỏi của chúng tôi là khẩu AK47 hay khẩu M16 từ đâu đem tới Việt Nam, và lý do gì mà mình cầm các loại vũ khí đó để đánh nhau cho cái chủ nghĩa nào? Chủ nghĩa đó nó có từ Việt Nam hay được du nhập vào và chúng ta chỉ là con bài để thực thi những chủ nghĩa đó?

Trong toàn bộ tác phẩm của tôi, đặc biệt trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Loan thì thông điệp của tôi là chúng ta phải nhìn lại và đôi lúc cũng phải biết tha thứ cho nhau.”

Câu hỏi chiến tranh Việt nam kết thúc hay chưa được Brian biểu cảm qua những cứ liệu lịch sử xa hơn buổi hành quyết ấy với biến cố Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Tấm ảnh chụp cuộc tự thiêu hiếm hoi ấy cũng được Brian tái tạo lại và anh đã đặt câu hỏi lớn lên mặt phẳng của biến cố nổi tiếng này. Với một đống đô la bị đốt, hai con chuột và rắn hoảng loạn, con chim trắng vụt bay vào trời bao la… Brian tạo ẩn dụ qua những hình ảnh này để nói lên những điều mà anh gọi là sai lầm của một chế độ đã tạo ra vết thương lớn cho dân tộc.

“Hòa thượng Thích Quảng Đức ngồi theo tư thế hoa sen và trước mặt là một đống tiền đô la bị đốt cháy. Đối với tôi khi Thích Quảng Đức ra đi thì quyền lực của những thế lực ngoại bang cũng đi theo. Tôi vẽ thêm hình ảnh của con chuột và con rắn, Hai hình tượng này là hai Zodiac, năm sinh của ông Ngô Đình Diệm và ông Kennedy. Con chuột và con rắn đang quan sát và có vẻ sợ hãi ngọn lửa của Hòa thượng Thích Quảng Đức. Trong khi đó một con chim cất cánh bay lên con chim tượng trưng cho Phật giáo.

Hình ảnh Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu do Brian Doan tái tạo lại.
Photo courtesy of Brian Doan

Đối với tôi người chiến thắng trong tấm hình này không phải là thế lực của súng đạn, phía chính quyền mà chính nghĩa của sự nhân bản, sự hy sinh của Phật giáo mà Thích Quảng Đức là đại diện. Bây giờ nhìn lại rất nhiều người quên đi nhưng trong thời điểm ấy rất là nhố nhen và những người đứng đầu chính quyền miền Nam lúc đó, đặc biệt như Tổng thống Ngô Đình Diệm hay là bà Trần Lệ Xuân tức Madame Nhu đã có những phát biểu không tốt cho Phật giáo. Đôi khi một câu nói có thể làm người ta chia tay nhau suốt đời. Câu nói của lãnh đạo quốc gia rất quan trọng vì được hàng triệu người nghe theo họ cần phải cẩn trọng lời nói đối với đồng bào, dân tộc của mình.”

Ảnh bà Trần Lệ Xuân tức Madame Nhu do Brian Doan tái tạo lại.
Photo courtesy of Brian Doan.

Đã đến lúc nhìn lại


Tấm ảnh nổi tiếng về cuộc di tản trên nóc tòa đại sứ Sài Gòn vẫn còn ám ảnh rất nhiều người ngày nay. Tấm ảnh ấy được Brian thực hiện lại qua cuộc di tản của chính gia đình anh. Trên một chiếc TV 19 inches, những con người nhỏ xíu xô đẩy, dắt díu nhau chạy tới chiếc trực thăng đang đậu chờ cất cánh. Tất cả đều là màu trắng. Trên màn hình của chiếc TV là cảnh tuyết rơi. Rơi liên tục không dứt và bản nhạc White Christmas vẫn âm ỉ hát như chưa bao giờ ngưng kể từ ngày bản nhạc này được phát như một tín hiệu để binh sĩ Hoa Kỳ rút lui ra khỏi xứ sở này.

White Christmas, Giáng sinh trắng là một trong những tác phẩm gây ấn tượng trong căn phòng triển lãm nhỏ bé tại trung tâm nghệ thuật nổi tiếng thế giới: New York.

Cuộc chiến có phải đã chấm dứt từ ngày bản nhạc Giáng Sinh trắng cất lên hay không? Câu hỏi này vẫn ám ảnh Brian dẫn anh đến những tác phẩm mà 40 năm sau anh muốn người xem trả lời.

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975 thì nó chỉ chấm dứt tiếng súng. Sự chia cắt giữa Nam và Bắc chia cắt ý thức hệ thì tôi nghĩ vài chục hay cả trăm năm nữa không biết nó có bớt được sự chia rẽ hay không. Hiện tại trong nước giữa Nam và Bắc và bộ phận người Việt lưu vong ở hải ngoại và người Việt trong nước vẫn còn những bất đồng về cuộc chiến đó vì vậy khi nói cuộc chiến tranh đã chấm dứt thì đối với tôi, tôi không đồng ý.

Bởi vì hai bên, một bên thắng và một bên thua cuộc do những con bài của các thế lực mà họ dàn xếp với nhau thì cuộc chiến nó chấm dứt ngay tại đó. Còn lòng người dù lớn lên ở Nam hay Bắc, chủ nghĩa cộng sản hay tư bản, vẫn có những thái độ thù nghịch, nhất là từ phía chính quyền Việt Nam trong nước.

Sau năm 1975 thì lẽ ra chính phủ phải khoan dung hơn, phải cho bên phía thua cuộc một con đường, nhưng chúng ta đã không có cái nghĩa cử như vậy. Bộ phận người Việt đi ra ngoài nước trong lòng của họ vẫn còn thù hận, chưa được xóa bỏ.”

Cái tên của cuộc triển lãm cũng làm lắm người ngạc nhiên. Theo tiếng Anh “Home” có nghỉa là nhà nhưng Brian thêm dấu mũ vào khiến người Việt có cảm giác khác hẳn. Chữ “Hôme” gây cảm giác nhớ nhà. Chiều hôm chăng? Cái ám ngữ này sâu thẳm và gợi mở rất nhiều diễn giải. Tuy nhiên với Brian thì đó là hai từ nối của “Hồ” và “me”. Hồ Chí Minh và tôi.

Ẩn ngữ, hay nói cách khác, ẩn ý này đã một lần nữa làm cho bản thân của người nghệ sĩ trở thành đầu đề của tranh luận. Với Brian, Hồ Chí Minh dính chặt với anh như một định mệnh vì những điều ông ấy làm kéo theo nỗi trăn trở của anh về số phận cả một đất nước. Brian nhìn ông Hồ dưới đôi mắt sáng trong của một thanh niên không định kiến. Chính anh đóng vai Hồ Chí Minh ngồi đọc báo Nhân dân, tay mang nhẫn cưới trên vai là con chìm màu đỏ hót vang những bài tụng ca quen thuộc. Bên dưới sàn nhà là con chím màu xanh, nhảy những bước chân ngập ngừng vì nó đang bị theo dõi từng chút một bởi cả một lực lượng vừa chiến thắng.

Chính Brian Doan đóng vai Hồ Chí Minh ngồi đọc báo Nhân Dân với nhẫn cưới trên tay.
Photo courtesy of Brian Doan

Chiếc nhẫn cưới trên tay Hồ Chí Minh phá vỡ huyền thoại về một vị cha già dân tộc hy sinh cả đời vì đất nước đến nỗi quên cả việc riêng. Brian nhìn tay ông và nhìn cả một quãng đường dài của lịch sử để từ đó anh quay về với sự thật, về những điều mà chế độ vẫn tiếp tục che dấu. Che dấu lịch sử và làm cho người Việt ngày càng xa cách nhau từ những chi tiết tưởng chừng như nhỏ bé này.

Khi còn cách xa và nghi kỵ nhan thì phải chăng cuộc chiến chưa thể chấm dứt?

“Sau bốn mươi năm chúng ta vẫn chưa có tác phẩm văn học nghệ thuật cũng như phim ảnh để nói về những nổi đau, nỗi chia cắt vì chúng ta đã quên cái lý do khiến anh em đánh nhau, thù ghét nhau 40 năm và 40 năm sau vẫn còn như vậy. Một câu hỏi đặt ra: chùng ta đã thỏa mãn, chúng ta đã OK, đã xong rồi chưa hay chúng ta vẫn thấy sự chia rẽ, nó vẫn còn và cần những hàn gắn?

Tôi nghĩ tác phẩm của tôi một phần nào đó tôi muốn đem phía miền bắc và phía miền nam, phía hải ngoại và trong nước để cho thấy chúng ta đã làm gì trong vòng 10 năm từ năm 1965 tới 1975 cũng như 40 năm, bốn lần như vậy đã trôi qua và chúng ta nhìn lại thời gian khốc liệt đó?

Theo tôi, đã đến lúc nhìn lại, nói một lời xin lỗi với nhau, nói một lời gì đó trân trọng nhau, cùng quên quá khứ thì lúc đó mới có thể nói chúng ta đã chấm dứt chiến tranh Việt Nam.”

Trong artist’s statement, Brian Doan ghi lại suy nghĩ của anh về cuộc triển lãm lạ kỳ này. Với anh, tất cả chỉ là một chuyến trở về. Trở về tìm lại những gì mà cả dân tộc đang miệt mài tìm kiếm. Chỉ có trở về, nắm lấy tay nhau, chuyền cho nhau sự cảm thông đích thực thì khi ấy cuộc chiến tranh đằng đẵng mới có cơ may tan biến, anh viết:

“Câu chuyện của tôi không phải là tự truyện của một người Việt Nam mà nó là chuyện của bất cứ công dân một quốc gia nào từng có cơ hội làm nhân chứng những xung đột trong thế giới này. Tác phẩm của tôi không chỉ là câu chuyện của những người bỏ xứ phiêu bạt mà nó là chuyến lữ hành cho bất cứ ai muốn về nguồn, về lại mái nhà đúng nghĩa.

Tôi đã trầm tư với quá khứ bằng nhịp đập rất mong manh của trái tim, và còn đang miệt mài tìm kiếm lối về lại mái nhà của mình”

Mái nhà ấy đang được trình bày tại New York, nơi mà nhiều nghệ sĩ mơ ước được một lần trình diễn tác phẩm của mình.

● Source: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/home-the-journey-to-the-past-ml-09272013163535.html

● Ghi chú: Hình thật lấy từ Internet, nằm bên mặt hình của Brian Doan, là do hoangnamgiao thêm vào.