Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013



 LỜI DẶN DÒ CUỐI CÙNG CỦA ĐỨC PHẬT


Biên soạn dựa theo một bài viết của Thiền sư và Giáo sư Triết học ngưới Pháp Gérard Pilet, đăng trong nội san của Hội Thiền học Quốc tế AZI (Association Zen Internationale), trụ sở tại Paris, và tài liệu của Bukkyo Dendo Kyokai (Society For the Promotion of Bouddhism), trụ sở tại Tokyo) – HOANG PHONG




Dưới đây là tóm tắt những lời dặn dò cuối cùng của Phật. Thật ra Phật đã đau yếu từ ba tháng trước và đã khởi sự dặn dò người đệ tử thân cận nhất là A-Nan-Đà. Phật bảo A-Nan-Đà tập họp các đệ tử để nghe giảng và thông báo trước sự tịch diệt của mình. Lúc ấy Phật đã 80 tuổi. Trong những tháng cuối cùng, Phật đã gầy còm và mệt mỏi, nhưng vẫn đi thuyết giảng như thường, tuy không còn đi xa được nữa. A-Nan-Đà xin Phật hãy tĩnh dưỡng trong những ngày còn lại, nhưng Ngài khoát đi và dạy rằng : 

« Thân ta tuy có kém mạnh khoẻ, nhưng lòng từ bi của ta, trí sáng suốt của ta không kém sút. Ta còn tại thế ngày nào thì ngày ấy không phải là một ngày vô ích ».
 
Trong một khu rừng cạnh thị trấn Câu-thi-na (Kusinaga, còn viết là Kuçinagara), ngày nay là một thị trấn nhỏ tên là Kasia, cách 50 cây số về phía đông tỉnh Gorakhpur, và cách 150 kilomét về phía bắc-đông-bắc Varanasi (Bénarès), Phật nằm nghỉ giữa hai gốc cây sa-la. 
Ngài tự gấp áo cà sa làm bốn, rồi nằm nghiêng về phía tay phải, đầu hướng về phía bắc, mặt hướng về phía tây, hai chân duỗi thẳng, chân này gác lên chân kia. Sau đó Phật ngỏ những lời cuối cùng với các đệ tử để nhắc lại một lần nữa tầm quan trọng của Đạo Pháp. Phật nhắc nhở các đệ tử phải hiểu rằng vị thầy của họ không phải là một nhân vật nào cả, dù đó là Phật, vị thầy đích thực của họ chính là Đạo Pháp.Phật cất tiếng và nhắn nhủ các đệ tử đang ngồi chung quanh Ngài như thế này :

« Này các đồ đệ, các con hãy tự làm đuốc để soi sáng cho các con, hãy trông cậy vào chính sức mạnh của các con; không nên lệ thuộc vào bất cứ ai. Những lời giảng huấn của ta sẽ làm ngọn đuốc dẫn đường cho các con, làm nơi nương tựa cho các con; không cần phải lệ thuộc thêm vào những lời giảng huấn nào khác nữa.
 
« Hãy nhìn vào thân xác các con, các con sẽ thấy cái thân xác đó ô uế biết chừng nào. Khi các con hiểu được rằng lạc thú lẫn đớn đau của thân xác cũng chỉ là cội nguồn chung của khổ đau, khi hiểu được như thế, các con sẽ không thể nào tự buông lỏng cho dục vọng chi phối các con.
 
« Hãy nhìn vào tâm thức các con, các con sẽ thấy cái tâm thức đó biến dạng không ngừng. Vì thế các con sẽ không thể nào tự buông rơi vào chính những ảo giác của tâm thức, để rồi tự duy trì những kiêu căng và ích kỷ do tâm thức tạo ra, nhất là khi các con đã hiểu rằng những xúc cảm đó nhất định chỉ mang đến khổ đau mà thôi.
 
« Hãy nhìn vào tất cả các vật thể chung quanh xem có vật thể nào trường tồn hay chăng? Có vật thể nào không phải là những cấu hợp sinh ra hay không? Tất cả sẽ gẫy nát, tan rã và phân tán. Các con chớ sợ hãi khi nhận thấy khổ đau cùng khắp mọi nơi, hãy noi theo những lời giáo huấncủa ta, kể cả sau khi ta đã tịch diệt. Như thế các con sẽ loại bỏ được khổ đau. Thật vậy, cứ noi theo những lời giáo huấn của ta, rồi nhất định các con sẽ trở thành những đồ đệ thật sự của ta.
 
« Này các đồ đệ của ta, những lời giáo huấn ta giảng cho các con, các con đừng bao giờ quên, đừng bao giờ để cho mai một đi. Phải bảo tồn những lời giáo huấn ấy, đem ra nghiên cứu và thực hành. Nếu theo đúng những lời giáo huấn ấy, các con sẽ đạt được an vui. 
« Những gì hệ trọng nhất trong những lời giáo huấn của ta là các con phải kiểm soát được tâm thức các con. Hãy gạt bỏ mọi thèm muốn và giữ cho thân xác đứng thẳng, tâm thức tinh khiết và ngôn từ chân thật. Nếu các con biết tự nhắc nhở là cuộc sống của các con chỉ là tạm bợ, các con sẽ đủ khả năng loại bỏ mọi thèm khát và hung dữ đưa đến khổ đau. 
« Nếu các con nhận ra được là tâm thức các con đang có xu hướng bám níu hay vướng mắc vào ham muốn, các con phải gạt bỏ ngay sự ham muốn và chận đứng sự cám dỗ đó. Các con phải làm chủ được tâm thức các con.

Tâm thức có khả năng biến một con người thành một vị Phật hay một con thú. Khi rơi vào sự lầm lẫn, ta có thể trở thành quỷ sứ, nhưng khi Giác ngộ ta sẽ thành Phật. Vì thế, các con phải kiểm soát lấy tâm thức các con và không đi lạc ra ngoài Chánh Đạo.
 
« Để có thể giữ đúng như lời giáo huấn của ta, các con hãy kính trọng lẫn nhau và đừng cãi vả. Đừng bắt chước như nước với dầu xô đẩy lẫn nhau; hãy bắt chước như nước với sữa, có thể hoàn toàn hòa lẫn vào nhau.

Hãy cùng nghiên cứu với nhau, cùng giảng giải cho nhau, thực hành với nhau. Không nên phí phạm tâm thức của các con và thời giờ của các con trong sự cãi vả hay lười biếng. Hãy hân hoan đón nhận hoa thơm của Giác ngộ vào lúc ra hoa và hái lấy quả ngọt trên Đường Ngay Thật.
 
« Những lời giáo huấn ta ban cho các con là do nơi kinh nghiệm của chính ta, và chính ta đã noi theo con đường đó. Các con nên tuân theo những lời giáo huấn ấy và giữ đúng như thế dù phải gặp hoàn cảnh khó khăn nào. Nếu các con xao lãng, có nghĩa là các con chưa hề gặp được ta, các con thật sự còn đang ở một nơi nào đó thật xa, dù cho trong lúc này đây các con đang ngồi bên cạnh ta cũngvậy. Nhưng nếu ngược lại, các con chấp nhận và đem ra thực hành những lời giáo huấn của ta, thì dù cho các con ở thật xa trong một chốn tận cùng của thế giới, nhưng cũng giống như các con đang ở bên cạnh ta trong lúc này.
« Hỡi các đồ đệ, phút cuối cùng của ta đã gần kề, phút xa lìa giữa ta và các con không còn bao lâu nữa. Tuy nhiên các con không nên than khóc. Sự sống là một sự đổi thay không ngừng và không có gì cản trở được sự tan rã của xác thân. Cái sự thực đó, ta đang chứng minh cho các con thấy ngay trên thân xác của ta, thân xác ta sẽ tan rã như một cỗ xe hư nát. Đừng than khóc một cách vô ích, trái lại các con phải hân hoan khi nhận ra được cái quy luật biến đổi ấy và hiểu được rằng sự sống của con người chỉ là trống không mà thôi. Đừng cố gắng duy trì cái khát vọng phi lý, mong muốn những gì tạm bợ phải nhất định trở thành trường tồn.
 
« Con quỷ của những dục vọng thế tục luôn luôn tìm cách đánh lừa tâm thức các con. Nếu có một con rắn độc trong phòng, các con sẽ không thể nào ngủ yên nếu chưa đuổi được nó ra ngoài. Các con phải cắt đứt những mối giây ràng buộc của thèm khát thế tục và rứt bỏ những mối giây đó như các con đã đuổi bỏ con rắn độc ra khỏi phòng. Các con phải bảo vệ thật cẩn thận tâm thức các con.
 
« Này các môn đệ của ta, giây phút cuối cùng của ta đã đến, tuy vậy các con phải hiểu rằng cái chết chỉ là sự tan rã của xác thân vật chất mà thôi. Thân xác được cha mẹ sinh ra, nó lớn lên nhờ thức ăn, nó không có cách gì tránh khỏi bịnh tật và cái chết. Một vị Phật đích thực không mang thân xác con người, mà vỏn vẹn chỉ là sự Giác ngộ. Chỉ có sự Giác Ngộ mà thôi. Thân xác con người phải tiêu tan, nhưng Trí tuệ của Giác ngộ sẽ trường tồn vô tận trong thực thể của Đạo Pháp, trên con đường tu tập Đạo Pháp. Nếu có ai chỉ thấy thân xác ta thì kẻ ấy không thấy ta một cách thật sự. Chỉ có người nào chấp nhận những lời giáo huấn của ta mới thật sự nhìn thấy ta.
 
« Sau khi ta tịch diệt, Đạo Pháp thay ta làm vị thầy cho các con. Biết noi theo Đạo Pháp, ấy chính là cách các con tỏ lòng trung thành với ta. Trong bốn mươi lăm năm sau cùng trong cuộc đời của ta, ta không hề dấu diếm điều gì trong những lời giáo huấn. Chẳng có một lời giáo huấn nào bí mật, không có một lời nào mang ẩn ý. Tất cả những lời giảng của ta đều được đưa ra một cách ngay thật và minh bạch.
 
« Này các con yêu quý của ta, đây là giây phút chấm dứt. Trong một khoảnh khắc nữa ta sẽ nhập vào Niết bàn. Những lời này là những lời dặn dò cuối cùng của ta cho các con ».


Người chép lại những lời này của Phật xin chắp tay mong rằng :
- Vì Phật, chúng ta hãy đọc lại những lời nhắn nhủ trên đây thêm một lần.
- Vì tất cả chúng sinh, vì sự đau khổ của muôn loài, chúng ta lại đọc thêm một lần nữa.
- Để gởi đến từng đơn vị nhỏ nhoi nhất của sự sống, chúng ta lại đọc thêm một lần nữa, đọc thêm một lần nữa… 

Chúng ta nguyện sẽ đọc lên và đọc lên cho từng chúng sinh một, ta đọc cho đến khi nào những lời dặn dò trên đây của Phật trở thành những lời dặn dò xuất phát từ chính tâm thức ta, để nhắn nhủ cho chính ta, nhắn nhủ những người chung quanh ta, kể cả những sinh linh nhỏ nhoi nhất của sự sống. Khi những lời nhắn nhủ chân thật và tràn đầy Từ bi trên đây của Phật trở thành làn hơi thở của chính ta, thì biết đâu lúc ấy ta cũng sẽ là một vị Phật ? 

Bures-Sur-Yvette (Pháp quốc) 

Hoang Phong 



Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

Minh xác: “Làm Sáng Tỏ” hay “Xuyên tạc, Bịa đặt?”
VỀ MỘT TRƯỜNG HỢP TRỘM CẮP CÔNG TRÌNH
TIM ÓC CỦA CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU

Chính Ðạo Vũ Ngự Chiêu


Cách đây ít hôm, Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, tác giả Thực chất của Giáo hội La-Mã, (2 tập, xuất bản năm 1999), gửi điện thư cho tôi, yêu cầu lên tiếng về một bài viết của Tú Gàn trên tờ SàiGòn Nhỏ mới xuất bản. Ông bà Quang còn cẩn thận đính kèm bài viết trên, được gửi đi các mạng lưới online. Tôi chẳng bận tâm vì Tú Gàn, tức Lữ Giang, tức Nguyễn Cần là người từng được Giáo sư Quang mệnh danh là ‘chuyên viên phịa sử’ (sách đã dẫn, 1999, II:689), không những chỉ ‘dốt sử,’ ‘thiếu căn bản sử học,’ mà lại ‘đầy gian ý’ (sđd, 1999, II:653-738). Tệ hại hơn, Tú Gàn, tức Lữ Giang còn trộm cắp công trình nghiên cứu của người khác, đặc biệt là những nghiên cứu của tôi trong tập Việt Nam Niên Biểu, chép vào ‘sách’ của đương sự, mà không hề trưng dẫn nguồn xuất xứ, mập mờ đánh lận con đen rằng từng tham khảo các tài liệu ‘văn khố’ ngoại quốc. Trâng tráo hơn nữa, Tú Gàn thỉnh thoảng lại cao giọng chê tôi là ‘phịa’ hay ‘xuyên tạc’ khi các tư liệu của tôi bác bỏ một cách rõ ràng, khẳng định, những điều bịa đặt xưa nay trong nỗ lực ‘cung văn’ giòng dõi họ Ngô Ðình Khả, Nguyễn Hữu Bài cùng thành phần trung gian bản xứ dưới thời Pháp đô hộ của Tú Gàn và những tàn dư của Cần Lao.

Thuộc loại người tương đối có học (hình như tốt nghiệp trường Luật ở Việt Nam), nhưng Tú Gàn không những chỉ thiếu sự lương thiện trí thức mà còn đầy những ý tội [mens rea] và việc tội [actus reus] - tìm đủ cách nhục mạ, bôi nhọ những người tham gia sinh hoạt cộng đồng và những người tên tuổi trên những tờ báo chợ-thật không xứng đáng để ghé mắt. Bởi thế, tôi đã im lặng bấy lâu, dành cho dư luận phán đoán bản chất con người Tú Gàn. Nhiệm vụ chính yếu một người học sử, theo tôi, là truy tìm những tài liệu mới, hầu tái dựng các biến cố gần đúng với sự thực nhất, dưới sự hướng dẫn của lương tâm nghề nghiệp; chẳng nên phí phạm thời gian một cách vô ích vào những việc cuồng quay trong chu trình lên men thối của những người chưa chết đã có mùi tử thi. Nếu đáng chú ý chăng chỉ có các vấn đề liên quan đến khả năng hội nhập của tuổi trẻ Việt vào quê hương mới của họ, trong chu trình hình thành các cộng đồng gốc Việt.

Nhưng mới đây, mạng lưới ‘Lịch sử Việt Nam’ cho đăng lại bài viết mới nhất của Tú Gàn, gọi là ‘làm sáng tỏ’ thêm về Hiệp định Geneva. Bởi vậy, tôi nghĩ khó thể tiếp tục im lặng.
Bài minh xác này được viết không thuần nhắm phản ứng lại ác tâm vu khống và mạ lỵ của Tú Gàn tức Lữ Giang. Biện pháp hữu hiệu duy nhất thực ra là phải nhờ đến pháp luật, như Kỹ sư Bùi Bỉnh Bân, nguyên Chủ tịch cộng đồng Santa Ana, đã từng lôi bọn côn đồ chữ nghĩa ở hải ngoại, kể cả Tú Gàn, ra trước pháp đình. Nhưng những ai biết rõ về luật pháp Mỹ cũng hiểu sự nhức đầu của các phiên tòa dân sự: Nếu bị can thuộc loại sống vô gia cư, chết không địa táng, ví thử có thắng kiện, chỉ tốn kém tiền bạc và thời gian, cuối cùng chỉ nắm trong tay một bản án của tòa, mà chẳng sai áp được bao nhiêu tiền bạc hay tài sản. Bởi thế, đa số đều im lặng, theo đúng lời dạy của Cổ nhân: ‘Thứ nhất sợ kẻ anh hùng; thứ nhì sợ kẻ bần cùng khố giây.’

Bài minh xác này cũng không được viết để trả lời hay đối thoại với Tú Gàn. Tú Gàn không hề biết đối thoại hay thảo luận mà chỉ làm một công việc mệnh danh là ‘tinh tinh tân thời.’ Thời xưa, đối xử với loài tinh tinh, người ta cho chúng uống rượu say, rồi chăng lưới bắt.
Vào đầu thế kỷ XXI, ai phí thì giờ bắt những con tinh tinh say rượu ở hải ngoại làm gì?

Tuy nhiên, từ vị thế một người nghiên cứu sử học và luật học chuyên nghiệp, tôi cảm thấy cần khẳng định thêm một lần về Hiệp định Geneva 1954, một Hiệp định mà đại đa số người Việt của cả hai phe chẳng những chưa được thông báo đầy đủ, mà còn bị nhiễm độc vì những xảo thuật tuyên truyền của nhiều phe phái bấy lâu. Hậu quả của sự thiếu thông tin và tuyên truyền này khiến đại đa số người Việt không hiểu rõ được bản chất của cuộc chiến 1945-1975 nói chung, và nhất là giai đoạn 1954-1975 nói riêng. Trong bài ‘Từ Ðiện Biên Phủ tới Geneva’ (Chính Ðạo, Cuộc thánh chiến chống Cộng [Houston, TX: Văn Hóa, 2004]) tôi đã trình bày tỉnh lược nhưng khá đầy đủ về biến cố đã khiến Việt Nam bị chia cắt thành hai chế độ đối nghịch nhau như nước với lửa, tức giai đoạn hai, cũng giai đoạn kinh hoàng nhất của cuộc ‘thánh chiến’ giữa hai phe Cộng Sản và Ki-tô giáo. Kết luận chính của tôi là (1) Cả hai phe Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] và Quốc Gia Việt Nam [QGVN] chỉ là những tác nhân phụ thuộc trong việc phân chia đất nước theo vĩ tuyến 17 (phe QGVN không được tham dự việc thảo luận và ký Hiệp ước; phe VNDCCH bị áp lực của cả ngũ cường để chấp nhận đình chiến và tập trung quân ở phía Bắc vĩ tuyến 17, với lời hứa hẹn là sẽ bàn thảo việc tổng tuyển cử hai năm sau, dự trù vào tháng 7/1956); và, (2) Ngô Ðình Diệm mới là người chịu trách nhiệm chính về việc chia đôi đất nước và dân tộc, khi thành lập chế độ tiền đồn chống Cộng Việt Nam Cộng Hòa [VNCH] dựa trên các cộng đồng Ki-tô Roma, và từ chối thảo luận vấn đề tổng tuyển cử dự định vào tháng 7/1956 (dù thực ra, ông Diệm cũng chỉ là một lá bài chống Cộng bản xứ của Liên bang Mỹ). Thiếu hiểu biết về, hay tảng lờ yếu tố quốc tế này-trong một thế giới luật kẻ mạnh-chẳng bao giờ có thể nhận hiểu được rõ ràng, minh bạch những chuyển biến chính trị và quân sự trong nội địa Việt Nam. Bởi thế mới nảy sinh ra những lập luận ngụy biện, kỳ quái của cơ quan tuyên truyền của chế độ Ngô Ðình Diệm, và tàn dư Cần Lao ở hải ngoại, như Hồ Chí Minh và Ðảng CS Việt Nam đã chia cắt đất nước và lòng người qua Hiệp định Geneva vào năm 1954 (sic).

Bài báo của Tú Gàn, với tham vọng ‘làm sáng tỏ’ Hiệp định Geneva, thực chất chẳng có một giá trị nào, nếu không phải là một thứ tội ác tinh thần, làm ung hoại tuổi trẻ, và một hành động mọi rợ văn hóa. Thay vì làm sáng tỏ thêm vấn đề, nó chỉ tạo nên sự hiểu lầm và hỗn loạn trong giới độc giả không thành thạo về lịch sử cận đại Việt, làm sâu dày thêm cảm nhận sai lầm về Hiệp định Geneva giữa Pháp và VNDCCH, một hiệp ước thành hình do sự dàn xếp và dưới sự chứng kiến của ngũ cường. Nếu chỉ vì dốt nát sử liệu, hẳn có thể khoan dung độ lượng cho những điều Tú Gàn đã viết. Nhưng ở đây, Tú Gàn không chỉ bộc lộ sự dốt nát, mà còn cố tình bịa đặt ra, hoặc lập lại như vẹt, những chi tiết về những điều khoản chính trị của Hiệp định (đã đạt được thỏa thuận từ ngày 19-20/7/1954). Những biên khảo nghiêm túc về hiệp định Geneva, như tác phẩm của Francois Joyaux và nhiều học giả khác trên thế giới, đã trình bày khá đầy đủ chi tiết về hiệp định này. Nếu muốn đóng góp thêm cho sự hiểu biết của chúng ta, cần nghiên cứu thêm tại các văn khố ở Việt Nam, văn khố Pháp, Trung Cộng, Nga, Bri-tên hay Mỹ, để tìm được những tư liệu mới hầu tu sửa những sai lầm cũ (nếu có). Nhưng Tú Gàn không có khả năng tri thức và nhất là không thể có phương tiện để nghiên cứu, tìm tòi thêm tài liệu mới. Khả năng duy nhất của Tú Gàn là cóp nhặt công bố của người khác, cộng với thứ kiến thức hời hợt, sai lầm do cơ quan tuyên truyền của VNCH ngụy tạo. Tham vọng làm sáng tỏ thêm Hiệp định Geneva của Tú Gàn bởi thế trở thành cuồng vọng, và một trò cười, khi đương sự chỉ dẫn ra được đôi ba chi tiết của Ruscio, một học giả Pháp, hay một tướng Pháp, xuất bản đã lâu, cùng bài báo trên tờ La Libération của Ðảng Cộng Sản Pháp (chắc chắn không thể chính xác như các nghiên cứu nghiêm túc của các sử gia và luật gia), hay đôi ba tài liệu tuyên truyền của Ðảng CSVN. (Cũng không thể không đặt câu hỏi thực chăng Tú Gàn đã đọc được những tác phẩm  trên, hay chỉ cóp của những người khác mà không chịu trưng dẫn xuất xứ. Cái thói quen gian xảo, trộm cắp công trình tim óc của người khác này đã thành tật trong tâm tưởng Tú Gàn. Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang đã phân tích khá tỉ mỉ thói quen cầm nhầm [theft hay larceny] của Tú Gàn trong cuốn Thực chất của Giáo hội La Mã, tập II).

Thành ngữ Việt Nam cùng những nước Á đông (kể cả Indonesia) có câu: ‘Không ai bới đống phân lên để mình là người đầu tiên chịu ngửi mùi thối.’ Ðó là lý do chính khiến tôi đã im lặng bấy lâu trước thái độ khiêu khích, tinh tinh của Tú Gàn và phe nhóm. Nhưng qua bài viết mới nhất về Hiệp định Geneva, Tú Gàn lại sử dụng luận điệu vu khống và mạ lỵ quen thuộc, khiến tôi nghĩ đã đến lúc minh xác cùng thân hữu và độc giả năm châu một số điểm như sau:

■ Thứ nhất, tôi muốn khẳng định, Tú Gàn chẳng biết gì về sử học, cũng chẳng có bao lăm kiến thức sử. Sự hiểu biết về lịch sử của Tú Gàn chỉ cỡ các học sinh trung học đệ nhất cấp. Những điều Tú Gàn gọi là ‘làm sáng tỏ’ Hiệp định Geneva thực ra chẳng có chút giá trị gì về sự liệu. Nó không hề đưa ra một tư liệu nguyên bản hay chính gốc nào, mà chỉ là sự cóp nhặt một cách sai lầm từ các tài liệu tầng hai hay tầng ba của các tác giả; hoặc do chưa hề tham khảo nguyên bản chính các tác phẩm trên, hoặc đọc không kỹ, hoặc đọc mà không hiểu, hay xuyên tạc những điều các nhà nghiên cứu đã viết.
Ðộc giả muốn rõ về hiệp định Geneva, xin tìm đọc bài ‘Từ Ðiện Biên Phủ tới Geneva’ của Chính Ðạo trong nghiên cứu Cuộc thánh chiến chống Cộng (sđd, 2004). Bài này cũng đã được phổ biến trên các tờ Người Việt ở Santa Clara và nguyệt san Ði Tới ở Canada.

■ Thứ hai, trong bài ‘Phiến Cộng trong Dinh Gia Long,’ trong tập Cuộc thánh chiến chống Cộng nói trên, tôi không hề nhắc đến tên Trần Ðộ và cũng không hề gọi anh ông Diệm-Nhu là ‘phiến Cộng’ chỉ vì ông Nhu đã tiếp Tướng ‘Trần Ðộ’ ngay tại Dinh Gia Long. Ðây là một sự bịa đặt (phịa sử) trắng trợn của Tú Gàn, tức Lữ Giang, tức Nguyễn Cần. Sự bịa đặt (phịa sử) này giúp tang chứng để khẳng định thêm nghề ‘chuyên viên phịa sử’ của Tú Gàn. Ðiều này cũng chứng tỏ Tú Gàn hoặc không đọc sách tôi, hoặc đọc mà chưa đủ sức hiểu, hoặc đọc mà cứ tảng lờ, viết nhăng viết cuội cho thỏa cái ác tâm ‘tinh tinh’ chữ nghĩa ở hải ngoại.

■ Thứ ba, Tú Gàn cho rằng tôi không phải là ‘sử gia.’ Ðiều này thì rõ ràng Tú Gàn đã vượt quá khả năng và giới hạn của đương sự. Sử gia [historian], theo định nghĩa của các nước văn minh, đã phát triển như nước Mỹ, là người từng được huấn luyện ngành sử học, tối thiểu phải tốt nghiệp bằng Tiến sĩ bộ môn Sử học, và tiếp tục dạy hay nghiên cứu chuyên nghiệp ngành này. Nó không phải là một học vị mà bất cứ ai cũng có thể vỗ ngực tự xưng, hay tâng bốc ca tụng một
người nào đó. Cái tôi đáng ghét, và với sự khiêm nhượng tối đa, tôi khẳng định Chính Ðạo Vũ Ngự Chiêu là một sử gia, với đầy đủ sự huấn luyện chuyên nghiệp, bằng cấp, tác phẩm bằng Anh và Việt ngữ, cùng những phần thưởng danh dự khác suốt hơn 20 năm qua (như Fulbright scholar 1982-1983, 1985-1986, 2004-2005, v.. v...) Nhận xét của Tú Gàn bởi thế là sự vu khống [libel] có ác tâm [malice]. Chỉ một điểm này thôi, theo dân luật Mỹ, đã mang tội phỉ báng [defamation] rồi, và Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Mỹ không áp dụng được. Tú Gàn dốt luật Mỹ, nhưng những luật gia ở Mỹ đều hiểu rõ.

■ Thứ tư, Tú Gàn đi xa hơn nữa là khuyên Nguyễn Hữu Thống đừng nên tham chiếu các nghiên cứu của Chính Ðạo Vũ Ngự Chiêu. Cũng chẳng sao. Bản thân Tú Gàn có lẽ đã theo đúng nguyên tắc này, nhất định không ‘tham chiếu’ nghiên cứu của Chính Ðạo. Nhưng Tú Gàn chỉ trộm cắp tài liệu của Chính Ðạo, in vào ‘sách’ đương sự, mà không trưng dẫn xuất xứ thôi. Xin đan cử vài thí dụ: Tú Gàn Lữ Giang lấy đâu ra chi tiết về việc Ngô Ðình Diệm từ chức vào tháng 7/1933? Lấy đâu ra chi tiết ‘văn thư’ [sic] của Grandjean ngày 26/3/1943 (Những bí ẩn lịch sử, tr. 413)? Lấy đâu ra chi tiết ngày 22/7/1946, Hồ Chí Minh viết thư cho Bộ trưởng hải ngoại Marius Moutet xin tiếp tục thương thuyết (sđd, 1999:301). Nhiều nữa, tôi không tiện nhắc ra đây. Và, chắc chắn các độc giả đã thấy rõ bản chất bịp bợm, dốt nát của Tú Gàn từ lâu. [Xin đính kèm một Phụ Bản về công trình trộm cắp và phịa sử của Tú Gàn-Lữ Giang đã được tóm lược trong tập Thực chất Giáo hội La Mã của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang để những người chưa biết rõ về Tú Gàn-Lữ Giang thẩm định].

■ Thứ năm, Tú Gàn đưa ra trường hợp Tri huyện Ngô Ðình Diệm bị tố cáo là dùng nến đốt hậu môn các nghi can Cộng Sản như một bằng chứng tiêu biểu là tôi xuyên tạc lịch sử. Một lời chỉ trích chẳng có vẻ gì chứng tỏ Tú Gàn từng thực sự học Luật. Tôi ghi trong tập III của bộ Việt Nam Niên Biểu, tức Nhân Vật Chí, như sau: ‘Có người cho rằng Diệm, khi làm tri phủ Hòa Ða, đã dùng đèn cầy [nến] thiêu đốt hậu môn tù nhân CS để lấy khẩu cung,’ và ghi thêm hai nguồn xuất xứ là Hoàng Trọng Miên và Bùi Nhung (dẫn chứng từ của Cựu nghị viên trưởng miền Trung là Nguyễn Trác). Vậy có gì là xuyên tạc lịch sử? Hai ‘người cho rằng Diệm, khi làm tri phủ Hòa Ða, đã dùng đèn cầy [nến] thiêu đốt hậu môn tù nhân CS để lấy khẩu cung’ là Hoàng Trọng Miên và Bùi Nhung. Vậy xuyên tạc hay phịa sử ở chỗ nào? Theo tôi, giá trị những điều hai tác giả trên viết đáng giá hơn, rất xa, chuyên viên phịa sử và trộm cắp tài liệu của người khác là Tú Gàn-Lữ Giang-Nguyễn Cần.
Trong bài ‘Jean Baptiste Ngô Ðình Diệm, 1897-1963’ trong Cuộc thánh chiến chống Cộng tôi còn ghi thêm nguồn xuất xứ khác là chứng từ trong cuốn Miền Nam giữ vững thành đồng (1964) của Trần Văn Giàu. Trong một phụ chú khác về chi tiết này, trong Các vua cuối nhà Nguyễn, tập III, để giải đáp thắc mắc của ông Huỳnh Văn Lang, tôi thêm rằng một người đã cho lệnh tấn công chùa chiền, bắt giữ tăng ni thì bất cứ việc ác nào cũng có thể làm. (Xem thêm ‘Mùa Phật đản đẫm máu’ trong Cuộc thánh chiến chống Cộng, với rất nhiều tư liệu văn khố mới giải mật). Dù tư liệu văn khố về Ngô Ðình Diệm chưa hoàn toàn giải mật, tôi tin rằng sẽ có dấu vết của những việc làm mà thượng cấp người Pháp ghi là ‘nghiêm khắc’ của ông Diệm, khiến Cộng Sản phải thuê cả một sát thủ người Hoa ra tận Phan Rang thanh toán, nhưng ông Diệm may mắn thoát chết. [Xem thư ngày 21/8/1944, Ngô Ðình Thục gửi Jean Decoux, do tôi phát hiện năm 1983, công bố trên nguyệt san Lên Ðường năm 1988; in lại trong Việt Nam Niên Biểu, I-A: 1939-1946. Tài liệu này đã bị Lê Trọng Văn và một cá nhân cùng một trường phái ‘ziết sử’ với Tú Gàn trộm cắp, tẩy xóa bút phê của Decoux và nhân viên văn khố, in vào ‘sách’ họ. Có người gửi thư rơi đi khắp nơi, vu cáo rằng lá thư trên do Cộng Sản bịa đặt ra. Thật là lố bịch. Tài liệu tôi công bố là thủ bút có chữ ký của Giám mục Thục, viết trên tín chỉ [letterheads] của giáo phận Vĩnh Long, có bút phê của Toàn quyền Decoux sau khi đọc xong, và dấu thị thực sao y bản chính của nhân viên văn khố Pháp tại Aix-en Provence. Chẳng lẽ hai ông Thục và Decoux đều là Cộng Sản, giả mạo ra lá thư trên? Trong khi đó một số người vừa dốt sử vừa đầy cảm tính chỉ nhắm mắt lại phán rằng thư này là tài liệu giả mạo, chẳng cần hoặc không biết đến việc sử dụng lý trí để phán đoán! Giám mục Ngô Ðình Thục và những tàn dư Cần Lao khi đưa ra lập luận trên, quên một điều: Muốn người ta không biết thì đừng làm những việc khuất tất. Lại có người cho rằng tôi có tư tâm hay ‘ghét’ họ Ngô nên mới công bố lá thư của Giám mục Thục. Thật là một thứ suy luận hồ đồ. Người nghiên cứu sử nào cũng có bổn phận phải công bố những tư liệu mới mình khám phá ra; đặc biệt là lá thư ngày 21/ 8/ 1944 của Ngô Ðình Thục là những lời chứng vô cùng quí báu về sự nghiệp phục vụ bảo hộ Pháp của họ Ngô đất Ðại Phong Lộc, Quảng Bình. Hơn nữa, đây không phải là tài liệu văn khố duy nhất tôi đã tìm ra và công bố trên thế giới. Thân hữu của tôi hẳn chưa quên tài liệu xin nhập học trường Thuộc Ðịa năm 1911 của Nguyễn Tất Thành cùng nhiều tư liệu khác về Ðảng CSÐD, hay những tư liệu về Petrus Key, các đảng phái và tác nhân Việt Nam trong thời cận và hiện đại.]
Tóm lại, Tú Gàn, vốn tính gian xảo, ưa trộm cắp công trình tim óc người khác, không nói thành có, lại thích ‘bí ẩn’ rông càn (kiểu cha cụ Phan Bội Châu phải đổi tên cụ vì sợ phạm húy vua Duy Tân, người lên ngôi năm 1907, tức nhiều năm sau ngày thân phụ cụ Châu từ trần, và hàng chục năm sau ngày cụ Châu đỗ giải nguyên), nên mới thích chụp mũ cho người khác là ‘phịa sử’ như tay nghề của chính đương sự, theo đúng nguyên tắc ‘vừa đánh trống vừa ăn cướp.’

■ Thứ sáu, Tú Gàn còn dọa là sẽ ‘viết sách’ để đối chất với tôi về gia đình Ngô Ðình Diệm - Một lời đại ngôn của những kẻ không thấy được sự khác biệt giữa bóng mình và bàn chân đế. Là chuyên viên trộm cắp công trình tim óc của các nhà khảo cứu chuyên nghiệp (nhất là các tư liệu văn khố do tôi tìm ra), pha thêm tay nghề phịa sử, bẻ cong sự thực lịch sừ để trám đầy những khoảng trống của các tờ báo phát không tại chợ búa, việc duy nhất mà Tú Gàn có thể làm là chửi bới bừa bãi, một thứ nghề tay trái của một cá nhân đã mất hết sự lương thiện trí thức và lương tâm. Những trang giấy in đầy chữ nghĩa tinh tinh nằm giữa hai bìa sách ký tên Tú Gàn hay Lữ Giang, hay Nguyễn Cần, hoặc bất cứ một bút hiệu nào khác, chẳng bao giờ xứng đáng gọi là ‘sách’ hay ‘văn chương’ theo ý nghĩa cao đẹp của nó. Hơn nữa, Tú Gàn và những tên đạo văn ở hải ngoại quên một điều: Những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp chúng tôi tuy lương thiện, nhưng có những kỹ thuật để bảo vệ tính chất nguyên bản của các tư liệu mà chúng tôi đã công bố. Bởi vậy, những tay trộm cắp tài liệu như Tú Gàn hay Lê Trọng Văn mới bị độc giả và các nhà nghiên cứu khác vạch mặt, chỉ tên những chỗ trộm cắp, rồi nhắm mắt lại mà phịa sử và lăng mạ, vu khống người khác. Tôi sẵn sàng chờ đợi một công trình trộm cắp mới của Tú Gàn (chắc là để bào chữa cho những đoạn cung văn đầy sai lầm về gia đình họ Ngô trong cuốn Những bí ẩn).

■ Thứ bảy, Tú Gàn tức Lữ Giang Nguyễn Cần giảo hoạt chụp mũ cho tôi là ‘chống lại’ hay ‘nói xấu’ Ki-tô giáo. Loại chụp mũ này rất nguy hiểm, nguy hiểm còn hơn cả cái mũ ‘Cộng Sản’ hay ‘Phiến Cộng’ dưới triều đại giáo phiệt họ Ngô. Họ Ngô chỉ chống Cộng được khoảng 9 năm, rồi bắt tay với Cộng Sản khi người Mỹ muốn thay ngựa [shift the horses], trong một màn bi hài kịch mà Cố vấn An Ninh Quốc Gia Mỹ McGeorge Bundy từng chua chát gọi là ‘cơn điên rồ tập thể của một gia đình cai trị chưa từng thấy từ thời các Nga hoàng.’ Nhưng Ki-tô giáo là một tôn giáo đã có khoảng 2,000 năm hiện hữu, và gần 1,700 năm tổ chức thành vương quốc thần linh [organized church]. Trong thời gian còn thống trị Âu châu, giáo hội Ki-tô Roma và Avignon đã thi hành những biện pháp cực kỳ sắt máu để trừng phạt và tiêu diệt đối thủ, và gán ép cho nạn nhân của giáo hội những tội danh như rối đạo, hay chống lại giáo hội. Người bị đốt cháy, người bị bỏ tù; cho đến lúc chết còn bị đóng thập tự giá vào trái tim vì bị kết tội là ‘ma-cà rồng.’ Trong khi các cường quốc thực dân Âu châu đi chinh phục thế giới, Giáo hoàng Ki-tô từng ra những ‘thánh dụ’ cho phép những kẻ xâm lược chiếm đóng, cướp làm vật sở hữu mọi tài sản và cá nhân hay bộ lạc không chịu theo đạo Ki-tô. (Xem Nguyên Vũ, Ngàn Năm Soi Mặt, tâm bút 2002). Những tội ác chiến tranh và diệt chủng này trúc rừng không đủ ghi chép. Bởi thế, mới nẩy sinh ra những phong trào chống đối, từ Tin lành giáo, tới thuyết Duy vật, chủ thuyết Cộng Hòa, và rồi Cộng Sản. Gán ghép cho tôi cái mũ chống hay nói xấu Ki-tô giáo, Tú Gàn muốn gì đây? Phải chăng đây là một mưu đồ hiểm độc: Một mặt để kiếm điểm những giáo sĩ và giáo dân nhẹ dạ; mặt khác tạo nên những hiềm khích, nghi kỵ giữa các tín đồ các tôn giáo khác nhau? Hay, chỉ là những phản ứng hẳn có, vẫy vùng, rẫy rụa, chửi bới lung tung khi bị kéo ra khỏi những vách hầm tối tăm, lạnh lẽo của sự ngu dốt sâu dày bấy lâu; và bản chất gian ngoan, lừa bịp?
Thực ra, với tôi, mọi thứ trên đời này chỉ là giả trá, tạm bợ. Nhiều hơn một lần, tôi đã khẳng định, ‘danh chỉ là khách của thực.’ Là một người học sử và học Luật, với tôi sự thực lịch sử chỉ là sự thực lịch sử; và, người học sử có bổn phận phải ghi chép hết những sự thực ấy cho hậu thế suy gẫm, học hỏi. Là một người nghiên cứu sử chuyên nghiệp, tôi không có quyền bẻ cong ngòi bút, dấu diếm những việc làm khuất tất của các tác nhân lịch sử. Tôi chủ trương không thể đồng hóa những tác nhân lịch sử trên với bất cứ một tôn giáo nào; vì tôn giáo không chỉ đơn thuần gồm một thiểu số giáo sĩ hay giáo dân tham vọng, quá khích. Chỉ có những người mới đẻ ngày hôm qua mới đồng hóa những cá nhân tham vọng bán buôn tôn giáo cho quyền lợi gia đình và cá nhân với tôn giáo này hay tôn giáo khác. Sau hơn ba thập niên nghiên cứu, tôi đi đến kết luận rằng đại đa số giáo dân Ki-tô Việt chỉ là nạn nhân của những tham vọng quyền lực của các nhà truyền giáo cùng các thành phần trung gian bản xứ như Petrus Key, Nguyễn Hữu Bài, Trần Lục cùng cha con họ Ngô, v.. v... Tóm lại, viết sự thực về vai trò của một số giáo sĩ Ki-tô trong cuộc Pháp xâm lăng và chiếm đóng Ðại Nam không có nghĩa ‘nói xấu’ hay ‘xuyên tạc’ Ki-tô giáo; mà chỉ muốn giúp các bậc trí giả theo đạo trên suy nghiệm lại cái gọi là ‘mang đến hồng ân.’ Nói hết sự thực về thành phần trung gian bản xứ như Petrus Key, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Ðình Khả hay anh em họ Ngô không thể là nói xấu hay xuyên tạc Ki-tô giáo; mà chỉ muốn đại đa số giáo dân Ki-tô suy gẫm lại những việc làm và hậu quả của các tác nhân lịch sử trên.

Loại lý luận qui nạp rằng công bố sự thực sử học về họ Ngô là chống Ki-tô giáo, theo tôi, không những chỉ ngây ngô, nông cạn mà còn đầy bệnh hoạn kiểu Trung cổ. Ðáng buồn và đáng ái ngại là Tú Gàn, một cá nhân tôi chưa từng biết mặt, lại chỉ biết và sống với loại lý luận kiểu ‘rẻ rách sinh con chuột’ trên. Và, dĩ nhiên, bài viết của Tú Gàn chẳng làm sáng tỏ được gì hơn chính sự dốt nát, thói xấu trộm cắp tài liệu công trình tim óc của các học giả, và tội ác bịa đặt lịch sử hay ‘phịa sử.’ Nhưng cũng có thể Tú Gàn không ngây ngô và nông cạn, mà hành động đầy ác tâm. Ðó là chủ mưu gây nên tình trạng chụp mũ, vu cáo, khích động nhằm khoét sâu vào sự khác biệt giữa các cá nhân và tổ chức, phe phái, tôn giáo người Việt hải ngoại, gây hoài nghi về mọi người mọi việc. Kỹ sư Bùi Bỉnh Bân, cựu Chủ tịch cộng đồng Santa Ana, đã từng là nạn nhân của âm mưu khích động, nhằm khoét sâu sự nghi kỵ trong nội bộ cộng đồng này. Cá nhân tôi chỉ là một trong những nạn nhân khác. Tôi hy vọng các thân hữu, các bạn trẻ và độc giả của tôi hãy bước ra khỏi thế thụ động, bình chân như vại, có những hành động thích nghi với loại người như Tú Gàn.

Trân trọng





LẠI CHUYỆN 50 NĂM TRƯỚC

Trần Chung Ngọc

   Tôi mới đọc bài “Từ Kennedy Đến Ngô Đình Diệm: Một Huyền Thoại Phải Dẹp Bỏ “ của Hoàng Nam Giao trên  http://sachhiem.net/THOISU_CT/ChuH/HoangNamGiao.php.  Và từ đó tìm đọc hai bài của Đinh Từ Thức với đầu đề: “50 năm sau biến cố 1 tháng 11, 1963: xét lại nguyên nhân và hậu quả”. Bài được đăng trên Kho lưu trử của “Tạp chí Da Màu”:
   Thứ nhất, luận cứ  “Vì ông Diệm chống Mỹ đem quân vào Việt Nam nên Mỹ trừ khử ông Diệm để có thể mang quân vào Việt Nam” không phải là một “huyền thoại”.  Đó chỉ là một lý luận rất ấu trĩ bất chấp sự thật của đám người Ca-tô đưa ra để đánh bóng cá nhân ông Ngô Đình Diệm, một lý luận thuộc loại “ông Diệm là chí sĩ, bao năm lê gót nơi quê người, tìm đường cứu nước, nhân dân Việt Nam [cả Bắc lẫn Nam] nhớ ơn Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm v…v… ” mà ngày nay đã trở thành “Nhân dân Cần Lao nhớ ơn Ngô Tổng Thống; Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống chín năm”, tuy rằng ông Diệm thuộc một gia đình Tam Đại Việt Gian, đã từng làm quan cho Pháp, trong thời gian toàn dân kháng chiến chống Pháp thì lê gót trong vài nhà Dòng Ca-tô ở ngoại quốc, một loại tung hô đại loại cũng giống như những lời ca tụng  “Linh mục Trần Lục là vĩ nhân của cả thế giới” v…v… và v…v…  Thử hỏi, ngoài đám tín đồ Ca-tô đưa ra lý luận như vậy, ai có thể tin được những điều này.
    Thứ nhì, nguyên nhân cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 không phải là do sự tìm hiểu “quan điểm của từng người” như TT Kennedy, Arewell Harriman, George Ball, Roger Hilsman, Michael Forrestal như ông Đinh Từ Thức viết.  Nguyên nhân chính là chính sách cai trị miền Nam của Ngô Đình Diệm và gia đình.   Cuộc đảo chánh không có “thủ phạm”, từ của ông Đinh Từ Thức dùng để chỉ Tổng thống Kennedy là “chính phạm”.  Lý do là, lật đổ chế độ Diệm và giết hai anh em ông Diệm không phải là một tội ác, vì đó là một biến cố chính trị xã hội, một sự thay đổi hợp với lòng dân, dù nhiều người không muốn ông Diệm bị giết, chỉ muốn ông ta ra đi, trở lại mấy nhà Dòng ở ngoại quốc, nên không làm gì có thủ phạm.  Tôi sẽ chứng minh trong một phần sau. 
   Hoàng Nam Giao đã nhận định khá đúng như sau:
  •    Trước hết, và nỗi cộm hơn cả, là tinh thần cai trị quốc gia phi dân tộc và phản dân chủ của anh em gia đình ông Diệm. Đó phải là nguyên nhân chính. Các nguyên nhân khác như áp lực của đồng minh Mỹ, phá hoại của đối thủ Cọng sản, chống đối của các lực lượng quốc gia khác, hay uất ức của quân đội khiến họ đã hai lần phản ứng bằng võ lực… chỉ là những nguyên nhân to hay nhỏ, vần vũ chung quanh một nguyên nhân trục: Trong khung cảnh hoàng hôn của phong trào giải thực và dưới gọng kềm của cuộc chiến tranh lạnh, miền Nam Việt Nam đã bất hạnh bị cai trị bởi một gia đình có bản chất phong kiến độc tài nặng tính Ky tô giáo Trung cổ. Đó là một nguyên nhân văn hóa, nên có nhiều khả thể đúng là nguyên nhân chính.
   Để khai triển nhận định của Hoàng Nam Giao, sau đây là một số sự kiện điển hình về chế độ Ngô Đình Diệm:
·         1).  Ngô Đình Diệm là người vô tài, vô đức, nhu nhược, được Hồng Y Spellman, với sự phụ giúp của ngoại trưởng John Foster Dulles cùng một vài chính khách Ca-tô Mỹ khác, theo lệnh của Vatican, vận động với Mỹ đưa Diệm về cầm quyền ở Nam Việt Nam, vì Diệm thuộc loại người Ca-tô cuồng tín tàn bạo Tây Ban Nha trong thời Trung Cổ, chống Cộng điên cuồng nên đương nhiên có thể tin cậy để chống Cộng cho Mỹ và cho Vatican.  [Xin đọc: “Vài Nét Về Cụ Diệm”: http://giaodiemonline.com/2011/10/diem.htm.] Stanley Karnow, viết trong cuốn Vietnam: A History, Chương 6: Viên Quan lại của Mỹ (American’s Mandarin):  Tháng 6, 1954, khi Diệm trở lại Việt Nam như là Thủ Tướng, ở phi trường Saigon chỉ có một nhúm người hồ hởi ra đón, hầu hết cũng là tín đồ Ca-tô như ông ta.  Tuy rằng ông ta là một người cựu quốc gia, hầu như ông ta là một khuôn mặt chẳng ai biết đến [In June 1954, when Diem returned to Vietnam as prime minister, he was met at the Saigon airport by only a handful of enthusiasts, most of them Catholics like himself.  Though a veteran nationalist, he was a virtually unknown figure.]
    Tin rằng có hai thế lực Ca-tô đứng sau, Vatican và Tổng Thống Kennedy cùng Ngoại trưởng Dulles đều là người Ca-tô, Ngô Đình Diệm đã để lộ bản chất cuồng tín và tàn bạo của một Phán quan Ca-tô Tây Ban Nha của mình, như lời ông ta tự nhận, ngay từ đầu qua quốc sách “tố Cộng”, bất chấp Hiệp Định Geneva có khoản ngăn cấm, trả thù giết hại những người theo kháng chiến, và với sự thao túng của người anh, Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, của các thuộc hạ cùng các linh mục địa phương và người em Ngô Đình Cẩn ở Huế,  số nạn nhân bị giết, hầu hết là vô tội, đi theo kháng chiến không phải là một tội mà là một công đối với quốc gia, qua chính sách tố Cộng, lên tới 300000, hoặc để cưỡng ép cải đạo, hoặc để cướp tài sản.
  • 2).   Chế độ Ngô Đình Diệm là một chế độ bạo ngược, chuyên chế, không có sự hậu thuẫn của quần chúng.  Đó là một chế độ mà hầu hết những người nắm quyền hành chánh, quân sự, kể cả trong Quốc Hội,  là những gia nô vô liêm sỉ.  Chúng ta không nên quên là ông Diệm đã bị ám sát hụt tại Ban Mê Thuột ngay từ năm 1957, ngày 21 tháng 5.  Rồi đến cuộc đảo chánh thất bại của lực lượng nhảy dù ngày 11 tháng 11, 1960, vụ dội bom dinh độc lập của 2 sĩ quan VNCH ngày 27 tháng 2, 1962.  Và sự kiện là, trong cuộc tranh đấu Phật Giáo 1963, không phải chỉ có Phật tử mới tham gia tranh đấu mà gồm đủ mọi thành phần dân tộc, từ các em học sinh trung học đến các sinh viên đại học, giáo sư đại học, các giới sĩ, nông, công, thương, kể cả những người Ca-tô tiến bộ gồm một số linh mục và tín đồ Ca-tô giáo.  Tất cả những sự kiện trên đã chứng tỏ lòng quân dân ở miền Nam đối với ông Diệm là như thế nào.
  • 3).   Chính cái chất Ca-tô cuồng tín, tổng hợp của ngu dốt, kiêu căng, huênh hoang, hợm hĩnh [theo định nghĩa của giáo sư Nguyễn Mạnh Quang] của Diệm đã làm hại Diệm.  Sách lược Ca-tô hóa miền Nam bằng thủ đoạn tiêu  diệt các giáo phái khác, cưỡng ép cải đạo của Diệm trong một nước mà Ca-tô giáo chỉ chiếm có 7%, đa số là những tín đồ ngu muội thấp kém cuồng tín,  là một sách lược ngu xuẩn, đi ngược lại tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên của dân tộc, đã đưa đến sự oán ghét của tuyệt đại đa số quân dân miền Nam.  Sách lược này đã ghi thêm một chương ô nhục vào lịch sử giáo hội Ca-tô Việt Nam, một giáo hội vốn đã nổi tiếng là: “Hễ đã  phi dân tộc thì thể nào cũng phản bội dân tộc.” Và chúng ta có thể nói, với các sự kiện nêu trên, Ngô Đình Diệm đã tự tay đào huyệt chôn mình, và chôn theo cả hai người em.  Do đó, không có ngày 1.11.1963 thì trước sau gì cũng có ngày 1.11 khác.
     Chúng ta mất công bàn cãi về một biến cố nhỏ trong toàn bộ cuộc chiến tranh hậu Geneva ở Việt Nam: Quân đội đảo chính chế độ Ngô Đình Diệm ngày 1.11.1963, với nhiều tranh cãi thế lực nào, Mỹ hay các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa, đã chủ trương đảo chánh để thay thế ông Diệm.  Vấn đề đối với tôi khá đơn giản, và có thể tóm tắt trong vài sự kiện.
   Ngô Đình Diệm được Vatican (Hồng Y Spellman và một số Linh mục ở Mỹ) và Ca-tô Mỹ (Tổng thống Kennedy, Ngoại trưởng Dulles v..v…) đưa về, dựng lên chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam, không thi hành khoản Tổng Tuyển Cử qui định vào năm 1956 trong Hiệp Định Geneva.  Đây là một sự kiện. Cấm cãi.  Tôi đã chứng minh với nhiều tài liệu trong bài “Vài Nét Về Cụ Diệm”: http://giaodiemonline.com/2011/10/diem.htm .
   Tổng Thống Kennedy cũng như  Thượng Nghị Sĩ Fulbright không ngần ngại nói thẳng ra ra là Diệm và VNCH là con đẻ của Mỹ: Kennedy: Ông ta là đứa con đẻ của chúng ta (He is our offspring); Fulbright: Chúng ta là “Mẹ bề trên”, là “Cha nghe xưng tội và hướng dẫn” của Diệm (We are his “superior mother”, his “father confessor”).  Chúng ta hãy đọc một đoạn trong cuốn The Vietnam Wars: 1945-1990 của Marilyn B. Young, p. 58: 
   “Mỹ đã tạo nên Nam Việt Nam và người lãnh đạo (Ngô Đình Diệm); Thượng nghị sĩ Kennedy nói vào năm 1956, “Đây là đứa con đẻ của chúng ta, và nếu nó rơi vào vòng nạn nhân của bất cứ sự hiểm nghèo nào đe dọa sự hiện hữu của nó – Cộng sản, chính trị vô chính phủ, sự nghèo khó v..v… - thì Mỹ sẽ chịu trách nhiệm; và uy tín của chúng ta ở Á Châu sẽ chìm xuống thấp hơn.” 
    Nhưng thật ra thì, cái mà Mỹ đã hết sức dặn ra [như dặn đẻ, labored] không phải là một quốc gia dân chủ, độc lập mới mà là một gia đình cai trị độc tài được giữ tại vị bởi một quyền lực ngoại quốc.”
   [The United States had created South Vietnam and its leader; “This is our offspring”, Senator Kennedy said in 1956, “and if it falls victim to any of the peril that threaten its existence – Communism, political anarchy, poverty and the rest – then the United States, with some justification, will be held responsible; and our prestige in Asia will sink to a new low.” 
    But, in fact, what the United States had labored mightily to produce was not a democratic, independent new nation-state but an autocratic ruling family held in place by foreign power.]

   Trong cuốn America’s Longest War 1950-1975 của George C. Herring,   John Wiley & Sons, New York, 1979, có cả một Chương, Chương II,  với đầu đề: Đứa Con Đẻ Của Chúng Ta: Sự Dựng Lên Một Quốc Gia ở Nam Việt Nam, 1954-1961 (Our Offspring: Nation-Building in South Vietnam, 1954-1961).  Tác giả trích dẫn lời phát biểu của Thượng Nghị Sĩ Kennedy, trang 43: “Đó là đứa con đẻ của chúng ta, chúng ta không thể bỏ nó, chúng ta không thể không để ý đến nhũng nhu cầu của nó” (It is our offspring, we cannot abandon it, we cannot ignore its needs). 
   Và trong cuốn Cuộc Chiến Bất Tận: Cuộc Đấu Thanh Của Việt Nam Để Giành Độc Lập (The Endless War: Vietnam.s Struggle For Independence, Columbia University Press, New York, 1989) Giáo Sư James P. Harisson viết, trang 210:

        Dù sao thì, vị Tổng Thống tương lai Kennedy có thể phát biểu rất đúng trong ngày 1 tháng 6, 1956: “Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của đứa nhỏ Nam Việt Nam, thì chắc chắn chúng ta là cha đỡ đầu của nó.  Chúng ta chủ tọa khi khai sinh ra nó, chúng ta giúp đỡ để cho nó sống, chúng ta đã giúp để tạo thành tương lai của nó.”  Rồi ngay trong ngày ông ta bị ám sát chết, 23 tháng 11, 1963,  Kennedy lại nói thêm: “Không có Mỹ thì chỉ qua đêm là Nam Việt Nam sụp đổ”. 
   [In any case, future President John F. Kennedy could justly state on June 1, 1956: “If we are not the parents of little Vietnam, then surely we are the godparents.  We presided at its birth, we gave assistance to its life, we have helped to shape its future.”  Then on the very day of his own death, November 23, 1963, Kennedy went further to state, ‘Without the United States, South Vietnam would collapse overnight.]

     Nhưng trên thực tế, Mỹ đã đẻ ra một đứa con đầu óc bất bình thường, bị mê hoặc bởi những sự hoang đường của một tổ chức buôn thần bán thánh mà ngày nay thế giới đã coi như là một “tổ chức tội phạm quốc tế” là Ca-tô Rô-ma Giáo và trở thành cuồng tín, tự nhận là một phán quan Tây Ban Nha (Spanish Inquisitor), nghĩa là một người không ngại tàn nhẫn tra tấn rồi mang đi thiêu sống những người không chịu chấp nhận đức tin Ca-tô giáo. Cho nên, khi thấy đứa con đẻ ra không thể trưởng thành theo ý muốn của Mỹ, đi sai đường lối chống Cộng và ý muốn của Mỹ, hơn nữa lại toan tính đi đêm với Cộng sản, Mỹ thấy hết hi vọng đạt được mục đích nếu còn giữ Diệm cho nên Mỹ không còn cách nào khác là phải thay ngựa giữa dòng, phải để cho các tướng tá dưới quyền đứa con này bóp mũi cho nó chết yểu chỉ sau có 9 năm. Đó thường là số phận của những tay sai vô trí, phục vụ cho quyền lợi của ngoại bang.  Vấn đề chỉ đơn giản có thế, còn thắc mắc bàn cãi về chuyện thế lực nào chủ động cuộc đảo chánh và giết Diệm, Mỹ hay Việt, là không thích hợp “irrelevant”. 
    Nhưng, để tìm hiểu thêm về cuộc đảo chính, điều mà nhiều người thắc mắc tranh cãi là thế lực nào là thế lực chủ động trong cuộc đảo chính 1.11.1963? Mỹ hay Việt?  Để trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy phân tích bài của Đinh Từ Thức.

   Vài nhận định về bài của Đinh Từ Thức.
   Theo Hoàng Nam Giao thì Đinh Từ Thức là một tín đồ Ca-tô.  Theo nguyên tắc thì chúng ta đọc bài viết chứ không quan tâm đến gốc gác tôn giáo của tác giả.  Nhưng đối với các tín đồ Ca-tô thì khác.  Vì như chúng ta thường biết, cứ là một nhân vật Ca-tô thì bao giờ người Ca-tô viết cũng tìm cách khen hay đánh bóng nhân vật đó.  Và muốn như vậy thì phải xuyên tạc bóp méo lịch sử.  Đọc bài của Đinh Từ Thức tôi thấy ông ta không mấy lương thiện, không hiểu ông ta thiếu trình độ hay cố ý xuyên tạc lịch sử và cố ý dùng sai nhiều từ để nói rất tiêu cực về Tổng Thống Kennedy và Mỹ.  Thật vậy, Đinh Từ Thức viết: “Tổng Thống John Kennedy đã nhận mình là “chính phạm”, và khai rõ những ai là “tòng phạm” là viết láo, viết bậy.  Trong Phần 2, Đinh Từ Thức lại viết: “Lời khai” của Tổng Thống Kennedy … Tôi tự hỏi, Tổng Thống Mỹ khai với ai trong một cuộc họp với vài nhân viên cao cấp trong chính quyền.  Hay “khai” với Đinh Từ Thức?  Trong cuộc họp, Tổng Thống Kennedy chỉ nói lên ý nghĩ của mình (personal reflection) về vụ đảo chánh lật đổ và ám sát ông Diệm, về sự chia rẽ giữa những nhân viên cao cấp trong bộ tham mưu, chứ có chỗ nào ông ta “tự khai” (sic) là “chính phạm” và chính phạm về tội ác nào.  Dùng những từ như vậy, Đinh Từ Thức đã làm cho bài viết của mình không còn mấy giá trị, nếu có một giá trị nào đó.  Và không phải chỉ có vậy, chúng ta sẽ xét đến vài đoạn của Đinh Từ Thức trong phần sau đây.
   Đinh Từ Thức viết:
    Thời gian ngay sau cuộc đảo chánh 1-11, 1963, và có trường hợp cả hàng chục năm sau, vẫn có người cố chứng minh vai trò phụ thuộc của Hoa Kỳ trong biến cố này. Ví dụ, trong cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của ông Đỗ Mậu xuất bản năm 1986, tác giả đã trích lời Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy viết vào năm 1979 rằng: “Việc lật đổ và sát hại (anh em ông Diệm) xẩy ra là chỉ do một số tướng lãnh Việt Nam. Người Mỹ đã không thúc đẩy họ đảo chánh, người Mỹ chỉ không ngăn chận họ mà thôi”.  Riêng ông Đỗ Mậu viết “…rõ ràng cuộc cách mạng ngày 1-11-1963 hoàn toàn do quân dân Việt Nam lúc bấy giờ thực hiện, và người Mỹ, đứng trước những khó khăn phức tạp của tình hình đã phải thụ động dựa vào đó để giải quyết những khó khăn của họ. Vậy thì chính quân đội Việt Nam đã ‘bật đèn xanh’ cho Mỹ chứ đâu phải Mỹ ‘bật đèn xanh’ cho quân đội Việt Nam.…” Nhưng càng lâu, qua những chứng liệu được giải mật, chẳng còn ai nói năng như thế nữa. Mỹ đóng vai chủ động trong cuộc đảo chánh là điều không còn ai chối cãi, kể cả tổng thống Mỹ John Kennedy.
   Đoạn văn trên hàm ý là những gì ông Đỗ Mậu trích của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và của chính ông Đỗ Mậu là sai, vì “chẳng còn ai nói năng như thế nữa” và chính Mỹ,  kể cả tổng thống John Kennedy đã đóng vai chủ động trong cuộc đảo chánh.  Nhưng thật ra thì nhận định của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và ông Đỗ Mậu không hề sai, và Mỹ hay Tổng thống Kennedy không hề đóng vai chủ động trong âm mưu đảo chính, mà chỉ là trước tình thế về quân sự và chính trị ở Nam Việt Nam, không còn cách nào khác là phải ủng hộ cuộc đảo chánh của các tướng lãnh, nhưng vẫn đứng ở vị thế có thể phủ nhận trách nhiệm nếu cuộc đảo chánh không thành công.  Nhiều tài liệu đã chứng tỏ như vậy.  Chứng minh?

  Mỹ hay Việt chủ động đảo chánh ?
   Trước hết, vấn đề chỉ là như thế này: 

   Nếu Mỹ chủ động muốn thay ông Diệm nhưng các tướng lãnh không OK thì Mỹ cũng chẳng làm gì được, trừ phi Mỹ sai sát thủ đến ám sát ông Diệm.  Điều này rất khả thi nếu Mỹ muốn, vì Mỹ đã từng làm ở nhiều nơi, xét theo chính sách đối ngoại của Mỹ trên thế giới [Xin đọc William Blum].  Nhưng thực tế là, TT Kennedy cũng như bộ tham mưu của ông ta, không ai muốn giết chết đứa con đẻ (offspring) của mình dựng lên ở miền Nam, chỉ muốn ông Diệm thay đổi chính sách, mở rộng nội các, mở mang chế độ để cho người dân thêm tự do, dân chủ, nhân quyền và tránh kỳ thị tôn giáo.  Ông Diệm đã từ chối vì làm như vậy, ông ta nói: “là giúp cho cộng sản và tay sai lợi dụng” và tiếp tục duy trì chính sách độc tài, gia đình trị của ông ta.  

   Mặt khác, các tướng lãnh muốn đảo chánh vì không còn chịu đựng nổi chính sách gia đình trị và Ca-tô trị của Diệm, lòng mong muốn này rất hợp với lòng quân dân miền Nam, nhưng nếu Mỹ không OK thì họ cũng chẳng làm gì được. Chỉ cần nhìn vài hình ảnh người dân mang thức ăn thức uống đến cho các quân nhân đảo chính, mang vòng hoa choàng qua cổ Tướng Trần Văn Đôn ngày 4.11.63, 6 xe vận tải nhà binh chở sinh viên mới được cứu ra khỏi nhà tù của Ngô Đình Diệm, một rừng người với những khuôn mặt hân hoan vui mừng của đám đông dân chúng mang biểu ngữ “Hoan hô Hội Đồng Tướng Lãnh” trên khắp nẻo đường phố, và phá đổ tượng hai mẹ con bà Nhu thì biết là cuộc cách mạng 1.11.63 đã đáp ứng được lòng mong muốn của người dân đối với chế độ Ngô Đình như thế nào. 

  
Rừng người hoan hô Tướng Đôn và choàng vòng hoa trên cổ.
    

  Dân chúng biểu tình ngày 3.11.63 hoan hô quân cách mạng 

Những người Ca-tô ngày nay còn đưa ra những luận điệu chửi bới quân nhân làm cách mạng thực ra chỉ là để lộ bản chất phi dân tộc, đi ngược lại ý muốn của người dân miền Nam, có lẽ vì họ đã thất bại trong âm mưu mang nước trời của họ áp đặt lên người dân Việt Nam.  Ngoài ra, có những kẻ đầu tôm, cực kỳ vô liêm sỉ, còn mở chiến dịch đổ tội cho Phật Giáo theo lệnh Mỹ, mang chuông mõ đi lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, với hậu quả là mất miền Nam của họ, bất chấp cả ngàn tài liệu hiện hữu đã chứng minh ngược lại.  Nhưng miền Nam nào là của họ, đó là miền đất chung của người Việt Nam chứ không phải là của Mỹ ban cho họ.  Ngày 30.4.75 chỉ là thay đổi chủ ở miền Nam chứ miền Nam chẳng mất đi đâu.  Những người hoài Ngô hay chống Cộng cực đoan có biết được điều này không.

   Đảo Chánh là chuyện của Việt Nam.

    Điều rõ ràng là các tướng lãnh đã chủ động đảo chánh và đã từng tiếp cận với CIA Lucien Conein, ngỏ ý này từ tháng 7.1963, và thăm dò thái độ của Mỹ.  Tướng Trần Văn Đôn đã nói với Đại sứ Lodge đó là chuyện của Việt Nam (Vietnam affair) và chỉ muốn biết chắc là Mỹ không phản bội các tướng lãnh nếu có cuộc đảo chính.  Sau vụ Ngô Đình Nhu dùng lực lượng đặc biệt, do Mỹ trả lương và huấn luyện, để tấn công các chùa chiền, bắt bớ hơn 1400 Tăng Ni, nhiều vị đánh đập, và sát hại một số vào ngày 21 tháng 8, 1963, thì tướng lãnh lại tiếp cận ngay với CIA và muốn biết thái độ của Mỹ về cuộc đảo chánh. [Within days of the raids, South Vietnamese military officers were approaching Americans to inquire as to what the U.S. response might be to a military coup in Saigon.]  Tòa đại sứ  Mỹ đánh điện về Mỹ hỏi ý kiến. Điện tới Bộ Ngoại Giao vào chiều Thứ Bảy, đã được ba giới chức cao cấp có mặt,  Averell Harriman, Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách Đông Nam Á, Roger Hilsman, Phụ Tá Ngoại Trưởng đặc trách Đông Nam Á, và Michael Forrestal nhân viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia tại Nhà Trắng, đọc và tự tiện thảo bức điện tín  gửi đại sứ Lodge ngày 24 tháng 8, 1963, trong khi Tổng thống Kennedy, Bộ trưởng ngoại giao Dean Rusk, Bộ trưởng quốc phòng Robert S. McNamara, và giám đốc CIA John McCone đều vắng mặt trong dịp cuối tuần.  Trong điện tín có câu: “Chúng ta mong muốn để cho Diệm cơ hội hợp lý để loại Nhu ra ngoài, nhưng nếu ông ta vẫn cứ ngoan cố, thì chúng ta chuẩn bị chấp nhận điều hiển nhiên là không còn có thể ủng hộ Diệm được nữa”  (We wish give Diem reasonable opportunity to remove Nhu, but if  he remains obdurate, then we are prepared to accept the obvious implication that we can no longer support Diem).  Nhiều người cho rằng câu trên đã bật “đèn xanh” cho các tướng lãnh làm đảo chánh.  Nhưng thực ra đó chỉ là một dự kiến cho một trường hợp trong tương lai.  Không còn ủng hộ ông Diệm có thể dưới nhiều hình thức, kể cả cắt viện trợ và rút quân, như đề nghị của Kattenburg, không nhất thiết phải là đảo chính.  Câu cuối cùng trong bức điện tín ngày 24.8 như sau:  “Không cần phải nói là chúng tôi chỉ cho một số tối thiểu những người chủ yếu biết đến điện tín này và chúng tôi cho rằng ông (Lodge) cũng sẽ có những thận trọng tương tự để ngăn ngừa sự lộ ra ngoài sớm” (Needless to say we have held knowledge of this telegram to minimum essential people and assume you will take similar precautions to prevent  premature leaks)  Hơn nữa, đọc các tài liệu về những diễn biến qua các cuộc họp của Tổng Thống Kennedy  với các nhân viên cao cấp trong chính quyền suốt hai tháng 9 và 10, 1963, chúng ta thấy Tổng thống Kennedy vẫn lưỡng lự,  không quyết định vì chính quyền Diệm là con đẻ của Kennedy.  Cho đến phút cuối cùng, ngày 30.10.1963, Mỹ cũng chỉ muốn loại bỏ vợ chồng Ngô Đình Nhu nhưng ông Diệm không bao giờ muốn bỏ ông Nhu, nhất là “Thím Nhu”.  Cho tới khi, sau khi phân tích tình hình chính trị và quân sự,  tất cả mọi người trong bộ tham mưu của Tổng thống Kennedy đều đồng thuận ở một điểm: Với chính quyền Ngô Đình Diệm trong đó có vợ chồng Nhu thì không thể thắng được Cộng sản.  Tổng thống Kennedy cũng chưa muốn bỏ miền Nam, cho nên cuối cùng Tổng thống Kennedy mới “ra lệnh lửng lơ” (half-ordered) nhưng không chấp thuận một cách rõ rệt (but not specifically approved)” [Xin đọc John Prados], và hứa là không ngăn cản cuộc đảo chánh nhưng chỉ ủng hộ nếu chắc chắn là cuộc đảo chánh thành công và dù cuộc đảo chính thành công hay thất bại thì Mỹ cũng phủ nhận vai trò của Mỹ trong đó..  Cho nên không thể nói là Mỹ đã bật đèn xanh cho các tướng lãnh từ ngày 25 tháng 8.1963 qua điện tín ngày 24.8.  Mặt khác, việc giết hai anh em ông Diệm là ngoài ý muốn của Mỹ.  Vì thế Tổng thống Kennedy mới bị “sốc” khi nghe tin Diệm bị giết ngày 2.11.63.  Giết ông Diệm và Nhu là quyết định của các tướng lãnh để trừ hậu hoạn, rút kinh nghiệm từ sự lật lọng của ông Diệm trong cuộc đảo chính năm 1960.  Vì vậy nếu nói đến “nguyên nhân” của cuộc đảo chánh, thì “nguyên nhân” đó chính là Ngô Đình Diệm, hay đúng hơn, nguyên nhân là “tứ đại nhân bang họ Ngô Đình: Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, và Ngô Đình Cẩn” chưa kể đến tập đoàn kiêu binh Ca-tô, từ linh mục xuống tới giáo dân tác oai tác quái khắp miền Nam, đặc biệt là ở vùng Hố Nai, Gia Kiệm, Hải yến v…v…

   Tài liệu về thái độ của Mỹ đối với cuộc đảo chánh.

   Tài liệu Tòa Năm Góc về những biến cố 1963 ở Saigon cho thấy Washington không chủ động khởi xướng cuộc đảo chánh chống Diệm, và các lực lượng quân sự Mỹ cũng không can thiệp vào cuộc đảo chánh, ngay cả ngăn cản sự ám sát ông Diệm và người em Ngô Đình Nhu.
    [Pentagon Papers: p. 159:  According to the Pentagon account of the 1963 events in Saigon, Washington did not originate the anti-Diem coup, nor did American forces intervene in any way, even to try to prevent the assassination of Mr. Diem and his brother Ngo Dinh Nhu.]

   Tháng 7.1963, Mỹ thẩm định tình hình ở Việt Nam như sau:

   Tài liệu Tòa Năm Góc #34, ngày 10.7.1963, trang 193:  Cuộc khủng khoảng Phật Giáo ở Nam Việt Nam đã nổi bật và tăng cao sự lan rộng và sự bất mãn đã có từ lâu về chế độ Diệm và kiểu chính quyền của chế độ.  Nếu – có vẻ như sẽ xẩy ra là – Diệm không chịu thực hiện ngay những cam đoan của ông ta đối với Phật Giáo, sự hỗn loạn sẽ lại lóe lên và có nhiều khả năng hơn trước về một cuộc đảo chánh chống Diệm, hay mưu sát Diệm. 
    [Pentagon Papers, Doc. #34, p. 193: July 10, 1963:  The Buddhist crisis in South Vietnam has highlighted and intensified a widespread and long-standing dissatisfaction with the Diem regime and its style of government.  If – as is likely – Diem fails to carry out truly and promptly the commitments he has made to the the Buddhists, disorders will probably flare again and the chance of a coup or assassination attempts against him will become better than ever…]

   Tài liệu của John Prados:
   http://www2.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/NSAEBB101/index.htm: ngày 9 tháng 7.1963:  Giám đốc CIA John A. McCone tóm tắt cho Tổng Thống Kennedy biết tình hình, trong vòng 24 tiếng đồng hồ sau khi một tướng lãnh đến tiếp cận CIA Lucien Conein.  Khi đó người ta đoán trước là có nhiều âm mưu đảo chánh khác nhau, ít nhất là có một trong số đó có thể hành động ngay ngày hôm sau (cuộc âm mưu của Tuyến không thành, Trần Kim Tuyến bị đưa đi làm đại sứ ở Ai Cập).  CIA cũng nhận thức được tầm quan trọng chính trị của vấn đề Phật Giáo ở Nam Việt..
   DOCUMENT 1
   DCI Briefing, July 9, 1963
   SOURCE: John F. Kennedy Library: John F. Kennedy Papers (Hereafter JFKL: JFKP):   
   National Security File: Country File, box 51, folder: Cuba: Subjects, Intelligence Material.
   This document shows that Director of Central Intelligence John A. McCone briefed President Kennedy within twenty-four hours after a South Vietnamese general first approached CIA officer Lucien Conein. At the time multiple different plots were anticipated, at least one of which might become active the following day (the Tuyen plot referred to aborted, Tran Kim Tuyen was sent out of the country as ambassador to Egypt). The CIA also here recognizes the political significance of the Buddhist issue in South Vietnam.

    Chúng ta biết bức điện tín ngày 24.8 nếu để lộ ra có thể làm cho các tướng lãnh hiểu lầm là Mỹ đã bật “đèn xanh” cho cuộc đảo chính.  Ngoại trưởng Dean Rusk định thu hồi bức điện tín nhưng quá muộn.  Nhưng rõ ràng là các tướng lãnh đã biết đến bức điện tín này, ai có thể tiết lộ ngoài đại sứ Lodge.  Chúng ta có thể đọc tài liệu sau đây của Tòa Năm Góc, trang 170, có lẽ để sửa chữa bức điện tín ngày 24.8:

   CIA không chỉ nói với các tướng lãnh về ý chính [áp lực để Diệm loại Nhu và thay đổi chính sách] trong thông điệp của Washington ngày 24 mà còn, như Ông Richardon (Giám đốc CIA ở Saigon), ngày 26,  đã đề nghị gửi cho các tường lãnh thông điệp sau: “Chúng tôi không thể giúp gì trong hành động khởi đầu giành quyền lãnh đạo quốc gia.  Hoàn toàn là hành động của chính họ, thắng hay bại.  Đừng có mong đợi sẽ được cứu gỡ”
   [Pentagon Papers, p. 170: The CIA men were not only to tell the generals the gist of Washington’s Aug. 24 message but also, as Mr. Richardon advised headquarters on Aug. 26, to convey the following message: “We cannot be of any help during initial action of assuming power of the state.  Entirely their own action, win or lose.  Don’t expect to be bailed out”]
   Ngày 19 tháng 9.1963, Toà Nhà Trắng gửi cho đại sứ Lodge điện tín như sau;
   Chúng tôi không thấy có cơ hội tốt trong tương lai gần để loại bỏ chính quyền hiện thời, cho nên, hiện nay chúng ta phải dùng những áp lực có thể có để bảo đảm những cải tiến tình hình dù khiêm nhường như thế nào.
   Tòa nhà trắng nói với Lodge là “can ngăn âm mưu đảo chính nếu thấy không thành công được một cách nhanh chóng”.  Lodge trả lời là Mỹ không đủ khả năng để “hoãn lại hay ngăn cản âm mưu đảo chính”
    [Pentagon Papers, p. 206: White House Cablegram to ambassador Lodge, Sept. 19, 1963:
We see no good opportunity for action to remove present government in immediate future, therefore, we must for the present apply such pressures as are available to secure whatever modest improvements on the scene may be possible.
   White House tells Lodge to “discourage plot if quick success is unlikely.  Lodge replies US is unable to “delay or discourage the coup”]
   Điện tín của Tòa Nhà Trắng gửi Đại sứ Lodge về lâp trường của Kennedy đối những âm mưu đảo chính, ngày 5 tháng 10.1963:
   Hôm nay Tổng Thống chấp thuận đề nghị (của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia) là không nên có sáng kiến nào để tích cực khuyến khích ngầm cuộc đảo chính.  Tuy nhiên, nên có những nỗ lực ngầm, cấp bách, tuyệt mật, theo sự hướng dẫn tổng quát của Đại sứ để nhận ra và tiếp xúc với những người có thể là cấp lãnh đạo khi sự việc này xuất hiện (nghĩa là khi cuộc đảo chính thành công).  Điều cần biết là nỗ lực này phải hết sức bí mật và có thể hoàn toàn phủ nhận và hoàn toàn tách biệt khỏi sự phân tích chính trị thông thường và thông tin và các hoạt động khác của đội ngũ của của chúng ta ở Việt Nam.  Chúng tôi nhắc lại là nỗ lực này không – xin nhắc lại – không có mục đích tích cực thúc đẩy cuộc đảo chính mà chỉ là coi chừng và sẵn sàng.
   [Pentagon Papers, p. 215: Cablegram from White House to Ambassador Lodge Kennedy position on coup plots, Oct.5: President today approved recommendation (of National Security Council) that no initiative should now be taken to give any active covert encouragement to a coup.  There should, however, be urgent covert effort with closest security, under broad guidance of Ambassador to identify and build contacts with possible alternative leadership as and when it appears.  Essential that this effort be totally secure and fully deniable and seperated entirely from normal political analysis and reporting and other activities of country team.  We repeat that this effort is not – repeat – not to be aimed at active promotion of coup but only at surveillance and readiness.]

   Đọc những điện tín qua lại giữa Đại Sứ Lodge và Washington, chúng ta thấy cho tới ngày 30.10.1963 Mỹ vẫn không biết rõ chi tiết về kế hoạch đảo chính của các tướng lãnh.  Vì vậy Đại sứ Lodge mới trả lời Washington là Mỹ không có khả năng để “hoãn lại hay ngăn cản âm mưu đảo chính”.  Điện tín ngày 25.10 và ngày 30.10 của McGeorge Bundy gửi cho Lodge yêu cầu Đại tướng Minh cung cấp cho Mỹ chi tiết về kế hoạch đảo chính và Đại sứ Lodge đã trả lời trong đó có câu:

   Về vấn đề thiếu thông tin về hậu thuẫn thực sự của Tướng Đôn, và thiếu bằng chứng về khả năng thực sự đã phát triển cho hành động.  Tôi cảm thấy là các Tướng lãnh không chịu cho Mỹ biết những chi tiết đầy đủ về kế hoạch của họ ở thời gian này, phản ánh sự an toàn của chính họ.
   [As to the  lack of information as to Gen. Don’s real backing, and the lack of evidence that any real capabilities for action have been developed.  I feel sure that the reluctance of the generals to provide the US with full details of their plan at this time, is a reflection of their own security.]

   John Prados viết:

   Khi cuộc đảo chánh khởi sự, những thận trọng về vấn đề bảo mật của các tướng lãnh Nam Việt Nam gồm có: chỉ cho Tòa Đại sứ Mỹ biết trước có 4 phút, rồi cắt điện thoại liên lạc với toán cố vấn quân sự Mỹ.  Kết quả là, thông tin mà Washington biết được chỉ có một phần, và tiếp tục như vậy cho đến ngày 2.11, ngày Diệm chết.
   [John Prados: When the coup did begin the security precautions taken by the South Vietnamese generals included giving the U.S. embassy only four minutes warning, and then cutting off telephone service to the American military advisory group. Washington's information was partial as a result, and continued so through November 2, the day Diem died.]

   Qua những tài liệu ở trên, chúng ta thấy rõ vai trò chủ động trong cuộc đảo chính là các tướng lãnh Việt Nam.  Lẽ dĩ nhiên, như trên đã nói, không có sự ưng thuận của Mỹ, các tướng lãnh khó mà có thể thực hiện được cuộc đảo chánh.  Nhưng cuộc đảo chánh là do quân lực Việt Nam thực hiện và hiển nhiên là không phải Mỹ khởi xướng hay do “chính phạm” Kennedy và các đồng lõa ở Tòa Nhà Trắng làm đảo chánh như Đinh Từ Thức viết.

   Tôi không muốn viết gì thêm về bài của Đinh Từ Thức.  Nhưng có một câu của Đinh Từ Thức tôi không thể không nói đến.  Đó là đến thời buổi này mà Đinh Từ Thức còn đề cao Ngô Đình Diệm một cách lố bịch, tin rằng bạo chúa Ngô Đình Diệm  là “Winston Churchill của Đông Nam Á”, mà không biết rõ thực chất của sự so sánh này như thế nào.  Các chính trị gia thường lên tiếng ca tụng bất cứ ai mà họ muốn.  Nhưng những lời ca tụng đó có thực tâm hay có đúng hay không lại là vấn đề khác.  Đinh Từ Thức viết:

   Tổng Thống Lyndon Johnson là người không đồng ý cuộc đảo chánh. Tới Sài Gòn vào tháng Năm, 1961, ông đã công khai ca tụng Tổng Thống Ngô Đình Diệm là “Winston Churchill của Đông Nam Á”.

    Đinh Từ Thức không biết rằng Stanley Karnow đã viết trong cuốn Vietnam: A History, trang 214:

     Bị lôi cuốn bởi sự cường điệu một cách hùng hồn trong cuộc viếng thăm Saigon năm 1961, Lyndon Johnson, khi đó là Phó Tổng Thống, đã so sánh Diệm với Churchill.  Sau đó trên máy bay của ông ta tôi hỏi Johnson “Ông thực sự cho là như vậy à?”  Ông ta lè nhè: “Cục cứt, Diệm là thằng nhỏ duy nhất mà chúng ta có được ở đó” [Stanley  Karnow, Vietnam:  A History, p. 214: Carried away by oratorical hyperbole during a visit to Saigon in 1961, Lyndon Johnson, then vice-president, had compared Diem to Churchill.  “Did you really mean it?” I asked Johnson aboard his plane later.  “Shit,” he drawled, “Diem’s the only boy we got out there”.]

   Trần Chung Ngọc

   Tháng 11.2013