Hiển thị các bài đăng có nhãn văn nghệ tiền phong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn nghệ tiền phong. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2016


Vài cảm nghĩ khi đọc:
"VIỆT NAM MÁU LỬA QUÊ HƯƠNG TÔI"
của Hoành Linh Đỗ Mậu

Hoàng Ngọc Hiển




LGT - Hồi ký chính trị Việt Nam Máu Lữa Quê Hương Tôi (VNMLQHT) của cựu tướng Đỗ Mậu, phát hành lần đầu vào năm 1986, đã là một hiện tượng văn học chính trị làm chấn động giới nghiên cứu lịch sử hiện đại của người Việt tị nạn lúc bấy giờ, và tạo ra một cuộc tranh luận chia đôi giới nghiên cứu người Việt tại hải ngoại (Thạch Đăng, tạp chí Đất Việt, Canada). Tác phẩm nhắm “bổ túc hồ sơ sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa”, lấy chế độ Ngô Đình Diệm (về mặt chính trị) và Giáo hội Công giáo Việt Nam (về mặt lịch sử) để làm hai đối tượng phân tích và phê phán. Cuốn sách dày 1,260 trang nầy “… đã có rất nhiều, quá nhiều là khác, thảo luận và bút chiến về tác phẩm, và nhiều khi, về từng chủ điểm mà tác phẩm này nêu lên. Cho đến thời điểm này, vẫn còn xuất hiện trên báo chí hải ngoại những bài viết đề cập đến tác phẩm hoặc tác giả. Đặc biệt đã có 13 cuốn sách của những người viết đứng từ những vị trí khác nhau, nhìn từ những góc độ khác nhau, và mang những tâm chất khác nhau, nhưng tất cả đều trực tiếp hay gián tiếp liên hệ đến tác phẩm hay tác giả.” (trích từ Lời Giới Thiệu Ấn bản thứ ba của Nhà Xuất bản Văn Nghệ, năm 1993).

Từ đó đến nay, tác phẩm này đã được tái bản một lần (1987) và in lại tám lần, tổng cọng gần 20 nghìn ấn bản. Bản in trên giấy cuối cùng (1993) của Nhà Xuất bản Văn Nghệ là lần biên tập thứ ba và là lần in lại thứ chín (Third Edition, Ninth Printing). Năm 2007, một nhóm thân hữu của tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu đã hoàn thành một ấn bản điện tử, phổ biến rộng rãi trong không gian Internet với mục đích “… đóng góp phần mình vào việc thực hiện tâm nguyện của tác giả đã được trang trải đầy ắp trong tác phẩm nầy.” (trích từ Lời Giới Thiệu Ấn bản Điện tử 2007).
Hiện nay, theo ghi nhận của chúng tôi thì đã có 14 “diễn đàn điện tử” trong và ngoài nước phổ biến tác phẩm VNMLQHT. Để đọc toàn bộ tác phẩm, bạn đọc có thể vào các trang web sau đây: Sách Hiếm (Hoa Kỳ), Giao Điểm (Hoa Kỳ), Truyện.com  (Việt Nam) và Truyện.haohanca.com (Việt Nam).

Sau gần 20 năm thuộc loại best seller trong cộng đồng hải ngoại, với thời gian, cuốn sách cũng đã lui vào sau hậu trường chử nghĩa, chỉ còn giá trị tham chiếu cho những ai muốn tìm hiểu về nền Đệ Nhất Cộng Hòa mà thôi.
Thế là sau hàng trăm bài viết kéo dài trong 20 năm, có lẽ bài cuối cùng đề cập đến một cách quy mô tác phẩm VNMLQHT là một bài viết dài 6 trang chữ nhỏ, phổ biến vào tháng 6/2006 có tựa đề “Vài Cảm Nghĩ Khi Đọc “Việt Nam Máu Lữa Quê Hương Tôi” Của Hoành Linh Đỗ Mậu” của nhà văn Hoàng Ngọc Hiển.

Đây là một bài “cảm nghĩ” đặc biệtđược đăng trên một tờ báo chuyên đánh phá Phật giáo để bào chữa tội của ông Diệm, do một tác giả Công giáo chấp bút, nhưng lại để đề cao một số luận điểm của tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu và tác phẩm VNMLQHT. Thật vậy:

1- Bài nầy xuất hiện trên bán nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong (số 731, tháng 6/2006), một tạp chí từng bị ví von là “Tên lính xung kích của Cần Lao Công Giáo”, chuyên đăng bài bênh vực chế độ Diệm. Năm 1978, khi Thượng tọa Thích Thiện Minh bị chính quyền Cọng sản bức tử tại trại Hàm Tân, thế nhưng Văn Nghệ Tìền Phong lại chạy hàng tít lớn ở ngoài bìa: Thích Thiện Minh Đền Tội” chỉ vì Thượng Tọa là một trong những nhà lãnh đạo phong trào đòi chính quyền Ngô Đình Diệm phải thực thi quyền bình đẳng tôn giáo năm 1963. Và cũng chính báo nầy đã là nơi phát động cuộc xuyên tạc lịch sử vĩ đại nhất tại nước ngoài để lên án Phật giáo và Tướng lãnh VNCH làm “mất nước”, hầu trả thù cho ông Diệm như lời dặn của chính ông ta, đồng thời  để làm cái loa tuyên truyền cho cái gọi là “Phong trào Phục hồi Tinh thần Ngô Đình Diệm” ở hải ngoại. Dĩ nhiên, đây cũng là tờ báo làm diễn đàn để chống đối kịch liệt cuốn VNMLQHT của những cây viết “Cần Lao Công giáo” như Linh mục Vũ Đình Hoạt, Linh mục Cao Văn Luận, Tú Gàn, Lâm Lễ Trinh, Tú Rua, Đinh Từ Thức, Cao Thế Dung, Nguyễn Văn Chức, v.v… 


Hình bìa và Trang Mục Lục của tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong số 731 (từ ngày 1 đến 15-06-2006) – Trang 36 của Mục Lục ghi “36- Đọc sách: ‘VN máu lữa quê hương tôi’ H.N.Hiển” 

2- Tác giả bài viết là một tín hữu Công giáo, bút hiệu là Hoàng Ngọc Hiển (tên thật là Giuse Trần Ngọc Hiển) sinh năm 1942 và mất vào ngày 27-12-2014 tại Nam California. Trước 1975, ông là một giáo sư triết, văn chương và sử địa. Năm 1967, bị động viên (Khóa 25 Thủ Đức).  Rời quân trường, ông chọn  đại đội 399 tiểu khu Bình Long – đơn vị được xem là thiện chiến nhất và “dữ” nhất  của tiểu khu,  có mặt tại những hiểm địa tử thần như Lộc Ninh, An Lộc, Quốc lộ 13…. Về mặt văn chương, năm 1969, tạp chí Văn xuất bản truyện dài “Quê Hương Lưu đày” của ông. Sách bán hết sau hai tháng phát hành. Qua Mỹ, ông vẫn tiếp tục viết với 5 tác phẩm được xuất bản hay tự xuất bản. Đó là chưa kể hai tập truyện còn trong dạng bản thảo và một tác phẩm gồm 18 bài đọc sách chưa in. Sau 1975, ông bị tù 14 năm 7 tháng và qua Mỹ vào cuối năm 1990.

Tác giả Hoàng Ngọc Hiển và trang 36 của tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong số 731 với tựa đề bài viết: Vài Cảm Nghĩ Khi Đọc“Việt Nam Máu Lữa Quê Hương Tôi” Của Hoành Linh Đỗ Mậu

3- Ai đã đọc thì đều biết Sử quan làm nền cho nội dung của tác phẩm VNMLQHT là “Hễ đã phi dân tộc thì thế nào cũng phản dân tộc” (Lời Mở Đầu của VNMLQHT), và cựu tướng Hoành Linh Đỗ Mậu đã lấy hai đối tượng là Chế độ Ngô Đình Diệm và Lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam để qua đó, chứng minh Sử quan của mình là đúng đắn. Thế nhưng trong toàn bộ bài viết, tác giả Hoàng Ngọc Hiển lại không đề cập gì đến hai đối tượng đó cả. Ngược lại, nhà văn Hoàng Ngọc Hiển đã chọn một cách tiếp cận khác. Độc đáo hơn và có tính thuyết phục hơn: Đó là phân tích cái Tâm và cái Tầm của tác giả Đỗ Mậu để gián tiếp đánh giá tác phẩm.
Bài viết xuất hiện muộn màng đến 20 năm sau khi VNMLQHT ra đời, nên tác giả có được sự chính chắn khi đọc tác phẩm, nhất là có độ lùi thời gian để đối chiếu với hiện thực lịch sử. Do đó mà bài viết thâm trầm, khách quan và quân bằng hơn, đứng ngoài những cuộc bút chiến nãy lửa của hai phe thân-Diệm và chống-Diệm. Từ đó, chính cái Tâm nguyện và cái Tầm nhìn của cựu tướng Đỗ Mậu mà ông chia sẽ gần như trọn vẹn, đã là niềm tâm đắc để tác giả Hoàng Ngọc Hiển “cảm nghỉ” về thân phận quê hương và về tương lai Việt Nam.

Đồng cảm với những “cảm nghĩ” của hai tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu và Hoàng Ngọc Hiển, chúng tôi xin đánh máy và số hóa nguyên văn bài viết để phổ biến như một chứng liệu đáng ghi nhớ – NamGiao (11/2016)
*       *
*
Vài cảm nghĩ khi đọc:
"VIỆT NAM MÁU LỬA QUÊ HƯƠNG TÔI"
của Hoành Linh Đỗ Mậu

[Trích từ Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong số 731 (6/2006),
từ trang 36 đến 38, và 76 đến 78]

"Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi" của Hoành Linh Đỗ Mậu, ấn bàn thứ ba của NXB Văn Nghệ, 1993, là một ấn bản đẹp hơn hai lần trước kia. Đối với riêng tôi, một người đọc sách, cuốn hồi ký chính trị này là một cuốn sách rất đẹp, về phương diện hình thức, "là một tải liệu lịch sử quý giá cho kho tàng văn học sử Việt Nam" như giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đã đánh giá. Tôi cũng rất đồng ý với Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, đánh giá cuốn sách là "sự phân tích các chứng liệu thật rành mạch và sâu sắc dưới một nhãn quan sáng suốt và thấu đáo, một óc phê phán công bằng và can đảm". Quả nhiên, tác phẩm là "một bản án lịch sử" như nhà luật gia Nguyễn Văn Lượng, cựu Bộ Trưởng Tư Pháp Chính Phủ Ngô Đình Diệm, 1963, đã nói. (Trích vài ý kiến của người đọc ... ở trang bìa sau của cuốn sách).

Tôi cho rằng tác phẩm này không phải là cuốn sách chỉ đọc một lần mà thôi, mà nó là cuốn sách để đọc nhiều lần, đọc đi đọc lại, mỗi lần có thể đọc một chương, dừng lại suy nghĩ ... sẽ có lúc xót xa cho dân tộc, có lúc phẫn uất với cái ác, có lúc cay đắng...và từ đó có thể rút ra cho mình một bài học lịch sử nào đó, nó sẽ rất hữu ích cho những ai muốn dấn thân vào lịch sử. Mới đọc "Lời Mở đầu" của cuốn sách, tôi đã cảm nhận ngay cái tâm của tác giả:
"Tất cả, từ những người có lòng nhất đến những người tài ba đảm lược nhất đều đã thất bại, dù trong cuộc hành trình hùng tráng và bi thiết này, không biết bao nhiêu người đã hy sinh gục ngã... Những nguyên nhân này được cố gắng trang trải như một bài học lịch sử để từ đó và do đó , hy vọng những lớp người đang đi tới sẽ tránh được những vết xe đổ đã nghiền nát bao nhiêu trang sử hiện đại của dân tộc," (Sách đã dẫn, Lời mở đầu, không đánh số trang).

Chúng tôi muốn ghi lại trong bài viết này một vài cảm nghĩ của chúng tôi thôi, với tư cách của một người đọc sách. Cho nên, đây không phải là một bài phê bình, một bài điểm sách với những tính chất cần có của một bài phê bình, một bài điểm sách. Cuốn sách này dầy trên ngàn trang, nội dung phong phú, tài liệu phức tạp... cũng là một lý do làm chúng tôi không dám có tham vọng viết phê bình, điểm sách. Một lần nữa xin thưa trước, đây chỉ là vài cảm nghĩ có tính chất riêng của một người đọc sách, không hơn không kém. Hơn nữa, người đọc sách là chúng tôi đây, đối với tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu, chỉ là một kẻ hậu sinh. Bởi vì năm 1942, khi ông Đỗ Mậu là huấn luyện viên lớp hạ sĩ quan tại Huế, ông vừa đúng 25 tuổi, thì tôi mới mở mắt chào đời. Đến năm tôi được 25 tuổi (1967) tôi bước chân vào khoá 25 quân trường Thủ Đức, thì ông Đỗ Mậu đã là một nhân vật lãnh đạo trong nền Đệ Nhị Cộng Hoà của Miền Nam rồi. Năm 1963, khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, tôi đang ngồi ở giảng đường trường Luật năm thứ nhất, chưa có được suy nghĩ chính chắn về thời cuộc. Tôi hãy còn hời hợt lắm về tất cả những vấn đề của đất nước, có lẽ kể cả lịch sử của dân tộc trong quá khứ bởi tôi chỉ có một mớ bài học tổng quát từ sách vở, chưa thực hiện một cuộc nghiên cứu lịch sử nào tới nơi tới chốn.

Tôi xin thú thật rằng  phải đến năm 1967, khi tôi cầm lệnh trình diện thụ huấn khoá 25 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức trong tay, tôi báo cho mẹ tôi biết, bà có vài lời nói với tôi, rồi kể từ lúc ấy, tôi mới bắt đầu có những suy nghĩ cẩn thận về Độc Lập, Chủ nghĩa Thực Dân, Cộng Sản, cuộc chiến đấu bảo vệ Miền Nam... Tôi vẫn còn nhớ, mẹ tôi đã nói với tôi rằng: "Phải, đất nước có chiến tranh, mà chiến tranh có từ trước khi anh ra đời, anh đang sống ở Miền Nam. Đó là lẽ tự nhiên, bởi giặc đến nhà đàn bà còn phải đánh mà. Anh hãy vui vẻ lên đường làm tròn trách nhiệm của anh đối với đất nước." (Mẹ tôi thường gọi tôi là anh, có lẽ vì tôi là con trưởng). Tôi không ngờ mẹ tôi lại dậy tôi như thế. Hai mươi lăm tuổi đầu rồi, mà chẳng hiểu biết tí gì về chính trị cả, có đáng xấu hổ không?!

Vừa ra trường, đến trình diện Trung tá Lộ Công Danh, Tiểu khu Trưởng Tiểu khu Bình Long, tôi đụng ngay trận Tổng Công Kích năm Mậu Thân 1968 của Việt Cộng. Tôi nghĩ định mệnh đã đưa đẩy ném tôi vào những chuyển mình lớn lao của đất nước rồi - như bao nhiêu người trai trẻ khác của thế hệ - mình đang bị đặt tính mạng trước cái chết. Liệu một cái chết về quê hương của mình có một ý nghĩa nào không? Đó là câu hỏi đầu tiên tôi đặt ra cho tôi và cố gắng để đi tìm câu trả lời. Nhưng tôi đã không trả lời nổi. Tôi biết tôi mù tịt về chính trị nên không trả lời nổi. Tôi chỉ còn biết nhắm mắt cầm súng chiến đấu, còn ngoài ra không biết gì hết.

Đó là thực tế trước mắt. Tôi nghĩ bao nhiêu người trai như tôi cũng đang phải cầm súng chiến đấu như tôi thôi. Tôi đi từ Trung Đội Trưởng tới Đại Đội phó, rồi Xử Lý Thường Vụ Đại Đội Trưởng, rồi được thuyên chuyển về làm Sĩ Quan Tham Mưu Phòng 3 Tiểu khu Bình Long. Than ơi, càng tìm hiểu, tôi càng cảm nhận dấu hiệu thất bại của quân lực Việt Nam Cộng Hoà, nhất là sau khi Hoa Kỳ có chủ trương Việt Nam hoá chiến tranh. Sư đoàn 1 Không kỵ của Mỹ ở Bình Long rút dần, trao lại vùng hoạt động cho Tiểu khu. Thế là phạm vi trách nhiệm của Tiểu khu cứ mở rộng dần ra, súng đạn giảm đi, các phương tiện khác cũng hạn chế... Tôi đã cảm nhận Miền Nam sụp đổ là điều khó tránh, nhưng tôi không trả lời được "nguyên nhân lớn nhất, thực nhất" dẫn tới thất bại là gì?! Cho tới nay, 2005, 30 năm sau ngày Miền Nam sụp đổ, tôi đọc và suy gẫm cuốn "Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi" của Hoành Linh Đỗ Mậu, tôi cảm nhận được câu hỏi đó. Cho nên đối với tôi, ông Đỗ Mậu là người đi trước, là tiền bối, và tôi đã là kẻ hậu sinh đọc sách của ông. Tôi có những cảm nghĩ gì đây? [Toàn bộ cuốn sách ở đây (giaodiemonline) và ở đây (sachhiem) cho độc giả ngoài nước, hay ở đây (xemtailieu) và ở đây (tusach.mobi) cho độc giả trong nước - NG]

I/ Từ hiểu biết về Quảng Bình, tôi cảm nghĩ về quê hương Việt Nam:

Quảng Bình là quê hương của ông Đỗ Mậu. Tác giả viết về đất Quảng Bình của ông:
"... Bình Trị Thiên là ba tỉnh nằm giữa hai ngọn đèo lớn đó của miền Trung, vì quen nhọc nhằn chống lại thiên nhiên hà khắc, lại vốn làm cái đòn gánh chính trị oằn vai vì sức nặng cách mạng của bốn tỉnh tiếp giáp nên cũng đã cưu mang trong sức sống tất cả cái hào hùng và oan nghiệt của lịch sử. Tỉnh Quảng Bình, tuy là một tỉnh nhỏ về cả hai phương diện dân số lẫn diện tích, nhưng nhờ vậy lại chiếm địa vị của một vùng đất quê hương nổi tiếng địa linh nhân kiệt.
Từ đời Hùng Vương, Quảng Bình đã là một trong mười lăm bộ của nước Văn Lang, có tên là Việt Thường với Thủ đô là Phong Châu. Vì là tỉnh cực nam tiếp giáp với biên giới Chiêm Thành nên suốt một thời gian dài trong quá trình dựng nước và mở nước, Quảng Bình đã là chiến địa khốc liệt và dai dẳng, lắm phen thay ngôi đổi chủ giữa hai dân tộc Chiêm - Việt, cho đến năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông xuất quân đánh Chiêm Thành bắt được vua Chế Củ và sát nhập ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính thì Quảng Bình (và phần đất phía Bắc tỉnh Quảng Trị) mới hoàn toàn thuộc về lãnh thổ nước Việt Nam và thuộc về chủ quyền dân tộc Việt Nam cho đến bây giờ. Tuy là một tỉnh nhỏ, dù bề dài 110 cây số, nhưng bề ngang chỗ hẹp nhất, chỉ vào khoảng 45 cây số, quanh năm ách nước tai trời, lưng dựa vào Trường Sơn huyền bí, mặt nhìn về biển Đông thét gào, đất cầy lên không sỏi thì đá, nhưng tạo hoá lại đền bù cho Quảng Bình nhiều danh lam thắng cảnh để tô điểm cho thêm thanh kỳ, mỹ tú mà nhiều tỉnh khác không có. Luỹ Thầy, Đèo Ngang, sông Linh Giang, động Phong Nha ... không những là kỳ tích của thiên nhiên mà còn là những địa danh ghi đậm những biến cố hào hùng trong lịch sử nước nhà", ( sđd, trang 1,2)

Sau khi viết về quê hương Quảng Bình, tác giả Đỗ Mậu viết:
"Trong khung cảnh đất nước lúc bấy giờ, và thể hiện rõ ràng trong đời sống ở thôn quên cũng như thị thành, ở trong chính quyền cũng như ở ngoài quần chúng, ba luồng ý thức đối nghịch nhau như nước với lửa, như đêm với ngày, chi phối toàn bộ quốc gia Việt Nam là ý thức dân tộc nhân bản của nền Tam Giáo, ý thức độc thần của Kitô Giáo và ý thức duy vật của chủ nghĩa Mác Lê" , (sđd, trang 12) . Thế rồi: "... định mệnh trớ trêu đưa đẩy dòng lịch sử của dân tộc đến một giai đoạn tranh chấp giữa ba xu hướng từ tầng chính trị bước lên kích thước văn hoá trong suốt những năm dao động của hai thập niên 50 và 60. Ba xu hướng này va chạm vào nhau và nổ bùng thành những cơn lốc chính trị và được lãnh đạo bởi ba nhân vật cùng một quê quán Quảng Bình.  Đó là ông Võ Nguyên Giáp quê làng An Xá, ông Ngô Đình Diệm quê làng Đại Phong và Thượng Toạ Thích Trí Quang quê làng Diên Điền".(sđd, trang 14) Ba ông này “đã trở nên những nhân vật lẫy lừng làm chao nghiêng lịch sử và làm sụt sùi dân tộc" (sđd, trang 15) 

Tôi suy nghĩ gì đây? Rõ ràng cuộc phân đôi đất nước Việt Nam và cuộc đối đầu Bắc Nam là cuộc tranh chấp ý thức hệ mà một bên là ý thức Mác Lê duy vật, và một bên là ý thức Ki Tô Giáo độc thần. Ý thức hệ dân tộc nhân bản của nền Tam Giáo đã bị thời cuộc đẩy lui vào bóng tối. Tôi cho rằng ý thức hệ dân tộc nhân bản này là đặc tình căn bản của dân tộc Việt Nam đã hình thành và plát triển từ ngày lập quốc . Nó đã thấm vào tâm hồn, vào da thịt người Việt Nam. Nó đã chuyển thành hơi thở, thành sức sống của dân tộc Việt Nam, nó đã gắn liền, dính chặt vào, không thể thiếu được nữa tựa như một sự kết hợp tuyệt diệu giữa linh hồn, và thể xác. Nó vẫn sống, lúc nào nó cũng vẫn sống, khi mạnh mẽ, khi tiềm tàng, tuỳ theo thời cuộc biến đối mà thôi. Sở dĩ vừa qua, nó bị đẩy vào trong bóng tối, bởi vì hai ý thức hệ kia tựa như hai ngọn sóng thần từ Tây phương tràn tới Đông phương. Vì chúng là sóng thần, quá mạnh mẽ...nên đã có một sức mạnh ghê gớm, khủng khiếp tàn phá vùng đất này, tưởng như muốn quél sạch hết tất cả, cuốn theo cơn sóng thần đó khi nó rút đi !!!

Trước sức mạnh ấy, dĩ nhiên ý thức dân tộc nhân bản của nền Tam Giáo phải bị đẩy lui vào bóng đêm tăm tối. Nhưng nó không thể chết, không bao giờ chết được, nó vẫn sống trong âm thầm, nhưng mãnh liệt. Ý thức ấy sẽ hồi phục như một lẽ đương nhiên. Tựa như một người bệnh, sau khi những gì không thuộc về con người bị đẩy ra khỏi, người bệnh đó sẽ mạnh mẽ trở lại. Ý thức Ki Tô Giáo độc thần đã tắt dần, tàn lụi dần cùng với sự sụp đổ hoàn toàn của Miền Nam Việt Nam vào năm 1975. Ý thức Mác Lê duy vật mà Hà Nội tiếp tục khoa trương trong cố gắng phát triển, cuối cùng cũng bắt đầu tắt dần, tàn lụi vào cuối thập niên 80, khi mà chủ nghĩa Cộng Sản, tại chính quốc Liên Xô và ở Đông Âu hoàn toàn sụp đổ. Bước sang đầu thế kỷ 21, Hà Nội rơi vào tình trạng níu giữ ý thức Mác Lê với nỗi lo sợ ý thức này tan vỡ hoàn toàn. Từ đầu năm 2005, những phong trào tìm về tư tưởng Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh ... Phải chăng đó là những dấu hiệu của ý thức nhân bản dân tộc bắt  đầu thoát ra khỏi bóng tối? Đây là giao điểm. Đây là dấu hiệu thay đổi, càng trở nên rõ rệt , ý thức nhân bản sống dậy thay thế ý thức Mác Lê duy vật. Buổi bình minh của dân tộc Việt nam đã có dấu hiệu, ắt buổi bình minh ấy sẽ đến, chỉ chậm hay nhanh mà thôi !!!

Trước đây, năm 1963, Thượng Toạ Thích Trí Quang đã có tham vọng thực hiện một cuộc Tổng Hợp Đề Văn Hoá để hoà giải dân tộc, nhưng bất thành. " ... Có ai ngờ một chú sa di đầu tròn áo vuông lại trở nên linh hồn của một phong trào tôn giáo quần chúng lớn "làm rung chuyển nước Mỹ" với tham vọng thực hiện cuộc Tổng Hợp Đề Văn Hoá để hoà giải dân tộc ..." (sđd, trang 15). Tôi nghĩ chuyện Thượng Toạ Thích Trí Quang bất thành trong cố gắng trên là lẽ đương nhiên, vì lúc ấy, hai ý thức kia đang lớn mạnh, đang tiến, đang thịnh. Đọc "Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi" của Đỗ Mậu, tôi càng nhận rõ ra điều đó.

Trở lại với Quảng Bình của tác giả, ông viết:
"Sống giữa thời ly loạn, mà cha chú, bà con phần đông bị giặc Pháp cầm tù hay sát hại, nhà nước thì mất chủ quyền, cha tôi, một nho sĩ nghèo nàn chỉ còn biết kéo dài cuộc đời bất đắc chí. Tôi ra đời giữa khung cảnh đất nước đó, trong một gia cảnh thanh bần, và giữa một làng quê bùn lầy nước đọng". (sđd, trang 23). Và ông viết: "Chính những ân tình của xóm làng gia tộc đã dạy cho tôi về nhân nghĩa, về lòng độ lượng, và bao dung. Cho nên những thực tại đó của đời, những kinh nghiệm sống thật đó của bản thân, hơn tất cả những bài học ở trường, hơn những sách vở mà tôi đã nghiên cứu, mới là hành trang quý giá và thân thương  nhất giúp tôi xông pha vào đời với một lương tâm trong suốt và với một con tim tràn đầy nhiệt huyết" . (sđd, trang 25)

Tôi có cảm nghĩ rằng ông Đỗ Mậu đang nói về Quảng Bình của ông, nhưng có rất nhiều tính chất là những tính chất chung của dân tộc Việt Nam chúng ta. Chẳng hạn như những ân tình của xóm làng gia tộc đã dạy cho ông về nhân nghĩa, độ lượng , bao dung, thì những đặc tính ấy đều là những đặc tính chung của tất cả mọi gia tộc, mọi làng xóm Việt Nam trên khắp nước. Chẳng hạn nữa, như nơi nào cũng sản sinh ra những anh tài, nhân kiệt, tuỳ theo từng thời mà phát ra. Và khắp nước Việt Nam hầu như nơi nào cũng có những danh lam thắng cảnh riêng của nơi ấy để tô điểm cho thêm thanh kỳ, mỹ tú, chứ không phải "nhiều tỉnh khác không có" (sđd, trang 2) như ông Đỗ Mậu đã viết. Dĩ nhiên, viết về vùng đất Quảng Bình của ông, ông không thể tránh khỏi chủ quan, cũng là lẽ thường tình. Ông viết: "Tôi vẫn hoài niệm về làng Thổ Ngoạ tiêu điều đó như là những năng lực tuyệt vời giúp tôi thoát lên trên mọi giông bão" (sđd, trang 25)

Bây giờ hàng triệu người Việt Nam sống ở xứ người, lưu lạc khắp bốn phương trời, vẫn hoài niệm về chốn làng quê nghèo nàn của mình ở trên giải đất Việt Nam hình chữ S, có rặng Trường Sơn hùng vĩ, Cứu Long giang uốn khúc như rồng, và biết bao núi non, sông dài thơ mộng ... nơi đó là những làng mạc, đồng ruộng thanh bình thuở ngàn xưa, đã bị cơn sóng thần từ Tây phương tràn tới gây đổ vỡ tan hoang ... Nhưng tinh thần dân tộc nhân bản, cụ thể là nhân nghĩa, độ lượng, bao dung vẫn sống, sống âm thầm, sống trong đêm tối để chờ giờ phút trồi lên trong một buổi bình minh nào đó sẽ đến, phải đến, tựa như một quy luật tự nhiên, hễ cái gì có cực thịnh, ắt phải có cực suy, cái gì cực suy ắt sẽ từ từ hồi sinh, phục dậy. Đó là luật phản phục. Tôi kẻ tha phương cầu thực, nhiều lúc cảm thấy nhục nhã và cô đơn nơi xứ người, vẫn hoài niệm về quê hương :"Ta về về ta tắm ao ta. Dầu trong dầu đục ao nhà vẫn hơn". Không có ở đâu đẹp bằng quê hương của mình. 

II/ Cảm nghĩ đến từ những nhân vật đã làm cho thế giới khâm phục:

Trong sách ông Đỗ Mậu trình bầy về việc anh em ông Diệm lợi dụng quyền hành trong tay, xử dụng những phương pháp vô luân và phi pháp để làm giầu riêng. Ông Đỗ Mậu dẫn chứng từ "Bức thư ngỏ gởi ông Hứa Hoành" của ông Trần Ngọc Lý đăng trên tờ Tia Sáng, Houston, số 22 tháng 10 - 1987. Bức thư chỉ trích Tổng Thống Diệm đã dĩ công vi tư, lấy tiền quốc gia giúp Giám Mục Ngô Đình Thục xây cất những cơ sở cho Giáo Hội Thiên Chúa giáo tại Vĩnh Long. Tác giả cho biết ông Diệm có mỗi năm 98 triệu mật phí chính trị, ông còn nhận được một số lợi tức do hãng tôm Long Hải cung cấp.  Hãng tôm Long Hải này do Nguyễn Văn Bửu, một người bà con của ông ở Phú Cam làm quản lý ...

Sau đó tác giả viết:
"Đáng tiếc, và đáng trách vì ông Diệm đã không noi gương kim cổ, để bắt chước phong thái những vị nguyên thủ đồng thời với ông ta, những nhân vật đã làm cho thế giới khâm phục như Thủ Tướng MacMillan nước Anh, Thủ Tướng U Nu nước Miến Điện chẳng hạn.
Thủ Tướng MacMillan, người đệ tử trung kiên của "sư tử Churchill", sau khi thôi làm Thủ Tướng về nhà sống cuộc đời thanh bạch. Ông di chuyển bằng xe buýt, chen chúc giữa đám thường dân, cũng làm đuôi để đổi xe buýt nơi góc đường, đầu phố. Còn Thủ Tướng U Nu vốn là một Phật tử thuần thành và tự biết mình quá ôn hoà, không lãnh đạo được quốc gia trước hiểm hoạ Cộng Sản Miến cho nên tháng 9 năm 1959 ông nhượng chức lại cho Tướng Nê Win để ông này có thể thực hiện được một chánh sách chống Cộng hữu hiệu hơn. Thủ Tướng U Nu khi vào dinh Độc Lập (Miến) chỉ mang theo một chiếc va li mây với mấy bộ quần áo cũ và đôi giầy bố; khi ra về gia tài của ông cũng chỉ đôi giầy vải bố với chiếc va li mây.  Từ chức Thủ Tướng về nhà, ông lại đeo đuổi việc tu hành, sớm hôm vui với câu kinh tiếng kệ. Thái độ nhà lãnh đạo như thế chả trách Miến Điện, dù là một tiểu quốc cô lập giữa vùng rừng núi cao nguyên, lại sát Trung Cộng, đã dám chống lại Mao Trạch Đông và chiến thắng Cộng Sản Miến và vẫn giữ vững nền độc lập và trung lập từ sau đệ nhị thế chiến cho đến ngày nay" (sđd, trang 442, 443)

Tác giả còn nhắc đến Lý Thừa Vãn chịu trách nhiệm trước đồng bào về việc bà con tay chân của ông tham nhũng, rồi xin từ chức ngay và xin đi xuất ngoại để yên lòng dân. Sau mấy năm lưu vong ông lại được dân Đại Hàn mời trở về quê cũ. Ông Đỗ Mậu tỏ ý tiếc cho ông Diệm không chịu nhìn những gương trong sáng đó, "không biết được những thăng trầm tất yếu của kiếp nhân sinh, mà phú  quý lợi danh có khác nào Mây trôi Nước chẩy. Huống chi được xây dựng bằng con đường bất lương, phi nghĩa, xây dựng trên xương máu, trên xác chết của bao nhiêu người thì làm sao tồn tại vững bền cho được. Nó tụ càng nhiều nó phải tan càng mau như nước thuỷ triều sáng lên là chiều phải xuống". (sđd, trang 444)

Đọc đoạn văn này - mà tư tưởng phản ảnh ý thức dân tộc nhân bản, mang mầu sắc triết lý về cõi nhân sinh đã thấm nhuần vào làng mạc, đồng ruộng, núi đồi, biển trời đất nước ta - tôi không tránh khỏi ngừng lại suy nghĩ mông lung về thân phận con người và của cải vật chất thế gian. Than ơi, đến cái thân xác của ta, thiết nghĩ là quý nhất, nó dính liền với ta, mà rồi nhiều lắm 100 năm cũng phải chết, cũng phải bỏ linh hồn ta mà tàn lụi trong hư nát, huống chi là "ngoại thân", cái ở ngoài ta? Quả nhiên, ông Đỗ Mậu viết:"phú quý lợi danh có khác nào Mây trôi Nước chảy", có khác nào ông đã nhắc nhở  mọi người nhớ lại cái chân lý ấy, cái chân lý bất di bất dịch ấy, mà cố nhân chúng ta đã dùng nó như một nguyên lý xử thế? Nó đã không còn là một tư tưởng triết học mơ hồ, hoang tưởng, mà nó đã thấm sâu vào lòng người Việt Nam, tiếp nối từ đời này qua đời khác...Nó âm ỉ sống trong lòng người, chỉ cần hướng nội là gặp được nó ngay. Chỉ một phút lơi là, hướng ngoại, là cái chân lý ấy xa dần ta, để ta bị lôi cuốn vào văn minh vật chất thời thượng bên ngoài, mà quên đi những hệ luận của nó là nhân nghĩa, bao dung, độ lượng?! Đó là đặc tính của truyền thống của dân tộc ta. Nhưng trong nhiều thế kỷ qua, những cơn sóng thần ở bên ngoài tràn tới, phủ lấp gây ra biết bao nhiêu đổ vỡ, tang thương tứ tán cho dân tộc? Thật là xót xa quá!!!

Tôi nghĩ dẫu ta xa quê hương, lăn lộn kiếm sống ở xứ người, nhưng nỗi hoài nhớ quê hương vẫn khắc khoải trong lòng, hễ bất chợt lúc nào dừng lại, hướng nội, ắt ta lại gặp được hình bóng của quê xưa. Phải chăng đó là hồn dân tộc, hồn Việt? Cho nên hễ ta giữ được tinh thần ấy trong ta, ắt không khi nào ta xa rời dân tộc, không bao giờ ta phản bội dân tộc. Nhưng nếu ta lơ là, hướng ngoại, vọng ngoại, ắt dẫn đến  phi dân tộc. Chỉ cần một sự sơ sểnh, con người ta đi đến chỗ phi dân tộc lúc nào không hay!!! Cho vậy, tôi nghĩ người Việt muốn gìn giữ được hồn Việt trong ta, thì ta phải gìn giữ những đặc tính dân tộc (nhân nghĩa, bao dung, độ lượng) như giữ gìn con ngươi của mắt mình! Những người lãnh đạo đất nước  đánh mất những đức tính ấy...phải chăng là quên dân tộc, phi dân tộc ắt dẫn đến phản bội dân tộc, như tác giả Đỗ Mậu đã viết cuốn:"Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi" để chứng minh điều đó? Tác giả đã suy nghiệm, đã nhận rõ mặt "Hễ đã phi dân tộc thì thế nào cũng phản dân tộc" (sđd, trong lời nói đầu), để rồi dẫn đến kết luận:"Tất cả đã không có căn bản dân tộc nên đã làm khổ đau dân tộc", (sđd, trong lời mở đầu). Đọc cuốn sách, tôi cảm nhận quy luật lịch sử ấy mênh mông trên từng trang sách.

Trở lại với những nhân vật đã làm cho thế giới khâm phục, như Mac Millan; U Nu ... tôi nghĩ nếu Việt Nam chúng ta, trong giai đoạn 1954 - 1975, có được một nhân vật lãnh đạo giống như thế, thì hẳn Việt Nam đã có một cuộc diện khác hẳn như nó đã và đang xẩy ra, người Việt chúng ta đã không phải lang thang trên đất khách. Thời xưa, với tinh thần "Dân vi quý, Quân vi khinh", người làm vua chúa, công hầu danh tướng bao giờ cũng phải khổ trước cái khổ của dân, đói trước cái đói của dân, vui sau cái vui của dân. Vua tôn trọng ý dân -  coi ý dân như ý Trời. Đọc đoạn văn này, tôi trổi dậy ước mơ người Việt bây giờ và mai sau"rút được từ lời kể chuyện mộc mạc và tâm tình  chân thật này", (sđd, trang 850) những suy tư ích quốc lợi dân thì phúc cho quê hương Việt Nam chúng ta biết mấy!!!

Tôi quay nhìn về Đông phương...Tôi có thể thấy gi ở Đông phương? Tác giả Đỗ Mậu đã vạch ra cho tôi thấy rõ:
"Quay lại nhìn về Đông phương, ta thấy không thiếu những nhà lãnh đạo tài ba được ngưỡng mộ như thần thánh và có điều kiện để trở thành độc tôn trong một xã hội còn chậm tiến và thần quyền mà vẫn khiêm tốn và trách nhiệm nhìn thấy vị trí của mình trong những bước tiến thoái của cuộc đời. Một U Nu của Miến Điện, một Shigeru Yoshida của Nhật Bản, một Phác Chánh Hy của Đại Hàn, một Gandhi của Ấn Độ ... Những người đó dù thất bại hay thành công, dù chết êm ấm hay chết bất đắc kỳ tử, đều để lại trong lòng dân tộc họ nỗi thương tiếc và niềm kiêu hãnh vĩ đại, cũng như đã được an vị hùng tráng trên bia đá lịch sử của tổ quốc họ.
Cũng nhìn về phương Đông và thân thiết hơn trong lịch sử nước ta, một Lý Thánh Tôn yêu dân như yêu con, một Lý Anh Tông đã biết "Tu thân là thận trọng ở bề trong như dẫm trên băng mỏng, an dân là kính trọng kẻ dưới hãi hùng như cưỡi ngựa nắm dây cương mục" , một Trần Thái Tông "từ bỏ ngai vàng như từ bỏ một đôi giầy rách" và "lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình và lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình", một Trần Nhân Tông lập chí rằng "trong nhân gian vẫn còn người đói khổ thì trẫm không được yên lòng"...(sđd, trang 847)

III/ Cảm nghĩ đến từ những tâm tư của tác giả Đỗ Mậu

Ông Đỗ Mậu viết "Việt Nam máu lửa quê hương tôi" với mục đích cao nhất của tác giả là nói lên sự thật, "những Sự Thật đã vì hiện trạng tế nhị của đất nước mà các nhân chứng chưa nói ra, hoặc những sự thật mà vì cố chấp hẹp hòi sợ hãi, đã bị một số người trình bày một cách sai lạc hoặc nhiều khi cố tình xuyên tạc " (sđd, trang 831).
Sau đó ở chương XX, kết luận, tác giả tâm tình:
"Không những không cố chấp làm một thứ hủ nho hẹp hòi và bị trói chặt trong sự khiêm nhường vô trách nhiệm, tôi còn tự thấy có nhiệm vụ, có bổn phận phải trang trải ra trong lời kết luận này những tâm tư của mình. Những tâm tư của kẻ mà cuối cuộc đời, nhìn lại quá trình hoạt động chỉ thấy thất bại này chồng chất lên thất bại khác: 30 năm chống Cộng để cuối cùng phải chạy trốn nạn Cộng Sản, xả thân cho một lãnh tụ để cuối cùng thấy lãnh tụ đi vào con đường phản quốc hại dân.
Ngày xưa, cụ Phan Bội Châu đã viết hai tập Tự Phán và Ngục Trung Thư để suy ngẫm về những thất bại của mình và trao truyền bài học cho tương lai. Hôm nay tôi viết cuốn hồi ký này là chỉ để theo bước chân của nhà Cách mạng Tiền bối đó, vụng về bắt chước gương của người xưa mà thôi". (sđd, trang 832)

Quả nhiên, tâm sự của tác giả là cay đắng: 30 năm chống Cộng để cuối cùng phải trốn chạy Cộng Sản, xả thân cho một lãnh tụ để cuối cùng thấy lãnh tụ đi vào con đường phản quốc hại dân, thất bại này chồng chất lên thất bại khác!!! Cay đắng là phải lắm, là lẽ đương nhiên vậy!!! Nhưng tôi nghĩ dẫu sao ông Đỗ Mậu cũng còn một thời có quyền hành, lên xe xuống ngựa, có danh có lợi, và cuối cùng khi Hà Nội chiếm trọn Miền Nam Việt Nam, ông và gia đình ông đả thoát được ra nước ngoài, có những điều kiện sống mới, được sống trong bầu không khí tự do. Ông không bị trình diện Cộng Sản để được đưa vào trại tập trung cải tạo để học tập chính trị, lao động cưỡng bách ngoài rừng....mặc đầu ông cho rằng bỏ nước ra đi cũng là kẻ đầu hàng như tướng Dương Văn Minh: "Nói cho cùng thì có phải chỉ có một mình Dương Văn Minh đầu hàng đâu, những kẻ bỏ nước ra đi trước hay sau ngày 30 tháng 4 cũng là những kẻ đầu hàng" (sđd, trang 814).

Biết bao nhiêu dân Miền Nam đã hy sinh cả bản thân và gia đình mình để bảo vệ miền Nam! Thử hỏi xem họ có được hưởng gì? Họ chính là những kẻ nhận lãnh hậu quả bi thảm nhất của chế độ, của cuộc chiến, của những ngọn gió phũ phàng của thời đại quét qua đất nước Việt ta! Họ là những kẻ phải đổ mồ hôi và xương máu nhiều hơn cả. Thế thì họ, họ sẽ cay đắng biết bao nhiêu khi họ xả thân cho một chế độ - trong đó có những lãnh tụ bao gồm chính ông Đỗ Mậu - để rồi cuối cùng thấy quý vị đi vào con đường phản quốc hại dân? Và thấy quý vị bỏ rơi họ trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến? Các vị đã nói dối họ. Các vị đã âm thầm lặng lẽ cùng vợ con lên tầu, bỏ nước, ra đi để mặc cho đất nước muốn ra sao thì ra, để mặc họ sống chết cách nào không cần biết?!
Họ, trước đây, trong cả một thời gian dài, đã cầm súng bảo vệ đất nước, bảo vệ chức quyền và tài sản của các vị, luôn cả bảo vệ gia đình các vị?! Tâm sự của họ và thân nhân của họ mới cay đắng đến thế nào? Còn biết bao nhiêu người xả thân, đem cái chết của họ để giữ cho Miền Nam được đứng vững cho đến ngày 30.4.75? Giờ đây liệu trong các mồ chôn, họ có ẩn ức? Phải chăng ta không  được phép quên họ  - vì họ đã hy sinh cho ta được sống - ta phải chịu ơn họ?! Nhưng tác giả Đỗ Mậu lại viết: "... Miền Nam thất bại là vì tất cả chúng ta chứ không vì ai hết!” (sđd, trang 815).

Không! Không phải thế! Không thể vì tất cả được!!! Phải có người chịu trách nhiệm chứ? Ai đây, nếu không phải là những nhà lãnh đạo đất nước? Lịch sử rồi đây sẽ làm sáng tỏ điểm này. Ai sẽ là người chịu trách nhiệm trước lịch sử trong việc để miền Nam Việt Nam thất bại?! Phải chăng, cuốn "Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi" của ông Đỗ Mậu, đã đưa ra những sự thật, đã là một sử liệu giúp cho lịch sử tìm ra kẻ chịu trách nhiệm? Vậy sao lại viết "vì tất cả chúng ta" ở phần kết luận? Không, Không thế!!! Chính tác giả đã viết ở đoạn kế tiếp: "thu quyền lực về một nhóm bè đảng ở dinh Độc Lập thì hỏi làm sao toàn dân đoàn kết để bây giờ bắt toàn dân chia sẻ trách nhiệm thất trận đó được" (sđd, trang 815) Phải chăng tác giả mâu thuẫn? Vậy nên câu: "Miền Nam thất bại là vì tất cả chúng ta chứ không phải vì ai hết!" cần được xét lại một cách nghiêm chỉnh.  Đó là suy nghĩ của tôi về tư tưởng "thất bại" của tác giả Đỗ Mậu

Mặt khác, tác giả viết: "Phần cuối cùng của chương Thay Lời Kết Luận này xin được dùng để trang trải lời tâm sự nhỏ với thế hệ tương lai của dân tộc, đang ở trong nước hay ngoài nước, đang ở bên này hay bên kia của những chiến tuyến chính trị và văn hoá" (sđd, trang 848, 849) Vậy thì những tâm sự nhỏ ấy là gì? Và tôi, người đọc sách, cũng có cảm nghĩ về những tâm sự nhỏ ấy, xin được cùng viết ra nơi đây:

1/ "Tôi ra đời và lớn lên từ đất Quảng Bình đau thương nhưng lại là mảnh đất kiêu hùng như mọi tấc đất thiêng liêng khác của tổ quốc... Tôi đã trải qua một cuộc đời thơ ấu nghèo khổ nhưng thanh bạch, đổ mồ hôi trên từng tấc đất để đổi miếng ăn, và lấy luỹ tre làng, đồng ruộng khô làm vũ trụ xinh đẹp và to lớn của mình...
... Bài học lớn đầu tiên mà tôi học được từ đó là tôi yêu quê hương không phải vì quê hương đó xinh đẹp hay xấu xa, giàu mạnh hay nghèo khổ, mà tôi yêu quê hương vì tôi đã có mặt ở đó, sống để cùng chia xẻ vui buồn, sướng khổ, vinh nhục với đồng bào ruột thịt.
... Bài học lớn cuối cùng mà tôi đã học được từ đó là khi đã yêu quê hương thì phải xả thân bảo vệ và nuôi dưỡng nó".

“Bài học lớn đầu tiên và bài học lớn cuối cùng là yêu quê hương và xả thân bảo vệ”. Chí lý lắm. Rất chính xác. Bởi đó là Sự Thật của hầu hết người Việt Nam. Có tới khoảng 85% dân Việt Nam sống ở nông thôn, ban ngày thì đổ mồ hôi ngoài ruộng đồng, ban đêm thì nghỉ ngơi vui vẻ bên trong luỹ tre bao bọc. Bình thường, giản dị, đơn sơ, mộc mạc, đầy ân tình, nhân nghĩa, độ lượng, bao dung với gia tộc, chòm xóm, và rộng hơn với cả cộng đồng dân tộc.  Ấy, giản dị là thế đó, nhưng khi nhà nước có biến, người dân mộc mạc này sẵn sàng hiến dâng tất cả, kể cả tính mạng của mình để đối phó với giặc ngoại xâm. Hội nghị Diên Hồng với cuộc chống quân Mông Cổ dưới đời nhà Trần là một thí dụ điển hình. Nhiều xóm làng đã sẵn sàng thực hiện đường lối "vườn không nhà trống" để đối địch! Họ đã chẳng hy sinh tất cả khi cần đó sao?

Quê hương Việt Nam ta, thưở xưa ấy, đẹp như thế đó. Tôi rất tâm đắc với bài học lớn đầu tiên và bài học lớn cuối cùng của tác giả Đỗ Mậu. Về sau này, với những cuộc xâm lăng của người Phương Bắc, tiếp đến là từ Tây Phương đã làm lung lay đến tận gốc rễ thôn làng xưa ấy...Một thiểu số tiếp tay cho giặc, làm Việt gian đã tạo ra những hủ tục để dễ đàn áp, bóc lột...và cũng đã phá vỡ những truyền thống tốt đẹp nơi làng xã...Nhưng có thể nói rằng những cuộc xâm lăng ấy tựa như những làn sóng dữ tràn vào quê hương, cái tinh thần văn minh cố cựu của chúng ta phải tạm lắng chìm xuống , hay nói khác đi, phải lui vào bóng tối. Nó vẫn âm thầm sống trong bóng tối, chờ đợi ánh bình minh. Cái tinh thần ấy đã là cái sắc thái, bản chất đặc biệt và riêng biệt của một chủng tộc - là chủng tộc người Việt ta - thì chẳng bao giờ mất được! Nó chỉ trầm luân theo sóng dữ, nổi trôi theo thời cuộc, tan tác như lục bình trôi sông... nhưng khi mà sóng gió đã yên, đã lặng, nó lại sống dậy, tựa như  những đám lục bình lại tụ lại bên bờ...

2/ "Bị lôi cuốn trong cơn lốc lịch sử, tôi đã lấy những quyết định bình thường như trăm ngàn người dân Việt khác: chống Tây đô hộ và chống  Cộng Sản độc tài. Đó không phải là những quyết định chính trị có tính toán mà là những phản ứng có tính bản năng và có tính cách truyền thống. Bị áp bức thì vùng lên, bị kiềm chế thì phản kháng, tự nhiên như trẻ thơ đói khát thì bú vú mẹ." (sđd, trang 849). Điểm này cũng rất chi lý, rất chính xác. Dân tộc Việt Nam ta là một dân tộc bị xâm lăng, bị đàn áp suốt từ ngày lập quốc đến giờ. Dân tộc ta chỉ tranh đấu để tự vệ. Sở dĩ có cuộc Nam tiến để mở mang bờ cõi về phương Nam, cũng chỉ vì bị người phương Bắc xâm lăng, nên phải bánh trướng về phương Nam để tìm đất sống.  Có thể nói, nôm na, là tất cả người Việt Nam từ các nhân vật lãnh đạo đến thứ dân đều bị cuốn trong những cơn lốc lịch sử, cơn lốc của thời đại, nên đều có những phản ứng có tính cách bản năng, trong hoàn cảnh của mỗi người. Nhưng hể có người đứng ra lãnh đạo mà có tài đức, ắt được nhân dân hưởng ứng ngay. Nhân dân hướng về rừng núi Lam Sơn, nơi đó có Lê Lợi, Nguyễn Trãi giương ngọn cờ dân tộc đánh đuổi quân nhà Minh, là một thí dụ hùng hồn. Thí dụ gần nhất là những cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Nguyễn Thái Học, phong trào Cần Vương, v.v...đều được nhân dân hưởng ứng, sẵn sàng xả thân bảo vệ quê hương. Đó là một sự tự nhiên, không tính toán, không tham sống sợ chết.

Người Việt ta vốn coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, phải chăng ý thức hệ dân tộc nhân bản đã bao chứa những điểm tinh hoa: thà chết vinh hơn sống nhục, sát thân thành nhân, quan niệm thành nhân trọng hơn quan niệm thành công, quan niệm ác giả ác báo, nhân quả, sống gửi thác về, trọng nhân nghĩa, sống thật với mình và với người, không màu mè, khinh sự giả trá...Thật là đẹp quá, tuyệt quá! Cho nên, với những điểm tinh hoa ấy, ý thức dân tộc nhân bản chẳng bao giờ có thể bị tiêu diệt được, dẫu những cơn lốc thời đại hung dữ đến đâu. Bởi đó chính là Hồn Việt ... mà sử dụng ngôn ngữ bác học, người ta gọi đó là ý thức hệ dân tộc nhân bản đó thôi. Ý thức hệ ... quả thật, đó là mấy chữ mang mầu sắc triết học và chính trị thời thượng mà thôi. Có lẽ là vì những làn sóng phương Tây tràn tới Việt Nam mang tên ý thức hệ này, ý thức hệ nọ, mà người mình mới phải dùng đến các chữ ý thức hệ dân tộc nhân bản để diễn tả Hồn Việt đó chăng? Để phân biệt với các ý thức hệ kia?

Tác giả viết rất rõ "... là những phản ứng có tính bản năng và có tính cách truyền thống". Vâng, chính cái tính cách truyền thống mà tác giả nói đến, là cái Hồn Việt. Mà đã là truyền thống, ắt không thể mất được, không thể bị tiêu diệt được. Mọi âm mưu xoá bỏ, để áp đặt bất cứ một ý thức hệ nào khác lên dân tộc Việt Nam, đương nhiên, trước sau gì, cũng chuốc lấy thảm hại. Cho nên, hiện nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam, tay sai của đế quốc Cộng Sản muốn áp đặt ý thức hệ Mác-Lê duy vật lên dân tộc Việt Nam, đang đứng trước nguy cơ thảm bại. Hồn Việt vẫn âm thầm sống, vẫn nở hoa thơm trong bóng đêm, đợi ngày rạng sáng!

3/ "Vì nói cho rốt ráo, nghĩ cho tận cùng, thì những Hồ Chí Minh, những Ngô Đình Diệm, cuối cùng cũng chỉ là nạn nhân của cơn lốc lịch sử, của cuộc khủng hoảng thời đại đang khống chế dân tộc ta" (sđd, trang 850 ). Điểm này cũng chí lý, chính xác lắm. Toàn bộ nội dung cuốn "Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi" đã nói lên cho đọc giả thấy cơn lốc lịch sử, cuộc khủng hoảng thời đại đã tràn vào đất nước ta và khống chế dân tộc ta.

Vậy thì, nhìn về tương lai, người Việt Nam nào cũng có thể tự hỏi rằng đến bao giờ cơn lốc lịch sử qua đi? cuộc khủng hoảng thời đại qua đi? Để nó không còn như cơn sóng dữ, như cơn bão lớn không chế dân tộc ta? Vâng, bao giờ sóng tan, mưa tạnh, bão tàn lụi, để Việt Nam được Độc Lập và Hoà Bình? Tác giả Đỗ Mậu đã viết ở trang 845, sách đã dẫn:
"Theo lẽ thường thì dân tộc làm chủ đất nước nên vận mệnh của tổ quốc liên hệ đến vận mệnh của dân tộc mà giai tầng lãnh đạo là giai tầng tiêu biểu. Dân tộc Việt Nam đã có những nhà lãnh đạo anh hùng tài đức trùm trời đất cũng như đã có những bạo chúa hại dân hại nước muôn đời bị nguyền rủa. Từ những thế kỷ 20, vận nước đa đoan nên đáng lẽ từ đống tro tàn của Đệ Nhị Thế Chiến, nước ta phải vươn lên theo ngọn gió Giải Thực khắp Đông Tây để giành lại Độc Lập thống nhất trên sơn hà gấm vóc, nhưng sinh lực suy kiệt nên ta chỉ có những nhà lãnh đạo tay sai Hồ Chí Minh, Lê Duẩn ở miền Bắc, và những nhà lãnh đạo tay sai Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam. " 

Phải chăng, những nhà lãnh đạo tay sai này, ở vào cái thế chẳng đặng đừng do cơn lốc lịch sử kia? Họ cũng chỉ là những nạn nhân? Tôi thiết nghĩ, để trả lời đầy đủ cho câu hỏi này, cần phải có nhiều suy nghĩ thấu đáo hơn, cần đào sâu hơn những tài liệu lịch sử đang được các nhân vật có thẩm quyền giải mật dần.  Bản thân tôi cũng còn phải suy ngẫm nhiều hơn nữa ... Kể cả câu hỏi: "Bao giờ cuộc khủng hoảng thời đại chấm dứt, để nó còn hiệu lực khống chế dân tộc ta?", cũng chưa thể trả lời được? Tôi có cảm tưởng cuộc khủng hoảng thời đại vẫn còn mênh mông, tràn lan trên khắp mặt địa cầu, nhìn đâu cũng thấy một khung trời u ám ...Tôi không trả lời được.

Kết Luận: Dưới đám mây Tần, quê hương nghìn trùng có một ngày trong sáng?

Chúng tôi dùng câu cuối của tác giả Đỗ Mậu trong cuốn "Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi", để làm tiểu đề cho kết luận bài viết về cảm nghĩ của tôi đối với cuốn sách: "Dưới đám mây Tần, quê hương nghìn trùng nếu có một ngày trong sáng, thì nấm mộ vàng nơi đất lạ chắc sẽ nở hoa tươi" (sđd, trang 851). Câu văn nói lên cái tâm của tác giả đối với quê hương, cho đến chết vẫn mơ ước quê hương được trong sáng.

Tôi nghĩ, đây là ước vọng của mọi người Việt Nam ở trong nước cũng như ở ngoài nước, hiện đứng ở tâm cảnh nào.  Đó là mơ ước chung của người Việt Nam không phân biệt. Vấn đề được gợi ra là làm thế nào thực hiện được ước mơ chung đó? Phải chăng đó là mỗi người Việt Nam góp một chút tâm tư và sức lực để cùng nhau cởi cái nút lịch sử oan nghiệt đang bóp chặt bước tiến của tổ quốc? 

Than ơi, cái nút lịch sử oan nghiệt ấy rất khó biết và cũng rất khó tháo gở ... bởi vì, tôi nghĩ, nó có liên hệ đến cơn lốc lịch sử, cuộc khủng hoảng thời đại, mà tác giả Đỗ Mậu đã nói đến, và chúng tôi đã trích dẫn trên. Có lẽ chúng ta không còn cách nào khác hơn là chờ đợi, nhưng không chờ đợi với thái độ tiêu cực, ù lì đứng một chỗ, mà chờ đợi với thái độ tích cực như trường hợp tác giả Đỗ Mậu:
"Tôi là sự tiếp nối tự nhiên của một tiền nhân vô danh nào đó từ thời lập quốc, bị áp bức thì chống, bị xâm lăng thì đánh, bị đổ vỡ thì xây dựng, chứ không ù lì đứng một chỗ, buộc căn cước văn hoá và lý tưởng đấu tranh vào một triều đại nào, một chế độ nào, hay một ý thức hệ nào." (sđd, trang 850)

Tôi đã suy ngẫm về một số lập trường chính trị trong việc xây dựng Việt Nam, mà ông Đỗ Mậu đã viết ra trong cuốn sách của ông :
" ... từ 30 năm nay, Phật giáo Việt Nam đề nghị một sinh lộ và kêu gọi một nỗ lực cuối cùng: Lấy sức mạnh của dân tộc để hoà giải tranh chấp của quá khứ, Hoà giải các phe đối nghịch trong hiện tại, và Hoà hợp đời sống trong Hoà bình tương lai mà mô thức chính trị quốc gia có thể là Dân Chủ Xã Hội Phi liên kết" (sđd, trang 807)

" ... giáo chủ Phạm Công Tắc đã chủ trương một nước Việt Nam Hoà Bình Trung Lập (cũng giống như chủ trương Phật giáo)" (sđd, trang 807)

"... Chủ trương Việt Nam Trung lập phi liên kết là một sáng tạo chính trị tích cực và là một đóng góp quí giá của Phật giáo Việt Nam cho dân tộc trong cái viễn ảnh đó, tiếc thay cả hai ông Hồ và Ngô đều giáo điều và thiển cận nên không nhìn thấy được, do đó đã làm cho đất nước tang thương và dân tộc điêu linh mãi cho đến ngày nay." (sđd, trang 524)

"... Đau đớn nhìn lại lịch sử...khi mất nước vào tay Cộng sản, lưu vong nơi xứ người, nhiều chính khách, lãnh tụ, tướng tá, trí thức, cả già lẫn trẻ mong cầu Việt Nam sau khi được giải thoát khỏi chế độ Công sản, sẽ là một quốc gia trung lập" (sđd, trang 524)

Tôi tự hỏi Việt Nam trong tương lai, có thể là một quốc gia trung lập không? Hỏi để mà hy vọng. Rất có thể, Việt Nam phải kinh qua những gia đoạn nổi trôi như nó đã và đang xẩy ra, thì rồi đây mới có thể bước tới chỗ ổn định được, theo luật cùng tắc biến biến tắc thông. Cuộc khủng hoảng thời đại sẽ phải tới lúc cùng, phải biến thông. 

Nhìn cuộc diện thế giới, thế lưỡng cực Cộng sản và Tư bản đang mờ nhạt dần, thế đa cực đang chuyển biến hình thành... Trong cái toàn cảnh của toàn cầu ấy, các nước nhỏ như Việt Nam chiếm đa số trên mặt địa cầu, sẽ có nhu cầu được tôn trọng Độc Lập, Thống Nhất, Tự Do và Trung Lập phi liên kết của họ? Việt Nam ta, có thể sẽ có cơ hội thành một quốc gia hoà bình trung lập. Nhưng muốn nắm bắt được cơ hội ấy, người Việt Nam phải có sự chuẩn bị, nhất là tinh thần của người lãnh đạo đất nước, không thể coi mình là những người ngoại quốc sống trên quê hương mình, không như kẻ ngoại nhân đô hộ nhân dân mình, không có lòng trắc ẩn đối với người mình, như trước kia kẻ lãnh đạo đã sai lầm. Kẻ nào thi hành nhân nghĩa sẽ là người cai trị.

HOÀNG NGỌC HIỂN


Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014


NGHĨ VỀ CON ĐƯỜNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
VÀ NHỮNG NGỘ NHẬN CHÍNH TRỊ CỦA NÓ

Nguyên Thái


Nhân đọc 8 câu hỏi của Gs. McKenzie, cô Chu Thúy Phượng và cô Lâm Thanh Loan trên báo Văn Nghệ Tiền Phong số 48 — Tiểu luận của Nguyên Thái

PARIS, ngày 22.4.2014 (PTTPGQT) - Ghi chú : Sau 3 tháng ở Mã Lai trong một trại tiếp cư người vượt biển, cố Hoà thượng Thích Mãn Giác (hồi đó còn là Thượng toạ) đến Pháp, và đã tổ chức cuộc thuyết trình công cộng tại nhà Maubert Mutualité ở Paris quận 5 vào tháng 11 năm 1977. Chúng tôi không được tham dự nên không biết rõ nội dung cuộc nói chuyện. Tuy nhiên liền sau đó trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong số 48 (trang 7) phát hành bên Mỹ, đăng “Tám câu hỏi Thượng toạ Thích Mãn Giác của Gs McKenzie, cô Chu Thúy Phượng và cô Lâm Thanh Loan”.

Theo điều tra của chúng tôi thì Gs McKenzie và hai cô Chu Thuý Phượng, Lâm Thanh Loan chỉ là nặc danh của một người, và người Việt này sinh sống tại Paris có tên TQĐ bỉnh bút cho tờ Văn Nghệ Tiền Phong thời bấy giờ.

Mãi không thấy Thượng toạ Mãn Giác hay giới Phật tử nào hồi đáp, để trống sân khấu hoang mang cho quần chúng. Tác giả Nguyên Thái của Tạp chí Quê Mẹ phát hành tại Paris đã viết bài hồi đáp đăng trên số 21 & 22 phát hành ngày Quốc Kháng 30 Tháng Tư năm 1978.

Nhận thấy những câu hỏi đặt ra lúc ấy, hướng câu hỏi muốn nhắm tới, mà mục đích tấn công, vu hãm khá rõ ràng để hạ bệ Phật giáo Việt Nam, đặc biệt Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, mà họ gọi xách mé như ngôn ngữ của Cộng sản Hà Nội “Giáo hội Ấn Quang”, và hồi đáp của tác gia Nguyên Thái, vẫn còn là thời sự hôm nay. Nên dù bài viết còn có thể khai triển thêm nhiều dữ liệu, chúng tôi vẫn cho đăng lại bài ấy để giữ nguyên tính thời sự nhằm rộng đường dư luận, đồng lúc nhắm tới hai mục tiêu. Một là, vạch rõ những bài viết vô lối và vô luân của bọn vô loại “Dư Luận Viên”, “Đặc tình tôn giáo”, “Agitprop” ngày càng tung đầy trên mạng Internet hai, ba năm qua ; hai là, mong cầu những ai còn lưu tâm tới tiền đồ Việt Nam, đặt lại vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu khách quan, khoa học, khi viết về những biến chuyển chính trị của thời cuộc lôi kéo cả tôn giáo vào vòng xoáy. Thay vì kế thừa lối viết vu chụp trắng trợn, tuyên truyền đấu đá một chiều như thời thế giới còn lưỡng cực phân tranh.

Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế
(Thông cáo Báo chí làm tại Paris ngày 22-4-2014)





Khởi tâm, vì cảm kích sự chú ý tới Phật giáo Việt Nam của Giáo Sư McKenzie, cô Chu Thúy Phượng và cô Lâm Thanh Loan, ở thời điểm mà số lớn các nhà báo đã quên đứt vấn đề Việt Nam. Sau nữa, cũng vì 8 câu hỏi chờ hoài không lời đáp, đã xoáy vào lòng Bạn Đọc mối hoang mang, nghi ngờ, nếu không nói là kinh hãi về Phong trào Phật Giáo. Phong trào quần chúng lớn rộng này từ bao nhiêu năm qua đã kiên trì tranh đấu, bị hy sinh, bị lợi dụng, bị dùng cho những viễn đồ bè nhóm, cá nhân và thiển cận, dù vậy vẫn giữ vững sinh phong bất khuất của người Phật tử qua mọi thăng trầm thời cuộc. Ý kiến chúng tôi sẽ khởi từ phong trào quần chúng Phật tử cấp dưới bị quên lãng đó. Vì chúng tôi tin, và ngày càng thấy rõ, căn bản của tinh thần Phật giáo Việt Nam cùng sự truyền thừa của nó đã cậy nhờ ý thức và tiến thủ của tầng lớp Phật tử đông đảo trong và ngoài nước đang đứng ở tuyến đầu đau khổ của thế mệnh nhân sinh và dân tộc này.


Mấu chốt của vấn đề không nằm trong 8 câu hỏi hay 8 câu trả lời. Quan trọng nhất, và là căn bản, nằm ở thể cách đặt câu hỏi.

Thể cách đặt câu hỏi của ba vị chặt chẽ theo dòng luận lý nhị nguyên. Chúng hoàn toàn thỏa đáng và rõ ràng khi người đối thoại cùng ở chung hệ thống lý luận Tây phương như ba vị, hoặc ý thức hệ cộng sản hoặc ý thức hệ tư bản. Ở trường hợp này, chúng ta sẽ có những lời đáp  hay không minh bạch, rồi kéo theo những giải thích chạy rông.

Đằng này, đối với Phật giáo, 8 câu hỏi trên đã hàm chứa 8 câu trả lời có sẵn. Người được hỏi chỉ được phép xác định xác tín của người hỏi. Hỏi không vì muốn được thông tin, tìm hiểu, muốn được học hỏi. Hỏi vì đã biết. Đương nhiên chỉ biết câu mình hỏi và câu trả lời theo ý mình. Như tiếng gọi và tiếng dội trong thung lũng. Nhưng không nắm vững được thực tại mình quan sát, ở đây là Phật giáo Việt Nam. Vậy muốn biết rõ thực tại này, phải rời ngay sân khấu biểu tượng nó, đối mặt với nó, nhìn nó trừng trừng. Và để cho lối hỏi — nhưng-đã-trả-lời — im bặt đi, đòi hỏi chúng ta phải nắm vững tư tưởng Phật giáo trong thể cách hỏi và trả lời trước một nhân sinh biến động, mà Phật giáo đang chuyển hóa.


Trước tiên, cần tìm hiểu nền tảng của tư tưởng Phật giáo và thể cách trả lời của nó qua hai bộ kinh Lăng Già và Kim Cang.

Kinh Lăng Già (Lankāvatārasūtra) phát triển từ Tổ Đạt Ma và theo dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi truyền vào Việt Nam năm 580 sau Tây lịch. Trong khi đó Kinh Kim Cang (Vajracchedikā prajñāpāramitāsūtra) khởi sắc từ Lục Tổ Huệ Năng và du nhập qua dòng Thiền Thảo Đường năm 1069.

Kinh Lăng Già, tuy nhấn mạnh về ngũ pháp, tam tự tánh, bát thức và nhị vô ngã, nhưng trọng tâm khai triển chữ TRÍ (Trí bát nhã, Prajñā) và chữ BI (lòng thương, Kāruna) trong tiến trình Giác Ngộ của Đại thừa giáo. Chỉ cần đọc bài tán của Bồ tát Đại Huệ là nắm vững yếu tính kinh này.

Kinh Kim Cang phổ biến sâu rộng và ảnh hưởng lớn tâm thức Phật giáo Việt Nam. Tất cả những bộ óc kỳ vĩ nhất của Phật tử Việt Nam đều được thấm nhuần kinh này. Ta có thể đơn cử bốn ví dụ điển hình : Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Quảng Đức — bốn thời đại, bốn con người, một sinh thức. Kinh Kim Cang đặt vấn đề trụ tâm (ưng vô sở trú như sinh kỳ tâm) làm cuộc đại giải thoát cho con Người và Thế Giới. Trụ Tâm trong kinh Kim Cang phá hủy mọi nguyên tắc, luân lý phân biện, để đi vào nguyên tính của thực tại, làm nền cho hệ tư tưởng Trung quán tông xuất hiện uy dũng trên trận trường triết lý, xoá tan mọi tà thuyết trên thế giới huyễn ảo.

Chính sự huy hoàng của dân tộc dưới hai triều Lý - Trần đã được nuôi dưỡng bằng Kinh Kim Cang. Ở bất cứ thời điểm nào, khi xã hội rối ren, khôn đốn, khi tư tưởng tàn suy, văn hóa khủng hoảng, thì kinh Kim Cang hiện ra và sáng chói như thần dược trị liệu. Nhìn lại tư tưởng sử Trung Quốc hay Việt Nam, chúng ta sẽ nhận ra điều đó. Lúc Khổng Giáo sa đọa vì bọn hủ nho, khiến văn hóa Trung Hoa suy tàn, thì Huệ Năng (638 - 753) với kinh Kim Cang xuất hiện, gây lại một phong trào văn học và tư tưởng phồn thịnh cho nhân dân Trung quốc thời Đường. Và khi Phật giáo mớm Văn dựng Nước bằng tư tưởng Kim Cang, thì tập đoàn phong kiến Trung Hoa thoái trào ở Việt Nam.

Ta càng tin điều này, khi biết rằng Phật nói kinh Kim Cang vào buổi xế trưa. Xế trưa biểu trưng cho lúc mặt trời đi xuống, buổi hoàng hôn tàn mạt của những ý thức hệ tương tranh.

Ngày nay, ý thức hệ Cộng sản đang trên đà đi xuống. Phật-giáo Việt Nam, với sự chứng Ngộ của Kinh Lăng Già, và trụ Tâm của Kinh Kim Cang sẽ làm sáng lên một Mặt Nhật giữa buổi hoàng hôn của những hệ ý thức đổ vỡ và tàn suy — hệ ý thức Cộng sản và hệ ý thức Tư bản.

Cách đặt câu hỏi hay trả lời của Phật-giáo, do đó, là thể cách giải quyết, giải nguy, giải thoát nhân sinh, chứ không là sự hỏi đáp của hý luận bâng quơ lúc trà dư tửu hậu. Nó không còn là sự phân biện trống trơn, hay thú vui đấu lý, dẫn tới những tranh chấp, chia rẽ, xâu xé rất kịch trường. Dụ về mũi tên trong kinh Phật là thể cách đặt câu hỏi này. Kẻ bị tên độc bắn, nên để cho lương y chữa trị, hay nằm hỏi xem ai bắn mình, tên làm bằng gì, vân vân ?

Từ thể cách hỏi vân hà (như thế nào) tới sinh thế giải nguy của lời đáp Như thị (như thế ấy) trong kinh Kim Cang, con đường giải phóng mở ra thông lộ cho tất cả ai chịu bước chân lên.

Đây chính là thể cách hỏi và trả lời thoát ly loại hỏi nói của Hư Vô chủ nghĩa (nihilisme).


Ý thức hệ Tư bản cũng như Ý thức hệ Cộng sản là tiến trình cực đoan của hữu và vô, của sự chiếm hữu và sự truất hữu. Nếu Ý thức hệ tư bản là « sự xác nhận của sự xác nhận » (affirmation de l’affirma­tion) thì Ý thức hệ cộng sản là « sự phủ nhận của sự phủ nhận » (négation de la négation, xem Economie poli­tique et philosophie của Marx, tr. 41 : « le communisme est la position en tant que négation de la négation »).

Hẳn nhiên, Phật-giáo đứng ngoài hai phạm trù cực đoan (hữu, vô)của chủ nghĩa hư vô. Bởi Phật giáo đặt trọng tâm ở sự giải cứu (toàn vẹn con người, tinh thần cũng như vật chất). Kẻ Tỉnh thức Phật giáo dấn thân cứu đời, lánh xa mọi sự chiếm hữu hay truất hữuhữu hay. Kẻ Tỉnh thức Phật giáo dấn thân trên đường cứu độ sinh dân bằng cách traotặnghiến dâng... trong sinh thức Như như bất động mà không cần nương tựa vào một ý thức của dấu hiệu hay biểu tượng nào cả (xem kinh Kim Cang (Vajracchedikā prajñāpāramitāsūtra) : (evam hi Subhute bodhisattva yāna samprasthitena dānam dātavyam yathāna nimitta samjnāyām api pratitisthet).


Hai Ý thức hệ anh em thù nghịch Cộng-sản - Tư bản đã nổ trên đất nước Việt Nam. Hai tầng lớp thiểu số lãnh đạo phi dân tộc làm tiên phong cho hai khối này, đẩy đại số quần chúng Việt Nam, trong có quần chúng Phật tử, vào cuộc chết thảm.

Tất cả mọi Phong trào Hiển sinh Phật giáo Việt Nam từ gần 50 năm qua, và đặc biệt Phong trào Vận động Tự do Tín ngưỡng và Tư tưởng năm 1963, là cuộc Vượt thoát khỏi hai phạm trù cực đoan của Hư vô chủ nghĩa. Đương nhiên, cả hai phe Cộng sản – Hoa Kỳ đều vận dụng mọi cách để lợi dụng năng lực chuyển hóa này của quần chúng Phật giáo. Quần chúng Phật giáo như thác nước, mà hai bên tìm cách lái về các hồ, lạch. Tuy nhiên, con nước chính, vẫn là sự vươn tới của các dòng Sông lớn về Đại dương giải thoát.

Nhìn Phật giáo Việt Nam qua tia sáng trên đây, ta mới soi rọi vào tất cả hoạt cảnh ba mươi ba năm tăm tối của chính trường Việt Nam.

Chúng ta có thói quen đánh giá những biến động thời cuộc qua sự thành bại nhất thời. Và quên đi sự phóng tới không ngừng nghỉ của mạch ngầm đang nhào nặn cuộc sống và lịch sử. Cũng vậy, phát xuất từ mất tự tin và tinh thần nô lệ, người ta hay ảo luận CIA làm cái này, Cộng sản âm mưu thế nọ, làm như trên đời không còn ý lực nào khác hai cơ cấu này, làm như bản thân con người chỉ là con tốt thí thân ! Người ta khá bâng quơ, mơ hồ là CIA hay Cộng sản lợi dụng, nhưng không làm cuộc tổng kết chúng lợi dụng tới đâu và được gì cho phúc lợi con người ? Chúng đang trở thành cái chi ? Còn hiện tình của những lực lượng « bị lợi dụng » kia nay ra sao, đang làm gì, có thể giải quyết được gì chăng ?

Miệng tự hào Bốn nghìn năm văn hiến, nhưng suy nghĩ và hành động thì rập khuôn theo lý luận nhị nguyên của Hư vô chủ nghĩa, làm nên bi kịch Việt Nam qua hai cuộc chiến.


Câu thứ nhất : Thưa Thượng Toa, Phật giáo du nhập từ Ấn Độ vào VN trước cả Trung Hoa. Triết lý Phật giáo Viêt Nam hóa một phần, lâu ngày thấm vào nếp sống của dân VN : Từ cách đi đứng, cách cư xử, nằm, ngồi, đến cách thờ phượng ông bà tổ tiên v.v. Nghĩa là tất cả những gì ở VN đều thầm nhuần triết lý Phật giáo. Theo Thương Tọa thì Chính Phủ VN có thể nào tiêu diệt được Phật-giáo không ? Nếu có thì phải mất bao lâu ?

Hư vô chủ nghĩa phá hoại mọi sự, trừ nó. Chủ nghĩa Cộng sản là Hư Vô chủ nghĩa (xem Kostas Axelos trong Marx, Penseur de la technique : « la vision marxienne : forme avancée d’un grandiose nihilisme, d’un nihi­lisme planétaire » tr. 264).

Ngày nay, Cộng sản đâu còn là một phong trào quốc tế thuần nhất ? Hiện có nhiều thứ Cộng sản, chống phá, đàn hặc nhau. Đây là sự tiêu hoại thứ nhất của tư trào Cộng sản, trên bình diện ý thức và thực tiễn. Rõ ra, những thể chế cộng sản trong thế giới đang đánh giặc với nhau, đang tiêu diệt lẫn nhau (Liên Xô – Trung quốc, Liên Xô – Nam Tư, Liên Xô – Tiệp Khắc, Việt-Trung, Việt Nam-Cam bốt...). Chưa hết. Còn cả khối Tư bản cạnh tranh thị trường, chưa rõ ai thắng ai bại trong trận chiến cuối cùng.

Một ý thức hệ mất sinh khí, như ngọn đèn thiếu dầu, làm sao lãnh đạo nhân loại ? Làm sao còn xung lực phá hoại, dù bản chất nó là hư vô hóa mọi sự ? Chính nó đang hư vô hóa nó, trước khi hư vô hóa tha nhân. Một ý thức hệ manh nha chưa đầy thế kỷ, đã mất tính chủ đạo, hết là nguồn khởi hứng cho nhân loại, thì làm sao có thể tiêu diệt được một tư tưởng sinh động và hùng tráng như đạo Phật, vốn có quá trình hoạt dụng trên 2500 năm, và đang có khả năng chuyển dựng một nền văn hóa tổng hợp cho nhân loại lao đao ngày nay ?


Câu thứ nhì : Bản tin tức cùa Tân Hoa xã đánh đi từ Saigon, năm 1976, nói rằng chính phủ VN có kế hoạch tiêu diệt Phật giáo vì cho rằng Phật giáo là mầm móng của sự chống đối tư tưởng Marx-Lenine. Giáo hội Phật giáo VN có biết kế hoạch đó không ? Nều có xin Thượng Tọa cho biết chi tiết về kế hoạch này ? Liệu Chính phủ VN có thành công trong kế hoạch này không ?

Chẳng cần bản tin Tân-Hoa-xã đánh đi từ Saigon năm 1976 mà ba vị nêu ra, người Phật tử mới biết tới kế hoạch Cộng sản tiêu diệt Phật giáo.

Như trên đã nói, bản chất Hư vô chủ nghĩa của người Cộng sản là tiêu diệt mọi sự, trừ nó. Phật giáo nằm trong mọi sự phải tiêu diệt này.

Từ một lý thuyết hẹp hòi, tới sự hiểu biết thiển cận và máy móc, đa số người Cộng sản ở Hà Nội đã mất khả năng hiểu biết các tư trào văn hóa và tư tưởng lớn lao ngoài hệ ý thức cộng sản. Với thiên kiến đà điểu, Cộng sản không lãnh hội được thế nào là tôn giáo, thế nào là Phật giáo. Họ đánh lộn sòng mọi sự để đi tới lý luận « phân minh » cận thị của bạn - thù, cách mạng - phản động, nhị nguyên tính par excellence.

Đã từ lâu, người Phật tử ý thức đến sở trường cùng sở đoản của kế hoạch tiêu diệt mù quáng này. Đây là nguyên nhân của những cuộc vận động Hiển sinh Phật giáo từ những năm 30.

Năm 1945, theo với cao trào đấu tranh giành độc lập dân tộc với toàn dân, Phật giáo đã thích nghi cùng nghĩa vụ chung, đồng lúc phát khởi phong trào Phật giáo trên ba mặt :

a) đặt nền tảng tư tưởng cho một phong trào văn hóa mới mang truyền thống dân tộc và nhân loại ;

b) gây nguồn khởi hứng qua hành động trên nền tảng Từ bi – Trí tuệ bát nhã đặc thù và khai phóng của giáo lý đạo Phật ;

c) cơ cấu hóa phong trào quần chúng Phật tử.

Từ đây có hai khuynh hướng « tùy duyên bất biến » của Phật giáo đã lao vào thời cuộc. Nhưng một đã bị vô hiệu rồi tan rã, và một đang tựu thành :

A - Khuynh hướng thứ nhất tham gia kháng chiến giành độc lập dân tộc, dần dà mới rõ ra (như toàn dân, trí thức cũng như các đảng phái quốc gia) cuộc kháng chiến không đơn thuần giành độc lập dân tộc, mà mục tiêu chính phục vụ cho ý thức hệ ngoại lai Cộng sản. Dưới sự chỉ đạo kháng chiến của Đảng Cộng sản, mọi lực lượng dân tộc và tôn giáo đều bị tiêu diệt, để dễ bề Xích hoá Việt Nam cho Cộng sản quốc tế. Đại biểu khuynh hướng này có Pháp sư Trí Độ và Bác sĩ Lê Đình Thám cùng nhóm trí thức Phật giáo Dân Chủ Mới.

Mấy tháng trước đây, ta nghe Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình tuyên bố tại Roma về kinh nghiệm mới của người Công-giáo Việt Nam : “Rao truyền Phúc-âm bằng ngôn ngữ mới của Chủ nghĩa Xã hội”. Nhưng kinh nghiệm này, một số Phật tử đã thực hiện từ những năm 45, lúc mà số lớn quần chúng còn ngây thơ tin tưởng vào lời hứa hẹn đường mật của người Cộng sản về chủ trương đoàn kết (để dễ tiêu diệt) qua các phong trào ngụy trang như Mặt Trận Việt Minh, phong trào Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc, sau này có thêmMặt Trận Giải Phóng Dân tộc Miền Nam,  Liên Minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Việt Nam.

Ngày nay, chúng ta cảm động đọc tập sách khá tiến bộ « PHẬT GIÁO VÀ DÂN CHỦ MỚI » của Đạo hữu Nguyễn Hữu Quán, trong Ban Tuyên Huấn của Hội Phật-giáo Việt Nam, và do Hội Phật Giáo Việt Nam Miền Nam Trung Bộ ấn hành đầu năm 1950. Đây là bài thuyết trình trước Đại Hội Phật Giáo Kháng chiến Liên Khu 5, với sự có mặt của nhiều cán bộ cao cấp Cộng sản ngày 27.11.1949. Ta thấy rõ tất cả chân thành và tin tưởng của người Phật tử chân chính, sẵn sàng hiến thân cho cuộc đại đoàn kết dân tộc để cứu nước, mà chẳng hề đặt một điều kiện cho quyền lợi riêng tư của Phật giáo. Ngôn ngữ cũng như ý tưởng hoà nhập với thời cuộc đất nước trong cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc, tuy vẫn giữ nguyên bản chất Phật giáo (tùy duyên nhưng bất biến), không chịu biến tướng.

Kết quả : tổ chức quần chúng Phật giáo bị hoàn toàn tiêu diệt. Đại hội Phật giáo ở Liên khu 5 năm 1949 là đại hội chót. Khóa học Phật giáo tại Liên khu 4 (miền Bắc Trung Bộ) vào năm 1948 do Pháp sư Trí Độ hướng dẫn cũng là khóa học Phật pháp thuần túy cuối cùng !

Pháp sư Trí Độ, một vị thầy ưu tú dạy giáo lý của Phật giáo Việt Nam trước 1945, nay bị “biên chế” thành tấm bình phong chưng diện cho Nhà Nước Cộng sản Hà Nội. Bác sĩ Lê Đình Thám (đã qua đời), một đại Cư sĩ đóng vai Thầy cho giới Tăng sinh thập niên 30, và lãnh đạo tổ chức Phật giáo miền Trung, nay biến thành một viên chức vô thưởng vô phạt trong Ủy Ban Hoà Bình của Hà Nội, một bình phong khác chưng diện trong cửa hàng khoe mẽ thế giới. Trước tác độc nhất của Bác sĩ Thám trong 9 năm kháng chiến là chú giảiKinh Thủ Lăng Nghiêm. Phải chăng qua kinh này, vì tình trạng không được hành đạo, không còn được tự do đến chùa dạy đạo cho Phật tử miền Bắc, Bác sĩ Thám muốn ẩn dụ cho Phật tử miền Bắc thấy rõ nguồn sống chân thật của Phật giáo đang hiện rõ quanh ta qua mọi loài, mọi vật, mọi sự nghe, thấy, biết, hàng ngày, như Đức Phật đã giảng dạy cho ông A Nan ? Trước tác này chỉ được nhà nước cộng sản in ra mấy chục bộ, dành tặng các nước bạn Phật giáo mà Bắc Việt ve vãn, như Ấn Độ là một, nhưng không hề được in và phổ biến trong quần chúng Phật tử. Trong khi đó những tập thơ của ông Hồ hay Tố Hữu được lấy tiền của nhân dân in ra hàng trăm nghìn bản !

B - Trái lại ở Miền Nam, khuynh hướng thứ hai dẫn cuộc đối kháng vào môi trường văn hóa và tư tưởng Việt đã kết tinh và thành tựu. Dù cuộc tựu thành này bị ngắt quãng bởi lần « đại thắng » tạm thời vào tháng 4.1975 của Cộng sản Bắc Việt. Lúa đã gieo rồi, vài cơn giông tố, vài ngày hạn hán không tiêu huỷ được cánh đồng.

Chúng ta đã thấy rõ mấy năm trên, cơ cấu lan rộng và vững chãi của tổ chức Phật giáo trong quần chúng các cấp, từ thành thị đến thôn quê, bước từ Tổng hội Phật giáo Việt Nam sang Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Trọng thiết nhất vẫn là sự hình thành của tư trào văn hóa và tư tưởng mới, khởi từ Thiền và Bát Nhã, đã bắt rễ trong đời sống tâm thức và văn học nghệ thuật miền Nam (xem bản tham luận của Võ Văn Ái tại Đại Hội Quốc Tế các Nhà Đông Phương học lần thứ 29 tổ chức tại đại học Sorbonne tháng 7 năm 1973 : « Le Bouddhisme dans la littérature du Sud Viêt- Nam » in trong Littératures Contem­poraines de l’Asie du Sud Est, Asiathèque Paris, 1974). Mọi cuộc thay đổi nhân sinh luôn khởi đầu bằng ý thức, mà văn hoá và tư tưởng biểu trưng.

Muốn hiểu rõ tác dụng to lớn của tư trào này, chúng ta chỉ cần đọc các báo chí phân tích của Cộng sản ở Hà-nội. Tuy nhiên khi đọc các bài phân tích đó, ta phải cảnh giác về sự dùng chữ bừa bãi, chửi rủa thiếu trí thức, cùng nhận định thiển cận và hẹp hòi của những người viết thuộc loại « ếch nắm đáy giếng ». Đối với họ, hễ cái gì không phải Cộng là của đế quốc, của thực dân đủ kiểu — một thứ nhận định quê mùa theo hủ tục Trung-cổ.

Trong bài « Mấy suy nghĩ về vấn đề nghiên cứu văn học thực dân mới ở miền Nam », nhà nghiên cứu cộng sản Nguyễn Huy Khánh viết : « ... Văn hóa thực dân mới, cho dù ngụy văn hóa cũng không thể ví như thây ma được. Chế độ ngụy đã chết nhưng văn hóa, sách vở của nó thì đã chết ngay đâu ? Dù có chết, nó cũng là thây ma (sic) mang đầy vi trùng độc hại, có khả năng sinh sôi nẩy nở, hết sức nguy hiểm cho xã hội, chẳng những cho thế hệ này mà không khéo cho cả thế hệ tiếp theo... » (...) « Có ý kiến lại cho rằng ít ra phải 5, 10 năm mới có thể hoàn thành công trình nghiên cứu văn hóa thực dân mới một cách hoàn chỉnh… ». Rồi ông Khánh thú nhận : « Trong một số trường hợp, việc phân tích, phê phán chưa được thấu tình đạt lý, đôi khi còn quy chụp không thỏa đáng »(Tạp Chí Văn Học Hanoi, số 4-77, tr. 21).

Trả lời câu hỏi thứ nhì này ta có thể nói : Không có kế hoạch chính trị nào thành công khi đối đầu với một phong trào văn hóa và tư tưởng bao dung, sáng tạo và khai phóng như Phật giáo.


Câu thứ ba : Tài liệu của Đàng Cộng-sản VN dành cho đảng viên, cũng như tài liệu mật của Hoa Kỳ bị tiết lộ rằng, năm 1963, người Mỹ muốn mang quân vào VN, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông cố vấn Ngô Đình Nhu không đồng ỷ, họ cố tình gây ra vụ Phật giáo miền Trung để lật đổ Tổng Thống Diệm. Thưa Thượng Tọa, có hai vấn đề tế nhị được đặt ra ;

Giáo Hội Phật giáo VN là công cụ của người Mỹ để thi hành tham vọng tại VN trong mưu đồ trở lại Hoa lục ;

Giáo Hội Phật giáo VN vô tình bị người Mỹ lợi dụng. Tức là các vị lãnh đạo Phật giáo VN đã bị lừa, thiếu « Mẫn tuệ ». Xin Thượng Tọa cho biết điều nào đúng ? Hay còn vấn đề thứ ba không ?

Cuộc tranh đấu năm 1963 của quần chúng Phật giáo là thế tất yếu của ngọn hỏa diệm sơn tới thời phun lửa. Mọi yếu tố, âm mưu bên lề là thứ yếu. Đây là sự vươn vai chuyển thời của một lực lượng quần chúng chuẩn bị từ hơn 30 năm trước của Phong trào Chấn hưng Phật giáo, khi sinh mệnh của chính tín ngưỡng có hai nghìn năm lịch sử bị bộ máy cai trị của thực dân Pháp, rồi nhà nước Đệ nhất Cộng hoà uy hiếp. Như con gà con tới lúc phải mổ vỏ trứng. Thế nhưng có những tay viết mù chữ, mù kiến thức, dám cả gan viết rằng Phong trào Chấn hưng Phật giáo do thực dân Pháp bày ra để ru ngủ quần chúng thuộc địa (sic) !

Điều thấy rõ về biến cố lịch sử 1963, là thoạt đầu, các nhà lãnh đạo Cộng sản Bắc Việt đón nhận thoải mái phong trào mà họ tưởng chỉ là phong trào quần chúng tự phát, họ nghĩ rằng có thể lèo lái sử dụng cho viễn đồ chính trị ngoại lai của họ. Nhưng niềm vui không lâu. Vài tháng sau, họ chợt nhận thức qua phong trào đấu tranh của Phật giáo một Ý thức mới và hiện đại, đang hình thành, đang biến ra giải pháp chính trị có yếu tố quyết định, sẽ phá hỏng con bài Mặt Trận Giải Phóng của Bắc Việt. Mấy bài viết nhận định của sử gia Mác-xít Trần Văn Giàu đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử cho thấy mối âu lo này. Nên họ tìm cách thả người vào phá. Bên phía Hoa Kỳ cũng vậy, cố biến tướng Phật giáo cho quyền lợi và chính sách chiến tranh vô vọng của Hoa Kỳ.

Hai tư trào chính trị cực đoan của Hư vô chủ nghĩa quốc tế, đã gặp nhau trong thế giành giật và khống chế lực lượng quần chúng Phật-giáo Việt Nam.

Không bên nào thấy con Đường Nhân Bản lớn của Phật-giáo, cho nên đã hãm hại dịp may hiếm có để giải quyết vấn nạn Đông Nam Á và nhân loại . Hậu quả khiến ngày nay Phật giáo sống chung cảnh ngộ « nạn nhân » với hàng trăm triệu dân Châu Á.

Nhưng Phật giáo không hề bị lợi dụng. Bởi chưa một lần nào, Phật giáo hiến thân làm con tốt cho hai khối. Và ai dám nói là sẽ không có ngày Khối Phật tử Châu Á đứng dậy thay đổi thời cơ ?

CHÚ THÍCH CỦA NAM GIAO: Về vai trò và chủ trương của Mỹ trong biến cố 1963 tại miền Nam Việt Nam, đặc biệt về luận điểm cho rằng hai ông Diệm Nhu bị Mỹ giết vì hai ông không chịu cho quân Mỹ vào miền Nam, thì những tài liệu được chính phủ Mỹ giải mật mới nhất và chung quyết nhất cho đến năm 2013 (kỷ niệm 50 năm) đã chứng tỏ rằng luận điểm nầy là gian dối vô bằng cớ của nhóm tàn dư Cần Lao hoài Ngô tại hải ngoại mà thôi.
Xin xem hai tác phẩm tổng hợp (của 99 tác giả) về toàn bộ chế độ Ngô Đình Diệm và riêng về Vai trò của Mỹ trong năm 1963 sau đây:


Tuyển tập 3 Tập “1963-2013, NĂM MƯƠI NĂM NHÌN LẠI”, 99 tác giả.
Nxb Thien Tri Thuc, 2013, California, Hoa Kỳ.
          (P.O. Box 4805, Garden Grove, CA.92842-4805 – USA)



“HỒ SƠ MẬT 1963
Từ Các Nguồn Tài Liệu Của Chính Phủ Mỹ” 
Nhóm Thiện Pháp thực hiện  
Nxb Thien Tri Thuc, 2013, California, Hoa Kỳ.
(P.O. Box 4805, Garden Grove, CA.92842-4805 – USA)  


Câu thứ tư : Sau khi giết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, người Mỹ gây thêm nhiều biến cố nữa, làm cho VNCH ung thối, CSVN mạnh hơn lên, họ mang quân vào VN xong, lại được chính phủ Quân nhân của hai ông Thiệu Kỳ. Nhưng thấy rằng hai ông Thiệu Kỳ không muốn thiết lập một VN có Hiến Pháp, dầu là Hiến Pháp làm cảnh, họ gây ra vụ biến động Phật giáo Miền Trung, ép buộc hai ông Thiệu Kỳ phải tổ chúc bầu cử Quốc Hội hầu có một chính phủ « hợp hiến, hợp pháp » chuẩn bị cho Hội nghị bốn bên tại Paris cho có chính nghĩa hơn để nói chuyện với C.S. Bởi CS chỉ cho chính phủ miền Bắc là « hợp hiến » thôi, còn chính phủ CHMNVN không có những thứ ấy để trang bị.

Bây giờ các vị lãnh đạo Phật giáo cả hai phe Ấn Quang (tranh đấu) và Việt Nam Quốc tự chồng đối nhau vì Hiến chương Phật giáo, có biết âm mưu của người Mỹ không ?

Các vị lãnh đạo Phật giáo có nhận thấy rằng sự chống đối nhau của hai khối Phật giáo làm cho tinh hình rối loạn, CS mạnh thêm, và người Mỹ dễ bề xen vào nội bộ VN không ?

Cuộc tranh đấu mùa Xuân năm 1966 của Phật giáo miền Trung chứng tỏ sự trưởng thành chính trị cứu nguy của tập thể Phật giáo đồ, mà mới ba năm trước đó còn là một phong trào thuần túy tín ngưỡng. Đây là cuộc vận động Dân chủ thiết thực, mà giới quân phiệt không chịu thực hiện. Một quốc gia mà lại không có Hiến pháp, không có cả Quốc hội Lập Hiến, làm sao tranh đua chính nghĩa với Cộng sản trong lòng dân với bộ máy chiến tranh khổng lồ ? một chính phủ không thân dân, không có dân ? Muốn chiến đấu chống chế độ độc tài toàn trị ở Bắc Việt, Việt Nam Cộng hoà phải có Hiến pháp, phải có Quốc hội lập Hiến, phải có một chính phủ dân sự. Mục tiêu này là đích nhắm của cuộc tranh đấu Phật giáo miền Trung năm 1966.

Kết quả ? Chính quyền hai ông Thiệu Kỳ phải chùn bước, chấp nhận bầu cử Quốc hội lập hiến để chuẩn bị bản Hiến Pháp cho Đệ Nhị Cộng hoà. Hai ông Thiệu Kỳ tuy chống Cộng lại áp dụng đường lối của người Cộng sản Lénine, lùi một bước để tiến tới ba bước. Hiến pháp và Quốc hội đẻ ra làm bình phong cho tham vọng quyền bính phi chính trị của hai ông Thiệu Kỳ, thay vì đáp ứng ngưỡng vọng dân chủ của toàn dân.

 (Một vài cột mốc để hiểu tiến trình tranh đấu của Phật giáo cho dân chủ thực thụ này : 13.3.1966 : Trước tình thế hỗn loạn, nguy hiểm của chính trường Saigon, Viện Hoá Đạo ra tuyên bố xác định lập trường Phật giáo, yte6u cầu cho các vị tướng nào có công với Cách mạng dù ở trong nước hay ngoại quốc phải được trở lại quân đội. Các tướng lãnh trở về vị trí quân sự. Lập Quốc hội và chính phủ đoàn kết quân dân. 19.3.1966 : Trước những tuyên truyền vu cáo, Viện Hoá Đạo ra tuyên cáo Phật giáo không công kích chính phủ, mà chỉ đòi hỏi một Quốc hội và một Chính phủ dân sự. 28.3.1966 : Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ hội đàm với các Thượng toạ Thiện Minh, Tâm Châu, và Hộ Giác về việc thành lập các cơ cấu dân chủ. Nhưng sau đó, ông Kỳ đã phản bội Phật giáo khi đưa quân ra Đà Nẵng đàn áp phong trào Phật giáo hai tháng sau đó. 8.4.1966 : Trả lời phóng viênNewsweek và Times, Thượng toạ Trí Quang xác định Phật giáo không liên hiệp với Cộng sản, không đòi lập Quốc hội để đòi Mỹ rút quân, không chống viện trợ Mỹ vì VNCH cần. 19.4.1966 : Thượng toạ Thiện Minh ra thông cáo tuyên bố Phật giáo đang bị khiêu khích, Phật tử phải đề cao cảnh giác).

Ngoài ra, với hai, ba khuynh hướng đối nghịch nhau trong một toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Saigon ; vì những lối nhìn trái ngược ở thể chế dân chủ tuyệt đối và lưỡng đảng của Hoa Kỳ ; cộng thêm việc Hoa Kỳ chỉ đếm xỉa tới quyền lợi riêng tư của quốc gia mình, nên bất chấp sinh mệnh và ngưỡng vọng các dân tộc thuộc thế giới đệ tam... đẩy Hoa Kỳ « chơi trò chính trị » tại miền Nam, thay vì đóng vai « lãnh đạo tinh thần » cho thế giới tự do !

Đây là nguyên nhân hy sinh phung phí một lực lượng quần chúng thuần hảo, là phong trào Phật giáo. Việc tranh chấp giữa một thiểu số các vị lãnh đạo Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự vốn là vết thương đau đớn trong lòng mọi Phật tử, nhưng chẳng sâu xa đến độ chia xé phong trào quần chúng Phật tử toàn quốc. Sự chia rẽ ở đỉnh cao này chỉ mang tác dụng chính trị phòng khách ở Saigon mà thôi. Các vị lãnh đạo nghĩ sao thì không rõ, chứ quần chúng Phật giáo chẳng bao giờ đòi hỏi hay lý tới việc dành bao nhiêu ghế Bộ trưởng cho tôn giáo mình. Quần chúng Phật giáo chỉ tha thiết và nhất tâm một điều : Chấm dứt sự khổ đau của đất nước, hiến mình cho an lạc đồng bào.



Câu thứ năm : Sau khi đã đạt được mục tiêu ép hai ông Thiệu Kỳ phải tổ chức bẩu cử, người Mỹ thấy Phật giáo mạnh quá (Ấn Quang) mới yểm trợ ngầm hai ông Thiệu Kỳ dẹp vụ Phật giáo miền Trung và phong trào bàn Thờ xuống đường tại Saigon.

Thưa Thượng Tọa, các vị lãnh đạo Phât Giáo hai phe có biết âm mưu ấy không ? Nếu biết, với tinh thần từ bi hỉ xả các vị có ngồi lại với nhau để chống lại âm mưu đó không ? Nếu không vì lý do nào ?

Không có gì khác câu hỏi trên.


Câu thứ sáu : Xét qua tiểu sử các vị lãnh đạo Giáo Hội Phật giáo VN Ấn Quang, chúng tôi thấy đều là những vị có học thức, kiến thức... Tổ chức của Giáo hội chặt chẽ. Giáo hội đi sát với Phật tử. Chắc chắn các vị biết rõ rằng chính phủ Bắc Việt dựng lên CMLT/ CHMNVN để làm bình phong tranh đấu, hầu đạt được mục tiêu xây dựng một VN thống nhất theo chủ nghĩa cộng sản. Các vị cũng biết rằng người CS không bao giờ bao dung tôn giáo nhất là tôn giáo đó có ảnh hưởng sâu đậm trong quần chúng như Phật giáo. Vì những lý do nào các vị lại chủ trương « hoà hợp hoà giải » với cộng sản ? Chủ trương này có thể thấy rõ khi những dân biểu, nghi sĩ thuộc khối Ấn Quang đỡ đầu đều chủ trương như thế.

Tài liệu của Đảng Cộng sản VN gần đây thì cho rằng các vị là tay sai của nguời Mỹ để thiết lập chế độ Dương Văn Minh. Một tài liệu khác lại cho rằng người Mỹ đã « tạo ra cái hoà hợp hoà giải » làm trái đệm rút khỏi VN giật sập Nam VN trao cho CS.

Dư luận ngưòi VN thì cho rằng các vị lãnh đạo Phật giáo nhẹ dạ bị CS đánh lừa.

Xin Thượng Tọa cho biết ý kiến về tất cả những vấn đề đó. Sự thực theo Thượng Toa ra sao ?

Kể cả chủ trương « không hoà hợp không hoà giải » với Cộng sản, qua quốc sách « Bốn Không » của ông Thiệu cũng chẳng cứu vãn được miền Nam ! Còn nói tới vấn đề này, là còn đứng ở ngọn mà xem việc. Muốn chỉnh bóng, phải thay hình. Phải hạ mắt xuống gốc ngọn của sự thế.

Thời đó, Miền Nam thôi còn là then chốt trong địa bàn quyền lợi và địa chính của Hoa Kỳ. Nếu Hoa Kỳ « muốn », họ chỉ cần điều động Hạm Đội thứ Bảy là thanh toán chiến trường miền Nam trong 24 tiếng đồng hồ. Hoặc họ chỉ cần nhấc ống nói đỏ sang điện Cẩm Linh mặc cả một vài điều là yên.

Tuy nhiên lỗi không riêng người Mỹ. Lỗi chính đến từ người Việt Nam. Chín phần mười các nhà « lãnh đạo » Miền Nam « làm chính trị » với niềm tin ngây thơ và thiển cận là « Mỹ không bao giờ bỏ mình ! ». Vì vậy, họ nằm ngủ trong sự ỷ lại và thủ lợi. Họ bất cần dân. Suốt bao nhiêu năm họ chẳng hề có một sáng kiến tối thiểu đánh lên câu hỏi : « Nhưng nếu Mỹ bỏ mình thì sao ? » hầu đặt kế hoạch đối phó, phát triển lòng tự tin, tự lực và tư trọng của người dân Việt.

Thất bại đến từ đây.

Chẳng nên dông dài vu khoát Phật-giáo chủ trương « hoà giải hoà hợp » với Cộng sản nên đất nước mới ra như vậy. Thử hỏi : Quân đội, công an, cảnh sát và tiền viện trợ điều hành cuộc Chống Cộng nằm trong tay ai ? Ai khác chứ không là Phật giáo !

Tuy nhiên, vấn đề sẽ khác đi, nếu lực lượng quần chúng, trong có Phật giáo được quyền góp mặt ở bàn Hội Nghị Paris, như lời một đại diện phong trào Phật-giáo ở hải ngoại đề nghị qua các cuộc phỏng vấn trên đài Phát thanh và Truyền hình quốc tế lúc bấy giờ.

Cũng nên nói lại một lần : phải phân biệt lập trường « hoà hợp hoà giải » giữa người Việt, như tình tự dân tộc có từ thuở Vua Hùng của quần chúng lớn rộng có ý thức, đòi thực hiện trong tư thế đồng đẳngvà bình đẳng với Cộng sản. Khác với lá bài chính trị « hoà hợp hoà giải » của Hà Nội như chiến thuật nhằm phân hoá, chia trị, rồi tiêu diệt phe người Việt Dân tộc.

Do đó, các cuộc xuống đường của Phật giáo đồ thời Việt Nam Cộng hoà chỉ là hành xử chính đáng của người công dân tự do trong các quốc gia tự nhận là dân chủ. Chúng ta từng chứng kiến bao nhiêu cuộc biểu tình của người dân Hoa Kỳ trước toà Bạch Ốc, hay các cuộc biểu tình rầm rộ trên đường phố Paris chống các chính sách hại dân của chính phủ. Họ có bị tố là Cộng sản đâu ?

Người Phật giáo Việt Nam cũng thế, trí tuệ nhắc họ phải chống đối các chính quyền mà họ biết rõ vô tình hay cố ý đưa miền Nam vào tay Cộng sản.


Câu thứ bảy : Mở đầu câu chuyện với đồng bào Phật tử hôm nay, Thượng tọa có nói : ngày 30.4.1975, khi quân đội cách mạng tiến vào Saigon, mọi người dân đều nôn nao, trong lòng mừng rỡ VN thống nhất, độc lập. Nhưng chúng tôi theo dõi bbáo chí, truyền hình, tài liệu về VN từ 1975 đến giờ, thì thấy :

Khi quân đội Nam VN rút khỏi Cao Nguyên, có trên 150 ngàn người ùn ùn bỏ chạy về duyên hải, để đến nỗi quân đội bị cản không rút được. Cộng sản đánh tan quân đội, tiêu diệt gần hết 150 ngàn dân.

Khi chính phủ trung ương ra lệnh cho Huế, Quảng Trị di tản về Đà Nẵng thì dân chúng hai tỉnh này lại ùn ùn bỏ chay về, kéo theo sự sụp đổ của toàn 5 tỉnh bắc VNCH.

Dân chúng 5 tỉnh Bắc VNCH tranh cướp nhau xuống tàu chạy vào Saigon chết chìm rất nhiều, nhiều nguời chết trên xà lan.

Khi quân đội Bắc VN tiến đến Nha Trang, người VN bắt đầu di tản ra ngoại quốc. Chúng tôi đã thực hiện những phiếu thẩm vấn họ như sau :

761 tại Hương cảng (tháng 5 năm 1975) ;
421 tại Mã Lai, Úc (từ tháng 5-75)
4677 tại Hoa Kỳ (tháng 5.75)
699 tại Thái Lan (từ 1975 đến tháng 7.1977).

Tất cả đều cho rằng : Dân chúng VN 99% đều ghê sợ Cộng sản muốn trốn đi nhưng không có phương tiện. Ngày CS. vào Saigon, dân chúng run sợ, không biết sẽ bị tắm máu bao giờ.

Thưa Thượng Tọa, căn cứ vào những yếu tố nào, Thượng tọa cho rằng khi quân đội « Nhân dân » tiến vào Saigon, dân chúng mừng rỡ ? Có phải đó là tin do Phật giáo hay chỉ riêng các vị lãnh đạo Giáo Hội Phât giáo Ấn Quang hay riêng cá nhân Thượng Tọa ?

Là chuyện riêng tư của Thượng toạ Mãn Giác, xin nhường Thượng tọa trả lời.


Câu thứ tám : Thượng Tọa có nói trong khoảng giữa buổi thuyếr trình rằng cơ sở của Giáo Hội tại VN khắp hạ tầng rất chặt chẽ. Chỉ có ba nơi là : Mỹ Tho – Cần Thơ - Tây Ninh là chính phủ VN lập được « Hội Phật giáo yêu nước », tức công cụ của chính phủ. Còn lại tất cả đều giữ vững tinh thần đoàn kết, trung kiên với giáo hội... Như vậy là tinh thần Phật giáo tại VN về tổ chức còn chặt chẽ. Nhưng, tại hải ngoại, chúng tôi nhận được nhiều ấn phẩm đề « Chi bộ Phật Giáo Việt Nam Hải Ngoại », « Hội Phật Giáo Yêu Nước tại Pháp » v.v... nhiều nước khác cũng có tổ chức như vậy. Thượng tọa Nhất Hạnh được Thượng tọa xác nhận « vẫn là đại diện của Giáo Hội Phật Giáo VN thống nhầt (Chùa Ần Quang) ». Nhưng chúng tôi thấy những vị Tăng Ni VN hải ngoại đều ít nhiều tự ý hành động, không có liên hệ gì tới Thượng tọa Nhất Hạnh. Ngay khi Thượng tọa tới Pháp, nhiều vị Tăng ni đã có những lời lẽ công kích Thượng tọa. Thượng tọa có nghĩ rằng nên tổ chức lại Giáo Hôi Phât Giáo VN hải ngoại không ? Làm thế nào để tổ chức chặt chẽ được như ở VN ?

Một Phật tử VN là ông Võ Văn Ái đã công khai đả kích Thượng tọa Nhất Hạnh nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề tố giác Thượng tọa chung sống với cô Cao Ngọc Phượng gọi là « vợ chống Nhất Hạnh Cao Ngọc Phượng ». Thưa Thượng tọa nếu ông Ái bịa đặt thì tại sao Thượng tọa Nhất Hạnh và cô Cao Ngọc Phượng không kiện ra toà án ? Nếu có, sao Thượng tọa không khuyên Thượng tọa Nhất Hạnh hoàn tục ?

Dân tộc Việt Nam đang đau khổ.

Vận mệnh Việt Nam nằm trong tay tất cả những ai còn nhận mình là người Việt. Tất cả những âm mưu phá hoại sự kết hợp các phong trào của người Việt Dân tộc ở Hải ngoại là một tội ác. Hành động này ác độc ngang với nhà cầm quyển Cộng sản hành hung đồng bào ruột thịt ta trong nước. Bản thân khối Phật giáo Hải ngoại cũng phải kết hợp, nếu không, thì danh nghĩa Phật tử chẳng còn giá trị gì trên Con Đường cứu khổ cho vui mà đức Phật đã tuyên xướng 2500 năm hơn.

Một Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất ở Hải Ngoại sẽ hình thành, khi tinh thần lục hoà hiện thế trong sinh hoạt thường nhật, chứ không còn là lời thuyết giảng suông đầy tự mãn trên chánh điện mỗi ngày chúa nhật ; khi các chùa viện hiện hữu khắp nơi biến thành các trung tâm sinh hoạt văn hóa, giáo dục như các chùa dưới thời Lý, thời Trần ; khi các tăng sĩ sống lại cuộc đời của Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, các Thiền sư Nguyễn Trãi, Hương Hải… hay chịu thở từng niệm một với Bồ Tát Thích Quảng Đức ; khi các Cư sĩ thoắt biết mình là hóa thân của A Dục, của Duy Ma Cật...

Ngày nay, vấn đề đại diện của cá nhân này hay cá nhân kia cho phong trào này, phong trào nọ, chẳng còn nghĩa lý gì. Giá trị chăng, chỉ là giá trị của một mảnh bằng không hơn không kém. Vấn nạn là trước cảnh tang thương đất nước, AI mang hết khổ đau của sinh dân lên vai mình, AI nói lên tiếng rên than của dân, thở cái hậm hực căm hờn của dân, hành động cho sự giải thoát dân, KẺ đó mới đáng làm người phục vụ dân và nước.

Thời buổi của các đại diện, lãnh tụ vênh váo hay nghiêm trang (vặt) đã lỗi thời ! Kẻ nào đi tìm minh quân hay thủ lĩnh chỉ rước lấy thất vọng và thất bại. Ngày nay, minh quân không là cá nhân hay huyết thống truyền thừa. Vì minh quân là ý chí cứu dâncứu người nằm trong mọi trái tim, bộ óc mọi người, như sự đánh thức thường trực cho xung lực hành động giải nguy.

Những chi tiết khác trong câu hỏi này có tính cách riêng tư và không quan trọng cho đại cuộc, xin nhường cho các vị hỏi hay đương sự được đặt câu hỏi.


Tự thân đã nguyện hiến cúng cho đất nước và chúng sinh, chúng tôi mạo muội trả lời mấy câu hỏi liên quan đến Phật giáo, mà nhiều năm qua đang vô tình gây tạo ngộ nhận, nếu không là chủ trương vu hãm một tôn giáo của dân tộc để dễ bề đánh tráo sự xâm lược vào tinh não dân tộc bằng con đường văn hoá, chủ thuyết và tín ngưỡng ngoại lai.

Nếu chẳng thỏa mãn được ai, thì ít ra cũng dóng lên sự tín tâm của người con Phật không ngừng phục vụ tổ quốc và nhân dân suốt chiều dài hai nghìn năm lịch sử. Có chi thất thố, mong các bậc cao minh điểm nhãn.

NGUYÊN THÁI
Paris - Quê Mẹ số 21 & 22 – 30.4.1978

Nguồn: