Hiển thị các bài đăng có nhãn trần trọng sỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trần trọng sỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 12 tháng 6, 2017


VÀI NGỘ NHẬN VỀ ALBERT EINSTEIN


Nguyễn Xuân Xanh


LGT (hoangnamgiao) – Bài viết “Vài Ngộ Nhận Về Albert Einstein” dưới đây, viết vào “Tháng 5,2017  của tác giả Nguyễn Xuân Xanh được đăng trên Diễn Đàn Forum (Paris) gồm hai phần. Phần thứ nhất có  chủ  đề  Khoa học (“Tranh cải quyền ưu tiên về Thuyết tương đối rộng giữa Einstein và Hilbert”) và Phần thứ nhì thuộc lãnh vực Tôn giáo (“Một phát biểu về Phật giáo được cho là của Einstein”).

Chúng tôi chỉ đăng lại dưới đây Phần thứ nhì để bổ túc cho một bài viết cũng có mục đích tương tự. Đó là bài “Phật giáo với những ảo tưởng thời thượng” vốn đã được tác giả Trần Trọng SỹViết xong tại Paris, 24.04. 2017” và trang nhà Sách Hiếm phổ biến đúng một tháng sau (24.05.2017).
Không hẹn mà trong mùa Phật Đản năm 2017, những người quan tâm đến Einstein và Đạo Phật (nhất là Phật tử Việt Nam) đều được xác nhận rằng một số tuyên bố được cho là của nhà bác học Albert Einstein thật ra, cho đến năm 2017 nầy, không có nguồn gốc rõ ràng, thậm chí có trích dẫn (quote) còn tìm không ra nguồn.
Thái độ lương thiện trí thức của hai tác giả Nguyễn Xuân Xanh và Trần Trọng Sỹ thật đáng trân trọng, và phù hợp hoàn toàn với một trong những nội hàm của giáo lý nhà Phật: Đạo của Sự thật. Thật ra “sự thật” mà hai tác giả nầy phổ biến đã được giới nghiên cứu Phật học, ít nhất là tại Mỹ, biết từ lâu. Và cũng đã được thông báo và cảnh giác từ năm 2007, nghĩa là từ 10 năm trước, trên Internet.
Thật vậy, trên trang nhà Tricycle (một trong hai tạp chí nghiên cứu Phật học uy tín của giới học giả Mỹ, tạp chí kia là Shambhala) số 26.10.2007, sau một thời gian thảo luận sôi nỗi, đã có bài tổng kết “Einstein’s Quotes On Buddhism” của biên tập viên Philip Ryan. Ông đã kết luận bằng một cảnh báo: “Vậy thì dù những trích dẫn nầy có hấp dẫn và thú vị chăng nữa thì cũng nên cất chúng trong hộc tủ, hay ít nhất là đừng gán cho của Einstein, cho đến khi có ai đó có thể cho chúng ta biết nguồn gốc của chúng là từ đâu đến” (So these quotes, interesting and entertaining as they are, should be shelved, or at least have the Einstein attribution removed, until someone can tell us from whence they originally came.)
Đạo Phật đề nghị một con đường Giải thoát, mà trước hết là giải thoát khỏi sắc tướng. Đạo Phật không nương dựa vào thần linh, kể cả các “thần linh” khoa học cở Albert Einstein. Vì vậy, Phật tử chỉ nương dựa vào chính mình, tự mình thắp đuốc lên mà đi. Nói như nhà Sư người Úc Shravasti Dhammika: ''Tôi là người theo Phật bởi vì tôi tìm thấy trong Chánh pháp một nền minh triết đầy đủ, nhân bản, đầy thuyết phục và thực tiễn cho đời sống, (nó) phù hợp với nhu cầu và sinh mệnh của tôi một cách tuyệt vời, chẳng phải vì nó đã đoạt được một giải thưởng rơm rác nào đó. Và cho dẫu có 500 người lãnh giải Nobel bầu cho nó là tôn giáo tồi tệ nhất thế gian thì điều đó cũng chẳng thể lung lạc niềm tin của tôi dù chỉ là một mili-mét'' (I’m a Buddhist because I have found the Dhamma to be a complete, humane, convincing and practical philosophy of life that suits my disposition and needs perfectly, not because it won a straw poll. And even if 500 Nobel Prize winners voted it the worst religion in the world that wouldn’t shake my conviction one millimetre.) 




 VÀI NGỘ NHẬN VỀ ALBERT EINSTEIN

Có nhiều ngộ nhận về Albert Einstein. Trên mạng, nhiều sự gán ghép, nhái giọng văn ông, và được lan truyền mà không ai biết rõ nguồn gốc, như thể do chính Einstein nói. Vào các quán chay Việt Nam, người ta thấy trong danh sách các danh nhân ăn chay trường có cả Einstein. Hoặc Einstein là người thuận tay trái. Những chuyện đó không đúng sự thật. Einstein chỉ ăn kiêng theo yêu cầu của bác sĩ trong những lúc ông bệnh cần kiêng cữ, chứ không ăn chay trường, không có quyển sách nào viết về điều đó, cũng như viết về sự thuận tay trái của Einstein cả. Ngược lại có những tấm ảnh tư liệu cho thấy Einstein cầm bút tay phải, như một minh họa dưới đây.
Nhưng trong bài này, có hai sự ngộ nhận lớn mà chúng tôi muốn đề cập đến, một liên quan đến khoa học, về nghi vấn Hilbert là người đến đích trước, hay cùng lúc với Einstein, trong cuộc chạy đua thiết lập các phương trình trường của thuyết tương đối rộng vào năm 1915. Và thứ hai, liên quan đến tôn giáo, đến một phát biểu “rất Einstein” về Phật giáo từ lâu được lưu truyền và cho là của Einstein. Thiết tưởng đã đến lúc chúng ta cần làm sáng tỏ.
……
(2) Một phát biểu về Phật giáo được cho là của Einstein

Ngộ nhận thứ hai xoay quanh một phát biểu liên quan đến Phật giáo được lưu truyền rất lâu trên mạng, được xem như là phát biểu chính thức của Einstein mà không có nguồn gốc rõ ràng, chỉ thấy trích qua trích lại. Một phiên bản của lời trích này là:
Phật giáo có những tính chất đặc trưng của một học thuyết được chờ đợi trong (khuôn khổ) một tôn giáo vũ trụ cho tương lai: nó vượt lên một đấng Thiên Chúa có hình người, tránh được các giáo điều và thần học; nó bao trùm cả hai phần, tự nhiên và tâm linh; nó được xây dựng trên ý thức tôn giáo với niềm khao khát muốn trải nghiệm tất cả mọi thứ, tự nhiên và tâm linh, như một sự thống nhất đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo đáp ứng các tính chất này. Nếu có một tôn giáo đáp ứng những nhu cầu khoa học hiện đại, thì đó là Phật giáo.

Đó là phiên bản gần đây nhất mà vào một ngày nọ tháng 3 năm 2014, GS Cao Huy Thuần ở Paris “báo động” cho tôi biết rằng nó nằm trong quyển sách Perry Garfinkel, Buddha or Bust, nxb Harmony, 2007, trang 15. Nguyên văn tiếng Anh ở đó:

Trích dẫn nguồn gốc đây rồi! Nhưng lại rất ngạc nhiên, vì tôi đã đọc quyển sách The Human Side từ lâu, nhưng đâu thấy đoạn trên ở đâu. Quyển The Human Side gần đây cũng đã được dịch sang tiếng Việt, dưới tên Albert Einstein, Mặt Nhân Bản, mọi người có thể tham khảo:
Perry Garfinkel là một nhà báo không phải vô danh, ông viết cho nhiều tờ báo lớn, trong đó có New York Times. Quyển Buddha or Bust được giới thiệu trên trang bìa là một “National Bestseller”, và bên trong có trích lời khen của Đức Dalai Lama, Thiền sư Thích Nhất Hạnh, của tờ The Boston Globe, và vài nhân vật khác. Đoạn trích dẫn trên thực ra không liên quan gì đến nội dung chính của quyển sách mà các lời khen có lẽ đã dành tặng. Nhưng ai đọc câu trích dẫn của Einstein cũng sẽ có ấn tượng mạnh. Sự không đúng thật này sẽ tiếp tục lan tỏa, và người đọc sẽ không biết rằng đoạn trích dẫn nói trên là không có thật.
Tôi cũng đã từng lùng sục nhiều sách vở viết về Einstein, đặc biệt những quyển sách viết chuyên về quan điểm tôn giáo của ông, như quyển Max Jammer, Einstein and Religion, để tìm dấu vết ý tưởng trên, nhưng tuyệt nhiên không thấy câu nói nào của Einstein có nội dung giống như thế. Tôi cũng liên lạc với Kho lưu trữ Albert Einstein của Đại học Hebrew ở Jerusalem là nguồn thông tin phong phú nhất. Nhưng họ cũng không biết có phát biểu nào như thế của Einstein.
Einstein ngưỡng mộ Phật giáo, điều đó chắc chắn. Ông có một phát biểu trong quyển sách Thế giới như tôi nhìn của ông như sau, và có lẽ đây là “cảm hứng” cho ý tưởng trên của Garfinkel:
Mạnh mẽ hơn nhiều là các yếu tố mang tính tôn giáo vũ trụ trong Phật giáo, những điều mà các tác phẩm tuyệt vời của Schopenhauer đã dạy cho chúng ta. Các thiên tài tôn giáo của mọi thời đại đều được đặc trưng bởi tính tín ngưỡng vũ trụ (cosmic religiosity), tính chất không hề để ý đến các giáo điều hay một Thiên Chúa được tạc theo hình ảnh của con người.
(Bài Tôn giáo và Khoa học)
Hoặc trong Mặt Nhân Bản, tr. 73:
Thời đại chúng ta được làm cho khác biệt bởi những thành tựu tuyệt vời trong những lĩnh vực hiểu biết khoa học và ứng dụng kỹ thuật của những nhận thức sâu sắc đó. Ai mà không vui sướng bởi điều này? Nhưng đừng quên rằng, chỉ tri thức và kỹ năng thôi không thể dẫn dắt loài người đến một cuộc sống hạnh phúc và có phẩm giá được. Những người khai sinh ra các chuẩn mực và giá trị đạo đức cao quý luôn xứng đáng được nhân loại đề cao hơn những người khám phá ra chân lý khác quan…. Những gì nhân loại chịu ơn những nhân cách như Đức Phật, Moses và Jesu đối với tôi còn cao hơn tất cả thành tựu của những bộ óc khám phá và phát minh.
Chúng ta phải bằng hết sức mình bảo vệ và giữ cho sống mãi những gì mà những con người thiêng liêng này đã trao tặng chúng ta, nếu nhân loại không muốn đánh mất phẩm giá, sự tồn tại yên bình và niềm vui trong cuộc sống. (1937)
Tôi rất mong, ai tìm được nguồn gốc trích dẫn liên quan đến Phật giáo nói trên xin vui lòng xác nhận giùm, như nguồn trích dẫn của nó, Einstein đã phát biểu trong dịp nào, hay trong thư viết cho ai, và ngày tháng năm nào để mọi người có thể truy lại trong The Collected Papers of Albert Einstein. Cho tới lúc đó, chúng ta vẫn nên hiểu rằng trích dẫn trên, hay những trích dẫn có nội dung tương tự, rất tiếc, là chưa đúng sự thật. Chúng ta không muốn làm gì hơn là tìm về sự thật.
Trước khi kết thúc, tôi xin kể thêm ý tưởng sau đây của một người khác nói về Phật giáo và khoa học. Vị viện trưởng người Anh, Greg Whitefield, của Viện Phật học Rangjung Yeshe Institute ở Nepal, được thành lập từ 2002 bởi vị lama Tây Tạng Tulku Chokyi Nyima Rinpoche. Ông viết: “Tôn giáo tương lai của nhân loại sẽ được dựa lên các định luật khoa học. Phật giáo là rất khoa học vì nó dựa lên các định luật nhân quả.”
Chưa biết tương lai như thế nào, nhưng ở đây tôi chỉ muốn nói vế thứ hai. Đức Phật dạy thuyết nhân-quả đã mấy ngàn năm. Nhưng trong lãnh vực y học, thuyết này thực sự mới thắng lợi trọn vẹn trong cuộc cách mạng vĩ đại do Louis Pasteur và Robert Koch dẫn đầu trong thập niên 1880, nghĩa là mới khoảng 150 năm trước thôi, khi hai người khổng lồ này chứng minh bằng khoa học rằng các bệnh đều do các vi sinh vật nhỏ bé gây ra mắt thường không nhìn thấy. Có mầm bệnh mới sinh ra bệnh (Koch), cũng như có vi sinh vật mới có những quá trình như lên men, hay thối rữa (Pasteur). Hằng loạt mầm bệnh được phát hiện, như bệnh than, bệnh lao, dịch tả, dại, bạch hầu v.v. cùng với các liệu pháp điều trị. Điều đó ngày nay được xem là hiển nhiên, nhưng hàng ngàn năm nhân loại đã không thể chứng minh được. Có lẽ đó là sự khẳng định cuối cùng của thuyết nhân quả trong thế giới khoa học, chấm dứt mọi tư biện thần bí. Xin xem chi tiết về cuộc cách mạng y học này trong quyển sách sắp tới có tên “Pasteur-Koch. Cuộc đọ sức giữa những người khổng lồ trong thế giới vi sinh vật” của NXB Tổng hợp Thành phố.

Nguyễn Xuân Xanh
Tháng 5, 2017

Chủ Nhật, 28 tháng 5, 2017


PHẬT GIÁO VỚI NHỮNG ẢO TƯỞNG THỜI THƯỢNG
Trần Trọng Sỹ

LTS: Đây là bài lên tiếng của một Phật tử trí thức về một câu trích dẫn được cho là của nhà bác học Albert Einstein, và được vô tình lặp đi lặp lại ở nhiều nơi trong nhiều năm nay nhưng thiếu nguồn tài liệu khả tín. Qua cách trình bày tỉ mỉ và tận tường của tác giả, chúng ta thấy rõ đây là một nỗ lực thể hiện lòng Bi, Trí và Dũng mà người Phật tử nên tự hào. Mong được các bậc thức giả đón nhận hoặc đóng góp thêm ý kiến nếu có để được rộng đường dư luận. (SH, 24-5-2017)
"In a time of universal deceit - telling the truth
is a revolutionary act." (George Orwell)
"Hell is Truth Seen Too Late." (Thomas Hobbes)
Albert Einstein (1879-1955)
Có 3 câu nói, được cho là của Einstein, thường được toàn thể các website Phật giáo thế giới trích dẫn để nói về tính khoa học của đạo Phật.
Câu thứ nhất:
"Phật giáo không cần duyệt xét quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan niệm của mình để chấp nhận khoa học bởi vì Phật giáo bao gồm khoa học và đồng thời cũng vượt qua khoa học. Phật giáo là một chiếc cầu nối liền tôn giáo và những tư tưởng khoa học. Chiếc cầu Phật giáo đã kích thích con người khám phá những tiềm năng lớn lao nằm sâu kín trong chính nó và trong môi trường sống chung quanh nó. Phật giáo siêu việt vượt qua thời gian."
[Buddhism requires no revision to keep it up today with recent scientific finding. Buddhism needs no surrender its view to science, because it embraces science as well as goes beyond science. Buddhism is a bridge between religious and scientific thoughts, that the stimulates man to discover the talent potentialities within himself and his environment. Buddhism is timeless]
Câu thứ hai:
"Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó"
[The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sence, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description]
Câu thứ ba, là phần đầu của câu thứ nhất, thường được trích dẫn như dưới đây :
"Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học"
[If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, becauseit embrances science as well as goes beyond science]
Ba câu nói trên, đúng hơn là hai câu, vì câu thứ ba và câu thứ nhất có thể gọp chung lại làm một, gần như là những lời tuyên chiến không những với các tôn giáo khác trên thế giới, mà còn tuyên chiến ngay cả với chính khoa học.
Thú thật, lần đầu tiên đọc được câu thứ nhất, là một phật tử, tôi sướng như trẻ con được kẹo, thiếu điều muốn nhảy lên mà hét thật to rằng, quả thực, đạo Phật là số một, là number one ! Niềm vui cùng với sự kiêu hãnh kia cũng kéo dài được...vài năm, cho đến một hôm, tôi đặt bút xuống viết về tính khoa học của đạo Phật thì mới chưng hửng ra rằng, những trích dẫn tưởng chừng như quá hiển nhiên kia, điều mà gần như tất cả các website phật giáo, anh ngữ hay việt ngữ, không ngừng in đậm, không ngừng lập đi lập lại, thậm chí được in vào một khung ảnh có dán hình của Einstein với câu nói số một được tung ra khắp Internet, những câu trích ấy, theo các học giả Âu Mỹ, là không có căn cứ ! Thế là bài viết tôi dự định viết ra tựa như cái bong bóng căng cứng bị va mạnh vào đầu một mũi kim nhọn !
Mời các bạn lên google, chép câu nói ấy bằng anh ngữ, và cho khởi động truy cập, các bạn sẽ thấy rất nhiều website lập đi lập lại câu nói trứ danh ấy, nhưng khi để ý kỹ, các bạn sẽ nhận ra rằng, hoặc đó là các website của xứ Sri Lanka, hoặc đó là của các cơ quan Phật giáo, nhất là PGVN, tại các quốc gia Âu Mỹ, hoàn toàn vắng bóng các website, báo chí, sách vở, wikipedia mang tính khoa học vô tư phi tôn giáo.
Người Âu Mỹ không có thói quen trâu buộc ghét trâu ăn, không có nỗi sợ vạch áo cho người xem lưng như người Đông Á; xấu họ nói xấu, tốt họ khen tốt; dù kẻ tốt nằm bên đối nghịch, kẻ xấu nằm ngay trong nhà. Tôi khá rành lịch sử tàn ác của Công giáo nhờ đọc sách của người Âu Mỹ, tôi được biết có cả triệu linh mục mắc bệnh sida cũng nhờ thông tin từ báo chí Âu Mỹ, tôi am hiểu sức lan tỏa của đạo Phật ở Âu Mỹ cũng nhờ vào chính thông tín không che đây của họ, nhưng những gì mà các website Phật giáo gán vào miệng Albert Einstein như câu nói trên, tôi moi đi moi lại hằng chục lần, anh ngữ, pháp ngữ và cả việt ngữ, vẫn không hề tìm ra nguồn của nó được trích từ sách nào, báo nào. Khi có nơi cho nguồn, thì cái link cho nguồn hoặc bị hỏng, hoặc nó dẫn tới một link khác, rồi cái linh khác ấy lại đưa tôi vào một rừng tư liệu khoa học, phải đọc hết mấy chục trang tư liệu ấy để moí cho được câu trích dẫn của bố Einstein nhà tôi, vẫn không thấy vân mồng đâu cả !
Thí dụ như sau đây là tài liệu mà tôi tìm được bằng Việt ngữ, xét ra khá đáng tin cậy, vì do trang nhà Thư Viện Hoa Sen giới thiệu Phật tử Tuệ Uyển dịch. Trong bản dịch của Tuệ Uyển có 5 câu được cho là trích dẫn từ Einstein, thì câu đầu tiên là không có căn cứ, còn lại những câu sau đề có thể truy cập xuất xứ. Tuy nhiên, chỉ cần câu đầu tiên thiếu nguồn trộn lẫn với những câu có nguồn cội chính đáng, ta không thể đánh giá đó là tác phẩm đáng tin cậy nữa. Thư Viện Hoa Sen là nơi khá uy tín, đứng đắn, nhưng về tư liệu nguồn của các câu nói do Tuệ Uyển dịch, thì cũng mập mờ, hoàn toàn dẫn vào ngõ cụt, mời xem link :
Tuệ Uyển lấy tư liệu từ website :
Scribd là một trang mạng chuyên đăng tải chia sẻ các tài liệu trực tuyến, hoạt động từ năm 2007, cơ sở đặt ở San Francisco Hoa Kỳ. Scribd được ông Trip Adler thành lập năm 2006, do vậy ai muốn thì cứ đăng các tài liệu lên đây, và cơ quan này hoàn toàn không chịu trách nhiệm giá trị tri thức hay tính chính xác của các tài liệu. Tài liệu mà Tuệ Uyển đọc lại tự nói rằng, những trích dẫn nó có được là do website sau đây cung cấp:
Tôi vào website được giới thiệu, đây là một blog khoa học của triết gia Geoff Haselhurst chuyên bàn về các lãnh vực cực cao của nền khoa học hiện đại, ông tự cho mình là bạn của Albert Einstein, và ông trích dẫn hầu hết các lời nói của Einstein trong blog của ông - để hiểu được những gì trong blog này, rất cần một vốn liếng tri thức cả chiều rộng lẫn chiều sâu, nên tôi đọc gần cả ngày để hiểu thôi thì cạn kiệt sức lực, vì có quá nhiều thông tin về sóng và hạt (wave and particle), sự tác hợp giữa siêu hình học và khoa học, sự không cần thiết các ''hạt Chúa'' (God's particles) của Newton trong không gian, phương trình Dirac nói về cơ học lượng tử xuyên qua thuyết tương đối khi bàn về electron... cả một kho tàng tri thức, thích thú nhất là nó chào đón khách tham quan bằng câu nói của nhà hiền triết Platon: And those whose hearts are fixed on Reality itself deserve the title of Philosophers. (Plato, Republic, 380BC) (Và cho những ai có trái tim gắn liền với chính Sự Thực xứng đáng với danh hiệu triết gia)
Một website chào đón độc giả bằng phong cách như vậy, ai ai cũng là triết gia, ai ai cũng là trí thức, tựa như Cảnh Sách trong nhà Phật, Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ, bất ưng tự khinh nhi thoái khuất, ai tự khinh mình thì cứ đi lùi lại, không dám nhìn sự thực, Platon cũng chỉ nói thế mà thôi, cho nên ai ai cũng phải phải tôn trọng sự thực khi đọc và viết tư liệu, nhất là tư liệu khoa học. Nhưng thất vọng thay, tôi mất cả ngày, đọc hết những gì website này nói, vẫn chẳng tìm thấy Einstein nói điều gì về Phật giáo cả mặc dù ông có nhắc đến Lão giáo chỉ một lần, tôi không biết Tuệ Uyển có tìm như tôi không, hay chỉ thấy Einstein khen tặng Phật giáo thì mừng rỡ và dịch ngay mà không cần biết điều mình dịch đến từ nguốn nào ? Có đáng tin hay không ?
Chỉ một lần duy nhất Einstein bàn về tôn giáo mà Geoff Haselhurst giới thiệu, tôi mời các bạn tham khảo :
Albert Einstein expresses this enlightened view of God well, he writes :
'I believe in Spinoza's God who reveals himself in the orderly harmony of what exists, not in a God who concerns himself with the fates and actions of human beings.'
A. Einstein bày tỏ quan điểm sáng suốt về Thượng Đế một cách rõ ràng, ông viết:
'Tôi tin vào Thượng Đế của Spinoza, người biểu hiện mình như là bản hòa âm trật tự của mọi hiện hữu, không phải là ông Thượng Đế ăn rồi chỉ lo chuyện bao đồng về số phận và hành vi của loài người' (ý nói đến Chúa Trời của Thiên chúa giáo với đầy uy quyền thuởng phạt hay xen vào chuyện thế gian). - Câu này được wikipedia việt ngữ dịch như sau: "Tôi tin vào Chúa của Spinoza, người mà biểu lộ chính mình trong nguyên lý hài hòa của thế giới, không phải là một vị Chúa có số mệnh và hành động của một con người. "
Theo sự hiểu biết hạn hẹp của tôi, thì ''câu nói của Einstein'' đầu tiên, được viết trong cuốn sách mang tựa đề ''Pre-Historic Lanka to End of Terrorism'' của Sripali Vaiamon, một học giả người Sri Lanka.
Thứ đó, tôi thấy trang nhà Quảng Đức của Phật Giáo VN hải ngoại có đăng một bài viết của Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng, với đề tài ''Nhà Khoa Học Albert Einstein và Đạo Phật'' đã trích dẫn câu hai và câu ba, cùng với chú thích rằng cả hai đều do nguồn 'http://rescomp.stanford.edu/~cheshire/Einsteinquotes.htm' cung cấp, nhưng tiếc thay, khi tôi truy cập nguồn này thì nó dẫn tới link không có.
Tiếp theo thì tôi đọc trong trang nhà Thư Viện Hoa Sen cũng đăng tải lời giới thiệu của Thượng Tọa Thích Nguyên Giác cho dịch phẩm mang tựa đề ''Tân Vật Lý và Vũ Trụ Luận Phật Giáo và Thế Giới Lượng Tử'', ngài cũng lập lại những câu nói được cho là của Einstein mà Thích Nguyên Tạng đã sử dụng, nhưng cũng chẳng thấy nguồn
gốc ở đâu cả !
Một tác giả khác cũng sử dụng các câu nói này trong tác phẩm 'Einstein Questions, Buddha Answers ( Einstein hỏi, Phật trả lời) của Supawan Green, một nữ tu sĩ phật giáo hoàn tục người Thái Lan có gốc Trung Hoa.
Trong tất cả các tác giả trích dẫn những câu nói của Einstein, có một người tôi rất mến, nhưng lại nổi danh là một người rất bốc đồng, khó có thể có một thuyết phục tri thức, người đó là Madalyn Murray O'Hair, nhà hoạt động vô thần luôn hô hào tách rời nhà nước khỏi tôn giáo, đồng thời là người sáng lập hội vô thần Mỹ, cũng là người đàn bà bị ghét nhất nước Mỹ vào năm 1963. Trong cuốn All the Questions You Ever Wanted to Ask American Atheists (1982) vol. ii., trang 29, bà có ghi câu thứ ba của Einstein được nêu ở đầu bài.
Nói chung, những câu nói này được cả thế giới phật giáo sử dụng tùy tiện theo mục đích truyền giáo, người sử dụng chúng có người có cả học hàm tiến sĩ, nhưng chưa ai đưa ra được xuất xứ chính xác của chúng.
Trong nỗ lực tìm nguồn cho các câu trích dẫn trên, tôi tình cờ thấy trên một trang wikipedia có cuộc thảo luận về khoa học và Phật giáo, một tác giả tên là Blainster, chuyên nghiên cứu cho wikipedia, có cái nhìn nghiêm chỉnh, tự nhận là phật tử, đồng thời là nhà vật lý học, đã có nhận xét rằng ông sẽ rất vui mừng nếu các lời trích tán dương Phật giáo như là tôn giáo vũ trụ cho tương lai của nhân loại, hoặc Phật giáo là tôn giáo duy nhất có thể đáp ứng được đòi hỏi của khoa học là do chính Einstein nói ra, nhưng ông không hề tìm ra được xuất xứ của chúng, và ông cũng đã truy vấn các người bạn chuyên nghiên cứu về Einstein (Einstein scholors) như John Stachel ở đại học Boston, nhà xuất bản 'sưu tập các văn kiện của Eisntein', những tác giả chuyên trích dẫn Einstein như Thomas J. McFarlane, với cuốn Buddha and Einstein: The Parallel Sayings ( Đức Phật và Einstein, những lời nói song song) hoặc Alice Calaprice, tác giả cuốn The New Quotable Einstein ( Trích dẫn mới của Einstein) mà không người nào từng đã trích ra những điều trên cả !
Nguyên văn :
1) Buddhism has the characteristics of what would be expected in a cosmic religion for the future: It transcends a personal God, avoids dogmas and theology; it covers both the natural and the spiritual, and it is based on a religious sense aspiring from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. and 2) Buddhism is the only religion able to cope with modern scientific needs – Einstein
As a Buddhist and physicist myself, I'd be delighted if this very widely-cited quote really could be attributed to Einstein, but regrettably there is no evidence that it can. It sometimes appears with a reference to Albert Einstein: The Human Side (Princeton University Press, 1954), but there is never a page reference - for the simple reason that the quote does not appear anywhere in that book.
I have personally discussed the reliability of this quote with Einstein scholars (including John Stachel at Boston U, and founding editor of The Collected Papers of Albert Einstein), and with the authors of compilations of Einstein quotations (Thomas J. McFarlane, author of Buddha and Einstein: The Parallel Sayings and Alice Calaprice, author of The New Quotable Einstein) - none of whom cite it. In short, neither they nor I know of any evidence that Einstein delivered a speech containing this quote. (https://en.wikipedia.org/wiki/Talk%3ABuddhism_and_science)
Một học giả phật giáo đại thừa, tiến sĩ Donald S. Lopez Jr., đã viết trong cuốn 'Buddhism and Science: A Guide for the Perplexed' cho rằng Einstein không hề nói những tuyên bố như trên. Theo ông, có thể Einstein đã từng đề cập đến Đức Phật trong những lần nói chuyện, nhưng có cái gì thúc đẩy ai đó chế biến lời tuyên bố rồi gắn nó vào tên tuổi của Einstein, (được xem là) vị Phật của thế giới hiện đại. (Einstein appears to have occasionally made passing references to the Buddha in conversation. Yet something compelled someone to concoct this statement and attribute it to Einstein, the Buddha of the Modern Age.
Người việt đến thậm chí còn đăng tin rằng, 3 năm trước khi qua đời, Einstein đã quy y theo Phật, ngày ngày vác đàn Violin tấu nhạc, và trước ngực thì đeo một tượng Phật. Họ cũng loan tin cựu tổng thống Bill Clinton quy y theo Phật, ăn chay, ngồi thiền ; còn tổng thống Obama luôn có trong túi một tượng Phật tí hon, và trong tòa nhà trắng có một nơi thờ Phật.
Theo tôi được biết, ông Clinton do bị bệnh tim, ông ngồi thiền và ăn chay theo dưỡng sinh thì đúng, vì ngày nay có rất nhiều người Âu Mỹ có cảm tình với Phật giáo, họ không xem đạo Phật là một tôn giáo, mà chỉ đơn thuần như một lối sống, nên họ thực hành theo các phương pháp dưỡng sinh của đạo Phật, không nên vì vậy mà rao tùm lum lên rằng họ quy y theo Phật. Tôi không cần nguồn ở đâu để xác minh chuyện này, chỉ cần suy tư một chút theo logic như sau, Bill Clinton tuy không còn làm chính trị, nhưng vợ ông luôn muốn ra ứng cử tổng thống, và muốn được cử tri Mỹ bỏ phiếu, thực khó hy vọng rằng, ứng cử viên lại là người từ bỏ truyền thống Kitô giáo mà có thể được đắc cử. Nên nhớ, Hoa Kỳ chứ không phải Âu Châu, dân Mỹ rất cuồng chúa; cho dù Clinton có theo Phật, tôi tin rằng ông không dại gì tuyên bố bỏ đạo Chúa của ông cả !
Còn cái tượng Phật tí hon mà ông Obama khoe với báo chí, là do một phật tử tặng lúc ông ra tranh cử lần đâu. Ngoài tượng Phật, ông cũng luôn có trong túi một chuỗi hạt Mân Côi và một cây Thánh giá của đạo Copte cũng như một con khỉ của Ấn giáo - biểu tượng cho thần Hanuman, nhưng chuyện có một tượng Phật ở tòa Bạch Ốc thì chỉ thấy được thông tin trên báo chi Phật giáo Việt ngữ.
Sự kiện quan trọng như việc đưa tượng Phật vào Bạch Cung trong một quốc gia 'in God we trust' không thể im lìm như vậy được, ít nhất phải có các đài truyền hình đến quay phim, các tờ báo lớn như Washiton post, Huffinton post, New York times, hoặc đài VOA phải đưa hàng tít lớn để báo động toàn nước Mỹ chứ ! (xem Thích Như Bảo viết về việc Obama đưa tượng Phật vào Bạch Cung- https://nhatbaovanhoa.com/…/tong-thong-obama-thinh-duc-phat…)
Câu chuyện thứ hai mà tôi muốn bàn ở đây là chuyện Phật giáo được bầu làm tôn giáo tốt nhất thế giới.
Chỉ cần vào google gõ tìm thông tin 'Phật giáo được bầu làm tôn giáo số một thế giới', thì có hằng chục website việt ngữ mở ra cho ta ngay cái thông tin nóng bỏng, mà người đạo Phật xem ai cũng nức lòng hãnh diện, còn người đạo khác xem thì...tức cành hông !
Trang nhà Tôn Giáo & Dân Tộc có một bài viết tựa đề : ICARUS bầu chọn Phật giáo là tôn giáo vĩ đại nhất.
Trang nhà sachhiem.net, nơi mà tôi thường đọc và cọng tác, cũng có một bài đăng tương tự về đề tài này.
Cả hai đều lấy nguồn từ tác giả Linda Moulin, do Thiện Hữu dịch.
Đây là thông tin mà hầu hết các trang mạng có liên quan đến Phật giáo đều đăng tải, nhất là các cơ quan Phật giáo Việt Nam, như phatgiaovietnam.vn.
Muốn biết được ICARUS là gì thì các trang mạng VN hoàn toàn chả ai đề cập, chỉ viết gọn là ICARUS, rồi theo bản dịch của Thiện Hữu cùng đồng loạt gọi là 'Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh'.
Truy tìm nguồn trên beliefnet.com ta mới có được tên anh ngữ là' International Coalition for the Advancement of Religious and Spirituality'. Vào nguồn chính này, ta mới thấy có quá nhiều lỗi đánh máy, chữ này dính chữ nọ tựa như bản nháp, ngay cái tên tổ chức đã viết sai, Religious đi kèm với Spirituality thì đã quá đập vào mắt rằng đây chẳng thể nào là tài liệu của một tổ chức đứng đắn, nói chi là một tổ chức quốc tế có trụ sở tại Genève !
Tôi cố gắng tìm ICARUS bằng pháp ngữ xem, vì Gevène là vùng nói tiếng pháp của Thụy Sĩ, nhưng tin tức về một tổ chức quốc tế mang tên ICARUS hoàn toàn không có.
I=International, C=Coalition, A=Advancement, R=Religious, S=Spirituality, vậy U là gì ?
Phải chăng người tạo ra tổ chức và thông tin này đã cố ý dùng tên một nhân vật không biết tự lượng sức mình, Icarus, nhân vật được người cha lắp cho đôi cánh, muốn bay cao và bay xa trong thần thoại Hy Lạp, đã gãy cánh rơi chết, để lừa những ai là Phật tử nhẹ dạ vào cái tròng của cạm bẩy danh vọng ?
Ta hãy đọc những lời vào đầu cho thông báo trao giải thưởng như sau :
[Qua giải thưởng Leading Figure hằng năm về nhân vật tôn giáo đã đóng góp cho nhân loại và hòa bình, Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh đóng tại Geneva, Thụy Sĩ (ICARUS) đã quyết định bầu chọn và ban tặng một giải thưởng đặc biệt năm nay cho cộng đồng Phật giáo Hans Groehlichen, chủ tịch Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS) đã phát biểu trong hội thảo vào ngày thứ hai vừa qua: “Chúng tôi đã tổ chức nghiên cứu theo mạng rada, đồng thời tổ chức của chúng tôi đánh giá trên một tinh thần công bằng về những giá trị truyền thống. Chúng tôi đã trải qua phân tích từng tôn giáo để bình chọn và trao giải thưởng cho một tôn giáo vĩ đại nhất thế giới (Best Religion in the World). Qua đó chúng ta cổ vũ và khuyến khích những nhà lãnh đạo tôn giáo khác thấy được những ích lợi trong việc thực hành hạnh từ bi.”]
Giải thưởng Leading Figure, mới nghe, ta cứ tưởng đó là tên của giải thưởng, và năm nào cũng trao giải, nhưng ý nghĩa của từ 'leading figure' chỉ đơn thuần là 'khuôn mặt dẫn đầu', vì nếu đó là tên của giải thưởng hằng năm, thì sao ngay cả ngày trao giải cũng chả thấy được đề cập ? ai đã từng lãnh giải này cũng chẳng bao giờ thấy báo chí loan tin ?
Càng tra xét càng thấy có thể đây là kiểu Phật giáo cuồng tín tự biên tự diễn.
Tôi có truy cứu một tài liệu với lời lẽ nặng nề lên án giải thưởng này cho rằng nó được ngụy tạo bởi người Sri Lanka, tôi không tiện dịch những lời khiếm nhã ấy, mời các bạn cứ vào link này mà đọc: http://icaruswept.com/…/buddhism-the-best-religion-in-the-…/
Nói chung tôi không hiểu vì kém hiểu anh ngữ hay vì cuồng tín mà chúng ta thường có thái độ cho rằng Âu Mỹ bái phục đạo Phật hết nước, Einstein thì khen đạo Phật vượt xa khoa học nên quy y theo Phật, tổng thống Clinton cũng quy y theo Phật, Obama đem Phật vào thờ ở tòa bạch ốc, đạo Phật được bầu là tôn giáo tốt nhất thế giới...
Khi tôi đọc các tin tức nâng cao đạo Công giáo La Mã như phép lạ ở Lourde, để rồi khám phá ra rằng vụ Lourde hoàn toàn do bịa xạo dàn dựng; mẹ Térésa là thánh, sau đó biết là bà đã buôn người nghèo để gây quỹ cho Vatican, bà đã lừa gạt tin tức về việc chữa bệnh ung thư...tôi cứ nghĩ chỉ có Kitô giáo mới cuồng tín như thế, nhưng qua các sự việc như tôi vừa trình bày, bên Phật giáo cũng cuồng tín không kém dù cách thức tương đối nhẹ nhàng hơn.
Dù sao, vẫn còn có những tiếng nói trong sáng trong các vụ này, chẳng hạn blog của Phật giáo Hoa Kỳ lập tức cho rằng đây là cơ quan không có thực ''A Buddhist news story has been popping up all over the internet lately. Only problem is, it's probably not true. No one can find "ICARUS" or even the "Tribune de Geneve." But since monks sent the story into WQ, we thought readers might nevertheless like to see it'' 
Shravasti Dhammika

Một tiếng nói trong sáng khác, tu sĩ nam tông Shravasti Dhammika đang hành đạo tại Singapore, khi nghe tin tức về ICARUS, đã lập tức cho rằng đây là tin ảo, với lời lẽ đúng là người theo Phật, không bị rung động bỡi bất kỳ một trần cấu hư ảo nào, ông viết: ''Tôi là người theo Phật bởi vì tôi tìm thấy trong Chánh pháp một nền minh triết đầy đủ, nhân bản, đầy thuyết phục và thực tiễn cho đời sống, (nó) phù hợp với nhu cầu và sinh mệnh của tôi một cách tuyệt vời, chẳng phải vì nó đã đoạt được một giải thưởng rơm rác nào đó. Và cho dẫu có 500 người lãnh giải Nobel bầu cho nó là tôn giáo tồi tệ nhất thế gian thì điều đó cũng chả thể lung lạc niềm tin của tôi dù chỉ là một phần nghìn mét'' [I’m a Buddhist because I have found the Dhamma to be a complete, humane, convincing and practical philosophy of life that suits my disposition and needs perfectly, not because it won a straw poll. And even if 500 Nobel Prize winners voted it the worst religion in the world that wouldn’t shake my conviction one millimetre.]
Phải nói rằng, sự lan tỏa các câu trích dẫn được cho là của Einstein, dù không có nguồn gốc chính xác, nhưng chúng rất gần với những tư tưởng mà Einstein thường phát biểu khi ông bàn về thượng đế. Và dĩ nhiên những trích dẫn vang dội này đã làm phiền không ít những ai thờ thượng đế mang đầy ngã (cá) tính (personal God) của Kitô giáo, nên có hai khuynh hướng Kitô giáo phản bác lại Einstein, khuynh hướng thứ nhất là các độc giả vô danh, thay vì phản biện, họ nói xấu Einstein, nào là ông ăn cắp tài liệu, đạo văn để được nổi danh, và dĩ nhiên họ dùng hết lời lẽ khó nghe nhất để thóa mạ ông; khuynh hướng thứ hai, do các mục sư Tin Lành chủ xướng, mà đại diện là Lê Anh Huy, người luôn phản bác các khoa học gia không theo chúa như Darwin và luôn viết bài bằng các dẫn chứng với một rừng thông tin chuyên môn từ sinh học đến vật lý học mà không biết chính tác giả có hiểu hết hay không, để kết luận rằng Darwin hay Einstein hoàn toàn sai. Đối với họ, khoa học nào chứng minh có thượng đế như kinh thánh, có quyền ban thưởng và giáng họa thì đó là khoa học chính đáng, ngược lại là sai, là tà giáo, và không thể có cái gì nếu không có thượng đế, vì chính ngài sáng tạo ra vũ trụ này, điều mà ngày nay ta thường thấy các lý thuyết gia của trường phái Thiết Kế Thông Minh ( intelligent design ) chủ trương.
Sri Lanka là một quốc gia Phật giáo, và có lẽ vì ở đây Phật giáo quá thịnh, nên một số người theo Phật đã vô tình quên mất bản chất của đạo Phật là đạo như thật (Religion of Reality).
Và vì là đạo như thật, PG là một nền minh triết đầu tiên và duy nhất của nhân loại đã giải phóng con người ra khỏi những mê tín vào thần quyền, đưa con người từ thời kỳ của đứa trẻ chỉ biết sợ hãi thiên nhiên và thần linh thành con người trưởng thành biết tin vào chính nghị lực và sự phán xét của trí năng, điều mà các triết gia Tây phương chỉ mới khám phá và vận động thành phong trào ''Thượng Đế đã chết'' (Dieu est mort) vào thế kỷ thứ XIX với hai triết gia vĩ đại của nhân loại Feuerbach và Nietzsche.
Tôi hiểu Einstein thường mong ước có một tôn giáo vũ trụ (cosmic religion) mà nhiều người thường dịch là tôn giáo toàn cầu, nhưng theo thiển ý, nên dịch là vũ trụ, vì nhà khoa học này thường trực sống trong vũ trụ và với vũ trụ, ông cho rằng nên có một tôn giáo khiến cho con người sống hài hòa với thiên nhiên, chính mình là một thành phần trong hòa âm của vũ trụ, không có chiến tranh, không có kỳ thị và trách nhiệm liên đới cho hạnh phúc của một trong tất cả và tất cả trong một. Tôi tự hỏi Einstein đã từng đọc kinh Hoa Nghiêm chưa, nếu chưa, thì có thể nói ông và Đức Phật có những điểm rất tương đồng. Và có lẽ do chính sự tương đồng này đã ''sản xuất'' ra nhiều câu nói của ông đánh bóng Phật giáo vượt lên trên cả khoa học, một sự cống cao ngã mạn mà chính Phật giáo luôn mong muốn người thực hành nó phải từ bỏ.
Để kết luận bài viết này, thiết nghĩ, có lẽ không ai dạy chúng ta rõ hơn về cách thức tiếp cận một vấn đề bằng chính giáo pháp của đạo Phật trong kinh Kalama như sau:
"Này quý vị Kalama, đừng tin theo vì nghe nghe đi nghe lại nhiều lần, đừng tin theo vì đó là truyền thống, đừng tin theo vì nghe đồn đại, đừng tin theo vì được ghi trong kinh điển, đừng tin theo vì phỏng đoán, đừng tin theo vì đó là tiên đề, đừng tin theo vì lý luận có vẻ hợp lý, đừng tin theo vì dựa theo ý kiến chủ quan đã được cân nhắc, đừng tin theo vì vị ấy có vẻ có khả năng, đừng tin theo vì nghĩ rằng vị ấy là thầy của mình."

Trần Trọng Sỹ
Viết xong tại Paris 24.04.2017

Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014


QUỐC NGỮ, NỖI TRĂN TRỞ

Trần Trọng Sỹ

Việt Nam từ khi thực dân Pháp đặt nền móng cai trị cho đến 1975, lúc nào cũng lắm phong ba bão tố chưa bao giờ có một nền chính trị ổn định và độc lập. Đến khi cuộc cách mạng 1963 lật đổ được Ngô Đình Diệm, con đường mang tên giáo sĩ Đắc Lộ đã được nhân sĩ miền Nam tháo bỏ, nhưng đáng tiếc là cố thủ tướng Võ Văn Kiệt lại đưa nó trở về. Mong rằng nhà nước nên xét lại việc vinh danh cho tên giặc cướp nước này. Đây là một sai lầm rất nghiêm trọng của lịch sử, cũng là sự khinh thường xương máu của nhân dân. (Trần Trọng Sỹ)

Đối với một số người, ký âm bằng La Tinh là một quốc nhục, một vết thù văn hóa mà không cách nào xóa bỏ.
Nhìn chung quanh ta, từ Lào, Miên, Thái, Myanmar, Nhật, Hàn, Trung Quốc chả ai có ký tự La Tinh? chỉ những nước mà ngay cả nguồn gốc họ cũng không biết như Philippines mới có ký âm La Tinh.
Bất kỳ nhà nghiên cứu văn hóa Á châu nào, chỉ cần nhìn cách họ viết chữ, là có thể xác định được phần nào văn hóa của nước đó. Hể ký âm bằng La Tinh thì biết ngay dân tộc này là nạn nhân của thực dân, đã bị nhồi sọ, đã ít nhiều bán một phần hồn cho văn minh La Mã. Chỉ ngay điểm khởi đầu này, ký âm La Tinh ở châu Á, và ngay cả ở Nam Mỹ, hoàn toàn không có gì vinh hạnh.

1- Ngoài bản chất La Tinh, các dân tộc Nam Mỹ chẳng còn giữ được văn hóa đặc thù
Vì sao Nam Mỹ được gọi là Mỹ Châu La Tinh? Vì cả bán lục địa này bị bọn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha sang xâm chiếm làm thuộc địa từ 1492 với sự khám phá Mỹ Châu của Christophe Colomb, đến sau chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha 1898 (được viết rõ hơn ở sau trong phần Hoa Kỳ-Trung Quốc, hai đế quốc, hai giá trị), tức là 4 thế kỷ nô lệ. Nhưng cụm từ Mỹ Châu La Tinh được một trí thức Pháp tên là Michel Chevalier khai sinh. Năm 1830, Chevalier được lệnh bộ trưởng nội vụ Pháp Adolphe Thiers (sau này là tổng thống thứ hai của Pháp) sang Mỹ châu để nghiên cứu về chính trị và kinh tế. Ông nhận thấy tất cả các nước phía nam của HK đều chẳng có nguồn gốc bản địa, nhưng có chung một nền văn hóa La Mã, nên ông nảy ra ý hô hào các dân tộc 'La Tinh' cùng đứng chung với 'Latin Europe' để chống lại bọn Teutonic Europe, Anglo-Saxon America và Slavic Europe, nghĩa là chống lại văn minh Bắc Âu, trong đó có Hoa Kỳ. Sau này trí thức của cả vùng Mam Mỹ đều hướng về Pháp thay vì Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đang trong thời kỳ suy thoái, nên cụm từ Mỹ Châu La Tinh theo văn minh Pháp được sử dụng từ đó.
Ngoài bản chất La Tinh, các dân tộc này chẳng còn giá trị văn hóa nào khác trừ một vài cái tên như đế quốc Aztec, đế quốc Inca; vì chúng được dính liền với tên tuổi của các chinh tướng (conquistador) nổi danh của Tây Ban Nha như Francisco Pizzaro hay Hernán Cortés. Bọn xâm lược dọn sạch văn hóa bản địa, chẳng những không còn chữ viết, ngay cả tiếng nói, truyền thống, tôn giáo đều được đốt sạch quét sạch.
Hy Lạp cũng bị La Mã càn quét tàn sát, cũng đã biến quốc gia này thành Thiên Chúa giáo, cả nền khoa học Hy Lạp đều bị dọn sạch, nhưng dân tộc này vẫn giữ được chữ viết, vẫn độc lập đối với La Mã, họ theo Chính Thống giáo.
Nhật Bản, Trung Hoa, Triều Tiên, Lào và ngay cả Campuchia đều giữ được chữ viết trước sức tấn công ào ạt của các giáo sĩ truyền giáo, điều này minh chứng rằng VN có ít kháng tố chống xâm lăng văn hóa so với các lân bang.
Ngày nay, những người da đỏ và người Phi châu đều hãnh diện về họ, về truyền thống, về những đặc trưng vùng miền, ngay ở cả những nơi xa xôi hẻo lánh với đời sống trần truồng giữa thiên nhiên chưa bị ô nhiễm bởi văn minh vật chất. Nhân loại của thế kỷ 20, 21 tôn trọng các khu vực văn hóa cổ đại này và khuyến khích giữ gìn những truyền thống, ngôn ngữ, tôn giáo của nó một cách nguyên vẹn. Đây không phải là thói quen của văn minh La Mã thường hay chinh phục bằng bạo lực với chiêu bài khai hóa của thời kỳ thực dân cổ điển.
Ở châu Á hay châu Mỹ vẫn có người hãnh diện về chiếc áo mới mình đang mặc nhờ ân khai hóa. Riêng tôi, tôi cảm thấy dù sao mình cũng may mắn, còn biết được ông bà tổ tiên là ai, nói tiếng gì; bởi vì tổ tiên của tôi quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, đời đời là dân Việt ở tầng lớp tột cùng; chỉ một chữ chiên còn không biết, làm sao mà biết hãnh diện bằng này cấp nọ của thực dân.
Tôi thực sự thương hại các dân tộc kém may mắn đó, họ kém súng đạn, không biết sử dụng những thủ đoạn xảo quyệt của văn minh thực dân, nên đã bị thực dân hóa. Đến khi giành được độc lập, muốn trở lại, muốn lùi lại cũng không có đất mà lùi. Tất cả các dân tộc Nam Mỹ đều phải đối diện với một tình huống như vậy, phải sống với chữ viết và tiếng nói ngoại lai, không được quyền lựa chọn.
Nam Mỹ đã bắt đầu phát triển nhưng rất chậm trừ Brasil được may mắn nằm trong danh sách B.R.I.C, còn Philippines, quốc gia 100% Công giáo, cho đến nay vẫn nghèo đói so với Lào, Thái, Việt Nam; nhất là VN, một xứ sở chỉ mới áp dụng kinh tế thị trường từ năm 1986.
Điều này minh chứng rằng theo văn hóa Âu Mỹ và theo văn hoá La Mã hoàn toàn dị biệt. Văn hóa Âu Mỹ khuyến khích dân chủ và khoa học, ngược lại văn hóa La Mã; cũng có thể gọi là văn hóa Vatican, là độc tài, quân phiệt, ngu dốt và nghèo đói. Nhìn qua Âu Châu cũng thấy rõ điều này, các quốc gia Âu châu La Tinh, như Michel Chevalier đã phân biệt, đều nghèo hơn những dân tộc Teutonic Europe bao gồm Đức, Hòa Lan, Đan Mạch, Anh, Na Uy, Thụy Điển...

2- Nếu Alexandre de Rhodes không bị đuổi ra khỏi đất Nhật
Chắc chắn là sẽ có người rất khó chịu về những lập luận như vậy, vì họ từng rất hãnh diện rằng đây là văn hóa VN, là công lao của giáo sĩ Đắc Lộ, là nhờ đó mà ta có văn minh. Alexandre de Rhodes đã từng muốn đến Nhật Bản để truyền đạo nhưng gặp phải sự bế quan tỏa cảng gắt gao của thời kỳ Shogun thời đại Đức Xuyên do sức bành trướng đáng sợ của đạo Thiên Chúa nên đã bị cấm đoán, cả ông và François Xavier đành bỏ cuộc ở Nhật. De Rhodes may mắn thành công ở VN do đang có nội chiến Trịnh Nguyễn phân tranh. Cả đàng trong và đàng ngoài đều muốn lợi dụng vị giáo sỹ khá thông thái này, và chính nhược điểm này đã gieo mầm họa cho dân tộc.
Cố đạo Alexandre de Rhodes (1591-1660) và hình bìa cuốn Phép Giảng Tám Ngày
Nhật Bản nhờ ngăn được cả François Xavier và Alexandre de Rhodes, họ chọn lọc phần tinh túy Tây phương, giữ vững truyền thống bản địa, đã trở thành siêu cường qua hai cuộc thế chiến. Tôi nghĩ rằng nếu A. De Rhodes không bị đuổi ra khỏi đất Nhật, thì có lẽ giờ này ta là Nhật, đang có đầy đủ điều kiện để chống lại Bắc Kinh, còn Nhật Bản ngược lại đang bi TQ dùng hằng trăm tàu thuyền vây hãm, đâm ủi và phun nước tại vùng biển Hoa Đông.
Giả sử rằng ngay cả tiếng nói ta cũng không còn, như người Argentine, người Mexico hoặc Brésil, thì chắc là niềm hãnh diện càng cao, thâm ân với giáo sĩ Đắc Lộ càng lớn hơn nữa !
Wikipédia trang nhà tiếng Pháp viết về A. De Rhodes đến VN năm 1624 và chế ra phiên âm La Tinh Việt ngữ như sau:
Il reprend les travaux de Francesco de Pina (1585-1625) sur place depuis 1617 et premier européen à maîtriser la langue vietnamienne, de Christoforo Borri(1583-1632) et du luso-japonais Pedro Marquez(1613-1670) arrivés en 1619, et travaille à la mise au point d'une transcription romanisée et phonétique du vietnamien, le Quoc Ngu, qui sera utilisée dans tout le pays. Il publiera en 1651 un dictionnaire annamite-latin-portugais accompagné d'une grammaire. Il est fort probable qu'il se soit également servi des premiers travaux de romanisation de la langue japonaise (romaji) de Yajiro (en), un japonais converti du milieu du XVIe siècle . Ce remarquable outil permit, non seulement une diffusion rapide de la religion, mais également une démocratisation de la connaissance dans tout le pays. Le quoc ngu est adopté depuis près d'un siècle comme le système d'écriture national du Viêt Nam et de façon officielle depuis 1954

3- Âm thanh và chữ viết, Ngôn và Ngữ
Ông lấy lại các tài liệu tại chỗ của Francesco de Pina (1585-1625) từ năm 1617, và của Christoforo Borris(1583-1632), người đầu Âu châu đầu tiên thông thạo tiếng Việt, và của các tài liệu tiếng Bồ-Nhật của Perdo Marquez(1613-1670), tất cả đều đến đây từ năm 1619, và tìm cách chuyển tiếng Việt sang cách phiên âm La ngữ, thứ tiếng sẽ được dùng cho cả nước. Ông cho in cuốn tự vị An Nam-La Tinh-Bồ đi kèm với văn phạm năm 1651. Cũng rất có khả năng ông đã sử dụng lại những tài liệu đầu tiên dùng để La hóa tiếng Nhật(romaji) của Yajiro, một người Nhật cải đạo vào giữa thế kỷ thứ 16. (Yajiro là thông ngôn Nhật đã cải đạo, phạm tội giết người ở Nhật, sau này trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo với cái tên Paulo de Santa Fé- chú thích nd). Dụng cụ lỗi lạc này cho phép, không những quảng bá nhanh chóng về tôn giáo, mà còn phổ cập hóa được kiến thức trong toàn xứ sở. Quốc ngữ đã được thừa nhận từ gần một thế kỷ là hệ thống chữ viết quốc gia của VN và được chính thức hóa từ năm 1954.
Tượng cố đạo De Rhodes và điêu khắc gia Phạm Văn Hạng (ngồi bên phải ảnh)
Đọc qua những điều này ta thấy rõ De Rhodes tiếp tục công việc nửa chừng của nhiều giáo sĩ Bồ Đào Nha đi trước ông, nhưng chỉ riêng ông lãnh huy chương của người VN.
Đọc qua những trích dẫn mà người Pháp viết về VN, chính họ còn biết ngượng mồm không bao giờ gọi đó thẳng thừng là 'langue nationale Vietnamienne', mà luôn tránh né hoặc gọi làquoc ngu (không bỏ dấu), hoặc system d'écriture national du VN (hệ thống chữ viết quốc gia VN) hoặcl'écriture Vietnamien (chữ viết VN). Chỉ người Việt lại gọi đó là langue nationale (quốc ngữ) mà không chút ngượng mồm.
Dân Nhật cũng cùng lúc bị các giáo sĩ xâm nhập và truyền giáo và cũng có ý đồ xâm lăng cả văn hóa, nghĩa là La hóa tiếng Nhật, nhưng sức kháng cự Nhật Bản mạnh hơn VN, nên CG đã không thành công ở Nhật. Tôi đã có đọc được bài viết của Công giáo VN tán dương các cha Nhật Bản đã phúc tử vì đạo trong thời kỳ này và đã được phong thánh (tôi lập lại nguyên văn từ phúc tử của vị linh mục đáng kính).
Wikipédia còn nói rõ rằng, Christoforo Borris đã đến VN trước A. De Rhodes và đã thông thạo tiếng Việt.
Ở quốc gia nào cũng vậy, khi gọi là quốc ngữ thì hệ thống đó phải được bao gồm cả âm thanh và chữ viết, mà quan trọng hơn vẫn là âm thanh, chẳng hạn Anh ngữ, Pháp ngữ, Nhật ngữ...nhưng khi nói đến Việt ngữ thì kẹt cứng, vì tiếng nói thì Việt mà ký âm để đọc và viết thì La Tinh, râu ông chắp cằm bà.
Đối với một dân tộc không có chữ viết trước khi bị La hóa thì nó quá dễ dàng được chấp nhận, mà không chừng còn rất cần cám ơn. Nhưng VN đã có một hệ thống chữ viết trước khi thực dân đến. Cha ông ta đã cố gắng xóa bỏ ảnh hưởng của văn hóa Tàu mà tạo ra chữ Nôm, nhưng vừa thoát ra khỏi Tàu đã bị Tây nuốt chững. Cái đau khổ khi bị Hán hóa trong hành chánh và văn thư được toàn thể người Việt, từ vua đến dân cùng chiến tuyến chống lại, nhưng khi bị Tây hóa thì chia năm xẻ bảy ý kiến khác biệt.
Sự chia rẽ này cho thấy từ lúc lập quốc đến khi có chữ Nôm trong thời kỳ viết và sử dụng chữ Hán, tinh thần Việt lại hoàn toàn độc lập dối với văn hóa TQ. Ngược lại từ khi có 'quốc ngữ', thì tinh thần Việt đã mất đi tính độc lập, biểu hiện bằng những ca ngợi, những xưng tụng thâm ân đến từ bên ngoài, và dân Việt cũng sẵn sàng đấm đá nhau bằng mọi giá để một bên là bảo vệ dân tộc, một bên là vinh danh tôn giáo qua hình ảnh của Alexandre de Rhodes, Nguyễn Trường Tộ, Trần Lục hay Pétrus Ký.
Có thể kết luận rằng hơn 2000 năm sống với Tàu, người Việt luôn đoàn kết để chống Tàu. Từ khi Pháp và đạo Thiên chúa vào VN và ra đi, người Việt đánh nhau nhiều hơn cả chống ngoại xâm, từ đó đã vô tình hình thành hai khối đối lập: khối dân tộc và khối Công giáo. Nếu nhà nước không khôn khéo hóa giải được rạn nứt này, sớm hay muộn lại sẽ có đổ máu tại VN.
Cái nhìn này cho thấy 'quốc ngữ' không hoàn toàn mang phúc lợi đến cho VN như đa số người vô tư nhận xét, mà có thể sẽ là một hiểm họa.
Trong các nghiên cứu của các học giả Pháp, khi nói về quốc ngữ Việt Nam, họ luôn dè dặt dùng từ l'écriture vietnamienne (chữ viết tiếng Việt) chứ không bao giờ họ xài từ langue nationale (quốc ngữ), như đã nói ở trên.
Nhà nước VN không nên khơi lại, vinh danh cho, hay đưa ra nghiên cứu và thảo luận về đề tài Alexandre de Rhodes.
Giáo hội Công giáo VN nên chính thức chấp nhận đứng về phía dân tộc, như J. Paul 2 đã xưng thú với thế giới, thừa nhận những tội lỗi mà người Công giáo đã phạm phải trong quá trình du nhập vào VN cùng với bước chân của thực dân.
Chính sách romanisation (La hóa) văn hóa của giáo hoàng La Mã cùng với các đế quốc thực dân là có thực chứ chẳng ai bịa ra vì ghen ghét. Ký âm La Tinh là do các cha cố chế tạo với mục đích truyền giáo và cai trị thực dân. VN xài là vì bị cưỡng bức, cho đây là ký âm La Tinh Việt ngữ thì chuẩn, nhưng gọi thẳng thừng luôn là quốc ngữ, hoặc chữ quốc ngữ, sẽ tạo rất nhiều bất đồng dân tộc; vì tiếng nói là của ta, may mắn thay, không phải do các cha cố chế ra. Giám mục Puginier nói rất rõ mục đích của các nhà truyền giáo và mục đích thực dân chỉ là một trong việc La hóa chữ Việt:
...Vấn đề này có tầm quan trọng rất lớn, sau khi đạo Thiên Chúa được thiết lập, tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và thay thế dần dần ban đầu bằng tiếng An nam, rồi bằng tiếng Pháp như là phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông.”(trích dẫn lại của Bùi Kha)
Có học giả ngữ học nào phân tích giúp tôi xem thế nào gọi là một ngôn ngữ ? Nếu tôi không lầm thì khi nói đến quốc ngữ của một dân tộc, là không chỉ đề cập đến lối viết, mà phải bao hàm cả tiếng nói; phần tiếng nói còn có phần quan trọng hơn, vì nó khó bị các biến cố chính trị làm thay đổi. Alexandre De Rhodes đâu có sáng tạo ra tiếng Việt đâu mà cho rằng ông sáng chế Quốc ngữ? Hãy bỏ tiếng VN ra ngoài cái 'outil remarquable' (dụng cụ lỗi lạc) ấy đi, rồi xem thử đó có phải là quốc ngữ hay không.
Đây là một bất đồng thuận rất lớn của dân tộc. Nếu đã nhất định rằng đây là chữ quốc ngữ, thì câu hỏi cần được đặt thêm là: quốc ngữ VN là gì? Chẳng lẽ phải đặt ra một từ nữa là quốc ngôn, tiếng nói, để phân biệt với quốc ngữ, chữ viết? Nếu không thì câu hỏi ngớ ngẩn này bắt buộc phải được đặt ra: Quốc ngữ và chữ quốc ngữ khác nhau như thế nào ?
ngôn »« ngữ
Một trang nhà tiếng Pháp nói về ngôn ngữ Phi châu như sau:
En Afrique, la ou les langues officielles sont généralement des langues utilisées par l'administration ou les écrits, alors que la ou les langues nationales sont généralement des langues orales et véhiculaires. Tạm dịch : Ở Phi Châu, ngôn ngữ hay những ngôn ngữ chính thức được dùng thông thường trong văn thư hay trong hành chánh, trong khi quốc ngữ hay những quốc ngữ nói chung là ngôn ngữ để nói và được sử dụng hằng ngày.
Wikipedia tiếng Anh cũng phân biệt rất rõ ràng:
A national language may for instance represent the national identity of a nation or country. National language may alternatively be a designation given to one or more languages spoken as first languages in the territory of a country.” Tạm dịch: Có khi Quốc ngữ có thể đại diện cho căn cước quốc gia. Quốc ngữ cũng có thể dùng để thay thế một chỉ định cho một hay nhiều ngôn ngữ được nói như ngôn ngữ thứ nhất trong lãnh thổ một quốc gia.
và:
In many African countries, some or all indigenous African languages are legally recognized as "national languages" with "official language" status being given to the former colonial language (English, French, Portuguese, or Spanish). Tạm dịch: Trong nhiều nước châu Phi, vài hay tất cả ngôn ngữ Phi châu bản địa được công nhận bằng luật như “quốc ngữ”, còn “ngôn ngữ chính thức” thì để chỉ định tiếng thuộc địa cũ ( Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha).  
Nếu đúng tinh thần định nghĩa theo Anh ngữ như trên, làm sao dân tộc VN có thễ lấy 'quốc ngữ' viết theo La Tinh làm đại diện cho nguồn gốc của dân tộc (national identity)?
Thú thật từ 'quốc ngữ' của VN đã làm cho từ 'national language' của Anh và Pháp ngữ trở nên không thể đối chiếu. Cho nên đây là một đề tài rất rắc rối, không hề đơn giản trên phương diện chính trị và chính danh, càng chứng tỏ sự La Tinh hóa Việt ngữ và gọi nó là quốc ngữ ngày càng tạo ra phức tạp rối rắm, càng đi và ngõ cụt không có lối thoát.
Hãy tìm tên Wikipédia tiếng Pháp, thí dụ nước Sénégal, sẽ thấy ngay ngôn ngữ chính thức là tiếng Pháp, và quốc ngữ thì có nhiều thổ ngữ khác biệt. Cọng hòa Congo cũng ghi ngôn ngữ chính thức là Pháp, nhưng quốc ngữ là tiếng Kituba và tiếng Lingala. Nếu nhà nước chính thức công nhận phiên âm La Tinh của các giáo sĩ truyền giáo là quốc ngữ, vậy tiếng nói của dân tộc VN trước khi bị La Tinh hóa và may mắn vẫn còn tồn tại đến ngày nay phải được gọi là gì?

4- Thầy tu gian manh đi dạy đạo và đi khai hóa văn minh
Tôi đọc khá nhiều người viết về A. De Rhodes, mà theo Charlie Nguyễn, ngay cả cái tên De Rhodes cũng là ăn cắp, vì chữ “De” trong tên của người Pháp thuộc dòng dõi quý tộc. Alexandre Rhodes thêm chữ này vào cho thêm phần quý phái. Tôi tin rằng Charlie Nguyễn không có oán thù cá nhân nào với Alexandre de Rhodes để cố tình bôi nhọ vị cha cố đầu tiên đến VN. Còn cuốn tự vị Việt-La-Bồ thì chỉ biên tập có một phần, hai phần còn lại cũng là ăn cắp. Gian manh như vậy mà làm thầy tu đi dạy đạo và đi khai hóa văn minh? Những tác giả viết về đề tài này rất nghiêm chỉnh, như Huỳnh Ái Tông, Bùi Kha, Trần Chung Ngọc, Jacques Roland, GS Phạm Văn Hường, tôi xin trích ra vài dòng của Charlie Nguyễn để thay ý kiến của tôi về cái vinh danh tạo ra quốc ngữ, mà đúng ra phải luôn nói là chữ viết chính thức (l'écriture officielle), hoặc phiên âm La Tinh, như sau:
Riêng đối với lịch sử Việt Nam, Alexandre de Rhôde phải được coi là kẻ thù số một vì chính y là kẻ đầu tiên có sáng kiến lập ra hội Thừa Sai Paris và cũng là người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam. Sử gia Pháp là ông Bonifacy, tác giả cuốn “Les Debuts du Christianisme en Annam” xuất bản tại Hà Nội năm 1930 đã viết: “Vai trò của Alexandre de Rhôde trong việc thành lập hội Thừa Sai Paris đã đưa giáo hội Công giáo Đàng Trong và Đàng Ngoài ra khỏi vòng kiểm soát của người Bồ Đào Nha, đã đem lại cho người Pháp vai trò quan trọng nhất ở bán đảo Đông Dương – pages 16-17. (“Sự Du Nhập đạo Thiên Chúa vào Việt Nam từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19” của giáo sư Nguyễn Văn Kiệm - Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam – Hà Nội 2000 – trang 123). Phê bình về Alexandre de Rhôde và các giáo sĩ thừa sai, giáo sư Kiệm (sách dẫn chiếu, trang 300-301) viết: “Các giáo sĩ thừa sai, trong đó có Alexandre de Rhôde, đã gây nên một cú sốc lớn đối với đời sống tâm linh và văn hóa của dân tộc ta… làm băng hoại nền tảng của cộng đồng. Họ mang mặc cảm tự cao cho rằng Cơ Đốc giáo là tôn giáo hoàn vũ, cao siêu hơn bất cứ tôn giáo nào khác …. Do đó, họ coi các tôn giáo truyền thống bản địa đều là thấp kém, man muội cần phải xóa sạch để thay thế bằng Cơ Đốc giáo. Sự cấm đạo của nhà cầm quyền Việt Nam và tâm lý bất hòa giữa lương giáo trong dân chúng còn kéo dài đến ngày nay chính là những phản ứng tất nhiên chống lại sự xúc phạm đó và đồng thời là một hành động tự vệ chính đáng của một dân tộc đã có một nền văn hóa định hình và một ý thức tự tôn dân tộc cao.
Quân Pháp trước khi xâm lược cần đưa gián điệp dò đường, thì Alexandre de Rhodes chính là một trong những tên gián điệp dò đường, chuẩn bị quy mô cho cuộc xâm lăng thực dân.Tư tưởng thực dân còn do chính A. De Rhodes nói rõ trong cuốn Hánh Trình và Truyền Giáo như sau:
J’ai cru que la France, étant le plus pieux royaume de monde, me fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conquête de tout l’Orient, pour l’assujetter à Jésus Christ, et particulièrement que j’y trouverais moyen d’avoir des Évêques, qui fussent nos Pères et nos Maitres en ces Églises. Je suis soirti de Rome à ce dessein le 11e Septembre de l’année 1652 après avois baisé les pieds du Pape”.
Tiến sĩ Thần học Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuân dịch :
“Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi mấy chiến sĩ (plusieurs soldats) đi chinh phục toàn cỏi Đông phương (la conquête de tout l’Orient), đưa về qui phục Chúa Kitô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó, tôi rời bỏ Rôma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi tới hôn chân Đức Giáo hoàng” -Hành trình và truyền giáo.
TCN đã phê bình những sai lầm của Hồng Nhuệ về cách dịch chẳng hạn dịch pieux là đạo đức (sic), nhưng tôi chỉ trích nguyên văn mà không cần bình phẩm thêm, vì trình độ Pháp ngữ của vị tiến sĩ thần học không biết có vấn đề hay không, nhưng pieux mà dịch là đạo đức thì học sinh trung học cũng phải cười phì, có lẽ ông ta cố tình dịch như vậy để ca tụng nước Pháp.
Đây là sự tự thú của vị giáo sĩ truyền giáo người Pháp về ý muốn thôn tính cả Đông Á chứ không phải chỉ riêng VN. Có người bênh vực lá thư này nói từ mấy chiến sĩ là các chiến binh thừa sai, ý nói là chiến sỹ của hòa bình, là giáo sĩ đi truyền giáo. Nếu luận cứ này đúng, vậy câu “sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn” thì những người này là gì ? Những người này đều là giáo sĩ, đã là những chiến sĩ truyền giáo rồi, việc gì mà phải lặn lội đến Paris mà cầu viện? Chẳng lẽ giáo sĩ được Louis 14 cung cấp được gọi là soldat, còn các giáo sĩ khác như chính Alexandre de Rhodes thì không phải ? Hơn nữa, các thừa sai sao lại do vua Pháp cử đi mà không phải là Giáo Hoàng như rất nhiều học giả khác đã nhận định? Cho nên việc tiến sỹ thần học Nguyễn Khắc Xuyên dám nhục mạ GS Hoàng Tuệ là “ngu dốt”chỉ vì người ta đã dịch đúng, là việc hy hữu, chỉ có thể có trong hàng ngũ người Công giáo. Ngoài ra, nhóm 'trí thức' như Nguyễn Đình Đầu, Đinh Xuân Lan đều nhao nhao lên tâng bốc ông cố đạo người Pháp, kẻ đặt viên đá đầu tiên cho chủ nghĩa thực dân Pháp tại VN, không biết nhà nước VN bật đèn xanh như vậy với mục đích gì ?
Lại có kẻ, vì quá tôn thờ bọn xâm lược Pháp La Mã, đã nói một cách cao ngạo và hãnh diện rằng: Không có chữ quốc ngữ thì ta làm sao mà viết ? Lại làm sao mà văn minh tiến bộ như hôm nay được?

5- Tại sao chỉ có dân Việt Nam
Người VN bình thường nào cũng có thể trả lời, dân Nhật không xài La tinh, người Hàn Quốc cũng đâu có La tinh, TQ thì dĩ nhiên sao mà cần cái ấy của Tây Dương ? Chỉ Việt Nam kém may mắn mới ăn phải bã. Câu hỏi đầy tính tâng bốc như thế chỉ có thể có trong đầu óc một tinh thần nô lệ.
Xin trích ra đây đoạn văn mà giáo sư Nguyễn văn Trung, một trí thức Công giáo, nghiên cứu tài liệu để lại của quan toàn quyền Đông Dương Jean-Marie Antoine Louis de Lanessan 1891 một đoạn như sau:
“....Theo Lanessan, các vị thừa sai Công giáo thường nhắm quần-chúng, dân quê, bần cùng nghèo khổ, hoặc kẻ trộm cắp để giảng đạo. Nói cách khác, người Công giáo thường thuộc thành phần những giai cấp thấp hèn nhất trong xã-hội. Những người này thường được tập họp lại thành làng xóm riêng, tách khỏi đoàn thể dân tộc. Lý do cô lập các làng theo đạo ở tại các thừa sai sợ người theo đạo, giao thiệp với người Lương có thể quay lại những phong tục lễ nghi ngoại-đạo. Cũng vì lý do sợ đó mà họ đã tạo ra chữ quốc ngữ chủ-đích là để cho giáo dân khi biết đọc chữ quốc ngữ, thì chỉ biết đọc sách báo đạo mà thôi, trái lại nếu để cho họ học chữ Nho, sợ họ có thể thông cảm lại với tư tưởng ngoại giáo. Thành ra việc sáng lập chữ Quốc ngữ phải chăng nhằm một mục đích “ngu-dân” ly khai với văn-hoá dân tộc? .” (xem Chủ Nghĩa Thực Dăn Pháp ở VN - Thực Chất Và Huyền Thoại Nguyễn Văn Trung)
Cho nên tự hào về Alexandre de Rhodes là cố tình phản lại dân tộc.
Thú thật tôi còn hổ thẹn với người Miên, Lào là mình không bằng họ.
Tiến trình xâm lược của thực dân Pháp và Anh ở Đông Nam Á
Cũng chính quan toàn quyền này, Lanessane, là tư lệnh của quân Pháp trong trận chiến giữa Pháp và Xiêm (Siam) năm 1893, điều này chứng tỏ các thừa sai của Pháp có mặt cùng khắp Đông Dương, mà sao chỉ có riêng VN có chữ viết La tinh ? Có phải vì chỉ riêng VN là có Công giáo phản lại dân tộc ?
Việt ngữ La tinh là ngôn ngữ được nhà cầm quyền Pháp cưỡng bức thành văn tự chính thức, vì lúc ấy họ nắm hết vận mạng người Việt, như trong bằng chứng mà người Pháp viết sau đây:
Tiếng Pháp đã thế chỗ tiếng Latinh, nhưng tính chất công cụ của công cuộc này vẫn còn nguyên. Trong viễn kiến này, như Paulin Vial, Giám đốc Nội vụ Nam Kỳ, đã nhấn mạnh, việc sử dụng chữ Hán là một trở ngại cho hoạt động của chính quyền thuộc địa và sự giao tiếp giữa người Pháp và người Việt: “Ngay từ những ngày đầu, chúng ta đã nhận thấy rằng chữ Hán là một rào cản giữa chúng ta và dân bản địa; việc áp dụng lối viết dùng chữ cái giúp chúng ta hoàn toàn thoát khỏi rào cản đó; chữ Hán gây khó khăn cho việc chuyển tải đến người dân các khái niệm khác nhau cần thiết cho họ, ở mức độ phù hợp với tình hình chính trị và xã hội mới.” Ngoài ra, ngày 22 tháng 02,1869, chính quyền Nam Kỳ ra một nghị định, bắt buộc sử dụng chữ Quốc ngữ trong các văn bản hành chánh.(Alexandre de Rhodes Inventou o quôc ngu?- Alexandre de Rhodes có phát minh ra chữ Quốc ngữ? Alain Guillemin, Bản dịch của Ngô Tự Lập)
Bằng cấp do họ định, học vấn do họ cai quản, việc làm do họ cho, tiền bạc họ nắm. Họ đào tạo ra một số những tên nhà giàu theo giặc đi học tiếng tây làm bồi cho tây, những tên bồi tây này hô hào quốc ngữ, vì 100% bọn này đều theo Công giáo và theo giặc. Chỉ cần làm gì mà dân việt bỏ xa truyền thống, bỏ xa ông bà tổ tiên, thì họ hồ hỡi phấn khởi mà làm, để tâng công với quốc mẫu. Với quốc mẫu thì xóa bỏ văn hóa gốc của dân việt còn hay hơn triệu cây súng. Thế giới ngày nay lên án mọi hành động diệt chủng. Giết người tội ác còn nhẹ hơn là diệt văn hóa, vì diệt văn hóa đồng nghĩa với diệt chủng.

6- Học võ của người để đánh lại người
Dù sau đó những người yêu nước cũng hô hào học quốc ngữ, sự hô hào này là chuyện chẳng đặng đừng, nó như học võ của của người để đánh lại người, chẳng thể vì thế mà lại cho rằng chữ quốc ngữ đã được “rửa tội” và được toàn dân quý mến, cũng chẳng phải vì vậy mà những người như nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân, viện sỹ Nguyễn Duy Quý (xem cùng bản dịch của Ngô Tự Lập) cho rằng cần phải tôn vinh Alexandre de Rhodes để cám ơn ông ta.
Đúng ra Alexandre De Rhodes hoàn toàn không biết trước rằng những ký âm pháp tiếng Việt bằng La Tinh mà ông đã thừa hưởng từ công lao của những giáo sĩ người Bồ đã đến trước ông tại VN, sẽ trở thành 'quốc ngữ' của người Việt. Tuy muốn biến toàn cõi Đông Dương thành nước Chúa, ông chỉ đơn thuần dùng ký âm này để viết sách truyền đạo. Sau khi thất bại trong việc yêu cầu vua Pháp xuất quân đánh Đông Á, cho đến lúc này, ông chưa hề nghĩ rằng ký âm La Tinh là một dụng cụ xâm lăng văn hoá hữu hiệu như những thực dân chuyên nghiệp và đã có nhiều kinh nghiêm hơn ông đi sau ông, như giám mục Pháp Puginier tự thừa nhận:
...Cần phải dạy càng sớm càng tốt cho người An Nam viết và đọc được tiếng họ bằng chữ Âu Châu, việc này dễ hơn và tiện lợi hơn dùng chữ Nho. Trong vài năm sau, cần phải bắt buộc mọi giấy tờ chính thức không được viết bằng chữ Nho như trước nữa, phải viết bằng tiếng trong nước, mỗi viên chức ít nhất phải được dạy đọc và viết tiếng An nam bằng chữ Châu Âu. Trong lúc đó việc dạy chữ Pháp sẽ tiến triển nhiều hơn và chúng ta chuẩn bị một thế hệ để cung cấp các viên chức có học tiếng nước chúng ta. Như thế có lẽ trong vòng 20 hay 25 năm chúng ta có thể bắt buộc mọi giấy tờ đều viết bằng tiếng Pháp, do đó chữ Nho sẽ dần già bị bỏ rơi mà chúng ta chẳng cần phải cấm đoán gì.” (trích lại của Bùi Kha)
Tóm lại, Quốc ngữ đã được chế ra với mục đích đầu tiên là truyền giáo với cuốn Phép giảng tám ngày và dĩ nhiên là cũng để làm gián điệp, vì nhờ nó mà giáo dân cung cấp thông tin cần thiết về văn hóa, quân sự, chính trị của VN. Tôi nghĩ rằng A. De Rhodes được vinh danh vì Công giáo VN được trực tiếp chỉ thị từ các cha cố Pháp; và giáo hội VN, với số ít trí thức nhận thức được khuôn mặt thật của các giáo sỹ thừa sai, kỳ dư đa phần đều ưa thích sống dưới chế độ thực dân; vì dưới chế độ đó, giáo hội CGVN không thua giáo hoàng La Mã, muốn gió có gió, muốn mưa có mưa. Tinh thần vọng ngoại cầu vinh này đã làm cho dân tộc trôi lăn trong cảnh bảy nổi ba chìm hằng thế kỷ.
Chữ Nôm đã bị kẻ thù giết mất xác, chưa tìm được để chôn cất, lại đem lên bàn thờ VN một thực thể ngoại lai thực dân xâm lược với bao lời ca tụng thần thánh hóa. Do vậy mà chữ Nôm đã không còn ai nhắc, mai một đi vì không có đất dụng võ, rồi dần dần, khi mà mọi người đều học và viết được La Tinh thì đã đại sự đã cáo thành. Công lao cổ xướng phong trào này là nhóm trí thức theo Pháp như Phạm Quỳnh, Pétrus Ký, Paulus Của vv , nó đã trở thành chữ quốc ngữ mà người VN hoàn toàn không có quyền lựa chọn.

7- Những lời ca ngợi kẻ bán nước
Nhân đây cũng xin nói vài lời về Trương Vĩnh Ký theo Wikipédia trang tiếng Pháp (tôi luôn nghi ngờ những gì được viết về VN với Wikipédia Việt ngữ):
Petrus Trương Vĩnh Ký (Petrus 張永記, 1837-1898), dit Petrus Key, est un érudit catholique vietnamien du sud, professeur au collège des interprètes français. Il échange des correspondances avec Émile Litrré et Ernest Renan. Auteur d'environ 130 ouvrages [réf. nécessaire], il est pionnier dans la traduction de livres du français vers l'annamite ou de l'annamite vers le français. À l'instar d'Alexandre de Rhodes, il est le vrai instigateur de la latinisation de l'écriture vietnamienne.
Petrus Truong Vĩnh Ký est né le 6 décembre 1837 à Vĩnh Long, ville de la Cochinchine , chef-lieu d'une province du même nom, sur le Mékong oriental, à 120 km au sud-ouest de Saigon. Il devient catholique, passe quelques années au séminaire de Malacca. Très jeune, il jouit d'une grande facilité pour les langues de l'Asie orientale et le français lui est aussi familier que sa langue maternelle. Il entre à Saigon au service du vice-amiral Charner, commandant en chef, puis du vice-amiral Adolphe Bonard, le 1er gouverneur. Il dépend de Henri Rieunier chargé, depuis 1861, des affaires indigènes à l'état-major général. ...
Tạm dịch:
Petrus Trương Vĩnh Ký (Petrus 張永記, 1837-1898), thường được gọi là Petrus Key, là một nhà bác học Công giáo ở Nam kỳ, giáo sư trường trung học thông ngôn Pháp. Ông từng trao đổi thư từ với Émile Littré và Ernest Renan.
Tác giả của khoảng 300 cuốn sách [nguồn cần được kiểm chứng], ông là người tiên phong trong lãnh vực dịch thuật sách vở từ tiếng Pháp ra tiếng An Nam và từ tiếng An Nam ra tiếng Pháp. Trừ Alexandre de Rhodes, ông thực sự là kẻ đứng đầu công trong việc La Tinh hóa chữ viết Việt Nam.
Pétrus Ký sinh ngày 6 tháng 1 năm 1873 tại Vĩnh Long, thành phố của Nam kỳ, thủ phủ của tỉnh mang cùng tên trong vùng Đông Mékong cách Sài Gòn 120km về phía tây nam. Ông thành con chiên, trải qua vài năm trong chủng viện ở Malacca. Rất trẻ, ông đã thông thạo thực dễ dàng những ngôn ngữ Đông Á, và Pháp ngữ đối với ông quen thuộc như tiếng mẹ đẻ. Về Sài Gòn ông phục vụ cho phó đô đốc hải quân Charner, chỉ huy trưởng, rồi phục vụ cho phó đô đốc Adolphe Bonard, thống đốc đầu tiên. Ông thuộc quyền của Henri Rieunier, từ năm 1861, lo về bản địa sự vụ trong ban tham mưu tổng quát....
Và đây là lời ca tụng Trương Vĩnh Ký của Minh Vân, một giáo dân Công giáo học rất cao, hiểu rất rộng (trích lại từ sách của Trần Chung Ngọc):
Hàng Trí giả toàn cầu đã không còn xa lạ gì với tên tuổi Đại Danh Nhân Thế Giới PETRUS KÝ (TRƯƠNG-VĨNH-KÝ). Tiên sinh là một “Đại Học Giả”, một Nhà Bác Ngữ Học kỳ tài đa năng, đa diện trên nhiều lãnh vực Khoa-Học, khiến giới Trí thức Âu-Châu lúc bấy giờ đã phải cúi đầu trước trình độ bác cổ thông kim của Vị Tiền Bối nầy! Ngay cả các nhà Văn Hóa, nhà Từ điển, nhà Khoa Học thời danh lúc bấy giờ cũng phải nghiêng mình nhường bước cho việc bầu chọn PETRUS KÝ vào hàng “THẾ GIỚI THẬP BÁT VĂN HÀO” năm 1874, kể cả Đại Văn Hào Pháp VICTOR HUGO (1802-1885), một Nhân vật Văn Hóa đã được an táng trong Điện Panthéon nước Pháp, cũng phải lui sau nhường chỗ đứng. Bản thân các Danh nhân Văn Hóa thế giới, không những tự nguyện xin đứng phía sau, nhưng còn để lại cho hậu thế ngày nay bao nhiêu tác phẩm đã viết, nội dung tôn vinh ca ngợi nhà Tiền Bối Văn Hóa PETRUS KÝ đến hết lời. Tiên Sinh là một người dân bị trị không quyền chức duy nhất trên hành tinh được ghi tên vào Bộ “Đại Từ điển Bách Khoa " (Larousse Illustré) rất danh giá của nước Pháp là điều hy hữu!
Nếu tôi là Pétrus Ký tôi sẽ đỏ mặt khi nghe tán tụng theo lối mà giáo chủ Ma giáo Nhậm Ngã Hành được ca tụng, nào là muôn năm trừng trị, nào là nhất thống giang hồ, nếu có ai đọc Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung.
Người Pháp công nhận tài của Pétrus Ký, nhưng họ không hề nhắc đến việc ông này có trong Panthéon hay không, và có thuộc về 18 vị bác học hay không. Có lẽ Minh Vân đã đọc được tài liệu do Trương Vĩnh Lễ viết trong Bulletin de l'Association Nationale des Anciens d'Indochine et du Souvenir Indochinois, số đệ nhất tam cá nguyệt năm 1989. Trương Vĩnh Lễ tán dương nhiều hơn Minh Vân, nhưng cũng không hề nói Vĩnh Ký được vào Panthéon đứng trước cả Victor Hugo.
Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) với 2 huy chương của Công giáo (La Mã và Tây Ban Nha) và 3 huy chương của Thực dân Pháp (trong đó có huy chương cao quý nhất của chính phủ Pháp là Bắc Đẩu Bội Tinh). Nhờ công lao nầy cho thế quyền và giáo quyền ngoại bang đô hộ nước ta, ông được dựng tượng đặt sau lưng Nhà thờ Đức Bà tại Sài Gòn.
Không ai chê Trương Vĩnh Ký bất tài, nhưng chắc chắn ông là một trong những tay sai của người Pháp, vì ông theo Công giáo, từng học ở chủng viện Malacca, và được làm việc dưới quyền trực tiếp của Henri Rieunier, một trung úy sau này lên đến chức đô đốc của hải quân Pháp. Theo tài liệu của Trương Vĩnh Lễ, Pétrus ký được nữ hoàng Tây Ban Nha Isabelle La-Catholique và Pháp ban thưởng lúc ông làm thông ngôn cho phái đòan của cụ Phan Thanh Giản, riêng Pháp đã tặng ông danh dự Bắc Đẩu Bội Tinh.
Pháp và Tây Ban Nha là hai đế quốc ác ôn nhất lịch sử thực dân đều ban huân chương cho ông, thì chẳng lẽ công lao làm tôi tớ của ông lại lu mờ, trừ trường hợp Trương Vĩnh Lễ lại cũng phịa.
Xin trích ra một đoạn văn bán nước của Pétrus được sử gia Vũ Ngự Chiêu tiết lộ trong cuốn Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883-1945 - Tập 1 với nguyên văn như sau:
SHM (Vincennes) GG2 99:2. Petrus Key, tức Trương Vĩnh Ký sau này, cũng cùng một nhận xét. Tháng 3/1859, Petrus Key viết cho Grand Chef et Vous Tous très honorables officiers de la flotte francaise”: Ayez pitié de nous. Vous êtes nos libérateurs et la main des ennemis nous a touchés! Hala! The wearer knows very well where the shoe pincheth. Nous savons auusi que “qui trop embrasse mal etreint.” Et cependant nos souffrances nous poussent à invoquer votre puissaance et à vous exposer du fond du coeur tout ce que je veux de soumettre à votre prudence et a votre sagesse.” Thư tháng 3/1859, Petrus Key gửi Grand Chef; SHM (Vincennes), GG2 99:2” Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883-1945 - Tập 1 (Houston, TX: Văn Hóa, 1999), tr.130.
Tôi xin tạm dịch đoạn văn này cho những ai không đọc được Pháp ngữ:
Tháng 3/1859, Pétrus Ký viết cho Xếp Lớn và Tất Cả Quý Vị Sĩ Quan rất đáng tôn kính của hạm đội Pháp:
Xin thương xót chúng tôi. Quý ngài là những người giải phóng của chúng tôi, và bàn tay của kẻ thù đã chạm đến chúng tôi! Xin hoan nghênh quý ngài! Kẻ mang giày mới biết kích cỡ của chiếc giày (ý nói người VN mới biết nhược điểm của VN, lời nguời dịch). Chúng tôi cũng biết được rằng không thể ôm đồm “bắt cá hai tay”.
 Và trong khi sự chịu đựng của chúng tôi đã khiến chúng tôi cầu khẩn đến sức mạnh của quý ngài đồng thời bày tỏ, đệ trình lên quý ngài tấm lòng sâu xa của chúng tôi đối với sự thận trọng cũng như sự khôn ngoan của quý ngài.
Đoạn thư trên rõ ràng là thư mong mỏi, nhưng tuyệt nhiên không dám hối thúc quân đội Pháp đến đánh chiếm VN. Pétrus Ký sẵn sàng làm chỉ điểm cho ngoại bang, như kẻ mang giày biết giày chật hẹp chỗ nào. Cùng với sự bày tỏ lòng kính trọng còn hơn tôi thần kính trọng vua chúa, nào là du fond du coeur nào là soumettre, tóm lại là giọng văn của một nô lệ đang quỳ lạy cầu xin thực dân tối cao đem quân sang dày xéo VN. Không biết 'kẻ thù' mà Pétrus Ký gọi là ai ? Phải chăng là triều đình Huế? Hay là toàn dân VN ? Với lời lẽ này mà đòi vào Panthéon của Pháp tôi e là nằm mơ giữa ban ngày. Với lời lẽ này mà vẫn được nhà nước CHXHCNVN tôn kính và vinh danh mới thực là lạ!
Tuy nhiên tôi rất muốn xem tài liệu nào bằng tiếng Pháp ghi chép những thành tích quốc tế của Pétrus như được vào Panthéon, được liệt vào 18 bác học gia đứng đầu thế giới (vì Pháp công nhận nên phải có chứng cứ qua các tài liệu bằng Pháp ngữ, chứ tôi không nghĩ rằng Pháp đáng tin hơn VN). Những công trạng ấy do học giả VN cứ lập đi lập lại mãi mà không đưa ra bằng chứng thì chẳng có giá trị nghiên cứu. Hơn nữa, việc Pétrus ký học giỏi với việc Pétrus Ký là tay sai ngoại bang là hai việc riêng biệt. Theo như nhiều tài liệu của người Pháp, thì không thể phủ nhận Pétrus Key là người thông minh.
Vậy mà ngày nay, dù không còn chính quyền tay sai nào của Công giáo La Mã, nhóm người này vẫn được đề cao, được vinh danh mang tên những con đường, những trường học, những tượng đài. Chẳng lẽ nhà nước lại khuyến khích bán nước? Chỉ cần thông minh hơn một tí, có nhiều phương tiện hơn kẻ khác là có thể bán nước mà vẫn được 'bằng khen'!
Đối với tôi, quốc ngữ chính là chữ Nôm, được dùng viết cuốn sách đầu tiên đời Trần Thiền Tông Bản Hạnh hay Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du đời Lê, còn quốc ngữ mà cả nước đang sử dụng là ngôn ngữ đầu tiên bằng ký âm la tinh để truyền đạo của tên giặc Pháp Alexandre de Rhodes với cuốn Phép giảng tám ngày đem vào VN, chẳng nhục thì thôi, hà cớ gì còn vinh danh mang tên đường !?
Việt Nam từ khi thực dân Pháp đặt nền móng cai trị cho đến 1975, lúc nào cũng lắm phong ba bão tố, chưa bao giờ có một nền chính trị ổn định và độc lập. Đến khi cuộc cách mạng 1963 lật đổ được Ngô Đình Diệm, con đường mang tên giáo sĩ Đắc Lộ đã được nhân sĩ miền Nam tháo bỏ, nhưng đáng tiếc là cố thủ tướng Võ Văn Kiệt lại đưa nó trở về.Mong rằng nhà nước nên xét lại việc vinh danh cho tên giặc cướp nước này. Đây là một sai lầm rất nghiêm trọng của lịch sử, cũng là sự khinh thường xương máu của nhân dân.
Tình thực mà nói, nếu Pháp và bọn truyền giáo Pháp không đến VN, thì ngày nay người Việt chắc chắn xài chữ Nôm, đọc được văn bia thư khố mà cha ông để lại. Đã vậy, chưa chắc có cuộc nội chiến Bắc Nam kéo dài 21 năm. Không chừng còn có thể là một cường quốc không thua gì Nhật.

Hiện nay có khoảng 3,8 tỹ người dùng mẫu tự alphabet La Tinh, chủ yếu là trong các nước thực dân Âu châu và thuộc địa cũ của họ (tại Đông Nam Á, Phi châu và Nam Mỹ). Số còn lại của nhân loại là 3,2 tỹ trong hơn 60 quốc gia thì không dùng mẫu tự La Tinh: Afghanistan, Ai Cập, Albania, Algeria, Ấn Độ, Armenia, Azerbajan, Bangladesh, Barhain, Belarus, Bhutan, Brunei, Bulgary, Cambodia, Chad, Cyprus, Do Thái, Ethiopa, Georgia, Hàn Quốc, Hy Lạp, Indonesia, Iran, Iraq, Jordan, Kazakhstan, Kenya, Kuwait, Kyrgyzstan, Lào, Lebanon, Lithuania, Lybia, Malyasia, Mauritania, Miến Điện, Mongolia, Morocco, Nepal, Nhật Bản, Liên bang Nga, Oman, Pakistan, Qatar, Saudi Arabia, Serbia, Somalia, Sri Lanka, Sudan, Taiwan, Tây Tạng, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Tunisia, U.A.E., Ukraina, Uzbekistan, Yemen, …

8- Phân biệt hai nền văn minh Tây phương
Nên biết phân biệt có hai nền văn minh Tây phương: văn minh Âu Mỹ và văn minh thực dân La Mã. Tác giả Hoàng Văn Chí (Từ thực dân đến Cọng Sản) có một nhận xét khá chính xác: Cùng đều là thực dân, các quốc gia theo đạo Phản Thệ (Tin Lành) ít tàn bạo bằng các quốc gia theo Công giáo La Mã. Những quốc gia như Anh, Hòa Lan, Đức đều có thuộc địa, sau khi họ ra đi, các cựu thuộc địa vẫn còn lại văn hóa bản địa ít bị xâm hại.

9- Chướng ngại của sự đoàn kết
Giả thiết rằng quốc ngữ VN là chữ Nôm, ta có rất nhiều cái lợi: người TQ không đọc được điều ta viết, như người Nhật, người Hàn; còn nhân dân, cũng sẽ giống dân Nhật và Hàn, có thể thông hiểu và đọc được Hán ngữ, vốn là văn hóa đã được gạn lọc và đã hội nhập cùng dân tộc.
So trình độ Anh ngữ giữa người Việt và người Nhật, Hàn, Trung hay Ấn, dù ta có được chữ viết La Tinh làm 'vốn', chưa chắc ta hơn họ về ngữ văn này. Đừng nghĩ rằng mẫu tự La Tinh giúp ta dễ dàng hội nhập với văn minh Âu Mỹ hơn các dân tộc khác, mà không chừng chính nó lại chỉ khiến ta học theo cái mà Âu Mỹ đang xem là rác rưởi, đang tìm đủ mọi cách tống thải nó ra ngoài.
Theo thiển ý, cái hại của quốc ngữ La Tinh lớn hơn cái lợi, nó là một trong những chướng ngại của sự  đoàn kết. Dân tộc này sẽ không bao giờ trở về trong nguyên khối nhất quán như trước; trừ phi dân tộc cũng rơi vào tình trạng bị Công giáo hóa 100% như các nước Nam Mỹ hoặc Philippines, hoặc hoàn toàn ngược lại; mặc dù đây không phải là một thiển ý  đáng ao ước.
Tác giả Công giáo Charlie Nguyễn ví chữ quốc ngữ như con dao mà tên cướp đến cướp của giết người rồi để lại, ta cứ xài mà không cần cám ơn tên cướp.
Tôi thì cho rằng, chữ quốc ngữ giống như đứa con oan nghiệt bị giặc cưỡng hiếp mà sinh ra; dù gì cũng là con, đứa con của tủi nhục; nhưng đành chấp nhận giữ mối nhục đó mà sống, phải yêu thương và phải nuôi nó lớn khôn lớn, nhất là phải giáo dục nó; nhưng cha nó, dứt khoát cần được đưa ra tòa án.

Trần Trọng Sỹ