Hiển thị các bài đăng có nhãn Einstein. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Einstein. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 28 tháng 5, 2017


PHẬT GIÁO VỚI NHỮNG ẢO TƯỞNG THỜI THƯỢNG
Trần Trọng Sỹ

LTS: Đây là bài lên tiếng của một Phật tử trí thức về một câu trích dẫn được cho là của nhà bác học Albert Einstein, và được vô tình lặp đi lặp lại ở nhiều nơi trong nhiều năm nay nhưng thiếu nguồn tài liệu khả tín. Qua cách trình bày tỉ mỉ và tận tường của tác giả, chúng ta thấy rõ đây là một nỗ lực thể hiện lòng Bi, Trí và Dũng mà người Phật tử nên tự hào. Mong được các bậc thức giả đón nhận hoặc đóng góp thêm ý kiến nếu có để được rộng đường dư luận. (SH, 24-5-2017)
"In a time of universal deceit - telling the truth
is a revolutionary act." (George Orwell)
"Hell is Truth Seen Too Late." (Thomas Hobbes)
Albert Einstein (1879-1955)
Có 3 câu nói, được cho là của Einstein, thường được toàn thể các website Phật giáo thế giới trích dẫn để nói về tính khoa học của đạo Phật.
Câu thứ nhất:
"Phật giáo không cần duyệt xét quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan niệm của mình để chấp nhận khoa học bởi vì Phật giáo bao gồm khoa học và đồng thời cũng vượt qua khoa học. Phật giáo là một chiếc cầu nối liền tôn giáo và những tư tưởng khoa học. Chiếc cầu Phật giáo đã kích thích con người khám phá những tiềm năng lớn lao nằm sâu kín trong chính nó và trong môi trường sống chung quanh nó. Phật giáo siêu việt vượt qua thời gian."
[Buddhism requires no revision to keep it up today with recent scientific finding. Buddhism needs no surrender its view to science, because it embraces science as well as goes beyond science. Buddhism is a bridge between religious and scientific thoughts, that the stimulates man to discover the talent potentialities within himself and his environment. Buddhism is timeless]
Câu thứ hai:
"Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó"
[The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sence, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description]
Câu thứ ba, là phần đầu của câu thứ nhất, thường được trích dẫn như dưới đây :
"Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học"
[If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, becauseit embrances science as well as goes beyond science]
Ba câu nói trên, đúng hơn là hai câu, vì câu thứ ba và câu thứ nhất có thể gọp chung lại làm một, gần như là những lời tuyên chiến không những với các tôn giáo khác trên thế giới, mà còn tuyên chiến ngay cả với chính khoa học.
Thú thật, lần đầu tiên đọc được câu thứ nhất, là một phật tử, tôi sướng như trẻ con được kẹo, thiếu điều muốn nhảy lên mà hét thật to rằng, quả thực, đạo Phật là số một, là number one ! Niềm vui cùng với sự kiêu hãnh kia cũng kéo dài được...vài năm, cho đến một hôm, tôi đặt bút xuống viết về tính khoa học của đạo Phật thì mới chưng hửng ra rằng, những trích dẫn tưởng chừng như quá hiển nhiên kia, điều mà gần như tất cả các website phật giáo, anh ngữ hay việt ngữ, không ngừng in đậm, không ngừng lập đi lập lại, thậm chí được in vào một khung ảnh có dán hình của Einstein với câu nói số một được tung ra khắp Internet, những câu trích ấy, theo các học giả Âu Mỹ, là không có căn cứ ! Thế là bài viết tôi dự định viết ra tựa như cái bong bóng căng cứng bị va mạnh vào đầu một mũi kim nhọn !
Mời các bạn lên google, chép câu nói ấy bằng anh ngữ, và cho khởi động truy cập, các bạn sẽ thấy rất nhiều website lập đi lập lại câu nói trứ danh ấy, nhưng khi để ý kỹ, các bạn sẽ nhận ra rằng, hoặc đó là các website của xứ Sri Lanka, hoặc đó là của các cơ quan Phật giáo, nhất là PGVN, tại các quốc gia Âu Mỹ, hoàn toàn vắng bóng các website, báo chí, sách vở, wikipedia mang tính khoa học vô tư phi tôn giáo.
Người Âu Mỹ không có thói quen trâu buộc ghét trâu ăn, không có nỗi sợ vạch áo cho người xem lưng như người Đông Á; xấu họ nói xấu, tốt họ khen tốt; dù kẻ tốt nằm bên đối nghịch, kẻ xấu nằm ngay trong nhà. Tôi khá rành lịch sử tàn ác của Công giáo nhờ đọc sách của người Âu Mỹ, tôi được biết có cả triệu linh mục mắc bệnh sida cũng nhờ thông tin từ báo chí Âu Mỹ, tôi am hiểu sức lan tỏa của đạo Phật ở Âu Mỹ cũng nhờ vào chính thông tín không che đây của họ, nhưng những gì mà các website Phật giáo gán vào miệng Albert Einstein như câu nói trên, tôi moi đi moi lại hằng chục lần, anh ngữ, pháp ngữ và cả việt ngữ, vẫn không hề tìm ra nguồn của nó được trích từ sách nào, báo nào. Khi có nơi cho nguồn, thì cái link cho nguồn hoặc bị hỏng, hoặc nó dẫn tới một link khác, rồi cái linh khác ấy lại đưa tôi vào một rừng tư liệu khoa học, phải đọc hết mấy chục trang tư liệu ấy để moí cho được câu trích dẫn của bố Einstein nhà tôi, vẫn không thấy vân mồng đâu cả !
Thí dụ như sau đây là tài liệu mà tôi tìm được bằng Việt ngữ, xét ra khá đáng tin cậy, vì do trang nhà Thư Viện Hoa Sen giới thiệu Phật tử Tuệ Uyển dịch. Trong bản dịch của Tuệ Uyển có 5 câu được cho là trích dẫn từ Einstein, thì câu đầu tiên là không có căn cứ, còn lại những câu sau đề có thể truy cập xuất xứ. Tuy nhiên, chỉ cần câu đầu tiên thiếu nguồn trộn lẫn với những câu có nguồn cội chính đáng, ta không thể đánh giá đó là tác phẩm đáng tin cậy nữa. Thư Viện Hoa Sen là nơi khá uy tín, đứng đắn, nhưng về tư liệu nguồn của các câu nói do Tuệ Uyển dịch, thì cũng mập mờ, hoàn toàn dẫn vào ngõ cụt, mời xem link :
Tuệ Uyển lấy tư liệu từ website :
Scribd là một trang mạng chuyên đăng tải chia sẻ các tài liệu trực tuyến, hoạt động từ năm 2007, cơ sở đặt ở San Francisco Hoa Kỳ. Scribd được ông Trip Adler thành lập năm 2006, do vậy ai muốn thì cứ đăng các tài liệu lên đây, và cơ quan này hoàn toàn không chịu trách nhiệm giá trị tri thức hay tính chính xác của các tài liệu. Tài liệu mà Tuệ Uyển đọc lại tự nói rằng, những trích dẫn nó có được là do website sau đây cung cấp:
Tôi vào website được giới thiệu, đây là một blog khoa học của triết gia Geoff Haselhurst chuyên bàn về các lãnh vực cực cao của nền khoa học hiện đại, ông tự cho mình là bạn của Albert Einstein, và ông trích dẫn hầu hết các lời nói của Einstein trong blog của ông - để hiểu được những gì trong blog này, rất cần một vốn liếng tri thức cả chiều rộng lẫn chiều sâu, nên tôi đọc gần cả ngày để hiểu thôi thì cạn kiệt sức lực, vì có quá nhiều thông tin về sóng và hạt (wave and particle), sự tác hợp giữa siêu hình học và khoa học, sự không cần thiết các ''hạt Chúa'' (God's particles) của Newton trong không gian, phương trình Dirac nói về cơ học lượng tử xuyên qua thuyết tương đối khi bàn về electron... cả một kho tàng tri thức, thích thú nhất là nó chào đón khách tham quan bằng câu nói của nhà hiền triết Platon: And those whose hearts are fixed on Reality itself deserve the title of Philosophers. (Plato, Republic, 380BC) (Và cho những ai có trái tim gắn liền với chính Sự Thực xứng đáng với danh hiệu triết gia)
Một website chào đón độc giả bằng phong cách như vậy, ai ai cũng là triết gia, ai ai cũng là trí thức, tựa như Cảnh Sách trong nhà Phật, Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ, bất ưng tự khinh nhi thoái khuất, ai tự khinh mình thì cứ đi lùi lại, không dám nhìn sự thực, Platon cũng chỉ nói thế mà thôi, cho nên ai ai cũng phải phải tôn trọng sự thực khi đọc và viết tư liệu, nhất là tư liệu khoa học. Nhưng thất vọng thay, tôi mất cả ngày, đọc hết những gì website này nói, vẫn chẳng tìm thấy Einstein nói điều gì về Phật giáo cả mặc dù ông có nhắc đến Lão giáo chỉ một lần, tôi không biết Tuệ Uyển có tìm như tôi không, hay chỉ thấy Einstein khen tặng Phật giáo thì mừng rỡ và dịch ngay mà không cần biết điều mình dịch đến từ nguốn nào ? Có đáng tin hay không ?
Chỉ một lần duy nhất Einstein bàn về tôn giáo mà Geoff Haselhurst giới thiệu, tôi mời các bạn tham khảo :
Albert Einstein expresses this enlightened view of God well, he writes :
'I believe in Spinoza's God who reveals himself in the orderly harmony of what exists, not in a God who concerns himself with the fates and actions of human beings.'
A. Einstein bày tỏ quan điểm sáng suốt về Thượng Đế một cách rõ ràng, ông viết:
'Tôi tin vào Thượng Đế của Spinoza, người biểu hiện mình như là bản hòa âm trật tự của mọi hiện hữu, không phải là ông Thượng Đế ăn rồi chỉ lo chuyện bao đồng về số phận và hành vi của loài người' (ý nói đến Chúa Trời của Thiên chúa giáo với đầy uy quyền thuởng phạt hay xen vào chuyện thế gian). - Câu này được wikipedia việt ngữ dịch như sau: "Tôi tin vào Chúa của Spinoza, người mà biểu lộ chính mình trong nguyên lý hài hòa của thế giới, không phải là một vị Chúa có số mệnh và hành động của một con người. "
Theo sự hiểu biết hạn hẹp của tôi, thì ''câu nói của Einstein'' đầu tiên, được viết trong cuốn sách mang tựa đề ''Pre-Historic Lanka to End of Terrorism'' của Sripali Vaiamon, một học giả người Sri Lanka.
Thứ đó, tôi thấy trang nhà Quảng Đức của Phật Giáo VN hải ngoại có đăng một bài viết của Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng, với đề tài ''Nhà Khoa Học Albert Einstein và Đạo Phật'' đã trích dẫn câu hai và câu ba, cùng với chú thích rằng cả hai đều do nguồn 'http://rescomp.stanford.edu/~cheshire/Einsteinquotes.htm' cung cấp, nhưng tiếc thay, khi tôi truy cập nguồn này thì nó dẫn tới link không có.
Tiếp theo thì tôi đọc trong trang nhà Thư Viện Hoa Sen cũng đăng tải lời giới thiệu của Thượng Tọa Thích Nguyên Giác cho dịch phẩm mang tựa đề ''Tân Vật Lý và Vũ Trụ Luận Phật Giáo và Thế Giới Lượng Tử'', ngài cũng lập lại những câu nói được cho là của Einstein mà Thích Nguyên Tạng đã sử dụng, nhưng cũng chẳng thấy nguồn
gốc ở đâu cả !
Một tác giả khác cũng sử dụng các câu nói này trong tác phẩm 'Einstein Questions, Buddha Answers ( Einstein hỏi, Phật trả lời) của Supawan Green, một nữ tu sĩ phật giáo hoàn tục người Thái Lan có gốc Trung Hoa.
Trong tất cả các tác giả trích dẫn những câu nói của Einstein, có một người tôi rất mến, nhưng lại nổi danh là một người rất bốc đồng, khó có thể có một thuyết phục tri thức, người đó là Madalyn Murray O'Hair, nhà hoạt động vô thần luôn hô hào tách rời nhà nước khỏi tôn giáo, đồng thời là người sáng lập hội vô thần Mỹ, cũng là người đàn bà bị ghét nhất nước Mỹ vào năm 1963. Trong cuốn All the Questions You Ever Wanted to Ask American Atheists (1982) vol. ii., trang 29, bà có ghi câu thứ ba của Einstein được nêu ở đầu bài.
Nói chung, những câu nói này được cả thế giới phật giáo sử dụng tùy tiện theo mục đích truyền giáo, người sử dụng chúng có người có cả học hàm tiến sĩ, nhưng chưa ai đưa ra được xuất xứ chính xác của chúng.
Trong nỗ lực tìm nguồn cho các câu trích dẫn trên, tôi tình cờ thấy trên một trang wikipedia có cuộc thảo luận về khoa học và Phật giáo, một tác giả tên là Blainster, chuyên nghiên cứu cho wikipedia, có cái nhìn nghiêm chỉnh, tự nhận là phật tử, đồng thời là nhà vật lý học, đã có nhận xét rằng ông sẽ rất vui mừng nếu các lời trích tán dương Phật giáo như là tôn giáo vũ trụ cho tương lai của nhân loại, hoặc Phật giáo là tôn giáo duy nhất có thể đáp ứng được đòi hỏi của khoa học là do chính Einstein nói ra, nhưng ông không hề tìm ra được xuất xứ của chúng, và ông cũng đã truy vấn các người bạn chuyên nghiên cứu về Einstein (Einstein scholors) như John Stachel ở đại học Boston, nhà xuất bản 'sưu tập các văn kiện của Eisntein', những tác giả chuyên trích dẫn Einstein như Thomas J. McFarlane, với cuốn Buddha and Einstein: The Parallel Sayings ( Đức Phật và Einstein, những lời nói song song) hoặc Alice Calaprice, tác giả cuốn The New Quotable Einstein ( Trích dẫn mới của Einstein) mà không người nào từng đã trích ra những điều trên cả !
Nguyên văn :
1) Buddhism has the characteristics of what would be expected in a cosmic religion for the future: It transcends a personal God, avoids dogmas and theology; it covers both the natural and the spiritual, and it is based on a religious sense aspiring from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. and 2) Buddhism is the only religion able to cope with modern scientific needs – Einstein
As a Buddhist and physicist myself, I'd be delighted if this very widely-cited quote really could be attributed to Einstein, but regrettably there is no evidence that it can. It sometimes appears with a reference to Albert Einstein: The Human Side (Princeton University Press, 1954), but there is never a page reference - for the simple reason that the quote does not appear anywhere in that book.
I have personally discussed the reliability of this quote with Einstein scholars (including John Stachel at Boston U, and founding editor of The Collected Papers of Albert Einstein), and with the authors of compilations of Einstein quotations (Thomas J. McFarlane, author of Buddha and Einstein: The Parallel Sayings and Alice Calaprice, author of The New Quotable Einstein) - none of whom cite it. In short, neither they nor I know of any evidence that Einstein delivered a speech containing this quote. (https://en.wikipedia.org/wiki/Talk%3ABuddhism_and_science)
Một học giả phật giáo đại thừa, tiến sĩ Donald S. Lopez Jr., đã viết trong cuốn 'Buddhism and Science: A Guide for the Perplexed' cho rằng Einstein không hề nói những tuyên bố như trên. Theo ông, có thể Einstein đã từng đề cập đến Đức Phật trong những lần nói chuyện, nhưng có cái gì thúc đẩy ai đó chế biến lời tuyên bố rồi gắn nó vào tên tuổi của Einstein, (được xem là) vị Phật của thế giới hiện đại. (Einstein appears to have occasionally made passing references to the Buddha in conversation. Yet something compelled someone to concoct this statement and attribute it to Einstein, the Buddha of the Modern Age.
Người việt đến thậm chí còn đăng tin rằng, 3 năm trước khi qua đời, Einstein đã quy y theo Phật, ngày ngày vác đàn Violin tấu nhạc, và trước ngực thì đeo một tượng Phật. Họ cũng loan tin cựu tổng thống Bill Clinton quy y theo Phật, ăn chay, ngồi thiền ; còn tổng thống Obama luôn có trong túi một tượng Phật tí hon, và trong tòa nhà trắng có một nơi thờ Phật.
Theo tôi được biết, ông Clinton do bị bệnh tim, ông ngồi thiền và ăn chay theo dưỡng sinh thì đúng, vì ngày nay có rất nhiều người Âu Mỹ có cảm tình với Phật giáo, họ không xem đạo Phật là một tôn giáo, mà chỉ đơn thuần như một lối sống, nên họ thực hành theo các phương pháp dưỡng sinh của đạo Phật, không nên vì vậy mà rao tùm lum lên rằng họ quy y theo Phật. Tôi không cần nguồn ở đâu để xác minh chuyện này, chỉ cần suy tư một chút theo logic như sau, Bill Clinton tuy không còn làm chính trị, nhưng vợ ông luôn muốn ra ứng cử tổng thống, và muốn được cử tri Mỹ bỏ phiếu, thực khó hy vọng rằng, ứng cử viên lại là người từ bỏ truyền thống Kitô giáo mà có thể được đắc cử. Nên nhớ, Hoa Kỳ chứ không phải Âu Châu, dân Mỹ rất cuồng chúa; cho dù Clinton có theo Phật, tôi tin rằng ông không dại gì tuyên bố bỏ đạo Chúa của ông cả !
Còn cái tượng Phật tí hon mà ông Obama khoe với báo chí, là do một phật tử tặng lúc ông ra tranh cử lần đâu. Ngoài tượng Phật, ông cũng luôn có trong túi một chuỗi hạt Mân Côi và một cây Thánh giá của đạo Copte cũng như một con khỉ của Ấn giáo - biểu tượng cho thần Hanuman, nhưng chuyện có một tượng Phật ở tòa Bạch Ốc thì chỉ thấy được thông tin trên báo chi Phật giáo Việt ngữ.
Sự kiện quan trọng như việc đưa tượng Phật vào Bạch Cung trong một quốc gia 'in God we trust' không thể im lìm như vậy được, ít nhất phải có các đài truyền hình đến quay phim, các tờ báo lớn như Washiton post, Huffinton post, New York times, hoặc đài VOA phải đưa hàng tít lớn để báo động toàn nước Mỹ chứ ! (xem Thích Như Bảo viết về việc Obama đưa tượng Phật vào Bạch Cung- https://nhatbaovanhoa.com/…/tong-thong-obama-thinh-duc-phat…)
Câu chuyện thứ hai mà tôi muốn bàn ở đây là chuyện Phật giáo được bầu làm tôn giáo tốt nhất thế giới.
Chỉ cần vào google gõ tìm thông tin 'Phật giáo được bầu làm tôn giáo số một thế giới', thì có hằng chục website việt ngữ mở ra cho ta ngay cái thông tin nóng bỏng, mà người đạo Phật xem ai cũng nức lòng hãnh diện, còn người đạo khác xem thì...tức cành hông !
Trang nhà Tôn Giáo & Dân Tộc có một bài viết tựa đề : ICARUS bầu chọn Phật giáo là tôn giáo vĩ đại nhất.
Trang nhà sachhiem.net, nơi mà tôi thường đọc và cọng tác, cũng có một bài đăng tương tự về đề tài này.
Cả hai đều lấy nguồn từ tác giả Linda Moulin, do Thiện Hữu dịch.
Đây là thông tin mà hầu hết các trang mạng có liên quan đến Phật giáo đều đăng tải, nhất là các cơ quan Phật giáo Việt Nam, như phatgiaovietnam.vn.
Muốn biết được ICARUS là gì thì các trang mạng VN hoàn toàn chả ai đề cập, chỉ viết gọn là ICARUS, rồi theo bản dịch của Thiện Hữu cùng đồng loạt gọi là 'Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh'.
Truy tìm nguồn trên beliefnet.com ta mới có được tên anh ngữ là' International Coalition for the Advancement of Religious and Spirituality'. Vào nguồn chính này, ta mới thấy có quá nhiều lỗi đánh máy, chữ này dính chữ nọ tựa như bản nháp, ngay cái tên tổ chức đã viết sai, Religious đi kèm với Spirituality thì đã quá đập vào mắt rằng đây chẳng thể nào là tài liệu của một tổ chức đứng đắn, nói chi là một tổ chức quốc tế có trụ sở tại Genève !
Tôi cố gắng tìm ICARUS bằng pháp ngữ xem, vì Gevène là vùng nói tiếng pháp của Thụy Sĩ, nhưng tin tức về một tổ chức quốc tế mang tên ICARUS hoàn toàn không có.
I=International, C=Coalition, A=Advancement, R=Religious, S=Spirituality, vậy U là gì ?
Phải chăng người tạo ra tổ chức và thông tin này đã cố ý dùng tên một nhân vật không biết tự lượng sức mình, Icarus, nhân vật được người cha lắp cho đôi cánh, muốn bay cao và bay xa trong thần thoại Hy Lạp, đã gãy cánh rơi chết, để lừa những ai là Phật tử nhẹ dạ vào cái tròng của cạm bẩy danh vọng ?
Ta hãy đọc những lời vào đầu cho thông báo trao giải thưởng như sau :
[Qua giải thưởng Leading Figure hằng năm về nhân vật tôn giáo đã đóng góp cho nhân loại và hòa bình, Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh đóng tại Geneva, Thụy Sĩ (ICARUS) đã quyết định bầu chọn và ban tặng một giải thưởng đặc biệt năm nay cho cộng đồng Phật giáo Hans Groehlichen, chủ tịch Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS) đã phát biểu trong hội thảo vào ngày thứ hai vừa qua: “Chúng tôi đã tổ chức nghiên cứu theo mạng rada, đồng thời tổ chức của chúng tôi đánh giá trên một tinh thần công bằng về những giá trị truyền thống. Chúng tôi đã trải qua phân tích từng tôn giáo để bình chọn và trao giải thưởng cho một tôn giáo vĩ đại nhất thế giới (Best Religion in the World). Qua đó chúng ta cổ vũ và khuyến khích những nhà lãnh đạo tôn giáo khác thấy được những ích lợi trong việc thực hành hạnh từ bi.”]
Giải thưởng Leading Figure, mới nghe, ta cứ tưởng đó là tên của giải thưởng, và năm nào cũng trao giải, nhưng ý nghĩa của từ 'leading figure' chỉ đơn thuần là 'khuôn mặt dẫn đầu', vì nếu đó là tên của giải thưởng hằng năm, thì sao ngay cả ngày trao giải cũng chả thấy được đề cập ? ai đã từng lãnh giải này cũng chẳng bao giờ thấy báo chí loan tin ?
Càng tra xét càng thấy có thể đây là kiểu Phật giáo cuồng tín tự biên tự diễn.
Tôi có truy cứu một tài liệu với lời lẽ nặng nề lên án giải thưởng này cho rằng nó được ngụy tạo bởi người Sri Lanka, tôi không tiện dịch những lời khiếm nhã ấy, mời các bạn cứ vào link này mà đọc: http://icaruswept.com/…/buddhism-the-best-religion-in-the-…/
Nói chung tôi không hiểu vì kém hiểu anh ngữ hay vì cuồng tín mà chúng ta thường có thái độ cho rằng Âu Mỹ bái phục đạo Phật hết nước, Einstein thì khen đạo Phật vượt xa khoa học nên quy y theo Phật, tổng thống Clinton cũng quy y theo Phật, Obama đem Phật vào thờ ở tòa bạch ốc, đạo Phật được bầu là tôn giáo tốt nhất thế giới...
Khi tôi đọc các tin tức nâng cao đạo Công giáo La Mã như phép lạ ở Lourde, để rồi khám phá ra rằng vụ Lourde hoàn toàn do bịa xạo dàn dựng; mẹ Térésa là thánh, sau đó biết là bà đã buôn người nghèo để gây quỹ cho Vatican, bà đã lừa gạt tin tức về việc chữa bệnh ung thư...tôi cứ nghĩ chỉ có Kitô giáo mới cuồng tín như thế, nhưng qua các sự việc như tôi vừa trình bày, bên Phật giáo cũng cuồng tín không kém dù cách thức tương đối nhẹ nhàng hơn.
Dù sao, vẫn còn có những tiếng nói trong sáng trong các vụ này, chẳng hạn blog của Phật giáo Hoa Kỳ lập tức cho rằng đây là cơ quan không có thực ''A Buddhist news story has been popping up all over the internet lately. Only problem is, it's probably not true. No one can find "ICARUS" or even the "Tribune de Geneve." But since monks sent the story into WQ, we thought readers might nevertheless like to see it'' 
Shravasti Dhammika

Một tiếng nói trong sáng khác, tu sĩ nam tông Shravasti Dhammika đang hành đạo tại Singapore, khi nghe tin tức về ICARUS, đã lập tức cho rằng đây là tin ảo, với lời lẽ đúng là người theo Phật, không bị rung động bỡi bất kỳ một trần cấu hư ảo nào, ông viết: ''Tôi là người theo Phật bởi vì tôi tìm thấy trong Chánh pháp một nền minh triết đầy đủ, nhân bản, đầy thuyết phục và thực tiễn cho đời sống, (nó) phù hợp với nhu cầu và sinh mệnh của tôi một cách tuyệt vời, chẳng phải vì nó đã đoạt được một giải thưởng rơm rác nào đó. Và cho dẫu có 500 người lãnh giải Nobel bầu cho nó là tôn giáo tồi tệ nhất thế gian thì điều đó cũng chả thể lung lạc niềm tin của tôi dù chỉ là một phần nghìn mét'' [I’m a Buddhist because I have found the Dhamma to be a complete, humane, convincing and practical philosophy of life that suits my disposition and needs perfectly, not because it won a straw poll. And even if 500 Nobel Prize winners voted it the worst religion in the world that wouldn’t shake my conviction one millimetre.]
Phải nói rằng, sự lan tỏa các câu trích dẫn được cho là của Einstein, dù không có nguồn gốc chính xác, nhưng chúng rất gần với những tư tưởng mà Einstein thường phát biểu khi ông bàn về thượng đế. Và dĩ nhiên những trích dẫn vang dội này đã làm phiền không ít những ai thờ thượng đế mang đầy ngã (cá) tính (personal God) của Kitô giáo, nên có hai khuynh hướng Kitô giáo phản bác lại Einstein, khuynh hướng thứ nhất là các độc giả vô danh, thay vì phản biện, họ nói xấu Einstein, nào là ông ăn cắp tài liệu, đạo văn để được nổi danh, và dĩ nhiên họ dùng hết lời lẽ khó nghe nhất để thóa mạ ông; khuynh hướng thứ hai, do các mục sư Tin Lành chủ xướng, mà đại diện là Lê Anh Huy, người luôn phản bác các khoa học gia không theo chúa như Darwin và luôn viết bài bằng các dẫn chứng với một rừng thông tin chuyên môn từ sinh học đến vật lý học mà không biết chính tác giả có hiểu hết hay không, để kết luận rằng Darwin hay Einstein hoàn toàn sai. Đối với họ, khoa học nào chứng minh có thượng đế như kinh thánh, có quyền ban thưởng và giáng họa thì đó là khoa học chính đáng, ngược lại là sai, là tà giáo, và không thể có cái gì nếu không có thượng đế, vì chính ngài sáng tạo ra vũ trụ này, điều mà ngày nay ta thường thấy các lý thuyết gia của trường phái Thiết Kế Thông Minh ( intelligent design ) chủ trương.
Sri Lanka là một quốc gia Phật giáo, và có lẽ vì ở đây Phật giáo quá thịnh, nên một số người theo Phật đã vô tình quên mất bản chất của đạo Phật là đạo như thật (Religion of Reality).
Và vì là đạo như thật, PG là một nền minh triết đầu tiên và duy nhất của nhân loại đã giải phóng con người ra khỏi những mê tín vào thần quyền, đưa con người từ thời kỳ của đứa trẻ chỉ biết sợ hãi thiên nhiên và thần linh thành con người trưởng thành biết tin vào chính nghị lực và sự phán xét của trí năng, điều mà các triết gia Tây phương chỉ mới khám phá và vận động thành phong trào ''Thượng Đế đã chết'' (Dieu est mort) vào thế kỷ thứ XIX với hai triết gia vĩ đại của nhân loại Feuerbach và Nietzsche.
Tôi hiểu Einstein thường mong ước có một tôn giáo vũ trụ (cosmic religion) mà nhiều người thường dịch là tôn giáo toàn cầu, nhưng theo thiển ý, nên dịch là vũ trụ, vì nhà khoa học này thường trực sống trong vũ trụ và với vũ trụ, ông cho rằng nên có một tôn giáo khiến cho con người sống hài hòa với thiên nhiên, chính mình là một thành phần trong hòa âm của vũ trụ, không có chiến tranh, không có kỳ thị và trách nhiệm liên đới cho hạnh phúc của một trong tất cả và tất cả trong một. Tôi tự hỏi Einstein đã từng đọc kinh Hoa Nghiêm chưa, nếu chưa, thì có thể nói ông và Đức Phật có những điểm rất tương đồng. Và có lẽ do chính sự tương đồng này đã ''sản xuất'' ra nhiều câu nói của ông đánh bóng Phật giáo vượt lên trên cả khoa học, một sự cống cao ngã mạn mà chính Phật giáo luôn mong muốn người thực hành nó phải từ bỏ.
Để kết luận bài viết này, thiết nghĩ, có lẽ không ai dạy chúng ta rõ hơn về cách thức tiếp cận một vấn đề bằng chính giáo pháp của đạo Phật trong kinh Kalama như sau:
"Này quý vị Kalama, đừng tin theo vì nghe nghe đi nghe lại nhiều lần, đừng tin theo vì đó là truyền thống, đừng tin theo vì nghe đồn đại, đừng tin theo vì được ghi trong kinh điển, đừng tin theo vì phỏng đoán, đừng tin theo vì đó là tiên đề, đừng tin theo vì lý luận có vẻ hợp lý, đừng tin theo vì dựa theo ý kiến chủ quan đã được cân nhắc, đừng tin theo vì vị ấy có vẻ có khả năng, đừng tin theo vì nghĩ rằng vị ấy là thầy của mình."

Trần Trọng Sỹ
Viết xong tại Paris 24.04.2017

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2015


PHẬT GIÁO CÓ THỂ HƯỚNG DẪN GÌ
CHO KHOA HỌC VÀ NHÂN LOẠI?

Truyền Bình

Tại sao Phật giáo có thể hướng dẫn?

Bởi vì người sáng lập Phật giáo là Thích Ca là một người giác ngộ. Phật tức là giác ngộ. Giác ngộ tức là thấu suốt mọi lẽ huyền vi của Tam giới. Tam giới là Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới. Giác ngộ không phải là một người hiểu hết tam giới mà là tự chứng thực bản tâm. Bản tâm cũng tức là tam giới. Tất cả chúng sinh đều chung một bản tâm đó và bản tâm đó là tam giới. Cái đó Phật giáo gọi là Bất nhị. Bất nhị không phải là hai mà cũng không phải là một, mà là vô sở trụ. 

Vô sở trụ chính là ý nghĩa triết học của định lý bất toàn (incompleteness theorem) mà Kurt Godel đã khám phá bằng toán học và công bố lần đầu tiên vào năm 1931. Ý nghĩa đó có thể tóm tắt như sau : Luôn luôn có sự mâu thuẫn trong bất cứ một hệ thống lô-gích nào. Từ đó suy ra ý nghĩa triết học của định lý bất toàn như sau : thế giới vật chất thì không có thực thể, nghĩa là nó chỉ là một thế giới ảo, không có thật. Nhưng thế giới ảo đó được con người cảm nhận rất chân thật, như thiên hà tinh tú, sông núi biển đảo, nhà cửa lâu đài, xe cộ tàu thuyền máy bay, vật dụng sinh hoạt, cơm ăn áo mặc thực phẩm v.v…Đó chính là ý nghĩa bất toàn của định lý.

Định lý bất toàn chỉ là cách diễn tả mới mà Bát Nhã Tâm Kinh Phật giáo đã từng diễn tả là : Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc.

Phật giáo hướng dẫn cụ thể như thế nào?

Phật giáo nói rằng Tánh Không là bản thể của tất cả các pháp.

Thuyết Big Bang về sự hình thành của vũ trụ cũng chỉ là một cách diễn tả khác, nhưng ý nghĩa thì giống với điều Phật giáo nói. Thuyết Big Bang nói thế nào ? Ở thời điểm t (thời gian) = 0, không có vũ trụ, không có không gian, không có thời gian hay vật chất gì cả. Ở thời điểm t= 10-43 (mười lũy thừa âm 43) giây, vũ trụ xuất hiện một hạt lượng tử có kích thước 10-33 (mười lũy thừa âm 33) centimét. Sau đó nó bùng nổ thành vũ trụ ta thấy ngày nay có đường kính là 93 tỉ năm ánh sáng và thời gian t hiện nay là gần 14 tỉ năm.

Phật giáo nói rằng cái vũ trụ vật chất mà con người thấy ngày chỉ là biểu kiến (nghĩa là ảo chứ không phải thật) con người thật ra chỉ là đang nằm mơ giữa ban ngày. Giác ngộ tức là đang ngủ mơ tỉnh dậy mà thôi.

Nhiều nhà khoa học, trong đó có Albert Einstein vĩ đại, không tin rằng vũ trụ là ảo, cho rằng đó là một cõi giới khách quan, có thật. Ông nói với Niels Bhor rằng “Chẳng lẽ nếu không có ai nhìn mặt trăng thì mặt trăng không tồn tại hay sao ?” Niels Bhor tuy bất đồng với Einstein nhưng cũng không thể chứng minh điều ngược lại, nên tạm thời cuộc tranh luận chưa ngã ngũ. Năm 1927, khi Wemer Heidenberg khám phá ra nguyên lý bất định (uncertainty principle), Einstein cũng không tin tưởng nguyên lý này. Năm 1935, Einstein và hai người khác đồng chí hướng là Boris Podolsky và Nathan Rosen đưa ra giả thuyết EPR nhằm phản bác nguyên lý bất định cũng như vạch ra sự thiếu sót của cơ học lượng tử. Sinh thời Einstein đã biết hiện tượng vướng víu lượng tử (quantum entanglement) nhưng ông bối rối không hiểu rõ sự kỳ dị của hiện tượng này nên gọi nó là tác động ma quái từ xa (spooky action at a distance).

Năm 1964, John Bell thiết lập một bất đẳng thức mang tên ông nhằm kiểm chứng giả thuyết EPR, nhưng khả năng về khoa học kỹ thuật lúc đó chưa đủ để tiến hành thí nghiệm. Mãi đến năm 1982, tại Paris, Alain Aspect và các đồng sự lần đầu tiên áp dụng bất đẳng thức Bell để kiểm chứng EPR vì họ đã có thể dễ dàng tạo ra một cặp photon vướng víu (entangled) nghĩa là một photon xuất hiện đồng thời tại hai vị trí khác nhau. Kết quả cho thấy nhóm EPR sai, cơ học lượng tử mặc dù có những điểm rất phi lý, khó chấp nhận nổi, nhưng lại đúng với thực tế thí nghiệm.


John Bell tại CERN và Alain Aspect tại École Polytechnique, Paris

Hai điểm hết sức phi lý mà thí nghiệm này có thể rút ra là:
Một là vật (hạt photon) không hiện thực (non realism) những đặc trưng của nó như khối lượng, điện tích, số spin, đều không có sẵn, chỉ là do người khảo sát gán cho nó lúc tiến hành đo đạc. Thế nghĩa là hạt chỉ là ảo, không có thật. Điều này đã được Niels Bohr nêu ra trước đó (“Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật).
Hai là vật (hạt photon) không có vị trí nhất định tức bất định xứ (non locality) đúng như nguyên lý bất định mô tả.
Cơ học lượng tử- Nguyên lý bất định : Vị trí (của hạt electron) càng xác định chính xác bao nhiêu thì động lượng của nó càng ít chính xác bấy nhiêu trong khoảnh khắc đó, và ngược lại – (Nghĩa là không thể xác định đồng thời vị trí và động lượng của hạt electron)

Những kết luận này có ý nghĩa hết sức quan trọng, vũ trụ chỉ là ảo, không gian, thời gian, số lượng vật chất chỉ là biểu kiến, đúng như PG mô tả, tất cả các pháp chỉ là tánh không, không có thực thể. Những kết luận này tương đồng với điều mà PG đã nói từ lâu rằng vật hay pháp không có tự tính, tất cả mọi tính chất của vật đều là do chúng sinh tự gán ghép. Điều này thấy rất rõ trong ngôn ngữ, ý nghĩa của từ ngữ hay mọi sắc thái của ngôn ngữ đều là do con người gán ghép chứ bản thân ngôn ngữ không tự có ý nghĩa.

Từ tánh không cũng có thể rút ra kết luận thứ ba mà khoa học hiện nay vẫn còn khá mơ hồ. Kết luận thứ ba là : Số lượng vật chất cũng chỉ là biểu kiến, không phải thật. Thực nghiệm chứng tỏ cho kết luận này đã được khoa học nhận thức năm 2012. Maria Chekhova đã thực hiện được việc cho một photon xuất hiện ở 100.000 vị trí khác nhau, tất cả đều vướng víu. 100.000 photon ở trạng thái vướng víu (entangled) nghĩa là gì ? Nghĩa là một photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau trong không gian. Số lượng vị trí xuất hiện có giới hạn không ? Câu trả lời là không. Điều đó chứng tỏ số lượng cũng chỉ là biểu kiến (ảo) chứ không phải thật.


Maria Vladimirovna Chekhova, Tiến sĩ Khoa học Đại học Moscow
Trở lại với câu hỏi do Einstein nêu ra : “Chẳng lẽ nếu không có ai nhìn mặt trăng thì mặt trăng không tồn tại hay sao ?” Không một ai trên đời tin nổi điều đó là đúng. Nhưng sự thật thế nào ? Mặt trăng hay cả vũ trụ chỉ là một cấu trúc ảo, một dạng tiềm thể có khả năng hiện hữu nhưng chưa hiện hữu, nó không phải là một vật thật vì các nguyên tử cấu tạo ra nó không phải là vật mà chỉ là trừu tượng. Điều này đã được nêu ra bởi Heisenberg, (1901-1976 nhà vật lý lý thuyết người Đức, người phát minh ra nguyên lý bất định, nói: “Atoms and elementary particles…form a world of potentialities or possibilities, rather than one of things or facts…atoms are not things” (Nguyên tử và các hạt cơ bản…hình thành một thế giới tiềm thể hay có khả năng hiện hữu, chứ không phải một thế giới của vật thể hay sự vật có thật…Nguyên tử không phải là vật).

Vậy mặt trăng chỉ hiện hữu khi có các thiết bị hay giác quan (lục căn) nhận thức ra nó. Nếu không thì nó chỉ là một cấu trúc ảo, không có thật. Những nông dân chất phác ở một làng quê hẻo lánh không thấy rằng chung quanh họ có vô số thông tin. Chỉ khi nào họ có trong tay cái smartphone thu được sóng 3G thì mới thấy rằng tin tức báo chí, âm thanh, hình ảnh, video có rất nhiều chung quanh họ. Sự hiện hữu của vật chất chỉ là tiềm thể, điều này được xác định rõ ràng trong thí nghiệm về hai khe hở. Khi có ai quan sát nó hoặc có thiết bị đo đạc nó, thì hạt electron mới sụp đổ thành hạt vật chất và hiện hữu trước 6 giác quan của chúng ta như là sông núi, nhà cửa, xe cộ đồ vật. Nếu không thì hạt electron chỉ là sóng vô hình không phải là vật chất.

Double Split Experiment – Thí Nghiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Những người có công năng đặc dị như Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý, có thể chứng tỏ rõ ràng cho mọi người thấy rằng vật chất chỉ là ảo. Trương Bảo Thắng có thể làm cho quả trứng trên tay anh ta chui vào một hộc tủ có khóa cách xa chỗ anh ta đứng vài mét mà không cần mở khóa. Lúc còn bé, anh ta cũng nhiều lần lấy bánh kẹo mà bà mẹ đã cất kỹ trong hộc tủ có khóa và mang chìa khóa theo đi làm, mà không cần mở hộc tủ. Anh cũng đã từng làm một thí nghiệm lấy một quả táo ra khỏi cái thùng sắt đã bị hàn kín trước đông đảo lãnh đạo và các nhà khoa học ngay tại Đại Lễ Đường Nhân Dân Bắc Kinh, cả trái táo và vỏ thùng sắt không hề bị hư hao gì, nghĩa là quả táo dễ dàng đi xuyên qua vỏ thùng sắt. Thật ra thì quả táo không hề đi xuyên qua vỏ thùng sắt mà đơn giản là nó biến thành phi vật chất và xuất hiện trở lại bên ngoài thùng sắt dưới dạng vật chất. Hầu Hi Quý có thể lấy một gói thuốc lá cách xa chỗ anh ta đứng 1600 km một cách tức thời, không mất thời gian, giống như photon trong hiện tượng vướng víu lượng tử. Hầu Hi Quý cũng từng biểu diễn lấy súng của công an, một lần tự bắn vào đùi mình, lần khác bắn vào bàn tay của huyện trưởng huyện Hán Thọ tỉnh Hồ Nam tên là Khâu Đức Đỉnh, nhưng các viên đạn không hề gây thương tích bởi vì thực tế là chúng không đi xuyên qua đùi hay qua bàn tay mà chỉ là biến thành phi vật chất và sau đó xuất hiện trở lại thành vật chất.

Phật giáo nói rằng không gian, thời gian và số lượng vật chất chỉ là biểu kiến, là ảo chứ không phải thật.

Hệ quả là chúng ta có thể đồng thời xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau trong không gian hoặc nhiều vũ trụ khác nhau. Bởi vì tính chất ảo của vật. Điều này hiện nay đã là hiện thực. Ví dụ, tôi cùng với ba người bạn khác ở bốn nơi khác nhau trên địa cầu, nhưng chúng tôi có thể cùng gặp nhau và nói chuyện với nhau một cách thoải mái qua mạng Skype. Như vậy hình ảnh của tôi đã xuất hiện đồng thời tại bốn vị trí khác nhau trên địa cầu. Khi nào khoa học thực hiện được viễn tải lượng tử thì rõ ràng tôi có thể đồng thời xuất hiện tại 4 nơi khác nhau hoặc nhiều hơn nữa trên Trái đất. Quán Thế Âm Bồ Tát được cho là có khả năng xuất hiện đồng thời ở nhiều vũ trụ khác nhau, chẳng hạn tại thế gian, cõi trời Đâu Suất, cõi trời Đao Lợi và cõi Tây phương cực lạc.

Vì thời gian chỉ là ảo nên quá khứ, hiện tại, vị lai có thể hiện hữu đồng thời. Như vậy thì chúng ta có thể gặp được những nhân vật lịch sử xa xưa như Đức Phật, Đức Chúa Giê Su, Tây Thi mỹ nhân nước Việt v.v…Chúng ta cũng có thể gặp con cháu vài đời hay vài chục đời sau của mình. Chẳng hạn Khổng Tử có thể gặp con cháu của ông đang sống hiện nay cách nhau hơn 80 đời.

Vì số lượng vật chất là ảo nên con người có thể hi vọng vào máy in 3D. Máy in 3D hiện nay khả năng còn khá hạn hẹp, chưa làm được nhiều lắm nhưng cũng đầy hứa hẹn. Sau này sẽ có loại máy in 3D kỳ diệu, nó chạy bằng ánh sáng mặt trời hoặc điện năng từ nguồn ánh sáng này, nguyên liệu để làm ra sản phẩm cũng là ánh sáng. Nó có thể in ra nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt, lương thực thực phẩm và mọi thứ mà con người có thể nghĩ ra. Như vậy con người không còn cần thiết phải tranh giành chém giết nhau vì tài nguyên, lãnh thổ, núi sông biển đảo. Cần thứ gì thì chỉ việc in ra, dễ dàng như in tiền giấy hiện nay. Theo kinh điển mô tả thì cõi Tây phương cực lạc có những tính chất như thế, thậm chí không cần phải in, chúng sinh ở cõi đó muốn gì thì vật phẩm liền hiện ra, dùng xong thì chúng tự biến đi không cần phải dọn dẹp. 
Xin trích một đoạn trong mô tả của pháp sư Khoan Tịnh, người đã có cơ hội đến được cõi Tây phương. Khi đi viếng Thượng phẩm Liên hoa thì ông cảm thấy đói.

Bồ Tát Quán Âm hỏi tôi:
Ông thấy đói rồi hả?
Tôi thấy đúng là có cồn cào đói. Tôi nói:
A Di Đà Phật. Thưa Bồ Tát, ở đây có gì ăn không ạ.
Ngài bảo:
Về thức ăn thì cũng như ở Hạ Phẩm vậy, ở đây ông muốn ăn gì sẽ có dọn ra.
Tôi nói:
Vậy thì hay quá, tôi chỉ ước được ăn cơm trắng với canh rau cải trắng thế thôi.
Tôi vừa nói dứt cơm trắng và tô canh còn nóng hổi được bày ra ở bàn, đũa muỗng cũng đầy đủ. Tôi hỏi:
A Di Đà Phật. Thưa chư vị không ăn bây giờ sao?
Bồ Tát trả lời:
Ở đây không có ai ăn đâu, ông cứ tự nhiên ăn đi.
Tôi nghĩ mà mắc cỡ quá, nhưng cũng ngồi vào ăn. Tôi ăn no nê rồi để gọn bát đũa lại, tự nhiên bát đũa muỗng đều biến đi đâu mất.
Tôi thắc mắc hỏi Bồ Tát, Ngài nói rằng:
Tại ông vọng tưởng bụng đói, và khao khát muốn ăn cũng giống như ở thế gian chiêm bao vậy. Trong chiêm bao cái gì cũng có, khi thức tỉnh ra rồi chẳng có cái gì cả. Ông vọng tưởng ăn, thức ăn liền đến, ăn no rồi vọng tưởng về ăn không còn, những gì thuộc về vọng tưởng cũng vì vậy mà biến mất.
Tôi gật đầu hiểu ra. Ngài nói thêm:
Tự tánh thanh tịnh thì không thèm ăn, không thèm khát, không thèm muốn cái gì ở trong hư không, thật ra trong hư không vốn là không có cái gì. Vọng tưởng dấy lên cũng giống như sương mờ được un lên vậy, cái ý ấy ông từ từ nghiệm ra, nếu mà lãnh hội được thì sẽ hiểu ra tam muội (Samadhi = chánh định, chánh biến tri) của việc ấy.

Như vậy Phật giáo nói rằng thế giới đời thường mà chúng ta đang sống cũng chỉ là thế giới ảo, nó không khác về bản chất so với thế giới của tin học, của máy vi tính. Nó cũng không khác thế giới tưởng tượng của pháp sư Khoan Tịnh, chỉ khác là chúng sinh ở cõi giới đó có những tính năng khác lạ so với chúng sinh cõi trần, biến hóa dễ dàng hơn cõi trần. Cõi trần dùng công, nông, xây dựng, vận tải, để tạo ra sự biến đổi. Còn cõi Tây phương thì chỉ cần tâm niệm biến đổi thì cảnh giới biến đổi theo. Một số người có công năng đặc dị ở cõi trần thì cũng có khả năng dùng tâm niệm để biến đổi cảnh giới như Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý đã làm.

Phật giáo nói rằng con người có thể thoát khỏi tất cả mọi khổ nạn chỉ bằng cách tu hành giác ngộ. Bởi vì cái ta là không có thật, thế giới của ta cũng chỉ là biểu kiến, là ảo chứ không phải thật. Vì vậy nên hiểu rằng tất cả mọi sướng khổ trên thế gian đều là tập khí, thói quen tưởng tượng chứ không phải thật. Do đó tu hành là từ từ sửa đổi những thói quen vô minh, đừng có cố chấp nữa, thì có thể giải thoát tất cả mọi khổ nạn dù đó là thiên tai, nhân họa, áp bức bất công. Từ xưa đến nay đã có không biết bao nhiêu người cố gắng tranh đấu để chống tham nhũng, áp bức bất công, thiên tai, nhân họa. Nhưng kết quả thế nào ? Xưa cũng thế mà nay cũng thế, những tệ nạn đó không bao giờ hết, bởi vì thiện tức là ác, ác tức là thiện. Thiện hay Ác chỉ là những hình tướng, cái này sẽ biến tướng thành cái kia, không bao giờ có thể trừ dứt hết được.

Sự giải thoát khỏi mọi khổ nạn có thể diễn ra dưới hai trạng thái :
Tương đối, tức là hiểu khổ nạn không có thật nên không còn phải khổ vì chúng nữa, dù có bị bệnh tật nan y, bị tai nạn giao thông, rớt máy bay, bị cướp bóc hay bị giết chóc, bị thiên tai động đất, dông bão hay sóng thần. Dù lâm vào bất cứ hoàn cảnh nào, tâm vẫn bình an, cũng không lấy làm khổ nữa.
Tuyệt đối, tức là cảnh sẽ dần dần biến đổi theo tâm niệm. Nghiệp dần dần được giải trừ, hành giả không còn gặp nhiều thiên tai nhân họa nữa, tất cả những tai họa kể trên đều không chạm tới mình. Trên đời không phải không có những người sống khỏe mạnh, không bệnh tật, không nghèo khổ, không gặp thiên tai nhân họa hoặc nếu có gặp cũng nhẹ, không gặp phải những hoàn cảnh áp bức bất công, tóm lại là không gặp ác nghiệp. Người đời thường cho rằng họ tốt phước và may mắn mà không hiểu rằng họ đã khéo tu từ nhiều kiếp trước.

Tóm lại giải thoát mang tính cách chủ quan, là tâm tự nhận thức, tự quy chiếu, ngã, pháp đều không, là tự giải thoát khỏi vô minh phiền não chứ người khác không thể giải thoát cho mình được, người khác chỉ có thể hướng dẫn con đường cho mình đi, còn mình phải tự đi thì mới tới bờ giác ngộ được.

Truyền Bình