Hiển thị các bài đăng có nhãn tây tạng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tây tạng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 9 tháng 10, 2014


ĐỘNG LỰC ĐỊA CHÍNH TRỊ:
TRUNG QUỐC, TÂY TẠNG VÀ DALAI LAMA

Zhixing Zhang (Trương Tri Hạnh)
[Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng]




 “Thế lớn trong thiên hạ, cứ tan lâu rồi lại hợp, hợp lâu rồi lại tan,”[i] câu văn mở đầu cho Tam quốc diễn nghĩa, cuốn tiểu thuyết kinh điển của Trung Quốc về chiến tranh và chiến lược, là cách tóm lược tốt nhất các động lực cốt yếu của địa chính trị Trung Quốc. Trọng tâm của nó là cuộc đấu tranh kéo dài hàng thiên niên kỷ của những kẻ muốn làm người cai trị của Trung Quốc nhằm thống nhất và cai trị phần lớn vùng địa lý gần như bất trị của nước này. Đó là câu chuyện của những lực lượng ly tâm và sự chia rẽ không thể vượt qua bắt nguồn từ địa lý và lịch sử cũng như, có lẽ cơ bản hơn, những lực lượng hướng tâm hướng tới sự thống nhất cuối cùng.

Động lực mạnh mẽ không ngừng này không chỉ diễn ra ở Trung Quốc. Cuộc trưng cầu dân ý của Scotland và làn sóng phong trào ly khai — từ vùng tự trị Catalonia ở Tây Ban Nha cho tới người Kurd ở Iraq và Thổ Nhĩ Kỳ — đều đang diễn ra theo các chiều hướng khác nhau. Hơn nửa thế kỷ sau khi Đệ nhị Thế chiến gây ra một làn sóng dân tộc chủ nghĩa hậu thuộc địa làm thay đổi bản đồ thế giới, chủ nghĩa dân tộc và các phong trào bản sắc dân tộc dưới nhiều hình thức khác nhau vốn bị chôn vùi nay đang thách thức ý tưởng hiện đại rằng sự thống nhất của các quốc gia – dân tộc là bất khả xâm phạm.


Các phong trào ly khai lớn trên thế giới hiện nay. Nguồn: Stratfor

Nhưng ngay cả khi những phong trào này chưa đạt được thành công tại các quốc gia này, thì ở Trung Quốc, một trong những vấn đề nan giải nhất của cuộc đấu tranh cho sự thống nhất là địa vị của Tây Tạng lại đã sẵn sàng cho một sự đảo ngược khả dĩ, hay ít nhất là một sự điều chỉnh lớn. Các cuộc đàm phán kéo dài nhưng thường xuyên không được chú ý tới đã đưa ra khả năng Dalai Lama,[ii] lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, có thể gần đạt được một thỏa thuận cho phép ông trở về quê hương Tây Tạng của mình.
Nếu điều đó xảy ra, cuộc lưu vong của Dalai Lama tại Dharamsala, Ấn Độ từ sau sự kiện Nổi dậy Tây Tạng năm 1959, chín năm sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sáp nhập Tây Tạng, sẽ kết thúc. Quan trọng hơn, sự hòa giải giữa Bắc Kinh và Dalai Lama có thể là bước tiến lớn trong việc xoa dịu sự ghẻ lạnh về cả vật chất cũng như tinh thần giữa vùng trung tâm Trung Quốc và Cao nguyên Tây Tạng.

Tây Tạng, Đức Dalai Lama và quyền tự quyết

Sự tồn tại của vấn đề Tây Tạng cho thấy những xu hướng chồng chéo của địa chính trị Trung Quốc. Căn bản nhất, nó phải được hiểu trong bối cảnh Trung Quốc đấu tranh nhằm sáp nhập và mở rộng quyền kiểm soát lên các vùng đất biên cương mà dù thường xa xôi cách trở nhưng lại có ý nghĩa chiến lược về cả quân sự và dân cư. Những vùng đất biên cương này, trải dài từ đông bắc xuống tây nam — Mãn Châu, Cao nguyên Mông Cổ, Tân Cương, Tây Tạng và Cao nguyên Vân Nam — tạo nên một lá chắn, vừa chứa đựng vừa che chở cho phần lõi người Hán thống nhất khỏi các cuộc xâm lăng trên đất liền. Tuy nhiên, trong nỗ lực sáp nhập các khu vực này, Trung Quốc phải đối mặt với vấn đề bản sắc dân tộc cùng sự chia rẽ địa lý trong những vùng đất biên giới bất ổn vốn tìm cách kháng cự, độc lập hoặc tách khỏi Trung Quốc vào những thời điểm khi mà chính quyền trung ương yếu kém làm suy giảm sự gắn kết của nội bộ Trung Quốc.

Tây Tạng về nhiều mặt đại diện cho một khía cạnh tối đa trong mẫu hình này. Thật vậy, đặc điểm địa lý đặc biệt của Cao nguyên Tây Tạng (nằm ở độ cao trung bình 4,5 kilômét so với mực nước biển) đã hầu như giúp ngăn chặn các các mối đe dọa từ biên cương đối với phần lõi Hán so với những vùng dễ tiếp cận hơn như Mãn Châu, Cao nguyên Mông Cổ hay Tân Cương. Có lẽ không vùng biên thùy nào có tầm quan trọng lớn như Tây Tạng trong hoàn cảnh địa chính trị hiện nay của Trung Quốc. Cao nguyên Tây Tạng và các vùng lân cận chiếm khoảng một phần tư diện tích Trung Quốc và là một nguồn nước ngọt chính cho nước này, Tiểu lục địa Ấn Độ và Đông Nam Á lục địa.[iii] Những ngọn núi cao của dãy Himalaya tạo nên vùng đệm tự nhiên cho vùng trung tâm Trung Quốc và định hình nên các mối quan hệ địa chính trị phức tạp giữa nước này và Ấn Độ.

Trong lịch sử, sự can thiệp của Trung Quốc vào Cao nguyên Tây Tạng còn ít và không có sự thống nhất quốc gia. Từ thế kỷ thứ 7, Trung Quốc bắt đầu có những cố gắng lẻ tẻ nhằm mở rộng tầm với của mình tới Cao nguyên Tây Tạng, nhưng phải đến thời nhà Thanh, đế chế này mới có những nỗ lực đáng kể trong việc giành quyền kiểm soát đối với cơ cấu xã hội và văn hóa Tây Tạng thông qua sự kiểm soát các tổ chức Phật giáo ở đây. Sự suy yếu của Trung Quốc sau thời nhà Thanh đã dẫn tới việc các quốc gia ngoại vi, bao gồm Tây Tạng, tuột khỏi tay chính quyền trung ương Trung Quốc.

Kể từ khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bắt đầu cai trị Tây Tạng vào năm 1950, các cuộc đấu tranh kéo dài đã được thể hiện qua sự chia rẽ chính trị, tôn giáo và tinh thần giữa chính quyền Bắc Kinh và Đức Dalai Lama, biểu tượng chính trị và tinh thần lôi cuốn của phong trào tự quyết Tây Tạng, người luôn chống lại sự thống trị về mọi mặt của Trung Quốc đối với vùng đất này. Ở đây, quá trình địa chính trị thường không mang tính cá nhân đã đối mặt với một cá nhân hiếm hoi mang ảnh hưởng lâu dài. Đức Dalai Lama đã tập trung vấn đề Tây Tạng vào chính mình và hình ảnh của mình. Chính Dalai Lama là người đại diện cho bản sắc Tây Tạng ở nước ngoài, giúp gắn kết các phong trào Tây Tạng nhỏ lẻ lại với nhau, và giữ ảnh hưởng đối với cả người Tây Tạng bản địa ở quê hương và những thế hệ người Tây Tạng lưu vong cũ và mới.

Cuộc đấu tranh lâu dài và những bước đi tạm thời

Dưới chính thể Cộng hòa Nhân dân, Trung Quốc có sự kiểm soát từ trung ương và rõ ràng trên thực tế đối với một trong những quốc gia lớn nhất và an toàn nhất trong lịch sử các triều đại Trung Hoa. Tuy nhiên, động lực từ xưa nhằm nắm chắc vùng ngoại biên không phải không được tính đến bởi giới lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc.

Trong những năm qua, chính quyền trung ương đã đẩy mạnh việc tăng cường sự thống trị của người Hán về kinh tế và nhân khẩu học lên các vùng biên ải trong khi cố gắng vượt qua những rào cản về khoảng cách địa lý thông qua các dự án cơ sở hạ tầng hoành tráng, bằng cả đường bộ và đường sắt. Tuy nhiên, sự chia rẽ với Dalai Lama đã khiến Bắc Kinh phải đối mặt với cảm nhận rằng việc kiểm soát Cao nguyên Tây Tạng của họ chưa trọn vẹn và tính hợp pháp của họ bị nghi ngờ. Trong khi đó, uy tín quốc tế của Dalai Lama khiến chính quyền trung ương Trung Quốc dễ bị chỉ trích bởi nhiều nhà phê bình quốc tế. Hơn nữa, nó còn cho New Delhi cơ hội để khai thác các mối quan ngại của Trung Quốc bằng việc cho phép Chính phủ lưu vong Tây Tạng và Dalai Lama lưu trú.
Bắc Kinh không thể cho phép quyền tự chủ theo yêu cầu của phong trào lưu vong Tây Tạng; từ quyền tự chủ mạnh mẽ đến trực tiếp thách thức là một con đường ngắn. Chiến lược của Bắc Kinh là cố gắng làm hạ thấp uy tín quốc tế của Dalai Lama, hạn chế sự tương tác giữa cộng đồng lưu vong với người Tây Tạng ở quê hương, và hi vọng khi vị lãnh đạo tinh thần này chết đi, sự thiếu vắng cá tính mạnh mẽ của ông sẽ khiến Tây Tạng rơi vào tình trạng không có trung tâm, cũng như không có người nào có thể thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế được như Dalai Lama nữa.

Trọng tâm trong tính toán của Bắc Kinh là việc can thiệp vào quá trình kế vị mà theo đó Bắc Kinh đòi quyền chỉ định người kế nhiệm tôn giáo của Dalai Lama, qua đó khai thác sự chia rẽ giữa các giáo phái và phe phái trong Phật giáo Tây Tạng. Bắc Kinh khẳng định quá trình luân hồi chuyển kiếp của Dalai Lama[iv] phải tuân theo truyền thống tôn giáo Tây Tạng kể từ thời nhà Thanh, có nghĩa là nó phải xảy ra trong lãnh thổ Tây Tạng và có ủng hộ của chính quyền trung ương. Quá trình này nhấn mạnh vị thế của Tây Tạng như là một phần của Trung Quốc, chứ không phải một thực thể độc lập.

Kế hoạch của Bắc Kinh có thể có tác dụng, nhưng cái giá sẽ là rất cao. Nếu không được Dalai Lama công nhận, người kế nhiệm được Bắc Kinh bổ nhiệm — và rộng hơn là thẩm quyền của Bắc Kinh đối với Tây Tạng — khó có thể được cộng đồng người Tây Tạng nói chung công nhận. Nhằm chống lại những nỗ lực can thiệp của Bắc Kinh, những năm gần đây Dalai Lama đã nhiều lần tuyên bố hàm ý rằng những truyền thống cổ xưa của quá trình kế vị có thể bị phá vỡ.
Đặc biệt, Dalai Lama đã bàn về khả năng kế vị qua hóa thân (emanation) chứ không phải luân hồi chuyển kiếp (reincarnation). Điều này có thể truyền kiến thức và uy quyền của ông cho nhiều cá nhân khác nhau, mỗi người đều là một phần di sản tinh thần của ông, nhưng không ai là người kế vị duy nhất. Hóa thân có thể được thực hiện khi Dalai Lama còn sống, do đó ông có thể kiểm soát được quá trình chuyển giao. Ông cũng nhắc đến khả năng không chỉ định một người kế nhiệm nào — như thế vòng luân hồi của Dalai Lama sẽ chấm dứt, để lại di sản của ông như là một trọng tâm lâu dài cho người Tây Tạng.

Cụ thể hơn, Dalai Lama đã tách biệt vai trò lãnh đạo tinh thần và chính trị của phong trào Tây Tạng, trên danh nghĩa từ bỏ vai trò lãnh đạo chính trị nhưng giữ nguyên vai trò lãnh đạo tinh thần. Làm như vậy, ông đang cố gắng tạo ra tính liên tục cho phong trào Tây Tạng cho dù những người kế nhiệm tinh thần của ông chưa được xác định. Tuy nhiên, nó cũng tách Dalai Lama ra khỏi bất kỳ phong trào chính trị Tây Tạng nào, điều trên lý thuyết giúp nhà lãnh đạo tinh thần này và Bắc Kinh dễ dàng đạt được một thỏa thuận hơn về khả năng ông quay về Tây Tạng trong vai trò một nhà lãnh đạo tinh thần chứ không phải một nhà lãnh đạo chính trị.

Nhưng những động thái của Dalai Lama phản ánh một thực tế sâu hơn. Phong trào Tây Tạng là không đồng nhất. Phật giáo Tây Tạng có nhiều trường phái vốn vẫn đang cố gắng duy trì sự hợp tác mong manh bởi lòng tôn trọng đối với Dalai Lama. Các phong trào chính trị Tây Tạng cũng bị chia nhỏ, với những người Tây Tạng trẻ được sinh ra ở nước ngoài thường hoạt động mạnh mẽ hơn cho độc lập của Tây Tạng, trong khi những người lưu vong lớn tuổi có giọng điệu ôn hòa hơn và chỉ kêu gọi quyền tự chủ nhiều hơn nữa. Con đường đấu tranh hòa bình mà Dalai Lama thúc đẩy được tôn trọng, nhưng không được đảm bảo vĩnh viễn bởi các thành phần trẻ hơn và cấp tiến hơn của phong trào Tây Tạng, những người chỉ tạm thời từ bỏ việc sử dụng bạo lực để đạt được các mục đích chính trị của họ.

Tương lai của phong trào Tây Tạng sau khi Dalai Lama qua đời là không chắc chắn. Ở mức tối thiểu, danh tiếng của nhà lãnh đạo tinh thần đồng nghĩa với việc không một người kế nhiệm nào có thể có cùng mức độ ảnh hưởng hoặc duy trì được sự gắn kết nội bộ như ông đã làm. Cũng như Dalai Lama lo ngại một cánh cực đoan của thế hệ người Tây Tạng mới sẽ làm suy yếu tư tưởng ôn hòa của ông và làm suy yếu tính hợp pháp của phong trào, Bắc Kinh cũng sợ rằng thời kỳ hậu Dalai Lama sẽ đem đến nhiều phong trào cực đoan, ly khai hoặc thậm chí quân sự, đặt Bắc Kinh vào một vị trí khó khăn hơn nhiều và có khả năng phải đối mặt với mối đe dọa an ninh lớn hơn.

Bắc Kinh và Dalai Lama từng cho thấy sự sẵn sàng để đạt được một giải pháp chính trị trong quá khứ, nhưng những nỗ lực của họ đã thất bại. Trong khi sự bất định lớn dần lên đối với cả hai phía trong bối cảnh những lo ngại về tuổi tác của Dalai Lama và những động lực thay đổi trong nước mà chủ tịch mới của Trung Quốc Tập Cận Bình phải đối mặt, cả hai bên có thể xem việc từ bỏ những thù địch trước đây như là một bước đi hợp lý nhằm hướng tới một giải pháp với chi phí thấp. Nói cách khác, cả Bắc Kinh và Dalai Lama — và rộng hơn là những người ủng hộ ông — đều hiểu họ còn rất ít thời gian như thế nào, và việc những bất định xoay quanh vấn đề Tây Tạng có thể kéo dài mãi mãi ra sao sau cái chết của nhà lãnh đạo tinh thần nếu hai bên không đạt được một giải pháp.

Hiện tại lạc quan, tương lai dè chừng

Báo cáo về việc Dalai Lama có thể trở về Tây Tạng được đưa ra khi Bắc Kinh đã nối lại các cuộc đàm phán với những người đại diện của nhà lãnh đạo tinh thần này. Vòng đàm phán này diễn ra sau chín vòng đàm phán thất bại trong thập kỷ trước và bốn năm sau nỗ lực cuối cùng. Tuy nhiên, tâm thế của cả hai bên ít nhất phần nào cũng có vẻ lạc quan. Trong những tuần gần đây, Dalai Lama đã đưa ra những lời bình luận mang tính hòa giải về Tập Cận Bình và cho biết ông có thể sẵn sàng trở về Tây Tạng, một ước muốn từ lâu của nhà lãnh đạo tinh thần 79 tuổi này. Về phần mình, Bắc Kinh đã thả tự do cho một số tù nhân chính trị Tây Tạng và được cho là đã cho phép sử dụng hình ảnh cũng như phát ngôn của Dalai Lama tại một số khu vực nhất định ở Tây Tạng sau nhiều năm cấm đoán.

Tất nhiên, còn nhiều điều không chắc chắn xung quanh sự trở về của Dalai Lama; việc nó có diễn ra hay không thậm chí còn chưa rõ ràng. Thật vậy, cần một nỗ lực rất lớn để có thể vượt qua được mối quan hệ thù địch đã kéo dài 55 năm, và ngay cả khi Dalai Lama được cho phép trở về Tây Tạng, điều đó chỉ là một trong nhiều bước tiến trong những cuộc đàm phán rộng hơn giữa Bắc Kinh và cộng đồng người Tây Tạng lưu vong để đạt được một thỏa thuận, bao gồm khả năng tái định cư cho 200.000 người Tây Tạng lưu vong, tình trạng của chính phủ lưu vong, thẩm quyền của Đạt-lai Lạt-ma, và cuối cùng là quá trình kế vị của nhà lãnh đạo tinh thần.

Trong những năm qua, Dalai Lama đã nhiều lần bày tỏ mong muốn mạnh mẽ được trở về quê hương Tây Tạng, coi nó như là đích đến cuối cùng trong những nỗ lực lâu dài của ông nhằm giành quyền tự chủ cho Tây Tạng. Dù luôn để ngỏ lựa chọn này, Bắc Kinh đã nhiều lần nhấn mạnh rằng bất cứ cuộc đối thoại nào với Dalai Lama cũng chỉ liên quan tới phạm vi thỏa thuận với nhà lãnh đạo tinh thần này mà thôi, đồng thời không mang hàm ý chính trị nào.
Nói cách khác, bất cứ thỏa thuận nào dựa trên tiền đề mở rộng quyền tự chủ cho Tây Tạng đều không phải là lựa chọn của Bắc Kinh, và thẩm quyền của Bắc Kinh đối với các vùng đất Tây Tạng — và rộng hơn là các vùng biên ải ở Tân Cương và Nội Mông — sẽ không thay đổi. Tương tự, Dalai Lama sẽ không chấp nhận việc thẩm quyền về tinh thần của ông đối với cộng đồng người Tây Tạng hay vai trò của ông trong việc lựa chọn người kế nhiệm bị suy yếu. Tuy nhiên, với mối lo ngại của Bắc Kinh về sự gia tăng của cánh cấp tiến trong phong trào Tây Tạng ở nước ngoài, việc cho phép Dalai Lama trở về Tây Tạng có thể làm xoa dịu một số căng thẳng và mang lại cho Bắc Kinh một cách để chia rẽ và làm suy yếu phong trào Tây Tạng.

Nếu tiến tới một thỏa thuận, hai bên cần phải chuẩn bị cho một số rủi ro chính trị. Với Bắc Kinh, mối quan tâm hàng đầu sẽ là việc quản lý sức ảnh hưởng tôn giáo to lớn của Dalai Lama trên quê nhà, nơi ông được xem là một thách thức đối với vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Với Dalai Lama, mối quan tâm chủ yếu sẽ là việc quản lý vai trò lãnh đạo chính trị Tây Tạng ở nước ngoài và những hậu quả tiềm ẩn trong phong trào lưu vong từ việc thỏa thuận đang được xây dựng đi ngược lại mục đích giành quyền tự chủ cho Tây Tạng của họ.
Có lẽ quan trọng hơn là ngay cả khi có những dấu hiệu cho thấy một giải pháp đang được hình thành, thì vấn đề người kế vị vẫn rất có thể là một rào cản. Bắc Kinh dường như không đưa ra bất kỳ sự nhượng bộ nào liên quan đến thẩm quyền chỉ định nhà lãnh đạo luân hồi của họ, và Dalai Lama cho thấy ông ít có ý định cho phép Bắc Kinh đơn phương hành động.

Đương đầu với một lời nguyền địa chính trị

Cho dù có những sự bất định, nghi vấn và rủi ro, thì những hậu quả tiềm ẩn của khả năng xích lại gần nhau giữa hai bên dù mong manh cũng đã minh họa cho sự vận động địa chính trị từ xa xưa tại Trung Quốc.
Trường hợp này một lần nữa cho thấy cách một cá nhân có thể đóng một vai trò nhất định trong địa chính trị, đồng thời khả năng hòa giải giữa Bắc Kinh và Dalai Lama có thể ảnh hưởng tới sự cân bằng giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Trung Quốc từ lâu đã xem quyết định của Ấn Độ cho phép chính phủ lưu vong Tây Tạng nương náu là một động thái thù địch. Tuy nhiên, khả năng khai khác những mối quan ngại của Trung Quốc về Tây Tạng của Ấn Độ đã giảm do sức ảnh hưởng của chính phủ lưu vong và việc nó tuyên bố đại diện cho Tây Tạng như một thực thể hợp pháp.


Khu vực định cư của người Tây Tạng tại Ấn Độ. Nguồn: Stratfor

Hiện tại, New Delhi đã cho thấy họ ít nhiệt thành hơn trong việc chấp nhận những người Tây Tạng tị nạn, đồng thời ngày càng quan ngại rằng sự chia rẽ nội bộ của cộng đồng này sẽ khiến việc chứa chấp họ trở thành gánh nặng hơn là lợi ích. Tuy nhiên, việc có được một dàn xếp sẽ không loại bỏ sự đối đầu căn bản về địa chính trị giữa Ấn Độ và Trung Quốc trên các mặt khác — từ 4.000 kilômét đường biên giới trên đất liền tới cạnh tranh hàng hải trên Ấn Độ Dương và Biển Đông cũng như các cuộc cạnh tranh giành tài nguyên và năng lượng.

Ngay cả khi có một giải pháp cho vấn đề Tây Tạng xuất hiện trong tương lai xa, cũng không có nghĩa là cuộc đấu tranh Trung Quốc – Tây Tạng sẽ kết thúc. Thật vậy, từ năm 2009 đã có nhiều người Tây Tạng tự thiêu, và sự phát triển kinh tế của Bắc Kinh trong nhiều vùng đất biên cương của người dân tộc thiểu số được cho là khiếm khuyết hoặc không đầy đủ. Rất có thể, sự hòa dịu với Dalai Lama sẽ dẫn đến việc các phần tử cực đoan và cấp tiến hơn xuất hiện ở nước ngoài, tìm kiếm quyền tự quyết và, như nhiều phong trào tương tự trên thế giới — từ Scotland đến người Kurd ở Trung Đông — thách thức các lực lượng hướng tâm của các quốc gia – dân tộc.

Trong lịch sử, khi người Hán lớn mạnh thì sự kiểm soát của họ đối với các vùng đệm cũng vững chắc. Ngược lại, các vùng đệm vững chắc cũng là điều kiện tiên quyết cho sự lớn mạnh và an toàn của người Hán. Sự sắp đặt này sẽ trở nên tối quan trọng khi Bắc Kinh phải vật lộn với những thách thức tiềm ẩn trong quá trình chuyển đổi xã hội, kinh tế và chính trị tại phần lõi người Hán trong những năm sắp tới. Do đó, mặc cho sự biến đổi không ngừng được nhắc tới trong câu nói trích từ Tam quốc diễn nghĩa, với Bắc Kinh, mục tiêu cuối cùng vẫn là phải đối đầu với lời nguyền địa chính trị cổ xưa bằng cách áp đặt kiểm soát lên những vùng đất biên giới và thống nhất Trung Quốc vĩnh viễn, dẫu cho mục tiêu này có phi thực tế đến thế nào đi chăng nữa.

Zhixing Zhang (Trương Tri Hạnh) là chuyên viên phân tích cao cấp về khu vực châu Á Thái Bình Dương tại Stratfor.

Bản gốc tiếng Anh: Stratfor
——————-
[i] La Quán Trung, Tam quốc diễn nghĩa. Bản dịch của Phan Kế Bính. (ND)
[ii] Dalai Lama là danh hiệu của nhà lãnh đạo tinh thần của Phật giáo Tây Tạng. Dalai Lama hiện nay là vị thứ 14, đã được trao giải Nobel Hòa bình năm 1989. (ND)
[iii] Đông Nam Á lục địa bao gồm Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, và Malaysia bán đảo. (ND)
[iv] Người Tây Tạng cho rằng mỗi vị Dalai Lama trong hiện tại là hiện thân của vị Dalai Lama trong kiếp trước. (ND)


Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

ĐỨC DALAI LAMA, ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
VÀ MẶC CẢM TỘI LỖI CỦA NHÓM “HOÀI NGÔ”

Nguyễn Kha


Trung tuần tháng 7/2014, một người bạn Phật tử chuyển cho tôi một email mà anh cho biết đang được phổ biến trên các diễn đàn điện tử, và hỏi tôi có cách nào kiểm chứng được những thông tin trong mẩu tin ngắn đó không ?
Nội dung email như sau (Tôi copy/paste nguyên văn, chỉ nhấn mạnh 4 đoạn đặc biệt có liên quan đến bài viết nầy của tôi):

“Câu chuyện thật cảm động của đức Đạt Lai Lạt Ma nói về đệ nhất VNCH

Chị Hoa Lan kể :

Ngày 20.09.2013 khi người Việt tại Đức được vinh dự đón Đức 
Dalai Lama tại chùa Viên Giác, Ngài đã kể lại 1 câu chuyện thật cảm động:
Những thập niên 50, Mao Trạch Đông xua quân vào Tây Tạng giết sư, đốt chùa và gây ra hằng hà xa số tội ác với 1 dân tộc Tây Tạng hiền lành chịu đựng. Năm 1959 Đức Dalai Lama phải cùng dân tộc của Ngài từ bỏ quê hương lên đường tỵ nạn. TQ lúc bấy giờ như con hổ đói, họ dùng đủ mọi cách để truy lùng ...Ngài.   Khoảng thời gian đó trên thế giới ít người biết và để ý đến tình hình xảy ra ở Tây Tạng, và cũng chẳng ai biết gì về 1 thanh niên với nụ cười thật nhân hậu đang dìu dắt dân tộc mình lánh nạn trước mũi súng bạo tàn của Mao Trạch Đông.
Ấn Độ luôn có đụng độ với TQ về vấn đề biên giới, vi vậy họ không muốn làm tình hình căng thẳng thêm, nên cũng chẳng tha thiết giúp đỡ đoàn người tỵ nạn đến từ Tây Tạng. Tin tức về tình hình bi đát từ Tây Tạng chẳng được loan truyền, lại bị TQ cô lập thông tin toàn diện, nên thế giới chẳng ai biết đến mà quan tâm.

Đoàn người tỵ nạn vì vậy thiếu thốn cơ cực đủ điều, tình hình lúc bấy giờ thật nghiệt ngã.
May thay ở vùng Đông Nam Á có 1 vị Tổng Thống cũng nhân đạo không kém. Ông từng biết thế nào là tỵ nạn CS, vì chính ông cũng đã mở rộng vòng tay đón tiếp và giúp đỡ hằng triệu đồng bào của ông chạy nạn CS từ Bắc vào Nam... Đó là cố TT Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống Công Giáo, đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng.
Một miếng khi đói bằng một gói khi no, Đức Dalai Lama bồi hồi khi kể lại sự giúp đỡ của cụ Diệm đối với dân tộc của ông vào những ngày tháng khó khăn nhất.
Đây là lần đầu tiên tôi nghe được câu chuyện này và cũng rất xúc động. Nếu Đức Dalai Lama không kể lại, chắc câu chuyện đã theo thời gian mà chìm vào quên lãng .. Thương cụ Diệm, thương dân tộc Tây Tạng và thương sao dân tộc mình ...”
Sau khi trả lời cho người bạn rằng “Ai là người viết thì phải có bổn phận đưa ra bằng chứng, chứ tại sao người đọc lại phải có trách nhiệm tìm bằng chứng ?”, tôi mới thấy rằng về lý, trả lời như vậy là đúng rồi, nhưng về tình vẫn chưa ổn vì bạn tôi theo Phật giáo vốn là một đạo Như Thật, đạo của những người tự mình thắp đuốc lên mà đi … tìm ! Thôi thì xin viết bài nầy để vừa tìm thông tin giúp bạn, vừa để thao tác trí thức cho vui vậy.
*     *
*
■ Hai Nghi Vấn …

1- Trước hết là chi tiết “…đã âm thầm gửi hàng tấn gạo …” có điều gì không ổn !. Tại sao lại phải “âm thầm” khi ông Diệm là Tổng thống, sử dụng tài nguyên quốc gia (“hàng tấn gạo”) để làm một việc công ích (“cứu khổ những người Phật giáo Tây Tạng”) ? Như vậy có gì sai trái đâu mà ông Diệm phải “âm thầm” ? Vã lại, vì sử dụng gạo của chính phủ nên thủ tục hành chánh quốc gia bắt ông phải minh bạch, có hồ sơ lưu trữ. Và minh bạch một chuyện đáng làm thì tại sao ông Diệm lại phải “âm thầm”?
Nói vì ông “khiêm nhường” lại càng sai vì ông đang làm một động thái ngoại giao chứ có lấy gạo riêng của cá nhân ông gửi qua Tây Tạng đâu. Ngoài ra, trong quá khứ, ông cũng đã chẳng khiêm nhường gì khi đi tham quan cứu trợ bảo lụt ở miền Tây năm 1956, hình ảnh ông mặc đồ veste ngồi chểm chệ trên thuyền cho sĩ quan cấp Tá của Quân đội VNCH, với các quân nhân súng ống tận răng bao quanh, lội bì bõm dưới nước để đẩy thuyền, đã được phổ biến khắp trong và ngoài nước (mà chẳng thấy ông ra lệnh cho Bộ Thông Tin dẹp đi) thì ông khiêm nhường chổ nào?

Hai từ “âm thầm” nầy làm toàn bộ bài viết đáng nghi quá ! Sau nầy, tôi mới biết rằng “Chị Hoa Lan” rất láu cá. “Chị” phải dùng hai từ “âm thầm” vì biết trước thế nào rồi đây cũng sẽ có người đòi hỏi bằng chứng. Thế là “Chị” bắt ông Diệm phải “âm thầm” cho … tiện việc sổ sách, sau nầy nếu có ai hỏi thì “Chị” khỏi phải trưng bằng chứng !

2- Thứ nhì là ai cũng biết rằng Đức Dalai Lama, cũng như các vị Giáo hoàng Vatican, là một lãnh tụ tôn giáo nổi tìếng khắp thế giới. Hoàn cảnh và hành trạng của Ngài (cũng như vận mệnh oan nghiệt của đất nước Tây Tạng) đã lôi cuốn sự quan tâm của cả nhân loại. Ngài đi đâu, làm gì ở nơi công cọng, thì đều trở thành News, trở thành những Public events lớn với có khi hàng trăm cơ quan truyền thông ghi nhận và phổ biến từng nụ cười, từng câu nói, từng cảm xúc “bồi hồi” (chữ của “Chị Hoa Lan”) trên gương mặt, trong giọng nói của Ngài …
Đức Dalai Lama đi thăm chùa Viên Giác của cộng đồng Phật tử người Việt ở Hannover (Đức quốc) là môt sự kiện đáng đưa tin (news worthy). Lại xảy ra cách đây chưa đến một năm, vào lúc mà máy hình số (digital camera) và YouTube, Blog cá nhân, Facebook, Twitter, … đã xuất hiện và được sử dụng khá phổ quát từ lâu rồi, nên chuyện kiểm chứng chắc không khó gì. Như vậy, chỉ có người hoặc cực kỳ dại dột, hoặc có hậu ý gì đó mới dựng đứng ra một câu chuyện mà ai có một cái Computer cũng đều có thể kiểm chứng được dễ dàng.

■ Ba tài liệu …

Hai nghi vấn trên (một là hai từ “âm thầm” rất đáng nghi, hai là khả năng kiểm chứng quá dễ dàng nên cũng đáng … nghi) khiến tôi lôi cái Lap Top ra. Và trong 0,46 giây, tôi tìm được 388 nghìn kết quả (key words là “đạt lai lạt ma chùa viên giác”). Và tôi đã tìm được ba dạng/chùm tài liệu sau đây:

1-      Các tài liệu Việt ngữ của các trang nhà Phật giáo như Viên Giác, Thư Viện Hoa Sen, Hoa Vô Ưu, Quảng Đức, Kỳ Viên Trung Nghĩa, Lê Bích Sơn, Chùa Phật Linh, Giác Ngộ, Huệ Quang, v.v… Các trang nhà nầy đăng lại các bản tin, bài tường thuật, hoặc ký sự, hoặc hồi ức cá nhân về buổi thuyết giảng của Đức Dalai Lama tại chùa Viên Giác. Và các bản văn nầy tuy hoàn toàn KHÔNG NHẮC ĐẾN MỘT CHỮ “NGÔ ĐÌNH DIỆM” HAY MỘT CHỮ  “TẶNG GẠO” NÀO CẢ, nhưng điều nầy vẫn chưa giúp tôi xác định (hay phủ định) được Ngài có “bồi hồi” kể lại chuyện ông Diệm “âm thầm gửi hàng tấn gạo” như “Chị Hoa Lan” đã khẳng định trong email hay không ! Nhỡ Ngài có nói mà các tác giả không chịu ghi lại thì sao ?

2-      Vì vậy, tôi đổi hướng search qua các nguồn tài liệu tiếng Anh. Cũng nhiều, nhưng tôi đặc biệt chú ý và chọn trang nhà dalailama.com vì trang nầy là “trang web chính thức của Văn phòng Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14” (“the official website of the Office of His Holiness the 14th Dalai Lama”). Bài tường thuật “His Holiness the Dalai Lama Concludes his European Tour with a Visit to the Vien Giac Vietnamese temple”  kể lại  chuyến viếng thăm của Ngài tại chùa Viên Giác ở Hannover vào ngày 20-9-2013 xuất hiện ở chuyên mục “News”. Đường link đến bài tường thuật đó là:
Bài tường thuật nầy viết bằng tiếng Anh, mô tả buổi lễ khá chi tiết, và tóm lược lại 4 chủ đề mà Đức Dalai Lama thuyết giảng cùng 3 câu hỏi trong phần vấn đáp sau đó. Đặc biệt, có 5 đoạn trích dẫn nguyên văn lời giảng (để trong ngoặc kép “…”) của Đức Dalai Lama, trong đó có một đoạn nhắc đến từ “Vietnam”.  Tuy toàn bộ bài tường thuật KHÔNG NHẮC ĐẾN MỘT CHỮ “PRESIDENT DIEM” HAY MỘT CHỮ “RICE DONATION” NÀO CẢ, nhưng điều nầy (một lần nữa) vẫn chưa giúp tôi xác định (hay phủ định) được Ngài có “bồi hồi” kể lại chuyện ông Diệm “âm thầm gửi hàng tấn gạo” như “Chị Hoa Lan” khẳng định trong email hay không ! Nhỡ Ngài có nói mà tác giả thấy không quan trọng nên không chịu ghi lại thì sao ?
Phải phục “Chị Hoa Lan” nầy … tinh ma thật ! Và cực kỳ bất lương nữa vì cứ khơi khơi nói vô bằng chứng để bắt ai muốn điều tra để tìm hiểu/phản biện phải tốn công mệt sức.

3-      Cuối cùng, tôi phải nhờ đến ông Goggle một lần nữa: Theo những thông tin trong các Web Anh ngữ và Việt ngữ ở trên thì trước đó, tại Hannover, Đức Dalai Lama đã đi giảng Pháp tại hai chùa người Hoa và người Thái trước khi đến thăm chùa Viên Giác của người Việt Nam. Và sau buổi giảng Pháp cho Phật tử Việt Nam, Ngài phải lên phi trường Hannover ngay để bay về Ấn Độ liền. Thời gian Ngài ở chùa Viên Giác do đó rất ngắn, chỉ vỏn vẹn có khoảng một tiếng rưỡi, quá dễ dàng cho một Video clip quay được từ đầu đến cuối toàn bộ buổi viếng thăm. Với công cụ mạng xã hội nầy (Video) thì không thể sót được một câu nói nào của Ngài !
Thật vậy, có quá nhiều Video về sự kiện nầy trên YouTube.  Tôi xem 5 Video loại dài hơn một giờ thì thấy nội dung chủ yếu là giống nhau, chỉ khác góc quay và thời lượng. Tôi quyết định chọn Video có thời lượng dài nhất (1 giờ, 32 phút, 54 giây), và được posted trên webpage của một tổ chức văn hóa Tây Tạng, TibetView.

Video đăng trên Tibetviews:  http://tibetviews.com/?p=2898

Video nầy quay từ lúc xe của Đức Dalai Lama dừng ở cổng tam quan chùa Viên Giác để Ngài xuống đi vào chùa, cho đến khi Ngài lại ra cổng tam quan để từ giả Phật tử lên xe đi phi trường. Quay liên tục, không ngưng nghĩ trong 1 giờ 32 phút 54 giây, trừ đoạn ngắn gần cuối buổi viếng thăm, sau khi chụp hình chung và riêng với Tăng Ni và Phật tử rất ồn ào lộn xộn, Ngài và các nhân viên tùy tùng Tây Tạng vào phòng riêng nghỉ một chốc trước khi rời chánh điện để bước ra xe rời chùa.

■ Đâu là sự thật …

Trong hơn một giờ rưỡi đồng hồ tại chùa Viên Giác đó, trừ những lúc tụng kinh và niệm chú, toàn bộ phần giảng Pháp của Đức Dalai Lama đều bằng tiếng Anh (và được một vị Thượng tọa Việt Nam dịch ra tiếng Việt). Tiếng Anh của Ngài dễ nghe hơn nhiều so với lần Ngài tiếp xúc cùng Phật tử Việt Nam tại Long Beach, California hơn một năm rưỡi trước (4/2012).  Bỏ đi những phần lễ lạc và ổn định chổ ngồi, buổi giảng Pháp và phần vấn đáp (kể cả thời gian thông dịch) thực sự kéo dài chỉ trong 67 phút (từ 0.15’50” đến 1.22’.31”). Vậy thì nếu quả thật Đức Dalai Lama có kể lại chuyện ông Diệm cho gạo như khẳng định của “Chị Hoa Lan” (từ “Những thập niên 50, …” đến “… cứu khổ những người Phật giáo Tây Tạng”), thì cọng thêm phần Việt dịch, thời lượng cũng phải mất 4 phút trên Video. Không thể không nghe/thấy 4 phút đó được. 

Thế nhưng trong 67 phút đó, Ngài chỉ nhắc đến từ “Vietnam” và “Vietnamese” ba lần. Căn cứ vào “đồng hồ” trên Video:
Phút thứ 15.50 - “Tôi rất sung sướng được đến thăm ngôi chùa Việt Nam nầy. Theo lịch sử, trong số những đệ tử theo Đức Phật, những người theo truyền thống Pali là vai huynh, và với những người theo truyền thống Sanskrit thì người Hoa, rồi người Việt, người Hàn và người Nhật là vai huynh. Rồi sau đó, Phật giáo mới đến với người Tây Tạng chúng tôi. Và  theo tục lệ, đệ tử vai “đệ” như chúng tôi phải tỏ lòng cung kính đối với vai “huynh”.  (“I’m very happy to have been able to come to visit this Vietnamese temple. Historically, among the followers of the Buddha, those who uphold the Pali tradition are senior, and among those who follow the Sanskrit tradition, the Chinese and then the Vietnamese, Korean and Japanese are senior. Buddhism came to us Tibetans later. And it is customary for junior students like us to show respect to their seniors.”).

Phút thứ 21.05 – “Tôi biết dân tộc Việt Nam đã kinh qua nhiều đau khổ và tàn phá vô cùng vì sức mạnh của những vũ khí hiện đại trong cuộc chiến tranh trên đất nước họ” ( “I know that the Vietnamese people experienced great suffering and immense destruction due to the power of modern weapons during the war in their country.”)

Phút thứ 21.35 – “Có một lần nọ, trên đường bay đến Nhật Bản, tôi bay ngang Việt Nam trong giai đoạn [chiến tranh] đó, và qua cửa sổ [phi cơ], tôi thấy các oanh tạc cơ B-52; Tôi không thể không nghĩ đến người dân sống trên mãnh đất dưới đó”. ( “Once flying over Vietnam on my way to Japan during that period and seeing B52 bombers from the window; I couldn’t help thinking of the people on the ground below.”)

Ngoài ba lần đó ra, Đức Dalai Lama đã không còn đả động gì đến Việt Nam nữa. Nhất là Ngài HOÀN TOÀN KHÔNG NÓI MỘT TIẾNG “PRESIDENT DIEM” HAY MỘT TIẾNG “RICE DONATION” NÀO CẢ. Do đó, dĩ nhiên là không có câu chuyện hoang đường “Đức Dalai Lama bồi hồi khi kể lại sự giúp đỡ của cụ Diệm” đã “âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng.” như “Chị Hoa Lan” đã gian trá phịa ra.

Tôi công khai thách “Chị Hoa Lan” đưa ra được một bằng chứng có thể kiểm chứng được (verifiable proof) về chuyện kể của “Chị”.  “Chị” viết trong email rằng “Đây là lần đầu tiên tôi nghe được câu chuyện này và cũng rất xúc động”, vậy xin “Chị” cho biết hôm 20-9-2013 ở chùa Viên Giác đó, “Chị” đã nghe  Đức Dalai Lama nói lúc nào? Nguyên văn câu tiếng Anh của Ngài ra sao, trong ngữ cảnh gì? Và trong gần 1.000 thính chúng người Việt và người Đức hôm đó, có những ai cùng nghe với “Chị”?  

■ Còn vài điều cần phải nói cho rõ …

Thật ra đây không phải là lần đầu tiên có người như “Chị Hoa Lan” dựng đứng một cách gian trá chuyện “cụ Diệm giúp Đức Dalai Lama”.

Cách đây mấy năm, một đám tàn dư Cần lao Công giáo gồm cựu Đại úy Lê Châu Lộc (nguyên sĩ quan tùy viên của ông Diệm), ông Huỳnh Văn Lang (nguyên Phụ tá Bí thư cho Thủ tướng Diệm) khẳng định “như thật” trong tác phẩm của họ rằng ông Diệm được giải thưởng Magsaysay Award và ông đã gửi tặng toàn bộ số tiền (15.000 Mỹ kim từ giải thưởng nầy) cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. Thông tin đó, sau nầy được một số “âm binh hoài Ngô” (như Song Lê, Nguyễn Văn Minh, Bảo Mai, Nguyễn Vy Khanh) lập đi lập lại trên các diễn đàn điện tử khiến cũng có một số người nhẹ dạ bị đầu độc nên tin theo.
Nhưng cũng như “Chị Hoa Lan”, họ gian mà không ngoan, nói láo “thiếu cơ sở”, thông tin nầy mâu thuẫn với sự kiện kia, nên bị tác giả Lê Xuân Nhuận lật mặt nạ gian trá của họ, chứng minh một cách không chối cải được rằng ông Diệm chưa bao giờ được giải thưởng Magsaysay cả. Vì vậy, toàn bộ câu chuyện tuyền truyền xám “ông Diệm gửi tiền của Giải thưởng Magsaysay tặng Đức Dalai Lama” sụp đổ, hiện nguyên hình là một lời nói láo trắng trợn, lố bịch, và nhất là bị phản tác dụng. Cái mặt của ông Diệm bị chính đám tàn dư Cần Lao Công giáo tô son trét phấn giả tạo, nên càng ngày càng trở nên méo mó thô kệch ! Thật ra, trong 4 năm đầu của nền Đệ Nhất Cọng hòa (1956-1959), khi Hà Nội còn bận chữa vết thương chiến tranh nên chưa triển khai cuộc chiến giải phóng miền Nam, và khi quân viện và kinh viện Mỹ đang ào ạt đổ vào miền Nam, ông Diệm cũng làm được nhiều điều ích quốc lợi dân … sao đám tàn dư hoài Ngô không trung thực viết về những thành tích đó, mà cứ phải gian dối “kể” những chuyện hoang đường ông Diệm không bao giờ làm, thậm chí ông còn làm ngược lại ?

Bài viết “Tổng thống Ngô Đình Diệm và Giải thưởng Ramon Magsaysay” của ông Lê Xuân Nhuận được trích đăng / lay-out lại rõ ràng hơn trong Blog Nam Giao theo đường link dưới đây: http://hoangnamgiao.blogspot.com/2013/03/su-that-vegiai-thuong-magsaysay-tong.html
Ai quan tâm đến những âm mưu gian trá và thủ đoạn xão quyệt nhằm “rửa mặt” cho ông Diệm của đám tàn dư hoài Ngô, xin bỏ ra 15 phút đọc bài viết công phu nầy của ông Lê Xuân Nhuận. Và cũng xin tiên tri rằng sau lần “bị cháy” nầy, dăm ba năm nữa, thế nào cũng lại có một “Chị Hoa Thúi Địt” nào đó, kể lại một “câu chuyện thật cảm động” về “ông Diệm nhân hậu, đã âm thầm ra lệnh cho Trục Lôi hạm Chương Dương HQ-112 chở hàng tấn tôm tươi Kontum lên vùng bình nguyên Lasha để cứu đói cho các tu viện Tây Tạng”…!

Thư của bà Carmencita Abella, Chủ tịch Quỹ “Ramon Magsaysay Award Foundation” đề ngày 4 July 2013, trả lời ông Lê Xuân Nhuận, xác định rằng ông Diệm “không phải là một người được Giải thưởng Magsaysay” (“is not a Magsaysay awardee”)

Hết phịa chuyện tiền đến nói láo chuyện gạo, tại sao tàn dư Cần lao Công giáo cứ muốn ông Diệm “dựa” vào Đức Dalai Lama ?

Lý do thật là đơn giản: Một trong những cái tội lớn nhất của ông Diệm là đàn áp Phật giáo, đạp tôn giáo nầy xuống cho Công giáo của ông ta lên ngôi độc tôn. Phật giáo Việt Nam là phên dậu văn hóa của quốc gia, đồng cam cọng khổ với dân tộc từ gần 2000 năm qua; trong khi đó thì Công giáo Việt Nam là đạo quân thứ năm làm tay sai cho giặc Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta gần 100 năm. Đáng lý là nhà lãnh đạo, ông phải thực thi một chính sách đoàn kết tôn giáo, chữa vết thương quá khứ để cùng nắm tay nhau xây dựng quốc gia hầu đối phó với phương Bắc, thì ông lại chỉ làm những điều ngược lại!

Sự thực lịch sử đó càng lúc càng rõ ràng, càng được cũng cố thêm bằng nhiều tài liệu nghiên cứu hoặc hồi ký của nhân chứng khả tín sau 1975. Cho nên cách duy nhất để hóa giải cái mặc cảm “tội tổ tông” đàn áp Phật giáo Việt Nam đó (từ của giáo sư Hồ Sỹ Khuê) là đám tàn dư Cần Lao Công giáo phải cố gắng chứng minh ngược lại, rằng ông Diệm thương yêu và giúp đở Phật giáo nhiều lắm ! Lẽ dĩ nhiên là họ không kiếm ra được sự kiện nào chứng minh ông Diệm giúp đở Phật giáo Việt Nam, nên họ đành phải ngụy tạo ra những giai thoại không có thật chung quanh mối quan hệ giả tưởng giữa Đức Dalai Lama và ông Diệm. Vừa lấy cái uy tín của Ngài Dalai Lama làm bảo chứng, vừa khó kiểm tra hư thật vì toàn là những chuyện “nghe kể” từ hơn nửa thế kỷ trước.
Nhưng vì là chuyện ngụy tạo thì dù có tinh vi thế nào, cuối cùng, sự gian dối cũng bị khám phá. Không thể nào thắng được thời gian, khát vọng tìm sự thật, và lý trí của con người … Chỉ có Đức Dalai Lama, trong tình trạng hỗn loạn rối rắm của chính trị Việt Nam, đã trở thành nạn nhân của những thủ đoạn gian xảo của nhóm hoài-Ngô mà thôi. Nhưng tôi tin chắc rằng Ngài cũng chẳng màng đến !
*     *
*
Để kết bài, tôi đọc lại email của người gọi là Chị “Hoa Lan” [trùng tên một cách … tình cờ (?!?) với một nữ Phật tử tại Đức, có tham dự buổi giảng Pháp ở chùa Viên Giác, và sau đó có viết lại bài ký sự “Nụ Cười Bất Diệt” đăng trên Web Quảng Đức]. Đọc xong, tôi còn một thắc mắc “không biết tỏ cùng ai”: Đó là tại sao “Chị Hoa Lan” có thể gian trá, không nói thành có, một cách tự nhiên như thế được?

Đọc những tỉnh từ óng ả mô tả cảm xúc của “Chị” và của các nhân vật “Chị” đề cập đến (“Câu chuyện thật cảm động”, “nụ cười thật nhân hậu”, “có 1 vị Tổng Thống cũng nhân đạo không kém”, “âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ”, “Đức Dalai Lama bồi hồi” , “lần đầu tiên tôi nghe được câu chuyện này và cũng rất xúc động”, “Thương cụ Diệm, thương dân tộc Tây Tạng”…), tôi không thể tưởng tượng được người ta có thể bày đặt ra một chuyện dối trá, rồi đóng kịch giả nhân giả nghĩa với tình cảm của mình một cách dễ dàng và tự nhiên như thế được!

Chỉ có một loại người như thế trên thế giới nầy mà thôi: Đó là những tín đồ Công giáo Việt Nam thờ ông Diệm hơn thờ Chúa, bây giờ thường được gọi là “tàn dư Cần lao Công giáo”. Và từ đó, tôi phải đồng ý với một quan điểm mà tư tưởng gia Mỹ Robert Ingersoll (1833-1899) từng triển khai: Đạo thờ Chúa là một tôn giáo có nền thần học dựa trên sự dối trá, có lịch sử truyền giáo dựa trên sự dối trá, và có nghi lễ thờ phượng dựa trên sự dối trá. Với ba thuộc tính đó, đạo nầy chỉ có thể sản sinh ra các tín đồ dối trá mà thôi.
“Chị Hoa Lan” là một trường hợp điển hình chói lọi.

Nguyễn Kha
7/2014