Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Văn Chức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Văn Chức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015


PHỞ... TỪ NGUYỄN XUÂN NGHĨA 
ĐẾN NGUYỄN GIA KIỂNG

L.S. Nguyễn Văn Chức

LGT – Trong quá trình lướt Internet để tìm hiểu vụ Mặt Trận / Việt Tân bị tố cáo đã gây kinh hoàng cho cộng đồng người Việt tại Mỹ qua cuộc điều tra “Terror In Little Saigon” do đài Public Broadcasting Service (PBS) phát hình ngày 3-11-2015, chúng tôi tìm được, dĩ nhiên, quá nhiều tài liệu về Mặt Trận / Việt Tân và về những lãnh đạo của họ.
Đặc biệt, có một bài viết của một Thượng Nghị sĩ Việt Nam Cọng Hòa là luật sư Nguyễn Văn Chức đã công khai tố cáo một ủy viên cao cấp của Mặt Trận / Việt Tân, ông Nguyễn Xuân Nghĩa, là cháu của Tổng Bí thư Đảng Cọng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh (bí danh Mười Cúc) và hàm ý là kẻ nội gián (“Con ngựa thành Troie”) được gài vào trung ương của Mặt Trận / Việt Tân.

Đồng thời, nhân tố cáo ông Nguyễn Xuân Nghĩa, tác giả Nguyễn Văn Chức cũng đánh giá “toàn bộ sự nghiệp” của ông Nguyễn Gia Kiểng, một lãnh tụ chính trị (và lý thuyết gia) khác của Cộng đồng người Việt hải ngoại, chỉ là “trái bom tự sát”.
Điều làm chúng tôi thực sự ngạc nhiên là một ông cựu Thượng Nghị sĩ VNCH lại tố cáo hai ông cựu viên chức cao cấp (hàm Thứ trưởng) cũng của VNCH nhưng bây giờ một ông là lãnh đạo của Mặt Trận / Việt Tân và một ông là lý thuyết gia của Tập Hợp Dân Chủ Đa nguyên (Pháp). Cả ba ng ười đều từng ở trong bộ máy chính quyền của VNCH, cả ba người đều chống Cọng và cả ba người đều là những lãnh tụ chính trị của người Việt ở hải ngoại.
Do đó mà đọc xong bài nầy, nhất là đọc lối văn “thô bĩ” của một ông Nghị sĩ VNCH, độc giả sẽ thấy hình như người “VNCH chống Cọng”, từ trước 1975, đã mang trong mình một khuyết tật vô phương cứu chữa là không bao giờ có thể đoàn kết được. Vì hầu như tất cả đều là những “ông quan” được trời cho một kỹ năng “chưởi” tuyệt vời để chia rẽ nhau…
Bài nầy vốn đã được phổ biến rộng rãi từ lâu trên hon-viet.co.uk, tinparis.net, , bacaytruc.com tiengdanweekly.blogpost … toàn là những cơ quan truyền thông chống Cọng 200% tại hải ngoại, nay xin đăng lại nguyên văn (kể cả phần nhấn mạnh) để lưu trữ. NG  

--0--

Mùi phở đánh thức tôi dậy, sáng mùng một Tết Nhâm Ngọ.

Mùng một tết năm ngoái, nhà tôi nấu bún bò Huế. Mùng một Tết năm kia, nhà tôi nấu bún ốc. Mùng một tết năm nay, nhà tôi nấu phở.
Bún bò Huế, nhà tôi nấu ngon tuyệt vời. Bún ốc, nhà tôi nấu cũng ngon tuyệt vời. Nhưng phở, thì không ngon tuyệt vời. Bởi vì thiếu hương vị của đất Bắc, cái hương vị xa lạ đối với người con gái đất thần kinh.

Ngày xưa, cả làng tôi chỉ có một hàng phở. Gọi là hàng phở, không đúng. Phải gọi là gánh phở. Gánh phở của ông Bạ. Không có tái nạm tái gầu và hành tây nước béo. Chỉ có thịt nạm, nước trong. Nhưng ngon tuyệt vời, cái ngon của quê huơng Bắc Ninh.
Em là con gái Bắc Ninh
Em nghiêng chiếc nón, mái đình nghiêng theo.

Ông Bạ khoảng 50 tuổi. Ở tuổi ông, nhiều người đã “vào lão”, sau khi bỏ tiền ra khao làng khao xã. Nhưng ông Bạ nghèo, gia tài vẻn vẹn một gánh phở rong. Cả làng mến ông. Cả làng quen tiếng rao phở của ông, tiếng rao trầm bổng trong đêm, cùng với mùi phở ngào ngạt trong đêm.
Thời đó, chỉ có hai xu một bát phở.

Ông Bạ có người vợ trẻ, quê Bắc Ninh, tuổi ngoài hai mươi, và đẹp. Ông Bạ chiều vợ, để vợ ở nhà, không cho đi theo ông bán phở. Ông phân bua với khách hàng: “Ấy, thùng nước giùng là do bà nhà tôi nấu đấy. Ấy, bà nhà tôi phải sửa soạn và đun từ tối hôm trước. Ấy, sáng nào cũng vậy, bà nhà tôi dậy từ lúc tinh mơ rờ đất, đổ nước phở và xương xảu vào cái thùng này để tôi gánh đi”.
Có người khách ăn phở kể rằng: một hôm ông Bạ vớt ra từ trong thùng nước phở đã cạn, một tấm vải trăng trắng. Ông khách nhìn kỹ, thì đó là một cái yếm. Có lẽ cái yếm của bà Bạ vô ý đánh rơi vào thùng phở đêm hôm trước.

Con đường Carreau Hà Nội rộng thênh thang, dài và đẹp, hai bên cây cối mọc xum xuê. Khu Toà thượng thẩm Hà Nội toạ lạc trên con đường này, muà hè hoa phượng đỏ chói. Cách khu tòa án, là một ngõ cụt, Ngõ Nhà Đo, Tây gọi là Impasse de l'Identité. Đó là khu nhà ngày xưa dành cho những công chức người Pháp của sở căn cước, hoặc sở hoả lò. Nhà nào củng hai tầng, có sân lát đá sỏi trắng, và có nhà xe nhà bồi riêng biệt.
Anh chị cả tôi: Nguyễn Đức Chiểu & Phạm Thị Liên, đã mua được một căn nhà trong ngõ cụt đó.

Ngay đầu ngõ, có gánh phở. Cứ chập tối, người ta nghe thấy tiếng rao phở của ông ta. Ông ta tên Thìn, trạc độ 40, ăn nói sống sượng và ngổ ngáo. Nghe đâu ông ta đã từng đi lính O.N.S bên Pháp. Phở ông ta cũng y như phở làng tôi ngày xưa, nhưng có thêm hành tây nước béo. Khách ăn phở đêm của ông ta, phần đông là những cô gái giang hồ khu ga Hàng Cỏ hoặc khách sạn đường Gambetta gần đó..
"Này ăn một bát phở của tôi, là lao động cả đêm cũng không mệt. Này, đêm vừa rồi có khá không? Tiếp được mấy thằng lính lê dương.”

Mấy cô gái xồn xồn vừa húp phở vừa ong ỏng: cái ông quỷ này có để cho người ta nuốt không.
Con đường Careau, khu nhà của Anh Chị Cả tôi, ban đêm rất vắng. Mấy cô gái xồn xồn hay tập xe đạp trên quãng đường đó. Tập xe đạp phải có hai cô gái. Một cô gái ngồi trên cái yên (bằng da) của chiếc xe đạp, cũn ca cũn cỡn. Một cô gái nắm cái yên xe đạp, đẩy đi và chạy bộ sau xe, giữ cho người tập xe khỏi ngã, và cái xe đạp khỏi đổ. Cũn ca cũn cỡn.

Và ai tập xe đạp mà không có lúc ngã. Ngã xe và ngã cả người. Mấy cô gái cũng vậy. Có lần ngã vào lề đánh rầm. Có khi cả người cả xe đâm vào gần gánh phở của ông Thìn. Và mỗi bận như vậy, ông Thìn lại lẫm bẩm:  "đồ quỷ, tao đã bảo chúng mày rút cái yên ra mà ngồi cho nó vững, chúng mày không nghe tao.”

Di cư vào Sài gòn, bát phở Bắc có thêm giá sống.
Gần khu nhà ông Trần Văn Lắm và bà Dương Quỳnh Hoa, có gánh phở Bắc rất ngon. ngay bên lề đường. Chủ gánh phở tên là Đang. Ông Đang, giọng nói ồ ồ, lúc nào cũng tỏ ra ưu thời mẫn thế. Khách ăn, hầu hết là công tư chức; họ nói với nhau toàn truyện thời cuộc.

Những buổi sáng đẹp trời, trên đường đến văn phòng luật sư hoặc đến Thượng Nghị Viện, tôi thường ngừng xe trước gánh phở ông Đang. Gần như một thói quen. Và thế nào ông Đang cũng hỏi tôi về thời sự. Một hôm, ông Đang hỏi nhỏ tôi:”liệu có phải di cư lần nữa không, luật sư?
Hoàng Cơ Minh điện thoại cho tôi: ”Anh Chức, ngày mai tôi sẽ gửi cái người viết bài Dựng Cờ Chính Nghĩa xuống Anh.”

--0--

Đó là năm 1982, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam của hai ông Phạm Văn Liễu Hoàng Cơ Minh lên như diều gặp gió.
Ngày ông Minh ở “chiến khu quốc nội Thái Lan” trở về Mỹ ra mắt đồng bào tỵ nạn, thật là huy hoàng. Ông Minh ra mắt ở Cali trước. Sau đó, ra mắt ở Houston. Hôm ông ta về Houston, tôi ra tận phi trường đón ông, náo nức trong đám đông, trong rừng cờ và tiếng hoan hô.

Bài “Dựng Cờ Chính Nghĩa” được phân phát khắp nơi, như một lời hịch. Bài đó, ý hay và lời đẹp, dội vào hàng ngàn hàng vạn con tim xa quê hương.
Ai viết bài đó? Tôi hỏi Hoàng cơ Minh, anh ta im lặng. Phạm Nam Sách từ San Diego gọi cho tôi, vừa chửi vừa khen:” Chức ơi, chỉ có cậu mới viết được bài đó. Đừng giấu moa nữa.” Chẳng riêng gì Phạm Nam Sách. Nhiều người cũng nghĩ như vậy.

Năm 1983, Hoàng Cơ Minh gửi người đó xuống tôi. Người đó, là Nguyễn Xuân Nghĩa, cháu ruột của tên Mười Cúc Nguyễn Văn Linh Ông Nghĩa xuống Houston đặt cơ sở cho Phở Kháng Chíến cuả anh em Hoàng Cơ Minh Hoàng Cơ Long Hoàng Cơ Định.
Chiều hôm đó, ông Nghĩa đến thăm tôi tại nhà, người rong rỏng cao, dáng dấp hào hoa phong nhã. Ông nói nhiều lắm,về Charles de Gaulle và cuộc Kháng Chiến chống Đưc Quốc Xã 1940-1944 của De Gaulle. Rồi ông nói thao thao về Kháng Chiến Quốc Nội. Tôi nghe mà không nói gì.
Mấy ngày sau, Hoàng Cơ Minh gọi điện thoại: “ Sao, anh Chức, anh đã gặp Nguyễn Xuân Nghĩa chưa? Anh thấy thế nào?”
Tôi nói: ” Nghiã là cháu ruột của tên cộng sản lưu manh Mười Cúc Nguyễn Văn Linh bí thư Thành Ủy Hồ Chí Minh.. Nghĩa có học và thủ đoạn. Sau ngày 30 /4/1975, Nghiã đã ở lại Miền Nam, mà không bị một ngày tù tội. Một người như vậy, các anh không thể tin được, và chỉ nên dùng vào những công tác chuyên môn (nghiên cứu, dịch thuật). Không nên dùng vào những công tác tham mưu. “
Hoàng Cơ Minh không nghe tôi. Và con ngựa thành Troie đã được rước vào thành. Mặt trận Hoàng Cơ Minh đã trở thành một băng đảng tay sai hèn hạ của Việt Cộng.

Tháng 29 tháng 12 năm 1984, nhân danh một nghị quyết của Hội Đồng Kháng Chiến họp tại Quốc Nội Thái Lan, Hoàng Cơ Minh tuyên bố khai trừ ra khỏi mặt trận một người đã cùng với anh ta tạo lập nên mặt trận: Phạm văn Liễu.
Hoàng Cơ Minh loại Pham văn Liễu ra khỏi mặt trận, để cứu nguy khoảng 7 triệu Mỹ Kim của quỹ kháng chiến lúc đó nằm trong tay một người. Người đó là Hoàng Cơ Định. Và ai đã cố vấn cho Hoàng Cơ Minh trong cái bước xẽ dịch lưu manh đốn mạt đó? Nguyễn Xuân Nghĩa.

Lúc đó là 1985, Hoàng cơ Minh từ “chiến khu quốc nội “UDEDON” (Thái Lan) về Mỹ, để vận động cho chính nghĩa của ông. Ông ta xuống Houston gặp tôi, xin tôi lên tiếng ủng hộ ông ta. Tôi từ chối, tôi nói cho ông ta biết: tôi sẽ lên án ông ta trước dư luận. Và tôi, Nguyễn Văn Chức, đã làm điều đó, bất chấp những đe dọa.
Cuối năm 1985, dăm ba bài báo xuất hiện trên tờ Kháng Chiến cuả Mặt Trận, đả kích tôi. Nhìn lối hành văn huênh hoang, tôi biết tác giả là ai.
Dù sao, tôi vẫn mến anh ta. Hôm đầu đến thăm tôi, anh ta gọi tôi là thầy, và xưng em. Anh ta chê bọn Hoàng Cơ Minh - PhạmVăn Liễu ít học. Anh ta nhận xét đúng. Gần đây khi nghe tin anh ta thân với Vũ Quang Ninh (chủ đài phát thanh Little Saigon) và là cây bút chỉ đạo của tờ Viet Tide, tôi không ngạc nhiên.

--0—

Ngoài Nguyễn Xuân Nghĩa, còn một người, tôi không thể quên: Nguyễn Gia Kiểng.
Nguyễn Gia Kiểng ngổ ngáo, liều lĩnh, và suốt đời thèm khát được dư luận chú ý, và sẵn sàng làm tất cả để được dư luận chú ý. Và anh ta đã tạo đuợc sự chú ý của dư luận, bằng sự ngổ ngáo liều lĩnh, dốt nát.
Năm 1986, đại hội 6 đảng CSVN kêu gọi hoà hợp dân tộc, tờ Thông Luận của anh ta lên tiếng phụ họa. Tờ báo còn đi xa hơn: chửi người Quốc Gia là con cháu cô Tư Hồng, khẳng định CSVN có chính nghĩa,và khẳng định cuộc chiến tranh Việt Nam (1945- 1975) là một cuộc nội chiến.
Chưa hết, tờ báo của anh ta còn kêu gọi phong thánh cho tên chó đẻ Hồ Chí Minh. Chúng ta hãy nghe (nguyên văn):
“Một mai, tôi hy vọng sẽ rất gần đây, khi nước non thật sự thanh bình, anh em ta về, nếu có một đài chiến sĩ chung cho tất cả những người đã hy sinh vì Việt Nam, chúng ta sẽ đến đó cầu nguyện. Nếu lăng ông Hồ còn, chúng ta--dù đã chiến đấu trong hàng ngũ nào--cũng nên đến đó cầu nguyện, một cách để nói với nhau và với mai sau, là anh em ta đã quên hết những bài học hận thù”. (Phong Thánh, Thông Luận số 20, tháng 10/1989, trang 4)
Một năm sau, anh ta liếm môi, chửi Hồ Chí Minh như con chó.
Nguyên văn: “cuộc đời của ông Hồ có hại chứ không có lợi cho đạo đức, cho văn hoá, cũng như cho dân tộc ông” (Thông Luận, số 28, tháng 6/1990, trang nhất)

Chưa hết, anh ta còn bồi thêm nhát dao vào kẻ mà anh ta đã phong thánh: ”Một thảm kịch cho ông Hồ Chí Minh là đảng CS của ông đã chọn đúng dịp kỷ niệm 100 năm sinh nhật của ông để tuyên bố bắt đầu từ bỏ chủ nghĩa CS”.
Người ta thắc mắc: tài liệu nào cho phép anh ta khẳng định như thế? Thì đây, anh ta trưng bằng cớ:
“ Trần Bạch Đằng, cố vấn chính trị của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã được phép tuyên bố rằng đảng CSVN từ bỏ độc quyền chính trị”...
Thì ra, bằng cớ của anh ta là lời tuyên bố của Trần Bạch Đằng. Nhưng, Trần Bạch Đằng tuyên bố ở đâu, ngày nào, và trong tài liệu nào? Anh ta im lặng.

Giả sử Trần Bạch Đằng--với sự cho phép của Nguyễn văn Linh-có thực sự tuyên bố rằng “Đảng Cộng Sản Việt Nam từ bỏ độc quyền chính trị”, thì nhóm của anh ta -tôi muốn nói: của Nguyễn Gia Kiểng - cũng không nên hồ hởi ca tụng lời tuyên bố đó như một đổi mới tư duy chính trị của đảng CSVN, có lợi cho đất nưóc. Trừ phi họ-tôi muốn nói nhóm Nguyễn Gia Kiểng -- là cò mồi.
Huống chi, Trần Bạch Đằng không hề tuyên bố như vậy. Ông nội thằng Trần Bạch Đằng, ông nội thằng Nguyễn Văn Linh, và ông nội cả lò cả ổ bọn chính trị bộ đảng CSVN cũng không dám tuyên bố như vậy. Nhóm Nguyẽn Gia Kiểng chỉ đánh hơi. Rồi vẫy đuôi sủa. Như những con chó.
Sau khi hồ hởi loan báo “đảng CSVN sẽ từ bỏ độc quyền chính trị”, nhóm Nguyễn Gia Kiểng hồ hởi bàn về nhà nước pháp trị trong chế độ Việt Cộng đang đổi mới.
Chúng ta hãy nghe:
“Trong một nhà nước pháp trị, mọi vấn đề có thể giải quyết một cách giản dị trong khuôn khổ luật pháp. Những ai xâm phạm nguyên tắc dân chủ sẽ phải trả lời trước toà án”.

Viết như vậy, sai và ngu.
Trong một chế độ pháp trị, tòa án không có quyền thụ lý hoặc lên án phạt những hành động vi phạm một nguyên tắc dân chủ.Toà án chỉ có quyền thụ lý những hành động vi phạm một điều luật.
Chưa hết, nhóm Nguyẽn gia Kiểng còn bước thêm bước nữa. Họ mách nước về những chánh đảng sẽ xuất hiện trong chế độ CS đang đổi mới. Họ viết: ”mọi công dân không can án đều có quyền tham gia hoặc thành lập chánh đảng”.

Lại sai và ngu.
Trong một chế độ pháp trị, những công dân can án về một số tội phạm hình sự nào đó có thể bị luật pháp cấm ứng cử vào những chức vụ công cử, như các chức vụ tổng thống, nghị sĩ, dân biểu... Nhưng luật pháp không có quyền cấm họ tham gia hoặc thành lập những đảng phái chính trị..

Vẫn chưa hết.
Nhóm Nguyễn Gia Kiểng chủ trương dân chủ đa nguyên, coi đó như là đòi hỏi và điều kiện bức thiết cho một chế độ chính trị mới tại Việt Nam.
Lại sai và ngu.
Dân chủ, tự nó đã đa nguyên rồi.
Bởi lẽ: đa nguyên là bản chất của dân chủ; đa nguyên nguyên ít hay đa nguyên nhiều, đó là vấn đề mức độ.
Một ông bạn già H.O văng tục: “Đù mẹ, đã là đàn ông thì phải có cái cụ Hồ. To hay nhỏ là truyện khác. Cũng như đã là đàn bà con gái thì phải có cái “hang Pác Bó để cho cụ Hồ rúc vào”. Rộng hay hẹp, đó là truyện khác.

Rất tiếc, nhóm Nguyễn Gia Kiểng không hiểu được điều sơ đẳng đó. Họ lẫn lộn thực chất với mức độ, lẫn lộn thực tiễn với triển vọng, lẫn lộn điều kiện với tiến trình.
Tôi vừa đưa ra một vài cái sai cái dốt, của hàng trăm cái sai cái dốt nằm ngổn ngang trong những viết lách và suy tư của nhóm Nguyễn Gia Kiểng. Chưa kể sự hỗn xược đối với tiền nhân. Nguỵ biện, lập dị, táo bạo, đầy huyễn tưởng, và sẵn sàng làm bất cứ điều gì để được dư luận chú ý, và thực hiện những mưu đồ bất chính. Đó là Nguyễn Gia Kiểng.

Trung Đông có những kẻ cuồng tín ôm bom tự sát. Trái bom nổ tung, người ôm bom tan xác, và những nạn nhân vô tội tan xác. Hành động của họ gây rúng động trong thế giới văn minh..
Toàn bộ sự nghiệp suy tư của Nguyễn Gia Kiểng từ gần 25 năm nay, và nhất là đại tác phẩm “Tổ Quốc Ăn Năn của anh ta, chỉ là những trái bom “tự sát”. Trái bom nổ cái rầm. Tung toé những mảnh vụn. Trong đó có rất nhiều rác rưởi, ống bơ rỉ và băng vệ sinh..
Kẻ ôm bom không chết, nhưng được dư luận chú ý.

Đó là con người thật của Nguyễn Gia Kiểng.


Đêm nay, trăng sáng. Tôi ngồi viết dưới lùm thông sau nhà.
Tôi đã lạc đề chăng? Từ phở, đến mặt trận Hoàng Cơ Minh, đến Nguyễn xuân Nghiã, đến Nguyẽn Gia Kiểng.
Không, tôi không lạc đề. Hai ông Nghĩa ông Kiểng có duyên nợ với nhau.
Tháng 4 năm 1990, trong một chuyến đi Bắc Âu, ông Kiểng bị bọn Hoàng Cơ Minh hành hung. Nhưng ông Kiểng đã tha thứ, không hận thù. Tôi mến ông ở chỗ đó.
Tôi còn mến ông ở chỗ ông thành thật. Thành thật ngay cả khi bịa đặt và nguỵ biện. Quyển “Tổ Quốc Ăn Năn” của ông còn đó.

Viết năm 2002
Phụ đính năm 2008
Nguyễn văn Chức


Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2014


CHIẾN DỊCH HOÀNG DIỆU
VÀ SỰ THẬT VỀ KHO TÀNG BẢY VIỄN
(Hay Âm mưu Đánh tráo Lịch sử
của hai Luật gia Lâm Lễ TrinhNguyễn Văn Chức)

Trịnh Bá Lộc


Sau khi bị đẩy lui khỏi Đô Thành, Bảy Viễn rút quân về Rừng Sát, hy vọng có thể cố thủ cứ địa hiểm trở cũ của Bình Xuyên trước khi về đầu thú Pháp. Chỉ hai ngày sau khi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm công bố Hiến Ước Tạm thời và trở thành Tổng Thống VNCH, Đại Tá Dương Văn Minh hoàn tất vẻ vang chiến dịch Hoàng Diệu.

Từ sau ngày đoàn quân chiến thắng trở về Thủ Đô, không hiểu vì sao, thỉnh thoảng trên báo chí và trên các sách phổ biến sau khi Đại Tướng Dương Văn Minh qua đời, có nhiều nghi vấn được tung ra về việc kho vàng và tiền mặt tịch thâu được của Bảy Viễn. Ngày 29/6/2008 vừa qua, phóng viên của Đài Phát Thanh Hải Ngoại tại Washington DC. có đặt câu hỏi này và được Ông Trịnh Bá Lộc, nguyên Sĩ Quan Tùy Viên của Đại Tướng Dương Văn Minh giải thích và làm sáng tỏ vấn đề như sau:

Câu hỏi:
Có dư luận cho rằng trong thời kỳ dẹp loạn Bình Xuyên, ÐT Minh đã tịch thu được rất nhiều vàng bạc và tiền mặt của Bình Xuyên, nhưng ÐT đã không giao số chiến lợi phẩm này lại cho chính phủ Ngô Ðình Diệm, mà lại tẩu tán làm của riêng. Thưa Ông, ông có biết gì về chuyện này không ?

Trả lời:
Dư luận này bộc phát lần đầu tiên là vào năm 1971, khi Sài Gòn bắt đầu chuẩn bị cuộc tranh cử Tổng Thống. Khi Đại Tướng Dương Văn Minh vừa mới có đủ chữ ký giới thiệu của số Dân biểu và Thượng Nghị sĩ, theo luật đòi hỏi thời đó, thì trong mục chuyện phiếm, rất châm biếm, nhưng vô trách nhiệm, của báo Hoà Bình do Cha Trần Du (?) chủ trương, tác giả VIP KK viết về tin đồn này.
Dân Biểu Dương Văn Ba tường thuật lại cho Đại Tướng Dương Văn Minh và Bộ Tham Mưu chánh trị của ông biết. Giáo Sư Võ Văn Hải liền đề nghị cho tôi liên lạc thử với Thiếu Tá Đặng Văn Hoa, nguyên Chánh Văn Phòng của Trung Tướng Trần Văn Đôn trong thờì gian 1950-1960, để mượn tất cả các "cùi" (souches) chi phiếu trong chương mục Nha Tổng Giám Đốc Ngân khố, của văn phòng đặc biệt Phủ Tổng Thống, thời ông Diệm, do Giáo sư Hải phụ trách. Tôi liền nhớ ra các cùi chi phiếu này Thiếu Tá Đặng Văn Hoa đã giao lại tôi hồi tháng 11 năm 1963, nên tôi đã tìm và thấy trong một souche có ghi trị giá của nó, và bên cạnh có ghi rõ ràng như sau:" số tiền bán vàng tịch thâu của Bình Xuyên, Tổng Thống cho Cô Nhi Viện Quốc Gia Thủ Đức". Lập tức, luật sư Võ Văn Quan, đại diện Đại Tướng Dương Văn Minh, yêu cầu Báo Hòa Bình đăng bài đính chánh, và bài này có kèm theo phóng ảnh cùi chi phiếu nói trên.

Tôi cũng tự ý trao một bản cho ký giả Lê Hiền, báo Công Luận của Thượng Nghị Sĩ Tôn Thất Đính. Ngày hôm sau, nhật báo Công Luận đăng liền phía trên góc phải, và báo Hoà Bình cũng phải cải chánh, và đăng thư của Luật sư Quan bên cạnh mục thường xuyên của VIP KK.

Vào năm 2003 hoăc 2004 gì đó, sau khi Đại Tướng Dương Văn Minh qua đời, tập san "Con Ong" ở Houston, trong mục của VIP KK, lại đăng tải một bài tương tợ như thế. Lần này, chính Luật sư Nguyễn Văn Chức tự nhận mình là VIP KK.
Rồi Tiến Sĩ Lâm Lễ Trinh cũng bắt chước theo, bằng lời lẽ như sau: 

"...Với tư cách Bộ Trưởng Nội Vụ, tác giả bài này được chỉ thị đích thân điều tra mật về trường hợp tẩu tán kho vàng Bảy Viễn chứa trong một thùng kẽm lớn, theo phúc trình của Đại Tá Nguyễn Văn Y, Tỉnh Trưởng Chợ Lớn, Phụ Tá Hành Quân cho Ông Minh trong cuộc tảo thanh Rừng Sát. Người viết có mời Tướng Minh đến để giải thích. Vì lý do chính trị, hồ sơ tạm xếp. Bộ Tư Lệnh Hành Quân bị giải tán, tướng Minh được cử làm Cố Vấn Quân Sự Phủ Tồng Thống, một chức vụ tượng trưng"...(Về Nguồn, Trang 85).

Làm sao tôi phản bác lại bây giờ? Báo Hoà Bình và Công Luận năm 1971 cũng như làm sao tôi tìm lại được các cùi chi phiếu cũ? Rời khỏi Saì Gòn không kịp chuẩn bị, gia đình tôi bốn người, chỉ có bốn giỏ nhỏ, vì đi bằng trực thăng của Air America, đâu có ngày giờ nghỉ đến các cùi chi phiếu không còn giá trị thực tiển nữa?
      


May thay, một tình cờ hiếm có, tôi đọc được Quyển “1945-1964 Việc Từng Ngày - Hai Mươi Năm Qua”, của Ông Đoàn Thêm. Tác giả ghi lại rất trung thực, một cách phi chánh trị. Nhờ chức vụ cao cấp mà Ông đảm nhiệm tại Phủ Thủ Tướng và Phủ Tổng Thống thời Đệ  Nhất Cộng Hòa, nên gần như tất cả những gì xảy ra trong thời gian này, dù nhỏ hay lớn đều được ông ghi lại một cách chính xác, và có kèm theo ngày tháng rõ ràng. Thí dụ như nơi trang 198, Ông ghi:
25-6-1956: - không biết ai đề nghị làm lễ Thánh Bổn mạng T.T. Ngô Đình Diệm.
Sách này xuất bản lần đầu tiên tại Sài Gòn vào giữa thập niên 60, do Lãng Nhân đề tưạ, có đoạn viết: . . ."Soạn giả thừa biết rằng không thể nào kể hết các việc đáng chú trọng, và còn tự hạn chế vì phải thận trọng, nên chỉ ghi lại nếu thấy hội đủ những điều kiện sau:
- khi có ngày tháng đích xác;
- khi việc đã được nhiều người biết, đã xảy ra thật, hoặc ít nhất là được cơ quan ngôn luận loan truyền: nếu chỉ là tin đồn, soạn giả cũng ghi rõ"...

Và đây, điều quý giá mà tôi tình cờ đọc được nơi (2 dòng) cuối trang 191 và (3 dòng) đầu trang 192:

“3.3.1956 - Tổng số quân Pháp ở VN còn có trên 20.000, và sẽ triệt thoái dần.
- Thiếu-Tướng Dương-văn-Minh họp báo nói về các chiến-dịch miền Tây và sự hợp tác của Tướng Trần Văn Soái. Tướng Minh cho biết trong chiến-dịch Hoàng-Diệu, đã tịch thâu 20 kí vàng và 16 triệu 1/2 bạc, số tiền này sẽ dùng để xây cất một Cô-Nhi-Viện Quốc-Gia.”



Tôi đọc tới đọc lui nhiều lần hai trang này. Tôi sợ rằng mình nằm mơ. Tôi làm phóng ảnh gởi vài người bạn hỏi ý kiến, sợ mình hiểu lầm chăng? 

Như vừa trình với quí vị, Thiếu Tướng Dương Văn Minh đã công khai hóa chiến lợi phẩm này lối năm tháng sau khi hoàn tất chiến dịch Hoàng Diệu. Trước đó, vì tính cách giá trị to lớn, Ông phải tường trình lên các cấp chỉ huy theo hệ thống quân giai, với nhiều đề nghị khác nhau lên đến Tổng Thống VNCH đễ nhận quyết định tối hâu. Và chiến lợi phẩm bằng quí kim và tiền mặt đã phải được ghi rõ ràng trong báo cáo, nên không sợ bị thất thoát hoặc hư hại. Vào thời điểm nói trên, muốn tổ chức cuộc họp báo, các cấp chỉ huy trong quân đội, dù là Tư Lệnh Chiến dịch, đều phải được sự chấp thuận trước của Nha Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Quốc phòng, và với giá trị to lớn của vụ vàng và tiền mặt tịch thu trong chiến dịch Hoàng Diệu, dùng để xây Cô Nhi Viện Quốc Gia, phải do quyết định của Tổng Thống VNCH.

Hồi tháng 9 năm vừa qua, tôi được đọc tác phẩm "Can Trường Trong Chiến Bại” của Đô Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, cũng có một đoạn nói đến "Vụ Vàng Tiền Bình Xuyên" nơi trang 28, 29, 30, 31 nhưng dè dặt hơn.
Tôi viết thư và gởi cho tác giả xem những điều tôi nghiên cứu để phát biểu về vấn đề vàng Bình Xuyên. Tôi nghĩ rằng giữa hai quân nhân, giữa tình chiến hữu và nhứt là Ông đã từng là Sĩ Quan Tùy Viên của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tôi Tùy Viên của Đại Tướng Dương Văn Minh, hai lần giữ chức vụ cao nhứt của đất nước, vị Đô Đốc này và tôi dễ thông cảm hơn là đối với các chính trị gia chuyên nghiệp, có nhiều định kiến.

Và đúng như tôi đã nghĩ, dù Đô Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và tôi chưa hề quen biết, khi nhận điện thư của tôi là lúc Ông đang có mặt tại California vì việc hệ trọng, Ông vẫn tìm cách trả lời tôi ngày 10/6/2008:

“Anh Lộc thân,
Thành thật cám ơn anh Lộc đã làm việc hết sức chu đáo và vô cùng cảm động về sự chú ý đến Danh Dự của Quân đội, để cho tôi xem trước câu trả lời. Lý luận rất vững chắc. Sẽ có dịp hàn huyên thêm với anh”.
Thoại.

Vấn đề nơi đây là cách xử dụng chiến lợi phẩm vàng và tiền mặt, đã được phồ biến rộng rãi từ lâu, đáng lẽ VIP KK, tức Luật Sư Nguyễn Văn Chức, một chánh trị gia, và nhứt là Tiến Sĩ Lâm Lễ Trinh, Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút Tạp Chí Song Ngữ Anh-Pháp Human Rights-Droits de l'Homme từ 1996, Cố Vấn Mạng Lưới Nhân Quyền, phải biết từ lâu. Đáng lẽ họ phải làm việc có khoa học hơn, đàng này, lại làm một việc thiếu thận trọng, không công bằng và cẩu thả, thật không đúng tư cách của một Luật Sư, một Tiến sĩ Luật Khoa, Tiến Sĩ Giáo Dục.

Hơn nữa, nếu ông VIP KK Nguyễn Văn Chức bây giờ cũng chính là VIP KK của báo Hòa Bình ngày xưa, thì chắc chắn ông phải nhớ rằng chính tờ báo của ông đã phải đăng bài đính chánh, kèm theo vật chứng là phóng ảnh của các cùi chi phiếu. Thế mà ông vẫn diễn lại cái tuồng đặt điều vu khống, mà một lần, chính mình đã bị đímh chánh, thì không biết là vì lý do gì?

Tôi cũng xin được nói đôi điều về Ông Lâm Lễ Trinh:
- Ngày 13/4/1956, Ba Cụt bị bắt và trong phiên tòa xử án Ba Cụt, thì Thẩm phán Lâm Lễ Trinh được chỉ định diện Công Tố viên,
- Ngày 13/7/1956, Tướng Lê Quang Vinh bị hành quyết,
- Ngày 5/11/1956, L.S. Nguyễn Hữu Châu từ chức Bộ Trưởng Nội Vụ, Ông Lâm Lễ Trinh thay thế.
Như vậy, trong thời gian đó, ông Trinh đã là một nhân vật tên tuổi, đại diện pháp luật, chả lẽ ông không biết ít nhiều gì về cuộc họp báo ngày 3/3/1956?

Thôi, cứ cho rằng ông không còn nhớ chuyện xưa nữa đi, nhưng sao ông lại viết rằng khi được chỉ định đích thân điều tra vụ "tẩu tán kho vàng Bình Xuyên, Ông đã mời Tướng Minh đến để giải thích...". Đặt chuyện như vậy thì rõ ràng Ông quá coi thường sự hiểu biết của độc giả giới quân nhân. Một vụ hoàn toàn thuộc thẩm quyền của Quân Đội, có liên quan đến chiến lợi phẩm và một sĩ quan cấp tướng, không lẽ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và nhất là ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, lại không biết? Và, nếu cần điều tra một việc như thế, thì Ông Diệm chỉ cần chỉ thị cho người thật sự được Tổng Thống tín nhiệm, là Ông Bộ Trưởng tại Phủ Tổng Thống kiêm Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng Trần Trung Dung hoặc Ông Nguyễn Đình Thuần, mới hợp luật và hợp quân pháp. Bộ Quốc Phòng VNCH có hai Nha trực thuộc, là Nha Quân Pháp và Nha An Ninh Quân Đội, hai Nha này có đầy đủ thẩm quyền và phương tiện về nhân sự để điều tra một việc hệ trọng như vậy.

Tới đây tôi xin được có một lời nói thẳng với Ông Trinh rằng: dù Ông là Bộ Trưởng Nội Vụ mà ông muốn mời Tướng Minh đến để giải thích việc gì, ít nhất Ông Trinh phi xin phép Bộ Quốc Phòng, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đâu cần phải làm lòng vòng như thế.
Rồi Ông Lâm Lễ Trinh còn viết thêm: “Vì lý do chánh trị, hồ sơ tạm xếp. Bộ Tư  Lệnh Hành Quân giải tán, tướng Minh được cử làm Cố Vấn Quân sự tại Phủ Tổng Thống, một chức vụ tượng trưng…”
Ông Lâm Lễ Trinh quên rằng Ông bị mất chức Bộ Trưởng Nội Vụ ngày 18/10/1960, trong khi Bộ Tư Lệnh Hành Quân bị giải tán ngày 8/12/1962 để lấy quân số thành lập Bộ Tư Lệnh Lục Quân và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV.
Sau khi bị cách chức, ngày 8/4/64 Đại Sứ Lâm Lễ Trinh trở về Sài Gòn và tác phẩm của Ông Đoàn Thêm xuất bản lần đầu, năm 1965, tức là sau khi ông Trinh về nước, ông đã vô tình không hay biết. Tác phẩm này lại được tái bản tại Hoa kỳ nhiều năm trước khi Tiến Sĩ Trinh xuất bản Quyển Về Nguồn. Một Tiến Sĩ Luật khoa, đang viết lại một phần lịch sử của đất nước như ông Trinh, một lần nữa cũng không biết sự hiện hữu của một tài liệu có giá trị lịch sử như vầy?
Tôi đã mạng phép gởi phóng ảnh hai trang sách này đến Ông Hồng Phúc. Sách của Đoàn Thêm hiện lưu trữ tại thư viện thành phố Fort Smith, Arkansas (mả số 20075233).

Để kết thúc câu trả lời, tôi xin được nhắc nhở những người đang và đã vu khống kẻ khác, rằng: ngụy tạo sử sách cũng là làm chứng dối, và là một giáo dân, xin ông Francis Lâm Lễ Trinh nhớ lại lời Chúa đã dạy:  “18. Đừng giết người, đừng ngoại tình, đừng trộm cấp, đừng làm chứng dối”. Mathieu  19 (?).