Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Trung Đạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Trung Đạo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015


IM LẶNG VÀ LÊN TIẾNG

Nguyên Giác

  
Chúng ta biết rằng cõi này không phải lúc nào cũng thuận thảo với những ước muốn của chúng ta. Chúng ta bước ra phố vào một ngày nắng đẹp, và đột nhiên một trận mưa rào ào xuống, làm  chúng ta ướt mem. Dĩ nhiên, cõi này là bất như ý, Đức Phật đã dạy như thế.

Thậm chí, ngay tới gần nhất, chúng ta muốn thân này đừng bệnh, thế là ăn kiêng, tập thể dục, ngồi thiền, dưỡng sinh, khí công, và vân vân. Vậy mà vẫn bệnh, vẫn đau chân, vẫn nhức răng, vẫn tai mờ, vẫn mắt yếu… Cõi này là thế.

Trong chuyện đời, đôi khi chúng ta ước muốn rằng những biểu tượng lớn của dân tộc, của xã hội, của cộng đồng… phải nói được tiếng nói  vì quyền lợi của dân tộc, của người dân. Vậy mà, rất nhiều và rất nhiều vị giữ im lặng trong những hoàn cảnh, mà nhiều người trong chúng ta muốn là phải lên tiếng. Chúng ta thắc mắc, tại sao im lặng trước bất công? Thậm chí, có khi lại có vẻ như về hùa với các thế lực trần gian.  Dĩ nhiên, im lặng hay lên tiếng là quyền riêng của mỗi người; trong hoàn cảnh riêng, đó là lưạ chọn riêng nhưng bất kỳ lựa chọn nào rồi cũng sẽ bị phán đoán, trước tiên là tự tâm mình, rồi tới dư luận quần chúng…

*  *  *

Trong bản tin RFI tuần qua, có ghi nhận về sự im lặng của bà Aung San Suu Kyi:
Vào lúc thông tin về thảm cảnh mà người thiểu số Rohingya tại Miến Điện phải chịu đựng ngày càng nhiều, Đức Đạt Lai Lạt Ma, vào hôm nay, 28/05/2015 đã lên tiếng một lần nữa. Ông đã kêu gọi lãnh tụ đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi, người cũng được giải Nobel Hòa bình như ông, là nên làm nhiều hơn để giúp đỡ người Rohingya.
Trong bài phỏng vấn dành cho nhật báo Úc The Australian, một tuần trước chuyến thăm Úc, lãnh tụ tinh thần của Phật giáo Tây Tạng đã cho rằng bà Aung San Suu Kyi cần phải lên tiếng mạnh mẽ để bênh vực người Hồi giáo Rohingya đang bị kỳ thị, ngược đãi ở Miến Điện, một quốc gia Phật giáo.
Đức Đạt Lai Lạt Ma còn nói rõ là từ năm 2012 đến nay, ông đã hai lần đích thân cầu cứu bà Aung San Suu Kyi khi nổ ra những vụ bạo động đẫm máu tại bang Rakhine giữa người Rohingya và cư dân điạ phương theo Phật giáo.
Trong thời gian gần đây, lãnh tụ đối lập Miến Điện hầu như đã im hơi lặng tiếng trước thảm cảnh đang diễn ra đối với hàng ngàn người Rohingya, đã phải vượt biển qua các nước khác để thoát khỏi cảnh đói nghèo và phân biệt đối xử mà họ phải gánh chịu tại Miến Điện.
Giới quan sát cho rằng sở dĩ bà Aung San Suu Kyi không lên tiếng, đó là vì bà không muốn làm phật lòng cử tri mà đa số theo Phật giáo, trước cuộc bầu cử dự kiến vào tháng Mười Một.
Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng công nhận tình thế tế nhị của bà Aung San Suu Kyi, nhưng tin rằng trong tư cách một người đoạt giải Nobel Hòa bình, bà «có thể làm một cái gì đó»….” (hết trích)

*  *  *

Đức Đạt Lai Lạt Ma và bà Kyi đều là những nhân cách lớn. Họ đều là những Phật tử tu học thuần thành, tâm của họ rất mực từ bi. Nhưng chỗ này cho thấy rằng hai vị có những lựa chọn dị biệt nhau: Đức Đạt Lai Lạt Ma lên tiếng vì ngài muốn ngưng mọi kỳ thị với sắc tộc Rohingya.
Thế nhưng, tại sao bà Kyi im lặng? Không mấy người trong dân tộc Miến Điện nghĩ rằng bà Kyi quý trọng các chức vụ dân cử tương lai tới nổi phải làm trái nghịch lương tâm. Có phải bà Kyi nhìn thấy sắc tộc Rohingya như một hiểm họa Hồi Giáo từ Bangladesh đang lấn vào biên giới Miến Điện? Hay những lý do nào khác? Và chúng ta có nên tôn trọng quyết định im lặng của bà Kyi không?

*  *  *

Nhìn lại quá khứ, sẽ thấy bà Kyi không phảỉ là người sợ hãi cường quyền. Bà Kyi là một nhân vật như dường không có thực trên đời, nhưng sự can đảm của bà đã được chứng kiến bởi hang trăm ngàn người dân, chiến binh, và báo chí quốc tế.
Bà về nước tháng 3 năm 1988 vì mẹ trở bệnh nặng.  Ngày 8 tháng 8-1988, nhiều cuộc nổi dậy ở nhiều nơi tại Miến Điện để đòi dân chủ; Chính quyền dùng vũ lực đàn áp, rất nhiều người chết và bị thương. Ngày 15 tháng 8-1988: Bà Kyi bắt đầu hoạt động chính trị, gửi thư cho chính phủ, kêu gọi thành lập ủy ban cố vấn độc lập về vấn đề bầu cử đa đảng.
24 tháng 9: Đảng Liên kết Quốc gia Dân chủ (NLD) thành lập do Suu Kyi làm tổng thư ký. Chủ trương bất bạo động. Mặc dù bị nhà nước cấm, Suu Kyi tiếp tục đi khắp nơi phát huy, cổ động nhân dân về phong trào tự do, dân chủ.
Xin nhớ rằng, năm 1989 khắp thế giới là phong trào đòi dân chủ, gây tiếng vang nhất là biểu tình Thiên An Môn ở Bắc Kinh, trong đó có một tấm hình một sinh viên đứng chận đoàn xe tăng.
Cùng năm 1989, một hình ảnh tương tự nổi tiếng ở Miến Điện, khi bà  Kyi bước thẳng về phía những người lính đang chĩa sung vào bà.

Xin mời xem tấm hình này:



Tấm hình trên là năm 1988, khi quân đội nổ súng, giảỉ tán biểu tình, xác người nằm la liệt trên phố. Tấm hình dưới là 1989, khi bà Kyi dẫn đầu biểu tình, ôm hoa bước thẳng tới trước họng súng của hàng quân Miến Điện đã dàn ra để ngăn chận biểu tình. Từ đó về sau, báo chí quốc tế vẫn ưa nêu câu hỏi, vì sao 400,000 người lại sợ một phụ nữ? Hàng chữ in trên hình là chỉ tác quyền của thông tấn nhiếp ảnh Getty Images.

Hình ảnh này được đưa vào phim “The Lady,” trong đó nữ diễn viên Michelle Yeoh đóng vai bà Kyi. Tấm hình trong phim này có thể xem ở báo WJS ngày 8 tháng 2-2012, xin mời vào link này:

Vâng, và bây giờ bà Kyi im lặng. Và Đức Đạt Lai Lạt Ma trách bà.

*  *  *

Bản thân tôi, người đang viết bài này, không bao giớ dám đặt vấn đề với bất kỳ ai là tại sao im lặng, hay tại sao lên tiếng thế này mà không lớn tiếng thế kia.
Và ngay cả khi đang viết những dòng chữ này, quan tâm lớn của tôi là có phải chữ này, chữ kia… là từ tham sân si, hay các chữ đó không  hề phát xuất từ tham sân si.
Tôi không dám nổi sân vì người này im lặng, hay vì người kia lên tiếng thế này mà không lớn tiếng thế kia. Những dòng chữ này của tôi được viết từ sự bình lặng của tâm mình.
Nói như thế, để dẫn thêm rằng, lòng tôi rất mực tôn kính Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Từ những ngày thơ ấu, khi chưa đọc nhiều về Tây Tạng, và cả khi chưa hề bước lên Chùa Tây Tạng Bình Dương, tôi luôn thấy rung động lớn khi nhìn trên báo những hình ảnh các vị lạt ma và các biểu tượng Phật Giáo Tây Tạng như chuông, tháp… Và vẫn luôn giữ cảm giác mình đã từng kiếp nào gánh nước, chẻ củi cho các tu viện Tây Tạng.

*  *  *

Vâng, vẫn giữ mãi cảm giác đó ngay cả khi sau này đọc và nhìn thấy nhiều hình ảnh về Đức Đạt Lai Lạt Ma và Đức Ban Thiền Lạt Ma đứng bên cạnh  Mao Trạch Đông, một người rất là thế tục.
Đức Đạt Lai Lạt Ma trong năm 1954 đã gửi một phái đoàn tới Bắc Kinh, phê chuẩn Hiệp Định 17 Điểm Về Giải Phóng Ôn Hòa Tây Tạng (Seventeen Point Agreement for the Peaceful Liberation of Tibet). Tháng 9-1954, Đức Đạt Lai Lạt Ma và Đức Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 10 tới Bắc Kinh để gặp Mao Trạch Đông, tham dự Quốc Hội Nhân Dân Trung Quốc với tư cách đại biểu quốc hội, thảo luận về Hiến pháp Trung quốc.
Ngày 27-9-1954, Đức Đạt Lai Lạt Ma trở thành Phó chủ tịch Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Nhân Dân Trung Quốc (Standing Committee of the National People's Congress)…
Dân tộc Tây Tạng vẫn tin nơi Ngài rằng Ngài không bao giờ bán đứng đất nước Tây Tạng. Tuyệt nhiên không một ai (hay rất ít) chất vấn rằng tại sao, thí dụ, “tôn thờ tội ác”…

Xin mời xem 2 tấm hình, hai bên họ Mao là Đức Đạt Lai Lạt Ma (phải) và Đức Ban Thiền Lạt Ma (trái):

Làm sao mà nghi ngờ dị tâm của Ngài được, đối với những người đã nguyện đời đời, kiếp kiếp trụ thế cõi này để cứu hết cùng tận chúng sinh… Nếu Đức Đạt Lai Lạt Ma không vượt Hy Mã Lạp Sơn để đào thoát sang Ấn Độ, hẳn là nhiều sử gia đời sau sẽ đặt vấn đề với Ngài.

*  *  *
Đó là hình ảnh. Bây giờ tới ngôn ngữ.

Tạp chí Newsweek ngày 15 tháng 1-2015 ghi rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma tử nhận là người Marxist (theo chủ nghĩa Marx) trong một bài thuyết giảng về hòa bình thế giới tại Kolkata, Ấn Độ. Cũng báo này nói, mấy năm trước đó, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói trong một hội nghị năm 2011 tại Minneapolis, Hoa Kỳ, rằng Ngài là Marxist khi kêu gọi một lý thuyết kinh tế xã hội nhân đạo hơn.

Bạn hãỹ hình dung, khi một nhà sư Việt Nam nói rằng vị sư này theo chủ nghĩa Marx. Sóng gió tất nhiên là kinh khủng. Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma nói như thế, ngay cả những người cực đoan cũng không phóng câu nói này của Ngài lên các mạng email để truy vấn.

*  *  *

Tới đây, chúng ta sẽ nói về một vài điểm, mà tôi tin là ngộ nhận từ nhà văn Trần Trung Đạo qua bài viết gần đây. Bài này có tựa đề “Khi lãnh đạọ tôn giáo tôn thờ tội ác” và đã ngay lập tức được phóng khắp các mạng email.

Xin mời xem hình từ bài của nhà văn họ Trần:



Tôi đi tìm bản tin gốc. Và thấy ở đây, trên báo Giác Ngộ, bản tin ngày 18/05/2015 có tựa đề: “Khai mạc Lễ hội Văn hóa Phật giáo "Hương sen xứ Nghệ"…” (link: http://giacngo.vn/mobile/default.aspx?CategoryID=110&GroupID=1100&ContentID=176041)

Đọc kỹ bản tin, sẽ thấy: tấm hình kia cho thấy buổi lễ dựng ở ngoài sân. Tấm hình ông Hồ để ở ngoàì sân là tác phẩm nghệ thuật, “kết bằng hàng vạn bông hoa sen,” nghĩa là hoa trên tấm ảnh này chỉ vài tuần hay vài tháng là sẽ tàn, và nên hiểu là tấm hình sẽ quăng đi – cũng là một ý nghĩa vô thường. Việc dựng tấm tranh ông Hồ ngoaì sân chùa cho buổi lễ là bình thường, vì khắp phố phường không có tượng này thì có ảnh kia.

Cần ghi nhận: không hề thấy có chánh điện nào của chùa nào thờ ông Hồ cả.
Trước kia, có chuyện ông Dũng Lò Vôi để tượng ông Hồ trong chánh điện một nơi ở Bình Dương, rồi dư luận phản đối, thế là ông Dũng xoay ngang tượng ông Hồ, và kiến trúc trông như ngôi chùa ấy trở thành khu du lịch có bán vé vào cửa. Không phải là chuyện chánh điện nào thờ tượng ông Hồ.

Những ngộ nhận và chỉ trích trong đời cứ mãi có thôi. Cũng như trước đây, tấm hình các vị sư đi thăm Trường Sa, đầu đội nón cối bộ đội. Hay như tấm hình nhà sư làm lễ cầu siêu năm 2014 ở Vị Xuyên, Hà Giang, nơi cuộc chiến biên giới bùng nổ năm 1984 trước một dãy nón cối tượng trưng cho các chiến binh tử trận; lúc đó, 30 năm sau báo chí nhà nước mới công khai đăng tin về cuộc chiến chống quân TQ năm 1984, và lúc đó Việt Nam mất ngọn Lão Sơn.

Người ta có thể chất vấn rằng nhà sư phảỉ có tăng tướng, không nên đội mũ bộ đội, và vân vân. Hay, nhà sư cầu siêu làm gì trước những dãy nón cối tượng trưng người đã khuất, hẳn vì các tử sĩ đã siêu thăng từ lâu rồi, và vân vân.

Tôi không bao giờ dám khởi tâm nói như thế. Bởi vì, tôi biết, khi một cuộc chiến lớn bùng nổ lần nữa, và lần này hẳn là lớn nhiều lần hơn quá khứ và sẽ có những đợt tổng động viên… phải thấy trong máu thịt những người hy sinh để giữ quê hương kia sẽ hòa lẫn máu thịt bộ đội và máu thịt các nhà sư đang ở Trường Sa, đang ở các ngôi chùa biên giới… Tôi lòng dạ nào mà đi nói lý, nói sự với những người đang giữ biển, giữ đất bằng chính sinh mệnh của họ.

Tôi cũng không dám có lòng nào chất vấn tại sao bà Kyi im lặng, khi trong quá khứ bà dám ôm hoa bước thẳng tới trước những họng súng. Và cũng hệt như một thần dân Tây Tạng, tôi không bao giờ nêu thắc mắc với Đức Đạt Lai Lạt Ma tại sao ngồi bên ông Mao, tại sao giữ chức Phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quóc Hội Nhân Dân TQ, và vân vân.

*  *  *

Tới đây cũng nên nói rằng, tôi không hề dám nêu thắc mắc về sự im lặng của một Đức Giáo Hoàng khi lãnh tụ Hitler thảm sát dân Do Thái.


Nhiều thập niên sau Thế Chiến 2, nhiều sử gia thế giới vẫn nêu vấn đề này. Đối với tín đồ Thiên Chúa Giáo La Mã, họ tin rằng sự im lặng của Đức Giáo Hoàng Pius XII là có lý do hợp lý, vì họ tin rằng Ngài thay mặt Thượng Đế và có đặc tính “bất khả sai lầm.”
Một số sử gia gọi Ngài là “Giáo Hoàng của Hitler.”

Bài viết ngày 6 tháng 5-2010 trên báo Foreign Policy có tựa đề “Why Did the Pope Keep Quiet About Hitler?” (Tại Sao Đức Giáo Hoàng Im Lặng về Hitler?) đã mở ra thêm một số hồ sơ mới cho thấy những gì Ngài biết và khi nào biết.




Tôi không chất vấn sự im lặng của bà Kyi, không chất vấn những lời của Ngài Đạt Lai Lạt Ma, và cũng không dám thắc mắc về sự im lặng của Ngài Pius XII khi 5.9 triệu người Do Thái bị Hitler giết. Ngắn gọn, im lặng hay lên tiếng là lựa chọn riêng của mỗi người.

Trong bài này, tôi chỉ muốn nêu lên ngộ nhận của tác giả Trần Trung Đạo trong tấm hình để một cách diễn giải chệch đi, và về ngôn ngữ quy chụp “tôn thờ tội ác” cho một sự kiện ở quê ông Hồ.

Nguyên Giác






Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014


POST SCRIPTUM CỦA MỘT BÀI VIẾT

 Nguyễn Kha

Cuối tháng Bảy năm 2014, tôi có viết bài “Đức Dalai Lama, Ông Ngô Đình Diệm và mặc cảm tội lỗi của Nhóm Hoài Ngô” và sau đó được một số blog và web phổ biến trên Internet.
Mục đích chính của bài viết là để giúp một số bạn Phật tử kiểm chứng xem vào ngày 20-3-2013, Đức Dalai Lama có tuyên bố tại chùa Viên Giác ở  Hannover (Đức quốc) rằng “cố TT Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống Công Giáo, đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng” như lời của một “chị Hoa Lan” nào đó đã kể trên các diễn đàn điện tử hay không?
Vì mục đích chính là như thế nên nội dung bài viết chủ yếu xoáy vào việc tìm kiếm và giải trình những thông tin với độ khả tín chấp nhận được, đã mô tả hay tường thuật lại buổi giảng pháp của Ngài Dalai Lama hôm đó. Và kết luận của tôi là: “ … không có câu chuyện hoang đường “Đức Dalai Lama bồi hồi khi kể lại sự giúp đỡ của cụ Diệm” đã “âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng.” như “chị Hoa Lan” đã gian trá phịa ra.”. [1]
Cuối bài viết, tôi cũng thêm một phần phụ, thử lý giải vì sao có hiện tượng Đức Dalai Lama lại một lần nữa (trước đó là vụ giải thưởng Magsaysay) trở thành đối tượng bị “lôi kéo” vào những chuyện bịa đặt thị phi trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Và tôi kết luận: “Chỉ có Đức Dalai Lama, trong tình trạng hỗn loạn rối rắm của chính trị Việt Nam, đã trở thành nạn nhân của những thủ đoạn gian xảo của nhóm hoài-Ngô mà thôi.” [2]
Bạn đọc có thể đọc toàn bộ bài viết của tôi ở đây: http://hoangnamgiao.blogspot.com
/2014/07/uc-dalai-lama-ong-ngo-inh-diem-va-mac.html
Thế rồi mới đây, ngay sau lễ Lao Động (Mỹ), một người bạn có chuyển cho tôi text bài viết của tác giả Trần Trung Đạo với tựa đề “TT Ngô Đình Diệm đã từng giúp gạo cho dân Tây Tạng tỵ nạn tại Ấn Độ?” đăng trên Blog Chuyển Hóa Việt Nam:
 https://changevietnam.wordpress.com/2014/08/28/tt-ngo-dinh-diem-da-tung-giup-gao-cho-dan-tay-tang-ty-nan-tai-an-do/
 
Trong phần đầu của bài viết, thông qua hai nhân chứng là Hòa Thượng Thích Như Điển (Phương trượng chùa Viên Giác tổ chức buổi lễ), và chị Hoa Lan “thật” (một nữ Phật tử có tham dự,  và sau đó có viết bài kể lại buổi lễ), tác giả cho biết hai nhân chứng đều xác định trong thời gian buổi lễ diễn ra ở chùa Viên Giác hôm 20-3-2013, hoàn toàn không có chuyện   “Đức Dalai Lama bồi hồi khi kể lại sự giúp đỡ của cụ Diệm” đã “âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng.”. Đúng như kết luận trong bài viết của tôi.
Tôi xin mượn cái Post Scriptum nầy để cảm ơn hai vị nhân chứng và tác giả Trần Trung Đạo trong chuyện nầy. Cả ba vị đã giúp khẳng định thêm câu chuyện của “chị Hoa Lan” chỉ là một chuyện hoang đường [3].  Do đó, trong giới hạn bài viết của mình, đối với tôi, the case is closed !
Trong phần thứ nhì của bài viết, tác giả Trần Trung Đạo cho biết nhờ nỗ lực của Hòa Thượng Thích Như Điển, lần đầu tiên chúng ta được tiếp cận với một văn kiện chính thức, đề cập đến chuyện Việt Nam tặng gạo cho dân tỵ nạn Tây Tạng. Đó là tài liệu có tựa đề “India Parliament On the Issue of Tibet – Rajya Shaba Debates, 1952-2005” do “Tibetan Parliamentary and Policy Research Centre” công bố năm 2006. Tài liệu nầy cho biết:
(i)             Vào ngày 19-12-1960, Thủ Tướng Shri Jawaharlal Nehru xác nhận rằng ngoài 3 chính phủ khác (Úc, Mỹ và Tân Tây Lan) tặng hiện kim, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã tặng (donated) 1,300 tấn gạo cho chính phủ Ấn Độ (at the disposal of Government of India) để cứu trợ dân tỵ nạn Tây Tạng.
(ii)           Và vào ngày 30-4-1962, Bộ Trưởng Ngoại Giao Shrimati Lakshmi Menon cũng xác nhận  (Yes, Sir) rằng Chính phủ Nam Việt Nam (the Government of South Vietnam)  đã đề nghị tặng (offered) 200 tấn gạo để cứu trợ dân tỵ nạn Tây Tạng tại Ấn Độ.
Bạn đọc có thể đọc toàn bộ tài liệu gốc ở đây:
           http://www.tpprc.org/publication/rajya_sabha_debates_on_tibet-2006.pdf 
Đây là một tài liệu có thể tin cậy được, cho nên từ nay, về quan hệ Việt-Ấn trong lãnh vực giúp người tị nạn Tây Tạng trong giai đọan đầu thập niên 1960’s, cá nhân tôi sẽ dùng tài liệu nầy để tham chiếu và sẽ viết như sau:
“Cùng với một số quốc gia Tây phương, Chính phủ Việt Nam Cọng Hòa đã gửi cho Chính phủ Ấn Độ tổng cọng 1,500 tấn gạo trong hai năm 1960 và 1962 để chính phủ nầy cứu trợ dân tỵ nạn Tây Tạng (xem India Parliament On the Issue of Tibet – Rajya Shaba Debates, 1952-2005)”. 
Không có tên ông Diệm, tên ông Nehru, hay tên của Đức Dalai Lama!
Chuyện cứu trợ tị nạn đó có giá trị còn nhỏ hơn những thành quả mà ông Diệm đạt  được trong giai đoạn đầu chấp chánh, nhưng là nguyên thủ quốc gia, ông Diệm xứng đáng được khen thưởng qua động thái vừa từ thiện vửa chính trị nầy. Tuy nhiên, cũng với tư cách là nguyên thủ quốc gia đó, ông cũng phải chịu trách nhiệm về những thất bại và tội ác xãy ra trong chế độ do ông (và các anh em ông) lãnh đạo. 
Đến đây, Post Scriptum của tôi đã có thể chấm dứt.
Tuy nhiên, chỉ đặc biệt dành riêng cho những “thám tử lịch sử” lương thiện, quan tâm đến sự thật 101% và muốn biết thật chi li từng chi tiết, thì tài liệu Ấn Độ India Parliament On the Issue of Tibet – Rajya Shaba Debates, 1952-2005 mà Hòa Thượng Thích Như Điển tìm ra, có hai “vấn nạn” không … ăn khớp với một tài liệu khác của Việt Nam:
1-      Sau đề mục (entry) ngày 30-4-1962 về trả lời của Bộ trưởng Ngoại Giao Ấn xác nhận (“Yes, Sir”) rằng “Chính phủ Nam Việt Nam đề nghị tặng 200 tấn gạo”, tôi tiếp tục đọc hết cả tài liệu, cho đến entry cuối cùng ngày 3-3-2005 (nghĩa là gần 43 năm sau), mà vẫn không thấy“đề nghị tặng” 200 tấn gạo đó có biến thành hiện thực hay không?
Như vậy, tổng cọng là 1,300 hay (1,300+200=) 1,500 tấn gạo?
May sao, chúng ta có một vị Cử nhân Luật là công chức cần mẫn và lương thiện, đã ngồi tỉ mĩ sưu tập và ghi lại những chuyện đã qua. Và trong tác phẩm “1945-1964  - Việc Từng Ngày Hai Mươi Năm Qua” ông đã ghi ngày “15-3-1962 . – Chánh-phủ VN gửi 200 tấn gạo giúp dân tị-nạn Tây-Tạng, …” [4]Người đó là ông Đoàn Thêm, Phó Đổng lý Văn phòng trong dinh Tổng thống Diệm.
Bây giờ là các câu hỏi dành cho quý vị “thám tử lịch sử” lương thiện: Ngày 15-3-1962, Chính phủ VN đã gửi gạo đi mà sao sau đó một tháng rưởi, ngày 30-4-1962, ông Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Ấn Độ lại vẫn nói là Việt Nam chỉ mới “đề nghị tặng” (“offered”) ? Tại sao lại có tình trạng không ăn khớp về thời gian tính như vậy? Hay 200 tấn gạo có gửi đi nhưng … không đến? Tài liệu sai, nhầm, thiếu, không đáng tin? Hay chính hai ông công chức Ấn và Việt đều … lẩm cẩm dùng nhầm dữ liệu?
2-      Trong khi dữ liệu 200 tấn gạo ở trên được ông Đoàn Thêm ghi đầy đủ như thế, hơn hẳn tài liệu của một “Trung Tâm Nghiên Cứu” của Ấn Độ, thì ngược lại, tôi không tìm được một ghi chú (entry) nào về 1,300 tấn gạo trong cùng tác phẩm đó của ông! 
Thủ tướng Nehru xác nhận vào ngày 19-12-1960  rằng Chính phủ Việt Nam Cọng Hòa đã tặng (“donated”) 1,300 tấn gạo. Tôi đọc lại Việc Từng Ngày của ông Đoàn Thêm từ trang 250 (“2-4-1959  - Đức Đạt-Lai Lạt-Ma đã vượt biên sang Ấn Độ”) đến trang 285 (ngày “19-12-1960”, lúc Thủ Tướng Nehru ra điều trần), tuyệt nhiên không thấy một ghi chú nào về việc Chính phủ Việt Nam gửi gạo qua Ấn Độ để giúp dân tỵ nạn Tây Tạng cả! Như vậy, tổng cọng là  (1,300+200=) 1,500 hay chỉ 200 tấn gạo?
Bây giờ là các câu hỏi dành cho quý vị “thám tử lịch sử” lương thiện:  Ta thấy tác giả Đoàn Thêm rất tỉ mĩ và rốt ráo, chuyện “Núi lỡ ở Chí Lợi”, chuyện “Cháo cá sấu tăng giá ở Singapore”, chuyện “Nhà văn Hồ Thích từ trần ở Đài Loan” ông đều ghi, thế mà chuyện lần đầu tiên Chính phủ Việt Nam gửi gạo qua Ấn Độ cho dân tị nạn Tây Tạng, với số lượng nhiều đến 1,300 tấn, sao ông không ghi vào? Rồi cựu Đại úy Lê Châu Lộc (nguyên sĩ quan tùy viên của ông Diệm), ông Huỳnh Văn Lang (nguyên Phụ tá Bí thư cho Thủ tướng Diệm), cũng không biết có chuyện 1,300 tấn gạo nầy, đến nỗi phải bịa ra chuyện ông Diệm dùng tiền giả tưởng của giải thưởng Magsaysay mà ông không được đề cử, để gửi cứu trợ cho Đức Dalai Lama (xin xem bài viết đã dẩn của tôi ở trên).
Tài liệu sai, nhầm, thiếu, không đáng tin ? Hay hai ông công chức Ấn và Việt đều … bị bệnh Alzheimer trước tuổi? Hay 1,300 tấn gạo “ma”, có … phép tàng hình, bị ông Diệm “âm thầm” giấu chính phủ và quốc dân gửi qua Ấn Độ như “chị Hoa Lan” Internet đã khẵng định? 
Xin chúc càc “thám tử lịch sừ” lương thiện tìm được (những) tài liệu bất khả phủ bác để giải tỏa hai vấn nạn trên hầu sự kiện lịch sử nầy được sáng tỏ hơn!

*  *  *

Tài liệu mà Hòa Thương Thích Như Điển tìm ra và bài viết của tác giả Trần Trung Đạo là những đóng góp tốt trong nỗ lực tìm hiểu lịch sử. Tôi trân trọng thái độ của hai vị đó trong “sự cố” Đức Dalai Lama bị vu khống về một tuyên bố mà Ngài không nói.  Và lại càng làm cho tôi thấy mình đúng hơn trong đánh giá những thành phần hoài-Ngô (như loại “chị Hoa Lan” trên Internet) đang làm nhiễu loạn thông tin do hành vi gian dối của họ.
Riêng về sự kiện chính phủ Việt Nam đã gửi cho chính phủ Ấn Độ 1,500 tấn gạo để cứu trợ dân tỵ nạn Tây Tạng vào đầu thập niên 1960, động thái đó vẫn không làm thay đổi được đánh giá của tôi về Công và Tội của ông Ngô Đình Diệm và các anh em của ông như một tập đoàn lãnh đạo chính trị ở thượng tầng quyền lực, và nền Đệ nhất Cọng Hòa như một chế độ chính trị tại miền Nam Việt Nam đang đối mặt sống chết với chế độ miền Bắc. Đánh giá đó của tôi, về đại thể, không khác lắm với đánh giá của hai người làm văn hóa đã từng sống (và một người đã  từng chết) dưới thời ông Diệm làm Tổng thống. Nên xin nhắc lại ở đây để kết bài:
Một người là ông Nhất Linh Nguyễn Tường Tam“Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử cả. Sự việc đem các đảng phái quốc gia đối lập ra xét xử là một trọng tội đối với quốc gia, chỉ đưa đất nước rơi vào tay Cộng Sản. Vì thế tôi tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu là để cảnh cáo những ai chà đạp mọi thứ tự do.” [Tôi nhấn mạnh]
Và một người là ông Doãn Quốc Sỹ: “Bảo là người Mỹ đã giết Diệm. Không! Diệm đã chết trong lòng dân tộc từ lâu. Mỹ chỉ đến lượm xác sống của y.” [Tôi nhấn mạnh] [5]

NK/9-2014

CƯỚC CHÚ :
[1] Năm ban hành Hiến Pháp của Đệ Nhất Cọng Hòa cũng là năm tôi chuyển trường từ Pellerin (Huế) vào trường Bénilde ở Nha Trang. Frère Amédé, nghiêm khắc và trắng như một ông Tây, dạy kèm tôi Piano mỗi chiều thứ Bảy. Frère thường răn đe chúng tôi rằng “người đã gian dối thì việc ác nào họ cũng dám làm”. Bây giờ, Frère đã mất, ngôi trường cũ cũng không còn, nhưng lời dạy đó vẫn như một kim chỉ nam óng ánh trong đời tôi. Do đó mà cũng giống nhiều người khác, tôi rất ghét, và sợ, những kẻ gian dối.
 [2] Sau đó, vào ngày 28 tháng 7, tôi có liên lạc với “The Office of His Holiness The Dalai Lama” tại Himachal Pradesh ở Ấn Độ để xin xác nhận về tuyên bố của Ngài Dalai Lama tại chùa Viên Giác ở bên Đức vào tháng 3/2013. Nhưng, theo tôi đoán, với một lịch trình làm việc dày đặc của Văn Phòng, những vấn đề “ô trược” như thế nầy khó được các vị Tăng sĩ và Cư sĩ phụ tá của Ngài ưu tiên quan tâm đến. Cho nên đến khi viết bài nầy, tôi vẫn chưa nhận được hồi âm. Vã lại, trả lời của quý vị ấy, bây giờ đối với tôi, không còn cần thiết nữa. 
[3] Để tránh trường hợp vì không đọc bài của tôi trước nên có thể hiểu lầm khi đọc bài của tác giả Trần Trung Đạo, có 2 chi tiết nhỏ cần lưu ý bạn đọc: (i) Tĩnh từ “hoang đường” mà tôi dùng là để đánh giá chuyện kể của “chị Hoa Lan” chứ không phải để nhận xét tính hư thực của  chuyện ông Diệm tặng gạo. Và (ii), trạng từ “âm thầm” là của “chị Hoa Lan” Internet chứ không phải của tôi. 
[4] Đoàn Thêm, 1945-1964 Việc Từng Ngày Hai Mươi Năm Qua, Xuân Thu, Los Alamitos, trang 317:
[5] Người Việt Đáng Yêu, Nhà xuất bản Sáng Tạo, Sài Gòn, 1965. Đăng lại trên Tạp chí Việt Nam Hải Ngoại số 8, California, Hoa Kỳ.