Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2016


 
MƯU LƯỢC KHUẾCH TRƯƠNG TÍN ĐỒ
CỦA VATICAN VÀ TIN LÀNH

TP Thanh Tâm

    Tại các nước Tây Phương, tình trạng người dân từ bỏ đạo Ki Tô, bao gồm cả đạo Ca tô và Tin Lành, gia tăng. Số tín đồ đến nhà thờ vào ngày chủ nhật hoặc tham gia vào các lễ hội tôn giáo cũng như số học sinh theo học ở những chủng viện cũng giảm nhanh. Hiện tượng này được cho là sẽ tiếp tục trong tương lai.
     Có nhiều nguyên do để giải thích hiện tượng này. Trước hết, khi khoa học phát triển với những phát hiện mới thì theo đó, những sai lệch, mâu thuẫn trong Kinh Thánh ngày càng hiển lộ, chứng tỏ Kinh Thánh không còn thích ứng được với tư duy và đời sống con người hiện đại. Không chỉ những nhà khoa học, mà cả những người thường dân đều dần dần không chấp nhận giáo điều cơ bản của tôn giáo độc thần là “vũ trụ được sáng tạo và điều khiển bởi một vị sáng thế, tức Thượng đế. Thượng đế cũng chính là chân lý, có toàn quyền thưởng phạt, quyết định vận mệnh sống chết của con người”.

     Khi xã hội bước vào giai đoạn thuần thục sau một quá trình dài theo cơ chế dân chủ và cạnh tranh kinh tế, đã hình thành một xã hội có xu hướng hưởng thụ vật chất và sống theo lý tính, họ không còn ngoan ngoãn đặt niềm tin vào một giáo điều nào đó được định sẵn, bắt phải “tin” vào điều mà không cần dùng đến nhận thức phân biệt đúng sai, không cần dùng đến lý trí, trí tuệ (một từ trong Phật giáo).    
     Đạo Ca Tô cũng như Tin lành chủ trương rằng Thiên chúa sáng tạo ra vạn vật, nên họ công kích thuyết tiến hóa được giảng dạy ở trường học. Ngoài ra, họ phản đối hành vi đồng tính, phá thai vì cho rằng nó phản lại lời giảng trong Thánh Kinh. Những chủ trương này là một vài ví dụ đi ngược lại với những khám phá của khoa học cũng như trào lưu của xã hội, nên sau này nhiều người chỉ trích rằng những tôn giáo này là “thiếu tri tính, phản lý luận khoa học”.

     Ở đây, xin được ghi chú khái quát về đạo Tin Lành. Như đạo Ca Tô, Tin Lành cũng là một nhánh của Ki tô giáo, nên có thể được coi là anh em. Trong các giáo phái Tin Lành tại Hoa Kỳ, có một giáo phái tiêu biểu là giáo phái “Phúc Âm (Evangelical) ”. Giáo phái này có gốc từ Anh quốc, sau đó truyền qua Hoa kỳ và phát triển mạnh mẽ. Tại Việt Nam, Phúc Âm là giáo phái hoạt động mạnh mẽ nhất. Đạo Tin lành cũng như Ca tô, lấy “niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa” làm nền tảng. Ngoài tính cách tôn giáo, tại Hoa Kỳ, Tin Lành còn tham gia sâu sắc vào sinh hoạt chính trị của quốc gia. Tổng thống Reagan và hai đời cha con tổng thống Bush cũng được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của giáo phái Tin Lành này. Giáo phái Phúc Âm của Tin Lành lấy người Mỹ gốc da trắng [WASP: White Anglo-Saxon Protestant] làm trung tâm và thường có khuynh hướng chính trị bảo thủ. Trụ sở chính đặt tại Bắc Mỹ và truyền đạo trải rộng ra khắp thế giới. Mục sư Tin Lành, cũng như những nhà truyền giáo Ca Tô thường thuyết giảng về “bí tích” chữa bệnh, về quyền thưởng phạt của Thiên Chúa, những ân sủng của Thiên Chúa dành cho tín đồ ngoan đạo, v.v.. Phương châm truyền đạo của họ là chú trọng vào những nơi xa xôi hẻo lánh, ở đó đời sống người dân còn nghèo khó lạc hậu và giáo dục còn thấp. Họ dùng những hoạt động có tính “xã hội, từ thiện” làm phương tiện gieo truyền niềm tin Thiên Chúa, và  “văn minh Âu Mỹ” để thu hút người dân vào đạo.

     Lý do thứ hai để người Phương Tây xa lánh dần các tôn giáo này là do những hành vi bất chính xảy ra từ trước đến nay của các linh mục nhà thờ bị bộc lộ, trong đó có những vụ xâm phạm tình dục (hiếp dâm) trẻ em của các chức sắc giáo hội trải rộng tại nhiều nơi trên thế giới trong nhiều thập niên qua, đã gây ra làn sóng căm phẩn và bất tín của người dân. Tiếp theo là những hành vi mờ ám bất chính của Vatican liên hệ đến chính trị và tiền bạc, đến các sự kiện phạm pháp của các Linh mục nhà thờ, v.v..
     Ngoài ra, trong những năm vừa qua, nhiều vụ tai tiếng khác bị phơi bày trước công luận, như tín đồ các nước Hồi Giáo phản đối mãnh liệt khi cho rằng Giáo Hoàng miệt thị tôn giáo của họ; sự kiện Tổng Giám Mục Hà Lan đã hỗ trợ cho điệp viên Nga trong thời kỳ chiến tranh lạnh bị đưa ra ánh sáng. Trong nội bộ thì thế lực cấp tiến yêu cầu cải tổ tổ chức có dân chủ hơn, yêu cầu cho phép nữ giới có quyền trở thành giáo sĩ, yêu cầu giáo sĩ được quyền kết hôn, v.v..

     Vì những lý do trên, nhiều người Âu Mỹ, đặc biệt giới trí thức và giới trẻ dần dần từ bỏ đạo Ca Tô và Tin Lành, là hai tôn giáo truyền thống mà gia đình họ đã tin theo. Trong số những người này, có một số không ít quay sang đạo Phật, hoặc tuy không theo đạo Phật nhưng có cảm tình với giáo lý Phật Pháp. Số người này ngày càng gia tăng trong nhiều thập niên qua, mặc dù đạo Phật còn khá mới mẻ đối với người Tây Phương. (Có một ước tính là tại Mỹ hiện nay có khoảng 1% người theo đạo Phật, và khoảng 30% người dù không từ bỏ tôn giáo của họ, nhưng có cảm tình với Đạo Phật. Họ tham gia tọa thiền, đọc sách báo về Phật giáo, hoặc trưng bày hình tượng Phật trong nhà như là biểu tượng của sự hiểu biết và tình thương, v.v...)
     Trước nguy cơ suy giảm “niềm tin Thiên Chúa” tại các quốc gia Âu Mỹ, Vatican cũng như Tin Lành chuyển hướng chiến lược đặt trọng tâm phát triển thế lực qua các nước Á Châu và Phi Châu. Tại Á châu, họ đặc biệt chú trọng vào những quốc gia đông dân cư như Trung quốc, Ấn Độ, Hàn quốc. Việt Nam cũng là một nước mà cả Vatican lẫn Tin Lành đều lấy làm trọng điểm nhắm đến.
Ngoài Philippines là nơi có mật độ giáo dân cao, công cuộc phát triển Cơ đốc giáo
(Catô, Tin Lành và Chính Thống giáo) tại ba nước đông dân nhất là Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản, với tổng dân số ba nước là 2,8 tĩ người, thì tuyệt đối không đáng kể -  khoảng dưới 3% (2014).
Hình: Giáo phận và Giáo khu trong mỗi quốc gia tại Á châu (Nguồn: Internet) 
     Dưới đây là trình bày khái quát về mưu lược phát triển đạo Ca Tô của Vatican tại một vài nước Á Châu và Việt Nam.
     Nhìn trên toàn thế giới, thì Á châu là đại lục có số dân theo đạo Ki Tô tương đối ít, chỉ khoảng 2.9% trên tổng số dân. Đặc biệt, tại 2 quốc gia có dân số đông nhất nhì thế giới là Trung quốc và Ấn Độ thì Vatican cũng như Tin Lành gặp nhiều trở ngại trong việc truyền giáo do chính sách ngăn chận đạo Ki Tô của nhà nước vì biết rõ lịch sử tồi tệ và mưu lược nguy hiểm của Vatican, cũng như nhận thức của người dân cho rằng Ca tô cũng như Tin Lành là tà đạo, không thích hợp với văn hóa tập quán của dân tộc họ.

     Tiếp nhận phương châm của người tiền nhiệm Pope John Paul II là “ Phát triển truyền đạo tại các quốc gia Á Châu là kế sách ngàn năm của Vatican”, GH Benedict XVI tỏ ra là người rất tích cực trong mưu lược phát triển tín đồ Ca Tô tại Á châu. Trong tháng 1 năm 2007, GH Benedict XVI đã triệu tập một buổi họp gồm những chuyên gia về các nước châu Á để thảo luận về tình hình kinh tế, chính trị và tôn giáo tại các nước Á châu đang phát triển, với dã tâm là xây dựng chiến lược thúc đẩy phát triển tín đồ tại những quốc gia này, mà trọng điểm là Trung quốc, Ấn độ, Triều Tiên (Nam Hàn và Bắc Hàn) và Việt Nam.

1) Tại Trung quốc
     Trong suốt 2 ngày đầu, hội nghị đã tập trung về vấn đề tôn giáo Ca Tô tại Trung quốc. Sau hai ngày họp, Vatican đã quyết định thành lập một ủy ban chuyên môn về vấn đề phát triển Ca Tô tại Trung quốc. Song song đó, Giáo hoàng truyền đạt một lá thư gởi cho giáo dân tại nước này. Trong phần phát biểu sau kỳ họp 2 ngày, GH Benedict XVI đề cập đến khối tín đồ Ca Tô tại Trung quốc, tuyên dương sự trung thành với Vatican mặc dù chịu sự đàn áp của nhà nước. Mặt khác, họ kêu gọi chính quyền Trung quốc hãy bỏ qua những hiểu lầm trong quá khứ và nối lại đối thoại.
     Hiện nay, tại Trung quốc có khoảng 12 triệu tín đồ Ca Tô. Trong đó có 4 triệu tín đồ theo giáo hội “Hiệp hội Công giáo Yêu nước Trung Quốc” do nhà nước quản lý. Còn lại 8 triệu là tín đồ chui, tức hoạt động bí mật ngoài vòng kiểm soát của pháp luật và tuân thủ theo ý đồ của Vatican.
     Chiến lược của Vatican tại Trung quốc được ví như con dao 2 lưỡi, tức là một mặt vận động nối lại bang giao với nhà nước, thì mặt khác lại âm thầm ủng hộ giáo dân chui, khuyến khích họ hoạt động tryền giáo để phát triển theo chỉ thị và hỗ trợ của Vatican, gây áp lực lên chính quyền đòi quyền tự do tôn giáo. Tại Trung quốc, quyền phong các chức sắc Ca Tô đều thuộc quyền của “Hiệp hội Công giáo Yêu nước Trung Quốc” mà không qua Vatican. Điều này làm cho Vatican đau đầu vì là một tiền lệ cho những nước khác tham khảo.
     Tiếp đến là vấn đề Đài Loan. Hiện nay mặc dù Vatican không có quan hệ ngoại giao với Trung quốc nhưng công nhận Đài Loan. Để đánh đổi việc này, Vatican đề nghị Trung quốc giao quyền phong chức sắc trong giáo hội cho Vatican. Đổi lại, Vatican có thể thay đổi (cắt đứt) quan hệ ngoại giao với Đài Loan theo yêu cầu của Trung quốc. Cho đến nay, quan hệ ngoại giao giữa Trung quốc và Vatican vẫn chưa cho thấy có dấu hiệu khả quan cụ thể nào.

2) Ấn Độ
     Ấn Độ là quốc gia đa tôn giáo, trong đó Ấn giáo chiếm 80%, Hồi giáo 14% và Ki Tô giáo (gồm Ca Tô và Tin Lành) 2.3%, ngoài ra còn tồn tại nhiều tôn giáo khác.
     Hồng Y Ivan Diaz là giáo sĩ Ấn Độ có nhiều kinh nghiệm trong giáo hội Ca Tô tại Ấn Độ.  Ông làm Tổng Giám Mục 10 năm tại Mubai trước khi được phong chức Hồng Y. Ông được đánh giá là người có uy tín trong giới tín đồ Ca Tô tại Ấn Độ. Vatican đã bổ nhiệm Hồng Y Ivan Diaz, mặc dù tuổi đã trên 70, làm Bộ trưởng Bộ Truyền giáo Vatican. Đây là một Bộ có quyền hạn rất lớn với ngân sách khổng lồ, trông coi hơn 1000 giáo khu bao gồm tất cả khu vực Châu Á, Châu Phi, các nước ở Châu Đại Dương và một phần các nước Nam Mễ. Ý đồ của GH Benedict XVI là trọng dụng người Ấn Độ để làm bàn đạp mở rộng thế lực tại quốc gia đông dân thứ nhì thế giới này. Tuy nhiên, cho đến nay, Vatican đã và đang gặp nhiều trở ngại từ cả phía chính quyền, các tôn giáo khác cũng như phản đối của người dân trong vận động khuyếch đại tín đồ Ca Tô tại đây.

3) Triều Tiên
     Hàn Quốc (Nam Triều Tiên) là xứ sở tiêu biểu cho mưu lược bành trướng tín đồ thành công của cả Vatican lẫn Tin Lành. Trong những thập niên sau này, song hành với Tin lành, số tín đồ Ca Tô tăng nhanh chóng. Hiện nay, tín đồ Ca Tô có khoảng trên 5 triệu, chiếm khoảng 11% dân số, nếu cộng với tín đồ Tin lành thì lên đến 29%. Một con số đáng ngại trong một nước Á châu có lịch sử theo Phật giáo và chịu ảnh hưởng của triết lý Khổng, Lão dài lâu. Mục tiêu của Vatican là số tín đồ Ca Tô sẽ gia tăng lên đến 20% trong năm 2020.
     Không it người dân Hàn Quốc, đặc biệt là giới trí thức lo ngại tương lai, về nền độc lập của quốc gia họ. Hiện nay, Hàn Quốc là đồng minh của Hoa Kỳ. Nhiều người cho rằng đây là chiến lược cần thiết để duy trì hòa bình từ mối uy hiếp của Bắc Triều Tiên cũng như những nước lớn lân cận, đồng thời để phát triển kinh tế với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Hoa Kỳ và Phương Tây. Nhưng bù lại, Hàn Quốc cũng phải chịu đeo cái vòng kim cô của Hoa kỳ, khó thể độc lập thật sự trong hành xử các vấn đề chính trị quốc tế. Tiếp theo là ảnh hưởng của hai tôn giáo Ca Tô và Tin lành mỗi ngày mỗi tăng cũng là mối uy hiếp cho độc lập quốc gia. Cả hai tôn giáo này đều không đơn thuần là chỉ truyền giảng tín lý tôn giáo nhằm phục vụ đời sống tâm linh của con người, mà họ là những thế lực chính trị, đều có mưu đồ chi phối quyền lực nước sở tại. Đạo Ca Tô tuân thủ theo chỉ đạo của Vatican và đạo Tin Lành được hỗ trợ và lèo lái của cơ sở chính tại Hoa kỳ.
     Trong vấn đề hệ trọng nhất của dân tộc Triều Tiên ngày nay là vận động thống nhất lãnh thổ, điều mà người dân cả 2 miền đều mong muốn, thì ảnh hưởng của Hoa kỳ và cả Vatican lẫn Tin Lành được coi là những cản trở lớn từ phía Hàn Quốc, (cũng như cản trở của Trung quốc từ phía Bắc Triều Tiên). Ít nhất, trong bối cảnh ngày nay thì Hoa Kỳ không hoặc chưa muốn 2 miền Nam Bắc Triều Tiên thống nhất, vì nếu thống nhất thì sẽ trở thành một nước Triều Tiên lớn mạnh, cả về kinh tế lẫn quân sự với võ khí hạt nhân. Như vậy thì Hoa kỳ sẽ không dễ dàng áp đặt đất nước này dưới sự chi phối của họ, ngay cả liên hệ đồng minh cũng có nguy cơ phá sản. Cả Ca Tô và Tin Lành cũng đều lo ngại nếu Triều Tiên thống nhất thì việc truyền giáo sẽ gặp khó khăn hơn.
     Người dân Hàn Quốc thường tỏ bất bình về sự quá khích và ngạo mạn của những tín đồ của hai đạo này, họ chiêu dụ tín đồ bằng nhiều thủ đoạn như dùng vật chất, bí tích chữa bệnh, hứa hẹn thiên đàng, hoặc hăm dọa bạo lực khi cần thiết. Họ công khai khiêu khích những tôn giáo khác, đặc biệt Phật giáo. Khi ảnh hưởng của hai tôn giáo này mạnh lên, thì Hàn Quốc lại càng khó thoát khỏi chi phối của Vatican và Tin Lành trong cả lãnh vực xã hội lẫn chính trị.
     Vatican cũng tỏ quan tâm đến cả Bắc Triều Tiên. Khoảng trước năm 1949, có khoảng 55 ngàn tín đồ theo đạo Ca Tô, nhưng sau đó nhà nước nghiêm cấm đạo này vì cho là “tà giáo”. Những người không chịu từ bỏ đạo bị xử phạt nặng, kể cả cho vào ngục tù và có những trường hợp bị xử tử. Ngày nay, số tín đồ chui được ước tính khoảng từ 8 trăm đến 3 ngàn người.
     Tại Bình Nhưỡng, có một giáo hội Ca Tô được xây dựng vào năm 1987. Nhưng đây được coi chỉ là bình phong dành cho du khách nước ngoài viếng thăm xứ này. Ngày nay đạo Ki Tô (cả Ca Tô lẫn Tin Lành) vẫn còn bị giới hạn, mặc dù nhà nước cho đặt văn phòng đại diện “Hiệp hội Công giáo toàn Triều Tiên” tại Bình Nhưỡng. Năm 2007, Hiệp Hội Caritas Nam Hàn đã cử đại diện viếng thăm Bắc Triều Tiên lần đầu tiên. Trong dịp này, phái đoàn đã trao lá thư của GH gởi cho giáo dân “chui” thông qua văn phòng đại diện “Hiệp hội Công giáo toàn Triều Tiên”. Vatican đang cố gắng tạo mối quan hệ với Bắc triều Tiên nhưng, cũng như tại Trung quốc, chưa có dấu hiệu tiến triển cụ thể nào.

4) Việt Nam
     Việt Nam là quốc gia có số tín đồ Ca Tô khoảng 6-7 triệu (6-7%) và Tin Lành khoảng 1.5 triệu (1.6%), đứng hàng thứ 2 sau Phi Luật Tân trong các nước Đông Nam Á.
     Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975, Việt Nam không có bang giao với Vatican. Nhưng từ khoảng cuối năm 1990, Giám mục Vatican bắt đầu có những chuyến viếng thăm Việt Nam có tính định kỳ. Những năm gần đây, Vatican có được quyền đề cử các chức sắc Ca Tô tại Việt Nam, với điều kiện được nhà nước Việt Nam chấp nhận.
     Trong bối cảnh này, chuyến viếng thăm Vatican của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong tiến trình bình thường hóa với Vatican. Ngày 25 tháng 1/2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm Vatican, hội kiến GH Benedict XVI và Hồng Y Tarcisio bertone. Tiếp theo cuộc hội kiến lịch sử này, một số sự kiện quan trọng, cũng những cuộc viếng thăm Vatican của quan chức cao cấp Việt Nam tuần tự như sau:
-Tháng 2 năm 2009, một phái đoàn của Vatican do Monsignor Piertro Patrolin dẫn đầu qua Việt Nam và họp với nhà nước Việt Nam tại Hà Nội bàn về cải thiện mối liên hệ song phương. Hai bên đồng ý thành lập “Nhóm Công tác hỗn hợp Việt Nam-Vatican” với mục đích thảo luận về những vấn đề quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Vatican.
-Tiếp theo TT nguyễn Tấn Dũng là cuộc viếng thăm Vatican, hội kiến với GH Benedict XVI của Chủ Tịch nước Nguyễn Minh Triết vào tháng 12 năm 2009.
-Năm 2011 Việt Nam cho phép Vatican bổ nhiệm Tổng Giám mục Loepoldo Girelli làm đại diện không thường trú tại Việt Nam. Đối với Vatican thì đây là thành quả lớn để tiến tới quan hệ ngoại giao toàn diện với Việt Nam.
     Phái đoàn Vatican, đại diện cho Giáo Hoàng, đã tuyên bố rằng Vatican khích lệ cộng đồng Ca Tô Việt Nam tuân thủ luật pháp, đóng góp tích cực vào việc phát triển đất nước. Đối lại, phía Việt Nam khẳng định Việt Nam luôn tôn trọng tự do tôn giáo và tín ngưỡng trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam, tích cực hỗ trợ giáo hội Ca Tô tham gia vào việc xây dựng đất nước trong lãnh vực xã hội và kinh tế.
-TBT ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng viếng thăm Vatican vào tháng 1 năm 2013 hội kiến GH Benedict XVI.
-Những cuộc viếng thăm Vatican và hội kiến với GH Francis gần đây nhất là Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng vào tháng 3 năm 2014 và tiếp theo là TT Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 10 năm 2014.
                                          
     Khi quan hệ ngoại giao giữa đôi bên được cải thiện, thì Vatican sẽ tiến hành nhiều phương sách nhằm phát triển giáo dân tại Việt Nam. Qua các chức sắc của giáo hội Ca tô Việt Nam, họ đã và sẽ đòi nhà nước trả lại những cơ sở bất động sản của giáo hội Ca Tô đã bị nhà nước tịch thu hoặc trưng dụng, với chủ trương rằng những bất động sản này là của Vatican thông qua Ca Tô Việt Nam trong thời Việt Nam Cộng Hòa. Đòi hỏi này không được nhà nước chấp thuận vì theo luật pháp Việt Nam, tất cả bất động sản nhà, đất tại Việt Nam là thuộc về nhà nước, không có bất cứ cá nhân, đoàn thể ngoại quốc nào có quyền sở hữu.
     Tiếp theo là họ sẽ phát triển các cơ sở tôn giáo như nhà thờ, tu viện, xây dựng các trường học Ca Tô, trung tâm y tế, v.v…như là những phương tiện để chiêu dụ tín đồ, khuyếch trương thanh thế.
     Song hành với viêc phát triển cơ sở hạ tầng và chiêu dụ tín đồ, họ tìm mọi cơ hội đưa tín đồ xâm nhập vào các bộ ngành nhà nước, đặc biệt là vào cơ quan quyền lực chính trị như quốc hội, v.v.. Bên cạnh đó, họ âm thầm cổ súy những hành vi chống phá nhà nước dưới nhiều hình thức và mức độ có thể. Dưới sự chỉ đạo của Linh mục nhà thờ, giáo dân biểu tình đòi đất, phản đối những vụ án xử người tự xưng là “hoạt động vì nhân quyền, dân chủ” phạm pháp, chống phá nhà nước dưới nhiều chiêu bài khác nhau, là những biểu hiện rõ nét nhất (nhiều người gọi đây là giặc nhà thờ).
Theo đúng truyền thống “thà mất nước chứ không thà mất Chúa”, lúc nào biểu tình chống đối điều gì, giáo dân Việt Nam chỉ biết dương cao có vàng-trắng của Vatican chứ không bao giờ phất cờ tổ quốc. – Hình: Biểu tình “Trường Sa Hoàng Sa” tại một giáo xứ ở Nghệ An (2014) 
      Đại diện Vatican hiện nay là GH Francis được nhiều người cho là “đạo đức giả”. Bên ngoài ông luôn tỏ ra là người đơn giản, yêu hòa bình, tôn trọng và hòa hợp với những tôn giáo khác. Ông bày tỏ sự quan tâm đến giới nghèo khó, bất hạnh trong xã hội, nhưng thực sự ông là người hiếu chiến và nhiều thủ đoạn. Ông tuyên bố ủng hộ vận động “nhân quyền, dân chủ” tại các nước trên thế giới. Ông chủ trương ngầm bắt tay với Mỹ hoặc những nước Âu Châu, bằng con bài vận động “nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo” thông qua “tổ chức xã hội dân sự” làm bình phong để gây xáo trộn xã hội, tiến đến bạo loạn hầu tạo áp lực hoặc lật đổ những chính quyền không tuân phục họ tại những nước trên thế giới.

     Mặc dù Việt Nam tỏ thiện chí muốn cải thiện bang giao với Vatican và đôi bên đang có mối quan hệ tương đối tốt đẹp, nhưng cũng không nằm ngoài đối tượng chống phá có chính sách của họ. Việt Nam hiện nay theo chủ nghĩa Xã Hội. Để phát triển đất nước trong điều kiện gìn giữ độc lập và chủ quyền, Việt Nam đã nêu rõ lập trường “bang giao thân thiện và bình đẳng với tất cả các nước trên thế giới, nhưng không đồng minh với bất cứ nước nào để chống đối nước nào”. Điều này không làm cho Hoa Kỳ và Vatican hài lòng.
     Tóm lại, có hai mục tiêu song hành của Vatican, thông qua nhóm tay sai Ca Tô tại Việt Nam là:
1)      Lợi dụng liên hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Vatican, phát triển thanh thế bằng cách xây dựng nhiều cơ sở vật chất như nhà thờ, chủng viện, cơ sở giáo dục, y tế, từ thiện, v.v., và gia tăng số tín đồ theo Ca Tô.
2)      Một mặt thâm nhập vào các cơ quan hành chánh, chính trị nhà nước, mặt khác chống phá chế độ bẳng người Việt Nam, qua chiêu bài “nhân quyền, dân chủ” và nhiều thủ đoạn khác tùy thời điểm, thông qua các đoàn nhóm mang danh nghĩa “tổ chức dân sự” hoặc “tổ chức tôn giáo”, v.v..Họ nhắm đến việc thao túng, tạo bất ổn xã hội và chính trị để cuối cùng là gây bạo loạn tiến đến sự sụp đổ của chế độ như họ đã từng làm tại Ucraine, các quốc gia trong thế giới Ả Rập, v.v., để thay vào đó bằng một chế độ chịu qui phục, hoặc chí ít là chịu sự lèo lái của các nước Âu Mỹ, mà phía sau có bàn tay đen của Vatican, thông qua nhóm tín đồ cuồng tín và những kẻ có tư duy vọng ngoại.
     Hai điều trên, trong ý nghĩa tổng quát, cũng có thể áp dụng với đạo Tin Lành tại Việt Nam.
    
Trước mối đe dọa tuy bề ngoài có vẻ thầm lặng nhưng rất nguy hiểm, không kém gì với hiểm họa xâm lăng của Trung quốc với nhiều thủ đoạn thâm độc, người Việt Nam cần chung sức để bảo vệ đất nước của chính mình. Trong phạm vi khả năng có thể, đặc biệt các cơ quan truyền thông, với phương tiện thông tin của chính mình cũng như thong qua những cơ quan truyền thông liên kết ở trong và ngoài nước, tích cực quảng bá thường xuyên, dài lâu và rộng rãi đến người dân khắp mọi miền đất nước về hành vi bất thiện và mưu đồ thao túng của Vatican cũng như Tin Lành, về mối hiểm nguy của tín đồ Ca Tô và Tin Lành vì cuồng tín mà có những hành vi quá khích chống phá đất nước theo lệnh của các linh mục/mục sư làm tay sai cho Vatican và Tin Lành. (Gầy dựng/vận động phong trào toàn dân cảnh giác Vatican và Tin Lành).
     Đối với nhà nước, mặc dù Việt Nam có chủ trương và giải pháp riêng trong ứng xử với những cá nhân, đoàn nhóm chống phá phạm pháp. Tuy nhiên, để tránh những trường hợp vì lợi ích ngắn hạn mà thỏa hiệp với Vatican, gây ảnh hưởng tai hại cho đất nước trong tương lai dài lâu, thì chúng ta cần luôn theo dõi và yêu cầu nhà nước có thái độ nghiêm minh, chặt chẽ, nhất quán và không khoan nhượng đối với những đoàn nhóm này.

Tham khảo:
1) Silvio Piersanti, Ayukawa Natsumi (lược dịch): Sách lược khuyếch trương tín đồ Ca Tô tại Á Châu của Vatican; http://www.fsight.jp/articles/print/3349
3) Wikipedia: Quan hệ Tòa Thánh-Việt Nam;


1/2016 - TP Thanh Tâm

Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2016


VIỄN CHINH TRÊN ĐẤT XIÊM

LỜI GIỚI THIỆU: Bao giờ thì “cơn bĩ cực” của dân tộc Việt mới đến “hồi thái lai”? Sau 40 năm thống nhất, sau 20 năm nội chiến, sau gần 100 năm đô hộ, mà đất nước vẫn chưa thái bình, mà người dân vẫn chưa thịnh trị thì đi tìm câu trả lời ở đâu? Có lẽ là ở khắp nơi. Kể cả ở những nước láng giềng. Kể cả ở trong quá khứ.
Bài dưới đây viết về một giai đoạn lịch sử khẩn thiết của Thái Lan là quốc gia vốn có nhiều tương đồng với Việt Nam để có thể đưa chúng ta đến một kết luận không đóng lại mà mở ra hầu giúp chúng ta tìm được một câu hỏi đích thực cho vấn nạn chung của đất nước.
Đọc bài nầy, bạn sẽ thấy văn minh Tây phương bắt đầu tiếp xúc với Thái và Việt gần như  trong cùng một thời điểm: Hội Truyền giáo Hải ngoại Paris đến Bangkok năm 1662 và Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ) cùng 4 tu sĩ Dòng Tên đến Hội An năm 1625.
Nhưng thực dân Pháp, cả thần quyền lẫn thế quyền đều đã hoàn toàn thất bại trong mưu đồ xâm lăng đất Xiêm vì sự chống đối của triều đình với trợ lực của tăng lữ Phật giáo.
Cho đến gần 200 năm sau (1856) Paris mới tái lập được liên hệ ngoại giao với Bangkok. Nhưng cũng năm 1856 đó, tàu chiến Catinat của Pháp tấn công hải cảng Đà Nẵng rồi phải rút lui cho đến năm sau (1857) Đô đốc Genouilly và Giám mục Pellerin mới có thể trở lại với liên quân Pháp-Tây Ban Nha đổ bộ lên Đà Nẵng, mở đầu cho chế độ thực dân đô hộ Việt Nam đến 99 năm sau (cuối tháng 4 năm 1956) mới hoàn toàn rút quân. Nhưng hệ quả văn hóa và chính trị, cả tiêu cực lẫn tích cực, của cuộc đô hộ nầy vẫn còn tác động trong xã hội Việt Nam.  
Có phải yếu tố đồng thuận của người dân Xiêm với chính quyền đã giúp nước ấy được thái bình thịnh trị? Vậy thì Việt Nam học được bài học gì của Thái Lan như trình bày dưới đây?


VIỄN CHINH TRÊN ĐẤT XIÊM
MỘT CUỘC MẠO HIỂM ĐIÊN CUỒNG CỦA THỰC DÂN

Jean-Christophe Servant
GEOHISTOIRE (Hors Serie) Janvier 2011


Hình bìa tạp chí GEOHISTOIRE số (ngoại hạng) tháng 1 năm 2011
Tác giả Jean-Christophe Servant

Hoàng Đế Pháp Louis thứ XIV mang tham vọng sẽ lôi kéo xứ voi trắng về với hoàng triều của ông. Và làm cho vua nước Xiêm cải đạo theo Công giáo. Một tham vọng đã trở thành một ảo ảnh tàn nhẫn. 

Cách thủ đô Bangkok 150 cây số là vương cung Lopburi.  Ngày 18 tháng 10 năm 1685, trong  sảnh đường của cung điện nầy, vị Đại sứ Pháp đầu tiên do Vua Louis XIV bổ nhiệm đang hùng hồn thuyết giảng: “Hoàng đế của tôi khi điều khiển quân sĩ là một người nổi tiếng qua những chiến thắng và hoà bình mà ông ta ban phát cho các kẻ thù. Hoàng đế đã ra lệnh cho tôi đến vương quốc Thái ở chốn biên cương nầy của Vũ trụ …” Người đại diện cho Vua Mặt Trời đó tên gọi là Hiệp sĩ Alexandre de Chaumont. Tiếp vị đại diện nầy là Vua Ramathibodi thứ III, vương hiệu là Đại Đế Narai, là vị thần sống của nước Thái Lan mà thời đó thường được gọi một cách huyền bí là Vương Quốc Xiêm. Đại sứ Chaumont đã phải mất bảy tháng để dong thuyền đi từ thành phố biển Brest của nước Pháp cho đến vùng đất xa xôi nầy. Nhưng ông không phải là người Pháp đầu tiên đặt chân lên vương quốc Xiêm. Các linh mục của Hội Truyền giáo Hải ngoại ở Ba-Lê đã đến đây từ năm 1662. 
Ba sứ thần Xiêm đến chào vua Louis XIV
 tại cung điện Versailles ngày 1 tháng 9 năm 1686. 
Trên tàu thủy Pháp, một thầy dòng hoá trang thành phụ nữ
Đại sứ Chaumont cũng không đi một mình. Theo ông là sáu tu sĩ thuộc Dòng Tên [Jésuites] có cha Louis Tachard dẫn đạo. Thầy Francois Timoléon de Choisy cũng đi theo phái đoàn với tư cách phụ tá của ông Chaumont. Thú vị với chuyện hoá trang thành người phụ nữ với tên gọi bà Nam tước Barres, ông ta là một người kỳ quặc, tò mò và hay chữ. Trước đó một tháng, ngày 22 tháng 8 năm 1685,  cùng với các đồng môn, thầy de Choisy đã khám phá ra bờ biển của “Vương quốc những con voi trắng”. Trong khi thầy Tachard và các tu sĩ Dòng Tên vẽ các hoạ đồ, thì thầy Timoléon viết các chú thích. Chiến hạm Pháp đi ngược một dòng sông trên bờ có “các cây cau, cây dừa, (…) những cây xanh đầy trái, những con khỉ và chim chóc”. Trên sông, chiến hạm Pháp cũng gặp những “balons”, là những thuyền “có khi có đến sáu mươi tay chèo”, và cả một “tàu Hoà Lan và một tàu Anh đi ngược dòng sông để đến nước Xiêm.” Thực vậy, trước người Pháp, các lái buôn người Anh, Hoà Lan, Bồ Đào Nha và cả người Ba Tư đã đến đây từ gần một thế kỷ trước. Đến một nước mà càng đi sâu thì “càng nhìn càng thấy đẹp”. Từ những thương điếm ở Malacca (Mã Lai), người Bồ Đào Nha đã đến đây từ cuối thế kỷ XVI; người Hòa Lan, một nhóm tiên phong khác của Ấn Độ Dương, đã ký kết những hiệp ước đầu tiên với nước Xiêm từ năm 1617.
Những con voi trắng của vua Xiêm mà thầy Timoléon de Choisy đã thấy. 
Trên chiến hạm Pháp, “ông Đại Sứ” bị muỗi cắn tơi bời. Nhưng ngài vẫn điềm nhiên trầm tư với sứ mạng mà hoàng gia giao phó: Nhiệm vụ của ông là đem ông vua Phật giáo cải đạo thành Công giáo. Được như vậy thì sẽ là một cơn sóng thần (tsunami) mang tính địa-chính-trị. Nếu vua Narai cải đạo theo vua Pháp,  vốn là  một “vị vua rất Thiên Chúa giáo”, thì nước Pháp sẽ trở thành quốc gia giao thương được biệt đãi, nếu không nói là duy nhất, của nước Xiêm. Các kẻ thù Tin Lành sẽ đi chỗ khác chơi. Từ đó Công ty Đông Ấn, do Colbert sáng lập, sẽ củng cố độc quyền buôn bán đầy lợi nhuận những loại cây gia vị trồng ở Xiêm. Và vương quốc nầy cũng còn có thể được sử dụng như một đầu cầu để du nhập đạo Thiên Chúa giáo vào khắp Á châu, dù đó là nước Tàu với hàng ngàn năm văn hiến hay nước Nhật đầy huyền thoại. Với thương mãi làm vũ khí và đạo Công giáo làm uy tín: Nước Pháp sẽ qua mặt Bồ Đào Nha trên con đường qua xứ Ấn độ để trở thành cường quốc chính của Âu châu trong vùng Viễn Đông. Trong hiện tình thì tất cả đó vẫn còn là một kịch bản lý tưởng.

Nhưng tất cả đã được sắp xếp để Đại sứ Chaumont đạt được thành quả tốt đẹp. Từ hai mươi năm qua, các giáo sĩ Pháp ở Xiêm quả đã không ngừng dụ dỗ vua Narai. Họ tin là với tư cách đế vương, Narai sẽ được đón nhận mặc khải của Chúa. Năm 1680, giáo sĩ thừa sai Benignet Vachet đã tiết lộ một cách quả quyết là “Ngón tay của Thượng Đế đã ở đó” sau một thời gian sống với các “talapouin” (tu sĩ Phật giáo của Xiêm). Một dấu hiệu khác đầy hy vọng là: Vua Xiêm đã gửi hai sứ thần qua cung điện Versailles. Thuyền của phái đoàn sứ thần đầu tiên đã bị chìm ngoài khơi Madagascar cuối năm 1681. Nhưng phái đoàn thứ nhì, được vua Louis XIV tiếp kiến ngày 27 tháng 11 năm 1684, đã gia tăng cơn sốt kỳ lạ trong triều đình của vị vua rất Thiên Chúa giáo nầy. Dĩ nhiên là hai vị “quan viên” nước Xiêm được tiếp ở Pháp thì có vẻ “đúng là hai tên vô nghề ngỗng”, theo lời giáo sĩ Benigne Vachet. Nhưng “những lạ lùng” của hai sứ thần nầy là cái giá phải trả để mua được thành quả rực rỡ cho sứ mạng của phái đoàn Chaumont.
Tiếc thay, sứ mạng nầy đã khởi đầu trật lất. Vốn tính tự phụ và bướng bỉnh, Đại sứ Chaumont dựa vào chức quyền của mình để từ chối tuân theo những nghi thức của nước Xiêm: Khi đối diện vua Xiêm phải quỳ cả hai tay và hai gối. Ngày mà ông Đại sứ Pháp quyết định tuân thủ theo tục lệ địa phương thì ông đã phải chạm trán với một bất ngờ.

Một chàng giang hồ Hy Lạp đánh lừa Đại sứ Pháp
Theo thầy Francois Timoléon de Choisy thì vua Xiêm, “một ông khùng có đầu óc như Versailles”, chẳng tỏ ra có ý xin cải đạo gì cả. Ngược lại “ông ta lại thấy mứt trái cây của Pháp rất ngon.” Và thầy kết luận: “Xin chào thua, tôi chẳng tin tí nào” [chuyện vua Xiêm cải đạo]. Không phải chỉ có ông nầy là không tin. Đối với vua Louis XIV, người ta cũng kể những chuyện không tin như vậy. Thật ra thì vua Narai chưa bao giờ có có ý cải đạo qua Thiên Chúa giáo cả. Sử gia Dominique Lanni xác định là triều đình Versailles cũng bị cuốn vào những “hiểu nhầm” như vậy. Lanni là một chuyên viên về những chuyện phiêu lưu cổ điển, ông cũng là tác giả một cuốn sách lý thú liệt kê các nhân chứng có mặt ở khúc quanh lịch sử ít được biết nầy. Người đứng sau huyền thoại nầy là một nhân vật đặc biệt: Tên Constance Phaulkon, biệt danh Phra Khlang Kosathibodhi, một chàng giang hồ Hy Lạp đến Xiêm năm 1675. Vợ là một người Nhật lai Bồ Đào Nha, học giỏi tiếng Xiêm, Phaulkon trở thành như một Mazarin [vốn là vị Hồng Y, Thủ tướng thân cận của vua Louis XIV] của vua Narai. Phaulkon giữ vai trò trung gian đắc lực giữa các công ty Âu châu muốn vào Xiêm buôn bán với vị vua của anh ta. Ngoài ra anh ta cũng lo ngại về sự tăng trưởng sức mạnh của người Hoà Lan. Dominique Lanni nhấn mạnh: “Phaulkon nối kết với người Pháp đầu tiên bằng cách đưa ra những hợp dồng béo bở đồng thời cũng giải thích thêm là vua Xiêm sẵn sàng để cải đạo”.
Phái đoàn của Chaumont thất bại não nề, tuy vậy người Pháp vẫn lạc quan. Theo thầy Francois Timoléon de Choisy “Chúng ta khởi hành với hy vọng tràn trề.” Các linh mục Dòng Tên vẫn còn nhiều tự tin.  Phaulkon đã tiết lộ cho thầy dòng Tachard một lời nhắn mới của vua Xiêm: Narai sẵn sàng trao đổi thành phố Bangkok chiến lược cho người Pháp với điều kiện vua Louis XIV bằng lòng đầu tư ngân quỹ, gửi quân đội, kỷ sư và tàu chiến qua Xiêm. Ngày 22 tháng 12 năm 1685, phái đoàn Chaumont, Choisy và Tachard rời Xiêm trở lại Pháp với một tân Đại sứ của nước nầy. Sau khi đến Brest, các quan chức của phái đoàn đã được vua Louis XIV tiếp ở phòng Gương [của điện Versailles] ngày 1 tháng 9 năm 1686. Có khoảng một ngàn rưỡi người có mặt để xem phái đoàn đến từ Xiêm. Sử gia Dominique Lanni nhận xét: “Buổi tiếp tân nầy đánh dấu cao điểm của kiểu thời trang đồ Xiêm tại lâu đài Versailles.”
Ngôi chùa ở Lopburi mà thầy Timoléon de Choisy
 ghi chú là có thể họp 100,000 vị sư.
Vua Louis XIV quyết định gửi quân qua Xiêm
Các niên lịch và các bản khắc được in ra. Các huy chương cũng được khắc ra. Nhân viên báo “Mercure Galant” [một tạp chí phổ thông trong đại chúng như tờ “Voici” hiện nay] theo sát bước các sứ thần Xiêm từ thủ đô Ba-Lê đến các thành quách vùng Flandres. Ngoài ra còn có những ghi chép của Timoléon de Choisy: Đi săn bằng voi, những đám rước quy mô về thủy vật, chùa với tượng vàng, pháo bông, …, trong suốt chuyến đi, ông thầy dòng sắc sảo đã ghi lại vô số những tài liệu về phong tục và dân tình xứ Xiêm. Nhật ký của ông trở thành loại sách bán chạy nhất. Trong khi vương quốc Pháp mê man với những biến chuyển xa xôi đó, cha Tachard tiếp tục theo đuổi sứ mạng của ông: thuyết phục các Bộ trưởng của vua Louis XIV đi đô hộ nước Xiêm. Đối với cha Tachard của Dòng Tên, đây cũng là cơ hội để gạt bỏ các linh mục [Công giáo] của Hội Truyền giáo Hải ngoại của Paris ra khỏi nước Xiêm. Cuối cùng thì nhà vua đồng ý gửi qua Xiêm một hạm đội hùng hậu. Theo giải thích của sử gia Dominique Lanni, niềm kiêu hãnh vô bờ bến của Louis XIV đã tạo ra một trong những giai đoạn lịch sử ngoại giao thảm khốc nhất của nước Pháp đối với vùng Đông Nam Á.
Ngày đầu tháng 3 năm 1687, các sứ thần Xiêm từ Brest quay trở về nước với sáu trăm quân Pháp dưới quyền chỉ huy của Bá tước Claude de Forbin. Nhưng ngay tại đất Xiêm, cha Tachard đã điều đình với kẻ không thể tránh là Phaulkon về những nhượng địa Mergui [ngoài khơi phía Nam Miến Điện] và Bangkok. Một trại lính Pháp đã được xây ở đó. Tuy vậy, nước Pháp đã không lưu ý đến một yếu tố: làn sóng yêu nước đã dâng lên trong tinh thần của một số quan lại của triều đình nước Xiêm. Tinh thần nầy đã được châm ngòi bởi ảnh hưởng đầy tính cách xâm lược chính trị và kinh tế của các linh mục Dòng Tên Pháp. Tư cách đáng ngờ của Phaulkon và những vận động ngấm ngầm của các lái buôn đối nghịch càng làm cho tình thế phức tạp hơn. Khi Bá tước Forbin trở lại Pháp, vua Louis XIV hỏi về số Phật tử đã được các linh mục Dòng Tên cải đạo, câu trả lời là: “Không một người nào cả.”
Bản đồ vương quốc Xiêm được người Pháp vẽ năm 1686.   
Kỷ niệm của một thời kỳ: Con đường ở thành phố Brest mang tên Xiêm
Giấc mơ Xiêm của Louis XIV bị chạm thực tế …Vua Narai, gần chết, vừa bị người anh em rể lật đổ với sự hổ trợ của giới tăng lữ Phật giáo. Phaulkon đã bị xử tử. Tinh thần bài ngoại lan tràn khắp cả nước. Quân nhân và các giáo sĩ thừa sai Pháp tháo chạy về thương điếm Pondichéry ở Ấn Độ. Nước Pháp cố gắng đổ bộ thêm một lần cuối cùng lên đảo Phuket năm 1689 và phản ứng của vương quốc Xiêm là dứt khoát cấm cửa tất cả người ngoại quốc. Cho đến gần hai thế kỷ sau, năm 1856, Paris mới tái lập được liên hệ ngoại giao với Bangkok.
Từ chuyến phiêu lưu thực dân không ngày mai đó, nước Pháp đã giữ lại vài kỷ niệm đáng ngạc nhiên. Bất ngờ với sự có mặt của các sứ thần Xiêm trong hải cảng của mình, người dân thành phố Brest quyết định thay đổi tên một con đường từ Saint Pierre thành ra … đường Xiêm. Nước Thái Lan cũng giữ lại một dấu vết của mối liên hệ ngắn ngủi Pháp-Thái: Dân Thái gọi tất cả người ngoại quốc là “”Farang”. Một chữ có gốc từ chữ “Farangset” nghĩa là người Pháp!
                  
JEAN-CHRISTOPHE SERVANT
Lý Nguyên Diệu phỏng dịch
(Hình của GéoHistoire)



EXPÉDITION DU SIAM
LA FOLLE ÉPOPÉE COLONIALE

Jean-Christophe Servant _ GEOHISTOIRE (Hors Serie) Janvier 2011

Louis XIV ambitionnait de rallier à sa couronne le pays de l’éléphant blanc. Et de convertir le monarque siamois au catholicisme. Un projet qui se révéla un cruel mirage.

Palais royal de Lopburi, à 150 kilomètres de Bangkok. Le 18 octobre 1685, dans la sale d’audience, le premier ambassadeur francais mandaté par Louis XIV sous ces latitudes entame sa harangue: “Mon Maitre, si fameux par tant de victories et par la paix que plus d’une fois il a donné a ses ennemis à la tête de ses armées, m’a commandé de venir trouver sa majesté aux extrémités de l’Univers …” Ce représentant du Roi Soleil s‘appelle le chevalier Alexandre de Chaumont. Son hôte, le roi Ramathibodi III, appelé Narai le Grand, est le dieu vivant d’une Thailande que l’on connait alors sous le nom mythique de Royaume de Siam. Pour rejoinder cette contrée lointaine, l’ambassadeur Chaumont a navigué plus de sept mois depuis Brest. Ce n’est pas le premier Francais à mettre pied au royaume de Siam. Les ecclésiastiques des Missions étrangères de Paris y ont débarqué en 1662.

A bord du navire francais, un abbé déguisé en femme
Chaumont ne voyage pas non plus en solitaire. Six jésuites francais l’accompagnent, menés par le père Louis Tachard. L’abbée Francois Timoléon de Choisy est également de la partie en tant que coadjuteur (adjoint) de Chaumont. Appréciant se travestir en femme sous le nom de comtesse de Barres, c’est un excentrique curieux et lettré. Lui et ses congénères ont donc découvert, un mois auparavant, le 22 septembre 1685 exactement, les côtes du “Royaume de l’éléphant blanc”. Pendant que Tachard et ses jésuites dessinaient des estampes, l’abbée prenait des notes. La frigate francais remontait une rivière bordée “d’arequiers et de cocotiers, (…) des arbres verts tout chargés de fruits, de singes et d’oiseaux”. Les Francais y croisaient des “balons”, barques “menées parfois par soixante rameurs” ainsi qu’un “vaisseau hollandaise et un vaisseau anglais qui remontaient la rivière pour aller à Siam”. En effet, avant eux, marchands anglais. hollandais, portugais mais aussi perses s’étaient déjà introduits depuis près d’un siècle dans ce pays qui “embellit à vue d’oeil” au fur et à mesure que l’on s’y enfoncait. Les Portugais sont arrivés de leur comptoir de Malacca dès la fin du XVIè siècle; les Hollandais autres défricheurs de l’océan Indien, avaient signé en 1617 leur premier traité avec le Siam.
Sur le pont de la frégate francaise, les “maringouins” (moustiques) harcelaient de piqures “Monsieur l’Ambassadeur”. Mais celui-ci était transcendé par sa royale mission: Il était chargé d’amener le souverain bouddhiste à embrasser la religion catholique. Ce serait un tsunami géopolitique. La conversion de Narai au culte de son pair, le “roi très chrétien”, permettrait en effet à la France de devenir le partenaire privilégié, sinon unique, du Siam. Exit les ennemis protestants. La Compagnie des Indes orientales, fondée par Colbert, conforterait alors son monopole sur le profitable commerce des épices récoltées au Siam. Et le royaume pourrait même être utilisé tel un marche-pied pour introduire la chrétienté dans toute l’Asie, qu’il s’agisse de la Chine millénaire ou du Japon légendaire. L’arme du commerce et le prestige de la religion catholique: La France damnerait ainsi le pion aux Portugais sur la route des Indes pour devenir la principale puissance européenne en Extrême-Orient. Pour l’heure, ce n’était qu’un scenario ideal. Mais tout avait été fait pour que l’ambassade de Chaumont soit couronnée de succès. Depuis vingt ans, les ecclésiastiques francais presents au Siam n’avaient en effet cessé d’amadouer le roi Narai. Ils étaient confiants dans sa capacité à acceuillir la révélation chrétienne. “Le doigt de Dieu est là”, confiait, sur de lui, dès 1680, le missionnaire Benigne Vachet, revenue d’un séjour chez les “talapouins” (moines bouddhistes du Siam). Autre signe d’espoir: le roi de Siam  avait déjà envoyé deux ambassades à Versailles. La première avait coulé en route au large de Madagascar, fin 1681. Mais la seconde, recue par Louis XIV, le 27 novembre 1684, avait fait monter d’un cran le fièvre exotique à la cour du roi très chrétien. Bien sur, les deux “mandarins” recus en France semblaient “propes à faire le métier de faitnéan”, disait Benigne Vachet. Mais si leur “bizarreries” étaient le prix à payer pour couronner d’éclat la mission de Chaumont.
Hélas, cette mission s’engagea mal. Homme suffisant et buté, Chaumont se refusa, du fait de son rang, à suivre les particularités du protocol siamois: ramper sur les coudes et les genoux devant le souverain. Le jour où il décida de se plier au us et coutumes, une mauvaise surprise l’attendait.

Un aventurier grec arnaque les émissaires francais
Le roi siamois, “un drôle qui aurait de l’esprit à Versailles”, raconta Choisy, n’exprima aucune intention de se convertir. En revanche, il avait “trouvé les confitures à la francaise fort bonnes”. Et l’abbée de terminer: “Bonsoir, je dors tout debout” Il n’y avait pas que lui. A Louis XIV, on avait raconté aussi une histoire à dormir debout. Narai n’avait en fait jamais eu l’intention de se convertir au christianisme. Versailles s’était emballé  sur des “malentendus” precise Dominique Lanni, historien, specialist des récits de voyages à l’âge classique, et auteur d’un savoureux livre recensant les témoignages publiés autoure de cette tranche d’histoire méconnue. L’homme à l’origine de cette chimère était un autre singulier personage: Constance Phaulkon, alias Phra Khlang Kosathibodhi, aventurier grec arrive au Siam en 1675. Marié à une Japono-Portugaise, maitrisant le siamois de cour, Phaulkon avait fini par devenir le Mazarin de Narai. Et il jouait l’intermédiaire fortune des Compagnies européennes souhaitant mener affaires avec son roi. Phaulkon s’inquiétait aussi de la montée en puissance des Hollandais. “Il se lia donc aux premiers Francais en leur faisant miroiter de juteux contrats commerciaux tout en leur expliquant que son roi était prêt à se convertir”, souligne Dominique Lanni.
La mission de Chaumont fut un échec cuisant, pourtant, les Francais restaient optimists. “Nous partons avec bonne esperance”, nota l’abée de Choisy. Les jésuites étaient confiants. Phaulkon avait en effet confié  au père Tachard un nouveau message de son roi: Narai était prêt à octroyer la stratégique  place de Bangkok aux Francais à condition  que Louis XIV acceptât d’y investir des fonds et d’y envoyer des troupes, des ingénieurs et des navires. Le 22 décembre 1685, Chaumont, Choisy et Tachard quittèrent le Siam pour la France avec une nouvelle ambassade siamoise. Après avoir rejoint Brest, les dignitaires furent recus le 1er septembre 1686 par Louis XIV dans la galerie des Glaces. Mille cinq cents curieux vinrent les voir. “Cette réception marquera l’apogée de la mode des siamoiseries à Versailles”, rappelled Dominique Lanni.      

Louis XIV decide enfin d’envoyer des troupes au Siam
On imprima des almanachs et des gravures. Des médailles furent frappées. “Le Mercure Galant”, une sorte de “Voici” de l’époque, suivit les ambassadeurs pas à pas, de Paris aux citadelles des Flandres. Et puis il y avait des notes de Timoléon de Choisy. Chasses à l’éléphant, gigantesques processions aquatiques, pagodes peuplées d’idoles dorées, feux d’artifices …, le truculent abbée avait consigné durant son voyage une multitude de renseignements sur les coutumes et les habitants du Siam. Son journal devint rapidement un best-seller. Pendant que le royaume de France se fascinait pour ses lointaines péripéties, le père Tachard menait sa mission: convaincre les ministres de Louis XIV de colonizer le Siam. Pour Tachard le jésuite, c’était aussi l’occasion d’évincer du Siam les rivaux des Mission étrangères de Paris. Le roi finit par accepter d’y envoyer une importante escadre militaire. “L’orgueil incommensurable de Louis XIV, explique Dominique Lanni, va déboucher sur l’un des plus calamiteux episodes de l’histoire des relations diplomatiques francaises avec le Sud-Est asiatique.”
Le 1er mars 1687, les ambassadeurs siamois repartirent de Brest en compagnie de six cent trente soldats, commandés par le comte Claude de Forbin. Mais sur place, ce fut Tachard qui négocia avec l’incontournable Phaulkon la cession des places de Mergui et Bangkok. Un fortin francais y fut bâti. Versailles avait cependant negligee une donnée: la montée du nationalism dans une partie de la cour siamoise. Ce ressentiment était attisé par l’influence politico-économique envahissante des jésuites francais. La personnalité controversée de Phaulkon et les manoeuvres en sous-main des rivaux européens n’arrangeait pas les choses. Lorsque Forbin revint en France, Louis s’enquit du nombre de bouddhistes qui avaient été convertis par les jésuites. “Pas un seul”, lui répondit Forbin

Souvenir de cette époque: la rue de Siam à Brest
Le rêve siamois de Louis XIV se heurtait à la réalité … Au Siam, Narai, à l’article de la mort, venait d’être renversé par son beau-frère Petracha avec le soutien du clergé bouddhiste. Phaulkon avait été execute. La xénophobie s’abattait sur le pays. Militaires et missionnaires francais battirent en retraite vers le comptoir Indien de Pondichéy. Une dernière tentative de débarquement francais sur l’ile de Phuket, en 1689, et le royaume finit par se fermer à tous les étrangers. Paris ne rétablirait qu’en 1856 ses relations diplomatiques avec Bangkok.
De cette aventure coloniale sans lendemain, la France a conserve quelques étonnants souvenirs. Ebaubis par l’arrivée de l’exotique ambassade siamoise dans leur port, les Brestois décidèrent de rebaptiser leur rue Saint Pierre en … rue de Siam. La Thailande aussi a gardé quelques traces de cette brève amitié franco-siamoise: on y appelle toujours les étrangers “Farang”. Un mot tiré de “Farangset”: Francais!
                                                                     JEAN-CHRISTOPHE SERVANT