Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2016


NẠN ẤU DÂM TRONG CÔNG GIÁO

Nguyễn Nhân Trí
(nguyennhantri.wix.com)



Tượng giáo sĩ Tây Ban Nha Junipero Serra
đứng ôm một bé trai thổ dân lõa thể trong
Plaza de San Francisco ở Havana (ảnh: travelblog.org)

Tòa Thánh La Mã được xem là trụ sở quản trị tối cao về tâm linh và hành chính của tất cả tổ chức và tín đồ Công Giáo trên toàn thế giới. Tòa Thánh giữ quyết định tối hậu về những giáo luật, tín điều, lẫn các tiêu chuẩn đạo đức của giáo dân. Đức Giáo Hoàng, người đứng đầu Tòa Thánh, được xem là đại diện cho Thiên Chúa, người có khả năng giao tiếp với Thiên Chúa và có quyền phán quyết về mọi vấn đề tâm linh trong Công Giáo. Tòa Thánh có thể ban phép lành cho một người cũng như có quyền trừng phạt người đó bằng cách từ chối không thay mặt Chúa xóa bỏ tội lỗi của họ.

Thế lực tâm linh của Tòa Thánh do đó bao trùm đủ mọi tầng lớp trong tín đồ. Ảnh hưởng chính trị của Tòa Thánh lan tràn hầu hết mọi quốc gia Thiên Chúa Giáo. Tín đồ tôn sùng Đức Giáo Hoàng như một vị thánh sống. Họ xem luật lệ đưa ra bởi Tòa Thánh như những quy lệnh thiêng liêng. Đối với họ, Tòa Thánh là biểu tượng của quyền lực Thiên Chúa và của quang minh, công chính.
Cái nhìn của tôi không hẳn như vậy.

Theo tôi, Tòa Thánh lẫn các Giáo Hoàng, chỉ là một nhóm người vì lý do nầy hay lý do khác đã đạt được địa vị, chức sắc trong tổ chức tôn giáo của họ. Họ cũng chỉ là những người phàm như bạn, như tôi. Họ không có khả năng tâm linh siêu đẳng gì hơn ai khác. Họ cũng có những phản ứng tâm lý, nhu cầu tình cảm, đòi hỏi sinh lý và họ cũng có thể vi phạm những lỗi lầm trong đời sống giống như chúng ta.

Nói về “lỗi lầm”, ở đây tôi muốn nói về cách thức Tòa Thánh đối ứng với nạn ấu dâm bởi các tu sĩ Công Giáo lan tràn từ bao nhiêu thế hệ nay. Tệ nạn nầy đã và vẫn được cố bao che, dấu diếm bởi những giám mục, hồng y cao cấp nhất trong Giáo Hội. Chỉ gần đây thì tệ nạn nầy vì bị phanh phui ra tràn loạt nên mới được Tòa Thánh dần dà nhìn nhận một cách e dè bất đắc dĩ.

 Trong bài tiểu luận nầy tôi sẽ nhắc đến tên một số nhân vật liên quan trong vài vụ án nổi tiếng. Điều tôi muốn chú trọng không phải là về hành động ghê tởm của các linh mục phạm tội ấu dâm mà là về hiện tượng Giáo Hội Công Giáo cố tình che dấu các tội ác đó một cách nhất quán và có hệ thống.

Cho đến nay, các cuộc điều tra chỉ có thể kết luận rằng tệ nạn ấu dâm lan tràn khắp nơi, ở nhiều quốc gia và nhiều giáo phận khác nhau. Không ai biết rõ con số chính xác bao nhiêu tu sĩ đã phạm tội (mà chưa bị phát giác), cũng như bao nhiêu nạn nhân (vì họ không bao giờ trình báo). Không có gì cho thấy là tệ nạn nầy đã không từng hiện hữu từ bao nhiêu thế kỷ trước đây trong Thiên Chúa Giáo. Tấm ảnh minh họa ở đầu tiểu luận nầy là bức tượng trong Plaza de San Francisco ở Havana mô tả giáo sĩ Tây Ban Nha Junipero Serra (sống ở thế kỷ 18) đang đứng ôm một đứa bé trai thổ dân lõa thể. Với kiến thức ngày nay về nạn ấu dâm lan tràn trong cộng đồng tu sĩ Công Giáo, bức tượng nầy làm một số du khách rợn người với câu hỏi có phải chăng tác giả của nó muốn ngầm biểu dương một sự kiện gì rất đen tối hơn so với hình ảnh ngây thơ tự nhiên người ta đã từng nghĩ về nó trước đây?

Một cuộc điều tra năm 1990 ở Chicago cho rằng 40 trong tổng số 2.200 tu sĩ Công Giáo (nghĩa là 1,8%) được phỏng vấn có thể đã từng có những hành vi tình dục xúc phạm đến trẻ con trong khoảng thời gian 40 năm trước đó. Một cuộc điều tra khác cho thấy khoảng 2% linh mục trong giáo phận ở Boston có thể đã hành dâm với trẻ con trong khoảng thời gian 50 năm. Một tài liệu khác cho thấy con số nầy là 1,6% trong giáo phận Philadelphia từ năm 1950 đến nay. Đại học Luật Hình sự John Jay ở New York đã phát hành một bản tường trình cho rằng hàng ngàn linh mục Công Giáo đã can dự vào nạn ấu dâm trong vòng 50 năm nay.

Cũng cần nói ngay là vì môi trường điều tra giới hạn nên các bản tường trình vừa kể thường chỉ có thể đưa ra những trường hợp có “giá trị chứng cớ thấp” (“low threshold of proof”). Trong một vụ án hình sự, thí dụ như cưỡng hiếp hay ấu dâm, thì công tố viện cần có những bằng chứng “hoàn toàn bất khả nghi” (“beyond reasonable doubt”). Vì thế tuy hành vi của các tu sĩ trên đã bị tường trình nhưng ngay cả nếu họ có bị đưa ra truy tố thì không có gì chắc chắn tất cả họ đều sẽ bị lãnh án.

Tuy vậy, trong số các vụ trình báo đã được dẫn đến truy tố thì phần lớn các cuộc truy tố nầy đều thành công. Một số giám mục, tổng giám mục và hồng y cũng đã bắt buộc phải từ chức vì tội cố tình dấu giếm các vụ ấu dâm của các linh mục trong giáo phận họ. Hai vụ án nổi bật nhất (có lẽ vì chúng đã được tường thuật trên báo chí nhiều nhất) liên quan đến Hồng Y Bernard Law, người đã từng là Tổng Giám Mục của Boston ở Mỹ, và Giám Mục Brendan Comiskey của Ferns ở Ái Nhĩ Lan. Gần đây hơn vào tháng Năm 2015, Tổng Giám Mục John Nienstedt và một trong các phụ tá thân cận nhất của ông là Phó Tổng Giám Mục Lee Piche tại giáo phận Minneapolis và Saint Paul của Minnesota ở Mỹ đã “được cho phép từ chức” bởi Tòa Thánh khi đứng trước nhiều bằng chứng không chối cãi được cho thấy họ đã chủ tâm bao che một linh mục sau nầy bị kết án tù vì vi phạm tình dục với hai đứa bé trai.

Ngay cả khi tòa án pháp luật không có đủ chứng cớ hoàn toàn bất khả nghi để kết án, trong nhiều trường hợp, thí dụ như vụ án liên quan đến Hồng Y Desmond Connell của giáo phận Dublin ở Ái Nhĩ Lan, thì uy tín và thanh danh của Giáo Hội cũng bị tổn hại nặng nề vì nhiều hành vi mờ ám của họ.

Sau mỗi vụ án dạng nầy bị phanh phui ra ánh sáng thì con số giáo dân tham dự thánh lễ mỗi tuần ở trong các quốc gia nầy giảm xuống rõ rệt. Trong 10 năm sau các vụ án ở Ái Nhĩ Lan, con số giáo dân đến dự thánh lễ hàng tuần giảm từ 63% xuống còn 48%. Theo sau đó là ngân khoản thu nhập của Giáo Hội từ giáo dân cúng lễ mỗi tuần trong các thời kỳ nầy cũng thấp kém hẳn. Các chuyên gia kinh tế của Tòa Thánh đã từng tỏ ý lo ngại rằng hậu quả của những vụ án ấu dâm, kể cả tiền bồi thường, có thể đưa Tòa Thánh đến tình trạng phá sản.

Mỗi lần sau một vụ án ấu dâm xảy ra, một số cơ sở Công Giáo cũng đưa ra thêm vài luật lệ mới để cố chấn chỉnh tổ chức của họ lại. Tuy nhiên, nhiều nhà phê bình cho rằng các luật lệ mới nầy vẫn chưa đủ vào đâu trong việc thực sự ngăn ngừa tình trạng ấu dâm xảy ra nữa trong tương lai.

Tất cả các vụ truy tố tu sĩ Công Giáo về tội ấu dâm thường liên quan đến 2 vấn đề chính:
1. Thứ nhất, hành vi tình dục của tu sĩ với trẻ con hoặc xảy ra trong các cơ sở tín ngưỡng (thí dụ, ở nhà thờ) hoặc xảy ra tại các môi trường bên ngoài (thí dụ, ở tư gia giáo dân).
2. Thứ hai, theo tôi nghiêm trọng hơn, là cách hành sử của Giáo Hội đối với các vụ ấu dâm liên quan đến tu sĩ Công Giáo; nói rõ hơn là lập trường của Giáo Hội cố tình không tường trình các sự việc nầy đến chính quyền, trấn áp hoặc thuyết phục gia đình nạn nhân lẫn nhân chứng để họ không phổ biến sự việc ra công chúng hay trình báo với cảnh sát.

Một điều cần thấy là đa số linh mục qua công việc hàng ngày trong giáo phận cho phép họ có nhiều cơ hội gặp gỡ và sinh hoạt gần gũi với trẻ em trai gái đủ hạng tuổi. Hơn nữa, nhờ vào địa vị của họ, các tu sĩ nầy được sự tín nhiệm hầu như vô giới hạn từ gia đình của những trẻ em nầy. Sự kiện trên dẫn đến việc những tu sĩ có khuynh hướng ấu dâm thường có sẵn một nguồn “tài nguyên” to lớn và dễ dàng để sử dụng so với những kẻ tội phạm ấu dâm khác. Các tu sĩ nầy sử dụng nhiều phương cách khác nhau để đạt được mục đích đen tối của họ. Tài liệu từ các cuộc điều tra cho thấy trẻ con nạn nhân thường bị dụ dỗ, gạt gẫm hay bị hăm dọa bằng những lời tiêu biểu sau đây: “Hãy giữ kín việc nầy vì đây là một chuyện bí mật chỉ có hai người chúng ta và Thiên Chúa biết được mà thôi”, hoặc là “Nếu cho Cha làm cái nầy thì Cha sẽ làm phép đưa ông Nội của con, người vừa mới qua đời, lên thiên đàng”, hoặc là “Nếu cãi lời Cha thì mang tội có thể bị đày xuống Địa Ngục”.

Nhiều người cho rằng việc ngăn cấm tu sĩ trong vấn đề tình dục đã dẫn đến tình trạng ấu dâm lan tràn ngày nay. Tuy vậy cho đến nay không có chứng cớ rõ rệt nào cho thấy giả thuyết trên có giá trị thực tế. Trong khi tu sĩ Công Giáo không được có hoạt động tình dục, một số giáo phái Thiên Chúa Giáo khác cho phép tu sĩ của họ được có vợ. Thống kê cho thấy tỉ lệ liên quan đến nạn ấu dâm trong số các tu sĩ được phép có vợ nầy cũng tương tự như tỉ lệ liên quan đến ấu dâm của các tu sĩ Công Giáo (1,5% đến 2% như vừa trình bày ở trên). Điều nầy cho thấy việc ngăn cấm hoạt động tình dục không phải là nguyên do chính sinh ra nạn ấu dâm.

Cũng có lý thuyết cho rằng những tu sĩ có hành vi ấu dâm là những người có khuynh hướng đồng tính luyến ái. Bởi vậy một trong các tiêu chuẩn tuyển chọn học viên để trở thành tu sĩ Công Giáo là lọc trừ trước những ai được xem là đồng tính luyến ái. Trong chương trình bày trừ nạn ấu dâm trong cộng đồng tu sĩ, Giáo Hội cũng chú ý đặc biệt đến những tu sĩ bị cho là đồng tính luyến ái. Tuy vậy nhiều trường hợp cho thấy nạn nhân của các tu sĩ ấu dâm bao gồm cả trai lẫn gái. Thí dụ như Brendan Smyth (từng là cha xứ của nhiều giáo phận ở Belfast, Dublin và ở Mỹ) tự thú đã xâm phạm tình dục hàng trăm trẻ em nam lẫn nữ. Điều nầy cho thấy khuynh hướng ấu dâm bắt nguồn từ sự kích thích bởi trẻ con thay vì chỉ bởi người đồng giới tính.

Có người cũng cho rằng một số kẻ có khuynh hướng ấu dâm đã cố ý gia nhập hàng ngũ tu sĩ Thiên Chúa Giáo vì đây là một môi trường lý tưởng để hành động mà không thường gặp chống đối hoặc không dễ bị vạch mặt hoặc bị truy tố. Tuy nhiên cho đến nay không có bằng chứng trung lập nào thỏa đáng đủ để ủng hộ giả thuyết nầy.

Chúng ta biết tệ nạn ấu dâm không chỉ hiện hữu trong cộng đồng tu sĩ Công Giáo. Hiện tượng ấu dâm có thể thấy trong nhiều chi nhánh Thiên Chúa Giáo khác, trong những tôn giáo khác cũng như trong các đoàn thể hướng đạo, học đường, trụ sở huấn luyện thể thao, v.v. Tuy nhiên, tỉ lệ xảy ra trong cộng đồng tu sĩ Công Giáo có vẻ rất lớn. Và điểm đáng nói nhất là mức độ nhất quán và tích cực của tầng lớp lãnh đạo trong Giáo Hội để che đậy và bảo vệ những kẻ phạm tội. Vấn đề nầy không thấy xảy ra trong bất kỳ tổ chức, đoàn thể nào khác. Tại sao có sự khác nhau nầy? Câu trả lời rất giản dị: đó là vì Giáo Hội Công Giáo có phương tiện và quyền lực để làm được chuyện đó.

Giáo Hội là một tổ chức “kín” với cấu trúc, luật lệ, đẳng cấp và sự vận hành của quyền lực không khác mấy như trong các thâm cung hay triều đình Trung Hoa thời phong kiến. Mọi sự việc đều được giữ bí mật trong nội bộ. Có những nhân vật trong Giáo Hội mang quyền lực hầu như tuyệt đối, cộng vào đó là vị thế gần như là “thiêng liêng” được e dè kính nễ bởi thế giới bên ngoài. Đây là cửa ngõ dẫn đến tệ nạn lạm dụng quyền thế.
Sự đồng nhất trong các phương cách bao che để đối ứng với những vụ ấu dâm ở mọi nơi, từ Belfast cho đến Ba Tây, từ Úc Đại Lợi cho đến Áo, cho thấy nguồn gốc của vấn đề nầy xuất phát từ chính bên trong Giáo Hội. Phương cách được Giáo Hội sử dụng ở mọi nơi đều giống y hệt nhau. Đây là một hệ thống đã được thiết kế với những mục tiêu rõ rệt ngay từ đầu: giữ bí mật hoàn toàn, tránh tai tiếng thất lợi lan tràn ra dư luận, che chở thanh danh của Giáo Hội, bảo vệ tài sản của Giáo Hội.

Cũng có thể nói rằng tất cả phương cách của Giáo Hội dùng để đối ứng với nạn ấu dâm trong hàng ngũ tu sĩ của họ đều có một dụng ý chung: đó là với bất cứ giá nào cũng phải tránh không để các tu sĩ nầy bị liên quan đến pháp luật.
(Cũng cần phải nói ở đây là không phải tất cả mọi tu sĩ cao cấp trong hàng ngũ Giáo Hội đều đồng lòng che dấu tệ nạn nầy. Tài liệu cho thấy cũng có vài người muốn làm cái gì đó để thay đổi tình trạng nầy, kể cả phanh phui sự thật ra công chúng. Tuy vậy, do áp lực nội bộ và luật lệ nghiêm khắc của Tòa Thánh, tiếng nói của họ không bao giờ được phép thoát ra bên ngoài.)

Khi một linh mục bị giáo dân than phiền về hành vi ấu dâm của họ, trước hết giới cầm quyền trong Giáo Hội sẽ tìm cách để khỏa lấp và dập tắt lời than phiền của giáo dân đó. Họ làm việc nầy bằng nhiều cách: hứa hẹn sẽ giải quyết vấn đề, đòi hỏi sự thông cảm về “tình cảnh khó xử” của Giáo Hội, kêu gọi sự tha thứ của gia đình nạn nhân, bồi thường cho phụ huynh để họ không trình báo chính quyền, v.v. Và điều quan trọng nhất là Giáo Hội luôn luôn yêu cầu gia đình nạn nhân tuyên thệ trước mặt Thiên Chúa rằng họ sẽ giữ kín không kể lại sự việc nầy cho bất kỳ ai khác biết.

Như đã nói, Giáo Hội Công Giáo hiểu rõ là họ sở hữu một thế lực tâm linh rất đáng kể đối với tín đồ. Đó là vì quan niệm của giáo dân cho Giáo Hội là những cá nhân cao cả, tốt lành hơn mọi người khác, và đặc biệt có thể thay mặt Ơn Trên xóa rửa tội lỗi cho họ. Do đó khi thảo luận và thương lượng, Giáo Hội có thể uốn nắn cách suy nghĩ và phản ứng của gia đình nạn nhân theo đường hướng cần thiết. Có khi giáo dân đến tố giác một trường hợp ấu dâm lại được tu sĩ đại diện Giáo Hội làm phép rửa tội cho họ chẳng khác gì chính linh hồn họ bị nhơ nhuốc. Các bản tường trình sau nầy còn cho thấy trong nhiều trường hợp, chính gia đình nạn nhân đã mang mặc cảm tội lỗi vì đã than phiền với Giáo Hội về cha xứ địa phương có hành vi tình dục với con em họ. Những phụ huynh nầy cảm thấy có trách nhiệm vì sự than phiền của họ đưa đến tai tiếng xấu cho tôn giáo của họ, gây ra sự bất an trong giáo phận họ, và luôn cả làm hư hại thanh danh của chính linh mục đã xâm phạm tình dục con em họ!

Hiện tượng “nạn nhân cảm thấy tội lỗi” vừa kể trên thật ra khá bất thường và hầu như chỉ thấy xảy ra với Giáo Hội Công Giáo. Bất thường, và khó hiểu, là tại sao một tổ chức nhân danh đạo đức như thế lại có thể đặt trọng quyền lợi của mình lên trên quyền lợi của trẻ con, và tại sao họ có thể liên tục làm điều đó thành công một cách lộ liễu như vậy từ vụ nầy đến vụ khác, từ thế hệ nầy qua thế hệ khác.

Việc làm kế tiếp của Giáo Hội khi đứng trước một vụ ấu dâm là thuyên chuyển tu sĩ phạm tội đến một giáo phận mới. Đây là phương cách phổ biến nhất để tách rời phạm nhân ra khỏi phạm trường và đồng thời có thể gây ấn tượng với nạn nhân là “mọi việc đã được giải quyết”.

Tuy nhiên, Giáo Hội hầu như không bao giờ cho ban quản trị (thí dụ như giám mục hay tổng giám mục) của giáo phận mới nầy biết gì về lịch sử cũng như khuynh hướng ấu dâm của tu sĩ vừa đến bổ nhiệm. Trong một số trường hợp, ngay cả khi tổng giám mục địa phương biết rõ về tu sĩ có thành tích vi phạm tội ấu dâm nhiều lần, tu sĩ nầy vẫn được cho phép tiếp tục hoạt động trong những môi trường chung đụng với trẻ em. Vì vậy, một linh mục vừa bị tố giác xâm phạm tình dục trẻ em ở một giáo xứ vẫn sẽ được giao cho trách nhiệm làm việc gần gũi với trẻ em trong giáo xứ khác. Và không lâu sau thì ngựa quen đường cũ và các trẻ em trong giáo xứ mới nầy cũng sẽ mang cùng số phận của các trẻ em trong giáo xứ trước.

Sự kiện nầy tái diễn nhiều lần trong nhiều giáo xứ vì Giáo Hội tiếp tục “giải quyết vấn đề” bằng cách thuyên chuyển vị linh mục từ nơi nầy đến nơi khác. Trong vài trường hợp đặc biệt khi không còn giáo xứ nào để thuyên chuyển nữa thì các linh mục tái phạm tội quá nhiều lần sẽ được gởi sang hẳn qua một quốc gia khác (thí dụ như trường hợp cha xứ Brendan Smyth sau khi không còn chỗ trú ở Ái Nhĩ Lan đã được gởi sang Mỹ để tiếp tục làm cha xứ và tiếp tục xâm phạm tình dục trẻ em).

Chủ trương nổi bật kế tiếp của Giáo Hội là không trình báo nhà cầm quyền khi biết rằng tu sĩ dưới quyền họ phạm tội (hay bị tố giác về tội) ấu dâm. Luật pháp nhiều quốc gia đòi hỏi một người phải trình báo nhà cầm quyền khi nghe biết về một trường hợp vi phạm tình dục liên quan đến trẻ em, ngay cả khi không có bằng chứng rõ rệt. Khi nói về luật pháp, một khuynh hướng phổ biến trong Công Giáo cho rằng tu sĩ là một thành phần đặc biệt trong xã hội. Họ cho rằng vì Công Giáo là “tôn giáo chính thống” (“true church”) của Giê-su nên luật lệ của họ, được đặt ra bởi những người đã được Thiên Chúa giao phái phận sự, có giá trị hơn luật pháp xã hội. Do đó Giáo Hội chủ trương dùng giáo luật (Canon law) để xét xử tu sĩ của họ, thay vì dùng luật hình sự (criminal law) mà luật pháp áp dụng cho tất cả mọi người khác. Điều nầy cho thấy Giáo Hội tự cho rằng họ đứng bên ngoài, và bên trên, luật pháp quốc gia. Vì việc nầy, Giáo Hội đã bị xem là cố ý “ngăn cản quá trình thể hiện công lý” (“perverting the course of justice”), và chính ngay việc nầy cũng là một tội hình sự.

Hơn thế nữa, giáo luật Công Giáo về việc xưng tội và rửa tội không cho phép người nghe xưng tội tiết lộ chi tiết cho ai khác biết. Giáo luật nầy đã được dùng nhiều lần như một lý do (hay một cái cớ để tạo lối thoát?) giải thích tại sao các tu sĩ quản trị trong Giáo Hội không thể trình báo các tu sĩ vi phạm ấu dâm với nhà cầm quyền sau khi các tu sĩ nầy đã xưng tội với họ.

Tất cả bản tường trình về các vụ án ấu dâm đã xảy ra cho đến nay đều cho thấy một số lãnh đạo trong Giáo Hội hoặc 1/ có những mưu toan cố tình che dấu hành vi của kẻ phạm tội, hoặc 2/ đã bất cẩn cực kỳ trong quá trình đối ứng với những vụ ấu dâm trong lãnh phận của họ.
Một thí dụ vào năm 1990 có người đã lén thâu âm được Phó Hồng Y Quinn ở Cleverland nói rằng ông đã cho cất dấu tất cả bằng chứng có hại cho Giáo Hội khỏi hồ sơ của các tu sĩ đang bị trình báo phạm tội ấu dâm; tuy nhiên nếu văn phòng của Đức Giáo Hoàng cần thì các bằng chứng phản cảm nầy vẫn có thể được đưa ra với điều kiện là chúng không được sử dụng trước tòa án pháp luật nào.
Một thí dụ khác về trường hợp cha sở Jim Grennan ở Ái Nhĩ Lan, người bị điều tra về tội vi phạm tình dục với 12 nữ học sinh trong nhóm sinh hoạt của ông ta tại một nhà thờ địa phương. Tập hồ sơ cảnh sát của Grennan bỗng dưng ngày nào đó bị thất lạc mất. Vì thiếu bằng chứng đầy đủ, Grennan đã thoát khỏi bị truy tố. Sau nầy, viên cảnh sát quản lý cuộc điều tra về Grennan khi qua đời đã được Giáo Hội ban tặng một giải thưởng tri ơn vì ông “đã tích cực phục vụ cộng đồng”.

Nhiều cuộc điều tra cũng cho thấy một số chức sắc cao cấp trong Giáo Hội đã mua chuộc gia đình nạn nhân bằng tiền để họ không thưa kiện. Vào giữa thập niên 1990, Tổng Giám Mục Desmond Connell (sau nầy trở thành Hồng Y) của Dublin đã cho một tu sĩ dưới quyền ông “mượn” một số tiền lớn để trả cho cha mẹ một bé trai trong đoàn thánh ca địa phương (tên Andrew Madden) để họ không trình báo với cảnh sát là tu sĩ trên đã vi phạm tình dục với con họ. Sau khi sự việc đổ bễ, Hồng Y Connell khai rằng ông không hề cho tu sĩ ấy mượn tiền để mua chuộc gia đình nạn nhân. Ông khẳng định rằng ông “chỉ cho mượn một số tiền, và tu sĩ ấy đã tự ý dùng món tiền nầy để mua chuộc nạn nhân”.

Nhìn tổng quát, có vẻ như thái độ chung của nhiều giới chức cao cấp trong Giáo Hội là phải bảo vệ Giáo Hội bằng mọi cách. Chúng ta biết rằng có những thành viên trong một tổ chức sẵn sàng làm nhiều sự việc mà chính họ biết là sai trái chỉ vì họ tin rằng các sự việc sai trái đó cuối cùng sẽ mang lợi ích cho đoàn thể của họ. Hiện tượng “ăn cây nào rào cây nấy” nầy không có gì lạ. Lý luận “cứu cánh biện hộ cho phương tiện” cũng không có gì lạ. Tuy nhiên, mức độ áp dụng các câu tục ngữ trên và quan niệm “trung thành” trong Giáo Hội Công Giáo được xem là đặc biệt ngoại hạng trong trường hợp nầy.

Khi nhìn lại nhiệm kỳ dài 27 năm của cựu Giáo Hoàng John Paul II (từ 1978 đến 2005) chúng ta có thể thấy một lịch sử ấu dâm khủng khiếp nhất. Có thể chỉ là vì trong thời kỳ nầy những cuộc tố cáo và điều tra mới bắt đầu bùng nổ lớn ra hơn hẳn trước đó. Trong thời kỳ nầy chỉ tại các quốc gia Âu Châu là Ái Nhĩ Lan, Úc, Đức, Chi-Lê, Alaska, Tân Tây Lan, Thụy Điễn, Haiti, Hòa Lan, Anh Quốc, Ý, Caribbean, Kenya, Thụy Sĩ, Croatia, Pháp, Na-Uy, Nigeria, Nam Phi, Áo, Bĩ và Ba Tây đã có hơn 1700 linh mục bị tố cáo về tội cưỡng dâm trẻ em. Đặc biệt chỉ riêng Ái Nhĩ Lan có 800 tu sĩ đã bị tố cáo liên quan tình dục với 14 ngàn trẻ em. Trong Mỹ Châu, tất cả mỗi tỉnh lỵ của Gia Nã Đại đều có ít nhất một tu sĩ Công Giáo bị tố cáo về ấu dâm. Ở Alaska có một địa phương mà 80% tất cả trẻ em trong làng đã bị cha xứ cùng một cộng sự viên thay nhau cưỡng hiếp, lần lượt, và xảy ra mỗi ngày.

Thống kê ở các quốc gia Á Châu cũng không khá gì hơn so với các nước Âu Mỹ. Ngay cả hội Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International), một tổ chức nhân quyền lớn nhất thế giới, lần đầu tiên trong 50 năm đã phải nêu danh Tòa Thánh La Mã trong bản tường trình quốc tế hàng năm và khuyến cáo họ là “đã bỏ lơ trách nhiệm liên quan đến việc bảo vệ nhân quyền trẻ em”.

Vào năm 2010, một giám mục dựa trên con số đơn nộp tố cáo và tuyên bố nạn ấu dâm ở Hoa Kỳ đã giảm xuống rõ rệt. Giám mục nầy cho biết trong 2009 trên toàn quốc “chỉ nhận được 15.235 vụ than phiền” (!) Việc nầy lập tức đưa ra câu hỏi “Thế thì thật sự con số trẻ em bị tu sĩ Công Giáo cưỡng bức tình dục là bao nhiêu!?”

Bản tường trình của Hội Đồng Điều Tra Murphy năm 2009 ước đoán chỉ nội trong Hoa Kỳ có khoảng 100 ngàn trẻ em là nạn nhân ấu dâm bởi tu sĩ Công Giáo trong 3 thập niên. Nếu ngoại suy ra thì con số trẻ em trên thế giới đã bị tu sĩ Công Giáo cưỡng bức tình dục trong khoảng thời gian nầy lên đến không dưới 300 ngàn.

Trong suốt nhiệm kỳ của Giáo Hoàng John Paul II, Tòa Thánh có vẻ như đã làm đủ mọi cách để bảo vệ tu sĩ phạm tội. Tòa Thánh qua nhiều năm đã đứng đơn chống án xin Tòa Thượng Thẩm ở Mỹ được phép không phải đệ trình bộ hồ sơ dầy 12 ngàn trang của họ chứa đựng dữ kiện liên quan đến các tu sĩ bị tố cáo ấu dâm. Đại diện Tòa Thánh, Hồng Y Angelo Sodano, tại thánh lễ Phục Sinh ở Công Trường St Peter vào tháng Tư 2010 tuyên bố rằng “những cáo buột của báo chỉ chỉ là lời nhỏ nhen không đáng để tâm đến”. Tuy nhiên, khi Tòa Thượng Thẩm ra trác lệnh cho phép phóng viên báo chí được khảo nghiệm bộ hồ sơ trên thì người ta thấy có vô số các dữ kiện gớm ghiết về tu sĩ cưỡng dâm trẻ con chứa đựng bên trong. Việc nầy đã phát khởi một phong trào như nước vỡ bờ chỉ trích, phản đối hành vi bao che của Tòa Thánh.

Người kế vị John Paul II là cựu Giáo Hoàng Benedict cũng được xem là đã góp phần vào chính sách bao che, dấu giếm tệ nạn ấu dâm trong Công Giáo. Vào năm 1980, Benedict (lúc đó vẫn còn mang tên Joseph Ratzinger) là tổng giám mục của giáo phận Munich ở Đức. Tài liệu vừa được đưa ra ánh sáng vào năm 2010 cho thấy lúc đó ông đồng ý thâu nhận vào Munich một tu sĩ tên H. (dấu tên) đã từng có bị trình báo nhiều lần về tội ấu dâm ở giáo phận Essen. Tuy vậy, tu sĩ H. nầy vẫn được tiếp tục làm việc thân cận với trẻ em trong giáo phận Munich, dưới quyền quản trị của Ratzinger. Tài liệu nầy cũng cho biết tu sĩ H. mặc dù vào năm 1986 đã bị phạt và mang án treo vì tội ấu dâm vẫn được giữ chức vụ của ông ta tổng cộng hơn 30 năm, và tiếp tục vi phạm tình dục với trẻ em nhiều lần trong thời gian nầy.

Cũng cần nói thêm là sau khi sự việc nầy bị phanh phui ra vào năm 2010, Giáo Hội đã cử người điều tra để tìm hiểu chi tiết và lý do tại sao Đức Giáo Hoàng đương thời lúc đó của họ đã không có hành động thích hợp vào những năm 1980. Giới phê bình cho rằng đây chỉ là một màn cố chữa cháy buồn cười: Giáo Hội tự đề cử người của họ để điều tra lãnh tụ của họ! Dĩ nhiên là kết quả cuộc điều tra nầy đã không dẫn đến bằng chứng nào cho thấy Benedict có lỗi trong vấn đề trên.

Sau khi Benedict bị cáo buột là đã có trách nhiệm, ít nhất là vì bất cẩn, trong vụ tu sĩ H. trước đây, người ta nghĩ rằng với cương vị một Đức Giáo Hoàng thì ông đáng lẽ sẽ nỗ lực sửa đổi, cải thiện hệ thống kiểm soát và quản lý các tu sĩ có tiền tích ấu dâm trong Công Giáo. Tuy vậy, trong suốt thời gian còn lại cho đến khi từ chức năm 2013, Benedict đã không làm một điều gì cả để thay đổi tình trạng nầy. Vài hội bảo vệ trẻ em đặt ra câu hỏi vì thái độ “không làm gì cả” đó nên không biết có bao nhiêu trẻ em khác sau nầy đáng lẽ đã tránh khỏi nhưng đã trở thành nạn nhân ấu dâm của tu sĩ Công Giáo.
Ngay cả lá thư của cựu Giáo Hoàng Benedict gởi đến xin lỗi cộng đồng Công Giáo ở Ái Nhĩ Lan vào tháng Ba, 2010 cũng đã làm nhiều nạn nhân phẫn nộ thay vì cảm kích. Người ta cho rằng lá thơ nầy chỉ xin lỗi về vấn đề tu sĩ phạm tội ấu dâm. Tuyệt nhiên không có gì nhắc đến việc Tòa Thánh có trách nhiệm về việc bao che các tu sĩ nầy và cung cấp cơ hội cho họ tiếp tục phạm tội nhiều lần nữa. Trong lá thơ nầy, Benedict cũng không đề cập đến những hồng y, tổng giám mục đã liên quan đến các vụ bao che nổi bật sẽ bị Giáo Hội trừng phạt như thế nào.
 
Hai vị Giáo hoàng bao che cho những Linh mục phạm tội ấu dâm: Giáo hoàng John Paul 2 (1920-2005) và Giáo hoàng Benedict 16 (1927- ) – Rõ ràng là có hai chuẩn mực đạo đức và pháp luật khác nhau: Trong khi toàn thể nhân loại lên án và kết tội những Linh mục phạm tội ấu dâm thì Giáo hội Công giáo Vatican lại bao che cho những tội ác nầy. Không những thế, Giáo hoàng John Paul 2 còn được Giáo hoàng Francis đương nhiệm phong … “Thánh” vào ngày 27-4-2014 (Ảnh: beliefnet.com)
Năm 2014, chính hội đồng Liên Hiệp Quốc cũng phải lên tiếng chỉ trích Tòa Thánh đã không dập tắt được tệ nạn ấu dâm mà còn dung dưỡng việc bao che. Dưới áp lực từ mọi phía, Tòa Thánh bắt buột phải tỏ cho thế giới thấy họ đang tích cực sửa đổi lỗi lầm của họ.  Đương kim Đức Giáo Hoàng Francis đã thành lập một ban cố vấn gồm 7 nữ và 9 nam trong đó có tu sĩ lẫn thường dân, dưới sự hướng dẫn của Sean O’Malley, một Hồng Y người Mỹ. Ban cố vấn nầy có nhiệm vụ nghiên cứu và góp ý với Đức Giáo Hoàng tìm kiếm phương cách hữu hiệu nhất đối phó với tệ nạn ấu dâm. Đặc biệt là trong ban cố vấn trên có một người Anh và một người Ái Nhĩ Lan đã từng là nạn nhân bởi tu sĩ Công Giáo.

Thể theo đề nghị của ban cố vấn trên, vào đầu 2015 Giáo Hoàng Francis đã chuẩn duyệt việc thành lập một hội đồng tòa án chủ yếu nhằm điều tra những giám mục đã cố tình che đậy các vụ án ấu dâm trong giáo phận họ, cụ thể nhất bằng cách thuyên chuyển các tu sĩ phạm tội từ giáo phận nầy sang giáo phận khác thay vì trình báo cảnh sát đúng theo luật pháp đòi hỏi. Hội đồng tòa án nầy có một quy trình thẩm tra quy định rõ ràng từng bước những gì cần phải làm để đảm bảo các giám mục, tổng giám mục đó bị trừng phạt nhanh chóng và thích đáng. Hội đồng tòa án nầy đồng thời cũng dùng quy trình trên để phục hồi thanh danh cho những giám mục vô tội đã bị tố cáo sai lầm. Đây là một lối đi chưa từng thấy trong những chiến dịch bài trừ ấu dâm (nói chung là đều đã thất bại) của Giáo Hội từ trước đến nay.

Nhiều người cho đây là một bước tiến đúng hướng của Đức Giáo Hoàng Francis trong việc bắt buộc giới chức cao cấp trong Giáo Hội chịu trách nhiệm về các tu sĩ phạm tội dưới quyền họ. Đây cũng được xem là một bước tiến lạc quan trong việc phòng chống các trường hợp ấu dâm trong tương lai cũng như giúp đỡ quá trình bình phục tâm lý của những nạn nhân. Tuy nhiên cũng có không ít người khác vẫn cho là hành động nầy không giúp gì nhiều vì nó quá ít oi và quá trễ. Nhóm Nạn Nhân bị Cưỡng Bách bởi Tu Sĩ nhận xét: “Đức Giáo Hoàng đáng lẽ cần tước bỏ chức vị của hàng tá giám mục về tội đồng lõa. Tuy vậy cho đến nay vẫn chưa có ai bị mất chức cả!”
(Trường hợp Tổng Giám Mục John Nienstedt và Phó Tổng Giám Mục Lee Piche tại Minnesota ở Mỹ đã kể ở Phần 1 là họ đã được Tòa Thánh “cho phép tự nguyện từ chức” chớ không phải bị Tòa Thánh lột chức vì đã phạm lỗi).

Becky Ianni, lãnh đạo của nhóm Nạn Nhân bị Cưỡng Bách bởi Tu Sĩ ở Washington, cho rằng bà không cần thấy sự thành lập của một hội đồng nữa, nhất là hội đồng nầy cũng sẽ gồm có những người hoặc đã đích thân liên can đến ấu dâm hoặc đã hỗ trợ việc bao che ấu dâm trong Giáo Hội. Vấn đề ở đây, theo bà, không phải là Giáo Hội thiếu người được giao cho trách nhiệm điều tra đồng nghiệp của họ. Vấn đề ở đây là Giáo Hội không có người đủ can đảm để thi hành hoàn chỉnh trách nhiệm điều tra các đồng nghiệp của họ. Bà không hề yêu cầu được thấy sự thành lập một quy trình hướng dẫn cách thức điều tra, truy tố và trừng phạt những kẻ phạm tội. Bà chỉ muốn thấy những việc đó thật sự xảy ra mà thôi. Và, theo bà, cho đến nay vẫn chưa có gì xảy ra.
Peter Saunders là một trong hai thành viên đã từng là nạn nhân ấu dâm trong ban cố vấn vừa kể trên. Ông nói: “Chừng nào các tu sĩ cao cấp đã bị tố giác ra đến trước mặt hội đồng thì chúng ta mới biết quy trình thẩm tra nầy có ích lợi gì hay không”.

Câu nói của bà Becky Ianni ở trên “hội đồng nầy cũng sẽ gồm có những người hoặc đã đích thân liên can đến ấu dâm hoặc đã hỗ trợ việc bao che ấu dâm trong Giáo Hội” có lẽ dựa vào bài tường thuật của một ký giả người Ý tên Eugenio Scalfari của tờ báo Ý La Repubblica ngày 14 tháng Bảy 2014. Ký giả nầy cho biết vào ngày Chúa Nhật trước đó, ông đã được gặp mặt và đàm thoại riêng với Giáo Hoàng Francis. Cuộc đàm thoại nầy vì không phải là một buổi phỏng vấn chính thức nên ông đã không dùng máy ghi âm. Ông kể lại Giáo Hoàng Francis khi nói đến vấn đề ấu dâm của tu sĩ Công Giáo đã so sánh tệ nạn nầy “giống như một bệnh cùi hũi trong Giáo Hội”. Giáo Hoàng cũng tuyên bố: “Chúng ta có khoảng 2% là những kẻ ấu dâm bao gồm những linh mục, giám mục và hồng y. Một số khác, lớn hơn nhiều, tuy biết về điều nầy nhưng vẫn không lên tiếng gì cả”, và “Đây là một điều không tha thứ được. Giống như Giê-su, tôi sẽ lấy gậy đập đầu các tu sĩ ấu dâm nầy…”

Các báo chí thế giới xem đây là lời thú nhận của Giáo Hoàng Francis về 2 điều. Thứ nhất, trong Giáo Hội có khoảng 2% tu sĩ có tính ấu dâm (con số nầy có vẻ phù hợp với các tỉ lệ của những cuộc điều tra trước đây – như đã nói ở trên). Điều nầy có nghĩa là khoảng 8 ngàn tu sĩ có khuyn hướng ấu dâm trong số tổng cộng 410 ngàn tu sĩ của Công Giáo. Thứ hai, trong số 2% nầy ngoài các linh mục, giám mục còn là cả một số hồng y nữa (“hồng y” là phụ tá thân cận của Giáo Hoàng làm việc trong Tòa Thánh). Tuy nhiên ngay sau khi bài báo trên được đăng ra, Tòa Thánh đã vội vã cãi chính rằng “bài tường thuật trên báo La Repubblica tuy diễn tả được nội dung tổng quát của cuộc đàm thoại nhưng có vài chi tiết không chính xác. Đáng kể nhất là Đức Giáo Hoàng không hề nói là 2% tổng số tu sĩ Công Giáo có khuynh hướng ấu dâm mà thật ra chỉ nhắc đến 2% như một con số thường được các nhà bình luận ước lượng; và Đức Giáo Hoàng không hề nói là trong số đó có bao gồm cả những hồng y”.

Một sự kiện khác không mấy gì có lợi cho Giáo Hoàng Francis là việc người giữ chức Trưởng Tài Vụ hiện tại của Tòa Thánh lại cũng đã bị điều tra về việc bao che một tu sĩ phạm tội ấu dâm dưới quyền ông ấy. Hồng Y George Pell, một tổng giám mục người Úc đã được Giáo Hoàng Francis tuyển chọn đến Vatican làm Trưởng Tài Vụ cho Giáo Hội vào tháng Hai năm 2014. Chỉ đến tháng Ba cùng năm, George Pell bị Hội Đồng Thẩm Tra Hoàng Gia Bài Trừ Ấu Dâm của Úc Châu gọi ra chất vấn về một vụ án ấu dâm xảy ra vào năm 1993 ở Ballarat (một thành phố nhỏ ở miền đông nam nước Úc).
Cuộc điều tra nầy thật ra chú trọng vào các vụ ấu dâm đã xảy ra trong vài thập niên bắt đầu từ 1970 tại Ballarat. Tài liệu cho thấy rằng rất có thể tất cả trẻ em trai từ 10 đến 16 tuổi tại trường tiểu học St Alipius ở thị trấn thôn quê nầy đều đã bị cưỡng dâm bởi các linh mục làm việc ở đó. Việc nầy có ảnh hưởng sâu đậm lâu dài đến rất nhiều gia đình trong vùng. Một người đã từng là nạn nhân đưa ra một tấm ảnh lớp học cũ của ông ấy có 33 học sinh, trong đó cho đến nay đã có 12 người tự tử chết. Một người khác, cũng đã từng là nạn nhân, nhắc đến Viện Mồ Côi St Joseph’s trong thị trấn nơi mà ông đã bị cưỡng hiếp liên tục từ lúc 5 tuổi. Ông kể lại lúc đó ông được bảo rằng: “Cha chỉ muốn thanh tẩy cho con mà thôi”.

Trong vụ án nầy, tổng giám mục George Pell không phải là nghi phạm trực tiếp. Tu sĩ phạm tội tên Gerald Ridsdale (là một trong những linh mục làm việc ở Ballarat lúc đó và hiện đang ở tù vì vụ nầy) là chú ruột của nạn nhân (David Ridsdale, chỉ mới 11 tuổi lúc bị cưỡng dâm). Gia đình nạn nhân khai rằng khi họ than phiền với tổng giám mục George Pell (lúc đó thân thiết với họ như là một người bạn gia đình) thì ông hỏi họ muốn được trả bao nhiêu tiền để đổi lấy sự im lặng của họ. Họ cũng khai rằng George Pell lúc đó đã giải quyết vấn đề bằng cách thuyên chuyển tu sĩ phạm tội ấy từ giáo xứ nầy đến giáo xứ khác.

Trong buổi thẩm vấn vào tháng Ba 2014, Hồng Y Pell đã phủ nhận tất cả cáo buộc trên. Ông khai rằng tuy ông rất thông hiểu nỗi đau đớn của nạn nhân và gia đình nhưng ông không hề cố mua chuộc ai cả, cũng không hề liên quan gì đến việc linh mục Ridsdale được thuyên chuyển từ nơi nầy đến nơi khác. Ngay khi bài tiểu luận nầy được soạn thảo (tháng Chín 2015), cuộc điều tra trên vẫn còn đang tiếp diễn. Nhóm Nạn Nhân bị Cưỡng Bách bởi Tu Sĩ ở Úc kêu gọi Hồng Y Pell tình nguyện trở về Úc một lần nữa để ra trước Hội Đồng Thẩm Tra cung cấp thêm dữ kiện cần thiết nhưng đến nay Hồng Y Pell đã từ chối làm điều nầy.

Một chi tiết gần như lý thú là sáng ngày linh mục Gerald Ridsdale ra hầu tòa vào năm 1993 về tội ấu dâm thì người ta thấy có giám mục George Pell đi theo kèm kế bên để ủng hộ tinh thần. Trong khi đó bên phía nạn nhân thì không có ai đại diện Giáo Hội đến để hỗ trợ cả. Nếu George Pell thật sự “thông hiểu nỗi đau đớn của nạn nhân và gia đình” như ông nói thì tại sao hôm đó ông lựa chọn đi theo hỗ trợ kẻ tội phạm thay vì đi theo hỗ trợ gia đình nạn nhân? Nhiều người cho rằng chỉ nội việc nầy thôi cũng cho thấy rõ Giáo Hội đứng bên phe nào giữa tu sĩ phạm tội và đứa bé nạn nhân.
LM Gerald Ridsdale (mang kiếng đen) ra hầu tòa
với sự ủng hộ tinh thần của Giám mục George Pell
(Ảnh: AAP/theguardian.com)
Những sự kiện lịch sử vừa được trình bày ở đây đã làm giới phê bình kết luận rằng đàng sau những giáo đường trang nghiêm và những chương trình phước thiện bác ái của Công Giáo chỉ là một thế giới quan liêu, đẳng cấp, phe phái và lắm lúc đầy gian trá của Tòa Thánh. Như đã nói, cấu trúc từ xưa đến nay của Tòa Thánh không khác mấy với các tổ chức phong kiến của vua chúa thời xưa. Những người làm việc trong môi trường nầy nếu muốn tồn tại sẽ phải hành sử tương tự, bằng không họ sẽ bị nghiền nát bởi guồng máy khổng lồ và phức tạp của Giáo Hội.

Người ta cũng dùng thí dụ nầy để cho thấy Tòa Thánh La Mã không phải là một cơ sở hoàn toàn thánh thiện, trong sạch và quang minh chính đại như chúng ta thường nghĩ. Và tu sĩ Công Giáo không phải là những người lúc nào cũng cao cả, đức hạnh và đáng tín nhiệm hơn mọi người khác.

(Thật ra thì kết luận trên có thể áp dụng cho bất cứ tổ chức tôn giáo và bất cứ dạng tu sĩ nào. Tuy nhiên câu tục ngữ “chiếc áo không làm nên thầy tu” mặc dù dễ hiểu nhưng cũng rất khó nhớ cho nhiều người để áp dụng khi giao dịch trong môi trường tôn giáo.)

Nguyễn Nhân Trí 



Thứ Năm, 3 tháng 3, 2016


THẾ HỆ BÁNH MÌ KẸP

Yên Hà

(Ảnh: Lee’s Sandwiches)

Tôi ra đời giữa hai cuộc chiến, giữa một trăm năm đô-hộ giặc Tây và hai mươi năm nội-chiến từng ngày. Sau đó, tôi được đi du-học và tôi đã sống “vô tư lự” bên trời Âu sung-túc trong khi khói lửa vẫn ngập trời nơi quê nhà.
Giờ đây, bom đạn đã ngừng tiếng nhưng một lần nữa, gia-đình tôi đã phải cuốn gói rời bỏ quê-hương và mấy triệu người Việt-Nam bỗng nhiên phải sống tản mác trên toàn thế-giới như những cây bị bật rễ, ở những chốn dung-thân như Mỹ, Gia-Nã-Đại, Pháp, Úc…
Phần mất mát vần còn đó, nguyên vẹn, ít ra đối với bố mẹ chúng tôi và chúng tôi, thế-hệ đầu của những người di-dân. Một thế-hệ “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi”, lơ lửng giữa không-gian quê hương, chơi vơi giữa thời-gian thế-hệ, lạc lõng trong tâm-tư văn hoá. Một thế-hệ “bánh mì kẹp”.

Kẹp giữa hai quê-hương
Những người di-dân này, ngày hôm nay mang sổ thông-hành Mỹ, Pháp, Úc… nhưng vẫn chỉ là Mỹ (Pháp, Úc…) giấy, phần đông tiếng Mỹ (Pháp, Úc…) vẫn còn ba-xí ba-tú, miệng vẫn hôi mùi nước mắm chứ không hôi hamburger hay camembert, vẫn không có bạn bè Mỹ (Pháp, Úc…) mà chỉ sống quanh-quẩn với nhau, tụ-tập nơi những thương-xá, chợ búa Á-Đông, hay rủ nhau “party”, ăn uống, karaoke với nhau.
Những người Mỹ (Pháp, Úc…) gốc Việt này đã đi tìm một nơi nương-tựa để sống “tạm-bợ” nơi xứ người mà trong thâm-tâm còn cố tưởng-tượng như mình đang sống ở quê nhà, và lúc nào có dịp, có phương-tiện là lại vù về Việt-Nam, một số để “hưởng-thụ”, nhưng phần lớn vẫn vì nhớ nhà.

Tôi không nhớ ai đã có nói:
“Ma patrie, c’est là où je suis heureux”
(Quê-hương tôi là nơi chốn nào tôi sống hạnh-phúc)
Tôi muốn tin ông lắm, tôi cũng muốn tự an-ủi mình lắm, nhưng tiếng gọi của cội-nguồn réo rắt lắm, ông ơi. Tôi cứ ngỡ quê-hương là nơi chôn nhau, cắt rốn, là nguồn, là cội, là gốc, là rễ cơ mà ?
Ở hải-ngoại, đương-nhiên chúng tôi được tự-do, phần đông được ăn sung, mặc sướng, đủ tiền mua nhà, chăm lo cho con cái ăn học, đi shopping hay du-ngoạn đây đó… Đời sống này, nhiều đồng-bào ta nơi quê nhà mong mỏi có được, và tôi thừa hiểu chúng tôi « hạnh phúc » hơn rất nhiều người lắm. Tôi không dám than thân, trách phận hay phân-bì với ai cả, chẳng qua nơi đây, tôi chỉ nói lên tâm-sự u-uẩn những người tha-hương chúng tôi mà thôi.
Nhất là trong trường-hợp tôi, hiện đang mang hai quốc-tịch Pháp và Mỹ, sống bên Mỹ nhưng tim vẫn còn « vọng Nam », tâm vẫn còn hướng về Pháp, đôi khi vẫn nhớ về khung trời Bỉ Quốc. Những nơi tôi đã sống, làm sao tôi có thể xóa quên được ?

Quê-hương như người mẹ đã bụng đau, dạ chửa cho tôi ra đời, nuôi-nấng, dậy-dỗ tôi nên người, và quê-hương thứ hai, thứ ba là những bà mẹ đã mở rộng vòng tay, đón-nhận tôi khi tôi không còn chỗ đứng dưới ánh mặt trời.
Ơn-nghĩa này, chúng tôi không quên (từ ngày sang Mỹ, năm 1975, bố mẹ tôi năm nào cũng gửi chút quà giáng-sinh cho gia-đình ông sĩ-quan Mỹ đã giúp nhà tôi sang Mỹ, và sau khi bố tôi mất, mẹ tôi vẫn tiếp-tục gửi, mặc dù người ân-nhân này đã mấy lần đề-nghị nên thôi gửi quà).
Tôi cảm quí những bà « mẹ nuôi » lắm, tôi lại càng xót-thương Mẹ Việt-Nam, quê-hương đau-khổ. Ôi, quê-hương tôi đâu ? Mỹ, Pháp, Úc… ? Hay vẫn là Việt-Nam muôn thuở ?

Kẹp giữa hai nền văn-hoá
Ngày hôm nay, tôi đã lục-tuần nhưng tôi đã chỉ được sống ở quê nhà có mười tám năm. Tôi đã mất mát quá nhiều rồi.
Bao nhiêu năm tháng sống bên Pháp, bên Bỉ, đã rèn đúc tôi với một lối suy-luận, một cách ăn nói, một cách cư-xử xã-giao, một nền văn-hoá mà tôi hãnh-diện mang bên cạnh văn-hoá của mình. Qua bao năm tháng đó, tiếng Pháp đã dần-dà trở thành ngôn-ngữ thông-dụng nhất, ngay cả để diễn-tả những tâm-trạng sâu-thẳm nhất của mình.
Tuy nhiên, bao nhiêu năm tháng đó chỉ có thể thấm vào cái vỏ bên ngoài, chỉ có thể thay đổi hình-dạng và cử-chỉ của tôi, chỉ có thể tạo nơi tôi những sở-thích ăn mặc, đi đứng, nói chuyện, chỉ có thể tạc lên cái “Tôi” bên ngoài.
Tất cả những năm tháng đó không hề thay đổi nước da hay sắc tóc tôi (tóc tôi chỉ có thể bạc trắng với thời-gian), không hề lay-chuyển âm-điệu tiếng mẹ đẻ của tôi, không hề làm suy-sút kho-tàng văn-hoá tổ-tiên tôi hay nền giáo-dục bố mẹ tôi.
Nước Pháp đã ban thêm cho tôi một nền văn-hoá, nhưng không hề thay-thế nền văn-hoá của tôi.

Nhưng có lẽ đó cũng là nỗi khổ-tâm của tôi, nỗi khổ-tâm của những người di-dân trong thế-hệ đầu? Cây cối làm sao sống thiếu gốc rễ? Con người ta làm sao sống thiếu cội nguồn? Làm sao tôi có thể vui sướng bên ngoài khi bên trong trống vắng?
Tôi có thể thích pot-au-feu hay bouillabaisse nhưng bao giờ tôi cũng vẫn thèm một tô phở đặc-biệt, tái-nạm-gầu-gân-sách-sụn.
Tôi có thể mê một chai Saint Emilion hay một chai Volnay nhưng tôi vẫn nhớ hương-vị mấy chai la-ve “33” của “Brasseries et Glacières d’Indochine” (BGI).
Tôi có thể viết tiếng Pháp giỏi hơn người Pháp trung-bình, nhưng tim tôi bao giờ cũng rung-động khi tôi được đánh dấu hỏi, dấu ngã.
Tôi có thể thích xem phim “action” Mỹ hay nghe Claude Barzotti hát nhưng tôi vẫn thích xem phim bộ… Đại-Hàn (Việt-Nam tôi làm gì có phim hay?), nhưng tôi vẫn thấy thấm-thía hơn khi tôi nghe nhạc Việt, tôi vẫn truyền-cảm hơn khi hát tiếng Việt.
Tôi có thể ngoảnh lại nhìn một cô đầm tóc vàng, mắt xanh nhưng tôi chỉ có thể hạnh-phúc với người đàn bà gọi tôi bằng “Mình ơi!”.

Chỉ vì đó là văn-hoá dân-tộc nằm trong máu, trong xương-tủy tôi, vì đó là giáo-dục bố mẹ, ông bà tôi đã truyền lại cho tôi, vì đó là vết-tích của mấy ngàn năm lịch-sử.
Chỉ vì tôi là người Việt-Nam.
Kẹp giữa hai nền văn-hoá.

Kẹp giữa hai thế-hệ
Bố mẹ chúng tôi và chúng tôi cùng một làn sóng di-cư nhưng hai điều khổ-tâm cũng có điều khác-biệt.
Quả thật vậy, chúng tôi vẫn cùng một nền văn-hoá với bố mẹ, cùng một nền giáo-dục do cha ông truyền lại. Bố mẹ chúng tôi vẫn được sống với chúng tôi như lúc còn ở Việt-Nam, với nền-tảng Phật-Lão-Khổng, cùng một nhân-sinh quan, cùng một đạo làm người. Chúng tôi vẫn nói tiếng Việt với bố mẹ, tiếp-tục yêu thương, kính-nể bố mẹ, để tiếp-tục lưu-truyền phong-tục, tập quán.
Trong khi chúng tôi giờ bắt-buộc phải chấp-nhận văn-hoá con cháu chúng tôi như một văn-hoá ít nhiều là ngoại-Việt.

Vì sự lưu-truyền đó sẽ gián-đoạn từ đây. Con cái chúng tôi đã bắt-đầu nói một thứ tiếng khác và những điều chúng tôi cố-gắng răn-dậy con cái khó lọt qua được màng-lưới thế-giới bên ngoài.
Tôi đã được chứng-kiến một cảnh-tượng mà tôi không bao giờ quên được. Hôm đó, một người bạn có tổ-chức một buổi tiệc họp mặt với hơn sáu mươi bạn hữu để ăn uống, hát hò, nhẩy đầm.
Về khuya, chúng tôi tạm ngưng chương-trình để ăn một bát cháo gà cho ấm bụng và lấy sức chơi tiếp. Lúc đó, đứa con trai chủ nhà từ trên lầu đi xuống với mấy đứa bạn, bật máy truyền-hình lên và nằm xem, ngay giữa sàn nhẩy. Chúng tôi đã bị “chiếm đất” và đợi một lúc, không thấy tình-hình biến-chuyển, quan-khách lần-lượt xin kiếu-từ.
Tôi "á-khẩu". Làm sao tôi có thể tưởng-tượng được cảnh này, với nền giáo-dục của tôi? Hôm đó, tôi đã chợt hiểu nền “độc-tài” của con trẻ trong cái quốc-gia tự-do nhất thế-giới này. Nhưng điều tôi phân-vân nhất là trong tình-trạng đó, hai vị chủ nhà, nghĩa là bố mẹ cậu trai trẻ đó, không hề lên tiếng can-thiệp, hầu như làm ngơ, không nhìn thấy điều gì cả.

Trong khi tôi, đầu tóc đã bạc phơ mà mỗi lần sang thăm nhà, Mẹ bảo tôi cạo râu hay đi cắt tóc là tôi vui vẻ làm ngay, chỉ để vâng lời Mẹ, để cho Mẹ vui. Ngược lại, bên Mỹ này, con gái mới mười lăm tuổi đã đánh mắt, thoa son đi học, bố mẹ nói gì được khi trong trường, bạn bè chung quanh đều như vậy, có thầy bà nào cấm cản đâu? Bên này, con cháu đi xâm mình (tattoo) hay đục vòng sắt vào môi, vào mắt (piercing) thì bố mẹ nào, ông bà nào ngăn cản được?
Nhà chúng tôi lúc trước không giầu có gì nên không bao giờ dám phí-phạm bất cứ gì, ăn cơm phải vét sạch từng hạt, trong khi con trẻ bên này lấy cho đầy đĩa nhưng không ngần-ngại đổ tuốt nửa đĩa thức ăn khi chúng cảm thấy no.
Tôi đã tận mắt thấy những bố mẹ phải khóc tức-tưởi khi bị lũ con xúm vào “mắng”. Ngày nay, bố mẹ nào dám đánh con mà không sợ chúng nó gọi “911”?
“Trời làm một trận lăng-nhăng, ông hoá ra thằng, thằng hoá ra ông”. Ngày nay, thế-giới đảo lộn và chúng tôi đi lộn đầu, để con cái trèo đầu, trèo cổ thôi.
Lúc trước còn ở bên Pháp, tôi vẫn cố gắng mỗi năm lấy máy bay sang thăm bố mẹ, và giờ đây sống bên Mỹ, tôi vẫn đi thăm Mẹ (vì không cùng tiểu bang) và ngoài ra, còn phải đi Pháp thăm con.
Hoá ra, chúng tôi ở trên thì lo cho bố mẹ, ở dưới thì lo cho con cái (ở bất cứ tuổi nào); ở trên thì bị bố mẹmắng, ở dưới thì bị con trách !?!
Kẹp giữa hai thế-hệ.
(Ảnh: Vaala.org) 
Xung-đột cả thế-hệ lẫn văn-hoá
Nói như vậy không phải để trách mắng con cái. Đâu phải do lỗi chúng nó nếu chúng nó không nói được tiếng mẹ đẻ? Đâu phải do lỗi chúng nó nếu chúng nó sinh sống tại hải-ngoại? Đâu phải do lỗi chúng nó nếu chúng nó hoà mình với môi-trường bên ngoài nhiều hơn là với môi-trường gia-đình (nhất là trong cái tuổi thiếu-niên này)?
Tôi đã có nghe những đứa trẻ nói với bố mẹ: “Bố mẹ đừng trông mong chúng con trở thành người Việt. Văn-hoá của bố mẹ không phải là văn-hoá của chúng con. Chúng con là người Mỹ!” Phũ-phàng thay, đau lòng thay, nhưng chúng nó làm sao hiểu được văn-hoá chúng ta khi chúng nó sống trong một thế-giới mà nền-tảng là “tự-do” và “đồng đô-la”? Làm sao chúng nó có thể nghe lời bố mẹ trong khi sự-thật bên ngoài hầu như khác hẳn?

Có lẽ chính chúng nó có lý. Bổn-phận cha mẹ là giúp con cái thành công cuộc đời chúng nó chứ không phải cuộc đời cha mẹ, giúp chúng nó thành-công ngoài đời, trong môi-trường chúng nó đang sống chứ không phải môi-trường bố mẹ chúng đã sống. Sống ở đâu mà không theo văn-hoá nơi đó thì chỉ có thất bại, mà đâu có cha mẹ nào muốn con mình thất-bại khi ra đời, cho nên đành ngậm cay, nuốt đắng mà thôi.

Đây không phải chỉ là vấn-đề xung-đột thế-hệ  (thời-điểm nào chả có vấn-đề này, cho dù không “gây cấn” như vậy), mà còn rắc-rối thêm vấn-đề xung-đột văn-hoá nữa. Làm sao bố mẹ và con cái có thể hiểu nhau và chấp-nhận nhau khi đôi bên không cùng một nền-tảng, cùng những đặc-quan, cùng một nhân-sinh-quan?

Nỗi buồn u-uẩn
Dĩ nhiên tôi không dám vơ đũa cả nắm, không dám nói gia-đình Việt-Nam bên hải-ngoại nào cũng như trên, nhưng có lẽ phần đông là như thế (?)
Nói lên vài điểm cho dễ hiểu, nhưng vấn-đề không giản-dị như vậy và tôi không có khả-năng phân-tích nhiều hơn.
Dù sao đi nữa, đây cũng chỉ là nỗi buồn u-uẩn, ám ảnh tôi từ bao lâu nay, trong mối liên-hệ với tâm-hồn, với văn-hoá, với gốc rễ của mình.
Tôi không tức-giận, không chua chát. Tôi chỉ cảm thấy buồn, tôi không luyến-tiếc quá-khứ, chỉ là tôi cảm thấy buồn.
Vướng mắc giữa hai quê-hương, giữa hai nền văn-hoá, giữa hai thế-hệ, chúng tôi là một thế-hệ "bánh mì kẹp” (đôi khi còn là “bánh bao” nữa). Ngoảnh nhìn lại chỉ còn kỷ-niệm, nhìn về đàng trước thì tương-lai đã bít kín.

Nhưng thôi, đã biết là mình vướng mắc, là mình “chấp ngã” (như lời Phật dậy) thì chỉ còn có nước “phá chấp”, nghĩa là “buông”, là chấp-nhận.
Vả lại, cha mẹ chúng tôi không có vấn-đề này, con cháu chúng tôi không có vấn-đề này, chỉ có chúng tôi mới có vấn-đề này. Ngày nào cái thế-hệ chúng tôi đi hết rồi thì vấn-đề này sẽ không còn ai bàn đến nữa.
Chúng tôi chỉ là một giai-đoạn chuyển-tiếp, một thế-hệ bị mất mát, bị hy-sinh để dân-tộc di-dân chúng tôi có thể lật qua một trang sử mới.  
Để đời sau, con cháu chúng tôi có hy-vọng thành-công trên đất người, đi tiếp con đường mà chúng tôi đã không đi hết.

Được như vậy, chúng tôi cũng sẽ mãn-nguyện lắm rồi.
Xin cảm-ơn Trời Phật, xin cảm-ơn phúc-đức ông bà.

Yên Hà
tháng 3, 2012


Thứ Tư, 24 tháng 2, 2016


NHÀ VĂN CUNG TÍCH BIỀN NÓI SƠ VỀ
CHÍNH SÁCH “TỐ CỘNG” DƯỚI THỜI ÔNG DIỆM

Cung Tích Biền

Tiểu sử nhà văn Cung Tích Biền, căn cứ theo tạp chí Hợp Lưu: Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1937 (khai sinh 1938) tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn khoa Huế, Luật khoa Sài Gòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực Việt Nam Cộng hoà cho đến ngày giải ngũ năm 1973.
Nhà văn khởi đăng truyện ngắn “Ngoại ô Dĩ An” đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966. Sau đó nhanh chóng xuất hiện Ai tỉnh ai điên, Bên dòng nước biếc, Luống cải vàng, Bến mưa ngâu, Nỗi buồn thắp sáng, Cõi ngoài, Hoà bình nàng tình rỗng, “Cái chết của một con đĩ ngựa”, “Bạch hoá”… trên các tập san Nghệ Thuật, Văn Học, Bách Khoa, Vấn Đề, Đối Thoại, Lý Tưởng, Khởi Hành và trên các báo Công Chúng, Da Vàng, Bút Thần, Sống, Công Luận, Hoà Bình, Sóng Thần, Độc Lập, Dân ý…
Sau 30-04-75 Cung Tích Biền ngưng viết rồi cầm bút trở lại đầu thập niên 90, với tập Thằng bắt quỷ xuất bản ngoài nước.
Hiện sống tại Sài Gòn, Việt Nam. 

Cung Tích Biền. Chụp tại Vườn Cây Cau, Gò Vấp, Noel 2006 (Ảnh: Lý Đợi)
Trích dẫn dưới đây là một phần của cuộc phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền do Lý Đợi thực hiện vào tháng 2 năm 2007, được đặng trên talawas.org dưới tiêu đề “Đành lòng sống trong phòng Đợi của lịch sử”  [ http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9137&rb=0402 , trang 2]
Tựa do NamGiao đặt cho phần trích dẫn nầy. Những đoạn nhấn mạnh cũng của NamGiao. 2/2016


Lý Đợi: Ông nói từng sống chín năm trong vùng kháng chiến? Anh ruột là một đảng viên Cộng sản? Và sự nghiệp Quốc gia của ông?
Cung Tích Biền: Tôi từ bé đã chín năm sống trong vùng kháng chiến. Vừa khổ cực, vừa mơ màng như trong một cơn mộng. Tôi là một thiếu niên. Tôi được tập đàn tập hát, vũ múa. Năm 12 tuổi đã theo các anh các chị đi diễn kịch, đàn ca tận Cẩm Khê, Tam Kỳ, Sông Vệ… Những đêm trắng của chợ đêm, của đào hầm bí mật. Những khói lửa chiều khi máy bay Pháp ném bom Kế Xuyên, Hà Lam, Tam Kỳ… Đêm đốt đuốc đưa ma là những bà con chết bom chết đói. Năm 1952 một trận đói kinh hoàng, củ chuối không còn mà ăn. 

Gia đình tôi thành phần phú nông. Anh ruột tôi (Trần Ngọc Biên) theo lệnh tổng động viên vào bộ đội, rồi đảng viên, rồi chết vùng Nghĩa Đàn Nghệ An năm 1969, cho tới ngày hôm nay chưa tìm ra được mồ mả, dù nhiều chục năm tận lực tìm kiếm, nhờ vả cả các nhà ngoại cảm. 

Năm 1954 tôi ở lại miền Nam. 
Anh em bà con ruột thịt, bạn bè, đã lên đường tập kết ra Bắc.
 
Thật ra, miền Nam Cộng hoà là một mô hình chính trị khá lý tưởng như tôi đã nói ở trên. Nhưng chế độ Ngô Đình Diệm đã bắt đầu những sai lầm, như một tội ác.

Sau hiệp định Genève 1954, Tổng thống Ngô Đình Diệm, không đặt ra chủ trương chiêu hồi, mở lòng hoà hợp, mà nâng ngay chủ trương Tố Cộng lên hàng đầu, trở thành quốc sách Diệt Cộng. 

Chín năm kháng chiến máu lửa (1945-1954), không chỉ mục tiêu chống Pháp giành độc lập; mà nội dung chính, hàng đầu và tử sinh, là cuộc chiến một mất một còn về ý thức hệ giữa Quốc gia và Cộng sản. 

Quốc gia và Cộng sản không đội trời chung. Truy sát và tiêu diệt tàn khốc lẫn nhau. Bao nhiêu là nợ máu ngay giữa anh em họ hàng. Vì thế những vùng kháng chiến chín năm khi lực lượng Quốc gia tiếp thu đã đầy những hố thẳm. Dưới chiến dịch diệt Cộng sản, được thực hiện đại trà đồng bộ, chính quyền miền Nam không thể kiểm soát nổi sự thanh trừng, trả thù. Nên địa ngục từ đây. Nhiều công chức, cán bộ quốc gia, ở hạ tầng xã quận, trình độ học vấn kém, hiểu biết lờ mờ về chủ nghĩa cộng sản nhưng trong cao trào Diệt Cộng, cùng chung với trả thù riêng, lại trở nên tàn ác hung thần.

 
Ban ngày ban mặt những người dính líu đến kháng chiến, những đảng viên Cộng sản bị hành hình, tối đến lại bỏ rọ thủ tiêu. Không có toà án, không pháp luật, chỉ là Quốc gia trả thù Cộng sản, chỉ là giết quách.

Tôi đã chứng kiến những cuộc tra khảo kinh hoàng bằng đủ hình thức man rợ ngay bờ giếng, kho lúa cạnh vườn nhà tôi. Anh em tôi không thiếu người bị cụt cả các ngón tay ngón chân vì bị tra điện như anh Trần Ngọc Bính, bị thủ tiêu như cậu Vũ Bình, đến nay chưa biết xác vùi chôn nơi nào trong bãi cát Vân Ly.


Tôi, 18 tuổi cũng là một nạn nhân, bị bắt ra nhà lao Hà Lam tra khảo (thời này Phan Vĩ làm Quận trưởng quận Thăng Bình). Tôi bị ăn đòn bằng những khúc tre tươi. Chúng vừa uống rượu vừa đánh thẳng tay vào bất cứ nơi nào trên người. Đánh vỡ đầu, suýt bị phèo óc, có phải vậy mà tôi mở mắt ra, sau trở thành nhà văn? Đánh, khi khúc tre nát ra tua tủa như tăm xỉa răng, lại thay khúc khác. Trong phòng tra tấn đầy những roi mây, roi sắt kèm búa, cưa, máy quay điện, dây thừng treo cổ, bàn là ủi phỏng vào bắp vế, chỗ kín phụ nữ, và máu, thịt người vung vãi, tiếng la thét, tiếng rên rỉ, những xác người bất động chờ chôn vùi không cần áo quan. Rất may, tôi mới tép riu, chỉ là ở trong vùng kháng chiến, chưa phải thành phần cộng sản nguy hiểm cần treo ngược lên xà nhà, tra điện, hay bó rọ thả sông. 


Tổng thống Ngô Đình Diệm và những người cai trị quên rằng 1954, đất nước chia đôi, hoà bình được lập lại, không phải ai sống trong vùng cộng sản kháng chiến cũng là Cộng sản, hay thân cộng. Mà chính họ cũng là nạn nhân, mới là những con người từ lâu thèm khát tự do, khao khát hoà bình và mong một cuộc sống có cơm ăn áo mặc, được chia sẻ công bằng. Lẽ ra phải an ủi và giúp đỡ họ tái dựng đời sống mới. 


Điều này giống như 1975, sau ngày giải phóng miền Nam, không phải cứ người miền Bắc thảy đều là Cộng sản. Mà đây mới chính là những con người lương thiện bấy lâu trong vòng lửa kiềm chế, nay mới thấy Sài Gòn, hiểu ra “miền Nam nó đẹp, người Sài Gòn nó tình cảm thế này ư?” Họ có dịp nhìn lại, nhận rõ trắng đen. Từ đây họ biết rùng mình, không phải vì lạnh. 
…


Cung Tích Biền

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2016


TRUNG QUỐC SẼ LÀM GÌ Ở BIỂN ĐÔNG?

Alexander L. Vuving


Alexander L. Vuving là giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương, Honolulu, Mỹ và là một chuyên gia trong lãnh vực An ninh châu Á, Biển Đông, Việt Nam và Trung Quốc. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết phân tích các vấn đề chính sách, chiến lược Biển Đông và quan hệ quốc tế trên các chuyên san như Asian Survey, The Diplomat, The National Interest và website của nhiều trường Đại học, cơ sở nghiên cứu lớn trên thế giới, cũng như là đồng tác giả của nhiều cuốn sách trong cùng lãnh vực. Ông đồng thời là thành viên ban biên tập tờ Chính sách và chính trị châu Á (Asian Politics and Policy) của Tổ chức nghiên cứu chính sách. Thông tin thêm về ông:  http://apcss.org/college/faculty/vuving/

Kể từ năm 2014, quần đảo Trường Sa đã trở thành một công trường xây dựng lớn độc nhất vô nhị. Hàng chục tàu của Trung Quốc đã làm việc suốt ngày đêm, cắt san hô và nạo vét cát đáy biển để biến những rạn đá chìm thành đảo nổi nhân tạo. Trong vòng chưa đầy một năm, Trung Quốc đã tạo ra hơn 10 km vuông đất mới trên bảy địa điểm khác nhau trên cả quần đảo mà tổng diện tích đất ban đầu chỉ có khoảng 4 km vuông. Bãi Chữ Thập, chìm ở thuỷ triều cao khi bị TQ chiếm đóng vào năm 1988, giờ đã là một hòn đảo rộng 2,74 km vuông đủ lớn để chứa một đường băng dài 3.100 mét và một bến cảng rộng 63 ha. Và mặc dù đảo nhân tạo ở Bãi Chữ Thập đã gấp gần 6 lần diện tích hòn đảo tự nhiên lớn nhất ở Trường Sa là đảo Ba Bình, nó vẫn nhỏ hơn hai hòn đảo nhân tạo khác. Vào tháng Sáu năm 2015, Trung Quốc đã tạo được 4 km vuông đất tại Xu bi và và 5,6 km vuông đất tại Vành Khăn, và những con số này vẫn đang tiếp tục tăng trưởng. [1]

Vậy kết cục của cuộc chơi xây dựng đảo này sẽ là gì? Vai trò của các hòn đảo nhân tạo này trong thời kỳ chiến tranh và ở phương diện luật biển rất đáng hoài nghi. Những hòn đảo này quá nhỏ và quá cô lập để có thể chống đỡ các cuộc tấn công lớn, chúng có thể dễ dàng trở thành gánh nặng trong thời gian chiến tranh. Chỉ là đảo nhân tạo, những thực thể địa lý này sẽ không thể được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Vậy tại sao Trung Quốc lại đầu tư những nguồn lực khổng lồ để tạo ra những hòn đảo này? Trung Quốc cần những đảo này làm gì?

Cách tiếp cận truyền thống tập trung vào ý nghĩa quân sự và pháp lý của những hoạt động này không phù hợp để trả lời những câu hỏi trên. Trung Quốc đang theo đuổi một chiến lược dựa trên những nguyên tắc rất khác với lối nghĩ thông thường. [2] Triết lý đằng sau chiến lược này có thể được tìm thấy trong “Binh pháp" của Tôn Tử. Ý tưởng then chốt là làm sao để không đánh mà vẫn thắng. Mục tiêu tổng thể là giành quyền kiểm soát Biển Đông, nhưng không phải thông qua các trận đánh lớn. Thay vào đó, Trung Quốc muốn đạt được mục tiêu của mình thông qua các hoạt động từng bước thay đổi thực địa, tạo dựng một sân chơi có lợi cho mình, làm thay đổi về mặt tâm lý những tính toán chiến lược của các quốc gia khác. Logic cơ bản của chiến lược này là khéo léo tác động lên các cấu hình chiến lược của khu vực để làm thay đổi thực tế theo xu hướng có lợi cho sự thống trị của Trung Quốc.

Có ba yếu tố bắt buộc cần có để theo đuổi chiến lược bành trướng lắt léo này, và sáu thập kỷ can dự vào Biển Đông của Bắc Kinh đã tuân theo những yếu tố này một cách chặt chẽ (Giả thuyết này đã được trình bày lần đầu tiên vào năm 2014 ngoái và đã dự đoán được một cách chính xác các chương trình xây dựng của Trung Quốc ở bãi Xubi và Vành Khăn) [3]

·         Yếu tố bắt buộc đầu tiên là tránh tối đa những trận đánh lớn; có thể tạo ra những đụng độ, nhưng chỉ là để khai thác một tình huống có lợi đang có sẵn. Yếu tố này đã từng là trụ cột trong kế hoạch Trung Quốc chiếm Hoàng Sa từ tay Nam Việt Nam vào năm 1974 và đụng độ với Việt Nam ở quần đảo Trường Sa vào năm 1988.
·         Yếu tố bắt buộc thứ nhì là kiểm soát các vị trí chiến lược trong khu vực: nếu những vị trí này còn chưa có ai chiếm hữu, chúng cần phải được chiếm một cách âm thầm lén lút nếu có thể, và bằng một cuộc xung đột có giới hạn, nếu cần thiết. Có thể dễ thấy yếu tố này nhất khi Trung Quốc chiếm 7 thực thể ở Trường Sa, và bãi cạn Scarborough vào năm 2012.
·         Yếu tố bắt buộc thứ ba là phát triển những vị trí này thành các trạm kiểm soát mạnh, các trung tâm hậu cần vững chắc và các căn cứ triển khai sức mạnh quân sự một cách hiệu quả. Đây chính xác là những gì Trung Quốc hiện đang tiến hành ở Biển Đông.

Những hoạt động này nhằm phục vụ mục tiêu kép là thiết lập uy thế và chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhờ ở những vị trí chiến lược và có tác dụng hỗ trợ hậu cần, các đảo trong tay Trung Quốc sẽ là những căn cứ vững chắc để từ đó vô số các tàu thuyền đánh cá, tàu thực thi pháp luật, tàu chiến và máy bay có người lái hoặc không người lái, toả ra thống trị bầu trời và vùng biển của Biển Đông.
Các vị trí kiểm soát then chốt bao gồm đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, Bãi Chữ Thập, Xu Bi và Vành Khăn ở quần đảo Trường Sa và bãi cạn Scarborough ở phía đông bắc của Biển Đông. Đảo Phú Lâm, Bãi Chữ Thập, Vành Khăn và bãi cạn Scarborough sẽ tạo thành một cụm bốn điểm mà từ đó, với bán kính 250 hải lý, có thể theo dõi chặt chẽ toàn bộ khu vực chính của Biển Đông. Tại quần đảo Trường Sa, các đá Xu bi, Vành Khăn và Chữ Thập tạo ra một tam giác hoàn hảo để bao phủ toàn bộ quần đảo (Xem bản đồ).

Trên đảo Phú Lâm, Trung Quốc gần đây đã nâng cấp một đường băng dài 3.000 mét và một cảng nướcsâu dài 1.000 mét. Đường băng này có khả năng đón nhận ít nhất tám máy bay thế hệ thứ tư như máy bay chiến đấu SU-30MKK và máy bay ném bom JH-7, trong khi các bến cảng có thể tiếp nhận những tàu có trọng tải từ 5.000 tấn trở lên. Một đường băng và một cảng có kích cỡ tương tự đã được xây dựng tại Bãi Chữ Thập. Hình dạng các đảo nhân tạo đang được hình thành ở Xu Bi và Vành Khăn gợi ý rằng ở đây rồi cũng sẽ có những đường băng và một hải cảng với kích thước tương tự. Mặc dù Bắc Kinh hiện chưa tiến hành xây dựng quy mô lớn ở bãi cạn Scarborough, sẽ không ngạc nhiên nếu như trong tương lai cũng sẽ có một đường băng và một cảng nước sâu tại đây.  

Các khu vực đã được mở rộng thông qua lấn biển sẽ cho phép Trung Quốc thiết lập tại các tiền đồn các trang thiết bị quan trọng của quân đội cũng như các thiết bị lưỡng dụng cho cả quân sự và dân sự. Bốn tiền đồn nhỏ hơn của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa hiện giờ đã ít nhiều có kích thước tương tự với tiền đồn lớn nhất của Việt Nam ở đây. Đảo Trường Sa, hòn đảo lớn nhất mà Việt Nam đóng quân trong quần đảo, rộng 15 ha. Bốn tiền đồn Trung Quốc, Châu Viên, Gạc Ma, Gaven, và Tư Nghĩa giờ đã có kích thước lần lượt là 23,1 ha, 10,9 ha, 13,6 ha và 7,6 ha. 
Trung Quốc sẽ đặt các trạm radar, các trạm phát điện và nước, cũng như các kho tàng, bến bãi và những cơ sở hạ tầng dịch vụ trên những đảo họ đang chiếm. Các trang thiết bị ở Hoàng Sa và Trường Sa sẽ có đủ năng lực để hỗ trợ hàng ngàn tàu cá và hàng trăm tàu tuần tra, tàu chiến và máy bay hoạt động ở những vùng biển và vùng trời cách xa bờ biển Trung Quốc hàng trăm dặm. Trung Quốc cũng sẽ đưa hàng ngàn dân, nhân viên quân sự và dân sự tới cư ngụ ở đây. Cùng với vài hòn đảo đã được mở rộng ở Hoàng Sa và bảy đảo nhân tạo ở Trường Sa đóng vai trò như là những điểm dừng chân và tiếp tế nhiên liệu, Trung Quốc có thể triển khai hang ngàn tàu cá và tàu thực thi pháp luật để đẩy người Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Indonesia ra khỏi vùng biển mà Bắc Kinh coi là của riêng mình. 

Trung Quốc có thể không tấn công những thực thể địa lý mà các quốc gia khác đang chiếm đóng nhưng họ sẽ tăng cường nỗ lực bí mật kiểm soát những thực thể địa lý chưa có người mà ở những vị trí chiến lược. Bãi Én Đất và Đá Ba Đầu ở các cụm đảo trung tâm cũng như một vài thực thể địa lý ở phần phía đông quần đảo Trường Sa gần Philippines sẽ tiếp tục là mục tiêu của những nỗ lực này. 
Trung Quốc có thể sẽ không chính thức tuyên bố một khu vực nhận dạng phòng không ở Biển Đông vì một hành động như vậy có thể sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng lớn và khiến nhiều quốc gia Đông Nam Á chống lại Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh sẽ áp đặt một số khu vực phòng không nhỏ ở những vùng trời xung quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc cũng sẽ khẳng định một cách âm thầm rằng vùng trời bên trong đường lưỡi bò là thuộc về họ. 
Với cơ sở vật chất đáng kể hơn trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc sẽ thỉnh thoảng tuyên bố một số vùng an ninh, vùng đánh cá và vùng bảo vệ môi trường ở Biển Đông. Mặc dù những vùng này có thể không phù hợp với luật pháp quốc tế, Trung Quốc sẽ không chịu đưa tranh cãi ra toà, và vì là quốc gia mạnh nhất trong khu vực, Bắc Kinh có thể thi hành bất cứ điều gì mà họ tự cho là hợp pháp. 

Liệu Trung Quốc có thể đạt được ưu thế không quân và hải quân ở Biển Đông không? Như đã đề cập ở trên, các sân bay và bến cảng ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là quá cách biệt và lộ liễu để có thể chống đỡ những cuộc tấn công lớn trong thời chiến. Tàu Liêu Ninh, chiếc tàu sân bay duy nhất hiện nay của Trung Quốc, không phải là đối thủ của bất kỳ tàu sân bay nào trong Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ. Mặc dù tàu Liêu Ninh sẽ được trang bị 30 máy bay chiến đấu đa chức năng SU-33 và nhiều máy bay trực thăng tác chiến chống tàu ngầm, một chiếc tàu sân bay lớp Nimitz của Mỹ thôi cũng đã có năng lực gấp hai lần.

Nhưng mục tiêu của Bắc Kinh dường như là muốn chiếm ưu thế trên không và trên biển vào những lúc mà không có sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ. Khả năng Việt Nam tấn công vào các tiền đồn của Trung Quốc ở Biển Đông bị hạn chế rất lớn bởi khả năng Trung Quốc trả đũa dọc theo 1,450 km đường biên giới trên bộ. Bốn sân bay ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ cho phép Trung Quốc tăng thêm 30-40 máy bay vào số máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư mà Trung Quốc có thể triển khai cùng lúc ở Biển Đông. Điều này sẽ cho phép Trung Quốc qua mặt Việt Nam và Malaysia, những lực lượng không quân lớn nhất trong số các đối thủ Đông Nam Á. Tuy Việt Nam được hưởng một bờ biển dài dọc theo Biển Đông nhưng hiện nay cả nước chỉ có khoảng 36 (cuối năm nay có thể có 48) máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư. Malaysia nằm xa về phía nam và hiện giờ có không nhiều hơn 50 máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư trên toàn bộ lãnh thổ. 

Ngoài máy bay và tàu chiến, Trung Quốc cũng có thể triển khai tên lửa tới Hoàng Sa và Trường Sa. Việc triển khai tên lửa có thể sẽ kích hoạt những phản đối kịch liệt từ Việt Nam, Philippines, Hoa Kỳ và một số chính phủ khác, nhưng Trung Quốc sẽ tìm một thời điểm thuận tiện để biện minh cho việc triển khai đó như là một hành động tự vệ. Những trang thiết bị quân sự của Trung Quốc tại đó sẽ rất dễ bị tổn thương trong thời chiến, nhưng chức năng chính của chúng dường như là để dành cho những cuộc tuần tra thời bình và có tính đe doạ tâm lý.  

Cách tiếp cận của Trung Quốc pha trộn các yếu tố cưỡng chế với các yếu tố hợp tác, sử dụng sự hợp tác để thu hút và bẫy đối phương vào sự cưỡng chế. Trung Quốc có thể cung cấp các cơ sở của mình trên đảo nhân tạo cho các lợi ích chung trong khu vực. Tháng 5 năm 2015, Đô đốc Ngô Thắng Lợi, Tư lệnh Hải quân Trung Quốc, nói với Đô đốc Jonathan Greenert, Tư lệnh Hải quân của Mỹ là các cơ sở trên đảo nhân tạo của Trung Quốc có thể được sử dụng cho những hoạt động cứu nạn và cứu trợ thiên tai. Mặc dù Hoa Kỳ đã từ chối lời rao này của Trung Quốc, Trung Quốc chắc chắn sẽ sử dụng những thực thể địa lý còn đang trong tranh chấp này như bàn đạp cho các hoạt động nhân đạo hay hợp tác nhằm gây sự chú ý cao và lôi kéo các quốc gia khác trong khu vực. Đối với những quốc gia không có tranh chấp đảo hay biển với Bắc Kinh ở Biển Đông, điều này sẽ tạo thêm một động lực để ngầm chấp nhận sự thống trị của Trung Quốc. 
Trung Quốc có thể sẽ không cản trở các tuyến thương mại trên không và trên biển ở Biển Đông, nhưng sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu như Trung Quốc sẽ thỉnh thoảng chặn một số tàu thuyền và máy bay, cả dân sự lẫn quân sự, của những quốc gia phản đối những nỗ lực bá quyền khu vực của họ. Những hành vi đó được thiết kế để tạo ra những hiệu ứng về tâm lý hơn là hiệu ứng vật lý.  

Các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông phù hợp với một chiến lược lớn hơn và lâu dài mà nguyên lý trung tâm là giành quyền kiểm soát khu vực có vị trí chiến lược then chốt này theo những cách mà có thể ngăn chặn các nước khác đáp trả tương tự. Chiến lược này lại là một phần của một nỗ lực lớn hơn để đạt được Giấc mơ Trung Quốc, để khôi phục lại vị trí mà Trung Quốc tự cho là chỗ đứng xứng đáng của nó, đó là ở trên đầu các quốc gia khác. Số phận của những quốc gia trỗi dậy hiếu chiến trong quá khứ và sự dễ bị tổn thương của các tuyến đường thương mại của Trung Quốc cho thấy rằng chiến tranh không phải là cách để Trung Quốc đạt được tham vọng này. Được trang bị với một truyền thống chiến lược ưa chuộng cách tiếp cận gián tiếp, Trung Quốc đã lựa chọn một chiến lược bành trướng lắt léo để tìm cách định hình sân chơi hơn là trực tiếp tấn công đối thủ. Đe dọa là một yếu tố chính của chiến lược này nhưng nó là kết quả của sự áp đảo hoặc trừng phạt nặng có chọn lọc chứ không phải là tấn công bừa bãi. 

Nếu các đối thủ của Trung Quốc không có đối sách bẻ gãy chiến lược này, Trung Quốc sẽ nổi lên như là chúa tể của Biển Đông, ít nhất là trong nhận thức của hầu hết các nước trong khu vực. Từ đây, sẽ chỉ còn vài bước để vươn tới vị trí bá quyền khu vực và toàn cầu. Với thực tế là huyết mạch của nền kinh tế châu Á chạy qua Biển Đông, và châu Á đã trở thành chấn tâm kinh tế thế giới, ai kiểm soát Biển Đông sẽ thống trị châu Á, và bất cứ ai thống trị châu Á sẽ thống trị thế giới.

Chú thích:

[1] http://amti.csis.org/island-tracker/
[2] Alexander L. Vuving, “China’s ‘Sun-Tzu Strategy’: Preparing for Winning Without Fighting,” South China Sea Research, June 29, 2015, https://seasresearch.wordpress.com/2015/06/29/chinass-sun-tzus-strategy-preparing-for-winning-without-fighting/
[3] Alexander L. Vuving, “China’s Grand Strategy Challenge: Creating Its Own Islands in the South China Sea,” The National Interest, December 8, 2014, http://nationalinterest.org/feature/chinas-grand-strategy-challenge-creating-its-own-islands-the-11807

Biên dịch: Huệ Việt (Dự án Đại Sự Ký Biển Đông)
Hiệu đính: Alexander L. Vuving