Thứ Hai, 2 tháng 11, 2015


NHÌN LẠI GIAI ĐOẠN NGÔ ĐÌNH DIỆM

Nguyễn Gia Kiểng



LGT – Từ hơn 10 năm nay, hàng năm, cứ đến đầu tháng 11 thì một số tín đồ Công giáo Việt Nam tóc đã điểm sương lại rũ rê vài nhóm cựu quân nhân Việt Nam Cọng Hòa lố lăng trong bộ quân phục mới toanh, để viết bài và tổ chức vinh danh ông Ngô Đình Diệm. Các buổi lễ đó không quên nhập nhằng mượn kèm thêm câu “… và để tưởng niệm Quân Dân Cán Chính VNCH đã bỏ mình vì lý tưỏng Tự Do” dù trong số những quân nhân “đã bỏ mình vì lý tưởng Tự Do” đó, không thiếu người đã từng là nạn nhân khốn khổ của chế độ Ngô Đình Diệm. 
Năm nay, 2015, trong số các bài viết tẻ nhạt và một chiều để tâng bốc “Ngô Tổng thống, Ngô Tổng thống muôn năm” đó, có một bài hơi “lạ”. Đó là bài “Nhìn Lại Giai Đoạn Ngô Đình Diệm” của ông Nguyễn Gia Kiểng. Tác giả là cha đẻ và là linh hồn của nhóm Thông Luận và Tập hợp Dân chủ Đa nguyên (Paris, Pháp). Riêng cho “trường hợp” Ngô Đình Diệm, tác giả là một người Công giáo, gốc Thái Bình, nhưng thân phụ lại bị chính quyền Diệm khủng bố vì tội theo Việt Nam Quốc Dân Đảng đối lập quyết liệt với chế độ.

Bài viết, về cơ bản, đối với những người nghiên cứu một cách khách quan toàn bộ chế độ Diệm thì  không có gì … mới, nhưng chắc sẽ gây sốc cho đám sử gia hoài-Ngô:

(1) Căn cứ chủ yếu trên 2 lá thư của một viên chức Pháp trao đổi với ông bà Ngô Đình Nhu, tác giả cho rằng chính “người Pháp đưa ông Diệm lên cầm quyền” chứ “không phải do Mỹ đưa lên”. Lẽ dĩ nhiên khẳng định “không thể chối cải” nầy còn cần phải thảo luận nhưng dù đúng hay sai thì về mặt lịch sử, nó cũng không thay đổi được sự thực căn bản là ông Diệm đã được (một hay nhiều) ngoại bang “bồng” về chứ không phải vì một quá trình đấu tranh cho độc lập dân tộc.

(2) Tác giả đánh giá chế độ và một số chính sách:  
- Việc tìm kiếm thỏa hiệp với Hà Nội “chắc chắn là nó rất trái ngược lập trường "diệt cộng" chính thức của chính quyền Ngô Đình Diệm”.
- Việc “chính quyền Ngô Đình Diệm thiên vị Công giáo là có thật nhưng việc đàn áp Phật Giáo chỉ là lý cớ dàn dựng của người Mỹ để lật đổ ông Diệm”.
- Người “có quyền lực lớn nhất trong chế độ là ông Ngô Đình Nhu” chứ không phải ông Tổng thống hiến định và dân cử Ngô Đình Diệm. Đó là “dân chủ” kiểu Đệ Nhất Cọng hòa!
- Chính quyền Ngô Đình Diệm là “một sự tiếp nối quá lộ liễu của chính quyền  bảo hộ Pháp”.
- Các “đảng phái chống Pháp bị đàn áp, dù được nhân dân tôn kính, như Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt”.
- Các ông Diêm và Nhu là “những người thuộc môi trường quan lại sống tách biệt với xã hội Việt Nam”.
- Chính sách “tiêu diệt các lực lượng giáo phái như hai ông Diệm – Nhu đã làm là không đúng”. - Chủ nghĩa Nhân Vị mà ông Nhu đề cao “trên thực tế chỉ là một chủ nghĩa cá nhân lúng túng không dám tự xác nhận”.
- “Sai lầm và trách nhiệm lớn nhất của chế độ Ngô Đình Diệm là đã đàn áp các đảng quốc phái quốc gia... Họ có sự chính đáng hơn hẳn ông Ngô Đình Diệm”.

(3) Tác giả đánh giá hai ông Nhu và Diệm:
- Ông Nhu đã “ra lệnh giết Đại tá Hoàng Thụy Nam (Trưởng đoàn Việt Nam trong Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến - ICSC) vào tháng 10/1961.
- Ông Diệm “không thể là một biểu tượng cho Việt Nam trong thời đại độc lập”.
- Ông Diệm “đã hợp tác tận tình với chế độ Pháp thuộc và đã tiếp tay đàn áp những người đấu tranh giành chủ quyền dân tộc”.
- Hai ông Diệm và Nhu không xây dựng lực lượng đấu tranh mà “chỉ vận động hành lang để được một thế lực ngoại bang đưa lên cầm quyền”.
- Các ông Diêm và Nhu là “những người thuộc môi trường quan lại sống tách biệt với xã hội Việt Nam”.
- Ông Nhu “không có bản lĩnh chính trị cao… chưa có khả năng chính trị phải có ở tầm mức quốc gia”.
- Một tuần trước khi bị đảo chính “hai ông Diệm và Nhu cũng đã có ý định đào thoát ra nước ngoài nhưng ý định này không được thực hiện vì sự chống đối dữ dội của bà Ngô Đình Nhu”.
- Ông Diệm và ông Nhu “không tuẫn quốc như nhiều người nghĩ. Họ đã lãnh đạo đất nước, đã không thành công và bị giết, sau khi chính họ cũng đã thủ tiêu nhiều người khác”.
- Tác giả khẳng định dứt khoát một lần nữa là “ông Ngô Đinh Nhu không liên quan gì tới cuốn Chính Đề Việt Nam. Tác giả cuốn sách này là ông Lê Văn Đồng một cựu công sự viên của hai ông Diệm và Nhu nhưng đã chia tay ngay từ năm 1957 vì bất đồng quan điểm”.
Dưới đây là bài viết “Nhìn lại Giai Đoạn Ngô Đình Diệm” của tác giả Nguyễn Gia Kiểng, được đăng trên trang nhà ethongluan ngày 2 tháng 11 năm 2015. NamGiao nhấn mạnh và thêm hình minh họa.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 52 ngày chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ và hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị thảm sát – sau đó ít lâu ông Ngô Đình Cẩn cũng bị xử tử - tôi đã đề nghị ban biên tập Thông Luận cho đăng lại hai bài tôi viết trước đây. Đó là bài"Kinh nghiêm Ngô Đình Diệm" viết năm 2004 và bài "Ông Ngô Đình Diệm đã lên cầm quyền như thế nào?" viết năm 2005. Tôi giữ nguyên những ý kiến trong cả hai bài này dù trong khoảng thời gian giữa hai bài đã xảy ra một sự kiện quan trọng: đó là tôi có được hai tài liệu cho thấy rõ một cách không thể chối cãi tiến trình đã đưa ông Diệm lên cầm quyền và cũng giải thích tại sao chính quyền Ngô Đình Điệm đã hành động như họ đã làm.

Lần này tôi công bố toàn bộ hai tài liệu này mà mười năm trước khi viết bài "Ông Ngô Đình Diệm đã lên cầm quyền như thế nào?"tôi đã không có thì giờ để đánh máy và dịch sang tiếng Việt. Đó là một thư của ông Ngô Đình Nhu viết cho ông Jacques Bénet ngày 20 tháng 4 năm 1955 và một thư của ông Jacques Bénet viết cho bà Ngô Đình Nhu ngày 18 tháng 10 năm 2004. Tôi xin nhắc lại một điều đã viết trong bài này là ngay từ trước, khi được ông Ngô Đình Luyện (có sinh hoạt một thời gian trong nhóm Thông Luận, tiền thân của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, trước khi qua đời) giải thích rằng ông Diệm lên cầm quyền là do ý muốn của Bảo Đại tôi đã thấy giải thích này không hợp lý.

Thư của ông Jacques Bénet gửi bà Nhu trình bày một cách chi tiết tiến trình trong đó người Pháp đưa ông Diệm lên cầm quyền và làm áp lực để buộc Bảo Đại phải chấp nhận giải pháp này. Thư của ông Nhu gửi ông Jacques Bénet cho thấy rõ là chính quyền Pháp đã có cả một kế hoạch ngầm để giúp ông Ngô Đình Diệm loại tướng Nguyễn Văn Hinh, dẹp quân Bình Xuyên và các giáo phái để thu tóm quyền lực về một mối. Thư này cũng nói đến "trận chung kết" là tổ chức bầu cử. Đó là cuộc trưng cầu dân ý ngày 23 tháng 10 năm 1955 lật đổ Bảo Đại. Sau đó chế độ Việt Nam Cộng Hòa được chính thức công bố ngày 26/10/1955. Ông Nhu cũng nhấn mạnh về sự cần thiết của một chính sách của Pháp tại Đông Dương.

Hai lá thư này cho phép kết luận rằng ông Ngô Đình Diệm không phải do Mỹ đưa lên cũng không phải do ông Bảo Đại chọn lựa mà là một giải pháp của chính quyền Pháp để triệt thoái một cách êm thấm khỏi Việt Nam đồng thời giữ được tối đa ảnh hưởng chính trị và văn hóa cũng như các quyền lợi kinh tế. Như vậy phải hiểu rằng chính sách hợp tác với Mỹ và chống Pháp trong những năm đâu của chính quyền Ngô Đình Diệm chỉ là bề ngoài. Bên trong thực sự là đi đêm với Pháp và lợi dụng Mỹ.

Cũng theo chủ trương của Pháp mà chính quyền Ngô Đình Diệm đã ngấm ngầm tiếp xúc với phe cộng sản để tìm cách thỏa hiệp. Theo hồi ký của ông Nguyễn Phú Đức, cựu bộ truởng VNCH, việc này bị Mỹ phát giác vì đại tá Hoàng Thụy Năm đã thông báo cho tình báo Mỹ cuộc tiếp xúc giữa ông Ngô Đình Nhu và ông Phạm Hùng trên sông Sài Gòn. Ông Nhu đã ra lệnh giết ông Hoàng Thụy Năm và đổ tội cho cộng sản ám sát. Ông Nguyễn Phú Đức đã liên tục giữ những chức vụ rất quan trọng trong chế độ VNCH nên những điều ông tiết lộ có mọi khả năng là đúng. Hơn nữa tiết lộ của ông Nguyễn Phú Đức cũng rất phù hợp với một chuỗi sự kiện:
-  Đầu tháng 3/1961 ông Ngô Đình Nhu thay mặt chính quyền VNCH đi Maroc dự lệ tấn phong vua Hassan II. Tại sao ông Nhu, một người không có chức vụ chính thức nào lại thay mặt cho chính quyền VNCH trong một nghi lễ chính thức và long trọng như vậy mà không phải là tổng thống Ngô Đình Diệm, hay phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ hay ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu?
-  Sau đó, như một sự tình cờ, ông Ngô Đình Nhu được tiếp đón rất long trọng tại Pháp và ở lại Pháp vài ngày dù lúc đó bề ngoài Việt Nam đang rất lạnh nhạt với Pháp. Việc đi Maroc dự lễ đăng quang vua Hassan II có thể chỉ là một lý cớ để ông Nhu hội ý với chính quyền Pháp.
-  Sau đó vài tháng là cuộc tiếp xúc Ngô Đình Nhu - Phạm Hùng. Người ta có thể hiểu rằng cuộc tiếp xúc này đã do Pháp dàn xếp sau khi thuyết phục ông Nhu. Nhiều tài liệu còn cho hay là ông Nhu còn gặp lại Phạm Hùng đầu năm 1963.
-  Ngày 01 tháng 10 năm 1961 đại tá Hoàng Thụy Năm bị bắt cóc và bị giết. Sau này người ta được biết ông Hoàng Thụy Năm không bị cộng sản ám sát mà do ông Nhu ra lệnh giết.
Việc tìm kiếm một thỏa hiệp với Hà Nội có đúng hay không là một vấn đề có thể bàn cãi. Điều chắc chắn là nó rất trái ngược lập trường "diệt cộng" chính thức của chính quyền Ngô Đình Diệm; nó đã khiến Hoa Kỳ cảm thấy bị phản bội và quyết tâm lật đổ chế độ, nhất là sau khi hai ông Diệm và Nhu giết ông Hoàng Thụy Năm. Việc chính quyền Ngô Đình Diệm thiên vị Công giáo là có thật nhưng việc đàn áp Phật Giáo chỉ là lý cớ dàn dựng của người Mỹ để lật đổ ông Diệm. Việc Dương Văn Minh giết hai ông Diệm và Nhu sau khi họ đã đầu hàng rất có thể là theo chỉ thị của Mỹ. Khó có thể tưởng tượng Mỹ chấp nhận để hai ông sang Pháp và chống đối lại chính sách của họ tại Việt Nam.

Đây cũng là dịp để nhìn lại những nét chính của chế độ Ngô Đình Diệm.

1. Nhận xét đầu tiên là người có quyền lực lớn nhất trong chế độ là ông Ngô Đình Nhu chứ không phải ông Ngô Đình Diệm. Chính ông Nhu đã vận động chính quyền Pháp để đưa ông Diệm lên cầm quyền và sử dụng ông Diệm như một biểu tượng.

2.  Ông Nhu, và ông Jacques Bénet, đã rất chủ quan và sai lầm khi nghĩ rằng ông Ngô Đình Diệm là một biểu tượng tốt. Quan điểm của tôi, như đã trình bày trong bài "Kinh nghiệm Ngô Đình Diệm", ông Ngô Đình Diệm không thể là một biểu tượng cho Việt Nam trong thời đại độc lập. Ông đã hợp tác tận tình với chế độ Pháp thuộc và đã tiếp tay đàn áp những người đấu tranh giành chủ quyền dân tộc. Ông, và cả ông Nhu, cũng không phải là người hùng biện và có viễn kiến để thu hút trí thức và quần chúng.

3.  Cách làm chính trị của ông Diệm và ông Nhu là cách làm chính trị nhân sĩ. Họ không xây dựng lực lượng đấu tranh mà chỉ vận động hành lang để được một thế lực ngoại bang đưa lên cầm quyền. Cách hoạt động chính trị này phải bị vất bỏ dứt khoát và vĩnh viễn. Kinh nghiệm Ngô Đình Diệm cho thấy rằng cách làm chính trị này dù có "thành công" trong nhất thời cũng chỉ là một tai họa cho đất nước và sau cùng cho chính mình. Chính vì không có tổ chức mà khi cầm quyền hai ông Diệm và Nhu đã phải dựa vào gia đình và một số người thân thuộc.

4.  Ông Nhu đã quá chủ quan khi nghĩ rằng có thể đánh lửa được dư luận Việt Nam và chính phủ Mỹ khi bề ngoài tỏ ra chống Pháp trong khi vẫn liên hệ mật thiết ngấm ngầm với Pháp. Sự chủ quan còn đi đôi với sự vụng về vì chính quyền Ngô Đình Diệm là một sự tiếp nối quá lộ liễu của chính quyền  bảo hộ Pháp. Tất cả các quyền lợi của Pháp đều được duy trì, con cái các cấp lãnh đạo cao cấp đều chỉ học trường Pháp, mọi viên chức thời Pháp thuộc đều được trọng dụng và thăng tiến, các đảng phái chống Pháp bị đàn áp, dù được nhân dân tôn kính, như Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt.

5.  Thống nhất quyền lực vào giai đoạn 1954 - 1955 là một chủ trương đúng nhưng tiêu diệt các lực lượng giáo phái như hai ông Diệm – Nhu đã làm là không đúng. Họ là những lực lượng có cơ sở quần chúng và cũng có bản chất dân tộc hơn những công chức, sĩ quan và hạ sĩ quan của bộ máy thuộc địa mà chính quyền Ngô Đình Điệm trân trọng và lưu dụng. Vấn đề là phải thuyết phục và giáo dục được họ, nhưng điều này vượt khả năng của các ông Diêm và Nhu, những người thuộc môi trường quan lại sống tách biệt với xã hội Việt Nam.


Ông Lê Quang Vinh (trái), tự Ba Cụt, tướng lãnh trong quân đội thuộc giáo phái Phật Giáo Hòa Hảo, bị xữ tử hình trong một vụ án mờ ám - Hình phải: Khi uống thuốc độc quyên sinh để phản đối chế độ Ngô Đình Diệm, văn hào Nhất Linh để lại chúc thư có đoạn: “…sự bắt bớ và xử tội các phần tử đối lập là một tội nặng đối với quốc gia, chỉ đưa đất nước rơi vào tay Cọng sản …”  

6.  Trái với quan điểm của một số người, ông Ngô Đình Nhu không có bản lĩnh chính trị cao. Chắc chắn ông có kiến thức chính trị cao hơn phần lớn những người lãnh đạo phe quốc gia cùng thời đại với ông, nhưng ông chưa có khả năng chính trị phải có ở tầm mức quốc gia. Chủ nghĩa nhân vị mà ông đề cao - và cũng không có dấu hiệu gì là đã hiểu - trên thực tế chỉ là một chủ nghĩa cá nhân lúng túng không dám tự xác nhận. Tôi đã có may mắn quen biết hai cộng sự viên gần gũi nhất của hai ông Diệm và Nhu tại Dinh Độc Lập trong suốt thời gia họ cầm quyền là đại tá Lê Văn Đức và giáo sư Tôn Thất Thiện. Cả hai đều xác nhận các tác phẩm của ông Nhu chỉ là những bài diễn văn của ông Diệm. Nhưng bài diễn văn này không có gì đặc sắc.

7.  Sai lầm và trách nhiệm lớn nhất của chế độ Ngô Đình Diệm là đã đàn áp các đảng quốc phái quốc gia. Các đảng này đã đóng góp xương máu giành độc lập dân tộc và chống lại cộng sản. Họ có sự chính đáng hơn hẳn ông Ngô Đình Diệm. Chỉ có hợp tác với họ mới có thể tranh thủ được sự ủng hộ của quần chúng.

8.  Nhiều người ca tụng hai ông Diệm và Nhu là có tác phong xứng đáng, có danh dự cao và đã dũng cảm bảo vệ bằng tính mạng lập trường của mình. Đúng là ông Diệm và ông Nhu đã có phong cách hơn hẳn nhưng người đã từng giữ vai trò lãnh đạo trong gần một thế kỷ qua trong cả hai phe quốc gia cũng như cộng sản. Tuy vậy cũng không thể quên là cuối cùng, khi thấy mình tuyệt vọng, họ đã đầu hàng nhóm tướng lãnh đảo chính để rồi bị giết. Mặt khác theo lời của ông Kenneth Todd Young, một viên chức cao cấp tại bộ ngoại giao Mỹ phụ trách về Châu Á, thì ông Trần Văn Chương, thân phụ bà Ngô Đình Nhu, đã cho hay là một tuần trước khi bị đảo chính hai ông Diệm và Nhu cũng đã có ý định đào thoát ra nước ngoài nhưng ý định này không được thực hiện vì sự chống đối dữ dội của bà Ngô Đình Nhu. Ông Diệm và ông Nhu không tuẫn quốc như nhiều người nghĩ. Họ đã lãnh đạo đất nước, đã không thành công và bị giết, sau khi chính họ cũng đã thủ tiêu nhiều người khác.

9.  Sau cùng nhân dịp này tôi thấy cần khẳng định dứt khoát một lần nữa là ông Ngô Đinh Nhu không liên quan gì tới cuốn Chính Đề Việt Nam. Tác giả cuốn sách này là ông Lê Văn Đồng một cựu công sự viên của hai ông Diệm và Nhu nhưng đã chia tay ngay từ năm 1957 vì bất đồng quan điểm. Khi tham gia Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên năm 1988  (lúc đó chưa có danh xưng chính thức THDCĐN) ông Lê Văn Đồng đã đem đến và trình bày cuốn Chính Đề Việt Nam. Chính chúng tôi đã làm photocopy và phổ biến tới một số thân hữu. Lúc đó ông Ngô Đình Luyện cũng sinh hoạt với chúng tôi và cũng có tham gia cuộc thảo luận về cuốn Chính Đề Việt Nam với ông Lê Văn Đồng, và không ai đặt nghi vấn về việc Tùng Phong là bút hiệu của Lê Văn Đồng cả. Giả thuyết ông Ngô Đình Nhu là tác giả cuốn sách này chỉ dựa trên dựa trên một sự kiện rất mỏng manh là ông Cao Xuân Vỹ nhớ lại rằng có lần ông Ngô Đình Nhu đã nhờ ông trao cho ông Lê Văn Đồng một tập tài liệu bằng tiếng Pháp mà ông không nhớ là gì. Từ đó mà suy luận rằng đó là bản tiếng Pháp của Chính Đề Việt Nam thì quả là quá phiêu lưu.


Sau nhiều năm dài, tác phẩm “Chính Đề Việt Nam” đã bị các phần tử hoài Ngô (như các ông Tôn Thất Thiện, Trương Phú Thứ, …) lạm xưng rằng tác giả là “thiên tài” Ngô Đình Nhu, viết với bút hiệu Tùng Phong. Mãi đến năm 2011, bà Lê Tuyết Anh, con gái của Kỹ sư Lê Văn Đồng (đã từng từ Pháp trở về làm Bộ trưởng thời Diệm nhưng từ chức vì bất đồng quan điểm) mới cho biết Tùng Phong chính là bút hiệu của thân phụ của bà. Và tác phẩm nầy được xuất bản tại Sài Gòn lần đầu năm 1964, được tái bản tại hải ngoại năm 2009. Chứng cớ bất khả phủ bác là một hồ sơ lưu trữ ghi nhận tên tác giả/tác phẩm của CIA Mỹ vào những năm 1960. Tuy vậy, vì không biết thông tin nầy, hằng năm cứ đến tháng 11, lại vẫn có một số người tiếp tục vinh danh … thiên tài Ngô Đình Nhu.

Một sự thực đáng buồn là cho tới này phần lớn những bài viết về chế độ Ngô Đình Diệm và anh em họ Ngô đều chỉ dựa vào một số sự kiện để phát biểu lập trường có sẵn của mình. Người bênh anh em họ Ngô thì viện dẫn mọi lý do - kể cả những lý do rất vu vơ như trong câu chuyện cuốn Chính Đề Việt Nam - để ca tụng, người ghét thì cũng tìm mọi lý cớ để đả kích, trong khi thái độ phải có là cố gắng hiểu rõ một giai đoạn lịch sử để có thể rút ra những kết luận đúng cho tương lai.

Giai đoạn Ngô Đình Diệm mới chỉ gần đây thôi. Còn khá nhiều tài liệu và nhân chứng. Nếu chúng ta không có nổi một sự hiểu biết chính xác thì những sử liệu về các giai đoạn trước có giá trị gì?

Nguyễn Gia Kiểng
(01/11/2015)

Phụ đính 1:
Thư của ông Ngô Đình Nhu gửi ông Jacques Bénet


Jacques Bénet (1915-2009)

Le 20 Avril

Mon cher Bénet,

Merci infiniment de ta longue lettre du 8. C'est positivement étonnant cette unité de vue entre toi et moi sur tous les aspectsdu problème qui nous intéresse que cela touche les réalités politiques ou les hommes qui y participent, y compris mes frères, M. Khiêm ou tes compatriotes. C'est à croire que nous ne nous sommes pas quittés depuis 1949 et que nous travaillons côte à côte dans le même bureau sous la vigilance de ta Simone. C'est te dire combien je suis heureux de voir pareilles communion d'idées et de sentiments entre toi et moi, séparés par des milliers de kilomètres. C'est vrai qu'après avoir surmonté la crise Hinh nous nous apprêtions à démarrer avec l'affaires des sectes qui se présentait on ne peut plus favorablement. Malheureusement nous nous sommes coincés entre l'incompréhension française et l'inexpérience américaine: une différence d'appréciation sur l'opportunité de briser de façon ferme et décisive l'obstacle féodal pour libérer le pauvre peuple vietnamien et le rallier à nous. Depuis l'avènement du Président la grande pensée du gouvernement est de briser les deux obstacles, cercles de fer, qui séparaient le peuple du gouvernement progressite.  C'est l'armée "nationale" et "les sectes". Nous avons gagné la première manche, nous espérons gagner la seconde, la belle sera alors les élections que nous sommes certains de gagner. Ajouté à cela ce "Temps harcelant" qui ne nous permet pas de musarder en chemin et de pratiquer la bonne vieille politique de compromis. L'heure est donc unique et décisive. Si nous ne réussissons pas à convaincre les responsables du Monde Libre pour qu'ils nous aident à neutraliser les colonialistes qui soutiennent les féodaux contre le gouvernement national nous irons à la catastrophe. Car le peuple vietnamien déçu définitivement nous abandonnera. Et le Monde Asiatique que nous avons travaillé ces derniers mois et qui commençait à s'impatienter avec nous, se détournera de nous, isolés alors en Asie et à la merci du Viet Minh. Car il ne faut plus recommencer l'expérience de 1945 – 1954. Soutenus seulement par le camp occidental nous sommes surs d'être battus par le communisme en Asie. Il faut avoir le soutien du peuple vietnamien et la sympathie du Monde Asiatique, pour que l'aide occidentale, dédouanée par la personalité du Président Ngô, puisse être utile, ayant reçu l'étiquette asiatique. Cette conception est bien comprise par des hommes intelligents et au courant des affaires d'ici, tels que M. M Roux (affaires étrangères), A Risterucci (Etats Associés). Il faut travailler de manière à ce que des instructions en ce sens qui sont, j'en suis persuadés, déjà prêtes soient envoyés d'urgence à Saigon. Le général Ely est un honnête homme, malheureusement il est de nature inquiet et pessimiste (voir affaire Hinh = armée coupée en deux, guerre civile et … si le Président touche à Hinh). Ce général est une espèce de "Docteur Tant Pis" qui voit tout en noir ou plutôt tout en rouge. Rappelle toi les velléités des communistes qui cherchaient à créer un état autonome en France à l'époque de la libération et que le gouvernement français n'a pas hésité à étouffé dans le sang. Il faut sacrifier quelques uns pour le bien de tous.
La France n'a pas eu jusqu'ici de politique en Indochine. C'est le moment ou jamais d'en avoir une.
A Dieu, cher ami, et merci pour tes conseils et encouragements. Je reste toujours le même sans quoi (les quelques mots de la fin sont illisibles, à moitié coupés lors de la photocopie)

Chuyển ngữ:
Ngày 20 tháng 4
Bénet thân,
     Vô cùng cảm ơn mày về lá thư dài ngày 8. Thật ngạc nhiên một cách thú vị khi mày và tao đồng nhất quan điểm trên tất cả mọi mặt của vấn đề mà chúng ta cùng quan tâm, dù là về những thực tại chính trị hay về những người trong cuộc, kể cả các anh em tao, ông Khiêm (1) hay các đồng bào của mày. Cứ như là chúng mình chưa từng chia tay từ 1949 khi còn làm việc với nhau trong cùng một văn phòng dưới sự chăm sóc của bà xã Simone của mày. Để nói với mày rằng tao hân hoan tới mức độ nào về sự đồng cảm và đồng ý giữa mày và tao dù cách nhau hàng ngàn cây số. Đúng là sau khi đã vượt qua được cơn khủng hoảng Hinh (2) chúng ta bắt đầu giải quyết vấn đề các giáo phái trong những điều kiện không thể nào thuận lợi hơn. Rất tiếc là chúng ta bị kẹt giữa sự thiếu hiểu biết của Pháp và sự thiếu kinh nghiệm của Hoa Kỳ: đó là sự đánh giá khác nhau về cơ hội để đánh tan một cách quả quyết và dứt khoát trở ngại phong kiến để giải thoát dân tộc Việt Nam xấu số và để gắn bó họ với chúng ta. Từ ngày ông Chủ Tịch (3) lên cầm quyền,  chủ trương lớn của chính phủ là đập tan hai trở ngại, hai vòng sắt, tách biệt dân tộc Việt Nam với chính phủ Việt Nam cấp tiến, đó là quân đội "quốc gia" và các "giáo phái". Chúng ta đã thắng trận đầu, chúng ta hy vọng sẽ thắng trận thứ hai, trận chung kết sẽ là cuộc bầu cử mà chúng ta tin chắc sẽ thắng lợi. Thêm vào đó là thời gian "thiêu đốt" không cho phép chúng ta nhởn nhơ trên đường đi hay làm những thỏa hiệp như thói quen. Thời điểm này vừa duy nhất vừa quyết định. Nếu chúng ta không thuyết phục được Thế Giới Tự Do giúp chúng ta vô hiệu hóa đám thực dân ủng hộ bọn phong kiến (4) chống lại chính quyền quốc gia chúng ta sẽ rơi vào thảm họa. Nhân dân Việt Nam sẽ thất vọng và vĩnh viễn bỏ rơi chúng ta. Và Thế Gìới Châu Á mà chúng ta đã vận động từ mấy tháng nay và đã bắt đầu có cảm tình với chúng ta sẽ quay lưng lại với chúng ta. Lúc đó chúng ta sẽ cô lập và khốn đốn với Việt Minh. Chớ nên lặp lại kinh nghiệm 1945-1954. Nếu chỉ được Phương Tây yểm trợ chúng ta chắc chắc sẽ thua cộng sản Châu Á. Phải tranh thủ được sự hưởng ứng của dân tộc Việt Nam và cảm tình của các nước Châu Á để viện trợ của Phương Tây, bạch hóa bởi nhân cách của Chủ Tịch Ngô, có thể hữu hiệu sau khi đã mang nhãn Châu Á. Quan điểm này đã được thấu hiểu nơi những  người thông minh và hiểu rõ hiện tình tại đây, như Ông M. Roux (bộ ngoại giao) ông Risterucci ( bộ Liên Hiệp Pháp). Phải vận động để những chỉ thị theo chiều hướng này, mà tao chắc chắn là đã chuẩn bị sẵn, được khẩn cấp gửi sang Sài Gòn (5). Tướng Ely là một người chân thật nhưng  bản tính lo âu và bi quan (nhìn vụ Hinh = quân đội chia đôi, nội chiến v.v. nếu ông Chủ Tịch đụng vào Hinh…). Ông tướng này là một loại "Bác sĩ Đành Vậy" nhìn cái gì cũng đen tối hay đúng ra đỏ rực. Mày hãy nhớ lại những toan tính của những người cộng sản Pháp muốn thành lập một nhà nước tự trị tại Pháp trong giai đoạn giải phóng (6), toan tính mà chính phủ Pháp đã không ngần ngại đập tan trong máu. Phải hy sinh một vài người vì lợi ích của mọi người.
        Nước Pháp cho tới nay chưa có một chính sách Đông Dương, đây là cơ hội cuối cùng để có một.
        Chào mày, thằng bạn thân. Cảm ơn mày về những lời khuyên và khích lệ. Tao vẫn là tao nếu không thì… (một vài chữ cuối cùng không đọc được vì bị cắt khi làm photocopy)

Chú thích:
Phạm Duy Khiêm, anh ruột nhạc sĩ  Phạm Duy, đaị sứ Việt Nam tại Pháp vào lúc đó, do ông Diệm bổ nhiệm.
1)  Tướng Nguyễn Văn Hinh (1913-2005), tổng tham mưu trưởng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam từ 1949, mâu thuẫn với thủ tướng Ngô Đình Diệm và bị cất chức. Ông trở lại phục vụ trong quân đội Pháp và lên đến cấp trung tướng, tham mưu trưởng lực lượng không quân chiến lược (nguyên tử) Pháp.
2)  Ông Ngô Đình Diệm lúc đó là thủ tướng và Chủ tịch hội đồng bộ trưởng Quốc Gia Việt Nam.
3)  Ở đây ông Nhu muốn nói tới các nhóm giáo phái Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo được Bảo Đại bảo trợ. Sau khi các giáo phái đã bị dẹp thì từ "phong kiến" được chính quyền Ngô Đình Diệm dùng để chỉ chế độ quân chủ.
4)  Trong cuộc gặp gỡ với tôi cuối tháng 11-2004, với sự hiện diện của hai anh Trần Minh Châm và Nghiêm Văn Thạch, ông Bénet cho biết những chỉ thị đó nằm trong kế hoạch giúp ông Diệm gồm thu quyền lực về một mối, trước hết là giải tán quân đội của các giáo phái.
5)  Giai đoạn sau 1945 khi Paris được giải phóng, lực lượng võ trang của Đảng Cộng Sản Pháp rút về khu Rambouillet định thành lập một khu tự trị nhưng bị dẹp tan.

Phụ đính 2:
Thư của ông Jacques Bénet gửi bà Ngô Đình Nhu


Bà Ngô Đình Nhu (1924-2011)

Jacques Bénet
5 rue Vavin, 75006 Paris                             Paris le 18 octobre 2004


Chère Madame,

Depuis que je suis passé vous voir chez vous, voici une dizaine de jours, j'ai remis la main dans "mes" papiers sur une lettre que vous m'avez adressée le 22 août 1976, vraisemblablement de Rome.
Je joins à ce courrier l'original de cette lettre. Vous y faites état de ce que je vous ai annoncé que j'avais retrouvé le dossier confié par vous en 1963.
En 1976 j'étais fonctionnaire en poste au Ministère de la Coopération et  j'ai pris mon congé annuel en juillet ou en août. J'avais repris mon service au plutard au 1er Septembre.
Il n'est pas pensable que votre fils Quỳnh ne soit pas parvenu à me joindre pour que je lui remette ce dossier chez moi ou à Suffren.
Et, pourtant, il ne semble pas vous être parvenu ce dossier puisque vous le demandez maintenant. Mystère total, dans le quel je ne suis pas le seul impliqué!
Je comprends maintenant que ce dossier que je vous ai remis la semaine dernière n'ait  pu vous satisfaire.
Il a vraisemblablement été constitué par des copies de lettre anciennes, datées de la période 1963 – 1964, mais que vous m'avez remises par la suite en même temps que les copies de lettres à Andréotti et au Pape qui ont été écrites par vous plus tardivement.
Dans la période de 1976 à 1980, où je venais de me remarier, j'ai envoyé en Normandie quelques meubles, objets, livres ou documents, parce que je remettais à neuf mon appartement et que les documents, que je vous ai remis l'autre jour, après les avoir récupérés en Normandie ont dû m'apparaître dans ces années 1976 -1980 comme des documents "pour mémoire" sans utilisation immédiate possible et ne contenant pas d'nformations "brûlantes".
Vous m'avez dit lors de cette dernière recontre que vous aviez trouvé "désinvolte" la réponse que je vous aurais faite lorsque, pour la première fois, vous m'avez redemandé le dossier confié fin 1963.
Je ne me rappelle pas avoir eu envers vous, cette fois là ou une autre, une attitude de désinvolture. Mais si vous en gardez le souvenir c'est que je vous ai paru alors effectivement "désinvolte". Et je vous pris de bien vouloir m'en excuser.
Mais j'ai remarqué depuis de nombreuses années que, de votre côté, vous avez fait montre d'une désinvolture certaine, vis-à-vis du président Ngô Đình Diệm, de votre mari, de moi-même et de quelques autres en ne vous souciant jamais de savoir comment le futur président Ngô Đình Diệm avait accédé au pouvoir en 1954!
La Providence, certes oui, car Dieu gouverne toutes choses, mais il se sert bien souvent de modestes relais humains pour concrétiser ses desseins.
Or votre mari, Ngo Dinh Nhu, a eu l'intuition géniale - dictée bien sûr par la Providence - que le moment était arrivé, en mars 1954 pendant la bataille de Đien Bien Phu, d'essayer de convaincre le gouvernement français d'alors (gouvernement Laniel – Bidault – Reynaud), qui disposait encore de quelques atouts déterminants quant au destin de l'ancienne Indochine pour permettre d'urgence la venue au pouvoir de son frère, Monsieur Ngo Đinh Diem, personnalité nationaliste vietnamienne d'une réputation sans tâche et d'une notoriété évidente, afin de prendre la tête du gouvernement vietnamien non communisé.
Du même coup, Nhu décide l'envoi à Paris pour facilité la prise de contact avec le gouvernement français son camarade du combat nationaliste Tran Chanh Thanh – revenu totalement de ses illusions communistes. La mission première que Nhu donne à Tran Chanh Thanh est de me joindre afin que je l'aide à faciliter cette prise de contact. Nhu, que j'ai reçu à la maison à Paris en 1949 avant le décès de ma première femme, savait que je disposais de relations avec divers hommes politique français.
Une lettre personnelle de Nhu m'annonce d'ailleur la mission de Thành.
Bien que vous n'aimiez guerre Trân Chánh Thành, ce dernier s'est révélé être, lui aussi, un homme "providentiel", dans la chaine de ceux qui ont permis, en fin de compte, à Monsieur Ngo Dinh Diem d'être reçu successivement par le président Laniel et par le Ministre des Affaires étrangères Georges Bidault.
Il s'est trouvé, entre temps, que j'ai été moi aussi, "providentiellement", un maillon indispensable dans la chaine qui a conduit à ce fait.
Ma confiance totale en mon cher ami Nhu et la certitude acquise par moi qu'il était plus que temps, en ce moment de 1954, de voir conférer au Vietnam non communiste son indépendance totale, jointes à l'évidence que Monsieur Ngo Đinh Diem était bien l'homme "providentiel" pour assumer la charge de diriger cette indépendance, m'avaient déterminé à agir.
Et j'ai pu passer toute ma conviction à un de mes meilleurs amis français, Antoine Ahon, qui avait ses entrées personnelles au cabinet au Président René Laniel par le directeur de cabinet, le préfet Germain Vidal, et auprès du Secrétaire d'Etat à la Présidence Bougenot passé directement sous les ordres du Président Laniel. Mon ami Ahon, d'autrepart, connaissait bien personnellement le Ministre des Affaires Etrangères Georges Bidault.
Homme "providentiel"  à son tour, Antoine Ahon a été l'introducteur parfait de Trân Chánh Thành auprès des deux personalités précitées du cabinet du Président Laniel et auprès de Geoges Bidault.
L'intelligence, la fidélité et le sens de l'efficacité de Trần Chánh Thành des ont fait l'essentiel du reste. En plusieurs entretiens espacés de la fin mars à la mi mai 1954 il a eu loisir d'exposer la situation d'alors au Vietnam, d'un authentique point de vue nationaliste vietnamien, et les qualités exceptionnelles de Monsieur Ngô Đình Diêm pour assurer le pouvoir au Vietnam du Sud en ces temps particulièrement critiques.
C'est ainsi que le Président Laniel et le Ministre Bidault accueillirent, dans les meilleures dispositions d'esprit Monsieur Ngô Đinh Diêm.
Et, "providentiellement" encore, ces deux personalités responsables, après hésitation et réflexion, comprirent que, à l'approche de la chute de leur gouvernement, il s'imposait pour sauver le Vietnam en grand danger d'engloutissement dans le Monde Communiste, et tenter de la sorte de préserver les futures relations franco-vietnamiennes d'obtenir d'urgence de l'empereur Bao Đai, encore officiellement Chef d'Etat du Vietnam la nomination de Ngo Đinh Diem à la tête du gouvernement vietnamien.
Cela fut fait par décret de Bao Đai pris au début de juin 1954, quelques jour seulement avant que le gouvernement Laniel – Bidault – Reynaud fasse place au gouvernement Mendès France.
Cela fut possible parce que le gouvernement français d'alors disposait vis-à-vis de Bao Đai, particulièrement de divers moyens de pression déterminants.
Et cette décision, qui fut majeure et "providentielle" pour le Vietnam n'aurait jamais été prise par le gouvernement Mendès France totalement sous l'influence de courants politiques français décidés à s'en tenir à la lettre des accords de Genève de juin 1954 qui envisageaient la tenue d'élections législatives étendues à tout le Vietnam, Nord et Sud.
De telles élections auraient abouti, selon toute vraisemblance, à installer le pouvoir communiste, dès ce moment là sur tout le Vietnam, fermant  toute perspective à Ngo Đinh Diem d'accéder un jour au pouvoir.
Ce dernier étant tellement convaincu de cela qu'il est venu chez moi me remercier de mes efforts et de ceux de mon ami Ahon, au cours des quelques jours qui ont séparé la sortie du décret de Bao Đai de son départ en avion pour rejoindre son poste à Saigon
J'en suis toujours à m'étonner, chère Madame, que vous n'ayez jamais cherché à connaître le processus de l'ascension au pouvoir du Président Ngo Đinh Diem.
Il est vrai que mon ami Nhu était particulièrement discret. Mais une épouse décidée ne parvient-elle pas généralement à percer les secrets entretenus par son mari?
Je vous prie d'agréer, chère Madame, l'expression de ma très respectueuse considération.
(Signature de Jacques Bénet)

Ci-joint votre lettre du 22 août 1976

Chuyển ngữ:

Jacques Bénet
5 rue Vavin, 75006 Paris                             Paris le 18 octobre 2004

Thưa Bà,

Từ khi tới gặp Bà tại tư gia cách đây khoảng mười hôm tôi đã tìm lại được trong những giấy tờ "của tôi" một thư Bà đã gửi cho tôi ngày 22 tháng 8-1976, có lẽ từ Rome.
Tôi gửi kèm theo thư này bản chính của thư đó. Bà viết trong thư rằng tôi đã thông báo với Bà là đã tìm lại được tập hồ sơ Bà đã giao cho tôi năm 1963.
Năm 1976 tôi còn là công chức ở bộ Hợp Tác và tôi nghỉ hè tháng 7 hoặc tháng 8. Tôi đi làm trở lại trễ lắm là ngày 01 tháng 9.
Khó có thể nghĩ là anh Quỳnh con trai Bà lại không thể liên lạc được với tôi để tôi trao lại tập hồ sơ này, tại nhà tôi hay tại Suffren.
Và dầu vậy tập hồ sơ này đã không tới tay Bà, bằng chứng là bây giờ mà còn hỏi tôi. Bí ẩn hoàn toàn, trong đó tôi không phải là người liên can duy nhất!
Bây giờ tôi hiểu là tập hồ sơ mà tôi đã trao cho Bà tuần trước đã không làm Bà hài lòng.
Nó có lẽ gồm những bản sao của các thư cũ, viết trong giai đoạn 1963 – 1964, mà Bà đã trao cho tôi sau đó cùng lúc với các bản sao các thư gửi Andreotti và Đức Giáo Hoàng do Bà viết sau đó.
Trong những năm từ 1976 đến 1980, lúc tôi vừa tái hôn, tôi đã gửi đi Nordmandie một số giường tủ, vật dụng, sách và tài liệu vì tôi tân trang căn hộ của tôi, và những tài liệu mà tôi trao lại Bà hôm trước sau khi tìm thấy tại Nordmandie có vẻ là những tài liệu mà trong giai đoạn 1976 -1980 tôi cho là chỉ "giữ để nhớ" chứ không có công dụng tức khắc nào. Và không chứa đựng một dữ kiện "nóng hổi" nào.
Bà đã nói với tôi trong lần gặp cuối rằng Bà thấy tôi đã trả lời Bà một cách "vô tư" khi lần đầu tiên Bà yêu cầu tôi hoàn lại tập hồ sơ mà Bà đã nhờ tôi giữ hộ năm 1963.
Tôi không nhớ đã có thái độ vô tư đối với Bà lúc đó hay một lúc nào khác. Nhưng nếu Bà vẫn còn nhớ như vậy thì chắc là tôi phải đã tỏ ra vô tư. Và tôi xin Bà thứ lỗi cho.
Tuy nhiên tôi đã nhận thấy từ nhiều năm rồi chính Bà tỏ ra rất vô tư đối với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đối với chồng Bà, đối với chính tôi và đối với vài người khác khi không bao giờ chịu tìm hiểu vào năm 1954 vị tổng thống tương lai Ngô Đình Diệm đã lên cầm quyền như thế nào.
Dĩ nhiên là do Chúa muốn (1), bởi vì Chúa điều khiển tất cả, nhưng Người cũng dùng những con người làm những trung gian khiêm tốn để cụ thể hóa ý muốn của Người.
Vì thế mà chồng Bà, Ngô Đình Nhu, đã có trực giác thiên tài, chắc chắn do Chúa khiến, là đã đến lúc, vào tháng 3-1954, khi trận Điện Biên Phủ đang diễn ra, để thử thuyết phục chính phủ Pháp  (chính phủ Laniel –Bidault – Reynaud) lúc đó vẫn còn một vài con bài quyết định đối với số phận của Đông Dương cũ để khẩn cấp đưa anh mình là ông Ngô Đình Diệm, một nhân vật quốc gia không vẩn gợn và có uy danh rõ rệt, lên cầm dầu chính phủ Việt Nam không cộng sản.
Cùng lúc Nhu quyết định gửi sang Paris người chiến hữu quốc gia của mình là Trần Chánh Thành - vừa hoàn toàn hồi phục khỏi những ảo tưởng cộng sản- để tiếp xúc với chính phủ Pháp. Sứ mạng đầu tiên mà Nhu giao phó cho Trần Chánh Thành là tìm gặp tôi để nhờ tôi giúp bắt liên lạc. Nhu đã từng tới nhà tôi năm 1949 trước khi người vợ đầu của tôi qua đời và biết rằng tôi có quan hệ với nhiều chính khách Pháp.
Nhu có viết thư riêng cho tôi báo trước chuyến công tác của Thành.
Dù Bà không ưa Trần Chánh Thành, ông này đã tỏ ra là một người "Chúa ban" trong chuỗi sự kiện đã khiến ông Ngô Đình Diệm tuần tự được thủ tướng Laniel và bộ trưởng ngoại giao Bidault tiếp.
Tình cờ là trong thời gian đó chính tôi cũng "do ý Chúa" đã là một mắt xich không có không được trong diễn tiến dẫn tới kết quả này.
Lòng tin hoàn toàn vào bạn Nhu và nhận định chắc chắn là tình thế đã quá chín muồi vào thời điểm đó, 1954, để trả lại độc lập hoàn toàn cho Việt Nam, cùng với điều hiển nhiên là ông Ngô Đình Diệm đúng là nhân vật "Chúa khiến" để lèo lái nền độc lập này, đã thúc đẩy tôi quả quyết hành động.
Và tôi đã chia sẻ được lòng tin của mình với một trong những người bạn Pháp thân nhất của tôi, ông Antoine Ahon,  một người có liên hệ mật thiết với văn phòng Chủ Tịch  René Laniel (1), qua trung gian của ông chủ nhiệm văn phòng, tổng đốc Germain Vidal, và có liên hệ với bộ trưởng tại phủ chủ tịch Bougenot, trực tiếp dưới quyền Chủ Tịch Laniel. Anh bạn Ahon, mặt khác cũng quen thân với bộ trưởng ngoại giao Georges Bidault.
Cũng là một người "Chúa khiến", Antoine Ahon đã là người trung gian tuyệt vời cho Trần Chánh Thành với hai nhân vât kể trên (Vidal và Bougenot) trong văn phòng Chủ Tịch Laniel và Geoges Bidault.
Trí thông minh, sự trung thành và giác quan hiệu quả của Trần Chánh Thành đã là hoàn thành cốt lõi phần còn lại. Qua nhiều trao đổi trong thời gian từ cuối tháng 3 đến giữa tháng 5-1954 ông ta đã trình bày tình trạng Việt Nam lúc đó với nhãn quan quốc gia chân chính cũng như những đức tính xuất chúng của ông Ngô Đình Diệm để cầm quyền tại miền Nam Việt Nam trong giai đoạn khẩn trương này.
Chính vì thế mà chủ tịch Laniel và bộ trưởng Bidault đã tiếp ông Ngô Đình Diệm một cách thuận lợi.
Và cũng nhờ "ơn Chúa", hai vị lãnh đạo này, sau khi đắn đo suy nghĩ đã hiểu rằng, vào lúc chính quyền chính phủ của họ sắp đổ, bắt buộc phải cứu Việt Nam đang đứng trước hiểm họa lớn là bị nuốt trửng vào Thế Giới Cộng Sản, và phải cố cứu vãn quan hệ Pháp Việt bằng cách khẩn cấp khiến Hoàng Đế Bảo Đại, lúc đó vẫn còn là quốc trưởng Việt Nam chính thức, bổ nhiệm Ngô Đình Diệm đứng đầu chính phủ.
Điều này đã được thực hiện bằng dụ (sắc luật) của Bảo Đại đầu tháng 6-1954, chỉ vài ngày trước khi chính phủ Laniel –Bidault – Reynaud bàn giao quyền hành cho chính phủ Mendès France.
Điều này đã có thể thực hiên được vì chính quyền Pháp lúc đó có nhiều phương tiện để gây áp lực quyết định trên Bảo Đại (2).
Và quyết định tối quan trọng và "theo ý Chúa" này đối với Việt Nam chắc chắn đã không thể có với một chính phủ Mendès France hoàn toàn chịu ảnh hưởng của khuynh hướng chính trị Pháp đòi thực hiện y chang Hiệp Định Genève tháng 6-1954, theo đó sẽ có tổng tuyển cử trên toàn cõi Việt Nam, Bắc cũng như Nam.
Cuộc tổng tuyển cử này hầu như chắc chắn sẽ dẫn tới kết quả là thiết lập chế độ cộng sản trên cả nước Việt Nam và triệt tiêu mọi hy vọng cầm quyền của Ngô Đình Diệm.
Ông này đã hiểu rất rõ như vậy nên ông đã đến nhà tôi để cảm ơn tôi và bạn Ahon của tôi trong khoảng thời gian vài ngày từ khi ông được Bảo Đại bổ nhiệm đến khi ông lên máy bay về Sài Gòn nhận chức.
Tôi luôn luôn ngạc nhiên tại sao Bà chưa bao giờ bận tâm tìm hiểu tiến trình đã đưa Tổng Thống Ngô Đình Diệm lên cầm quyền.
Đúng là anh bạn Nhu của tôi rất kín đáo. Nhưng một người vợ quyết tâm không lẽ lại không khám phá ra được những bí mật của chồng mình?
Xin gửi Bà lời chào rất trân trọng.
(ký tên Jacques Bénet)

Đính kèm thư của Bà ngày 22 tháng 8-1976

Chú thích:
1)  Bà Ngô Đình Nhu tin rằng việc ông Ngô Đình Diệm lên cầm quyền là hoàn toàn do ý Chúa.
2)  Nước Pháp lúc đó theo chế độ đại nghị, thủ tướng là chủ tịch hội đồng bộ trường.
3)  Khi tôi hỏi ông trong bữa ăn trưa cùng với hai anh Trần Minh Châm và Nghiêm Văn Thạch áp lực nào thì Jacques Bénet mỉm cười nói rằng Bảo Đại ăn chơi cờ bạc nên luôn luôn có nhiều vấn đề, kể cả tài chính.

NGUYỄN GIA KIỂNG/ Thông luận

Được đăng trên ethongluan ngày Thứ hai, 02 Tháng 11 2015 00:52
[Nhấn mạnh và thêm hình minh họa của NamGiao]



Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2015



NGÔ ĐÌNH DIỆM, NƯỚC BẠI THEO MỘT NGƯỜI

Hồ Sỹ Khuê

LGT- Tác giả Hồ Sỹ Khuê là một trong những “mưu sĩ” của hai ông Diệm Nhu không nằm trong Nhóm “Tinh Thần” (Trần Văn Đỗ, Nguyễn Tăng Nguyên,  Lê Quang Luật, …) và đã từng đóng góp một phần vào chánh sách trị nước của ông Diệm trong giai đoạn thành hình của Đệ Nhất Cọng hòa.
Sau 1954, Ông trình bày với hai ông Diệm Nhu một quốc sách dựa vào sức mạnh của lòng dân “Nam kỳ” để xây dựng chiến lược đối phó với phương Bắc. Hai ông Diệm Nhu không nghe, lại dùng “kiêu dân Công giáo”(từ của Tạ Chí Đại Trường) di cư làm chủ lực, gây phân hóa cho miền Nam trên cả ba tuyến Địa phương, Tôn giáo, và Chính trị. Sau đó, khi được mời tham chánh, ông từ chối và trở về dạy học tại trường Jean Jacques Rousseau (Lê Quý Đôn sau nầy) và trở thành người “quan sát thời cuộc”.
Năm 1992, tại Pháp, với tư cách là chứng nhân và tác nhân thời cuộc, ông viết một loạt bài nhan đề “Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh - Lịch trình Hình thành và Giải thể của Mặt trận Giải phóng Miền Nam” đăng trên báo chí hải ngoại. Loạt bài nầy, sau đó, được triễn khai và chi tiết hóa với nhiều tài liệu để được xuất bản thành sách “Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Giải Phóng” (Văn Nghệ, Westminster, USA, 1992) để trình bày luận điểm lịch sử của ông và thất bại của chế độ Diệm trong giai đoạn lịch sử nầy. 

Dưới đây là vài trích đoạn ...
Tác phẩm (Văn Nghệ, USA,1992) và Tác giả (1997 – Hình tư liệu của NG)

MỘT CHẾ ĐỘ TOÀN QUYỀN

Người viết nắm giữ được một số tài liệu liên hệ đến thời điểm khai sinh chính quyền Ngô Đình Diệm, rơi rãi sau ngày lễ Các Thánh 1963. Theo các tài liệu này, có thể nêu lên một số sự kiện ý nghĩa.
Trước tháng 7 năm 1954, khi Bảo Đại chịu áp lực phải đưa Ngô Đình Diệm ra cầm quyền ở miền Nam, và theo yêu cầu của ông Diệm, một người miền Trung am hiểu “Nam kỳ” đã soạn cho ông Diệm một tường trình tình hình chính trị Sài Gòn, thực trạng và sức nặng chính trị của các giáo phái vùng Đồng Nai, Cửu Long. Kết luận bản tường trình này là đừng nhận thức các giáo phái theo quan điểm tôn giáo, mà phải nhìn ảnh hưởng chính trị của họ trong lòng quần chúng “Nam kỳ”. Phải nương theo ảnh hưởng ấy mà đi vào lòng quần chúng “Nam kỳ”, nhất thiết không nên để các giáo phái trở thành đối nghịch. Càng không nên tìm cách chia rẽ giáo phái và quần chúng ấy, để không gây kẽ hở tạo cơ hội cho Cộng Sản chen vào.
Tháng 12 năm 1954, khi Chính phủ Sài Gòn thu hồi dinh Độc Lập người Pháp vừa giao lại, Ngô Đình Nhu có mời một số người trước đây có thiện cảm với ông Diệm, nhưng vì lí do này khác, đứng ngoài vòng không muốn cộng tác với chế độ Diệm. Có người đã nói đến chuyện “tội tổ tông” của chế độ mới và đặt vấn đề hóa giải, nếu muốn miền Nam thoát khỏi ách Cộng Sản. Tóm tắt đề nghị ấy là: khi người “Nam kỳ” không giữ quyền lãnh đạo chính trị, phải chia quyền lãnh đạo ấy với họ, đưa họ vào các trung tâm quyết định của nhà nước, của quốc gia, đặt họ trước trách nhiệm cứu nước. Ông Diệm chỉ nên giữ vai trò đảm bảo cho các chính quyền miền Nam dân chủ và tự do, không Cộng Sản.
Nhưng con người khó thoát khỏi bản chất cố hữu của mình. Ngô Đình Diệm không lột được xác quan lại cũ để vươn lên hàng một chính khách đúng mức đáp ứng các vấn đề Việt Nam lúc bấy giờ. Lại càng không đóng nổi vai trò lãnh đạo trong hoàn cảnh phức tạp, tế nhị bên trong cũng như bên ngoài đất nước. Cho nên Ông không xây dựng một chế độ chính trị mà chỉ thiết lập một chế độ cai trị, hành chánh. Một chế độ “toàn quyền” miền Nam, hệt như chế độ Toàn quyền Đông Dương cũ của người Pháp. Nhà nước Sài Gòn chỉ là một tổ chức quyền lực ghép lên dân chúng trong cõi, như ván ghép ghép vào gỗ.
Hành chánh để cai trị dân thì có. Dùng luật pháp để bảo vệ trật tự trên cơ sở một tổ chức công an cảnh sát giàu phương tiện và bất chấp nhân tình. Các ông huyện Tây học cũ của triều đình Huế được tận dụng, người thì đi các tỉnh lo việc củng cố thế lực còn mong manh của lãnh tụ, người thì ở thủ đô, rập theo khuôn sáo miền Bắc Cộng Sản, tổ chức liên gia, tố cộng, hòng kiểm soát dân chúng.
Nhưng chính trị thì không ! Vì coi nhẹ việc dung hợp nhân dân, ngờ vực dân Đồng Nai Bến Nghé. Cho nên ông Diệm chỉ chọn lọc kỹ lớp khuyển mã người Nam gọi dạ bảo vâng, rồi tự mãn là dành nhiều địa vị cho người “Nam kỳ” đúng theo sự đòi hỏi của tình thế.

Quan trọng hơn cả là việc đối xử với thành phần cựu kháng chiến chống Pháp quay về thành. Năm 1949, nhóm Tinh Thần gồm một số trí thức Sài Gòn ủng hộ Ngô Đình Diệm, đã cưỡng ông Diệm chấp nhận một số tuyên cáo cam kết với anh em kháng chiến sẽ dành cho họ một địa vị, một phần trách nhiệm đúng mức, khi họ trở về với chính thể quốc gia độc lập về sau. Năm năm sau, quả ông Diệm lên cầm quyền, và anh em kháng chiến trở về thành đã chịu nhiều điêu đứng trong cái chế độ cảnh sát trị của ông. (Đồng bào đang ở Pháp có thể tìm gặp Trần Văn Đỗ, một thành viên của nhóm Tinh Thần, để xác minh sự kiện).
Những hy vọng ban đầu của người miền Nam dần dà tan biến. Chính từ đó người trong nước mới bắt đầu ý thức về cái “tội tổ tông” của chế độ Sài Gòn, một chế độ “toàn quyền” có tính cách thống trị mà họ không thể nhìn nhận được.
Một chế độ họ không muốn chấp nhận, sống trong đó họ chịu nhiều tai ương, nên dễ mang tâm lý ly khai. Đây là thời kỳ đảng Cộng Sản tích cực ly gián nhân dân và chính quyền. Tuy vậy, người miền Nam cho là mình ở vào cảnh “trên đe dưới búa”, tới dở lui cũng dở, mà thôi, Cộng Sản chưa lôi cuốn được. Có nhận ra tâm lý ấy mới hiểu sức mạnh của phong trào Phật giáo vào các năm 60, lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm.Sức mạnh của một quần chúng muốn thoát khỏi cảnh trên đe dưới búa, cảnh phải chọn lựa giữa Cộng Sản và Ngô Đình Diệm. Quần chúng ấy đã hội tụ trong phong trào Phật giáo.
Tuy thế, đã có ly cách giữa chính quyền và quần chúng Nam bộ, là có chỗ cho Cộng Sản khuấy động, làm ầm ĩ chuyện Phú lợi, chuyện Ấp Bắc, chuyện Đồng Khởi, một nói thành mười, thành trăm, rồi nhân đó mà cho Mặt Trận xuất hiện công khai năm 1960. Chứ thật tình thời cuộc lúc này chẳng có chi mà sôi động bất thường, và cũng không hề có một phong trào đi bưng ào ạt để thành hàng ngũ cho Mặt Trận. Sức mạnh duy nhất lúc bấy giờ là Phật giáo, không phải là Cộng Sản nép sau Mặt Trận. Bằng cớ là trong tình hình chế độ Sài Gòn sụp đổ đang chông chênh, đảng Cộng Sản không thừa cơ hội mà thao túng nổi.

* * *

TÌNH HÌNH MIỀN NAM NĂM 1960

Để thi hành hiệp định Genève, hai miền Nam Bắc phân định và được các cường quốc chính thức đảm bảo. Kế đến, việc trưng cầu dân ý để thống nhất năm 1956 bị hủy bỏ. Chế độ hai miền đối nghịch nhau nhưng đều có căn bản pháp lý vững vàng. Công cuộc tập kết hai bên đã thực hiện khá tốt, mỗi bên đều bận bịu nhiều, trước hết, vào việc tổ chức cơ cấu nhà nước, xây dựng chế độ riêng, tuyên truyền cho đường lối của mình, kết hợp quần chúng hòng thiết lập quốc gia, giải quyết các nhu cầu cấp thiết của mỗi miền.
Trong hoàn cảnh ấy, và khi hiệp định đã chấm dứt chiến tranh, súng đạn đã im tiếng, thì các hậu ý bên này hay bên kia về một cuộc tranh chấp bằng vũ lực tạm thời phải dẹp sang một bên dành ưu tiên cho việc củng cố nền tảng của chế độ.
Cho nên, hòa bình đã tái lập cứ thế mà kéo dài. Và có thể nói là suốt chín năm chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, miền Nam đã sống thanh bình, quần chúng miền Nam dành công sức để xây dựng lại đời sống của mình, trong không khí thanh bình ấy, ở các đô thị cũng như ở thôn quê.

QUẦN CHÚNG MIỀN NAM
Nói đến quần chúng miền Nam lúc bấy giờ, là nói đến một hỗn hợp phức tạp.
Thành phần đông đảo hơn cả là người “Nam kỳ”. Những người đang sống trên chính đất gốc của mình, đất “Nam kỳ”, từ nay trở thành nền tảng lãnh thổ quốc gia: 65% dân số.
Tương lai của quốc gia từ vĩ tuyến 17 đổ xuống tất nhiên tùy thuộc vào đất “Nam kỳ” và vào người “Nam kỳ”. Đất phì nhiêu đủ nuôi ăn cả nước. Người có mức độ văn hóa, chuyên nghiệp cao hơn nơi khác. Gồm sẵn một số cơ sở thương nghiệp, kỹ nghệ có thể làm bước đầu cho việc phát triển kinh tế lúc bấy giờ là một ưu tiên.
30% dân số khác của miền Nam gồm người đất “Trung kỳ” bên dưới vĩ tuyến 17. Chật vật nhiều xưa nay, nhưng vẫn không khỏi phải nhờ đến lúa gạo “Nam kỳ” để có thể giáp mùa hàng năm. Thành phần còn lại, 5%, là đồng bào Bắc Việt di cư. Và một số vài ngàn người, từ Bắc từ Trung, theo nhân vật lãnh đạo vào Nam thiết lập chế độ mới. Gồm quan lại, công chức cũ, cùng tập đoàn tay chân, sớm có muộn có, đã quây quần dưới trướng ông Ngô Đình Diệm. Lấy thành phần di cư làm căn bản quần chúng, lấy tay chân làm nòng cốt cho chế độ Cộng Hòa.

TƯƠNG QUAN GIỮA CHẾ ĐỘ VÀ QUẦN CHÚNG
Ngô Đình Diệm thiết lập chế độ của mình trên những thành phần nhân dân phức tạp như vậy mà nhất đán không gặp một khó khăn nào từ quần chúng. Những khó khăn buổi đầu ông đã vấp phải đều do nguồn gốc tương tranh quyền lợi giữa ông và các thế lực đối đầu với ông (như Bình Xuyên, như Nguyễn Văn Hinh), quần chúng miền Nam nói chung không can dự vào.
Điều đáng nêu lên trước hết, là tinh thần “Nam kỳ quốc”, trước kia thường được nhắc đến để dè bỉu người Nam, xem như là một trở ngại lớn cho tinh thần thống nhất dân tộc, nay không thấy phát hiện. Tuy điều kiện để nó phát hiện đã có đủ, nhất là khi quyền binh nằm trong tay một người không phải gốc “Nam kỳ”.
Người “Nam kỳ” không đố kị chút nào với chế độ mới, trong đó họ không được dành một phân quyền lực xứng đáng với tầm quan trọng của họ. Không đố kỵ chút nào với nhân vật cầm đầu chế độ, họ chưa hề nghe nói đến tên tuổi, mà nay làm chủ phần đất gốc gác của họ.
Người ta có thể thấy rõ thái độ cởi mở ấy trong cách đồng bào miền Nam tiếp đón đồng bào miền Bắc di cư. Sốt sắng, thân tình. Các khu định cư người Bắc ở Cái Sắn, ở Biên Hòa, được bà con địa phương nâng đỡ, chẳng bao lâu đã trở thành những vùng an sinh phồn thịnh.

Thái độ tích cực ấy bắt nguồn từ bản chất, từ tính tình của người Nam kỳ. Đời sống thường dễ dãi, không hề phải lo đói, nên họ có một tâm hồn thật cởi mở, thương người. Tính tình phóng khoáng ấy khiến họ hầu như không có tham vọng quyền bính. Lòng yêu nước thành truyền thống từ thuở Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân cần vương, khiến họ giữ được tinh thần dân tộc dù trải 80 năm thuộc địa bị tách rời khỏi phần kia của đất nước2. Không hề có đầu óc phân ly.
Người “Nam kỳ” không có đầu óc phân ly như người Trung, người Bắc thường lo sợ.
Nhưng điều oái oăm là, với chế độ Ngô Đình Diệm, tinh thần phân ly được phát động mạnh mẽ và ngược chiều.
Thay vì người “Nam kỳ” phân ly với chế độ cưỡng chế họ dưới quyền một người không cùng gốc, thì chế độ này lại tự phân ly với người “Nam kỳ” bằng chính sách Bắc trị trên đất Nam kỳ.
Tính phân ly ngược chiều ấy nằm trong bản chất của chế độ và bản chất của nhân vật cầm quyền, ông Ngô Đình Diệm.
Nằm trong bản chất của người cầm quyền chính, vì ông Diệm xem mình như đương nhiên mang mộtthiên mệnh cứu dân, cứu nước. Tính khổ tu và óc tôn giáo của ông đã khiến ông nhìn đâu cũng chỉ thấy có tội lỗi. Càng thấy tội lỗi rõ hơn ở những ai không đứng cùng một phía với ông. Người khác đạo, người khác gốc, người ngoài vòng gia đình, ngoài vòng thân thuộc của ông, người nghĩ khác, nói khác ông, đều có thể là những người tội lỗi. Quan niệm thiện ác được ông mang áp dụng trọn vẹn và cứng ngắc ở phạm vi quyền chính ông cầm trong tay. Nhưng thiện hay ác do ông định nghĩa lấy. Thành ra ngờ vực là căn bản sinh hoạt chính trị của ông. Coi thường người khác là căn bản trong thái độ đối xử của ông. Cho rằng ai cũng phải thần phục mình, trung thành với mình, tôn thờ mình là căn bản suy tưởng của ông.
Từ bản chất ấy, từ thái độ ngờ vực người khác ấy, từ quan niệm thiên mệnh ông mang, ông đã tập họp rồi dung túng quanh ông một lớp tay chân và một lớp khuyển mã, đau đáu giữ gìn thế nào cho khỏi thất sủng, hơn là làm được việc cho ông.
Thành ra một thứ triều đình, tách rời chế độ và người cầm đầu chế độ xa lìa quần chúng trong nước. Mà thành phần chủ yếu của quần chúng này, như nói ở trên, là người “Nam kỳ”.
Phần khác, ưu tư tôn giáo, nhu cầu củng cố thế lực, khiến ông Diệm xem thành phần Bắc Việt di cư là căn bản chủ yếu của chế độ. Dùng họ làm lực lượng hậu cần của chế độ, ông Diệm ly khai hẳn với thành phần đa số là người Nam kỳ. Từ tâm lý ly khai ngược chiều ấy, ông đi đến tâm lý kỳ thị người Nam, xem họ không xứng đáng trong cái nhìn “yêu nước” của ông.

MỘT CHẾ ĐỘ BẮC TRỊ, GIA ĐÌNH TRỊ, VÀ CẢNH SÁT TRỊ
Chế độ được thiết lập cũng mang bản chất phân ly. Nhất thiết không có một người “Nam kỳ” nào tham dự vào trung tâm quyết định nhà nước, từ trung ương đến địa phương. ở thượng tầng, của đáng tội, người Nam, người Trung hay người Bắc đều bị kỳ thị hết. Chẳng có ai chen vào trung tâm quyết định việc nước dành riêng cho các anh em ông Diệm (người trong nước gọi chung là gia đình trị). Nhưng ở các địa phương, hàng tỉnh trưởng gồm toàn tay chân, thân tín người Bắc, người Trung, không có lấy một người Nam nào (người trong nước gọi là Bắc trị).
Dân chúng thủ đô Sài Gòn biểu tình chống "Gia đình trị Ngô Đình Diệm
trong chính biến của binh chũng Nhảy Dủ ngày 11-11-1960. 
Nhưng tai hại hơn cả là tính phân ly của một thứ chế độ mà bản chất không phải là chính trị mà là cai trị. Vấn đề chính của ông Diệm nằm trong quan niệm phải củng cố rồi nắm vững quyền bính cá nhân của mình để chống Cộng. Chứ không phải xây dựng một miền Nam không Cộng Sản, hưng vượng, phát triển tự do, để làm nổi bật những giá trị văn hóa, xã hội, nhân sự, khiến ai cũng thấy rõ một miền Nam đáng cho người chuộng tự do, chuộng nhân phẩm chọn làm đất sống. Thành ra chế độ không đặt nặng vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, mà đặt nặng vấn đề an ninh. Vấn đề chính của ông Diệm là cai trị, không phải là chính trị. Từ bản chất ấy, nền móng của chế độ là tổ chức công an, mật vụ. Chi chít đến nỗi các anh em của ông mỗi người đều có riêng một tổ chức mật vụ hoạt động cho chủ mình, bất chấp luật pháp(người trong nước gọi là cảnh sát trị).
Ghép lên tính phân ly của chế độ, của người lãnh đạo, dần dà thái độ phân ly của các bộ hạ tay chân. Nhất là ở các địa phương. Từ đó nạn cường hào ác bá trở nên một tệ nạn cuối cùng tách hẳn quần chúng “Nam kỳ” khỏi chính quyền. Ưu tư của nhân dân và ưu tư của chính quyền từ đó trở nên trái ngược với nhau, vấn đề của nhân dân không phải là vấn đề của nhà nước, và ngược lại. Lợi cho chế độ là hại cho dân, hại cho chế độ là lợi cho dân. Sau cùng, đó là tâm lý thấy được của người “Nam kỳ” trong các biến cố khuynh đảo chế độ Ngô Đình Diệm các năm 1960 đến 1963. Cảnh hoan lạc của nhân dân miền Nam ngày lễ Các Thánh năm 1963 biểu hiện rõ rệt sự phân cách hoàn toàn giữa chế độ ông Diệm và quần chúng “Nam kỳ”. Cái chết của ông Diệm, ông Nhu là nỗi vui chung của cả nước, vui đúng, vui sai lại là chuyện khác.
Tình trạng phân ly giữa chính quyền và nhân dân ấy đã tạo thời điểm cho phe Cộng Sản đưa Mặt trận ra ánh sáng năm 1960.

* * *

NGÔ ĐÌNH DIỆM ĐÁNH MẤT DÂN MIỀN NAM
PHÂN CÁCH GIỮA CHẾ ĐỘ VÀ NHÂN DÂN MIỀN NAM (trước 1975)
Hiệp định Genève, mang chữ ký các cường quốc, đảm bảo cơ sở quốc tế công pháp của Sài Gòn, đối diện với Hà Nội.
Chính quyền còn phải được thiết lập, trên căn bản nhân vật lãnh đạo là người mới muốn dứt khoát với thực trạng cũ mình không dự phần. Nhằm mở một kỷ nguyên khác theo nguyện vọng chung trong nước. Mọi việc phải bắt đầu lại trong một bầu không khí vừa phấn khởi, vừa thiếu ổn định, của một xã hội từ chiến tranh đi vào hòa bình. Tình huống nhân dân còn lẫn lộn, phức tạp, tâm trạng mọi người chưa lắng đọng kịp.
Mục tiêu dài hạn: xây dựng miền Nam không Cộng Sản thành một quốc gia phát triển vững mạnh, tự do, dân chủ, có đủ giá trị hấp dẫn, chờ ngày thống nhất.
Ngô Đình Diệm, sau gần năm năm sống ở ngoài, về nước cầm quyền tháng 7-1954 trong hoàn cảnh nói trên. Với nhiều lẽ thuận, nhiều lẽ nghịch, chủ quan có, khách quan có. Phải nhận ra trước, để hiểu các sự việc về sau làm sụp đổ miền Nam.

Lẽ thuận : Hậu thuẫn quốc tế và quần chúng trong nước.
A. Quốc tế:
- Sức ủng hộ của Hoa Kỳ, dựa trên thế lực Công giáo ở Mỹ, và của thế giới tự do. Nhiều hứa hẹn viện trợ kinh tế, để phát triển (chương trình Colombo, cơ quan USAID), việc trợ kỹ thuật, viện trợ quân sự, để phòng thủ (tổ chức Liên phòng Đông Nam Á SEATO).
- Pháp từ bỏ quyền bá chủ Việt Nam. Quân đội Pháp trú đóng chỉ giữ nhiệm vụ trật tự thi hành hiệp định, sớm muộn phải rút. Ba Lê mong giải kết duyên nợ thuộc địa một cách thuận lợi, hòng mưu cầu lợi ích kinh tế lâu dài sau đó.
- Các nước Đông Nam Á, nhất là Cao Mên và Lào, đang lo ngại đà tiến của Cộng Sản, xem miền Nam như một tiền đồn, sẵn sàng ủng hộ một cách kín đáo.
- Chiến tranh nguội chia thế giới thành hai khối: Cộng Sản và dân chủ tự do. Khối các nước tự do chờ những kết quả sơ khởi của Sài Gòn để ủng hộ và giúp đỡ cụ thể.
B. Nội Bộ:
- Ngô Đình Diệm là người mới, không dính líu trong chế độ Quốc trưởng. Lại được tiếng là yêu nước, đạo đức, liêm khiết, các đức tính thời thượng lúc bấy giờ.
- Trong địa vị Thủ tướng, được toàn quyền hành động, không chịu chỉ thị, không có kiểm soát của Bảo Đại. Một năm sau làm Tổng thống.
- Đất nước đi vào Hòa bình, nhân dân náo nức, lạc quan. Ông Diệm không phải là người có công mang lại hòa bình, nhưng được hưởng cái lợi tâm lý do hoàn cảnh ấy tạo nên.
- Cuộc di tản vĩ đại của một triệu đồng bào miền Bắc, bỏ mồ mả quê hương, vào Nam tránh nạn Cộng Sản, chọn lựa miền Nam quốc gia theo ông.
  
2. Lẽ Nghịch: Một thế giới thiên vị và mù quáng.
A. Quốc tế:
- Miền Nam là đối tượng bành trướng của quốc tế Cộng Sản, sau Trung Quốc (1949) và sau miền Bắc Việt Nam (1954).
Chiến lược và mưu đồ xích hóa thế giới nhằm việc thôn tính miền Nam đến cùng. Nhiệm vụ tiền phương thuộc phần Hà Nội. Một nhiệm vụ quốc tế, hoàn toàn không phải là một nhiệm vụ dân tộc. Song song, Bắc Kinh giữ nhiệm vụ hậu cần. Đầu não là Mạc Tư Khoa.
Thành ra, giữa Mỹ và Sài Gòn, quan hệ chỉ có tính cách viện trợ phương tiện, ủng hộ tinh thần, để bảo vệ tự do cho một quốc gia nhỏ, trong mức độ tán đồng của dư luận nội bộ Hoa Kỳ. Mà dư luận một nước dân chủ thì lại dễ giao động đến có thể xoay ngược chiều. Việc ủng hộ và viện trợ không thể vô giới hạn, cũng không thể kéo dài mãi được, nếu không đạt kết quả sớm. Hiệp định Ba Lê 1973 là một minh chứng. Chính dư luận Mỹ đã buộc Hoa Thịnh Đốn bỏ rơi Sài Gòn.
Trái ngược hẳn lại, giữa Liên Xô và Hà Nội, quan hệ là chuyện phân chia công tác và nhiệm vụ nhắm một cứu cánh chung : xích hóa thế giới. Hà Nội đứng ở tuyến đầu. Bắc Kinh tuyến hậu. Mạc Tư Khoa là trung tâm chỉ đạo và lãnh đạo. Cho nên không phải là chuyện viện trợ và ủng hộ. Mà là chuyện bành trướng của khối Cộng Sản thế giới.
Nhiệm vụ này trường kỳ. Thế giới từng bước một phải rơi vào tay Mạc Tư Khoa, nhân danh cách mạng vô sản. Không giới hạn phương tiện về công sức, về của cải. Không giới hạn về nhân mạng, về tai ương của chiến tranh. Cho nên không có chuyện Mạc Tư Khoa bỏ rơi Hà Nội vì lẽ này hay lẽ khác, như Hoa Thịnh Đốn đã bỏ rơi Sài Gòn vì quân đội Mỹ thiệt hại nhiều.
Nói cho cùng : Sài Gòn khác. Hoa Thịnh Đốn khác. Nhất đán vì quyền lợi chung có thể đi với nhau, nhưng vẫn là hai. Mạc Tư Khoa và Hà Nội lại chỉ là một. Trong vấn đề Nam Việt Nam.
Như thế, Sài Gòn không phải chỉ đương đầu với Hà Nội, mà thực sự phải đương đầu với toàn khối Cộng Sản, không những với Mạc Tư Khoa mà còn cả với Trung Hoa, với Đông Âu. 
- Trong khối các nước dân chủ Tây phương, khái niệm cách mạng thế giới chống tư bản chủ nghĩa đang hồi thời thượng. Giới trí thức, nhất là tả phái, bị mê hoặc theo những giá trị họ ngưỡng mộ là cách mạng, sẽ thay đổi được thế giới, thay đổi được con người, tranh nhau tán dương Cộng Sản, tâng bốc Liên Xô là thiên đường hạ giới. Jean Paul Sartre đã không ngần ngại tuyên bố: “Chỉ có là chó mới chống Cộng”. Vì thế, trong vấn đề Việt Nam, họ luôn luôn về hùa với Hà Nội. Solzhenitsyne chưa sang Tây Âu, ảnh hưởng của họ có tính cách thời thượng, làm thiệt hại nhiều cho miền Nam khi muốn vận động dư luận quốc tế, vận động ngoại giao, để bênh vực cái thế của mình.
Đến cả tướng De Gaulle, trong tuyên ngôn ở Nam Vang của ông, trên đường công du thuộc địa Nouvelle Calédonie, lên án Mỹ can thiệp vào Việt Nam, cũng đã có một ảnh hưởng thật tai hại cho Sài Gòn. Tuyên ngôn của ông đã được xem là một trong các yếu tố đưa đến thất bại của Hoa Kỳ ở miền Nam.
- Các nước Đông Nam Á chưa đạt đến mức phát triển khả quan, nên tổ chức ASEAN chưa hình thành được như hiện nay để có một tiếng nói chung bênh vực Sài Gòn, mà thế giới không thể không chú ý đến được.
- Các nước trong thế giới đệ tam, tuy gọi là trung lập nhưng lại thiên Hà Nội vì muốn gần Liên Xô.
- Ông Diệm thù người Pháp nên không biết lợi dụng việc họ có mặt và ảnh hưởng ở miền Nam, như quân đội Nhật đã làm từ 1941 đến 1945, như ông Hồ Chí Minh đã làm từ 1945 đến 1946.

B. Nội Bộ:
- Tội tổ tông của chế độ Ngô Đình Diệm: Miền Nam chỉ là đất Nam kỳ mở rộng, ông Diệm không phải gốc Nam kỳ và người Nam kỳ không biết ông Diệm mà chỉ nghe đồn về ông mà thôi.
- Mặt tiêu cực trong con người ông Diệm.
1. Thiếu tầm vóc:
Không có đủ tầm vóc một lãnh tụ quốc gia, một chính khách quốc tế. Vì học thức giới hạn, kiến thức thiếu sót, nên không am hiểu đến nơi các biến chuyển lớn trong thế giới, sau thế chiến thứ hai; không nhìn rõ được các vấn đề đất nước, trong thời điểm thiếu ổn định về mọi mặt sinh hoạt xã hội lúc bấy giờ, khi hòa bình trở về và đất nước qua phân. Thành ra không phân biệt được vấn đề chính, vấn đề phụ, và định sai thứ tự ưu tiên các công việc phải làm.
2. Nhân sinh quan hẹp hòi:
Ông Diệm trọng đạo đức, thuần thành về tín ngưỡng. Đau đáu lo giữ mình đến nỗi quên người, nên sợ kẻ khác làm hỏng việc mình. Thành ra không giám tin ai và thường ngờ vực tất cả, hóa ra người lãnh đạo mà rất quả giao. Lẫn lộn tốt, xấu, theo đạo đức bình thường, với điều hay, dở, trong hành động nhà nước. Cuối cùng đi đến độc tôn, độc đoán, mình cho là phải mình cho là trái đều là phải, là trái, không ai cãi được. Nên không chịu nổi ai nói khác mình, không chấp nhận đối lập.
3. Không dám tin người:
Thung dung được với người thân tín sẵn, mà lúng túng với người chưa quen. Thành ra chỉ biết có anh em, thân quyến trong gia đình, chỉ gần tay chân bộ hạ. Khi lên cầm quyền, trong vấn đề dùng người, chỉ chọn kẻ chịu làm tay sai, không chọn người cộng tác ngang hàng.
 4. Quan liêu gia đình:
Gia đình và thủ túc nhiều tham vọng quyền lực, quyền lợi. Từ Trung, từ Bắc vào, làm thêm nặng cái tội tổ tông của chính quyền Diệm.
5. Xung khắc về bản chất giữa ông Diệm và dân Nam kỳ:
Nam kỳ dưới chế độ thuộc địa trực trị có luật pháp rõ ràng, nên được đảm bảo ít nhiều tự do. Nay kháng chiến thành công, dân tại chỗ đòi dân chủ, không sẵn sàng chấp nhận một nhà nước câu thúc quá đáng. Ông Diệm, xuất thân là đại thần triều đình Huế cũ, cá tính con người ông không để cho ông sử dụng quyền bính cách khác hơn là quan liêu, lệnh từ trên ban xuống, không có đối thoại, trao đổi với ai.
Người Nam kỳ tính phóng khoáng, cởi mở, cả tin, không có tham vọng quyền bính, không bận tâm chính trị mấy. Vì thế, mà sau kinh nghiệm kháng chiến, họ không thích Cộng Sản, nhưng đã từng tranh đấu với nhau, họ không chống Cộng. Ông Diệm và tả hữu tay chân lấy việc chống Cộng làm quốc sách, chê người Nam kỳ là ấu trĩ.
6. Không biết sử dụng thành quả kháng chiến Dân Tộc:
Thành quả kháng chiến là niềm tự hào của dân Nam kỳ. Nhưng lại là vết hằn trong tâm thức ông Diệm. Quần chúng Nam kỳ kháng chiến theo truyền thống Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân v.v... để giải phóng đất nước. Không phải để theo Mác, theo Lênin. Họ xem kẻ thù chính là thực dân Pháp.
7. Ông Diệm không tham dự kháng chiến.
Đứng ngoài vòng một thời, và một thời gian sau đó xuất ngoại sang sống ở Hoa Kỳ. Sự kiện lịch sử này có thể giải thích. Kháng chiến do người Cộng Sản lãnh đạo. Quần chúng nhằm mục đích ngắn hạn tranh thủ độc lập, không cần nhìn xa hơn để ngờ vực, Cộng Sản mưu đồ cách mạng vô sản thế giới, không cần chú ý đến mục đích dài hạn của đảng Cộng Sản. Ông Diệm chống Cộng, kẻ thù chính của dân tộc, trong con mắt ông, là Cộng Sản. Ông không thể tham dự kháng chiến, không thể tranh đấu dành độc lập chung với Cộng Sản. Một phần vì ông không chấp nhận lãnh đạo Cộng Sản trong kháng chiến. Phần khác, ông muốn tranh đấu giành độc lập theo một đường lối khác. Thái độ ông khả kính. Đường lối ông có giá trị. Nehru ở Ấn Độ, Soekarno ở Nam Dương chứng minh nhận xét này. Và có lẽ họ đã mở đường cho ông Diệm. Cho nên, nhất thời, ông không thể để cho phong trào quần chúng trong nước lôi cuốn vào cuộc kháng chiến mà ông biết về sau tất nhiên bị Cộng Sản lợi dụng. Lịch sử sẽ ghi nhận định của ông là đúng.
Kháng chiến thành công. Pháp phải từ bỏ quyền bá chủ Việt Nam và ông Diệm được đưa lên cầm quyền trên nửa phần phía Nam đất nước. Trên đó Nam kỳ là địa cư chính và trọng yếu nhất. Đây là cớ sự tạo một mặc cảm thật tế nhị, thật phức tạp, trong tâm thức con người Ngô Đình Diệm.
Nam kỳ kháng chiến đã phần nào ngược với chủ trương chống Cộng của ông. Nên ông mặc cảm như phong trào này cũng chống ông. Nay kháng chiến thành công trên mảnh đất Nam kỳ ông trực tiếp tiếp thu kết quả. Trong tiềm thức ông, ông thấy có chi đó bất ổn. Tâm lý tự xem mình là người phi thường khiến ông hóa giải điều bất ổn này một cách sai lạc. Đến chỗ đố kỵ người Nam kỳ.
8. Mặc cảm đố kỵ người Nam kỳ.
Những người từ nay bị đặt dưới quyền ông, ông Diệm muốn thoát ngoài tình trạng này bằng cách đặt mình lên trên lẽ thường của mọi người. Cách xử sự này hợp với bản tính tự cao tự đại của con người ông. Đưa ông đến việc cho mình là người mang một sứ mệnh thần thánh cứu dân, cứu nước, không cần phải theo sát tâm lý, nguyện vọng “thiển cận” của nhân dân. Nhất là nhân dân Nam kỳ, đương nhiên thuộc trách nhiệm lãnh đạo của ông.
Tâm lý tự tôn để tự ổn này được gia đình ông, tay chân bộ hạ ông cổ súy, phụ họa vào. Cớ sự này đã tạo nên cho ông, cho tả hữu quanh ông, một tâm trạng kẻ cả mà người miền Nam từng biết rõ, và đã tạo ảnh hưởng nặng nề cho tư thế lãnh đạo của ông.
Tâm trạng kẻ cả của ông Diệm, của gia đình và tả hữu ông, đối với dân Nam kỳ, có thể tóm tắt trên vài điểm chính:
Người Nam kỳ thiếu ý thức chính trị (hàm nghĩa: ồ ạt chạy theo Cộng Sản để kháng chiến).
Người Nam kỳ ấu trĩ về văn hóa. Vụ tờ báo “Tự Do” của Phạm Việt Tuyền nêu nhận định là “Nam kỳ không có văn chương” đã một thời khiến dân Nam kỳ phẫn nộ.
Người Nam kỳ đạo đức thấp. Ông Diệm và thân quyến đã võ đoán như vậy khi thấy xã hội Nam kỳ, dù muốn dù không, cũng chịu ảnh hưởng sinh hoạt của người Tây phương nhiều hơn đồng bào các nơi khác.
Người Nam kỳ phản quốc. Hàm ý họ hết theo Pháp thì theo Cộng. Ngô Đình Nhu đã nói lên lời: “les Cochinchinois sont des traitres” (dân Nam kỳ là phường phản bội) với người viết, ngay tại sảnh đường dinh Độc Lập. Và cũng chính Nhu đã muốn dựng lên Vụ án Tôn Thọ Tường, giao cho một Hội Đồng Nhân Sĩ tay chân tổ chức. Một người hiểu chuyện, đã bảo Nhu: “Người Nam kỳ từng cùng Phan Văn Trị lên án Tôn Thọ Tường. Tường làm việc cho thực dân 60 năm trước Ngô Đình Diệm là phản quốc,vậy Diệm làm việc cho thực dân 60 năm sau Tường, lại không phải là phản quốc hay sao?” Việc làm lố bịch này phải dẹp sớm, nên ít người biết.

NƯỚC BẠI THEO MỘT NGƯỜI
Chế độ miền Nam do ông Diệm thiết lập, phải đương đầu với các lẽ thuận, lẽ nghịch, được nêu ở phần trên. Và tùy thuộc vào các ưu điểm, khuyểt điểm của con người Ngô Đình Diệm.
Những công trình nhân sinh cỡ lớn không thể nhất thiết đòi hỏi đủ điều kiện thuận lợi để tiến hành. Ông Diệm đi vào sự nghiệp ông từng mong mỏi thực hiện, trong những điều kiện nói chung khá tốt. Tương lai thành hay bại tùy thuộc ông có biết khai triển đúng mức hay không các lẽ thuận, giải tỏa các lẽ nghịch. Tùy thuộc ông biết lợi dụng các ưu điểm của mình, biết khắc phục các khuyết điểm của mình đến một mức hiệu quả.
Ngô Đình Diệm có đủ lẽ để thành công. Tiếc là ông đã thất bại. Đưa đến thất bại chung của miền Nam. Rồi của cả dân tộc.
Ông Diệm đứng ra thành lập chế độ miền Nam với các lẽ thuận, nghịch gắn liền vào đó, như đã phân tích trong bài trước. Việc thành hay bại tùy vào tâm mức lãnh đạo của ông, biết hay không biết khai thác lẽ thuận, khắc phục lẽ nghịch, tiên quyết không nhất định là thế nào được.
Thời thế có thể tạo anh hùng. Nhưng người lãnh đạo giỏi đạp lên thời thế mà tiến thành anh hùng. Kinh nghiệm đã qua cho thấy ông Diệm không thuộc hạng lãnh đạo ấy. Không phải là một “homme d’Etat”.
Từ bài này, người viết sử dụng tài liệu một người bạn thân, vượt biển, gửi lại vì không mang theo được. Tài liệu ghi nhận những cuộc thảo luận giữa anh ta và anh em ông Diệm, từ sau 1945 cho đến cuối năm 1954, khi họ bàn về đường lối nên theo, và chính sách phải có, khi ông Diệm nắm được quyền hành.
Người viết giữ việc trình bày cho được mạch lạc, không can thiệp vào nội dung tài liệu. Để bạn đọc có thể thấy có người đã đề nghị với ông Diệm một đường lối lãnh đạo, một chính sách cầm quyền khác những gì anh em ông đã làm, nhưng lại đúng theo những gì ông Diệm đã tiên tri và tiên liệu sẽ làm.

* * *

BA ĐIỀU BẤT HẠNH CHO ĐẠI CUỘC VIỆT NAM

1. Bất hạnh trong việc giải phóng đất nước khỏi bàn tay ngoại bang.
Ông Diệm ở hải ngoại năm năm. Kéo dài đến bốn năm trên đất Mỹ, sau đó mới sang Âu Châu, ở Pháp và ở Bỉ. Ngoài ra, ông không đặt chân lên một nước nào khác. Nhất là một nước Á Châu.
Ở Hoa Kỳ, ông quanh quẩn trong bóng tối thanh tú của các nhà dòng Công giáo. Sang Pháp, sang Bỉ cũng thế. Ông không dấn thân hoạt động đánh vào dư luận các nơi, không liên lạc, giao thiệp với các chính khách quốc tế, không gần gũi vận động kiều bào. Ông dành công việc chính ông phải làm lấy cho các bào đệ Nhu, Luyện của ông. Họa hoằn, nhờ có nhà dòng móc nối, ông giao thiệp với một hai nhân vật Mỹ rất hiếm hoi, cỡ Hồng Y Spellman, cỡ Thượng nghị sĩ Mansfield.
Tên tuổi ông, báo chí quốc tế không thấy nhắc đến. Tiếng tăm ông chẳng vang dội một nơi nào. Ông không hề xuất hiện trước dư luận thế giới. Như Gandhi, Nehru, Sukarno đã từng làm, khi họ còn phải tranh đấu cho độc lập của xứ sở họ.
Thành ra khi người Mỹ dùng áp lực đưa ông lên cầm quyền, thế giới không biết ông là ai, không thấy ông có tầm vóc nào đáng kể, nên xem ông chỉ là một lá bài của Hoa Kỳ. Người trong nước, nhất là dân Nam kỳ, trừ những người hiếm hoi biết ông trước kia là một vị Thượng thư trẻ tuổi của triều đình Huế, chống Pháp mà từ chức, đa số không biết ông là ai, chưa hề nghe nói đến ông. Chỉ thấy có người Mỹ đưa ông lên.
Không trách được người trong nước, người nước ngoài, xem ông là “một con cờ của Mỹ”. Điều ông không hề muốn, nhưng lại là lỗi của ông. Đúng hơn, điều biểu thị sự bất tài của ông.
Và nhất là điều bất hạnh cho đại cuộc miền Nam. Đại cuộc lúc này là việc giải phóng đất nước khỏi tay ngoại bang. Nhất đán xuất hiện là một “lá bài Mỹ”, đè nặng lên tương lai của chế độ. Tuy vậy, điều bất hạnh này chưa có ảnh hưởng ngay. Bởi lẽ, khi đã chia cắt, miền Nam thấy cần có một cường quốc giúp đỡ, nhất là Hoa Kỳ, để quân bình với miền Bắc, có Liên Xô và Trung Quốc đứng sau. Miền Nam không thể tồn tại được, nếu đứng lẻ. Thành ra, dù sao, ông Diệm cũng biểu hiện cho một hi vọng. Thêm vào đó, ông không có tai tiếng chi, nhờ đứng ngoài thời cuộc từ trước. Dư luận miền Nam mặc nhiên chấp nhận ông. Chỉ mong ông đừng để miền Nam trở thành phụ dung của Mỹ, mà chỉ là thân Mỹ.
  
2. Bất hạnh thiếu tài lương đống
Ông Diệm biết mình có thể lên cầm quyền, ba tháng trước. Ông lên cầm quyền ngày 7-7-54. Ngày 21-7-54 Hội nghị Genève kết thúc, chia hai Việt Nam , và giao cho ông miền Nam.
Trong thời gian 4 tháng thật quyết định ấy, ông vẫn ù lì như suốt 4 năm ở Mỹ trước kia. Ông không đích thân hoạt động. Mọi việc giao cho hai ông em, Nhu và Luyện, làm thay. Trong tinh thần chung của gia đình này, họ chỉ liên lạc ngầm, hoạt động trong bóng tối. Nên chỉ tiếp xúc với một số người thật hạn hẹp.
Không thấy tấn công vào dư luận thế giới, vào các cơ quan truyền thông quốc tế, buộc họ phải nói đến ông, đến giải pháp ông đề ra, và sẽ thực hiện. Không thấy công khai nêu lên một đường lối, một chính sách nào. Để cho thế giới, thông qua báo chí, biết đến một giải pháp Ngô Đình Diệm. Cũng không thấy vận động kiều bào. Để làm sáng tỏ tư cách một lãnh tụ quốc gia có hậu thuẫn, có lập trường, có đường lối, có khả năng, hòng tranh thủ cảm tình kiều bào đang bị Cộng Sản ve vãn. Hình như Việt kiều phải tự mình nhận ra “sứ mệnh cứu nước của Cụ”. Bằng không, họ chỉ là những người thân Cộng, không cần mở mắt cho họ làm gì. Cho nên, quanh quẩn chỉ tập họp một số kiều bào Công giáo, một số ít “học trò cũ của Đức Cha”4 để chọn sẵn một mớ tay chân về sau.
Ngay chính trong nước cũng thế. Phong trào “Đoàn Kết” Ngô Đình Nhu dựng lên, quanh quẩn ở Sài Gòn, tập họp tay chân đã có rồi, với một số thân hữu cũ trong nhóm “Tinh Thần”, hờm sẵn như chờ chia một món gia tài. Còn quần chúng trong nước, ở Đồng Nai, Bến Nghé, Cửu Long hay ở Thăng Long, ở Thuận Hóa, phong trào không thấy “đoàn kết” với ai khác, và cũng không mấy người nghe nói đến.
Hoạt động của ba anh em ông Diệm, ba tháng trước ngày cầm quyền, là cố gắng tìm mọi cách gây tín nhiệm với Bảo Đại, để ông này chịu ký Dụ trao quyền chính cho. Kể cả việc tuyên thệ trung thành này nọ với Bảo Đại. Kể cả sai Ngô Đình Luyện đi Cannes biếu Bảo Đại một chiếc ô-tô sang trọng. Trong lúc Pháp cầu Hoa Kỳ, Mỹ muốn là trời muốn. Bảo Đại không muốn cũng không xong.

Khi lịch sử chận đứng kim đồng hồ
Rồi ngay cả thời gian lên cầm quyền ngày 7 tháng 7, cho đến lúc Hội nghị Genève kết thúc ngày 21-7, ông Diệm nhất thiết không hề đích thân xuất hiện ở hội trường Genève, không muốn tham dự thảo luận, không thấy phải cầm đầu đoàn Việt Nam quốc gia. Mà gởi đến đó ông Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ về phía Việt Nam.
Ba mươi ngày cuối cùng của Hội nghị, đủ cho cả thế giới và riêng nước Pháp thấy thế nào là một “homme d’Etat”5. Trái lại, lịch sử cận đại đã ghi thật đậm nét cho Mendès France.
Ông Mendès France đã dọa bỏ cuộc, nếu không kết thúc được hội nghị vào đúng 24 giờ ngày 21-7-54. Nhưng một giờ trước khi các lãnh tụ thế giới tham dự hội nghị ký tên vào Hiệp định, cho kịp hạn định ông Mendès France đưa ra. Phái đoàn Cambốt đã nhân hạn định ấy mà đưa ra một đòi hỏi mới, bênh vực cho quyền lợi nước mình. Để tránh việc Thủ tướng Pháp bỏ cuộc, Molotov và Eden đồng Chủ tịch Hội nghị, không những vận động các phái đoàn thỏa mãn yêu sách bắt chẹt của Cambốt, mà còn phải kéo lui kim đồng hồ cho đừng đổ vội 12 tiếng khuya 21-7, hòng có đủ thì giờ chữa lại bản thảo hiệp định kẻo Mendès France rút lui.
Từ ông Diệm lên cầm quyền đến Hội nghị chấm dứt có hơn 3 tuần lễ. Ông không thấy (hay ông ngại) cơ hội để ông chen vai với các lãnh tụ quốc tế khác. Cơ hội để ông đích thân tham dự đến ngay hội trường mở một cuộc tấn công ngoại giao, bênh vực quyền lợi đất nước, trình bày lập trường quốc gia. Cho mọi người thấy được tầm vóc quốc tế của ông, nếu quả ông có, ngang với Mendès France, một Chu Ân Lai, một Eden, một Molotov, một Foster Dulles. Như Phạm Văn Đồng. Để các cường quốc biết đến ông là một sức mạnh khả tín. Mà ủng hộ miền Nam, nếu họ muốn. Nếu họ thù nghịch, họ biết là sẽ phải đối đầu với một sức mạnh.
Ông không chịu tham dự hội nghị. Đây là bất hạnh thứ hai của đại cuộc miền Nam. Vì ở hội nghị, người ta nhìn về phía Việt Nam, chỉ thấy có Phạm Văn Đồng. Chỉ biết có phe Cộng Sản. Chỉ biết có Hà Nội. Sài Gòn là một bóng mờ, Ngô Đình Diệm là ai, người ta có nghe nói tên, nhưng không ai nhắc đến, trong đám các lãnh tụ tham dự hội nghị... Vì thế, dư luận các nơi cho rằng miền Nam chỉ là một bóng malàm cớ để chấm dứt chiến tranh, không thể đứng vững được. Nhiều lắm là hai năm, thời hạn định sẵn để trưng cầu dân ý mà thống nhất về tay Hà Nội.

3. Bất hạnh coi thường dân miền Nam, và thành phần kháng chiến dân tộc.
Ông Diệm lên cầm quyền trong hoàn cảnh đúng như ông tiên tri từ 1948: Ông lãnh đạo miền Nam, mà đất Nam kỳ là trọng tâm. Mỹ ủng hộ ông, hứa viện trợ Sài Gòn, tức phải dính líu với miền Nam.
Nói cách khác, các điều kiện ông tiên liệu, ông muốn có, để tranh thủ với Cộng Sản, nay ông hội đủ. Và con đường ông phải theo có thể phác họa như sau:
1. Lấy đất Nam kỳ làm gốc cho chế độ. Như Nguyễn Ánh đã làm hồi thế kỷ XVIII, để tranh thủ với Tây Sơn.
2. Dùng nhân dân Nam kỳ làm nguyên tố củng cố, xây dựng miền Nam. Dựa trên quần chúng Nam kỳ làm thế ỷ dốc, để bảo vệ miền Nam, giữ cho Cộng Sản miền Bắc không huy động được dễ dàng các thành phần nằm vùng mà tuyên truyền và quấy phá. Đồng thời, để phát triển kinh tế, xã hội, với nhân lực, tài lực Nam kỳ.
3. Vinh danh thành tích kháng chiến yêu nước. Vạch rõ mưu đồ Cộng Sản lợi dụng nhu cầu giải phóng của đồng bào, để thực hiện cách mạng vô sản.
Đề cao anh em kháng chiến quốc gia. Xem chủ quyền miền Nam là thành quả kháng chiến. Đúng theo tinh thần Tuyên ngôn 1951 nói trên.
Kết hợp các thành phần kháng chiến, phi kháng chiến vì hiểu thấu mưu đồ Cộng Sản, hoặc vì một lý do khác, để tổ chức quyền chính miền Nam.
Đó là con đường kết hợp nhân dân, kết hợp kháng chiến vào chính quyền. Để thu hút vào chế độ các thành phần quần chúng nông thôn, đã từng là cơ sở trung kiên, suốt chín năm qua, của tổ chức kháng chiến chống Pháp. Sự kết hợp này có thực sự và chặt chẽ, sẽ đảm bảo cho tương lai miền Nam.
Tất nhiên phải tùy thuộc vào một chính sách thể hiện trung thành những gì ông Diệm đã tiên tri từ 1948, thực hiện lời ông đã hứa trong Tuyên ngôn năm 1951:
Dùng hai “Vú sữa”: quần chúng Nam kỳ và thành phần kháng chiến quốc gia mà nuôi dưỡng chế độ Sài Gòn.
Chính sách ấy, ngoài chuyện mình trung thành với chính mình, còn là một chọn lựa sáng suốt, vì nông dân Nam kỳ không chấp nhận, thì chế độ tồn tại với ai và thế nào được. Trừ phi bắt chước Cộng Sản, dùng các biện pháp độc tài và đàn áp. Sáng suốt vì có nhìn nhận chủ quyền thu hồi ở miền Nam là sự nghiệp kháng chiến quốc gia, mới không để Hà Nội độc chiếm thành quả ấy về phần Cộng Sản trên cả nước.
Can đảm vì đây là một chọn lựa nguy hiểm. Nguy cơ tiềm tàng trong một chính sách như vậy thật lớn, đòi hỏi một khả năng lãnh đạo cao, một lòng tự tin lớn. Đòi hỏi một “homme d’Etat”.
Ông Diệm không có đủ khả năng chính trị và tự tin, thành ra chọn lựa mà ông đã tiên liệu và cho là thiết yếu từ 1948, từ 1951, thì nay, lên cầm quyền, ông sợ là không thiết thực. Nên đứng trên đất Nam kỳ để đối đầu với miền Bắc, ông khoét mất ngay hai cái “Vú sữa” của miền Nam!

Hồ Sỹ Khuê