Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014


THEO DẤU BẰNG CHỨNG CHỦ QUYỀN
HOÀNG SA, TRƯỜNG SA
TS Trần Đức Anh Sơn


1-    KHỞI SỰ TỪ FONT TƯ LIỆU HOÀNG SA

TT - Tháng 11-2009, tôi và các đồng nghiệp ở Viện Nghiên cứu phát triển Kinh Tế - Xã Hội Đà Nẵng bắt đầu triển khai đề tài “Font tư liệu về chủ quyền của VN đối với huyện đảo Hoàng Sa - thành phố Đà Nẵng”.


Sau hơn một năm sưu tầm tư liệu ở trong và ngoài nước, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành phân loại, dịch thuật, thẩm định và số hóa các tư liệu đã thu thập, xây dựng thành font tư liệu về chủ quyền của VN đối với quần đảo Hoàng Sa, với dung lượng khoảng 1,2 GB. Font tư liệu bao gồm bốn thư mục: tư liệu thành văn, tư liệu bản đồ, tư liệu hình ảnh và tư liệu audio-visual, được Hội đồng khoa học công nghệ thành phố Đà Nẵng nghiệm thu và chuyển giao UBND huyện đảo Hoàng Sa quản lý, sử dụng vào cuối năm 2011.
Sưu tập bản đồ của Trần Thắng
Ngày 22-7-2012, báo Tuổi Trẻ đăng bài “Bản đồ toàn lãnh thổ Trung Quốc năm 1904: Không có Hoàng Sa, Trường Sa” giới thiệu tấm bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ do Trung Quốc ấn hành năm 1904 (do TS Mai Hồng sưu tầm và hiến tặng Bảo tàng Lịch sử VN) với chi tiết điểm cực nam của lãnh thổ Trung Quốc chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam, không hề có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN (mà Trung Quốc gọi là Xisha qundao và Nansha qundao). Hôm sau, tôi nhận được email của người bạn là Trần Thắng, chủ tịch Viện Giáo dục văn hóa VN tại Mỹ, báo tin là có nhiều bản đồ tương tự bản đồ của TS Mai Hồng đã công bố, do phương Tây xuất bản trong các thế kỷ 17-20, đang được rao bán trên mạng Internet. Anh đề nghị tôi thông báo tin này trên báo chí VN để những ai quan tâm có thể tìm mua những tấm bản đồ này. Anh cũng gửi cho tôi và cho TS Nguyễn Nhã một số file bản đồ đang rao bán để nhờ thẩm định giá trị của các bản đồ này.
Sau khi thẩm định những bản đồ do Trần Thắng gửi về, tôi và TS Nguyễn Nhã đề nghị Trần Thắng, nếu có điều kiện thì nên mua những bản đồ này, đồng thời đã thông báo đến các cơ quan chức năng ở VN những thông tin do Trần Thắng cung cấp. Một tháng sau, Trần Thắng lại báo tin là vừa phát hiện ba cuốn atlas, gồm atlas Trung Quốc địa đồ (do nhà Thanh xuất bản năm 1908) và hai atlas Trung Hoa bưu chính dư đồ (do Chính phủ Trung Hoa dân quốc xuất bản năm 1919, tái bản năm 1933).
Trong các atlas này, toàn đồ lãnh thổ Trung Quốc luôn được vẽ đến cực nam của đảo Hải Nam. Trần Thắng gửi thông tin và hình ảnh về ba atlas này cho tôi và đề nghị TP Đà Nẵng bỏ tiền mua những atlas này. Tuy nhiên, do kinh phí hạn hẹp nên TP Đà Nẵng chỉ mua atlas 1933 với giá 3.000 USD. Hai atlas còn lại Trần Thắng bỏ tiền túi và vận động bạn bè quyên góp thêm để mua.
Ngày 27-11-2012, Trần Thắng lại gửi emai báo tin: “Đã thu thập được ba tập atlas và 150 bản đồ, gồm 110 bản đồ gốc và 40 bản đồ tái bản. Trong đó có một atlas do Phái bộ truyền giáo London in cho nhà Thanh vào năm 1908 và hai atlas do Chính phủ Trung Hoa dân quốc in năm 1919 và 1933. Các atlas này đều chỉ rõ giới hạn lãnh thổ cực nam của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam. Ngoài ra là 80 bản đồ do phương Tây in từ năm 1626 đến 1980 cũng xác nhận lãnh thổ cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam; 50 bản đồ thể hiện Hoàng Sa và Trường Sa nằm sát lãnh thổ VN; 10 bản đồ hàng hải và 10 bản đồ tổng thể châu Á và Đông Nam Á có thể hiện Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong vùng lãnh hải của VN”.
Anh cho biết thêm là sẽ trao tặng toàn bộ số bản đồ và atlas này cho Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng. Đây quả là tin vui quá lớn đối với chúng tôi, những người đã và đang xây dựng “font tư liệu” về chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
Cuộc triển lãm bằng chứng chủ quyền
Ngày 20-1-2013, nhân kỷ niệm 39 năm ngày Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của VN, UBND huyện đảo Hoàng Sa, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, Hội Khoa học lịch sử TP Đà Nẵng và báo Tuổi Trẻ đã tổ chức triển lãm giới thiệu những tư liệu lịch sử và bản đồ khẳng định chủ quyền của VN đối với quần đảo Hoàng Sa.
Nội dung triển lãm chủ yếu sử dụng nguồn tư liệu và bản đồ trong font tư liệu do chúng tôi thực hiện và sưu tập bản đồ do Trần Thắng vừa gửi từ Mỹ về. Triển lãm mở cửa trong một tháng, đón hơn 10.000 lượt người đến tham quan. Đây là cuộc triển lãm đầu tiên ở VN giới thiệu những tư liệu và bản đồ chứng minh VN đã khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa (và quần đảo Trường Sa). Cuộc triển lãm đã khích lệ tinh thần yêu nước, tạo hiệu ứng lan tỏa về ý thức chủ quyền biển đảo đến các tầng lớp nhân dân VN, mở đầu cho những đợt triển lãm quy mô được tổ chức ở Hà Tĩnh, Khánh Hòa, Hà Nội, TP.HCM, Thừa Thiên - Huế, Thái Nguyên... trong suốt năm 2013.
Trong thời gian diễn ra triển lãm tại Đà Nẵng, Đài truyền hình TP.HCM (HTV) cử một nhóm phóng viên đến Đà Nẵng để đưa tin. Sau khi nghe giới thiệu nội dung các tư liệu và bản đồ được trưng bày tại triển lãm, nhà báo Lâm Thành Quý hỏi tôi: “Triển lãm trưng bày bản sao các tư liệu và bản đồ, vậy bản gốc ở đâu?”. Tôi cho hay: “Ngoài những bản đồ gốc do anh Trần Thắng cung cấp đang lưu giữ tại kho, phần lớn bản gốc của các tư liệu Hán văn, tư liệu phương Tây và bản đồ do phương Tây xuất bản trưng bày nơi đây đều thuộc về các thư viện, văn khố ở nước ngoài”.
Ông Lâm Thành Quý hỏi tiếp: “Vậy chúng ta có thể tiếp cận được những tư liệu và bản đồ đó không?”. Tôi đáp: “Tất nhiên, nếu chúng ta có cơ hội đi đến những thư viện, văn khố này”. Suy nghĩ một lúc, ông Lâm Thành Quý nói với tôi: “Trở về thành phố, tôi sẽ trình bày với lãnh đạo HTV về ý tưởng làm một bộ phim tài liệu với chủ đề đi tìm tư liệu chủ quyền biển đảo VN ở nước ngoài. Nếu được phê duyệt, tôi sẽ mời anh tham gia”.
Tưởng là nói chơi, ai ngờ hai tháng sau điều đó lại thành sự thật. Vậy là cùng với đoàn làm phim của HTV, tôi có cơ hội đi tìm những bằng chứng lịch sử về chủ quyền của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở nước ngoài mà tôi hằng ấp ủ trong mấy năm qua.
Trong các tư liệu thu thập được, tôi tâm đắc nhất là 95 bản đồ liên quan đến vấn đề chủ quyền của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đặc biệt là 56 bản đồ do các học giả phương Tây soạn vẽ và xuất bản trong các thế kỷ 16-19. Ngoài ra là sưu tập 102 tư liệu thành văn gồm sáu thứ tiếng: Anh, Pháp, Ý, Đức, Tây Ban Nha và Hà Lan do các nhà địa lý, nhà hàng hải và học giả phương Tây biên soạn và xuất bản trong các thế kỷ 17-19, đề cập hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa và chủ quyền của VN đối với hai quần đảo này. Tuy nhiên, phần lớn bản đồ và tư liệu mà đề tài sưu tầm được đều là các bản sao, rất hiếm tư liệu gốc. Vì thế, dù đề tài đã kết thúc nhưng tôi vẫn luôn ao ước được đi một chuyến ra nước ngoài, đến các thư viện, văn khố, bảo tàng... là những nơi đang cất giữ các tư liệu này để “nhìn tận mắt, sờ tận tay” và xin quyền sao chụp và sử dụng các tư liệu này.

2-    HÀNH TRÌNH TRÊN NƯỚC MỸ

TT - Trước khi sang Mỹ, chúng tôi gửi email cho các học giả quan tâm đến vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để mời họ trả lời phỏng vấn, đồng thời hỏi thăm về những nơi cần đến để tìm tư liệu. Chúng tôi đã nhận được nhiều chỉ dẫn rất hữu ích, và địa chỉ đầu tiên được giới thiệu chính là Thư viện Viện Harvard - Yenching, thuộc Đại học Harvard.



Gặp Trần Thắng ở West Harford để nhận thêm bản đồ
Thư viện Viện Harvard - Yenching là nơi lưu giữ rất nhiều tư liệu về Trung Quốc và Việt Nam. Một học giả Việt kiều ở Hawaii (Mỹ), người đã từng tra cứu tư liệu trong thư viện này từ mười năm trước, đã cung cấp danh mục những tư liệu mà tôi quan tâm hiện đang lưu trữ nơi đây. Dựa vào danh mục này, chúng tôi liên lạc với cô Phan Thị Ngọc Chấn, người phụ trách thư mục Việt Nam trong thư viện này để, nhờ tìm giúp những tư liệu cần thiết. Khi đến nơi, cô Ngọc Chấn đã chuẩn bị sẵn những tư liệu quan trọng nhất.
Đó là bản gốc các hồ sơ liên quan đến lịch sử tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, gồm: Hiệp ước Pháp - Thanh năm 1887; Hiệp ước hòa bình với Nhật Bản do các nước đồng minh ký với Nhật Bản tại Hội nghị San Francisco năm 1951; tư liệu về vụ đắm tàu Bellona của Đức (năm 1895) và vụ đắm tàu Imeji Maru của Nhật Bản (năm 1896) ở gần quần đảo Hoàng Sa; tư liệu về thời kỳ người Nhật chiếm đóng Hoàng Sa và Trường Sa trong Thế chiến 2... Nhờ sự giúp đỡ của cô Ngọc Chấn mà nhóm nghiên cứu đã có được những hồ sơ đầu tiên trong hành trình tìm kiếm tư liệu chủ quyền biển đảo Việt Nam trên nước Mỹ.
Rời Boston, địa chỉ tiếp theo là thành phố New Haven ở bang Connecticut, nơi tôi có cuộc thuyết trình về chủ đề “Ngoại giao Việt Nam dưới triều Nguyễn” cho nhóm học giả và nghiên cứu sinh ngành Việt Nam học tại khoa nhân học văn hóa thuộc Đại học Yale. Tiện thể, ghé qua nhà anh Trần Thắng để tiếp nhận những bản đồ mà anh mới sưu tầm được.
Nhà của Trần Thắng ở thành phố West Harford, cách Đại học Yale khoảng 40 phút xe hơi. Sang Mỹ định cư vào năm 1991, Trần Thắng tốt nghiệp kỹ sư ngành cơ khí ở Đại học Connecticut và được Công ty sản xuất động cơ máy bay Pratt & Whitney tuyển dụng làm việc từ năm 1999 đến nay. Tuy là dân kỹ thuật nhưng Trần Thắng rất mê sưu tầm cổ vật, đặc biệt gốm sứ Việt Nam. Nhờ vậy mà anh có cơ duyên tiếp cận các bản đồ cổ liên quan đến vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sưu tầm được bản đồ, Trần Thắng lại tiếp tục bỏ tiền mua bìa cứng, giấy bồi, túi plastic chuyên dụng và tốn nhiều công sức để “sửa sang” những tờ bản đồ cũ kỹ thành những “sản phẩm” hoàn hảo để trưng bày, triển lãm. Anh phân loại, viết chú thích cho từng tấm bản đồ, tự tay đóng gói, rồi tìm người tin cậy nhờ mang bản đồ về Việt Nam để tặng Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Đà Nẵng.
Sau khi gửi 150 bản đồ và ba atlas về nước vào cuối năm 2012, Trần Thắng tiếp tục sưu tầm thêm những bản đồ khác. Do vậy anh mời chúng tôi đến nhà riêng ở West Harford để thẩm định và bàn giao những bản đồ này. Đó là những bản đồ có niên đại từ năm 1618-1901, chủ yếu xuất bản ở châu Âu và Mỹ, trong đó có những bản đồ rất giá trị như: bản đồ Asia noviter delineata do Willem Blaeu vẽ, xuất bản tại Hà Lan năm 1618; bản đồ Indiæ Orientalis Nova Descriptio do Willem Jansson vẽ, xuất bản tại Hà Lan năm 1636... Đây là những bản đồ có cách chú dẫn thể hiện mối liên hệ về mặt địa lý giữa vùng đất Đàng Trong với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa...
Sau khi thẩm định và chụp ảnh 35 bản đồ mới sưu tầm này, Trần Thắng lại “tân trang” các bản đồ, đóng gói để bàn giao cho chúng tôi mang về nước, góp thêm vào “kho bản đồ chủ quyền” của Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Đà Nẵng.
Vào kho bản đồ của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ ở Washington
Tạm biệt Trần Thắng, nhóm nghiên cứu đi Philadelphia, New York và Washington D.C, gặp gỡ các chuyên gia về văn hóa biển Việt Nam, về hoạt động hải thương mại giữa Việt Nam với các nước trong các thế kỷ XVII - XVIII, về lịch sử tranh chấp chủ quyền biển đảo ở biển Đông để trao đổi thông tin. Tuy nhiên, đích đến quan trọng nhất đối với chúng tôi trong hành trình này là kho bản đồ của Thư viện Quốc hội Mỹ ở Washington D.C.
Thư viện Quốc hội Mỹ phục vụ mọi độc giả trên thế giới, nhưng nếu không có sự tiến cử của những chuyên gia có uy tín thì rất khó tiếp cận các tư liệu quý. Thông qua nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu ở TP.HCM, chúng tôi làm quen với ông Harold E. Meinheit, cựu viên chức Bộ Ngoại giao Mỹ. Ông cũng là nhà nghiên cứu bản đồ cổ và là người rất am tường kho bản đồ ở Thư viện Quốc hội Mỹ. Harold E. Meinheit là người đã phát hiện tấm bản đồ Việt Nam toàn tỉnh dư đồ do Tả thị lang bộ Lại Hoàng Hữu Xứng vẽ năm 1887 theo lệnh của vua Đồng Khánh (1885-1889) đang lưu trữ tại Thư viện Quốc hội Mỹ. Ông đã viết bài giới thiệu tấm bản đồ quý hiếm này trên tập san The Portolan do Hiệp hội Bản đồ Washington xuất bản năm 2009.
Harold E. Meinheit đón chúng tôi tại tiền sảnh thư viện, hướng dẫn làm thủ tục vào kho và tra cứu bản đồ trên hệ thống thư viện điện tử của Cục Bản đồ và địa lý. Chúng tôi thật sự choáng ngợp trước lượng bản đồ đồ sộ đang lưu trữ nơi đây, với hơn 170.000 bản đồ các loại, trong đó có khoảng 1.000 bản đồ liên quan đến Việt Nam. Nhóm nghiên cứu đã tìm thấy nơi đây nhiều bản đồ quý liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đáng chú ý là hai bản đồ The East part of India và The principal islands of the East India do Herman Moll vẽ, xuất bản tại London năm 1736; bản đồ Asiae Nova Delineatio Auctore do Nicolas Visscher vẽ, xuất bản tại Amsterdam năm 1681; bản đồ Hinterindien do Sir Francis Halminton vẽ, xuất bản tại London và Calcutta năm 1832... Những bản đồ này đều thể hiện quần đảo Paracel thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Do thời gian không cho phép nên chúng tôi chỉ có thể lưu lại nơi đây trong một ngày, trong khi thẻ độc giả mà nhân viên Thư viện Quốc hội Mỹ vừa cấp cho tôi lại có giá trị đến tháng 4-2015. Vì thế, Harold E. Meinheit khuyên tôi nên tìm kiếm một học bổng từ Chính phủ Mỹ để trở lại đây nghiên cứu các bản đồ cổ này. “Anh cần ít nhất một năm mới có thể xem hết những tấm bản đồ liên quan đến Việt Nam, đến Paracel và Spratly đang lưu trữ nơi đây” - ông Meinheit bảo tôi.
Tôi hứa với ông Harold E. Meinheit là sẽ tìm cách trở lại nơi này sớm nhất có thể. Đó là dự định của tương lai và một hành trình dài đang mở ra phía trước.

3-    VÀO ĐÔNG DƯƠNG VĂN KHỐ

TT - Muốn hiểu sâu về quá trình xác lập và thực thi chủ quyền biển đảo của Việt Nam, chúng ta cần quan tâm các vấn đề liên quan như: lịch sử chinh phục biển cả, quá trình hình thành nền văn hóa biển Việt Nam, hoạt động thương mại đường biển giữa Việt Nam với các nước khác...



Vì lý do này, chúng tôi tìm đến Nhật Bản, nơi đang lưu giữ nhiều tư liệu liên quan đến quá trình giao lưu văn hóa, trao đổi thương mại giữa Việt Nam với Nhật Bản trong các thế kỷ XVI-XVII và tư liệu về chủ quyền biển đảo Việt Nam.
Email cuối cùng của Nishimura
Trước khi sang Nhật, chúng tôi liên lạc với PGS.TS Nishimura Masanari, nhà khảo cổ học người Nhật chuyên nghiên cứu về gốm cổ Việt Nam xuất sang Nhật Bản trong các thế kỷ XV-XVII, để nhờ anh tư vấn.
Nishimura lập cho tôi một kế hoạch rất chi tiết với khoảng 20 địa điểm cần đến, những nội dung cần nghiên cứu, sao chụp và cung cấp địa chỉ email, số điện thoại của những người mà tôi cần liên hệ ở Nhật.
Ngày 6-6-2013, Nishimura gửi email cho chúng tôi: “Tôi quen những nơi này nên sẽ hết sức giúp đỡ để anh tiếp cận và sao chụp các tư liệu cần thiết”.
Đó là email cuối cùng anh gửi cho tôi bởi sáng 9-6-2013, trên đường từ Hà Nội đi đến một di chỉ khảo cổ đang khai quật ở Bắc Ninh, Nishimura bị tai nạn giao thông qua đời.
Giới sử học Việt Nam bàng hoàng thương tiếc anh, còn chúng tôi ngoài nỗi đau do mất một người bạn thân thiết còn là sự bối rối vì kế hoạch nghiên cứu mà Nishimura vạch ra bỗng hóa thành dang dở.
May thay, một người quen khác là GS.TS Kikuchi Seiichi, nhà khảo cổ học và là giáo sư về lịch sử Việt Nam ở Đại học nữ Showa (Tokyo), đã nhận lời giúp đỡ chúng tôi. Lộ trình do Nishimura vạch ra đã được GS Kikuchi tiếp nối chỉ dẫn rất tận tình.
Nhóm chúng tôi bay đi Osaka để khảo cứu những hiện vật gốm sứ cổ Việt Nam xuất sang Nhật Bản bằng đường biển vào thế kỷ XV, do các nhà khảo cổ học Nhật Bản khai quật được ở cảng Sakai, gần Osaka.
Sau đó bay đi Okinawa để tìm hiểu gốm sứ cổ Việt Nam khai quật tại các di chỉ Nakijin-jo, Shuri-jo và các bến cảng cổ ở Okinawa; tìm hiểu thông tin về cộng đồng ngư dân gốc Việt từng định cư ở hòn đảo Yaeyama, thuộc quần đảo Okinawa từ thế kỷ XVI.
Chúng tôi cũng đến Nagasaki và Fukuoka, khảo cứu và thu thập các tư liệu, hiện vật phản ánh mối quan hệ bang giao và hoạt động hải thương giữa Nhật Bản với Việt Nam trong các thế kỷ XVI-XVII.
Các đồng nghiệp Nhật Bản đã cho phép tiếp cận và khảo cứu nhiều tư liệu quý như bức tranh cuộn Trà Ốc Tân Lục Giao Chỉ độ hàng đồ quyển, tranh vẽ thuyền Châu Ấn đến Hội An buôn bán, các văn thư trao đổi giữa Chúa Nguyễn ở Đàng Trong với Quốc vương và Mạc phủ Nhật Bản, những danh mục hàng hóa trao đổi giữa thương nhân hai nước Việt Nam và Nhật Bản...
Tại Tokyo, chúng tôi đã gặp GS.TS Kikuchi Seiichi và TS Abe Yuriko tại Đại học nữ Showa để tìm hiểu về giao lưu văn hóa và thương mại đường biển giữa Việt Nam với Nhật Bản trong lịch sử.
GS.TS Kikuchi Seiichi đã cung cấp nhiều thông tin quý về sự lan tỏa của văn hóa Việt Nam thông qua đường biển, về hoạt động ngư nghiệp và hải thương giữa Việt Nam với Nhật Bản trong các thế kỷ XVI-XVII.
Hàng chục tư liệu thành văn quý hiếm về những vấn đề này đã được GS.TS Kikuchi Seiichi giới thiệu và cho phép nhóm nghiên cứu VN sao chụp, trong đó có các văn bản chép tay quý hiếm như: An Nam kỷ lược cảo, An Nam quốc phiêu lưu ký, Ngoại phiên thông thư...

Đông Dương văn khố và tờ bản đồ xứ Quảng Nam của Đỗ Bá
Nhật Bản có rất nhiều thư viện tư nhân danh tiếng. Đông Dương văn khố (Toyo Bunko) ở Tokyo là thư viện hàng đầu trong những thư viện tư nhân danh giá đó.
Đây là nơi lưu giữ nhiều tư liệu lịch sử quý hiếm bậc nhất Nhật Bản về chính trị, lịch sử, văn học, văn hóa, nghệ thuật... của Nhật Bản và nhiều nước trên thế giới, nhất là tư liệu về Trung Quốc và Việt Nam.
Tuy nhiên, Đông Dương văn khố không chủ trương mở cửa cho tất cả công chúng mà chỉ phục vụ các học giả và giới nghiên cứu chuyên sâu.
Ngoài ra, việc sao chụp tư liệu ở đây rất hạn chế và chi phí sao chụp cực kỳ đắt đỏ, nên việc có được bản sao những tư liệu quý của Đông Dương văn khố dường như nằm ngoài tầm tay của những người “ngoại giới”.
Nhờ sự tiến cử của GS Kikuchi Seiichi và sự hướng dẫn nhiệt tình của TS Abe Yuriko, phu nhân của GS Kikuchi Seiichi, chúng tôi đã được tiếp cận các tư liệu quý liên quan đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Đáng chú ý là 10 bản đồ vẽ về châu Á, biển Đông và Việt Nam, do các nhà địa lý và hàng hải phương Tây như Herman Moll, Jodocus Hondius, Homann Heirs, Van de Kusten... vẽ trong các thế kỷ XVI-XVIII.
Trên những bản đồ này, vịnh Bắc bộ được ghi chú là Gulf of Cochinchina hoặc Gulf of Tunkin, quần đảo Hoàng Sa được định danh là The Shoal of Paracel (Bãi Hoàng Sa), còn vùng bờ biển đối diện với quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam được ghi là Coast of Paracel (Bờ biển Hoàng Sa).
Đặc biệt, đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc bộ Hồng Đức bản đồ được soạn vẽ từ thời Lê Thánh Tông (1442-1497). Đây là bản chép tay duy nhất bộ Hồng Đức bản đồ có niên đại từ thế kỷ XVI mà Đông Dương văn khố còn lưu giữ được.
Phần sau bộ Hồng Đức bản đồ này có đính kèm bộ bản đồ Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ do Đỗ Bá vẽ vào cuối thế kỷ XVII, trong đó có tờ bản đồ vẽ xứ Quảng Nam.
Trên tờ bản đồ này có ghi ba chữ Nôm Bãi Cát Vàng để định danh cho một vùng đảo nằm ở ngoài khơi. Phần chú giải phía trên tờ bản đồ này viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, trong đó có đoạn ghi (Việt dịch): “...Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm đứng dựng giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm, đến cửa Sa Vinh mỗi lần có gió tây nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi giạt ở đây, đều cùng chết đói hết cả. Hàng hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đây lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn...”.
Năm 1962, Bộ Quốc gia giáo dục (Việt Nam cộng hòa) đã xuất bản bản dịch bộ Hồng Đức bản đồ, trong đó có tờ bản đồ Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ. Tờ bản đồ này đã
được giới thiệu trong nhiều công trình biên khảo, biên dịch liên quan đến vấn đề chủ quyền biển đảo của các học giả trong và ngoài nước. Bản sao của bản đồ này cũng đã được đưa vào Font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa - Thành phố Đà Nẵng từ năm 2011.
Tuy nhiên, cho đến nay rất ít người có cơ hội tiếp cận tờ bản đồ hơn 400 năm tuổi này vì chế độ bảo quản nghiêm ngặt của Đông Dương văn khố.

4-    NHỮNG TƯ LIỆU ĐẶC BIỆT Ở HÀ LAN
TT - Tiếp nối hành trình, nhóm chúng tôi bay đến thành phố Den Haag (Hà Lan). Den Haag, người Việt thường biết đến dưới tên gọi La Haye (tiếng Pháp) hay The Hague (tiếng Anh), là thủ đô hành chính của Hà Lan.
Nơi đây có Tòa án công lý quốc tế (Thường gọi là Tòa án La Haye-một trong những nơi xét xử tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia).



Ba học giả Hà Lan mà chúng tôi tham vấn là TS W.F. van Eekelen, nguyên bộ trưởng quốc phòng Hà Lan, nguyên tổng thư ký Liên hiệp Tây Âu; GS.TS Koetsier, chuyên gia về Công pháp quốc tế của Đại học Amsterdam và TS Frans-Paul Van Der Putten, chuyên gia về Đông Á và Đông Nam Á của Viện Nghiên cứu về quan hệ quốc tế Clingendael.


Bản đồ da dê và văn thư trao đổi giữa VOC với chúa Nguyễn
Nội dung trao đổi xoay quanh việc Trung Quốc và một số nước trong khu vực tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
TS W.F. van Eekelen mời chúng tôi đến nhà riêng ở ngoại ô Den Haag để trao đổi và giới thiệu một số tư liệu và bản đồ cổ do người Hà Lan vẽ, có đề cập đến Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà ông thu thập được.
Trả lời câu hỏi của tôi về giá trị của các tư liệu lịch sử về chủ quyền biển đảo Việt Nam, TS W.F. van Eekelen nhận định: “Việt Nam có nhiều chứng cứ lịch sử đối với vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng cách tốt nhất để bảo vệ chủ quyền đó trong bối cảnh hiện nay là dựa vào Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982) và Tòa án quốc tế về Luật biển ở Den Haag. Đây là điều Việt Nam phải tính đến”.
Một trong những nơi ở Den Haag mà chúng tôi phải đến cho bằng được là Văn khố quốc gia Hà Lan. Nơi đây đang trong quá trình bảo dưỡng định kỳ hằng năm nên các kho tư liệu cổ tạm thời đóng cửa.
Tuy nhiên nhờ sự tiến cử của cựu bộ trưởng quốc phòng Hà Lan W.F. van Eekelen và nhà sử học John Kleinen, chúng tôi được đặc cách “thâm nhập” kho bản đồ và văn thư cổ.
Nơi đây đang lưu trữ ba tấm bản đồ bằng da dê có thể hiện hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh hải Việt Nam.
Đây là những bản đồ do nhà hàng hải Joan Blaeu vẽ năm 1687, ghi dấu thời kỳ người Hà Lan “hùng cứ” trên các tuyến hải thương nối liền châu Á với cựu lục địa, mà Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) là công ty hùng mạnh nhất. Phải qua ba vòng kiểm tra, chúng tôi mới tiếp cận được tầng ngầm chứa ba bản đồ này để đo đạc, khảo cứu và chụp ảnh.
Văn khố quốc gia Hà Lan còn là nơi lưu giữ các hồ sơ gốc của VOC, trong đó có những văn thư giao dịch giữa VOC với chính quyền ở Đàng Trong và Đàng Ngoài của Việt Nam vào các thế kỷ XVII-XVIII.
Tôi đặc biệt chú ý tập hồ sơ ký hiệu 402/VOC-OBP’s. Trong hồ sơ này có ba lá thư viết tay, ký hiệu 1120, 1167 và 1207, viết vào các năm 1636, 1661 và 1662. Quản thủ kho tư liệu dịch tóm lược nội dung ba bức thư trên, cho biết: hai thư đầu là của lãnh đạo VOC gửi cho Quốc vương nước Quinam (tức là chúa Nguyễn ở Đàng Trong) để xin phép cho các tàu buôn của họ được tới mua bán ở các thương cảng của Quinam và sẵn sàng đóng thuế cho các giao dịch thương mại (thư đề năm 1636); xin phép cho tàu thuyền của VOC được vào tránh, trú bão trong các hòn đảo nằm ngoài khơi Quinam, do Quốc vương Quinam quản lý (thư đề năm 1661); còn bức thư thứ ba (đề năm 1662) là thư của một thuyền trưởng của VOC gửi từ Quinam về Hà Lan báo tin Quốc vương Quinam đã đồng ý với đề nghị xin trú bão cho tàu bè của VOC.
Có lẽ đây là những văn kiện quan trọng nhất mà chúng tôi tìm thấy trong Văn khố quốc gia Hà Lan ở Den Haag.
Bản đồ và tư liệu của VOC ở Amsterdam
GS John Kleinen (Đại học Amsterdam), chuyên gia về lịch sử hải thương giữa Hà Lan và các nước châu Á, là người đã giúp đỡ chúng tôi trong hành trình tìm kiếm tư liệu ở Hà Lan.
Bằng uy tín của mình, ông đã sắp xếp cho chúng tôi được tiếp cận và thu thập tư liệu ở nhiều nơi như: Bushuis, Dutch East India Company Gentlemen XVII và Bảo tàng Hàng hải ở Amsterdam; Văn khố quốc gia Hà Lan ở Den Haag.
Bushuis và Dutch East India Company Gentlemen XVII tọa lạc trong khuôn viên của Đại học Amsterdam. Đây là hai địa điểm quan trọng nhất của VOC ở Amsterdam còn được bảo tồn nguyên vẹn.
Bushuis vốn là nơi hội họp định kỳ của các thành viên ban quản trị VOC để thảo luận những vấn đề kinh doanh của VOC trên toàn thế giới. Dutch East India Company Gentlemen XVII là nơi lưu giữ những tư liệu, bản đồ, tranh ảnh liên quan đến hoạt động của VOC.
Khung cảnh bên trong Bushuis và Dutch East India Company Gentlemen XVII vẫn được giữ nguyên như xưa với các bức bản đồ thế giới, bản đồ châu Á được vẽ cách đây hàng thế kỷ treo ở trên tường.
Đặc biệt là bốn bức tranh sơn dầu vẽ phong cảnh các thương cảng nổi tiếng ở Đông Á mà VOC từng đặt thương trạm là: Hirado, Couchyn, Canton và Ludea, ghi lại dấu ấn thời hoàng kim của VOC.
Trong số những bản đồ cổ có liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có tấm bản đồ Nova et Exacta Asiæ Geographica Descriptio do G. Ianßonio vẽ vào thế kỷ XVII. Bản đồ này đã được tái bản nhiều lần và là một trong những bản đồ sớm nhất có sự phân biệt khá rõ ràng giữa các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa với các đảo thuộc quần đảo Trường Sa và những đảo khác ở ngoài khơi miền Nam Trung bộ.
Nhiều tư liệu về hoạt động kinh doanh của VOC ở châu Á cũng được lưu trữ nơi này, trong đó có những tư liệu liên quan đến Việt Nam.
Ngoài Bushuis và Dutch East India Company Gentlemen XVII, ở Amsterdam còn có một địa chỉ khác từng thuộc về VOC, cũng là nơi đang lưu giữ những hiện vật liên quan đến biển đảo Việt Nam.
Đó là Bảo tàng Hàng hải, ở ngay bến cảng Amsterdam, vốn là kho hàng của VOC. Chính quyền thành phố Amsterdam đã đầu tư 8 triệu euro để biến căn nhà kho ba tầng cũ kỹ này thành tòa bảo tàng hiện đại giới thiệu lịch sử và thành tựu của ngành hàng hải Hà Lan.
Trong bảo tàng này trưng bày hàng trăm quả địa cầu hàng trăm năm tuổi làm bằng nhiều chất liệu khác nhau. Phần lớn các quả địa cầu đều có vẽ hình hai quần đảo Paracel và Spratly với những chú dẫn như trên các bản đồ do người Hà Lan vẽ, thể hiện mối liên hệ khăng khít giữa hai quần đảo này với lãnh thổ Việt Nam. 
Các nhà hàng hải người Hà Lan đã dong thuyền đi khám phá các vùng biển ở châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có biển Đông từ đầu thế kỷ XVI. Họ thiết lập sơ đồ tuyến hải hành xuyên qua biển Đông, dừng chân trên các hòn đảo ở ngoài khơi Việt Nam, định danh các quần đảo trên biển Đông vào những tấm bản đồ địa lý do chính họ vẽ. Họ cũng để lại những tập nhật ký hải hành, những ghi chép miêu tả về đất nước, biển đảo, con người Việt Nam trong các thế kỷ XVI-XIX. Đặc biệt, người Hà Lan đã có trao đổi thương mại với Việt Nam từ rất sớm, thông qua Công ty Đông Ấn Hà Lan (Vereenigde Oost-Indische Compagnie in Dutch - VOC), công ty thương mại đường biển hùng mạnh nhất châu Âu, từng làm mưa làm gió trên các vùng biển và thương cảng quốc tế vào các thế kỷ XVII-XVIII. VOC từng là đối tác thương mại hàng đầu của chính quyền vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài lẫn chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong thời kỳ đại thương mại của thế giới. Chính vì thế, tư liệu về Việt Nam được lưu trữ trong các font tư liệu của VOC cũng rất nhiều.
5-    NHỮNG NGƯỜI BẠN BỒ ĐÀO NHA

TT - Trước khi lên đường sang châu Âu, chúng tôi được nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cho biết Bồ Đào Nha là nơi lưu giữ nhiều bản đồ về Hoàng Sa và Trường Sa bậc nhất châu Âu. Vì thế, chúng tôi kỳ vọng rất nhiều vào chuyến đi tìm “bằng chứng chủ quyền” ở đất nước này.



Hai bản đồ cổ nhất về Paracel ở Văn khố quốc gia Bồ Đào Nha
Người Bồ Đào Nha giao thương với Việt Nam từ thế kỷ XVI. Các nhà địa lý Bồ Đào Nha đã vẽ nhiều bản đồ về vùng biển Đàng Trong và về quần đảo Paracel/Pracel, còn các nhà hàng hải Bồ Đào Nha thì để lại nhiều ghi chép quan trọng về hoạt động của họ ở Đàng Trong và trong vùng biển Hoàng Sa - Trường Sa vào các thế kỷ XVI - XVII.
Do không có người quen ở Bồ Đào Nha nên chúng tôi tìm kiếm sự trợ giúp từ bạn bè ở Pháp và Mỹ. Họ cho biết Thư viện quốc gia Bồ Đào Nha và Văn khố quốc gia Bồ Đào Nha ở Lisbon là những nơi có nhiều tài liệu liên quan đến Hoàng Sa - Trường Sa, đồng thời chỉ cho chúng tôi cách thức liên hệ với những nơi này. Ngoài ra, nhờ những thông tin công trình Les Portugais sur la côte du Vietnam et du Champa (Những người Bồ Đào Nha trên bờ biển Việt Nam và Champa) của P.Y Manguin (do EFEO xuất bản tại Paris năm 1972), chúng tôi đã xác lập một danh mục các bản đồ cần tìm để gửi cho những người có trách nhiệm ở Văn khố quốc gia Bồ Đào Nha và Thư viện quốc gia Bồ Đào Nha.
Chúng tôi cũng gửi danh mục 102 ấn phẩm do phương Tây xuất bản trong các thế kỷ XVI - XIX có liên quan đến Hoàng Sa - Trường Sa mà chúng tôi đã thống kê được khi xây dựng “font tư liệu Hoàng Sa” để nhờ họ tìm giúp các bản gốc.
Hai tuần trước khi lên đường, chúng tôi nhận được email từ hai nơi này, thông báo là họ đã tìm được một số bản đồ và tư liệu theo yêu cầu và sẵn sàng đón chúng tôi đến khảo cứu và sao chép.
Đón chúng tôi ở Văn khố quốc gia Bồ Đào Nha là anh Rui Pies, quản thủ kho bản đồ. Anh cho tôi biết trong kho bản đồ của Văn khố quốc gia Bồ Đào Nha có hai bản đồ liên quan đến Paracel. Đó là bản đồ không tên do João da Lisboa vẽ năm 1560 và bản đồ Cabo Comorim, Japao, Moluco e Note in Atlas nằm trong bộ bản đồ thế giới gồm 18 bức do Fernão Vaz Dourado vẽ năm 1571. Đây là hai bản đồ có thể hiện hình ảnh Paracel sớm nhất do người châu Âu vẽ. Những bản đồ này cất giữ trong các kho riêng, được Rui Pires đưa về phòng sao chụp để chúng tôi tiện khảo sát và đo đạc.
Đó là hai bản đồ gốc, màu sắc còn tươi mới, dù đã được vẽ cách đây hàng trăm năm. Hình vẽ quần đảo Hoàng Sa trên hai bản đồ này được thể hiện như một lưỡi dao dài và cong, điểm đầu ở phía bắc ghi là I. de Pracel (Hoàng Sa), điểm cuối ở phía nam ghi là Pulo Sissi (Cù Lao Thu). Giữa hai điểm đầu và cuối này còn có các cụm đảo được định danh rõ ràng như Pulo Campello (Cù Lao Chàm), Pulo Catão (Cù Lao Ré), Pulo Cambi (Cù Lao Xanh)... Vùng đất trong bờ song song với Pracel được ghi chú là Costa da Pracel. Cách ghi danh này chứng tỏ từ thế kỷ XVI, các nhà hàng hải Bồ Đào Nha đã chỉ ra mối liên hệ về mặt địa lý giữa vùng bờ biển Đàng Trong với các đảo Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré, Cù Lao Xanh... và quần đảo Hoàng Sa.
Sau khi chụp ảnh và đo đạc, tôi xin phép làm các bản sao kỹ thuật số của hai tư liệu quý này. Rui Pires vui vẻ giúp tôi làm thủ tục sao chép hai bản đồ này và chỉ thu một mức phí tượng trưng.
Bội thu tư liệu và bản đồ ở Thư viện quốc gia Bồ Đào Nha
Đầu buổi chiều, chúng tôi đến Thư viện quốc gia Bồ Đào Nha, cũng là nơi lưu trữ nhiều tư liệu và bản đồ liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đón chúng tôi tại tiền sảnh thư viện là bà Maria Joaquina Feijão, trưởng kho bảo quản bản đồ cổ.
Phải đi qua ba lớp cửa có khóa điện tử, chúng tôi mới đến được kho bản đồ. Những người bạn Bồ Đào Nha của thư viện này đã mang đến cho chúng tôi một sự ngạc nhiên đầy xúc động: 20 bản đồ cổ và 12 tư liệu thành văn xuất bản trong các thế kỷ XVI - XVIII đã được bày sẵn trong phòng đọc đặc biệt chờ chúng tôi đến nghiên cứu. Những bản đồ này do các nhà hàng hải và nhà địa lý nổi tiếng ở châu Âu như Van Langren, Jodocus Hondius, Willem Janszoon Blaeu, Gerard Mercator, Van Lochem... vẽ.
Chúng tôi dành sự quan tâm nhiều nhất cho tấm bản đồ do anh em Van Langren, người Hà Lan, vẽ vào năm 1595. Đây là bản đồ được vẽ rất chi tiết, phong phú và toàn diện. Trên bản đồ này cũng có ghi dòng chữ I. de Pracel để chỉ quần đảo Hoàng Sa và Costa da Pracel để chỉ vùng bờ biển miền Trung Việt Nam. Nhiều địa danh khác ở trong đất liền và những hòn đảo ven bờ biển Việt Nam cũng được ghi chú rất rõ ràng trên bản đồ này. Bản đồ của anh em Van Langren đã được giới thiệu trong nhiều công trình nghiên cứu của các học giả như Fournereau (1666), G.Maspéro (1929), P.Boudet và A.Masson (1931)... và được nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam trích dẫn, giới thiệu. Song đó chỉ là những hình ảnh được sao chép nhiều lần, “mờ mờ ảo ảo” và khó kiểm chứng nguồn gốc. Còn giờ đây, trước mắt chúng tôi là tấm bản đồ gốc 418 năm tuổi đang trải rộng, với những nếp gấp như vẫn in hằn dấu ấn thời gian.
Trong số tư liệu thành văn có những cuốn sách rất quý viết về địa dư, địa lý, con người, phong tục Việt Nam trong các thế kỷ XVI - XVIII như: cuốn Relatione della bouua missione delli PP. della Compagnia di Giesu, al regno della Cocincina của Cristoforo Borri, xuất bản ở Roma năm 1631; cuốn Delle missioni de’ padri della Compagnia di Giesu nella Provincia del Giappone, e particolarmente in quella di Tumkino của Givanni Filippo de Marini, xuất bản ở Roma năm 1663; cuốn Noticias summarias das perseguições da missam de Cochinchina, principiada and continuada plos Padres da Compania de Jesu của Manuel Ferreira, xuất bản ở Lisbon năm 1700; cuốn Flora Cochinchinese: sistens plantas in regno cochichina nascentes của João de Loureiro, xuất bản ở Lisbon năm 1790; cuốn A voyage to Cochinchina in the years 1792 and 1793 của John Barrow, xuất bản tại London năm 1806...
Đặc biệt, thư viện này đang lưu giữ bản chép tay một cuốn từ điển đối chiếu các từ dùng trong nghi lễ bằng ba thứ ngôn ngữ: quốc ngữ - Nôm - Latin, nhan đề Ritual em Latin e Vietnamita, trong đó có những từ vựng đã hoàn toàn biến mất trong tiếng Việt hiện nay. Đây là lần đầu tiên tôi được tiếp cận một cuốn từ điển “chuyên ngành” độc đáo như thế này.
Những người Bồ Đào Nha nơi đây rất tốt bụng. Họ cho phép chúng tôi khảo sát, đo đạc, chụp ảnh và làm bản sao tất cả những bản đồ và tư liệu lịch sử quý giá này vì một lý do rất cao cả: “Chúng tôi muốn giúp các bạn những tư liệu giá trị và xác thực để các bạn có thể bảo vệ chủ quyền quốc gia của mình”. Quả là một hành động hào hiệp và đầy nghĩa cử.
Chia tay những người bạn mới quen, tôi thầm ước ao: “Giá mà nơi nào cũng may mắn gặp được những người bạn nghĩa hiệp như ở Bồ Đào Nha thì hành trình tìm kiếm tư liệu chủ quyền biển đảo của chúng tôi sẽ bớt đi nhọc nhằn và đạt hiệu quả biết bao”.

6-    TƯ LIỆU HOÀNG SA TRONG TU VIỆN Ở TORINO

TT - Ngày 16-5-2010, báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần số 19 có in bài viết “Đi tìm Hoàng Sa trong... tu viện cổ Ý” của Lê Đức Dục, kể về một Việt kiều ở Ý phát hiện một cuốn sách cổ có viết về Hoàng Sa trong một tu viện ở thành phố Torino.

Đây là thông tin đầu tiên chúng tôi có được về tư liệu Hoàng Sa ở Ý. Về sau, trong quá trình thực hiện “font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”, chúng tôi cũng thu thập được 11 tư liệu liên quan viết bằng tiếng Ý.
Tuy nhiên, đó chỉ là những bản e-file, còn các tư liệu gốc đang lưu trữ trong các thư viện ở Ý và châu Âu. Do vậy mà ước nguyện đi đến nước Ý để “tận mục sở thị” các tư liệu này luôn là niềm mơ ước của chúng tôi. Và điều đó đã trở thành hiện thực vào tháng 9-2013...
Bà lãnh sự người Ý trong tòa Lãnh sự Việt Nam
Chiều 26-9-2013, sau mấy ngày tìm kiếm tư liệu ở Rome, nhóm nghiên cứu chúng tôi “bắt” tàu tốc hành đi Torino. Thành phố này là thủ phủ của vùng Piedmont ở miền bắc nước Ý và là quê hương của Hãng xe hơi Fiat nổi tiếng.
Trước khi đến Ý, tôi đã liên lạc nhiều lần với bà Sandra Scagliotti - lãnh sự danh dự của Lãnh sự quán Việt Nam tại Torino - để tìm kiếm sự giúp đỡ. Khi tôi hỏi về tu viện Santa Maria al Monte, nơi đang lưu giữ một cuốn sách cổ có viết về Hoàng Sa của Việt Nam, bà Sandra cho biết tu viện ấy nằm trên một ngọn núi ở ngoại ô thành phố Torino. Bà viết: “Tôi có biết cuốn sách ấy và cũng quen biết ông Trần Doãn Trang, người đã phát hiện cuốn sách này và kể về nó trên báo chí Việt Nam”. Rồi bà gửi cho tôi số điện thoại và địa chỉ email của ông Trang để tôi liên lạc. Tuy nhiên, vào thời điểm chúng tôi đến Torino thì ông Trần Doãn Trang bận việc riêng nên không thể đưa đoàn làm phim đến tu viện Santa Maria al Monte.
Đến Torino vào lúc chiều muộn, tôi gọi cho bà Sandra. Bà hẹn sẽ đón đoàn vào lúc 9g ngày 27-9-2013 tại Lãnh sự quán và sẽ bố trí người đưa chúng tôi đến Monte dei Cappuccini, nơi tu viện Santa Maria al Monte tọa lạc. Khi chúng tôi đến tòa lãnh sự quán, Sandra đón từ ngoài cửa. Trên ngực bà lấp lánh tấm Huân chương Hữu nghị do Nhà nước Việt Nam trao tặng. “Xin chào những người bạn Việt Nam. Tôi là Sandra Scagliotti, lãnh sự danh dự của Lãnh sự quán Việt Nam ở Torino” - bà Sandra chào chúng tôi bằng tiếng Việt.
TS Trần Đức Anh Sơn trao đổi với nữ Lãnh sự người Ý Sandra Scagliotti
Ảnh: P.X.N
Tuy chỉ là lãnh sự danh dự nhưng bà Sandra Scagliotty làm việc như là một lãnh sự thực thụ, điều hành mọi hoạt động của Lãnh sự quán Việt Nam ở Torino, kể cả việc làm thủ tục cấp visa vào Việt Nam cho những người nộp đơn ở Torino (ngoại trừ việc ký phê chuẩn visa là do đại sứ Việt Nam ở Rome thực hiện).
Sau khi mời trà, bà Sandra nói: “Bây giờ các bạn đến tu viện Santa Maria al Monte để tìm tư liệu ngay trong sáng nay. Tôi đã liên hệ với tu viện trưởng để nhờ tìm kiếm tư liệu theo yêu cầu của các bạn. Vanni, nhân viên lãnh sự quán, và Hạnh, cộng tác viên của lãnh sự quán, sẽ đi cùng các bạn để hỗ trợ. Chúng ta sẽ gặp lại nhau ở đây vào buổi chiều”.
Bà Sandra còn chuẩn bị sẵn những tài liệu về mối quan hệ giữa Ý với Việt Nam trong lịch sử và những tư liệu về vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa - Trường Sa do người Ý biên soạn để chúng tôi tham khảo.
Đế chế An Nam và Hoàng Sa trong cuốn sách của Adriano Balbi
Tu viện Santa Maria al Monte ở ngoại ô Torino. Con đường dẫn lên tu viện nhỏ và dốc nhưng cảnh quan rất đẹp. Mới đầu thu nhưng cây hai bên đường đã lác đác lá vàng. Cuối con đường hiện ra một ngôi nhà thờ xinh xắn với cánh cửa gỗ to nặng, áp lưng vào bức tường thâm kín của tu viện. Vanni nói với chúng tôi: “Nơi đây có hai thư viện, một do tu viện Santa Maria al Monte quản lý, một do cộng đồng dân cư ở Cappuccini quản lý. Cuốn sách các anh cần tìm nằm trong thư viện của tu viện”.
Tôi giật mạnh chiếc vòng sắt treo trước cửa tu viện. Một tiếng “keng” vang lên. Chừng vài phút sau, một vị tu sĩ trẻ xuất hiện. Vanni nói vài câu với vị tu sĩ. Cánh cửa được mở ra đưa chúng tôi đi vào một hành lang dài và hẹp, có các hàng hiên làm bằng đá cẩm thạch và những ô cửa hình vòng cung.
Vị tu sĩ trẻ mời chúng tôi vào nhà khách, mời ăn bánh ngọt do tu viện tự làm và dùng trà do tu viện tự sao, rồi đi báo với bề trên. Khoảng 15 phút sau, tu viện trưởng và nữ thủ thư của tu viện bước vào. Họ cho biết đã nhận được thông tin từ bà Sandra về lý do và mục đích của cuộc viếng thăm này. “Cuốn sách quý vị cần đã sẵn sàng trong phòng đọc, nhưng do nơi ấy có nhiều người đang đọc sách và phòng đọc lại nhỏ nên chỉ có hai người được vào đó để nghiên cứu và chụp ảnh” - cô thủ thư nói. Tôi quay sang tu viện trưởng, giải thích với ông rằng phải có bốn người vào đó mới đủ người để tra cứu, ghi chép và chụp ảnh. Chần chừ một lúc, tu viện trưởng đồng ý và dặn thêm: “Xin quý vị tuyệt đối giữ yên lặng”.
Đi qua hai lớp cửa, hai lần rẽ trái và một lần rẽ phải, chúng tôi mới đến được nơi để cuốn sách. Đó là cuốn Compendio di Geografia (Địa lý thế giới) của nhà địa lý học nổi tiếng người Ý Adriano Balbi. Cuốn sách này được viết bằng tiếng Ý, xuất bản lần đầu ở Livorno năm 1824, tái bản ở Paris năm 1838 (tiếng Pháp), ở Persth năm 1842 (tiếng Đức), London năm 1845 (tiếng Anh); tái bản có bổ sung ở Livorno năm 1850 (tiếng Ý) và Milano năm 1865 (tiếng Ý). Cuốn sách lưu trữ nơi đây là bản in năm 1850 ở Livorno. Cả nước Ý chỉ còn giữ được vài bản in cổ của sách này.


Tôi nhanh chóng lật đến các trang 437-438, nơi Adriano Balbi đã dành một trang rưỡi để viết về vị trí địa lý, địa dư, diện tích và dân số Việt Nam vào thế kỷ XVIII, mà Balbi gọi là “l’impero di An-nam” (đế chế An Nam). Sau khi cung cấp các thông tin tổng quát về Việt Nam, Balbi viết: “Appartengono pure a quest impero l’ Arcipenlago di Paracels, il gruppo dei Pirati, ed il gruppo di Pulo Condor” (Thuộc về đế chế này còn có quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Hải Tặc và quần đảo Côn Sơn).
Adriano còn dành cả trang sách bên dưới để miêu tả đế chế An Nam, nói rõ đây là một nhà nước độc lập, giáp với China (Trung Quốc) ở phía bắc, với Siam (Thái Lan) ở phía tây, có những dòng sông chính như sông Mai-kong (Mekong), sông Donai (Đồng Nai), sông Sang-koi (Sài Gòn?)...; có dân số khoảng 12 triệu người và mật độ dân cư trung bình 57 người trên một dặm vuông...
Vậy là Adriano Balbi đã xác nhận Paracels (quần đảo Hoàng Sa) thuộc về Việt Nam trong một cuốn sách có tựa đề Địa lý thế giới, được xuất bản từ đầu thế kỷ XIX và tái bản nhiều lần bằng các thứ tiếng Pháp, Anh, Đức trong suốt mấy chục năm sau đó. Một thực tế được một nhà địa lý học nổi tiếng nhất châu Âu công nhận cách đây gần 200 năm và được cả châu Âu thừa nhận như một sự thật hiển nhiên.
Vĩ thanh
Sau bảy tháng “lang thang” qua chín quốc gia, chúng tôi đã tiếp cận và sao chụp khoảng 30 tư liệu thành văn và hơn 50 bản đồ các loại. Tất cả đều là những bằng chứng xác thực, góp phần chứng minh Việt Nam đã có quá trình khai phá, xác lập và thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ hơn 400 năm qua.
Chúng tôi đã tiếp xúc, tham vấn nhiều học giả quốc tế về giá trị của các bằng chứng lịch sử về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, họ đều xác nhận Việt Nam có những chứng cứ lịch sử rõ ràng và xác thực về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, họ cũng cho rằng những chứng cứ này chỉ là một trong những tài liệu có giá trị tham khảo khi giải quyết tranh chấp; và để bảo vệ được chủ quyền quốc gia, Việt Nam cần áp dụng nhiều biện pháp khác, trong đó việc nhờ cậy các tòa án quốc tế là một việc “chẳng đặng đừng” và trước sau gì điều này cũng sẽ xảy đến.
TS TRẦN ĐỨC ANH SƠN
 ------------------------------------
Nguồn:


Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014


"QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN"

Cao Huy Thuần



            Từ đầu năm đến nay, nghĩa là từ khi có Thông điệp đầu năm của thủ tướng, nở rộ lên trên mạng nhiều bài viết và nhiều lời tuyên bố đề cao dân chủ, trong đó "quyền làm chủ của nhân dân" phất phới như một ngọn cờ tiên phong. Ai mà không thấy hồ hởi phấn khởi trước một khí thế bùng lên như vậy? Vận hội mới như đang hiện ra trước mắt. Dân chủ như bình minh chợt sáng ở chân trời. Thế nhưng, phải đón nhận thế nào đây khái niệm "quyền làm chủ của nhân dân"? Rằng hay thì thật là hay, nhưng cũng phải coi chừng để nó đừng trở thành một khẩu hiệu rỗng như bao nhiêu khẩu hiệu đã từng nghe từng thấy. Phân tích nội dung của nó một cách chi li, mong rằng đó không phải là việc làm gàn dở của một anh đồ nho ngồi chẻ sợi tóc làm tư.

            Dù biện minh thế nào đi nữa, khó mà chối cãi rằng khái niệm "quyền làm chủ của nhân dân" đã xuất phát từ hiến pháp 1980 dưới ngôn từ"quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động". Điều 2 của hiến pháp ấy nói: "Sứ mệnh lịch sử của nhà nước là thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động". Điều 3 hùng hồn hơn: "Nhà nước bảo đảm... chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, làm chủ trong phạm vi cả nước, từng địa phương, từng cơ sở, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân". Ngày nay, ta bỏ chữ "tập thể" và chữ "lao động" đi vì đã quá lỗi thời, nhưng, đứng về mặt khái niệm, hãy coi chừng, cháu chắt và tổ tiên ấy cùng chung máu mủ. Xin phân tích.

            Trước hết là hai chữ "làm chủ" trong "quyền làm chủ". Làm chủ là gì? Có người trả lời: là tự mình quyết định vận mệnh của mình. Nếu có ai vặn lại: thế nào là tự mình quyết định vận mệnh của mình?, lại sẽ có lắm câu trả lời khác nhau, lại sẽ lý luận ngày đêm. Cho nên có người trả lời đơn giản: làm chủ là ra lệnh. Đó là sự khác biệt giữa chủ và tớ. Không có tớ nào ra lệnh cho chủ. Không có chủ nào tuân lệnh của tớ. Rạch ròi phân biệt.
            Vậy thì nhân dân có ra lệnh không? Không! Dù ở trong thực tế hay trong lý thuyết, nhân dân không ra lệnh. Vì lẽ giản dị là nhân dân không tự mình cai trị mình. Đâu đâu cũng có sự phân biệt giữa chính quyền và dân chúng. Lệnh là từ chính quyền ban ra, dù chính quyền đó được dân bầu ra đàng hoàng đi nữa. Có điều là: không chính quyền nào hoàn toàn dựa trên mệnh lệnh mà cai trị. Không chính quyền nào tồn tại được nếu chỉ cai trị bằng mệnh lệnh, nếu mệnh lệnh ngự trị trên sự cúi đầu thụ động của người dân. Dù độc tài đến đâu, chính quyền nào cũng cố tạo ra, dù chỉ là giả tạo, ít nhiều hưởng ứng tích cực của người dân. Các chế độ dân chủ thì khác: họ cố thúc đẩy hưởng ứng tích cực của người dân, càng nhiều càng tốt, càng tích cực càng đạt lý tưởng. Nhưng chắc chắn không bao giờ và không ở đâu có chuyện dân hoàn toàn làm chủ vận mệnh của mình. Đó là lý tưởng phải đi đến, nhưng không bao giờ đến, bởi vì nếu đến mức đó thì chính quyền sẽ không còn nữa, dân và chính quyền đã là một. Nhưng dù không đến, vẫn phải đi, càng đi đến gần lý tưởng được bước nào, mệnh lệnh càng ít được cảm thấy bước đó, tính cách "chủ" của dân càng hiển hiện. "Làm chủ" chỉ có thể hiểu với ý nghĩa đó thôi.

            Nhưng làm thế nào để mà đi? Tự đi chăng? Tất nhiên! Ta có chân thì ta phải sử dụng chân. Xã hội sinh ra vốn đã có chân, vốn đã có đời sống riêng, vậy xã hội phải tự đi. Nhưng, xã hội nào cũng cần phải được dẫn dắt để đi trên con đường mình muốn, và đó là sự khác biệt căn bản giửa sự dẫn dắt độc tài và sự dẫn dắt dân chủ. Dẫn dắt dân chủ là dẫn dắt trên con đường mà dân chọn, chứ không phải quan chọn. Và dẫn dắt như vậy là để làm gì? Để đưa nhân dân lên địa vị chủ. Để nhân dân làm chủ. Hôm nay, làm chủ một ít, ngày mai làm chủ thêm nữa, và cứ thế mỗi ngày một thêm. Nhưng nếu có ai cắc cớ hỏi dân: "Vậy thì ông đã thành chủ chưa?", chắc chắn câu trả lời là chưa, và hơn thế nữa, không bao giờ. Bởi lẽ, như đã nói, làm chủ là một quá trình dài thăm thẳm, có đi mà không có đến. Nếu đến thì còn đâu nữa quyền lực, khi dân và chính quyền đã là một? Đó là một trạng thái thiên đường mà ai đó đã vẽ ra để mơ ước cho vui một xã hội không giai cấp, chứ ai mà chẳng biết nhân loại chưa bao giờ và sẽ không bao giờ thổi kèn đưa đám ma quyền lực?
            Dĩ nhiên có người sẽ bắt bẻ: làm chủ mỗi ngày, mỗi lúc, trong nhiều sự việc khác nhau, trong nhiều quan hệ khác nhau, như vậy đích thực là làm chủ rồi, sao còn ngụy biện? Vâng, trên quá trình làm chủ, mỗi bước đi, mỗi thực hiện cụ thể là mỗi hân hoan, mỗi chiến thắng của lý tưởng làm chủ. Nhưng làm chủ trong sự việc này, làm chủ trong sự việc kia, là làm chủ trong những sự việc cụ thể. Làm chủ trong những sự việc cụ thể thì có, mà làm chủ chung chung thì không. Làm chủ chung chung đã là không, thì quyền làm chủ chung chung cũng không nốt. Không có cái gì cả. Trống rỗng.

            Từ đó, xin bước qua quyền làm chủ. Suy ngẫm cho kỹ, khái niệm "quyền làm chủ" cũng có thể đưa vào ngõ bí! Bởi vì đó là một thứ "quyền" không giống các quyền khác. Những quyền khác là những quyền mà ngay khi được công nhận, bảo đảm, thì được thực hiện liền. Tôi có chân, nên khi được quyền tự do đi lại là tôi đi. Đi bộ, đi xe, đi máy bay. Tôi có miệng nên khi được quyền ăn nói là tôi nói. Tôi viết được nên khi báo chí được cởi trói là tôi viết. Luật pháp cấm không được xâm phạm gia cư nên nửa đêm có ai đấm cửa tôi cứ yên giấc ngủ khò. "Quyền làm chủ" thì không như vậy. Không phải cứ hô lên: "Anh làm chủ!" là tôi tức khắc làm chủ. Nói là nói, đi là đi, viết là viết, ai cũng hiểu. Nhưng làm chủ, ai biết làm chủ là như thế nào? Một đằng, tự tôi, tôi đã có sẵn khả năng, tiềm lực, để thực hiện quyền được công nhận; một đằng, tự tôi, tôi loay hoay, lúng túng, không biết phải làm gì với cái quyền mà người ta đặt vào tay tôi. Làm chủ, tôi đã không biết phải làm chủ như thế nào, làm sao tôi hình dung ra được cái "quyền làm chủ" của tôi? Làm sao tôi đòi thực hiện được một cái quyền mà chính nội dung mờ mờ mịt mịt trong đầu tôi? Tôi đòi một cái mà tôi không biết là cái gì, sao gọi là quyền được? Chẳng lẽ có ai hỏi tôi: "anh đòi cái quyền gì vậy?", tôi lại ấp a ấp úng "ấy, anh cứ hỏi lãnh đạo của tôi"?

            Chẳng phải tôi muốn bới bèo ra bọ đâu. Điều tôi muốn nói rất là quan trọng trong lúc này. Không có cái chuyện làm chủ chung chung nên cũng không có cái quyền làm chủ chung chung đang trở thành khẩu hiệu. Làm chủ, là làm chủ trong từng sự việc cụ thể, cho nên mỗi sự việc cụ thể đưa đến một quyền khác nhau. Nghĩa là có nhiều quyền khác nhau mà sự thực hiện triệt để sẽ đưa nhân dân lên địa vị chủ. Có nhiều quyền để làm chủ, những quyền để làm chủ. Không có một "quyền làm chủ". Và nhiều quyền, những quyền đưa nhân dân lên địa vị chủ đó, có gì lạ lùng đâu! Đó là những quyền dân chủ mà ai cũng biết! Nói "quyền làm chủ" là đi vào trừu tượng, sương khói, nghe thật sảng khoái, nhưng đố ai sờ được, nắm được, thấy được, mân mê được, âu yếm được. Nói "những quyền dân chủ", câu chuyện thành ra giản dị, ai cũng thấy trước mắt những quyền cụ thể, cầm được, sử dụng được, ôm ấp được. Quyền bầu cử trung thực chẳng hạn. Trước mắt tôi là cái lá phiếu, cái thùng phiếu, cái yên tâm muốn bỏ cho ai thì bỏ, cái người mà tôi tin tưởng, cái hồi hộp chờ xem kết quả... Trong khi tôi đang thích thú như thế, giá có ai nói: "anh vừa thực hiện quyền làm chủ của nhân dân đấy!", chắc tôi sẽ mất hưng phấn như nghe một điệp khúc quen tai trong đó chỉ thiếu chữ "tập thể". Tôi vừa thực hiện một quyền cá nhân cơ mà. Quyền bầu cử là một quyền cá nhân! Quyền của những cá nhân như tôi! Quyền của con người! Những con người có xương có thịt như tôi! Có hàng triệu bàn tay bỏ những lá phiếu khác nhau; không có một "bàn tay nhân dân", một bàn tay tập thể! Đây là lúc ta cần cụ thể hóa mọi quyền, càng cụ thể hóa càng đi tới dân chủ, đừng dùng mãi những điệp khúc trừu tượng. Càng tổng quát hóa, càng trừu tượng hóa khái niệm quyền, ta càng làm vô dụng những quyền, càng đẩy những quyền ấy vào lý thuyết suông, càng mồ côi quyền trong thực tế. Đó là sự khác biệt một trời một vực giữa ngôn ngữ ý thức hệ và ngôn ngữ pháp lý.

            Những quyền dân chủ cụ thể đó, hãy nhân chúng nó lên! Những quyền đó càng nhiều, dân càng "làm chủ". Gộp tất cả những quyền đó lại, nhốt chung tất cả vào một bình hồ lô "quyền làm chủ của nhân dân", mở nút ra: dân chẳng thấy gì, chỉ còn khẩu hiệu. Một vấn đề tựa tựa như vậy đã đặt ra ở Tây phương trong thế kỷ trước. Còn gì cao đẹp hơn tự do - la liberté! Nhưng thế nào là tự do? Anh nói tự do, tôi nói tự do, nhưng có chắc anh và tôi cùng nói một chuyện không? Chẳng thế mà có người đã thốt ra một câu xót xa: "Ôi, tự do! Nhân danh ngươi, bao nhiêu tội ác đã phạm!". Nếu tự do có thể giết chết tự do, thì ngược lại, những tự do, những quyền tự do, les libertés, định nghĩa một cách rành rọt, bằng ngôn ngữ pháp lý phân minh, lại bảo vệ con người, bảo vệ tự do. Những quyền tự do đưa đến tự do. Thì cũng vậy, những quyền dân chủ cụ thể, chính xác, định nghĩa bằng ngôn ngữ pháp lý sáng sủa, đâu vào đấy, đưa nhân dân lên địa vị làm chủ. Cho nhân dân những quyền đó mà không nói gì đến "quyền làm chủ của nhân dân", nhân dân vẫn làm chủ như thường. Tỷ như cho nhân dân cá, cơm, mắm, muối, mà không nói gì đến quyền ăn no, dân vẫn no phủ phê. Còn như cho nhân dân quyền ăn no nhưng không cho cá, cơm, mắm, muối, thì nhân dân đành phải ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch.

            Đi xa thêm một chút nữa, mấy chữ "quyền làm chủ" nghe nó điệp nghĩa với nhau thế nào. Cứ lẩn thẩn mà tìm xem: có một thứ quyền nào mà không đưa đến làm chủ chăng? Quyền đi lại, ờ thì mình làm chủ cái chân. Đi khắp thế giới chứ phải vừa đâu. Nghĩa là ta đây làm chủ biên giới. Làm chủ không gian. Quyền nghỉ ngơi hàng năm, sướng quá, buổi sáng tha hồ ngủ, thế là mình làm chủ con mắt, muốn nhắm cũng được, muốn mở thì cứ mở. Mặt trời lên cao? Mặc xác nó, tôi làm chủ nó. Nhờ ăn, nhờ ngủ, nhờ nghỉ ngơi, tôi làm chủ sức khỏe của tôi, nhờ sức khỏe tốt, tôi vui vẻ trong mọi giao tế, kể cả giao tế với vợ. Tý nữa thì quên, với vợ tôi, hiến pháp cho tôi quyền bình đẳng. Thì tôi cũng làm chủ! Không bình đẳng thì phân vân, không biết ai là chủ. Bình đẳng thì mình cũng là chủ vậy! Mấy ông râu quặp nhờ vậy mà làm chủ được cả bộ râu! Đó là chỉ mới kể vài quyền cá nhân quen thuộc. Còn những quyền chính trị, xã hội, văn hóa quan trọng nói suốt trong hiến pháp, tính cách làm chủ không cần phải chứng minh. Như vậy, nếu hễ có quyền là có làm chủ, nếu bất cứ quyền nào cũng đưa đến chuyện làm chủ, tìm đâu cho được nội dung pháp lý riêng biệt, chính xác, của "quyền làm chủ"? Và như vậy, phải chăng "quyền làm chủ của nhân dân" là một lối nói có tính cách tuyên ngôn - déclaratoire trong tiếng Pháp - để nêu cao một lý tưởng, nhưng thực chất pháp lý là rỗng không?

            Vậy thì, anh đi đường anh tôi đường tôi, tôi tiễn anh đi về quá khứ của khẩu hiệu "làm chủ tập thể", còn tôi, tôi tiếp tục đi trên con đường của Thông điệp mà năm mới 2014 vừa vẽ ra trước mắt. Đất nước đã lâm vào tình trạng không lui được nữa, chỉ còn cách tiến tới mà thôi.

 Cao Huy Thuần

Tác giả gởi cho viet-studies ngày 15-1-14


Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014


THUNG LŨNG CHÙA THÁP

Ngọc Bảo


Trên hòn đảo Oahu của Hawaii, từ thành phố Honolulu đi lên phía bắc một chút có một nơi gọi là "Thung Lũng Chùa Tháp" (Valley of the Temples). Chúng tôi đi về phía ấy để đến thăm một ngôi chùa nổi tiếng của Nhật Bản, gọi là chùa Byodo-In (Bình Đẳng Viện). Ngôi chùa này là bản sao của ngôi chùa chính ở Uji, gần Kyoto, đã được Liên Hiệp Quốc phong tặng cho danh hiệu "Di sản văn hóa của thế giới".  Càng đi xa khỏi chốn phồn hoa đô hội của Honolulu, không khí càng trong mát hơn. Hai bên đường cây cối xanh rì, xen lẫn trong đó là những loại cây nhiệt đới, gợi nhớ đến hình ảnh ở Việt Nam. Phong cảnh ở đảo núi và biển đi liền với nhau, một bên là dãy núi thấp với mây mờ bao phủ trông thật huyền ảo, một bên là biển xanh sóng vỗ rì rào. Theo chỉ dẫn của chiếc máy chỉ đường GPS, chúng tôi đến đúng địa chỉ đang tìm. Nhưng chẳng thấy chùa tháp đâu cả, chỉ là cửa vào của một nghĩa địa. Đi lầm đường chăng? Không thể nào! Nhưng tại sao đây lại là nghĩa địa? Nhìn lại cổng vào, thấy rõ hàng chữ ghi đậm: Thung Lũng Chùa Tháp. Thì ra đó chính là tên của nghĩa địa!

            Không còn cách gì hơn, chúng tôi lái xe thẳng vào trong. Con đường ngoằn ngoèo đi qua những nấm mồ san sát, với những bia mộ đủ kiểu, đủ cỡ dựng lên, thay vì nằm sát xuống sân cỏ như ở California.  Và ở cuối đường, dưới con dốc thoai thoải, đi về sát chân núi là một chiếc cầu mầu đỏ, với mái ngói cong của một ngôi chùa hiện lên!  Nơi bãi đậu xe thấp thoáng bóng người với vài chiếc xe bus cho tour du lịch. Vậy là chúng tôi đã đến được nơi muốn đến!

            Đi qua chiếc cầu cong, phong cảnh trước mắt như đưa tôi trở về lại Kyoto Nhật Bản. Ngôi chùa được xây cất theo đúng kiểu của ngôi chùa chính, với cây cảnh khuôn viên phối trí mỹ thuật bên một bờ hồ tĩnh lặng.  Hàng cây cao rủ bóng bên lạch nước trong veo uốn khúc, những con cá koi đủ mầu bơi lội phía dưới.  Bên bờ nước, những con chim nhỏ từ đâu xà xuống, ríu rít đón nhận những thức ăn do du khách rải cho. Ở gần thác nước nhỏ, vài con công dại rũ cánh khua vang.  Khung cảnh ảm đạm của nghĩa địa đã biến mất để nhường chỗ cho một không gian thật yên bình tươi mát.  Trên con đường đi vào chánh điện có một tháp chuông thật lớn để du khách có thể tự do đánh lên. Giữa phong cảnh huy hoàng tráng lệ, tiếng chuông đại hồng ngân nga trầm hùng như đánh động tâm hồn, đưa người xa rời chốn trần ai hệ lụy mà đi vào cõi an bình.  Mỗi lần tiếng chuông ấy đánh lên, phải chăng không chỉ thức tỉnh những người đang sống, mà còn cả những linh hồn đang phiêu bạt ở những cõi nào khác ?  


Chùa Byodo-In và gác Đại hồng chung trong Thung lũng Chùa tháp tại Hawaii

Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe
Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm
Nguyện tiếng chuông này vang pháp giới
Khắp nơi u tối mọi loài nghe
Siêu nhiên vượt thoát vòng sinh tử
Giác ngộ tâm tư một hướng về.

Chánh điện khá nhỏ hẹp, chỉ có một bức tượng A Di Đà bằng đồng khá lớn, trông cũng uy nghi. Tuy nhiên ngôi chùa này không phải là nơi thờ phượng, cũng chẳng là nơi tu tập. Tất cả chỉ là cái vỏ đẹp đẽ cho mục đích du lịch và những dịch vụ tang ma, cưới hỏi nhiều hơn.  Phải chăng đạo Phật ở đây đã thoái hóa đến tận cùng chăng?

            Nhưng có lẽ không hẳn là như vậy. Ngôi chùa không có Phật, cũng chẳng có tăng.. nhưng khung cảnh  ở đây cũng có thể đưa người ta đến một cảnh giới an bình, tiếng chuông đại hồng ngân vang cũng có tác dụng nào đó để đánh thức tâm hồn. Những người đã xây dựng nên ngôi chùa này, hẳn phải có một mục đích nào đó sâu xa hơn chỉ là lập nên một phong cảnh du lịch. Vì sao xây dựng một ngôi chùa nguy nga như vậy trong lòng nghĩa địa? Còn gì thức tỉnh con ngưòi bằng sự đối diện với cái chết trước mặt. Thế thì trong phong cảnh u tịch của những nấm mồ, lại có một cảnh giới yên bình đẹp đẽ như cõi Tịnh Độ, chẳng phải đó là một bài pháp vô ngôn sao. Tuy không có một lời nói pháp, nhưng ngôi chùa Byodo-In ở đây có lẽ cũng độ sanh ngay ở trong lòng nơi độ tử vậy.
  
            Khuôn viên của một ngôi chùa đóng vai trò rất quan trọng, vì phong cảnh thanh tịnh có thể làm cho tâm hồn khách vãng lai trở nên an bình, và cũng nói lên phần nào tâm của người đã tạo lập ra cảnh vườn ấy.  Nhật Bản nổi tiếng với những vườn cảnh ngoạn mục đưa người ta trở về với thiên nhiên, với sự sắp xếp khéo léo hài hòa của cây, đá và nước.  Nổi tiếng nhất là vườn thiền của một số chùa, trong số đó độc đáo nhất là vườn đá ở Long An Tự  (thạch viên).  Vườn đá không có cây, không có hoa, chỉ là một sân cát sỏi trắng trên đó rải rác vài tảng đá nằm trên đám cỏ rêu. Trên sân cát sỏi ấy, các vị sư dùng cào rạch lên những đường thẳng đều nhau, uốn quanh những tảng đá, trông như những hòn đảo nằm giữa đại dương mông mênh. Ý nghĩa sâu xa của vườn đá này là "chân không diệu hữu" , là sự vận hành của sự sống, trong đó bản chất của mọi sắc tướng chính là không, và không cũng chính là sắc tướng  - sắc tướng chẳng khác gì không, và không cũng chẳng khác gì sắc tướng (kinh Bát Nhã).           


Vườn Zen trong một ngôi chùa tại Kyoto

  Có một câu chuyện thiền của Nhật Bản về vườn cảnh như sau:

Một vị sư được giao quản lý khu vườn của một ngôi chùa nổi tiếng là có khuôn viên đẹp. Vị sư này rất thích làm vườn, nên công việc này hoàn toàn thích hợp với ông. Cạnh ngôi chùa của ông có một ngôi chùa khác nhỏ hơn, trong đó có một thiền sư đã già sống một mình. Vị sư thường qua lại thăm nom thiền sư già, vì ông này không có thị giả bên cạnh.

Một hôm, nghe nói có người khách quan trọng đến viếng chùa, vị sư bỏ hết buổi sáng ra làm vườn cho thật hoàn hảo. Ông thu vén hết lá rụng, tưới nước trên cỏ rêu cho mướt, rải một ít hoa nơi chỗ thích hợp. Rồi ông đứng ngắm nghía khu vườn, đầy vẻ hài lòng. Thiền sư già đứng bên kia hàng rào, theo dõi tất cả một cách thích thú. Vị sư hỏi:

- Thầy thấy đẹp không? Con trang trí lại trông cứ y như là cảnh vườn của các vị tổ ngày xưa vậy
Thiền sư già gật đầu:
 - Đẹp lắm, nhưng vẫn còn thiếu sót một điều gì ấy. Con đem ta qua bên ấy, ta sẽ sửa lại cho.
Vị sư ngần ngại một chút nhưng rồi cũng phải chiều ý, đưa thiền sư già qua vườn. Vừa bước vào vườn, ông già đi từ từ lại một gốc cây ở trong một khu đá và cỏ rêu sắp xếp thật hài hòa. Lúc ấy vào mùa thu, lá chết rất nhiều. Thiền sư đứng dưới gốc cây lay mạnh - thế là lá vàng rụng tứ tung, bay rải rác khắp nơi trong khu vườn vừa được dọn sạch ngăn nắp.  


           Vì sao thiền sư già lại làm như vậy? Có lẽ đó là một cách để phá chấp sự vướng mắc quá nhiều của vị sư kia trong ước muốn làm cho khu vườn ấy được toàn hảo. Cái đẹp không chỉ tìm thấy trong sự toàn hảo, mà cũng ở nơi bất toàn hảo - vì cái đẹp thực sự không ở nơi hình tướng, mà ở nơi tâm hồn.  Ngay trong chỗ khiếm khuyết, chỗ bất toàn cũng có cái đẹp, đó chính là nét đẹp muôn mầu muôn vẻ trong pháp giới kỳ diệu của chúng ta.
 
          Tuy nhiên, cỏ cây gỗ đá chỉ là vật vô tình, một ngôi chùa quan trọng nhất là phải có Phật.  Phật không phải ở nơi mấy bức tượng, mà do công đức hoằng pháp và nguyện lực của tăng chúng. Vị sư trụ trì là linh hồn của ngôi chùa, gánh vác trách nhiệm một người con trưởng của Như Lai. Không gian trong một ngôi chùa là môi trường thấm thấu, tiếp nhận và lan tỏa năng lượng của đạo lực cũng như công phu tu trì trong ngôi chùa đó. Khách đến chùa khi ở trong không gian đó tự nhiên sẽ bị thu hút trong từ trường của đạo lực ấy, và cảm nhận sự biến chuyển nào đó trong tâm.

         Người ta thường nói: "Phật tại tâm, đâu cần phải đến chùa mới thấy Phật?" Điều đó rất đúng, nhưng nếu tâm còn vô minh thì làm sao thấy Phật trong đó được. Giống như bộ mặt của ta lúc nào cũng có ở đó, nhưng nếu không có gương thì làm sao chúng ta thấy bộ mặt của mình được. Giáo lý của Đức Phật và sự tu tập theo hướng dẫn của các bậc thầy là phương tiện cho ta có thể tìm thấy cái gương để soi chiếu được bộ mặt bản lai của mình, để được an bình và giải thoát. Thật tai hại biết bao nếu người hướng dẫn lại đi sai đường!

         Có một giai thoại đặc biệt về Thiền sư Hoàng Bá như sau. Khi Hoàng Bá đến ẩn cư tại ngôi chùa Khai Nguyên, có một vị đại quan của nhà Đường là tướng quốc Bùi Hưu đến thăm chùa. Vị sư trụ trì tiếp đãi rất long trọng. Khi tới nhà Tổ thấy hình các vị cao tăng treo trên vách, Bùi Hưu muốn thử sức trụ trì,  mới hỏi rằng:

 - Hình Cao tăng ở đây, mà cao tăng ở đâu?

Sư trụ trì không trả lời được, Bùi Hưu mới hỏi tiếp:
- Trong đây có vị thiền sư nào không?

Trụ trì nói:
- Có người mới tới, trông có vẻ như thiền sư.

Bùi Hưu bảo:
- Xin mời vị đó ra đây dùm.

Sư trụ trì mới mời Hoàng Bá ra. Thấy ngài, Bùi Hưu thưa:
- Khi nẫy, tôi có một câu hỏi Hòa thượng trụ trì, nhưng ngài tiếc lời không đáp, nay xin hỏi thiền sư: "Hình cao tăng ở đây mà cao tăng ở đâu?"

Ngài Hoàng Bá cất cao giọng gọi:
- Bùi Hưu!

Bùi Hưu giật mình đáp:
- Dạ!

Ngài Hoàng Bá hỏi:
- Cao tăng ở đâu?

Ngay đó, Bùi Hưu ngộ được câu trả lời.

           Một ngôi chùa có cao tăng là có Phật. Nhưng ta không thể tìm Phật nơi cao tăng, mà phải tìm Phật ngay nơi tự thân mình. Người có thể dùng phương tiện khéo, tùy duyên mà khai thị và hóa độ được cho tất cả mọi người thấy được Phật của mình, không phân biệt căn cơ trình độ,  mới gọi là cao tăng.
  
          Hiện nay, có phong trào xây chùa ở Việt Nam cũng như trong cộng đồng Việt ở hải ngoại. Điều đó là một dấu hiệu tốt, nhưng không có nghĩa là đạo Phật đang hưng thịnh. Trong một số triều đại xưa ở Trung Hoa, chùa chiền được xây lên rất nhiều, người xin vào chùa tu thật là đông đảo đến nỗi phải qua kỳ thi tuyển, thế nhưng phần lớn những hiện tượng đó chỉ là những hình thức trống rỗng, một cách "mua phước" của những người có quyền uy trong triều- khi triều đại sụp đổ thì những chùa chiền đó cũng sụp đổ theo.  Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma khi vừa từ Ấn Độ qua đến miền Nam Trung Hoa, được vua Lương Vũ Đế thỉnh vào cung hỏi rằng: 

- Trẫm từ khi lên ngôi tới nay xây chùa độ tăng vô số kể, in kinh hành thiện không ngừng, xin hỏi như vậy được công đức gì?

          Đạt Ma trả lời: 
- Chẳng có công đức gì hết.

         Lương Vũ Đế tức giận hỏi: 
- Vì sao?

         Đạt Ma trả lời: 
- Vì tất cả chỉ là hình tướng hữu vi. Công đức thực sự là trí tuệ chứng ngộ được thực tướng vô tướng, bản lai vốn không tịch, viên minh vi diệu. Công đức ấy không thể đem hình tướng mà cầu lấy được.

         Vẫn biết chùa là một phương tiện cần thiết để hoằng pháp, nhưng đôi khi trong một số trường hợp, ngôi chùa lại được tôn lên thành cứu cánh biện minh cho những hoạt động có tính cách thế gian, hơn là những nỗ lực tu tập và xiển dương chánh pháp để tự độ độ tha, tự giác giác tha.  

         Đạo Nguyên là một đại thiền sư của Nhật Bản, đã sáng lập giòng thiền Tào Động tại Nhật. Khi còn trẻ, ngài đã vượt bao sóng gió hiểm nguy để qua Trung Hoa tìm thầy học đạo. Lúc bấy giờ Trung Hoa đang ở trong triều đại nhà Tống. Đạo Nguyên đến một ngôi chùa danh tiếng, vào đảnh lễ nói lời thỉnh nguyện cầu đạo. Sư trụ trì nói:

            - Con đang trên đường tìm đạo, điều đó tốt lắm. Nhưng con phải biết rằng trong sự tu tập đạo Phật không nên dựa vào một người thầy, mà phải dựa vào chính tự thân mình để giác ngộ. Đó là điều sư phụ của ta đã dạy cho ta. Thôi, bây giờ ta bận công việc phải đi gặp giới quan quyền đây. Điều này rất cần thiết để giúp hộ trì cho nhà chùa đó.  Rồi con sẽ hiểu.

            Đạo Nguyên thưa:
            - Bạch thầy, con biết điều đó cần thiết để giúp hộ trì cho nhà chùa, nhưng...
            - Nhưng sao?
            - Nhưng không biết điều đó có giúp hộ trì cho Phật Pháp không? 

          Sư trụ trì nghe vậy đổi sắc mặt, bỏ đi một nước.

          Trong Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận, Đức Phật nói rằng trong thời mạt pháp, có "lục sư ngoại đạo",  mang tướng là sư nhưng ở chùa làm việc bại hoại, hủy báng pháp Phật, phỉnh gạt người đời. Đó gọi là những loài ma ba tuần hiện thân để phá hoại đạo Phật.  Có những ngôi chùa được dựng lên để buôn thần bán thánh, lợi dụng lòng mê tín dị đoan của dân chúng để biến chùa thành một cơ sở kinh doanh nhiều hơn là một cơ sở hoằng pháp. Vì vậy Phật tử phải sáng suốt minh mẫn, biết nhận xét các hoạt động trong chùa xem có hợp với chánh pháp hay không.  Gotami là nhũ mẫu của Đức Phật, đã nuôi nấng thái tử Tất Đạt Đa từ nhỏ đến khôn lớn, sau này được Đức Phật cho phép xuất gia. Bà đã học từ Đức Phật những lời khuyên như sau:

        " Này Gotami, nếu pháp tu nào đưa đến khát vọng mong cầu, ngã mạn, ưa thích chốn phồn hoa náo nhiệt, không làm cho an vui, không gợi lên niềm tôn kính, không làm cho tinh tấn và có trí tuệ đạo hạnh, pháp tu ấy không phải là Chánh Pháp, không phải là Giới Luật của Như Lai.

        Còn bất luận pháp tu nào không đưa đến khát vọng mong cầu, không ngã mạn, làm cho an vui, ưa thích nơi yên tĩnh thanh tịnh, gợi lên niềm tôn kính, làm cho tinh tấn và có trí tuệ đạo hạnh, thì đó đúng là Chánh Pháp, là Giới Luật của Như Lai."

        Đức Đạt Lai Lạt Ma, trong tinh thần cởi mở và thức thời, đã nói như sau  về vấn đề xây thêm chùa trong thế kỷ 21: "Tôi không đặc biệt khuyến khích xây thêm chùa chiền hay tu viện, tôi muốn thấy một trung tâm giáo dục nhiều hơn, và ở đâu cũng có thể có một ngành học chuyên biệt về đạo Phật, đạo Lão cũng như những lý thuyết đạo đức thế gian. Gần đây tôi mới nói với những người ở Ladakh rằng họ phải nhắm đến việc biến những tu viện của họ thành những trung tâm học hỏi nhiều hơn."  Phải chăng Đức Đạt Lai Lạt Ma muốn ngụ ý rằng nên giảm bớt sự tập trung vào những hình thức cúng tế lễ nghi cổ truyền mà phải trau dồi kiến thức nhiều hơn, để có thể đưa đạo vào đời một cách thích hợp hơn với thời đại ?

         Kể từ đầu thế kỷ 20, khi người Nhật và người Hoa bắt đầu di dân sang Mỹ, chùa chiền cũng bắt đầu được dựng nên tại nơi định cư mới, nhưng theo thời gian, các ngôi chùa khởi thủy này đã mai một dần và gần như mất hẳn.  Tuy nhiên, trong những thập niên cuối của thế kỷ 20 cho đến ngày nay, đạo Phật đã phát triển vượt bực ở  nước Mỹ, có lẽ phần lớn nhờ vào sự phổ biến của mạng lưới internet và phương tiện truyền thông tân tiến.  Mặc dù những cơ sở hoằng pháp vẫn còn rất ít, nhưng vì không phải vướng mắc trong những nghi thức cúng lễ cổ truyền như các nước Á Châu, người Âu Mỹ đã đi thẳng vào những điểm tinh túy trong triết lý đạo Phật và lựa lọc trong đó những pháp môn tự lực như tu thiền để áp dụng vào đời sống. Trong tinh thần đó, Phật pháp đã từ từ thâm nhập vào nền văn hóa của xã hội Âu Mỹ trong những bước âm thầm mà vững chắc.

        Nhưng mặc dù thời thế đã thay đổi, khi thế hệ thứ nhất của những người Việt di dân không còn nữa, những ngôi chùa đang được xây dựng hiện nay theo truyền thống Việt Nam liệu có thích nghi được với môi trường mới và vượt qua được những thách đố của thời đại để thường tồn không, hay cũng rơi vào số phận những ngôi chùa khởi thủy của người Nhật, người Hoa trước kia?  

        Điều đó chỉ có thời gian mới trả lời được. Dầu gì, tất cả cũng chỉ là nhân duyên mà thôi.  Nhưng dù cho những ngôi chùa có thường tồn hay mất đi, Phật giáo có phát triển hay suy vi,  Pháp Phật bao giờ cũng còn đó, hiện diện khắp nơi trên thế giới này, bất sinh bất diệt, bất tăng bất giảm, dù có người biết đến hay không biết đến.  Lại nhớ đến Thung Lũng Chùa Tháp, đến ngôi chùa Byodo-In ở Hawaii, tuy không thực sự là một ngôi chùa, nhưng khi thấy tượng Phật A Di Đà, khi nghe tiếng chuông đại hồng ngân vang, cũng để lại trong lòng người một chút gì đó.
         
Ngọc Bảo
Tháng 1, 2014