Hiển thị các bài đăng có nhãn berlin. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn berlin. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2015


CÒN MỘT LẦN NỮA KHÔNG?

Nguyễn Tường Bách


Cách đây một năm, Tết Giáp Ngọ 2014, bài này đã được đăng trong một tạp chí trong nước. Vì lý do dễ hiểu, bài bị cắt bỏ nhiều đoạn. Sau một năm, tình hình đất nước có thay đổi, nội dung của bài phù hợp hơn bao giờ hết. Sau đây là nguyên văn bài viết.

Năm 1986 là một năm đáng nhớ trong đời tôi.

Một ngày nọ trong mùa thu 1986, bọn chúng tôi sáu người được Hội người Việt Nam tại Đức cử về nước để “điều trần” về tình hình thế giới, góp ý với Đại hội Đảng lần thứ sáu.
Đó là thời điểm mà các nước theo chủ nghĩa xã hội tại Đông Âu bắt đầu có những dấu hiệu thay đổi. Tại Ba Lan, tháng 9.1980, công đoàn Đoàn kết thành hình và ngày càng phát huy ảnh hưởng. 1984 khắp nơi tại Ba Lan biểu tình lan rộng. Tại Hungary năm 1980, kinh tế thị trường bắt đầu được áp dụng, năm 1982 họ gia nhập Quỹ tiền tệ quốc tế IMF và ngân hàng thế giới WB.
Tại CHDC Đức từ giữa những năm 80, đảng cầm quyền đã phải nhượng bộ thành phần đối lập. Cũng giữa những năm 80, Gorbachev thực hiện đổi mới Glasnost và Perestroika. Tháng 3.1985 Gorbachev tuyên bố mỗi nước trong khối Warsaw được quyền theo đường lối riêng. Từ đó, học thuyết được mệnh danh Sinatra thay thế học thuyết Brezhnev, vốn được dựng lên từ 1968, sau khi Liên Xô đập tan mùa xuân Praha của Tiệp Khắc.

Những ai theo dõi thời cuộc đều hiểu là một khi Liên Xô tuyên bố đường ai nấy đi thì đó là dấu hiệu tan rã của khối Đông Âu. Điều đó cho thấy chủ nghĩa xã hội kiểu Đông Âu đã chứng tỏ sự phá sản của mình.

Tôi chuẩn bị về Hà Nội và nhớ đến CHDC Đức của những năm qua. Đây là quốc gia hùng mạnh nhất của khối Đông Âu, có tiềm lực khá nhất về kỹ thuật và kinh tế so với các nước khác, kể cả với Liên Xô hồi đó. CHDC Đức tiếp giáp với Tây Đức, về mặt địa lý lại chứa cả Tây Berlin nằm lọt thỏm trong lòng nó, nên CHDC Đức chính là “tiền đồn” số một của phe xã hội chủ nghĩa. Chính vì lẽ đó mà Đông Đức càng cẩn mật hơn đối với mọi ảnh hưởng của phe Tây phương.
Tôi càng nhớ hơn những ấn tượng của mình tại Đông Đức trong năm 1970. Đó là năm mà bọn sinh viên trẻ chúng tôi, mà chỉ là người nước ngoài, người Đức không được tham dự, được đặc cách cho đi thăm CHDC Đức một ngày, buổi tối không được ở lại, phải trở về Tây Berlin.
Chuyến xe bus chạy trên những hành lang đã định sẵn từ Tây Đức đến Tây Berlin, xuyên qua địa phận Đông Đức, trên những xa lộ cách ly với phố xá làng mạc. Thỉnh thoảng xe dừng lại để sinh viên Tây Đức, với chút ngoại tệ “mạnh” ít ỏi trong túi, được mua cà-phê thuốc lá trong các cửa hàng Intershop. Họ cần ngoại tệ mạnh và đó là lý do mà chúng tôi được đi thăm. Qua biên giới, ngồi trên xe tôi thấy rõ công an Đông Đức dùng những chiếc gương lớn có bánh xe, đẩy vào gầm xe xem có công dân nào của họ trốn dưới đó không.

Từ Tây Berlin chúng tôi đến Checkpoint Charlie, đó là cửa biên giới giữa hai phần của thành phố Đông Tây Berlin. Khách hồi hộp đi qua những hành lang hẹp, quanh co dưới cặp mắt dò xét của công an mật vụ Đông Đức. Mỗi khách phải đổi 20 Mark, tiền Đông Đức, một ăn một, nghe là để mua sắm, nhưng thực tế là trả tiền vào cửa với ngoại tệ mạnh.

Sau vài góc đường kể từ trạm kiểm soát, lạ thay có một thanh niên tìm tôi hỏi chuyện. Anh hỏi tôi có dư chiếc quần jean nào muốn bán lại cho anh. Tôi trố mắt lắc đầu. Anh lại đề nghị tôi cùng đi đến Intershop mua hàng với ngoại tệ mạnh, tiền anh đưa, công dân như anh không được mua hàng Intershop. Tôi cũng lắc đầu nốt. Vô cùng ngạc nhiên tôi tự hỏi, con người mới xã hội chủ nghĩa mà như thế này ư, nhất là trong một xứ ưu việt nhất của khối Đông Âu.

Trong ngày hôm đó của năm 1970 tôi lại nhớ lại một kỷ niệm xưa. Trước đó chục năm, khoảng 1960, tôi chỉ là một đứa trẻ 12 tuổi sống trong thành thị miền Nam thời còn hòa bình. Ngày nọ tôi được theo người lớn ra bến sông Bến Hải, đến cầu Hiền Lương nhìn qua bờ Bắc. Vĩ tuyến 17 là đây, sông Hiền Lương nước chảy chầm chậm. Tôi bâng khuâng nhìn qua, bên kia là đồng bào của tôi hay sao. Xa xa ta thấy rõ trẻ con người lớn đi lại, có người đi xe đạp. Nhưng đập vào mắt tôi là một hàng chữ thật to, dành cho người nhìn từ bờ nam. “Hai miền, hai chế độ”. Dù là đứa trẻ, tôi biết ngạc nhiên thấy câu khẩu hiệu có vẻ “hiền”, không khiêu khích, không tuyên truyền như tôi tưởng.



Trên cao ở hai bờ là hai lá cờ, một vàng một đỏ. Lạ thay chiếc cờ vàng rủ xuống như khăn tang. Còn lá cờ đỏ bên kia, không rõ được làm bằng thứ vải gì mà trời ít gió vẫn bay phất phới. Điềm lành điềm dữ gì đây?

Chiếc cầu Hiền Lương khung sắt mặt gỗ chỉ là một chiếc cầu nhỏ như trăm vạn chiếc cầu trên quốc lộ 1, tôi nhìn và nghĩ đời mình sẽ không bao giờ đi trên cầu đó. Thế nhưng hồi đó vẫn có người qua lại, vì khi tôi vào văn phòng quân đội miền Nam đã có một người đội nón cối, miệng hút thuốc ngồi đó. Ông mang “bưu thiếp” từ bên kia qua, khuôn mặt bất động nhìn chúng tôi. Trong bọn chúng tôi có một đứa mũi hơi cao, da hơi sáng. Ông thốt lên “cháu này lai Mỹ”. Câu nói đầu tiên và duy nhất của ông đã trật lất.

Chục năm sau tại Đức tôi đang nếm mùi của “hai miền hai chế độ”. Nhưng hôm nay tôi được băng qua biên giới, đi thăm miền đất của con người mới xã hội chủ nghĩa. Ở đây chưa ai nhìn tôi với cặp mặt khinh thị, ngược lại có kẻ chạy theo xin hỏi mua chiếc quần jean.
Suốt chục năm sau tôi không trở lại Đông Đức, nhưng vẫn nghe người dân ở đó vẫn tìm mọi cách vượt biên qua Tây Đức, bất kể hiểm nguy cho bản thân và hệ lụy cho người ở lại. Thế nhưng với lực lượng công an cảnh sát mà tôi từng tận mắt trông thấy, tôi nghĩ Đông Đức sẽ trường tồn thiên thu bất diệt. Tấm gương mùa xuân Praha 1968 vẫn còn nóng hổi. Thậm chí tôi còn lo ngại một ngày xấu trời nào đó, bộ đội Đông Đức sẽ tràn ngập Tây Berlin vì thành phố này nằm như một hòn đảo phồn vinh giữa một vũng lầy nghẹt thở.

Thế mà chỉ hơn 15 năm sau kể từ lần viếng Đông Đức, tôi cùng phái đoàn ngồi máy bay về Hà Nội, sẽ gặp lãnh đạo Đảng và Nhà Nước để “báo cáo về tình hình thế giới và phong trào”. “Báo cáo” ở đây phải gọi là “báo động” thì đúng hơn vì thông điệp của chúng tôi cho các vị lãnh đạo là hãy thay đổi, trên thế giới đang rục rịch thay đổi.

Trong một buổi sáng nắng hoe vàng như màu nắng thường thấy ở miền Bắc trong mùa thu, chúng tôi đến văn phòng Trung Ương Đảng, vào trong một gian phòng nghiêm trang, ngồi vào một chiếc bàn rất rộng. Người “làm việc” với chúng tôi không ai khác hơn là ông Nguyễn Văn Linh, về sau là Tổng Bí thư. Các nhân vật khác cùng có mặt là các ông Đào Duy Tùng và Hoàng Bích Sơn. Các vị lắng nghe chúng tôi một cách nghiêm túc. Tôi bất ngờ cảm nhận lòng cởi mở thân tình của các vị quan chức cấp cao nhất. Họ không có vẻ gì ngạc nhiên khi nghe tình hình các nước Đông Âu đang chao đảo. Họ để cho chúng tôi nói hết, không tỏ chút gì khó chịu khi  nghe nói đến khuyết tật cố hữu của một nền kinh tế kế hoạch.

Ngồi đây tại Hà Nội tôi không khỏi nhớ lại đời mình. Từ một đứa trẻ đứng ngẩn ngơ bên cầu Hiền Lương và nghĩ đời mình sẽ không bao giờ qua bờ Bắc, tôi đã đi một vòng lớn của cuộc đời. Số phận cho tôi đến học tập ở Đức, cũng một nơi được gọi là “hai miền hai chế độ” như nước mình. Rồi tôi cũng từng băng hàng rào sắt qua bên đó và chứng kiến chớp nhoáng cách làm ăn cò con của thời bao cấp. Nay tôi lại ngồi đây, trong một quê hương thống nhất, tại trung tâm quyền lực của cả nước và “làm việc” với Tổng Bí thư.

Thế nhưng nói thật lòng, ngay hồi đó tôi đã không có chút ảo tưởng nào. Làm sao mà các vị đó tin nghe mình, chấp nhận kiến nghị của dăm ba Việt kiều non nớt và đáng ngờ được. Những người mà họ tin nghe phải là những người khác mà chúng tôi không bao giờ gặp. Tiếng nói của chúng tôi chỉ điểm trang cho vui trong một hoàn cảnh cần chút màu sắc khác lạ. Vòng đời từ cầu Hiền Lương, gặp ông cán bộ đưa thư, đến Tây Đức, rồi lạc một ngày qua bên Đông để rồi hôm nay về lại tổ quốc, ngồi đối diện với Tổng Bí thư chỉ là một trò đùa hóm hỉnh của số phận hay đi lang thang của tôi.

Sau đó Đại hội VI diễn ra trong tháng 12.1986 với nhiều thay đổi thực. Lãnh đạo Việt Nam từ bỏ con đường bao cấp, chấp nhận nhiều thành phần kinh tế và mở cửa cho đầu tư nước ngoài. Tôi hoàn toàn không nghĩ đó là nhờ “công” góp ý của chúng tôi mà chủ trương này đã định hình một cách bắt buộc trong bối cảnh ảm đạm của nước Đông Âu. Thế nhưng so với cũ, đây là một công cuộc đổi mới vô cùng quyết liệt và mang lại thành quả to lớn.

Tháng 11 năm 1989, một biến cố long trời xảy ra tại Đức. Bức tường Berlin sụp đổ. Tôi ngồi xem hàng đoàn người hân hoan đi qua Checkpoint Charlie, nơi mà gần 20 năm trước chúng tôi phải chầm chậm đi về trong ngày, giữa những con mắt xoi mói. Tôi sởn da gà khi nhớ rằng, lịch sử ngàn năm sẽ nhớ lại cảnh này, cảnh một dân tộc thống nhất không cần tốn một viên đạn. Cầu Hiền Lương của họ đã mở cửa và người ta đi chiều ngược lại.


Hè năm 2012 chúng tôi trở về Checkpoint Charlie. Đường Friedrich không còn chập chùng đồn bót, nay rộng rãi thông suốt. Gần đó là một quán ăn Việt Nam đông khách, phục vụ trẻ măng. Đồng bào tôi đây, không hề ít tại nước Đức kỳ lạ này. Xung quanh trạm biên giới cũ, ta còn thấy hình ảnh xưa, nền móng cũ, ngày đó nơi đây một thuở… Quanh tôi là khách du lịch còn trẻ, người nước ngoài khá nhiều. Họ có biết chăng có người cảm khái nhớ đời mình và vận nước non của 40 năm qua.

Sau lần gặp Tổng Bí thư tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ gặp quan chức cấp cao nữa. Thế nhưng cũng có một ngày đặc biệt trong đầu những năm 90. Tại sân bay Bangkok, trên xe bus từ máy bay vào nhà ga, tôi gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông lên xe trước tôi, lúc đó còn rất khỏe mạnh. Tôi đến gần ông, trân trọng hỏi thăm “Thưa Cụ, có phải Cụ là Cụ Võ Nguyên Giáp?”. Ông không trả lời, cũng không nhìn tôi, làm như không nghe thấy. Khuôn mặt ông bất động còn hơn ông cán bộ đưa thư ngày nọ. Tôi ngẩn ngơ, tự hỏi phải chăng mình nhìn lầm. Xuống xe tôi đi nhanh vào sảnh. Ở đó đã có vài ba người đứng đón, có chị mặc áo dài, với vòng hoa và bảng đề “Nhiệt liệt chào mừng…”.

Tôi thưa không thấy trả lời. Trong nước ông là vị tướng từng oanh liệt đánh thắng giặc Pháp. Ra ngoài ông đề phòng những ai nói tiếng Việt.

Kể từ đó tôi không còn gặp quan chức cấp cao, thật lòng tôi cũng không muốn. Nhưng cấp thấp thì nhiều. Thỉnh thoảng tôi vẫn gặp gỡ chuyện trò với họ, thậm chí chơi chung thể thao. Thỉnh thoảng khơi chuyện “bao cấp” ngày xưa thì y như rằng, ai cũng có chuyện để kể, từ anh lái xe đến ông thủ trưởng. Sức sống dân tộc to lớn thay. Thực vậy, chỉ bỏ ngăn sống cấm chợ và cho nước ngoài đầu tư mà nước ta đã tiến triển một cách ngoạn mục từ 1986 đến nay.
Nhưng rủi thay tiến trình của xã hội luôn luôn thay đổi và đòi hỏi phải có sự đổi mới. Qua năm thứ 14 của thế kỷ mới, Việt Nam đã bộc lộ tất cả khuyết tật của hệ thống. Kinh tế suy thoái, tham nhũng lan tràn, các giá trị văn hóa xã hội bị sa sút trầm trọng, điều đó đã quá nhiều sách báo nói đến. Tình hình ngày nay bức xúc hơn 1986, đó là điều tôi nhận xét. Nếu không thay đổi một cách tầm cỡ như 1986 đất nước sẽ đi về đâu?

Xét lại lịch sử, Việt Nam chỉ thay đổi khi quốc tế thay đổi. Sự chấm dứt thế chiến thứ hai là cơ hội cho Đảng lãnh đạo nắm chính quyền. Sự đổi xác năm 1986 là kết quả cuộc phá sản của các nước Đông Âu. Thế thì phải chăng Việt Nam phải đợi một biến cố tầm cỡ trên quốc tế? Tôi không biết.

Tại Đức thì sau 24 năm thống nhất, nước Đức đã đưa Đông Đức lên ngang tầm phát triển của phía Tây, đó là tin vui của họ trong mùa thu 2013. Hiện tượng người bỏ sang Tây để kiếm việc đã chấm dứt. Người Đức cũng không phải thánh thiện gì, chính trị gia của họ cũng đầy khuyết tật, cũng ôm ấp những ý đồ riêng tư và ích kỷ. Nhưng điểm ưu việt của Đức là họ quyết lòng theo một xã hội pháp quyền, tất cả phải được điều hành bằng luật pháp. Việc cựu Tổng thống của họ hiện nay phải hầu tòa vì tội lạm dụng quyền thế về một số tiền chưa đầy 1000 USD, một số tiền nực cười, đối với quan chức Việt Nam hiện nay hoàn toàn không lớn, cho thấy luật pháp của Đức triệt để như thế nào.

Tôi không nghĩ mình sẽ còn có cơ hội “điều trần” gì với ai tại Việt Nam nữa. Nhưng dân tộc Việt Nam phải được một lần hỏi ý kiến. Đã đến lúc rồi, người Việt Nam phải ngồi với nhau xem thử nên điều hành đất nước theo phương cách nào. Năm 1986 đã từng có một cuộc đổi thay quyết liệt.

Có còn một lần nữa không?

NTB


Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014


BERLIN, NGÀY HÈ …


Nguyễn Tường Bách



Tôi đến Berlin đúng ngày 13.7.2014. Lần này đi Berlin không phải du lịch, chẳng phải công việc mà tôi phải đi vì chữa mắt, chứng đục thủy tinh thể. Trong ngành nhãn khoa thì phẫu thuật thay thủy tinh thể thuộc loại giản đơn, nhưng tôi chấp nhận lái xe gần 650km vì muốn được một người bạn tư vấn và chữa trị. Anh là giáo sư tiến sĩ, giám đốc của một bệnh viện nhãn khoa tiếng tăm tại Berlin, một trong những người Việt thành đạt nhất trong bọn chúng tôi, sinh viên du học từ 45 năm trước.
Khi định ngày đến Berlin tôi không ngờ nhằm ngày chung kết của giải vô địch bóng đá thế giới. Đến Berlin, thủ đô của Đức, mà đúng dịp Đức vào chung kết thì lại càng nằm ngoài mọi tiên liệu. Không ai tính trước được kết quả bóng đá, tôi nghĩ thế vì cho rằng trong bóng đá yếu tố may rủi đóng vai trò quá lớn. Trong bóng rổ, bóng ném hay bóng chuyền ta có thể loại bỏ tính chất may rủi vì số lượng bàn thắng quá lớn. Còn trong bóng đá bàn thắng quá hiếm hoi.
Khách sạn nằm gần sông Spree, thuộc địa phận Đông Berlin ngày xưa. Berlin đã thay đổi nhanh chóng, không còn phân biệt đông tây. Ngày nay Berlin đúng là thủ đô của một nước lớn với những tòa kiến trúc tráng lệ và hiện đại. Nhưng Berlin cũng là một không gian sống đúng nghĩa cho tất cả mọi giai tầng xã hội. Đi giữa Berlin ta vẫn tìm thấy những góc nhỏ bình yên xanh mướt, những khu vườn hoang phế, những góc rừng âm u, những con đường lát đá cổ xưa như từ thời trung cổ còn sót lại.
Berlin đón tôi bằng một chiều trời nhiều mây sắp mưa. Tối nay 9 giờ trọng tài sẽ thổi còi mở màn trận đấu. Tôi mong đến trung tâm Berlin tại Brandenburger Tor để xem bóng đá cùng hàng trăm ngàn người. Nhưng từ trên xe đài phát thanh đã báo cảnh sát không cho ai vào nữa, Fanmeile đã ngập người. Cũng phải thôi, nếu vào đó, nhỏ người như vợ tôi chắc sẽ không thấy nổi màn hình. Và dù có lọt vào, liệu nàng có chịu nổi đứng suốt trận, có thể 120 phút, có thể đá phạt luân lưu?
Tàu điện ngầm ngập người. Hai cô gái châu Á mang trên đầu vòng hoa đen đỏ vàng đợi xe, nói cười tíu tít. Trên xe nhiều người đã mặc sẵn áo mưa, xem ra họ sẵn sàng đội mưa đêm nay. Những dòng người đi ngược chiều nhau, mỗi nhóm hẳn có một chỗ xem. Xung quanh tôi là tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hà Lan và vô số ngôn ngữ không thể xác định. Berlin bây giờ đã international thế ư, khác hẳn 45 năm trước?
Chúng tôi vội tìm đường đến Potsdamer Platz, nơi tôi hy vọng sẽ tìm ra một tiệm ăn với màn hình lớn. Ra khỏi ga tàu điện ngầm quả nhiên trời mưa. Còn hơn một tiếng nữa, kịp thôi. Nhác thấy bên kia đường một tiệm ăn Ấn Độ đông người, tôi băng qua quảng trường rộng mênh mông. “Đi đâu, đi đâu”, cô hầu bàn tay bưng cà-ri, miệng hỏi dồn dập. “Fussball”, tôi trả lời. “Hết chỗ, hết chỗ”. Tôi đưa mắt nhìn bàn đang trống, có tiếng “đã đặt từ lâu”. Tôi thầm rủa người Đức cái gì cũng đặt chỗ, lên xe xuống tàu, ăn sáng ăn tối gì cũng đặt chỗ trước. Thế thì những dòng người ngoài kia mang cờ quạt kéo nhau đi đâu? Mưa rơi, những người ngồi ngoài hiên đã ướt. Gần đến giờ, tôi không thể hụt một phút. Tôi chợt nhớ tới sảnh trong khách sạn của mình, màn hình cũng khá lớn.

Ngoài âm thanh trong máy dội ra, cả Berlin dường như nín thở lặng yên. Sau một trận thắng dòn dã, đội cầu Đức thường gặp khó khăn. Thực vậy, họ sắp thua. May quá, Higuain việt vị. Phút thứ 113, một tiếng reo như vỡ tổ, một tiếng reo duy nhất của cả Berlin, một tiếng reo kéo dài cả phút. Không phải chỉ tiếng reo, tôi cảm nhận có một làn sóng vận động trong không gian. Phải chăng niềm vui của hàng triệu dân Berlin đã trở thành năng lực vật chất để ta “nghe” một sự bùng nổ?
Trong phút kỳ diệu đó Götze dùng ngực chặn banh, chân trái làm bàn. Bàn thắng đó không phải chỉ là bàn thắng mà là một tác phẩm nghệ thuật. Bóng vào khung thành qua một góc rất nhỏ. Götze được mệnh danh sẽ đi vào lịch sử bóng đá Đức nhờ thắng trái này, bàn thắng duy nhất của trận đấu. Tôi yêu mến Götze và Özil, hai cầu thủ khiêm tốn và ít nói trong đội cầu và mừng cho anh gặp may. Nếu thủ môn đẩy ra được hay bóng không vào, người ta sẽ trách Götze sao không bình tĩnh chận banh lại và chỉ lách nhẹ là khung thành trống rỗng chờ trước mặt.
Anh tốt nghiệp ngành nhãn khoa năm 1977. Anh kể tôi nghe tiến bộ kỳ diệu của môn phẫu thuật nhãn khoa. Chỉ hai ba mươi năm trước có khi người ta phải chụp thuốc mê để bệnh nhân nằm yên, không được nhúc nhích. Ngày nay việc mổ xẻ cho tôi chỉ là một thao tác kéo dài chưa đầy 15 phút, với thuốc tê nhẹ quanh mắt. Tôi tin anh và thành tựu ngành y khoa, nhưng đối với người ngoại đạo như tôi, “mổ mắt” trước sau là một động tác vô cùng hiểm nghèo.
Trong thời gian gần nửa thế kỷ đã qua của chúng tôi, thành tựu khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực là cuộc cách mạng vĩ đại nhất trên thế giới. Người Việt xa quê như chúng tôi cũng từ xa chứng kiến cuộc đổi dời của đất nước, trải nghiệm tận mắt sự sụp đổ bức tường Berlin và công cuộc thống nhất nước Đức. Chúng tôi ai cũng mỗi năm mỗi về viếng thăm quê nhà và tuy không nói ra, vẫn quặn lòng về tình trạng ngổn ngang của xã hội Việt Nam.
Sau chúng tôi một thế hệ mới của người Việt ra đời. Đó là những Neue Deutsche (người Đức mới), như tựa đề của một cuốn sách mà con gái anh là đồng tác giả. Những người Đức gốc Việt đó hiện nay đang ở tuổi trên dưới 30, phần lớn đều thành đạt và có cá tính. Họ được đào tạo trong đại học, nói nhiều thứ tiếng và biết mình muốn gì trong đời. Đặc biệt họ rất coi trọng quê hương Việt Nam của cha mẹ, biết rằng Việt Nam là một yếu tố hình thành tính cách của mình.
Potsdamer Platz là một quảng trường đặc biệt tại Berlin. Ngày xưa trước khi nước Đức bị chia cắt, đây đã là một trung tâm giao lưu quan trọng của thành phố. Bức tường Berlin, như một vết dao tàn bạo, cắt quảng trường này làm hai, phố xá phía trên cũng như các tuyến xe điện ngầm phía dưới. Ngày nay quảng trường này là nơi du khách không thể không đến. Tôi đi thơ thẩn tại đây, đợi ngày mai vào phòng mổ và khám phá Berlin ngày nay toàn là những “người Đức mới”. Họ là ai cả vậy? Tại sao ai cũng trẻ đẹp và đầy sức sống? Họ từ đâu đến mà sao đủ màu da, đủ khuôn mặt và nói muôn thứ tiếng? Hay họ là du khách đêm qua đến Đức coi bóng đá và góp vui vào chiến thắng của đội cầu? Hay họ mới đến hôm nay để ngày mai được tận mắt đón chào đội cầu vô địch về đến Berlin?
Dấu cũ bức tường Berlin (chỗ người thiếu nữ đang đi)

Quảng trường Potsdamer Platz mênh mông có một đường lằn bằng đá chạy xuyên suốt. Đó chính là dấu tích của bức tường Berlin. Thực ra khắp nơi tại Berlin, dấu tích đó vẫn còn được ghi lại bằng đá chạy xéo trên các con đường tấp nập. Dấu tích này được đắp bằng đá thẫm màu, khách đi qua có thể không ai để ý. Đó là cách ghi nhớ quá khứ của người Đức. Họ không rùm beng ồn ào nhưng họ không quên. Những vết đen lịch sử do các chế độ độc tài của họ gây ra trong thế kỷ 20 không bao giờ phai mờ trong tâm trí họ. Không giống người Pháp, họ sợ nói đến lòng tự hào dân tộc vì tính chất này đã hơn một lần gây thảm họa thế chiến. Hôm nay người dân phất cờ đen đỏ vàng chỉ vì Đức thắng trận bóng đá. Ngoài ra người dân Đức không bao giờ phất cờ.
“Ông là người Việt Nam?”. Chị vừa hỏi vừa đắp lên người tôi tấm vải xanh lục truyền thống trong các phòng mổ. “Vâng, còn các chị?”. “Tôi từ Hàn Quốc”. “Còn tôi từ Ba Lan, chúng ta rất international”. Chị người Ba Lan kể tiếp: “Nhờ sếp chúng tôi mà bây giờ bệnh viện mắt này nổi tiếng thế giới, có cả bệnh nhân Saudi nữa cơ đấy”. Thì ra chiếc giường mổ này đã biết đến các vị công hầu người Saudi Arabia, nổi tiếng giàu có và khó tính.
Lúc anh đang mổ cho tôi cũng là lúc đoàn cầu thắng trận trở về Berlin. Chiều nay sẽ có gần nửa triệu người tụ tập trên quảng trường lịch sử Brandenburger Tor để ca khúc khải hoàn. Tôi sẽ không tham gia dự được, anh cũng không, các chị ấy cũng không nốt mặc dù họ rất hâm mộ bóng đá. Ngày trong tuần, ai cũng tất tả làm việc. Thế nhưng trong phòng đợi, một vòng hoa đen đỏ vàng treo trên tường, dáng hình trái tim.
Tôi không được lái xe trong những ngày tới, con mắt cần được hồi phục. Thực ra cũng không mấy ai thích lái xe trong thành phố lớn như Berlin. Thế nên đây cũng là cơ hội để đi lại những con đường lịch sử. Chúng tôi đứng trước một tòa nhà uy nghiêm, đây là nơi xảy ra cuộc khởi nghĩa đầu tiên ngày 17.6.1953 chống chính quyền Đông Đức. Ngày 17.6 đi vào lịch sử, trở thành ngày lễ của Tây Đức mà 45 năm trước sinh viên chúng tôi vui mừng được nghỉ học và không mấy ai biết tại sao.
Cách chỗ tôi đứng vài trăm mét hàng trăm ngàn người đang reo hò đón đoàn cầu, còn nơi đây vài du khách đang ngẩn ngơ đọc thông tin về một ngày lịch sử mà nếu không có nó thì hẳn cũng chẳng có ngày hôm nay. Đoàn cầu Đức thắng lợi chủ yếu nhờ tinh thần đồng đội, đó là điều mà ai cũng công nhận. Ngày nay Đức trở thành cường quốc số một tại châu Âu cũng nhờ lòng đoàn kết. Kể từ ngày thống nhất, họ không nói về hòa giải, họ làm chuyện hòa giải. Ta không quên, vị Thủ Tướng cũng như Tổng Thống hiện nay của họ đều là người đến từ phía đông.
Tôi lại đến xem những mảnh tường Berlin còn sót lại. Những khối bê-tông này được dựng lên năm 1961. Kể từ đó bức tường Berlin trở thành biểu tượng của chia ly và tang tóc. Bức tường này là tiền đồn của hai phe Đông-Tây, là chứng tích của một cuộc đối đầu vô nghĩa của lịch sử loài người. Năm 1989, 28 năm sau, “chủ nghĩa xã hội” đã bị châu Âu loại bỏ. Năm nay, khi Đức giành chức vô địch bóng đá, bức tường đã biến mất cũng khoảng ngần đấy năm, Berlin đã chuyển mình ngoạn mục. Đức trở thành một nước phồn vinh, trở thành một nước nhập cư, đón mời nhà khoa học, chuyên gia và thợ thuyền đến làm việc. Berlin trở thành nơi hội tụ, là chốn gặp gỡ náo nhiệt nhất của hai phía đông tây.
Tôi đến để anh tái khám. Xe chạy trên trục đường lớn mang tên Karl Marx. Berlin cũng như nhiều thành phố khác vẫn vinh danh triết gia xuất sắc này qua những con đường. Ông là một trong những người Đức được tung hô và thóa mạ nhiều nhất. Từ cả hai phía, những người to tiếng nhất thường là những người không đọc ông, không hiểu gì về ông cả.
Punktlandung” (Đúng ngay điểm rơi), đó là cách nói của anh chỉ một ca phẫu thuật chính xác. Chúng tôi bật cười khi nhớ đến từ “sáng mắt sáng lòng” của ngày tháng xa xưa. Sau 45 năm, phần lớn du học sinh ngày nọ đã đi sâu vào chuyên môn riêng của mình, đã trải nghiệm mọi chuyện đời hay dở. Tất cả không khỏi chạnh lòng khi sống tại một nước như xứ Đức mà nhớ về quê hương. Lịch sử hai nước giống nhau biết bao và cũng khác nhau biết bao.
Cúp vô địch bóng đá vừa qua được mấy ngày mà dường như không còn ai nhắc nhở. Đúng thôi, mới qua mấy ngày mà Kroos đã tuyên bố đầu quân cho Real Madrid, Philipp Lahm giã từ đội cầu quốc gia, Van Gaal đã đi huấn luyện cho Manchester United. Những người hùng của ngày 13.7 đã đi đâu mất cả, chắc họ đi nghỉ hè chuẩn bị cho mùa giải mới. Tuần trước đây họ là đồng đội thân thiết, chỉ vài tuần nữa họ sẽ sống mái với nhau trên các sân bóng châu Âu. Báo chí sẽ không thương tiếc phê bình khi họ đá hụt quả phạt đền, dù trước đây vài tuần họ là cứu tinh của màu cờ sắc áo. Không có gì chóng tàn bằng hào quang bóng đá.
Tôi ra phố Berlin đông người qua lại. Trên các đường đi bộ rộng thênh thang, nghệ nhân đường phố đủ mọi lứa tuổi chơi đàn vẽ tranh làm trò kiếm tiền lẻ. Không khác các thủ đô khác, Berlin cũng có kẻ không nhà, họ ngủ dưới gầm cầu, chú chó trung thành là vật sở hữu duy nhất. Tất cả những điều đó không hề làm phiền đến ai, càng không hề hấn đến khách du lịch. Sau lần trời mưa ngay tối chung kết thời tiết chuyển qua những ngày hè oi bức. Khách du lịch tay cầm chai nước, tay cầm bản đồ tuôn đi bốn phía.
Có tiếng hò reo trên phố và một đám đông mang đầy cờ quạt tiến về phía tôi. Lần này thì không phải màu đen đỏ vàng mà cờ Palestina với sọc xanh lá cây. Họ biểu tình chống Israel đem quân đánh dải Gaza. Tôi đi nhanh về phía trước thì gần đó lại một nhóm khác đang mít-tinh đọc tuyên cáo, ủng hộ “quyền tự vệ” của Israel. Cảnh sát Berlin, mặc đồ đen, đầu để trần, xem như võ sĩ châu Á, cả trăm người đang cách ly hai nhóm để tránh ẩu đả. Như thể tai ương ập đến chưa đủ, một chiếc máy bay Malaysia bị bắn rơi, thêm một lần nữa làm ta nhớ cuộc đối đầu Nga Mỹ trong thế kỷ trước mà Berlin là chứng tích vừa mới lành da.
Buổi tối, tôi kéo ghế của tiệm cà-phê trên vệ đường Kurfürstendamm ngồi nghe một chàng thanh niên chơi nhạc bên kia đường. Tiếng đàn điêu luyện với máy móc hẳn hoi vang hẳn qua bên này. Tôi chợt thấy một chị phụ nữ nép mình dưới gốc cây bên kia đường, xây lưng về phía tôi, đang nhìn anh. Tôi vừa nghe nhạc, vừa nhìn chị. Sau hơn nửa tiếng tôi rảo bước qua đường, gửi cho anh một đồng tiền xu, nhân thể nhìn mặt người đàn bà. Người trẻ tuổi chơi nhạc hào hứng, khẻ gật đầu cám ơn. Chị đăm đăm nhìn anh, khuôn mặt sầu muộn, dễ chừng bằng tuổi mẹ anh. Tôi rảo bước về khách sạn, chị vẫn ngắm nhìn anh.
Ngày qua ngày, đường phố Berlin xuôi ngược hàng vạn con người. Tôi mới đến Berlin chưa đầy một tuần. Cuộc đời tưởng như rất ngắn nhưng thực ra rất dài vì nó trải nghiệm quá nhiều biến cố. Hành tinh của chúng ta tưởng như rất bé nhưng thực ra rất lớn vì nó chứa quá nhiều cảnh ngộ và số phận.
Tôi đến Potsdam, đứng trước lâu đài Cecilienhof. Đây là nơi các nhà lãnh đạo Churchill, Truman và Stalin họp hội nghị trong tháng 7.1945 sau thế chiến thứ hai. Tại căn phòng này, các vị đó phân định lãnh thổ Tây Đức - Đông Đức. Rồi họ đàm phán chia thủ đô Berlin ra làm hai, để Tây Berlin thành một ốc đảo nhỏ bé nằm trong lòng Đông Đức. Sau đó Tây Berlin trở thành ngọn hải đăng cho cả dòng diễn biến lịch sử Đức. Phải chăng đây chính là lỗi lầm “chết người” của Stalin, chấp nhận Tây Berlin tồn tại để rồi nước Đức sụp đổ và kéo theo cả hệ thống chủ nghĩa xã hội Đông Âu ? Một sai lầm duy nhất quyết định cả “trận đấu” chăng?
Không, lịch sử không giống bóng đá, không phải chuyện một hai bàn thắng may rủi. Thành bại của lịch sử dệt nên bằng những biến cố từng ngày, vận hội của một nước có thể thấy trước được.
Hôm nay lại một ngày nắng sáng. Mười ngày sau khi đến Berlin, tôi lên xe trở về Tây Đức.

Nguyễn Tường Bách
23.7.2014

Nguồn: http://www.diendan.org/sang-tac/berlin-ngay-he..