Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Du. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Du. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015


NĂM THÀNH TỰU CHỦ YẾU
VỀ NGHIÊN CỨU TRUYỆN KIỀU
TRONG GẦN BỐN CHỤC NĂM QUA

Trần Đình Sử


Từ những năm 80 đến nay việc nghiên cứu Truyện Kiều ở nước ta đã có những tiến bộ vượt bậc. Nếu công lao của các nhà yêu văn học thế kỉ XIX là chép tay và khắc ván in Truyện Kiều để phổ biến rộng rãi cả ba kí Trung Nam Bắc, thì thành tựu của những năm cuối thế kỉ XIX sang đầu thế kỉ XX là phiên âm Truyện Kiều từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ và chú thích chú giải Truyện Kiều. Phong trào cổ súy Truyện Kiều đầu thế kỉ XX có công nâng cao vị thế Truyện Kiều trong mắt quốc dân, phát hiện cội nguồn của nó. Thành tựu nghiên cứu giữa thé kỉ XX gắn liền với hoạt động kỉ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du. Các giá trị nhân đạo, hiện thực, giá trị triết lí của Truyện Kiều được khẳng định. Bước sang giai đoạn từ những năm 80 đến nay nghiên cứu Truyện Kiều của chúng ta có năm thành tựu đáng chú ý.

1. Phát hiện và phiên âm các bản Kiều cổ thời nhà Nguyễn sang chữ quốc ngữ giúp đông đảo người đọc tiếp xúc với truyện Kiều Nôm.
Trong thế kỉ XX bạn đọc Việt Nam chủ yếu chỉ biết Truyện Kiều qua các văn bản chữ quốc ngữ. Nhưng Truyện Kiều là sang tác và ghi lại bằng chữ Nôm và từ thế kỉ XIX đã khắc ván và xuất bản nhiều bản Kiều bằng chữ Nôm. Từ đầu thế kỉ XXI các bản văn Nôm đã lần lượt được phiên âm và in lại cùng văn bản chữ Nôm. Đó là bản Liễu văn đường 1871 do Đào Thái Tôn nghiên cứu (KHXH, H., 2006), bản Kiều Oánh Mậu do Thế Anh phiên âm và dịch (nxb Văn học, H., 1999, 2013), bản Liễu văn đường 1766 do Nguyễn Quảng Tuân phiên âm chú thích (nxb Van học, 2004), bản Liễu Văn đường do hai ông Nguyễn Khắc Bảo và Nguyễn Trí Sơn phiên âm khảo đính (nxb Nghệ An, 2004); bản Duy Minh Thị 1872 do Nguyễn Tài Cẩn phiên âm nghiên cứu (nxb ĐHQG Hà Nội, H., 2002); bản Lâm Nọa Phu Nguyễn Hữu Lập do Nguyễn Quảng Tuân phiên âm, chú thích (nxb VH, H., 2003).
Với năm bản Kiều Nôm ấy bạn đọc ngày nay đã có nhiều tư liệu để nghiên cứu Truyện Kiều hơn bao giờ hết. Đồng thời nhiều bản Kiều Quốc ngữ nổi tiếng như bản Kiều của Trương Vĩnh Kí, của Bùi Kỷ – Trần Trọng Kim, bản Kiều của Hồ Đắc Hàm, bản Kiều của Nguyễn Can Mông… đều được in lại.

2. Nghiên cứu tìm lại nguyên tác Truyện Kiều. Mọi người đều biết văn bản gốc của Truyện Kiều nay đã thất truyền. Các bản Kiều lưu hành từ cuối thé kỉ XIX đến nay có nhiều sai khác trong nhiều câu chữ, vậy đâu là nguyên bản chữ nghĩa của Nguyễn Du? Viện văn học là cơ quan nêu và giải quyết vấn đề đó trước nhất ở Việt Nam, bắt đầu từ những năm 60 thế kỉ trước. Họ tiến hành hiệu đính chủ yếu dựa vào ba quyển: Liễu văn đường 1871, Trương Vĩnh Ký 1875 và Kiều Oánh Mậu năm 1902, kết quả đã sửa được một số chữ. Vao những năm 70 ông Nguyễn Thạch Gang tiến hành hiệu đính chủ yếu chỉ dựa vào bản của Kiều Oánh Mâu 1902, với tinh thần giữ lại những câu chữ mà nhân dân Việt Nam đã quen dùng, cho nên so với yêu cầu tìm về nguyên tác có vẻ như là một bước lùi so với cuốn của Viện văn học.
Cũng thời này ông Đào Duy Anh đã biên soạn Từ điển Truyện Kiều năm 1973 và năm 1979 cho công bố cuốn Kiều với chú thích công phu, chính xác, được đông đảo người đọc đón nhận. Bước sang những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, song song với việc phát hiện các văn bản Kiều Nôm cổ như trên đã nêu, các nhà nghiên cứu tiến hànhnghiên cứu theo một phương pháp khác. Chủ yếu là dựa vào các văn bản Nôm. Ông Nguyễn Tài Cẩn đã nghiên cứu kĩ bản Duy Minh Thị, coi đó là bản có giá trị nhất, do trong đó có kị húy các chữ trọng húy đời Lê Trịnh, kị húy đời Gia Long, những không húy các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, có nghĩa là văn bản đó có trước các đời Thiệu Trị, Tự Đức, nghĩa là gần với thời điểm khi Nguyễn Du còn sống. Mặc dù bản này khắc ở Quảng Đông và thợ Tàu do không biết chữ Nôm nên khắc sai nhiều chỗ, những vẫn rất quý báu. Ông tiến hành đối chiếu từng câu từng chữ của 9 bản Kiều thế kỉ XIX, xác định những chữ chung và những chữ khác, rồi đi đến kết luận, Truyện Kiều còn nguyên được 90%, còn khoảng 10% số chữ có sai khác.
Tìm lại nguyên tác là đi tìm trong khoảng 10% đó. Nhưng đi tìm như thế nào? Dựa vào những chữ đa số cũng có cơ sở, những nhiều khi đa số lại mâu thuẩn về văn lí, về nghệ thuật. Đi tìm cách đọc thích hợp. Phát hiện những từ cổ… GS Nguyễn Tài Cẩn đã bước đầu hình dung ra bản sơ thảo của Truyện Kiều (Xem Thử tim hiểu bản sơ thảo Đoạn trường tân thanh, nxb Giáo dục, 2008). Ông Nguyễn Khắc Bảo công bố bản Truyện Kiều hướng đến phục nguyên, nxb Giáo dục, H., 2009). Bản Truyện Kiều của Trần Nho Thìn và Nguyễn Tuấn Cường, nxb Giáo dục,  H., 2007) muốn soạn một bản Kiều cho độc giả thế kỉ XXI, chú ý đến sự tiếp nhận của người đọc đối với tác phẩm. Hiện nay đã có nhiều đề xuất, song vẫn chưa có một phương pháp thực sự có hiệu lực. Các văn bản vẫn còn khác nhau. Tuy vậy, so với trước chúng ta đã đến gần với nguyên tac của Nguyễn Du hơn bao giờ hết.

3. Nghiên cứu thời điểm sáng tác Truyện Kiều. Lúc đầu. dựa vào tiểu sử Nguyễn Du người ta xác định Truyện Kiều sang tác vào thời Nguyễn, sau khi đi sứ Trung Quốc về. Sau này ông Nguyễn Quảng Tuân vẫn cho rằng Truyện Kiều được sáng tác trong khoảng sáu tháng được nghỉ ngơi ở quê nhà sau khi đi sứ Trung Quốc về năm 1814. Ông Đào Duy Anh, ông Trương Chính rồi ông Hoàng Xuân Hãn căn cứ vào nhiều sự kiện để đoán định  rằng  tác phẩm Truyện Kiều được sáng tác trước thời Nguyễn. Ông Nguyễn Thạch Giang thậm chí cho rằng Truyện Kiều được sáng tác khi Nguyễn Du mới 14 tuổi.
Nhưng có nhiều sự thật chúng tỏ Truyện Kiều được sáng tác trước thời Nguyễn. Một là Kim Vân Kiều truyện của  Thanh Tâm tài nhân đã vào nước ta trước năm 1793 – 1794, là thời điểm Vũ Trinh viết Lan Trì kiến văn lục, Nguyễn Hoàng Sơn phát hiện). Ông Nguyễn Thạch Giang phỏng đoán Thám Hoa Nguyễn Huy Oánh 1763 khi đi sứ Trung Quốc về đã mang theo Kim Vân Kiều truyện, lưu trữ ở thư viện Phúc Giang nhà ông Oánh. Nhờ tiếp xúc Truyện Kiều sớm, Nguyễn Du đã sớm có ý định sáng tác Truyện Kiều. Hai là có giai thoại Nguyễn Du viết Truyện Kiều trong một đêm, đầu bạc hết. Những thơ chữ Hán Nguyễn Du cho biết ông bạc đầu lúc ba mươi tuổi, tức vào năm 1795. Ba là nhờ vào công cụ chữ húy, các ông Ngô Đức Thọ, Nguyễn Tài Cẩn, Đào Thái Tôn, Nguyễn Khắc Bảo đã chứng tỏ Truyện Kiều được sáng tác vào cuối đời nhà Lê, thời Tây Sơn, vì có kiêng húy một số chữ thời Lê Trịnh. Bốn là trong Truyện Kiều Nguyễn Du có một số câu có thể gây án văn tự, như “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, từng khiến vua Tự Đức nổi giận. Những câu ấy chỉ có thể viết vào lúc  cuối Lê và thời Tây Sơn. Năm là Nguyễn Lượng, người bình Truyện Kiều mất năm 1807, như vậy Truyện Kiều phải có trước, không chờ đến năm 1814. Sáu là trong lời bình của Nguyễn Lượng có phạm húy thời Gia Long, có nghĩa là nó phải được viết trước thời Nguyễn. Bảy là Nguyễn Thiện đọc văn Kiều rồi nhuận sắc Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự vào 10 năm cuối thế kỉ XVIII, như vậy Truyện Kiều đã có trước đó.
Như vậy nhận định Truyện Kiều được sáng tác bắt đầu từ những năm cuối thế kỉ XVIII gần như được khẳng định. Đồng thời quá trình sáng tác ấy không phải một lần là  xong, mà trải qua quá trình sửa chữa cho đến trước thời nhà Nguyễn là đã xong rồi. (Xem tổng thuật của Lê Thành Lân trong bài Truyện Kiều không thể được viết dười thời Nguyễn, công bố năm 2011).

4. Nghiên cứu văn học so sánh Truyện Kiều và văn hóa văn hoc Trung Quóc, xác lập tính độc sáng của Truyện Kiều. Truyện Kiều rất nổi tiếng, lại sáng tác trên cơ sở một tiểu thuyết chương hồi của tác gỉả Trung Quốc, cho nên vấn đề đặt ra là Nguyễn Du đã tiếp nhận và sang tạo thế nào để có một giá trị mới so với nguyên tác Trung Quốc. Việc so sánh này đã được nêu ra từ trước năm 1945. Đào Duy Anh lúc ấy chủ yếu so sánh hai tác phẩm về cốt truyện, và chỉ do chỉ so sánh như thế, cho nên tính sáng tạo của Nguyễn Du chưa được nêu nổi bật. Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã so sánh về thể loại, một bên là tiểu thuyết chương hồi, một bên là truyện thơ Nôm, nhà thơ đã tước bỏ nhiều tuyến truyện trong nguyên tác, chỉ lấy tuyến truyện bám sát với các nhân vật chính của truyện. Nhà thơ đã sáng tạo lại toàn bộ ý nghĩ và lời thoại của nhân vật, bỏ hết các bài thơ mà các nhân vật làm, sáng tạo các đoạn biểu hiện tình cảm qua các cuộc chia tay, cuộc đánh đàn, những lúc nhớ nhà; nhà thơ lại thay đổi điểm nhìn trần thuật để kể hàng loạt sự kiện quan trọng theo điểm nhìn của nhân vật chính, biểu hiện nhân vật từ bên trong.
Trong quá trình kể chuyện Nguyễn Du đã thay đổi nhiều chi tiết , thứ tự kể chuyện để cho hợp lí hơn, phù hợp tâm lí hơn thể hiện một tư tưởng sâu sắc hơn. Ví dụ, chân dung hai cô trong Kim Vân Kiều Truyện (KVKT) được tả dưới mắt Kim Trọng, trong truyện Nguyễn Du kể ngay từ đầu, dưới mắt người kể chuyện. Trong KVKT sau khi gặp mặt ở hội đạp thanh, hai cô về trước, còn Kim Trọng nghé theo, còn trong Truyện Kiều (TK) thì Kim Trọng về trước để hai cô nghé theo. Truyện Kiều tha bổng Hoạn Thư, còn KVKT thì vẫn dùng nhục hình để máu rơi thịt đổ. Kiều sau khi thất thân với Mã liền nghĩ “nhị đào thà bẻ cho người tình chung”, còn KVKT thì không. TK nói “chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”, còn KVKT thì không. Đem so sánh các phương diện như trên sẽ thấy Truyện Kiều là một sáng tạo mới so với KVKT.

5. Nghiên cứu phong cách, thi pháp Truyện Kiều. Thành tựu thứ tư là nghiên cứu phương diện phong cách thi pháp của Truyện Kiều. Trên cơ sở chứng minh Truyện Kiều là một sang tạo mới, các nhà nghiên cứu phân tích chỉ ra các phương pháp nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Du. Phan Ngọc trong sách Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1985), đã tổng kết , khái quát hệ thống các thủ pháp nghệ thuật của  Truyện Kiều, chứng minh Truyện Kiều là tác phẩm miêu tả tâm lí bậc nhất với các “thao tác” như để nhân vật ngồi một mình, lập hồ sơ nhân vật, khắc phục con người nhất phiến để tạo ra nhân vật phức tạp, sử dụng ngôn ngữ thiên nhiên và ngon ngữ tác giả, xây dựng bố cục theo bố cục của kịch, cú pháp truyện Kiều chủ yếu là sự dụng câu đảo trang.
Nhà nghiên cứu đã lạ hóa tác phẩm để người đọc đi sâu khám phá những điều mới mẻ trong tác phẩm. Trần Đình Sử trong công trình Thi pháp Truyện Kiều (2002, nhưng được viết từ năm 1981) đã chứng minh Truyện Kiều là sự kế thừa và phát triển của lời kể chuyện đã có từ trong Chinh phụ ngâm, Hoa Tiên thế kỉ XVIII.
Nêu các vấn đề như không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, cái nhìn nghệ thuật về con người, quan hệ giữa chủ đề, quan niệm con người và cách kể chuyện của Nguyễn Du, nghiên cứu mô hình tự sự của truyện Kiều khác với mô hình tự sự của Thanh Tâm Tài Nhân trong KVKT, thể hiện ở chỗ thay đổi điểm nhìn trần thuật, sử dụng ngôn ngữ độc thoại nội tâm, lời nửa trực tiếp. Tác giả cũng nghiên cứu hệ thống các biện pháp tu từ của Truyện Kiều, gồm cách dùng điển, phép đối, phép sóng đôi, phép chiếu ứng,  phép dùng mĩ từ, cách sử dụng màu sắc, giọng điệu trần thuật, cách phối xen hai từ để tạo từ mới. Sách cũng chỉ ra phương pháp nghệ thuật của Truyện Kiều không phải chủ nghĩa hiện thực, không phải chủ nghĩa lãng mạn, mà là chủ nghĩa cảm thương. Các nghiên cứu đó cho thấy nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Du, mà KVKT của Trung Quốc không thể có được.

Trên đây là năm thành tựu cơ bản về nghiên cứu Truyện Kiều trong khoảng bốn mươi năm gần đây. Tất nhiên đi tỉ mỉ hơn sẽ còn có nhiều thành tựu nữa. Song để có một cái nhìn lướt có tính chất khái quát thì năm thành tựu trên là đủ tiêu biểu.

Hà Nội, ngày 9 tháng 10 năm 2015.
Trần Đình Sử


Nguồn: https://trandinhsu.wordpress.com/2015/10/09/nam-thanh-tuu-chu-yeu-trong-nghien-cuu-truyen-kieu/

Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2015


TỪ GHI CHÉP VỀ VƯƠNG THÚY KIỀU TRONG MINH SỬ
ĐẾN TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

Nguyễn Cẩm Xuyên




Truyện Kiều của Nguyễn Du chiếm địa vị cao nhất trong văn học nước ta. Kiềukhông chỉ phổ biến rộng trong giới bình dân mà cả ở hàng trí thức, quí tộc, vua chúa… vẫn thích. Tương truyền vua Tự Đức mê đọc Kiều đến nỗi sách mòn đứt chỉ khâu, phải đóng gáy lại đến 3 lần.
Từ thực tế ấy, rõ ràng không có tác phẩm nào được chú ý nhiều đến vậy. Hơn thế nữa, truyện còn gây nên những tranh cãi kịch liệt xuất phát từ những quan điểm mâu thuẫn nhau. Khi mới được phổ biến, nhiều nhà Nho vẫn bài bác:
Đàn ông chớ kể Phan Trần
Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều.

“kể” ở đây là đọc, là ngâm lên cho người khác cùng nghe, cùng thưởng thức. Tam tòng, tứ đức cứng nhắc của đạo Nho đã khiến người ta dị ứng với những chuyện tình vượt ra ngoài vòng lễ giáo âu cũng là điều dễ hiểu; ấy vậy mà Kiều vẫn có sức sống mạnh mẽ. Người ta không chỉ đọc mà còn đố Kiều, lẩy Kiều, bói Kiều, vịnh Kiều, tập Kiều…; cứ thế trải qua hơn trăm năm, đến đầu thế kỉ XX thì nhóm tân học Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… khen ngợi Truyện Kiều đến tột cùng. Trên Nam Phong tạp chí, học giả Phạm Quỳnh đã từng viết: “… trước truyện Kiều không có sách gì hay bằng truyệnKiều, mà sau truyện Kiều cũng không có sách gì hay hơn truyện Kiều nữa…”. Ngày 8 tháng 12 năm 1924, trong lễ giỗ Nguyễn Du tại Hà Nội, Phạm Quỳnh - lúc này đang là chủ bút báo Nam Phong - trước hơn hai nghìn người đã hùng hồn tuyên bố “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”. Kể từ đó người tham gia tranh luận nhiều vô kể. Có người đồng ý, có kẻ nặng lời chỉ trích.

Truyện Kiều ở nước ta nổi tiếng là vậy mà nhân vật, cốt truyện lại là của sử sách Trung Hoa. Việc này cũng dễ hiểu bởi nước ta thâm nhập văn hóa Trung Hoa đã lâu đời. Các nhà Nho nước ta học chữ Hán, đọc sách Tàu thì thơ văn sáng tác chịu ảnh hưởng sách vở Trung Hoa là điều không tránh được. Nguyễn Du cũng không ở vào biệt lệ; vậy nhưng tuy mượn cốt truyện của Tàu mà các vật liệu khác tạo nên tác phẩm lại là thuần Việt: từ tính cách, ngôn ngữ nhân vật, các tình tiết truyện đến từng suy nghĩ, thái độ, cách ứng xử của các nhân vật…đều mang màu sắc đặc trưng của người Việt. Đọc Truyện Kiều: nhân vật trong truyện là những con người thuần Việt Nam không lẫn vào đâu được, khác xa tính cách nhân vật trong các truyện về Vương Thúy Kiều từ Minh cho đến Thanh của Trung Hoa.

Từ Minh sử đến "Vương Thuý Kiều truyện"
Vương Thúy Kiều là người thật ở đời Minh về sau trở thành nhân vật trung tâm của nhiều tiểu thuyết và một số vở kịch, tuồng như Tứ Thanh Viên của Từ Văn Trường(1) Hổ phách thỉ của Diệp Trĩ Phỉ, Song Thúy viên của Hạ Bỉnh Hoành... rồi trở thành nhân vật chính trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Mấy mươi năm trước, nói đến nguồn gốc Truyện Kiều, nhiều sách – kể cả một số sách giáo khoa trong nhà trường ở cả hai miền Nam Bắc – thường chỉ nhắc đến Kim Vân Kiều truyện  của Thanh Tâm tài nhân mà bỏ qua nhiều tác phẩm khác đời Minh đã viết về cuộc đời Vương Thúy Kiều.

Trước tiên, cần nói đến bộ sách Trù Hải Đồ Biên do quan Tổng đốc đời Minh là Hồ Tôn Hiến soạn gồm 13 quyển; ở quyển 9 có bài Kỷ tiễu Từ Hải bản mạt (2) (ghi chép ngọn ngành việc đánh dẹp Từ Hải) kể lại chuyện quân Minh đánh nhau với quân Oa (3) vào năm Bính Thìn (1556) đời Gia Tĩnh. Lúc này Từ Hải, một tướng cướp biển, mang hơn 1 vạn quân từ sào huyệt ở Sạ Phố xuống Hàng Châu càn quét các vùng Tô Châu, Hồ Châu, uy hiếp Kim Lăng. Thế giặc mạnh, Hồ Tôn Hiến phải dùng mưu dụ hàng rồi trở ngược lại đánh bằng hỏa công. Từ Hải thua trận nhảy xuống sông. Quân Hồ Tôn Hiến bắt được 2 thị nữ, một người tên Vương Thuý Kiều, một người tên Lục Châu, vốn xuất thân từ ca kỹ. Hai thị nữ khóc và chỉ chỗ Hải trầm mình; quân sĩ vớt Từ Hải lên chém lấy thủ cấp mang về…
"Kim Vân Kiều Truyện", hưu danh "Song Kì Mộng", "Song Hợp Hoan" 
(Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc còn có tên là Song Kí Mộng, Song Hợp Hoan

Về sau lại có thêm nhiều tác phẩm nữa kể chuyện Vương Thúy Kiều là Hồ Thiếu Bảo bình Oa chiến công của Chu Tiếp, Vương Thúy Kiều truyện của Dư Hoài, Lý Thúy Kiều truyện của Đới Sĩ Lâm, Sinh báo Hoa Ngạc ân, tử tạ Từ Hải nghĩa củaMộng Giác Đạo Nhân (4) và Vương Thúy Kiều truyện  của Hồ Khoáng. Trong truyện, Từ Hải đã được miêu tả là một anh hùng bên cạnh phu nhân là Vương Thúy Kiều. Các  truyện càng về sau càng hư cấu thêm nhiều nhân vật, nhiều tình tiết, biến chuyện có thật của lịch sử thành tiểu thuyết kì tình; riêng truyện của Mộng Giác Đạo Nhân và Dư Hoài (5) đã là tiểu thuyết luận đề, tập trung vào chủ đề tư tưởng rất hợp khẩu vị của giới bình dân: người phụ nữ rất đỗi tầm thường trong xã hội mà lại trung nghĩa, khí tiết hơn hẳn các bậc trượng phu, hơn cả những đại nhân, quan lại như Hồ Tôn Hiến. Mở đầu truyện, mặc dù Mộng Giác Đạo Nhân đã nêu gương Muội Hỉ, Đát Kỉ, Bao Tự, Trương Lệ Hoa, Dương Quý Phi… làm“hoang khí chính sự, chí táng quốc gia” trước khi kể chuyện Vương Thúy Kiều nhưng tựu trung lại tô điểm cho nhân vật này nhiều hào quang khiến hình ảnh người phụ nữ trong xã hội được đề cao: Vương Thúy Kiều không chỉ đẹp về hình vóc mà còn đẹp cả về tư cách, phẩm hạnh, là người trung hiếu vẹn toàn lại rất nghĩa khí: sẵn sàng liều mình khi ân nhân tử nạn.

Từ tiểu thuyết Minh-Thanh đến Truyện Kiều của Nguyễn Du
Trong tất cả các sách viết về Vương Thúy Kiều của Trung Hoa thì Sinh báo Hoa Ngạc ân, tử tạ Từ Hải nghĩa của Mộng Giác Đạo Nhân và Vương Thúy Kiều truyện của Dư Hoài là đã bắt đầu đậm chất tiểu thuyết và đã kể về cuộc đời Kiều khá tỉ mỉ:
 Vương Thúy Kiều là người Lâm Tri, thuở nhỏ bị bán vào kĩ viện, lấy họ Mã, thường gọi là Mã Kiều nhi. Tuy còn nhỏ nhưng đẹp và thông minh, lại hát hay, đàn giỏi, thổi sáo cũng hay nên được nhiều người mến chuộng; vậy nhưng tính tình nhã đạm, không thích trang sức và cũng không thích nghề chiều chuộng khách nên giả mẫu lấy thế làm giận, thường chửi đánh. May có được một chàng thiếu niên giàu có chuộc ra, thuê nhà cho ở, đổi tên là Vương Thúy Kiều. Về sau lại gặp La Long Văn, một hào phú có cảm tình thường chu cấp, đi lại với Kiều và nuôi thêm cho một hầu gái là Lục Châu. Lúc này có một tướng cướp là Từ Hải, gặp lúc quẫn bách lẻn trốn vào ở nhờ nhà Thúy Kiều.

Từ Hải nguyên là Minh Sơn Hòa Thượng, tu tại chùa Hổ Bào ở Hàng Châu. Long Văn gặp Từ Hải, đánh giá Hải là tráng sĩ nên cùng giao tiếp, lại đem cho Lục Châu làm hầu gái. Sống cùng La Long Văn một thời gian, Từ Hải từ biệt lên đường quyết lập chí dựng cơ đồ, chiêu tập bọn thảo khấu quay về xâm chiếm Giang Nam, vây đánh Tuần phủ Nguyễn Ngạc. Thật bất ngờ, trong một trận đánh, quân sĩ lại bắt được Thúy Kiều và Lục Châu. Mừng lắm, Từ Hải lập Thúy Kiều làm phu nhân, thường cùng cho dự bàn quân cơ. Lúc này thế lực Từ Hải đã mạnh; triều đình phải cử Tổng đốc Hồ Tôn Hiến ở Triết Giang đánh dẹp.

Hồ Tôn Hiến nhiều mưu lược, thấy thế lực của Từ Hải mạnh bèn cho Hoa lão nhân đến dụ hàng. Từ Hải nổi giận bắt trói Hoa lão nhân. May cho Hoa là lúc này tuy Kiều hết sức được yêu chiều nhưng vẫn canh cánh nỗi nhớ cố hương, mong sớm được đoàn viên bèn bàn với Từ tha chết cho Hoa. Hoa trở về báo với Tôn Hiến là thế giặc đang mạnh, chưa thể đánh nhưng xem ra Vương phu nhân có vẻ có ngoại tâm, ta có thể nhân đây mà thắng giặc. 

Tôn Hiến có biết La Long Văn là ân nhân cũ của Từ Hải và Thúy Kiều bèn dùng Văn để dụ hàng. Long Văn đến dinh, được Từ Hải ân cần tiếp đãi lại cho gọi phu nhân cùng Lục Châu ra chào. Trở về, Long Văn bàn với Hồ Tôn Hiến dùng kế đem châu báu lo lót Thúy Kiều, vận động Từ quy hàng. Đúng như ý nguyện, Kiều ra sức khuyên Từ Hải quy phục triều đình. Nghe lời Thúy Kiều, Từ Hải ước hàng cùng Tôn Hiến, không phòng bị gì. Tôn Hiến dùng hỏa công đánh giặc tan tác. Từ Hải nhảy xuống sông bị quan quân vớt lên chém đầu. Trong tiệc khao binh, Tôn Hiến bắt Thúy Kiều hát và chuốc rượu. Lúc quá chén, Tôn Hiến cũng giở trò đùa cợt. Hôm sau tỉnh rượu, sợ mất thể diện trọng thần, Tôn Hiến đem Thúy Kiều gả cho tù trưởng Vĩnh Thuận. Lúc sang sông, Kiều khóc lớn rồi đâm đầu xuống nước tự trầm.
Truyện của Dư Hoài tuy đã khá gần với Truyện Kiều nước ta song chưa xây dựng đoạn Kim Kiều tái hợp. Kiều chết trên sông Tiền Đường là hết chuyện. Cuộc đời Kiều chưa chứng minh cho tư tưởng Thiên mệnh và Nhân quả. Phải đợi đến đời Thanh, Kim Vân Truyện Kiều của Thanh Tâm tài nhân mới thực sự có cốt truyện gần giống với truyện Kiều của ta.

Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu cho rằng Truyện Kiều nước ta đã xuất phát từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân. Học giả Phạm Quỳnh cũng có ý kiến tương tự: “…Nguyên bộ tiểu thuyết Tàu mà cụ phỏng theo để đặt ra truyện Kiều đề là “Thanh Tâm tài nhân lục”, không biết rõ tác giả là ai, soạn vào đời nào, nhưng truyện với lời văn cũng tầm thường, ngoài mấy bài từ điệu có vẻ thanh tao lưu loát, không có đặc sắc gì. Nhưng bộ tiểu thuyết ấy cũng không phải là truyện đặt ra cả, có lẽ căn cứ ở sự thực mà kết cấu ra…”

Vậy là lúc này Phạm Quỳnh chưa thể xác định được Thanh Tâm tài nhân là ai vàKim Vân Kiều truyện viết khi nào, riêng Dương Quảng Hàm thì cho rằng: “Tuy là không biết tác giả tên thực là gì và sống về đời nào nhưng các việc kể trong tiểu thuyết đều thuộc về đời Gia tĩnh nhà Minh tức là tự năm 1522 đến năm 1566, mà sách ấy lại do Kim Thánh thán sống tự năm 1627 đến năm 1662 phê bình, vậy theo đấy ta có thể biết được rằng sách ấy làm vào khoảng cuối thế kỷ thứ XVI hoặc đầu thế kỷ thứ XVII”. Đến nay vẫn tồn tại nhiều giả thuyết về Thanh Tâm tài nhân, chưa ai khẳng định được đích xác.

Như vậy qua khoảng thời gian dài, một câu chuyện có thật trong lịch sử Trung Hoa đã trở thành một tiểu thuyết kỳ tình sau khi trải qua cả một quá trình sửa đổi thêm thắt nhiều tình tiết, nhân vật. Từ một con hát nơi kĩ viện, thường bị giả mẫu chửi đánh vì không chịu chiều đãi khách, Mã Kiều nhi đã thành một tiểu thư xuất thân nơi khuê các, có cuộc tình đầy hoa mộng với văn nhân Kim Trọng - một nhân vật không hề có trong đời thực của Vương Thúy Kiều; rồi cuộc đoàn viên sau 15 năm lưu lạc đến đời Thanh được thêm vào là nhằm phục vụ chủ đề “ở hiền gặp lành”, một chủ đề quen thuộc trong văn chương Đông Á… 

Có lẽ tất cả những cải biên này là sự phối hợp giữa những chuyện kể dân gian với sức tưởng tượng phong phú của nhà văn đời Minh-Thanh qua hơn 200 năm… rồi sau khi đến Việt Nam, nhân vật Vương Thúy Kiều lại được khoác lên một diện mạo hoàn toàn mới: sau khi lược bớt một số đoạn, thay đổi nhiều tình tiết, truyện đã trở nên ý vị hơn, đậm tình người hơn, tính cách nhân vật trở nên nhất quán hơn, cách ứng xử cân phân hơn, nhân hậu hơn…

Nguyễn Cẩm Xuyên


CHÚ THÍCH:
(1)   Từ Văn Trường (Từ Vị), một nhà văn đời Minh, có nhiều bút danh: Thiện Tri, Thanh đằng, Điền Thủy Nguyệt, là mặc khách của Hồ Tôn Hiến.
(2)   TRÙ HẢI ĐỒ BIÊN 籌海圖編 là bộ sách do Hồ Tôn Hiến soạn, gồm họa đồ vẽ các vùng biển thường bị quân hải khấu Nhật xâm phạm và các kế hoạch trù định nhằm giữ gìn an ninh vùng biển. Bài Kỷ tiễu Từ Hải bản mạt 纪剿徐海本末 chép ở quyển 9 của bộ sách này là do Phó sứ Mao Khôn, thuộc cấp theo lệnh Hồ Tôn Hiến ghi chép, đã kể lại khá tỉ mỉ cuộc đánh dẹp Từ Hải. (Hồ Tôn Hiến - Trù Hải Đồ Biên, Cảnh Ấn Văn Uyên Các, Tứ Khố Toàn Thư, sách thứ 343. Đài Bắc, Đài Loan; Thương Vụ ấn thư quán, 1983)
(3)   Oa 倭 : lùn. Người Nhật bản xưa thấp bé nên người Trung Hoa gọi là Oa nhân倭 人(người lùn), nước Nhật là Oa quốc 倭国 , cướp biển từ Nhật sang gọi là Oa khấu 倭寇 (giặc lùn). Chữ Oa vẫn hay bị đọc nhầm là Nụy
(4)   Đây là hồi thứ 7 của tập truyện 三刻拍案惊奇Tam Khắc Phách Án Kinh Kì đời Minh của 梦觉道人 Mộng Giác Đạo Nhân.  .
Dư Hoài 余怀(1617—?)tự là Đạm Tâm, học giả, nhà thơ, nhà văn nổi tiếng đất Giang Nam đời Minh mạt-Thanh sơ.