Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2014


THẢO LUẬN VỀ
“THOÁT TRUNG VỀ VĂN HÓA”
TRÊN VĂN VIỆT

Hoàng Hưng 



Văn Việt: Buổi hội thảo “THẢO LUẬN “THOÁT TRUNG VỀ VĂN HOÁ” TRÊN VĂN VIỆT” tại trụ sở Hội Liên hiệp Khoa học Kỹ thuật Việt Nam do Quỹ Phan Châu Trinh và NXB Tri Thức tổ chức chiều 15/8/2014 đã có sự tham dự đông đảo, đặc biệt là thành phần trẻ có tỷ lệ đáng kể. Nhà thơ Hoàng Hưng thay mặt Văn Việt đã tóm lược những ý kiến chính đã đăng tải trên Văn Việt về chủ đề “Thoát Trung về Văn hoá”.

Các ý kiến phát biểu sôi nổi khá đa dạng, đa chiều, đặt ra nhiều vấn đề cần suy nghĩ và tiếp tục đào sâu, cụ thể hoá. Đây cũng là dịp Văn Việt công khai xuất hiện chính danh như một diễn đàn văn hoá nghiêm túc, có trách nhiệm xã hội, có vị trí trong công chúng văn hoá nước nhà. 
Cuộc thảo luận “Thoát Trung về Văn hoá” do Văn Việt mở từ cuối tháng 6/2014 đến hôm nay (15/8/2014) đã đăng 19 bài, có một số bài lấy từ các trang mạng khác. Các tác giả khá đa dạng về lĩnh vực hoạt động và địa bàn cư trú, gồm nhà hoạt động chính trị, xã hội, nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo, dịch giả… trong và ngoài nước. Đến đây ta có thể nhìn lại một số ý kiến chính đã được nêu trong các bài viết, nhằm nhận rõ những gì đã có thể coi là khá thống nhất, những gì còn khác biệt, những gì cần tiếp tục thảo luận để nhận thức sáng tỏ và thiết thực hơn về chủ đề lớn này.

Xin lưu ý:
1/Những khái niệm bao quát thường gặp trong cuộc thảo luận này như “văn hoá”, “dân tộc” có nội hàm rất phong phú, có thể hiểu theo nhiều cách, nhiều tầng, nhiều cung bậc, tùy theo phạm vi và mục đích sử dụng. Thậm chí gần đây theo nhà nghiên cứu Trần Quang Đức thì triều đình Việt từng nhiều lần tự xưng là Trung Quốc, Hoa Hạ, một số nhà nho đầu TK 20 như Hoàng Cao Khải nói “Dân tộc Nam ta là Hán tộc không còn nghi ngờ gì nữa”… cho thấy sự phức tạp và biến chuyển trong sự giao thoa, tiếp biến kéo dài mấy nghìn năm trong quan hệ Trung-Việt, Bắc-Nam.
2/ Những bài viết trên Văn Việt về chủ đề “Thoát Trung về văn hoá” không mang tính thuần túy học thuật, mà có ý nghĩa “thực dụng”, bàn những vấn đề cấp bách về chính trị xã hội của đất nước, các văn bản cũng không phải những tiểu luận chỉn chu mà chỉ là những ý kiến sơ khởi.

A/ NHỮNG Ý KIẾN KHÔNG ĐỒNG TÌNH

Ngay từ khi Văn Việt tuyên bố mở mục, đã có một số ý kiến không tán thành xuất hiện trên mạng, tiêu biểu là của nhà báo Phạm Thành gửi cho Văn Việt: 1/ Văn hoá Việt đồng nghĩa văn hoá Trung Hoa nên nói thoát văn hoá Trung là hủy văn hoá Việt. 2/ Vấn đề cấp thiết hiện nay là thoát Trung về chính trị chứ không phải văn hoá.
“Cho nên đặt vấn đề thoát Trung về văn hóa để thảo luận đồng nghĩa với việc đặt vấn đề tiêu tùng văn hóa Việt, người Việt.
Đó là lý do mà trong một ngàn năm người Việt có chính quyền nhà nước, chưa từng có triều đại nào đặt đề thoát Trung về văn hóa như mấy nhà điều hành mạng vanviet.info đang phát động.
Nhưng, mặc dù học tập và ứng dụng đại trà Văn hóa Trung Hoa vào nước Việt nhưng người Việt vẫn giữ gìn được bờ cõi cương vực, và mặc dù triều đại nào của nước Trung Hoa cũng đưa quân xâm lược nước Việt, rốt cuộc chúng nó vẫn bị đánh cho tơi bời, buộc phải cong đuôi rút chạy về nước.”
(Phạm Thành – Thảo luận kiểu chọc tiết lợn đằng đít)

Cũng có một số ý kiến cho rằng việc học văn hoá Trung Hoa để chống lại Trung Hoa là cần thiết, như học Khổng là thiết yếu để xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền Việt Nam để bảo vệ độc lập.
Ý kiến văn hoá Việt đồng nghĩa hoặc chịu ảnh hưởng rất quan trọng (theo hướng tốt) của văn hoá Trung Hoa cũng được chia sẻ ở các mức độ khác nhau, như hai dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng và Trần Đĩnh đều nhấn mạnh giá trị và sự hấp dẫn không thể phủ nhận của văn học Trung Hoa xưa, điện ảnh Trung Quốc bây giờ. Hai tác giả cảnh báo phải thận trọng khi nói đến văn hoá, một vấn đề “rất trừu tượng mà cũng rất cụ thể” (Trần Đĩnh) và không được sa vào chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi (Trần Tiễn Cao Đăng, Trần Đĩnh), vì văn hoá Trung Hoa là sản phẩm tốt đẹp của nhân dân Trung Hoa qua ngàn năm lịch sử.

B/ Ý NGHĨA THỜI SỰ CỦA CUỘC THẢO LUẬN “THOÁT TRUNG VỀ VĂN HOÁ”.

Như vậy câu hỏi đầu tiên phải đặt ra là: Cuộc thảo luận “Thoát Trung về văn hoá” có thật sự cần thiết? Cuộc vận động “Thoát Trung” nói chung đang diễn ra sôi sục hiện nay trong lòng xã hội Việt Nam có ý nghĩa thiết thực gì?

1/ Văn hoá mà Văn Việt đặt vấn đề thảo luận đã được giới thuyết theo nghiã rộng:
“Văn hoá xin được hiểu theo nghĩa bao gồm các giá trị tinh thần như ý thức tư tưởng, triết lý, đạo đức, tâm linh, lối sống,… Như thế, Văn hoá chính là nền tảng sâu xa và lâu bền của sức mạnh dân tộc. Không thể “thoát Trung” về kinh tế, an ninh, chính trị… nếu không xuất phát từ “thoát Trung về Văn hoá” (Lời mời tham gia thảo luận)

2/ “Thoát Trung về chính trị” thật ra cũng là “thoát Trung về văn hóa”. Vì chính trị (quan niệm về chính trị, cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước…) thực ra cũng là một bộ phận cấu thành và làm nên những thang giá trị văn hóa trong tiến trình lịch sử của một dân tộc.
(Quách Hạo Nhiên – “Thoát Trung” hay “thoát Mác – Lênin”?)
“Nền quốc chính là sản phẩm của văn hóa vừa là tác nhân, nhân tố quan trọng nhất để xây dựng, bảo tồn và phát triển văn hoá của Dân tộc. Phải có nền văn hoá đúng, tốt và đẹp mới tạo ra được nền chính trị của đất nước Đúng – Tốt – Đẹp…”
(Nguyễn Khắc Mai – Giữ gìn và phát triển nền văn hoá dân tộc với 7 chữ Quốc)

3/ Sự phụ thuộc toàn diện của Việt Nam vào China trong nhiều năm qua trong đó phụ thuộc văn hoá là nghiêm trọng:
- Không thể coi là ngẫu nhiên những việc như truyền hình dày đặc phim Tàu, phố xá đầy đèn lồng Tàu, sư tử Tàu nhảy vào án ngữ đền chùa, sách cho thiếu nhi in hình cờ China là cờ Tổ quốc…
- Việt Nam là phiên bản của Tàu, đặc biệt về tư duy: Theo GS Nguyễn Văn Tuấn (Australia): “Nói “tương đồng” thì có vẻ oai, chứ Tàu nó chỉ xem Việt Nam chỉ là một phiên bản của họ. Chính vì thế mà các quan chức Tàu có thể hống hách và ngổ ngáo trong các tuyên bố như là lời phán của cha mẹ dành cho con. Việt Nam có vùng vẫy hay suy nghĩ gì thì Tàu cũng đoán trước được, vì Việt Nam chỉ học từ Tàu thôi, và đâu có thầy nào (nhất là thầy Tàu) mà dạy cho trò 100% sở trường. Sự lệ thuộc ngoại bang nó ghê gớm ở chỗ làm cho dân tộc không còn tự chủ và độc lập trong suy nghĩ, và người ngoài nhìn vào với ánh mắt khinh thường.”
(Nguyễn Văn Tuấn – Một bản sao của Tàu)

- Tình trạng thần phục mù quáng văn hoá China:
Dịch giả Trần Đĩnh phân biệt sự tiếp nhận ảnh hưởng văn hoá có sáng tạo với sự mù quáng thần phục. Ông thí dụ: “Marx nêu khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” nhưng sang đến ta thì trở thành”Anh em vô sản bốn phương một nhà”, “Bốn phương vô sản đều là anh em”. Quan hệ “liên hiệp” tức bình đẳng biến dạng thành quan hệ “anh em một nhà”, nhất là “một nhà” kiểu gia đình Á Đông tức là có trên, có dưới thì chết rồi! Từ kháng chiến chống Pháp, chúng tôi đã được giáo dục để rất tự hào có hai ông anh Liên Xô, Trung Quốc! Tức là chúng ta đã quá quen với thứ quan hệ “nương tựa”, “trên bảo dưới nghe” chứ không phải đoàn kết trên cơ sở bình đẳng. Cho nên thoát Trung về văn hoá là thoát cái quan hệ phụ thuộc, thần phục ấy.”
(Trần Đĩnh – Trao đổi với Văn Việt)

4/ China rất ý thức “bá quyền văn hoá” và dùng văn hoá để ràng buộc Việt Nam:
Không phải ngẫu nhiên trong hội nghị Thành Đô, Giang Trạch Dân “ban” cho các đối tác Việt Nam 16 chữ vàng trong đó 8 chữ là “lý tưởng tương thông, văn hoá tương đồng”.
Đến đây ta có thể nói: quan hệ giữa thoát Trung về chính trị và thoát Trung về văn hoá là quan hệ tương tác rất căn bản, muốn thoát Trung về chính trị không thể không thảo luận về nền tảng văn hoá của sự phụ thuộc chính trị (xét về lâu dài) cũng như ngược lại, ngay lúc này, muốn thoát Trung về văn hoá lại phải bắt đầu bằng thoát Trung về chính trị.
Vấn đề bây giờ là: xác định cái gọi là văn hoá Trung Hoa mà hôm nay ta phải thoát nó là cái gì? hoặc những gì trong cái văn hoá ấy?

C/ THOÁT TRUNG VỀ VĂN HOÁ LÀ THOÁT CÁI GÌ?

“Văn hoá Trung Hoa” là khái niệm quá lớn và phong phú để mổ xẻ. Ở đây có một điểm nhiều tác giả nhấn mạnh: Phân biệt văn hoá truyền thống của nhân dân China với thứ văn hoá mà những kẻ thống trị áp đặt cho xã hội China, nhất là tập đoàn Trung Nam Hải thời hiện đại:
“Tội của chúng thì đầy, nhưng nguy hiểm nhất vẫn là huỷ hoại nền văn hoá Trung Hoa và tạo nên những thế hệ người máy chỉ biết suy nghĩ theo giáo điều của đảng, không phân biệt được trắng với đen” (GS Nguyễn Văn Tuấn)
Dịch giả Trần Đĩnh cũng khẳng định: “Cần thấy sự khác biệt giữa nền văn hoá truyền đời của người dân với cái chính sách văn hoá nhất thời mà nhà chính trị chọn lựa”, “giới thống trị thoái hoá làm hỏng văn hoá dân tộc”.
Nhà thơ Hoàng Hưng cũng xác định rõ thoát Trung về văn hoá là thoát cái văn hoá mà giai cấp thống trị phong kiến và các nhà chính trị hiện đại của China đã xây dựng ở xã hội China và lan truyền khá mạnh ở xã hội Việt Nam do mối quan hệ “môi răng” đặc biệt.

1/ Tư tưởng bành trướng bá quyền, chủ nghĩa dân tộc Đại Hán:
Đây là tư tưởng chủ đạo của nhà cầm quyền China từ nghìn năm nay, càng trở nên mãnh liệt với tham vọng ngông cuồng trong thời hiện đại:
(Nguyễn Vi Khải – Nhận diện tư tưởng bành trướng thời hiện đại)
GS Cao Huy Thuần phân tích nội hàm của danh xưng “Trung Hoa” và “thiên hạ” trong tư duy chính thống của Trung Quốc ngàn năm và nhấn mạnh nguy cơ của chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã được đẩy lên hết mức trong thời nay:  “Làn sóng thứ hai là dân tộc chủ nghĩa tấn công: nó nguy hiểm vì đến từ một nước bá quyền. Nó càng nguy hiểm hơn khi cả một dân tộc sôi sục tấn công, hung hăng đến nỗi cấp trên phải hãm bớt phanh, sợ chính mình cũng bị đốt cháy, sợ không điều khiển nổi cơn lũ. Từ một ý thức hệ do Nhà nước đẻ ra để chính đáng hóa lãnh đạo của mình, thứ “dân tộc chủ nghĩa Nhà nước”(“state nationalism”) ấy đã trở thành “dân tộc chủ nghĩa xã hội”(social nationalism) khi nó động viên được cả xã hội. Mearsheimer gọi thứ dân tộc chủ nghĩa “bình dân” ấy của Trung Quốc ngày nay (popular nationalism) là “siêu dân tộc chủ nghĩa” (hypernationalism)”
(Cao Huy Thuần – Trung Quốc muốn gì?)
Thoát khỏi tư tưởng bành trướng bá quyền, chủ nghĩa Đại Hán là hết sức cần thiết, vì trong thực tế xã hội Việt Nam hôm nay còn có bộ phận không nhỏ bị tư tưởng ấy khuất phục, thậm chí mê hoặc, dẫn đến tâm lý hèn yếu cam phận chịu nhân nhượng, phụ thuộc, trở thành phiên quốc, thậm chí có thể… làm “một khu tự trị” (GS Trần Ngọc Vương gọi là tâm thế “nam nhân bắc hướng”).

2/ Yếu tố phải thoát khỏi trong văn hoá Trung Hoa ngày nay: nằm ở mặt Văn hoá chính trị, mà cái gốc là ý thức hệ:
- Tư tưởng phản dân chủ của Khổng giáo kéo dài đến hôm nay:
Nhà báo Lê Phú Khải hình ảnh hoá bằng tên gọi “nền văn hoá quỳ lạy”: “Điều nguy hiểm nhất của triết thuyết Khổng Tử là: Người quân tử nhờ tu thân mà có vai trò cai trị, nhưng khi quân tử – tức kẻ cai trị – không tu thân, trở thành những hôn quân bạo chúa thì dân chúng vẫn phải cam chịu, không được làm cách mạng lật đổ chúng. Vì thế Nguyễn Khắc Viện mới viết: Khổng Tử từ chối mọi cải cách! Trong xã hội Khổng giáo mấy ngàn năm ở Trung Quốc, kẻ sĩ đi học là mong được làm quan. Làm quan để được quỳ lạy dưới ngai vàng. Cáivăn hoá quỳ lạyấy đã kìm hãm nước Trung Hoa trong vòng tăm tối mấy ngàn năm. Trong nền văn hoá quỳ lạy ấy, chỉ có kẻ trên đúng. Chỉ có vua đúng. Vua bảo chết là phải chết. Cha bảo chết thì con phải chết. Tóm lại là không có chân lý. Hay nói khác đi, không ai đi tìm chân lý cả. Chân lý đã có sẵn ở kẻ bề trên, ở triều đại chính thống, bất kể nó thế nào!
…Nước Trung Hoa cộng sản hôm nay vẫn nguyên hình là một xã hội Khổng Mạnh trá hình mà thôi!
(Lê Phú Khải – Giã từ nền văn hoá quỳ lạy)

Từ đó sinh ra thứ “văn hóa thảo dân”, tức tâm thức chấp nhận sự bao cấp tư duy của người có quyền, tình trạng sợ hãi người có quyền bao phủ xã hội:
“Người dân tự nhận mình là “thảo dân”… Thân phận người dân được chính họ tự nhận là cây cỏ… Từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ toàn trị, tâm lý thảo dân càng có cơ sở để phát triển do người dân bị không chế toàn diện cả về kinh tế lẫn chính trị. Nỗi sợ hãi bao trùm xã hội. Người dân sợ bị mất sổ gạo (sổ mua lương thực), sợ con bị đuổi học, sợ bị đi tù. Từ nỗi sợ đó dẫn đến tâm lý vâng lời, nghe theo cấp trên để được yên thân. Và, điều tai hại lớn là sự vâng lời ấy dẫn đến sự bao cấp về tư tưởng”.
(Lê Phú Khải – Từ văn hoá quỳ lạy đến văn hoá “thảo dân”)
Nhà văn Nam Dao tức GS kinh tế Nguyễn Mạnh Hùng (Canada) gọi đó là “hệ hình văn hoá Hoàng đế”:
“Văn hoá là nền tảng trầm tích của mọi tổ chức xã hội. Tổ chức đó xây dựng trên cơ sở phân bổ những quyền lực của cộng đồng, tức quyền lực chính trị. Những quyền lực ở Trung Quốc đó từ hàng ngàn năm nay là gì? […] xã hội Trung Quốc xưa nay đóng băng trong một hệ hình gọi là hệ hình “hoàng đế’’. Phải chăng Thoát Trung về văn hóa là thoát cái hệ hình đó?”. Tác giả khẳng định hệ hình Hoàng đế thời Hậu Mao thể hiện ở thể chế “Vua tập thể”.  (Nam Dao – Thoát Trung?)

- Chủ nghĩa Marx-Lenin?
“Cái quyết định nhất chính là cái vòng kim cô mang tên chủ nghĩa Mác – Lê (từ đây đẻ ra cái gọi là “ý thức hệ cộng sản” mà lãnh đạo chính quyền Việt Nam mê muội, không chịu từ bỏ nên đã bị Trung Quốc lợi dụng). Về chuyện này, dân gian đã khái quát rất hay qua câu thành ngữ có tính phản tỉnh là nếu “trâu không uống nước thì ai đè đầu trâu” cho được?”
(Quách Hạo Nhiên – “Thoát Trung” hay “thoát Mác – Lênin”?)
-  “Thoát Trung” cần bắt đầu từ việc “đổi tên Đảng”. Một việc nhỏ thôi nhưng chắc có hiệu quả nhiều mặt. Tôi đề nghị Đảng Cộng sản Việt Nam thoát khỏi cái danh xưng “cộng sản”, cho khỏi trùng hợp với cái tên của “Đảng Cộng sản Trung Quốc bành trướng xâm lược”.
(Phùng Hoài Ngọc – Đổi tên Đảng, trước hết, để thoát Trung)

-  Thực chất hơn nữa, và rút lại, chính là thoát ý thức hệ độc tài, toàn trị:
Hoàng Hưng lập luận rằng thực tế Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng đang tự thoát khỏi chủ nghĩa Marx-Lenin, xây dựng một xã hội tư bản man rợ, chỉ giữ lại cái danh để che giấu cái thực là duy trì quyền toàn trị của một tầng lớp đặc quyền.
Từ đó Hoàng Hưng nói đến cái Văn hoá Giả dối bao trùm xã hội lâu nay:
“Một khi đã GIẢ DỐI từ những điều thiêng liêng nhất, thì nói còn ai nghe: lòng dân không tin, không phục, ấy là mầm loạn lớn nhất; và trong khí quyển giả dối ấy, chỉ những kẻ bất tài cơ hội man trá mới có đất dụng võ, người trung thực sẽ bị vứt bỏ, bộ máy nhà nước sẽ suy yếu nhanh chóng, ấy là mầm loạn lớn thứ nhì. Đó là ở bài này, mới chỉ nói trong phạm vi những vấn đề thời sự, tôi chưa muốn bàn đến hệ lụy lâu dài mà SỰ GIẢ DỐI thống trị gần nửa thế kỷ trên cả nước đã phá hủy rất căn bản nền tảng đạo đức xã hội của người Việt, mà tôi coi đó là một tội ác lớn nhất của chủ nghĩa Stalin + Mao đối với dân tộc ta.”
(Hoàng Hưng – Muốn thoát Trung, phải trung thực)

“Giải cấu trúc triết lý phát triển độc nguyên. Một chính đảng, một tôn giáo có quyền giữ triết lý độc nguyên của mình. Nhưng một dân tộc thì không. Nhân loại và các dân tộc tồn tại đến ngày nay đều phải phát triển trong đa văn hoá. Mô hình xã hội nào chỉ khẳng định độc nguyên sẽ bại vong, hoặc kéo dài sự trì trệ lạc hậu có khi đến cả ngàn năm mà sớm muộn đều tiêu vong”
(Nguyễn Khắc Mai – Giữ gìn và phát triển nền văn hoá dân tộc với 7 chữ Quốc)
Dịch giả Trần Đĩnh còn tiến xa hơn khi xác định: vấn đề không chỉ là thoát văn hoá độc tài vì muốn thoát Trung mà còn là để bảo vệ bản thân văn hoá, vì độc tài thì kỵ văn hoá. 

“Bản thân văn hoá là cởi mở. Một đặc điểm căn bản của kỷ nguyên hiện đại, khác với kỷ nguyên trung đại là chấp nhận “cái khác”. Mà độc tài là chống cái khác. Chống cái khác thì dễ chống văn hóa. Vậy muốn xây dựng văn hoá phải chống độc tài. Độc tài vốn dĩ kỵ văn hoá. Nên biết độc tài chính trị có xu hướng làm tàn lụi văn hóa. Đặc điểm của độc tài là chính trị hóa cao độ tất cả sinh hoạt xã hội, thâu tóm toàn bộ sinh hoạt xã hội vào “cái túi chính trị vạn năng” là vốn liếng riêng biệt của nhà cầm quyền. Trong khi lẽ ra cần phải để cho văn hóa được quyền mở ra xét duyệt “cái túi chính trị vạn năng” đó. Hình như có dạo rất hay nói chính trị hàng đầu, tư tưởng hàng đầu.Thế không phải là độc tài thì là gì? Ai đó chứ dân đâu được đề ra chính trị, đề ra tư tưởng?”.
(Trần Đĩnh – Trao đổi với Văn Việt)

3/ Rút cuộc, Thoát Trung là phải tự thoát: vì trớ trêu là lãnh đạo Việt Nam còn bám chắc vào ý thức hệ hơn Trung Quốc:
“Về mặt trung thành với lý tưởng, Đảng Cộng sản Việt Nam cao cả gấp bội so với đảng bạn bên Trung Quốc! Đảng Trung Quốc chính thức bị chúng ta coi là kẻ thù từ năm 1979 khi tiến hành chiến tranh xâm lược đẫm máu các tỉnh biên giới nước ta… Sự trung thành với ý thức hệ đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam bỏ qua mối thù 1979 (bấy giờ được Đảng coi là nhỏ, so với “đại cục”) để chủ động xin gặp gỡ đảng bạn, đề nghị chủ trì sự nghiệp cứu vãn phần còn lại của chủ nghĩ xã hội. Kết quả: Thành công; hội nghị Thành Đô 1990 đã đi đến những thỏa thuận (nào đó)”.
(Nguyễn Ngọc Lanh – Thoát Trung rốt cuộc là thoát gì?)

Nhà nghiên cứu Đinh Bá Anh cũng khẳng định “trên nhiều phương diện, Trung Quốc còn “thoát Trung” một cách chủ động hơn, nhanh và xa hơn Việt Nam”; “cả tư duy và tầm nhìn của giới lãnh đạo lẫn ý thức của người dân về quyền và trách nhiệm ở Trung Quốc đều cao hơn ở Việt Nam” (Việt Nam có cơ hội thoát Trung?)

D/ THOÁT VĂN HOÁ TRUNG ĐỂ ĐI TỚI VĂN HOÁ NÀO?

1/ Khôi phục những truyền thống văn hoá Việt đã bị xoá bỏ hoặc xói mòn bởi bọn xâm lược Trung Hoa và sự tiếp nhận mù quáng của chính giới lãnh đạo Việt Nam:
- Cáo Bình Ngô: “xưng nền văn hiến đã lâu… phong tục Bắc Nam cũng khác”.
- Bảy chữ quốc: Quốc hồn/túy, học, văn, sử, dân/bản, chính, tế (Nguyễn Khắc Mai)
- Phật giáo Lý Trần với đặc tính khoan dung, mềm dẻo: “Tiếng nói của ý thức tự chủ và tinh thần tự cường của con dân nước Việt khi Phật giáo thống nhất chỉ có ở đời Trần. Đó là nền Phật giáo độc lập, là uy tín của quốc gia Ðại Việt, là xương sống của nền văn hóa Việt Nam tự chủ… Chính nhờ các đặc tính khoan dung và mềm dẻo của văn hóa đời Trần mà vua quan cùng dân chúng đã đồng thanh tương ứng chống ngoại xâm và xây dựng đất nước. Văn học đời Trần rực rỡ và phản chiếu tinh thần từ ái, hòa đồng, thanh thoát, không tỏ ra khiếp nhược, yếm thế mà tóat lên sự tự lực, tự cường và tiến thủ, thấm nhuần tính cách dung hợp và khai phóng của đạo Phật… Tinh thần Phật giáo giúp các nhà chính trị đời Trần áp dụng những chính sách bình dị, thân dân và dân chủ…”
(Thùy Linh – Việt Nam – một số phận nghiệt ngã)

- Chữ “Nhân” là cốt lõi của văn hoá Việt Nam:
“Chữ nhân lần này được thử thách trên một mặt trận lớn, đưa chúng ta đi xa hơn nữa trong nhân lý giữa bối cảnh toàn cầu hoá, trong nhân tính của quá trình thế giới hoá, chúng ta sẽ giữ cho bằng được nhân cách trước đe doạ của chiến tranh tới từ một đối phương lớn và thô bạo. Đây là một mặt trận vừa mới về nhân phẩm, vừa lớn vềnhân sinh… Trước thế giới, chúng ta phải đủ vai vóc của nhân nghĩa, tầm vóc của nhân giáo, nội công của nhân bản để thắng được đối phương trong lần thư hùng này, chính nghĩa của ta chính là nhân đạo, mà cha ông của chúng ta đã dạy chúng ta từ hồi lập quốc, từ khi Việt tộc là Việt tộc.
(Lê Hữu Khoá, GS Nhân học Đại học Charles de Gaulle – Nhân cách giáo lý Việt tộc)
- Yếu tố dân chủ trong văn hoá “làng xã” dựa trên “tình làng nghĩa xóm” xa lạ với những quy tắc Khổng Mạnh: “Phép vua thua lệ làng”.
* Lưu ý: Các bài tham gia thảo luận không đề cập đến những yếu tố tiêu cực cần loại bỏ, khắc phục của chính truyền thống văn hoá dân tộc hình thành trong xã hội tiểu nông lạc hậu mà nhiều trí thức, đặc biệt các trí thức trẻ có kinh nghiệm cọ xát với các nền văn hoá ở các nước phát triển nhấn mạnh. Sau “Thoát Trung”, “thoát ta” sẽ là một đề tài cần đặt lên bàn nghị sự.

2/ Khôi phục những ảnh hưởng tinh tuý văn hoá thế giới phương Tây mà Việt Nam đã có thời tiếp nhận:
“Thế hệ trí thức lớn lên vào thời Pháp đô hộ được hưởng khá nhiều lợi ích của nền văn hóa tinh túy bậc nhất thế giới bấy giờ. Có nhiều nét tính cách của người Thăng Long được thừa hưởng vẻ tài hoa, tinh tế của văn hóa Pháp. Tiếp nối tính nhân văn, tự trọng, khiêm cung, tự do, khoáng đạt của đạo Phật thời Lý, Trần, âm ỉ trong suốt thời gian độc trị của Nho giáo, để rồi bắt nhịp, hòa hợp với văn minh phương Tây, làm nên tính cách người Thăng Long xưa chăng? Trước năm 45, giới trí thức Hà Nội, Sài Gòn được hưởng làn gió trong lành về tự do, dân chủ từ Pháp quốc thổi sang… Chính nhờ những ảnh hưởng này đã sản sinh ra giới trí thức tuyệt vời mà đến giờ gần bị “tuyệt chủng”.
(Thùy Linh)

3/ Tư tưởng hoà bình:
“Đối với Việt Nam – một quốc gia có truyền thống hòa hiếu, đi theo lộ trình phát triển hòa bình là lựa chọn tất yếu trong hiện tại và tương lai. Điều này càng trở nên cấp thiết khi chúng ta đối diện với một Trung Quốc luôn đặt trọng tâm phát triển trên bạo lực, bá quyền và muốn chi phối Việt Nam trong cái vòng cương tỏa mà họ tự vẽ ra.
Những điều kiện để hình thành một xã hội hòa bình:
- Một nhà nước đối thoại, tương tác (interactive state)… Đây là cơ sở để hình thành một nền chính trị trách nhiệm (accountable politics).
- Một đời sống văn hóa đa dạng
- Một cộng đồng gắn kết và ôn hòa
(Đặng Hoàng Giang – Sức mạnh của hoà bình và những gợi ý cho Việt Nam)

THAY LỜI KẾT:

1/ Thoát Trung về Văn hoá, có thể nói chính xác là “giải Hán hoá”, rút cuộc là thoát sự phụ thuộc, sao chép những yếu tố văn hoá tiêu cực mà tầng lớp thống trị China đã áp đặt lên xã hội của họ và xã hội Việt Nam: 1. Tư tưởng Đại Hán, bành trướng bá quyền China là nguyên nhân của thái độ khiếp nhược, thần phục của một bộ phận người Việt Nam. 2. Văn hóa tập quyền, độc nguyên là nền tảng của ý thức độc tài. Hai yếu tố này ngăn cản Việt Nam xây dựng độc lập tự chủ và phát triển bền vững.

2/ Việc xây dựng nền văn hoá Việt độc lập trong thời hiện đại phải nhìn trong hai mối quan hệ biện chứng: Khôi phục, phát huy những tinh túy của văn hoá bản Việt “nhân nghĩa, hoà bình” song song đào thải những yếu tố tiêu cực, lạc hậu; chủ động tiếp nhận ảnh hưởng tích cực của các nền văn hoá hiện đại thế giới mà tinh thần chủ đạo là “dân chủ, đa nguyên”.

3/ Vấn đề bao trùm cả thoát Trung, tự thoát, phải chăng là Thoát Á?
“Đôi khi các giá trị châu Á dường như là một cách gọi các giá trị “văn hóa Trung Quốc” hoặc Nho giáo, hoặc các lý tưởng về các chế độ được điều tiết và trung ương tập quyền cao như của Singapore. Trong các trường hợp khác, các chế độ thực dụng chủ yếu dựa trên các đặc lợi như ở Indonesia hoặc Trung Quốc, cũng sử dụng các “giá trị châu Á” để hợp pháp hóa quyền hành không bị hạn chế của các chế độ đầu sỏ quan liêu.
Ở các quốc gia mạnh của châu Á, xu hướng là ép buộc người dân chấp nhận các ý thức hệ duy nhất, do nhà nước quy định. Thay vì là các cơ chế để đạt đồng thuận, các thể chế chính trị lại được thiết lập chủ yếu nhằm đảm bảo an ninh, kỷ cương xã hội và “tính trách nhiệm” trong suy nghĩ và biểu đạt, nhất là trên các phương tiện truyền thông.
Trên thực tế, “giá trị châu Á” đã trở thành hệ tư tưởng của một loạt các chế độ kết hợp giữa một biến thể mang tính tập trung quyền lực của chủ nghĩa bảo thủ chính trị với nền kinh tế thị trường.
(Giá trị châu Á – Richard Robison (1996). “The politics of ‘Asian values’”, The Pacific Review, Vol. 9, No. 3, pp. 309-327 http://nghiencuuquocte.net/2014/07/27/gia-tri-chau-a

4/ Còn câu hỏi lớn: Thoát Trung về văn hoá bằng cách nào?
Đinh Bá Anh cho rằng: Không thể thoát Trung với động cơ “yêu nước” nặng về tình cảm, mà phải sựa trên sự phân tích tỉnh táo các điều kiện thoát Trung của Việt Nam, các tương quan về địa chính trị, thời thế, tầm nhìn của giới tinh hoa chính trị… Ông gợi ý phải chăng “Việt Nam chỉ thực sự thoát Trung khi nó có khả năng sáng tạo, thiết kế mô hình và đưa ra những luật chơi khiến Trung Quốc phải tôn trọng (hoặc du nhập)”, cụ thể là chủ động “chuyển từ một chế độ theo mô hình Lenin sang mô hình dân chủ tự do”.
Với riêng tôi, đất nước có thoát Trung được hay không trước nhất phải ở sự tỉnh ngộ chân thành và dũng cảm thay đổi của mỗi người chúng ta, những trí thức đã gần suốt cuộc đời đi theo một niềm tin từ tuổi thanh xuân đẹp đẽ. Tâm sự của nhà thơ Nguyễn Đình Thi bộc lộ trong những bài thơ cuối đời mà có lẽ ít người biết khi hoang mang nhìn lại con đường cách mạng mà mình đã theo suốt đời:
Đã có mùa xuân đời tôi không nhỉ
Và đã có không cả một mùa hè
Tôi chỉ nhớ đã đi nhiều mê mải
Năm tháng đêm ngày theo một ánh xa
(Mùa thu vàng)
Cuối cùng tự đấm ngực sám hối bi thương:
Người tôi còn nhiều bùn tanh
Mặt tôi nhuốm xanh nhuốm đỏ
Tay tôi vướng nhiều đồ bỏ
Nhiều dây nhợ tự buộc mình

Thôi xin tha cho mọi lỗi lầm
Quên cho những dối lừa khoác lác
Tôi biết tôi đã nhiều lần ác
Và ngu dại còn nhiều lần hơn
(Gió bay)
Cầu mong sao chúng ta, nhiều người ở đây đã vào tuổi xế chiều, kịp thời “tự thoát” để không lâm vào cảnh bi thương như nhà thơ khi nhận ra những lầm lạccủa đời mình thì không còn thay đổi gì được nữa.


H.H.


Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014


NƯỚC MẮT CHẢY XUỐNG
(Vu Lan 2014)

Hoàng Tá Thích


Nhớ một câu chuyện đăng trên báo về một bà mẹ làm ruộng ở một nơi xa xôi nào đó để nuôi đứa con trai duy nhất đi học. Đến lúc đứa bé vào được lớp cuối tiểu học thì bà mẹ bị đau cột sống không thể làm việc được. Đứa con muốn bỏ học để làm việc giúp mẹ nhưng bà nhất định không chấp nhận nên cuối cùng cậu bé “đành” phải cắp sách đi học.
Hằng tháng, bà mẹ đến trường để đóng học phí, thay vì tiền thì bà xin góp gạo. Hiệu trưởng nhìn mớ gạo của bà, nhăn mặt vì gạo không những xấu mà còn trộn lẫn đất cát, dặn lần tới phải đem gạo tốt hơn. Tháng sau lại cũng thế. Lần này, thầy hiệu trưởng nói cho bà mẹ biết nếu lần tới gạo còn quá tệ như thế, sẽ không nhận và cho con bà nghỉ học.
Tháng sau, bà mẹ lại đến với một bao gạo không hơn gì các lần trước. Lần này thầy hiệu trưởng chưa kịp nói thì bà mẹ đã khóc và thú thật là từ khi đau cột sống, bà không thể làm ruộng được mà đành phải đi xin gạo các nhà lân cận, toàn là nhà nghèo, để đóng học phí cho con. Thầy hiệu trưởng cảm động và bỏ qua, hứa sẽ giúp đỡ bà.
Ngày kết thúc niên học, đứa con trai bà đỗ đầu. Trong buổi lễ tốt nghiệp, bà cũng được mời đến, nhưng bà chỉ dám ngồi vào dãy ghế cuối phòng. Phụ huynh đến dự lễ, ai cũng trông thấy trong một góc ở bục gỗ khán đài, có chất ba bốn bao bố nhỏ, không biết là gì. Thầy hiệu trưởng xướng tên thủ khoa tốt nghiệp, chính là con của người đàn bà kia, và thầy yêu cầu bà mẹ lên khán đài. Bà mẹ đi đứng có phần khó khăn, ngại ngùng khép nép tiến lên. Thầy chỉ vào mấy cái bao bố, mở ra cho mọi người xem và kể lại những công lao hy sinh của bà mẹ để mong con mình được học hành tốt. Đứa con bây giờ mới vỡ lẽ ra, chỉ biết ôm lấy mẹ mà khóc.
Người ta thường nói “Nước mắt chảy xuống” là thế. Phương Tây cũng có câu “Nước mắt chảy xuống” không khác gì chúng ta. Nước mắt chỉ chảy xuống, nên thường cũng có câu: “Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi cha mẹ kể tháng kể ngày”. Thực ra không đến nỗi con cái nào cũng thế, nhưng chung chung, đó là chuyện rất đời thường.
Khi cha mẹ đã già thì lúc nào cũng rảnh rang, có thể dành cả quãng đời còn lại cho con cái. Trái lại, lúc đó thì con cái vẫn còn phải bận rộn với đời sống của chúng và còn phải lo cho con cái chúng trưởng thành, không có dư thì giờ nhiều dành cho cha mẹ. Nước mắt chảy xuống là thế.
Người ta cũng thường nói “Hùm dữ không ăn thịt con”. Thường xảy ra những trường hợp con cái từ bỏ cha mẹ, chứ hiếm khi có trường hợp cha mẹ từ con. Phần đông con cái lúc còn trẻ thường cho cha mẹ thuộc về thế hệ cũ, lạc hậu, nên thường bỏ ngoài tai những dạy bảo của cha mẹ. Con cái có thể oán hận cha mẹ, từ bỏ cha mẹ, vì chưa đến cái tuổi để hiểu về lòng dạ bậc sinh thành. Ngược lại, cha mẹ giận những đứa con ngỗ nghịch những muốn từ bỏ, nhưng khi có những bất hạnh xảy đến cho con cái, thì không những cha mẹ ân hận, mà còn đau khổ, và luôn luôn dang tay ôm trọn chúng vào lòng. Người ta bảo nước mắt chảy xuống là thế.
Một người chỉ có một đời
Nước mắt chảy xuống chia đời thành hai.
Cuộc đời thứ hai là cuộc đời con cái mà mình phải dính liền với chúng.
Con cái dù có bao nhiêu tuổi thì vẫn còn là những đứa trẻ đối với cha mẹ, vẫn luôn luôn nằm trong sự lo lắng của bậc cha mẹ. Ngược lại, khi cha mẹ già yếu thì hầu như con cái chỉ có một bổn phận là lo tròn những nhu cầu vật chất là chính. Phần biểu hiện tình cảm thì còn phải tùy thuộc hoàn cảnh con cái có được tự do hay không để có thể thường xuyên ở gần cha mẹ. Ở Âu Mỹ, chung chung, cái khó khăn nhất cho con cái là lúc cha mẹ về già và cách giải quyết gần như duy nhất là những viện dưỡng lão mà có những chỗ, như một nơi chốn để chờ đợi giây phút cuối cùng của cuộc đời. Sống buồn bã, cô đơn vì phải xa cách con cái, mong ngày cuối tuần con cái vào thăm viếng nếu chúng rảnh rỗi. Để cha mẹ già ở nhà là cả một vấn đề. Con cái mỗi người ở một nơi, để cha mẹ ở nhà nào đây. Ban ngày ai cũng phải đi làm việc, phải thuê người có chuyên môn săn sóc người già. Tối đến, phải thay phiên nhau đến với cha mẹ. Những chuyện linh tinh tế nhị con cái không ai dám mở miệng, nhưng bên trong thì đã có những mầm mống phiền muộn, không bằng lòng nhau… Càng lâu, càng nhiều vấn đề.
Thực ra thì cũng là chuyện thường tình, vì con cái lúc còn nhỏ, đau yếu thì không mẹ cũng có cha bên cạnh. Trừ những căn bệnh quái ác thì cũng hết bệnh ở bệnh viện rồi cũng trở về nhà. Cha mẹ thì khác. Không những lớn tuổi, thường có bệnh tật mà còn vì tuổi già sức yếu, đôi khi không bệnh tật, cũng chỉ nằm hoài một chỗ chờ ngày ra đi mới là vấn đề. Con cái còn gia đình, còn lắm việc phải lo toan, đâu thể dành hết thì giờ cho cha mẹ được. Có một điều khác biệt giữa những gia đình giàu có và nghèo khổ. Con cái nhà nghèo thường biểu lộ lòng hiếu đạo với cha mẹ hơn là con nhà giàu, vì dễ hiểu là cha mẹ nghèo lo cho con cái ăn học khó khăn trăm bề, nên sự hy sinh của cha mẹ nghèo được con cái thấy rõ ràng, trong khi những cha mẹ giàu có không cần phải lo lắng, và con cái cũng thấy như những phương tiện được thụ hưởng là một điều tự nhiên mà thôi. Sự hy sinh của bậc cha mẹ nghèo khó có thể nói là bao la như trời biển, đôi khi phải hy sinh cả thân xác mình cho con cái được nên người. Đến khi con cái thành đạt, cha mẹ có khi đã không còn.
Nước mắt chảy xuống là thế, vì trời sinh đã là thế. Bởi vậy, tốt hơn hết, bậc cha mẹ không bao giờ nên nghĩ đến chuyện nhờ cậy con cái hay quan tâm đến chuyện con cái có thể trả hiếu mình lúc tuổi già để khỏi phải có những thất vọng về tình cảm. Không phải vì bất hiếu mà vì không thể có hoàn cảnh thuận tiện để vẹn toàn mà thôi. Con cái thành đạt, thì cha mẹ hãnh diện vì nuôi dạy con tốt. Con cái giàu có mà còn biết trân trọng những món quà tặng của cha mẹ thì đó là hạnh phúc của cha mẹ. Hãy nên nghĩ đến chuyện lo cho nhau. Quen lo lắng cho nhau giúp cho bậc cha mẹ vừa có thể chung vui hạnh phúc với con cái, mà lại được sự thanh thản trong lòng trong giai đoạn tuổi già bóng xế, đỡ phải làm phiền con cái. Ngược lại, con cái sẽ được thoải mái vì không quá băn khoăn về việc lo cho cha mẹ. Con cái mình lớn lên có gia đình riêng của chúng, rồi cũng sẽ có những suy nghĩ chẳng khác gì mình. Nước mắt cứ thế mà luân lưu chảy xuống, đời này qua đời khác. Đó cũng là một thứ luân hồi của cuộc đời vậy.
Con cái lúc đã lớn tuổi, hồi tưởng đến cha mẹ lúc còn sống, càng thấy thương cảm, nhớ nhung, tiếc nuối vì có những điều làm cho cha mẹ không được hài lòng, hay có những điều muốn làm cho cha mẹ vui lòng, nhưng đã muộn rồi, không còn cơ hội để báo đáp. Càng thấy tiếc thương, ân hận thì lại càng thấy tình thương bao la của bậc sinh thành. Hiếu đạo của con cái đối với cha mẹ, thực không thể nào so sánh, bù đắp lại với tình thương của cha mẹ đối với con cái được. Nước mắt chảy xuống là thế. Chuyện tự nhiên đời này tiếp diễn đời khác vẫn là thế, như một thứ quy luật của cuộc sống, không có gì phải cố gắng thay đổi. Làm cha mẹ, chỉ nên thương yêu con cái và không bao giờ nên nghĩ đến con cái sẽ trả hiếu cho mình như thế nào, mới an lạc. Ấy là nước mắt chảy xuống. Ấy là xuôi theo tự nhiên để được nhẹ nhàng thanh thản.
(TC. Văn Hóa Phật Giáo số 159 Vu Lan)


Thứ Ba, 5 tháng 8, 2014


NGƯỜI VIỆT ĐẦU TIÊN ĐẶT CHÂN ĐẾN HOA KỲ

Khi Bùi Viện (một vị quan sống dưới triều vua Tự Đức) đặt chân đến Hoa Kỳ để đặt quan hệ ngoại giao vào đầu những năm 1870, lịch sử đã coi ông là người Việt Nam đầu tiên đặt chân lên đất nước châu Mỹ này. Nhưng trong cuốn sách "Con Đường Thiên Lý" (NXB Văn hóa - Thông tin), nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê đã đưa ra những bằng chứng thuyết phục, chứng minh rằng trước Bùi Viện 20 năm, có một người Việt đã thực hiện một chuyến phiêu lưu ở miền Tây hoang dã của Hoa Kỳ như một cao bồi thực thụ.

Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Ông là Trần Trọng Khiêm (người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, Phú Thọ).

Từ người Việt đầu tiên đến Hoa Kỳ và nhà báo Việt đầu tiên trên đất Mỹ

Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), tức năm Minh Mạng thứ 2, là con của một gia đình thế gia vọng tộc ở phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhưng trong người lúc nào cũng sẵn máu phiêu lưu. Năm ông 21 tuổi, vợ ông bị một viên chánh tổng âm mưu làm nhục rồi giết hại. Sau khi giết tên chánh tổng báo thù cho vợ, ông xuống Phố Hiến (Hưng Yên), xin làm việc trong một tàu buôn ngoại quốc và bắt đầu bôn ba khắp năm châu bốn bể.

Suốt từ năm 1842 đến 1854, Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất, từ Hương Cảng đến Anh Cát Lợi, Hòa Lan, Pháp Lan Tây. Do trí tuệ sắc sảo, đến đâu ông cũng học được ngoại ngữ của các nước đó. Năm 1849, ông đặt chân đến thành phố New Orleans (Hoa Kỳ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.

Sau khi đến Mỹ, ông cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Tây Hoa Kỳ. Sau đó ông trở về thành phố Xanh- Phát - Lan - Xích - Cố ( phiên âm của San Francisco) và làm ký giả cho tờ Daily News 2 năm. Cuộc phiêu lưu của Trần Trọng Khiêm (tức Lê Kim) trên đất Mỹ đã được nhiều tài liệu ghi lại.

Trong cuốn sách La Ruée Vers l’Or  của tác giả René Lefèbre (NXB Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Hòa Lan, Mễ Tây Cơ… Họ gặp nhau ở thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Lousiana vào giữa thế kỷ 19 rồi cùng hợp thành một đoàn đi sang miền Viễn Tây tìm vàng.

Thời đó, "Wild West" (miền Tây hoang dã) là cụm từ người Mỹ dùng để chỉ bang California, nơi mà cuộc sống luôn bị rình rập bởi thú dữ, núi lửa và động đất. Trong gần 2 năm, Lê Kim đã sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Ông đã tham gia đoàn đào vàng do một người ưa mạo hiểm người Canada tên là Mark lập nên.


Để tham gia đoàn người này, tất cả các thành viên phải góp công của và tiền bạc. Lê Kim đã góp 200 Mỹ kim vào năm 1849 để mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Đoàn có 60 người, nhưng Lê Kim đặc biệt được thủ lĩnh Mark yêu quý và tin tưởng. Do biết rất nhiều ngoại ngữ, ông được ủy nhiệm làm liên lạc viên cho thủ lĩnh Mark và thông ngôn các thứ tiếng trong đoàn, gồm tiếng Hòa Lan, tiếng Trung, tiếng Pháp. Ông cũng thường xuyên nói với mọi người rằng ông biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt Nam, nhưng không cần dùng đến. Lê Kim nói ông không phải người Hoa, nhưng đất nước nằm ngay cạnh nước Tàu.

Ông và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là "Oh! Suzannah" (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc). Họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ để đến California tìm vàng. Sốt rét và rắn độc đã cướp đi mất quá nửa số thành viên trong đoàn.

Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng. Nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm, khiến già nửa thành viên trong đoàn chết vì vất vả, đói khát và nguy hiểm dọc đường đi.

Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người học rộng, hiểu nhiều, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được công việc chạy tin tự do cho nhiều tờ báo như tờ Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.


Đề tài mà Lê Kim thường viết là về cuộc sống đầy hiểm họa và cay đắng của những người khai hoang ở bắc California và quanh khu vực San Francisco, trong đó ông hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng mà thời đó vẫn là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Lê Kim cho rằng, các mỏ vàng đã khiến cuộc sống ở đây trở nên méo mó và sa đọa không gì cứu vãn được.

Nhiều bài báo của ông đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California.Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8/11/1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A. Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, ông đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, Sutter đã bị tâm thần và sống lang thang ở khắp các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không đoái hoài đến.

Khi tình cờ gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 Mỹ kim. Ông đã chê trách thái độ hững hờ, ghẻ lạnh của người dân San Francisco và nước Mỹ với tướng Sutter,điều mà theo ông là đi ngược với đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc ông.

Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống hỗn loạn và nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng ông cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.

Người Minh Hương cầm quân chống Pháp

Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai, đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương. Trong di chúc để lại, ông dặn tất cả con cháu đời sau đều phải lấy tên đệm là Xuân để tưởng nhớ quê cũ ở làng Xuân Lũng.

Trong bức thư bằng chữ Nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Hoa Kỳ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường. Khi người anh nhắn lại: "gia đình bình yên và lúc này người đi xa đừng vội trở về", Lê Kim đã phải tiếp tục chôn giấu gốc gác của mình ở miền Tây Nam Bộ.

Nhưng chưa đầy 10 năm sau, khi làng xóm bắt đầu trù phú thì thực dân Pháp xâm lược nước ta. Lê Kim đã từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười. Tài bắn súng học được trong những năm tháng ở miền Tây Hoa Kỳ cùng với kinh nghiệm xây thành đắp lũy đã khiến ông trở thành một vị tướng giỏi. Năng khiếu ngoại ngữ cũng giúp Lê Kim cảm hóa được một nhóm lính Pháp và dùng chính nhóm lính này tấn công quân Pháp ở Cái Bè, Mỹ Qưới, khiến cho quân giặc điêu đứng.

Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De Lagrandìere chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Gia phả nhà họ Lê do hậu duệ của Lê Kim gìn giữ có ghi lại lời trăn trối của ông: "Trước khi chết, cụ dặn cụ bà lánh qua Rạch Giá gắng sức nuôi con, dặn chúng tôi giữ đạo trung hiếu, đừng trục lợi cầu vinh, đừng ham vàng bỏ ngãi. Nghĩa quân chôn cụ ngay dưới chân Giồng Tháp. Năm đó cụ chưa tròn ngũ tuần". Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối:

"Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh
Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế".

Như vậy, không chỉ là người đầu tiên đặt chân lên đất Mỹ, Lê Kim còn là một trong những nhà yêu nước can đảm đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Dù cuộc khởi nghĩa của ông cùng chung số phận với nhiều cuộc khởi nghĩa khác ở Nam Kỳ đều bị thực dân Pháp và triều đình Nguyễn đánh tan, nhưng Lê Kim vẫn được công nhận là một trong những danh nhân lớn ở Đồng Tháp thế kỷ 19.

(Dựa trên tư liệu của học giả Nguyễn Hiến Lê)


Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014


ĐỨC PHẬT VÀ SỰ YÊN LẶNG
TRƯỚC NHỮNG CÂU HỎI SIÊU HÌNH

Hoang Phong


Có một số câu hỏi đã được nêu lên để hỏi Đức Phật, nhưng Ngài không trả lời vì đó là những câu hỏi đặt sai và vô ích. Bám viu vào những câu hỏi ấy bằng những biện luận thuần lý sẽ rơi vào cạm bẫy của sự hiểu biết quy ước, công thức và nhị nguyên. Cạm bẫy ấy sẽ đưa đến tranh luận vô tận và thắc mắc tiếp nôi nhau, đánh lạc hướng sự tu tập. Nhiều vị thầy sống đồng thời với Đức Phật, tức là vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, đã từng chũ xướng nhiều chủ thuyết trong lãnh vực triết học siêu hình. Nhưng Đức Phật đã che chở cho các đệ tử của Ngài tránh khỏi những cạm bẫy ấy, không phải bằng cách cấm đoán, bằng biện luận hay giải thích, mà bằng sự yên lặng. Có tất cả 14 câu hỏi đại loại như sau mà Phật không giải đáp:duc-Phat-yen-lang

1.              Vũ trụ có trường tồn bất diệt hay không?
2.              Vũ trụ không trường tồn bất diệt?
3.              Vũ trụ đồng thời vừa trường tồn bất diệt, vừa không trường tồn bất diệt?
4.              Vũ trụ đồng thờivừa không trường tồn bất diệt cũng không phải la không trường tồn bất diệt?

5.              Vũ trụ có biên giới hay không?
6.              Vũ trụ có vô biên hay không?
7.              Vũ trụ đồng thời vừa có giới hạn lại vừa vô biên?
8.              Vũ trụ đồng thời không phải là có giới hạn, nhưng cũng không phải là không có giới hạn?

9.              Sự sống và thân xác là một thứ như nhau?
10.       Sự sống và thân xác có phải là hai thứ khác nhau?

11.       Một sinh linh được giải thoát có hiện hữu sau khi chết hay không?
12.       Một sinh linh được giải thoat không còn hiện hữu sau khi chết?
13.       Một sinh linh đượcgiải thoát hiện hưu nhưng đồng thời cũng không hiện hữu sau khi chết?
14.       Một sinh linh đượcgiải thoát, đồng thời không hiện hữu cũng không phải là không hiện hữu sau khi chết?

Trên đây là những gì kinh Cula-Malunkya-sutta đã ghi chép lại, bộ kinh này trình bày “Những câu hỏi vô ích” do một đệ tử của Phật tên là Malunkyaputta nêu lên để hỏi Đức Phật. Ngài không trả lời trực tiếp những câu hỏi ấy, nhưng hướng những thắc mắc của Malunkyaputta vào những gì thiết thực hơn: những khổ đau đang diễn ra trước măt và những gì đang làm cho Malunkyaputta phải bấn loạn trong tâm thức:

“ Này Malunkyaputta, mặc dù có một quan điểm theo đó vũ trụ vô tận và có một quan điểm [khác] theo đó vũ trụ không vô tận, nhưng trước nhất phải hiểu rằng có sinh, có già, có chết, có khổ, có than khóc,có đớn đau, xót xa và tuyệt vọng. [Đối với] Ta, Ta [chỉ] giảng [cho con] về sự chấm dứt những thứ ấy trong thế giới này, trong chính sự sống này. Vì thế, này Malunkyaputta, hãy giữ lấy trong tâm những gì Ta giảng, đúng như Ta đã giảng, và những gì Ta không giảng, đúng như Ta không giảng…”

(Trích kinh Cula-Malunkya-sutta,  bản dịch tiếng Pháp của Mohan Wijayaratna)

Kinh sách có chép câu chuyện như sau: một người bị tên tẩm thuốc độc, nhưng không chịu nhổ mũi tên và băng bó, chỉ thắc mắc về người bắn mũi tên và dây cung làm bằng loại gì, việc bào chế thuốc độc ra sao…nếu tiếp tục thắc mắc như thế, người này sẽ chết trước khi tìm được giải đáp cho thắc mắc ấy. Đức Phật không phải là một giáo chủ áp đặt những giáo điều, cũng không phải là một triết gia hay khoa học gia để đưa ra những lời giải thích về vũ trụ hay những biện luận siêu hình, Đức Phật là một vị Thầy tâm linh chỉ dẫn cho ta nhìn thấy bản chât sự hiện hữu của chính ta, đồng thời Đức Phật cũng là một vị Lương y chữa chạy cho ta thoát khỏi khổ đau để tìm thấy sự an vui đích thực và lâu bền. Sau đây là một đoạn khác trong kinh Cula-Malunkya-sutta nhắc lại tính cách vô bổ của những biện luận siêu hình và thuận lý:

“ Sự hiểu biết những thứ ấy không giúp cho sự thăng tiến trên đường tu tập, vì nó chẳng lợi ích gì cho sự an bình và giác ngộ. Những gì lợi ích cho sự an bình và giác ngộ mà Đức Phật thuyết giảng cho các đệ tử của Ngài là những điều sau đây: sự thật về khổ đau, nguồn gốc của khổ đau, sự loạibỏ khổ đau, con đường đưa đến sự loại bỏ khổ đau”.

(Trích kinh Cula-Malunkya-sutta, bản dịch của Etienne Lamotte)

Thay vì Đức Phật tham dự vào những biện luận vô tận của nhị nguyên và quy ước, Ngài đã lôi Malunkyaputta trở về thực tế để nhìn thẳng vào bản chất thực sự của thực tại. Phật đã trao cho người đồ đệ Malunkyaputta và cho cả chúng ta hôm nay một viên thuốc thật mầu nhiệm, nhưng Phật không hề đề cập gì đến kích thước của vũ trụ. Khi viên thuốc của đạo pháp đã ngấm vào tâm thức ta, làm tan biến những độc tố của vô minh, bản thể vũ trụ sẽ hiện ra với ta một cách minh bạch, không cần phải hỏi Phật cái vũ trụ đó có bất diệt hay không.

Yên lặng là một cánh cửa mở rộng, là không gian vô tận, thắc mắc thuần lý là một hành vi khép lại, một thể dạng của nhị nguyên và trói buộc. Nếu suy ngẫm kỹ lưỡng, ta sẽ nhận thấy đặc tính thật tinh tế trong cách trình bày cũng như các lời giảng của Phật trong kinh sách. Chẳng hạn như cách trình bày các câu hỏi trong kinh Cula-Malunkya-sutta trên đây, mỗi thắc mắc được nêulên tuần tự bằng bốn câu hỏi:

-          Vũ trụ bất diệt?
-          Vũ trụ không bất diệt?
-          Vũ trụ vừa bất diệt vửa không bất diệt?
-          Vũ trụ vừa không bất diệt cũng không phải là không bất diệt?

Nểu chỉ đặt một câu hỏi duy nhất: vũ trụ có bất diệt hay không? Câu hỏi sẽ “ thiếu sót”, tính cách phiến diện sẽ đưa đến sự tranh cãi triền miên. Phần thứ hai của câu hỏi; vũ trụ có phải là không bấtdiệt hay không? Haicách trình bày của câu hỏi nêu lên tính cách đối nghịch của nhị nguyên: có và không. Phần thứ ba và thứ tư của câu hỏi: vũ trụ vừa bất diệt lại vừa không bất diệt, vừa không bất diệt cũng không phải là không bất diệt, là cách hóa giải toàn bộ cho câu hỏi, sự thắc mắc trở nên vô nghĩa. Tóm lại, một câu hỏi nếu “đầy đủ” sẽ có sẳn câu trả lời là như vậy, sự yên lặng của Phật thật vô cùng sâu sắc.

Ta hãy nhìn vấn đề trên đây dưới một khía cạnh khác. Khi hỏi Phật về vũ trụ có bất diệt hay không, thì chính Malunkyaputta đã vô tình vướng mắc vào các lầm lỗi như sau:

-          Xem vũ trụ là một tổng thể rõ rệt, trong khi đó vũ trụ chỉ là một sự cấu hợp hỗn tạp.
-          Xem vũ trụ đang hiện hữu một cách vững chắc, nhưng vũ trụ chỉ là sản phẩm của vô thường.
-          Xem vũ trụ là một thực thể bên ngoài tâm thức, nhưng thật ra vũ trụ chỉ là một phóng ảnh của tâm thức.

Những lỗi lầm thô thiển như thế cho thấy câu hỏi của Malunkyaputta là một câu hỏi đặt sai. Tuy nhiên, như vừa trình bày trên đây, phần thứ ba và thứ tư của câu hỏi liên quan đến thắc mắc về vũ trụ có phải vừa là bất diệt lạ cũng vừa không bất diệt đã gián tiếp hóa giải có và không, hiện hữu và không hiện hữu, tức những lạm dụng của ngôn từ nhị nguyên.

Câu hỏi của Malunkyaputta có vẻ như hữu lý, nhưng thật ra vô nghĩa, vô nghĩa vì dựa vào cách diễn đạt quy ước, công thức và đối nghịch. Cũng xin minh chứng thêm với các nhà khoa học và các triết gia là những người Phật giáo đi tìm sự thật tuyệtđối, một sự thật đúng thật của thực tại, thoát khỏi bản chất ảo giác, vô thường và biến động, sự thực ấy người Phật giáo gọi là sự thực tuyệt đối của hiện thực. Họ không đi tìm sựthực mang tính cách tương đối, xác định bởi sự quan sát, mô tả, đo đạc, những lập luận dựa trên toán học hay các giả thuyết của người làm khoa học và đồng thời cũng không dựa vào những những biện luận duy lý của các triết gia.

Tóm lại, sự yên lặng của Phật là một phương pháp cắt đứt quá trình tư duy thuần lý, phá bỏ tính cách quy ước và công thức của ngôn từ, kể cả sự hiểu biết tương đối của khoa học và sự hiểu biết thuần lý của các triết gia. Sự hiểu biết trong Phật giáo là một sự hiểu biết trực nhận bằng kinh nghiệm, phát hiện bằng tu tập và bằng cách biến cải tâm linh, một sự hiểu biết siêu nhiên, trong sáng và tuyệt đối. Sự hiểu biết ấy gọi là Trí tuệ.

HOANG PHONG
Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 58