Hiển thị các bài đăng có nhãn kỳ thị tôn giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kỳ thị tôn giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2013

“LỜI ĐỀ” CỦA BA VỊ ĐỒNG LIÊU VỚI ÔNG DIỆM


 

“LỜI ĐỀ” CỦA BA VỊ ĐỒNG LIÊU VỚI ÔNG DIỆM

 
"CHÍN NĂM MÁU LỬA DƯỚI CHẾ ĐỘ GIA ĐÌNH TRỊ NGÔ ĐÌNH DIỆM"
của hai soạn giả Nguyệt Đam và Thần Phong, xuất bản năm 1964


1) "LỜI ĐỀ CỦA CỤ TUẦN PHỦ TRÍ SĨ VŨ CÚC SƠN

Được biết ông Ngô Đình Diệm, trong khi qua lại chốn Thần kinh, tôi vẫn thường nghe nói nhiều về những hành động của ông, khi ông còn đương tại chức, nhất là trong hồi ông làm Tuần Vũ và hồi ông được thăng chức Thượng thư tại Triều Đình Huế .

Sau khi bị Phạm Quỳnh đàn hặc và bị về nghỉ, ông Diệm có tới thăm tôi tại Hà Tĩnh, và phàn nàn về sự "dữ nhân quả hợp" của ông. Tôi có an ủi ông "nên tạm lánh mình về chốn điền viên, cho được an nhàn tâm trí. Công danh phú quý chẳng qua cũng như giấc mộng kê vàng, theo đuổi mãi mà chi".

Nhưng ông không nghe, và chẳng bao lâu, tôi lại được tin ông qua Bắc Sơn, tìm đến yết kiến Hồ Chí Minh, rồi bị bắt giam tại Tuyên Quang. Tai vạ này thực là do ông tạo ra vậy!

Sau này, khi ông ở hải ngoại về, đảm nhiệm chức Tổng Thống. Tuy tôi không có dịp được gặp ông, nhưng vẫn thường theo dõi về cuộc đời thăng trầm của ông. Tôi đã được tin ông bị bắn hụt tại Ban Mê Thuột; bị đả đảo năm 1960; bị nã bom năm 1962; rồi đến lần đảo chánh năm 1963, lật đổ chế độ độc tài, để kết thúc cuộc đời của ông.

Đó, sự quá tham vọng của ông đã gây cho ông cái chết thê thảm, để đền tội trước nhân quần, xã hội.

VŨ CÚC SƠN"
Tuần Phủ Trí Sĩ

***

2) "LỜI ĐỀ CỦA CỤ CỬ NHÂN, THƯỢNG-THƯ TRÍ-SĨ PHẠM VĂN HANH

Đành rằng "đối với người đã khuất thì không nên nói đến". Nhưng đây, trong việc sưu tầm tài liệu, ghi vào sử sách lưu lại về sau, lẽ tất nhiên chúng ta phải giữ gìn chuyện cũ, bổ khuyết những chuyện nghi ngờ, ngõ hầu có thể giúp ích, một phần nào, cho mai hậu, trong việc khảo cứu về chuyện cũ nước nhà.

Tôi, lúc thiếu thời đã từng giong ruổi trong hoạn trường, trên ba mươi năm và đã được quen biết ông Ngô đình Diệm từ lâu. Chẳng những ông với tôi cùng là người miền Trung, lại là chỗ đồng liêu. Nên tôi đã có dịp nhận xét riêng về tính tình của ông, và thành tích của gia đình ông.

Nay được đọc qua bản thảo của cuốn " Chín Năm Máu Lửa " nói về gia đình họ Ngô, tôi đã nhận thấy những lời ghi chép về ông, về gia đình ông, rất phù hợp với những điều mà tôi đã được mắt thấy tai nghe. Như vậy, đủ tỏ rằng đây là một ngòi bút đáng tin cậy, không còn nghi ngờ gì nữa.

Sự thất bại quá nặng nề của ông Ngô Đình Diệm và anh em ông âu cũng là hậu quả tai hại của những con người "làm sự bất nghĩa, tất nhiên phải đến chỗ chết", đúng với câu chữ hán (1) của các bậc hiền triết đời xưa: "Đa hành bất nghĩa tất tự tế" (Làm nhiều điều bất nghĩa, tức là tự giết mình). Đó, cũng là một lẽ đương nhiên của con Tạo đã an bài. (2)

PHẠM VĂN HANH
Lão Tẩu: Cử nhân, Thượng Thư Trí Sĩ -

***

3) "LỜI ĐỀ CỦA CỤ VĂN TRAI, NGUYỄN KINH LỊCH

Trong hồi ông Ngô Đình Diệm làm Tuần Vũ Bình Thuận, được Khâm sứ Thibaudeau đặc cách triệu về Huế, cho đảm nhiệm chức Thượng Thư Bộ Lại, thì tôi hiện đương giúp việc tại Bộ Hộ. Nên đã được biết ông Diệm, và thường được nghe nói về ông nhiều.

Nay tôi đã ngoài 70 tuổi (vào năm 1964). Những hành vi của ông Diệm, từ hồi ở nước ngoài về làm Tổng Thống, cho đến ngày nay, tôi vì già yếu, ít đi, ít nghe ông được rõ lắm.

Nay tôi đọc qua bản thảo cuốn "Chín Năm Máu Lửa" trong chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm, tôi nhận thấy cuốn sách này đã nói lên được tất cả những thủ đoạn gian hùng của ông Diệm và anh em ông. Ngoài các chi tiết lặt vặt không đáng kể, cuốn sách này, đã ghi đúng những điều mà tôi đã mắt thấy tai nghe, trong khi làm việc gần ông Diệm.

Cuốn " Chín Năm Máu Lửa " này thực là một cuốn sách đáng tin cậy và có thể giúp ích cho các nhà viết sử sau này muốn sưu tầm dấu vết của gia đình họ Ngô. Tôi xin trân trọng đề lời giới thiệu.

VĂN TRAI
Ty Hiến Sát sứ Qui Nhơn (Trung Việt)

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

PHÚC TRÌNH A/5630 CỦA LIÊN HIỆP QUỐC NĂM 1963 ĐÃ KẾT LUẬN NHƯ THẾ NÀO?


PHÚC TRÌNH A/5630
CỦA PHÁI ĐOÀN ĐIỀU TRA LIÊN HIỆP QUỐC
VỀ ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO TẠI NAM VIỆT NAM NĂM 1963
ĐÃ KẾT LUẬN NHƯ THẾ NÀO?


 
Tâm Diệu và Nguyễn Kha
 

1-      BỐI CẢNH

Sau cuộc tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức ngày 11-6-1963 làm rúng động lương tâm nhân loại, và sau cuộc tự tử bi hùng nhưng đầy thách đố của văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam vào đúng ngày Song Thất 7/7/1963, chính quyền Ngô Đình Diệm (mà quyền bính quốc gia lúc bấy giờ đã hoàn toàn thuộc về vợ chồng ông bà Cố vấn Ngô Đình Nhu-Trần Lệ Xuân) quyết định dẹp tan phong trào đòi hỏi bình đẳng tôn giáo của Phật giáo, dù ngoài mặt vẫn ru ngủ Phật giáo và dư luận thế giới với một Thông Cáo Chung do chính tay ông Diệm ký từ ngày 16-6-1963.

Đêm 20-8-1963, ông Nhu ra lệnh cho một đơn vị quân đội là Lực Lượng Đặc Biệt của Đại tá Lê Quang Tung và Cảnh sát Dã chiến tổng tấn công các chùa trên toàn quốc. Đặc biệt tại Sài Gòn, lực lượng võ trang  nầy mà giáo sư Buttinger xem không khác gì nhóm xung kích của Nazi (Nazi stormtrouper) đã bắt giam 1,426 Tăng Ni và Cư sĩ Phật giáo (xem Điện văn số 274 của Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn gửi cho Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 24-8). Toàn bộ thành phần lãnh đạo Phật giáo coi như bị tê liệt, nhường lại cuộc đấu tranh chống độc tài giáo trị và gia đình trị cho sinh viên thanh niên, trí thức, và các đảng phái quốc gia, …  

Tham khảo từ Wikipedia:
Ngày 21/8/1963, sinh viên Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ bãi khóa.
Ngày 22/8/1963, khoa trưởng Y Khoa Sài Gòn bác sĩ Phạm Biểu Tâm từ chức rồi bị bắt. Ngày hôm sau, sinh viên Y khoa vận động sinh viên các trường khác liên kết thành lập Ủy ban Chỉ đạo Sinh viên Liên khoa. Uỷ ban này phát động sinh viên tất cả các trường đại học bãi khoá. Sau vài tuần lễ, phong trào bãi khóa lan tới tất cả các cấp trung học toàn quốc.
Cùng ngày 22/8/1963, giáo sư Vũ Văn Mẫu từ chức Bộ trưởng Ngoại Giao và cạo đầu như một nhà sư để phản đối chính sách kỳ thị Phật giáo của ông Diệm.
Cùng ngày 22 tháng 8 năm 1963, ông Trần Văn Chương, thân phụ của bà Nhu, từ chức đại sứ Việt Nam Cọng Hòa tại Mỹ để phản đối chính sách ưu đãi đạo Thiên Chúa giáo La Mã của Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Ngày 24/8/1963 trên 3.000 sinh viên và học sinh tập hợp tại trường Luật Khoa Sài Gòn để chào đón Giáo sư Vũ Văn Mẫu. Ủy ban Chỉ đạo Sinh viên Liên khoa được đổi tên thành Ban Chỉ Đạo Sinh Viên Và Học Sinh ra tuyên ngôn ủng hộ những đòi hỏi chính đáng của Phật giáo.
Sau ngày 24/8/1963, các phân khoa đại học và trường trung học lớn tại Sài Gòn đều bị cảnh sát phong toả. Sinh viên và học sinh bãi khóa và vận động các giáo sư từ chức. Học sinh các trường trung học công lập Gia Long, Trưng VươngVõ Trường Toản tổ chức meeting tại sân trường. Học sinh trường Chu Văn An xô xát với cảnh sát. Khoảng 2.000 học sinh trung học tại Sài Gòn bị bắt. Số sinh viên và học sinh bị bắt quá nhiều đến không đủ chỗ giam trong các trại Cảnh Sát nên phải tống lên xe GMC chở về giam ở Trung Tâm Huấn luyện Quang Trung
 Ngày 25/8/1963, 300 sinh viên học sinh tổ chức biểu tình tại Công trường Diên Hồng phía trước chợ Bến Thành trong lúc chính quyền đang ban bố lệnh giới nghiêm. Cảnh sát bắn vào đoàn biểu tình giết chết nữ sinh Quách Thị Trang. Khoảng 200 người bị bắt giữ. Xác Quách Thị Trang bị cảnh sát mang đi. Chiều hôm đó, chính quyền ra thông cáo các lực lượng an ninh được lệnh nổ súng vào bất cứ đám đông nào tụ họp nơi công cộng mà không xin phép trước.
 
Sinh viên Đại học Khoa học Sài Gòn  biểu tình ủng hộ Phật giáo





Thanh niên sinh viên bị Cảnh sát bắt đem về Trung tâm Huấn luyện Quang Trung

Trong không khí căng thẳng do những biện pháp sắt máu đó của chính quyền Ngô Đình Diệm, và giữa một mùa hè Sài Gòn nóng bỏng với những tin đồn về đảo chánh và phản đảo chánh, về chính quyền ông Diệm thỏa hiệp với Hà Nội, về vai trò của tân Đại sứ Mỹ Cabot Lodge (kề từ 26/8), về khả năng ông Nhu sẽ thay ông Diệm, … mười ngày sau, ngày 4-9-1963, 14 nước bao gồm Afghanistan, Algeria, Cambodia, Ceylon, Guyana, India, Indonesia, Mông Cổ, Nigeria, Pakistan, Rwanda, Sierra Leone, Somalia, Trinidad và Tobago (sau đó, thêm hai nước Mali và Nepal) đưa vấn đề Phật giáo Việt Nam ra trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc (LHQ) với nội dung cáo buộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa vi phạm các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc.

Một tháng sau, ngày 4/10/1963, Việt Nam Cộng hoà gửi thư lên Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc mời một phái đoàn sang Việt Nam điều tra về tình hình tôn giáo tại Việt Nam. Cuối tháng Mười,  Liên Hiệp Quốc cử phái đoàn gồm 16 thành viên đại diện 7 quốc gia Afghanistan (trưởng phái đoàn), Brazil, Ceylon, Costa Rica, Dahomey, Morroco và Nepal sang Việt Nam điều tra tìm hiểu sự thật. Phái đoàn đến Phi trường Tân Sơn Nhứt tối 24-10-1963, và bắt đầu từ hôm sau chỉ tiếp xúc các giới chức chính quyền và phỏng vấn các nhân chứng trong 6 ngày (mà riêng 2 ngày cuối tuần là 26 và 27/10 thì  phần lớn thời gian phái đoàn ở khách sạn đọc tài liệu). Cuộc điều tra kết thúc sớm hơn dự liệu khi chế độ Diệm bị lật đổ vào đúng ngày lễ  Các Thánh (Toussaint, 1-11) của Công giáo, ngày mà tất cảc cơ quan chính phủ được nghỉ lễ. Và phái đoàn rời Sài Gòn ngày 3-11-1963.

 
2-      BỐN TÀI LIỆU CĂN BẢN

Có ba tài liệu chính thức của Liên Hiệp Quốc và một công trình nghiên cứu đại học liên quan đến cuộc điều tra về đàn áp Phật giáo tại Nam Việt Nam của LHQ:
-          Tài liệu A/5630 - Phúc trình của Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc tại Nam Việt Nam, hoàn tất ngày 7-12-1963. (Document A/5630 - Report of the United Nations Fact-Finding Mission to South Viet-Nam)
-          Đề mục Thảo luận số 77 (Agenda Item 77)
-          Biên bản Buổi họp Khoáng đại thứ 1280 của Đại Hội đồng LHQ, Phiên họp thứ 18, ngày 13-12-1963 (United Nations General Assembly, Eighteen Session, 1280th Plenary Meeting – Official Records)
-          Khảo luận in thành sách “Một Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về Nhân Quyền” (A United Nations High Commissioner For Human Rights) của Giáo sư Roger Stenson Clark, do Martinus Nijhoff (Hòa Lan), xuất bản năm 1972.

2.1- “Đ
Ề MỤC THẢO LUẬN SỐ 77” VÀTÀI LIỆU A/5630
Report of the United Nations Fact-Finding Mission to South Viet-Nam – 7-12-1963

Bản Phúc Trình nguyên gốc bằng tiếng Anh, dài 93 trang, gồm 4 chương và 16 Phụ lục. Tất cả được đăng lại trong Đề mục Thảo luận số 77 của Liên Hiệp Quốc:
-          Chương I: Ghi chép theo trình tự các hoạt động của Phái đoàn (Chronological Accounts of the Mission’s Activities).
-          Chương II: Tố cáo trước Hội đồng Khoáng Đại (LHQ) về Vi phạm Nhân quyền tại Việt nam Cọng hòa (Allegations of Violations of Human Rights in the Republic of Viet-Nam brought Before the General Assembly).
-          Chương III: Lập trường của Chính phủ (Position of the Government)
-          Chương IV: Thẩm tra các Nhân chứng và Thông tin mà Phái đoàn nhận được (Examination of Witness and Communications Received by the Mission).



Toàn bộ Tài liệu A/5630 (Document A/5630) được đăng lại trong
Đề mục Thảo luận số 77 (Agenda Item 77)

Lập trường chính phủ do Tướng Trần Tử Oai trình bày. Phái đoàn còn gặp các ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Nguyễn Ngọc Thơ, Bùi Văn Lương, Nguyễn Đình Thuần, Vũ Văn Mẫu và một số viên chức tại Huế. Lẽ dĩ nhiên, chính phủ khăng khăng cho rằng không có kỳ thị tôn giáo, không có ưu đãi Công giáo, không có ngược đãi Phật giáo…. điều mà thực tế 9 năm cầm quyền của ông Diệm đã phủ bác hết. Đến nỗi Linh mục Lê Quang Oánh đã phải nhân danh Khối giáo sĩ Đồng Tâm lên án “tội bất công” (của ông Diệm) đã giết hại đồng bào vô tội. Thật là tàn bạo, dã man, phản dân chủ, phản tự do, phản đạo đức, làm nhục cho quốc thể Việt Nam, trong lá thư gửi Hòa Thượng Hội chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam ngày 12-5-1963 ngay sau biến cố ở Huế. Thậm chí khi ông Ngô Đình Thục qua Vatican ngày 7-9-1963, ông còn không được Giáo hoàng Paul 6 cho gặp mặt để “giải độc”.

Ngược lại, có một số chi tiết quan trọng trong bản Phúc trình này: Chỉ trong 3 tỉnh Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Định mà thôi, từ năm 1956 tới 1963 đã có 208,000 người bị ép vào Đaọ Công Giáo. Ngoài ra, còn có bản dịch bản Thông Cáo Chung ngày 16/6/193 trên đó có chữ ký của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết và Tổng thống Ngô Đình Diệm (xem trang 85), và có bản dịch Dụ Số 10 do Quốc Trưởng Bảo Đại ký năm 1950 (xem trang 86).

Phần cuối Phúc trình, tại Chương IV, trong mục Nhận xét Tổng quát (General Observations) có nêu ra 13 điều mà Phái đòan ghi nhận (như các chùa, các cơ quan nhà nước, khách sạn, thái độ của nhân viên chính quyền, cuộc đảo chánh, …)  nhưng tuyệt nhiên không có một Kết luận Chung quyết, dù sơ khởi, về tình hình đàn áp Phật giáo tại Nam Việt Nam. Dĩ nhiên, đáng lẽ Phái đoàn còn phải ở lại lâu hơn (4 ngày làm việc) để điều tra, và kết luận đáng lẽ sẽ được thực hiện khi Phái đoàn trở về lại Nữu Ước, có thì giờ để khảo sát lại các tài liệu đã thu lượm, rồi thảo luận và kết luận để trình lên Đại Hội đồng LHQ trong một phiên họp khoáng đại. Rất tiếc điều nầy đã KHÔNG xãy ra vì cuộc chính biến của Quân đội đã lật đổ chế độ Diệm vào ngày 1-11-1963.

Thật vậy, ở trang cuối cùng, trang 93 của Phúc Trình, có tổng kết những hoạt động mà Đại Hội Đồng LHQ đã tiến hành (ACTION TAKEN BY THE GENERAL ASSEMBLY) như sau:

-          Tại Phiên họp Khoáng đại thứ 1234 vào ngày 8-10-1963, LHQ quyết định thành lập Phái đoàn Điều tra đến Việt Nam. Thành viên sẽ do Chủ tịch Đại Hồi đồng công cử.
-          Tại Phiên họp Khoáng đại thứ 1239 vào ngày 11-10-1963, Chủ tịch Đại Hội đồng tuyên bố 7 thành viên của Phái đoàn.
-          Tại Phiên họp Khoáng đại thứ 1280 vào ngày 13-12-1963, Đại Hội đồng quyết định không tiếp tục cứu xét đề mục nầy nữa (At the 1280th plenary session, the General Assembly decided not to continue the consideration of this item)

Trang 93, trang cuối của Phúc trình, động thái cuối cùng của Đại Hội Đồng là “Tại Phiên họp Khoáng đại thứ 1280 vào ngày 13-12-1963, Đại Hội Đồng quyết định không tiếp tục cứu xét đề mục nầy nữa” (At the 1280th plenary session, the General Assembly decided not to continue the consideration of this item)

 
2.2- BIÊN BẢN “BUỔI HỌP KHOÁNG ĐẠI THỨ 1280  CỦA ĐẠI HỘI ĐỒNG LHQ
United Nations General Assembly, Eighteen Session, 1280th Plenary Meeting – Official Records – 13-12-1963

Đây là Biên bản chính thức của Phiên họp thứ 18 (18th Session) thuộc Buổi họp Khoáng đại thứ 1280 (1280th Plenary Meeting) của Đại Hội đồng LHQ để thảo luận 5 Đề mục Thảo luận (Agenda Item). Buổi họp về Đề mục 77, Vi phạm Nhân quyền tại Nam Việt-Nam (Violations of human rights in South Viet-Nam), do ông Carlos Sosa Rodriguez làm chủ tọa, đã đi đến kết luận như sau trong nghị quyết số 5:

“Vì những biến cố gần đây ở Nam Việt Nam, các vị đề nghị Đề mục Thảo luận số 77 đã thông báo cho tôi biết rằng lúc nầy, họ không thấy hữu ích để thảo luận đề mục nầy nữa. Với tình hình như thế, liệu tôi có thể cho rằng Đại Hội đồng cảm thấy là không cần phải cứu xét Đề mục 77 nữa hay không ?
Đại Hội đồng đã (đồng ý) quyết định như thế.”

(In the light of recent events in South Viet-Nam, those who proposed Agenda Item 77 have informed me that they do not feel it would be useful to discuss the item of this time. Can I take it that, in the circumstances, the General Assembly feels it is not necessary to continue the consideration of item 77 ?
It was so decided.)   


Nghị quyết số 5 của Đề mục Thảo luận số 77 trong Biên bản Buổi họp Khoáng Đại LHQ ngày 13-12-1963: “Vì những biến cố gần đây ở Nam Việt Nam, các vị đề nghị Đề mục Thảo luận số 77 đã thông báo cho tôi biết rằng lúc nầy họ không thấy hữu ích để thảo luận đề mục nầy nữa. Với tình hình như thế, liệu tôi có thể cho rằng Đại Hội đồng cảm thấy là không cần phải cứu xét Đề mục 77 nữa hay không ?
Đại Hội đồng đã (đồng ý) quyết định như thế.”

 
2.3- KHẢO LUẬN “MỘT CAO ỦY LIÊN HIỆP QUỐC VỀ NHÂN QUYỀN
A United Nations High Commissioner For Human Rights của Giáo sư Roger Stenson Clark, do Martinus Nijhoff (Hòa Lan) xuất bản năm 1972. Số ISBN 90 247 12971


Giáo sư Clark là người Tân Tây Lan, giảng sư về Luật học tại Đại học Victoria University of Wellington. Ông nhận được một học bổng nghiên cứu của Đại học Luật Columbia tại New York trong hai năm 1968 và 1969. Đây cũng là thời gian ông quan tâm đến một cơ chế bảo vệ Nhân quyền ở cấp độ Quốc tế (International Protection of Human Rights) khi làm nội trú tại cơ quan Human Rights Division thuộc Văn phòng Tổng Thư ký LHQ vào tháng 8 năm 1968.

Từ đó, ông thu thập tài liệu, nghiên cứu, thảo luận với nhiều bạn đồng nghiệp và hoàn thành tác phẩm A United Nations High Commissioner For Human Rights. Những ý kiến của ông trong khảo luận nầy đã đóng góp phần nào vào sự hình thành Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights (OHCHR) vào ngày 20-12-1993, hơn 20 năm sau.

Cuốn sách gồm 7 chương. Trong Chương III (The Function of the Commissioner), mục Subparagraph (a): advice and assistance to UN organs, trang 67, ông có nhắc đến Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam vào năm 1963. Ông kết luận về công việc của Phái đoàn:

It arrived in Saigon in late October and heard a number of witness. Unfortunately for the scholar, the affair ended inconclusively as a result of the successful coup against President Diem that took place while the Mission was in Saigon”.

(Phái đoàn đến Sài Gòn vào cuối tháng Mười và đã nghe một số nhân chứng. Không may cho các học giả, công việc bị kết thúc dang dở vì cuộc đảo chánh Tổng thống Diệm đã thành công khi Phái đoàn đang ở Sài Gòn)

Từ “inconclusive” có nhiều nghĩa trong tiếng Việt. “Dở dang” là một trong những nghĩa đó [http://en.glosbe.com/en/vi/inconclusive] và phù hợp nhất với ngữ cảnh của câu văn trên. Khi dịch ngược lại từ tiếng Việt sang tiếng Anh, từ “dở dang” cũng lại cho ta từ “inconclusive
[http://vdict.com/dở%20dang,2,0,0.html]

Câu văn trên hàm ý cuộc điều tra không đi đến được một kết luận nào vì Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ (chứ không phải vì không có đàn áp Phật Giáo) như đã từng được xác nhận (từ 9 năm trước) trong Phúc trình A/5630Biên bản của Phiên họp 1280 của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc.
 

Trang 67: It arrived in Saigon in late October and heard a number of witness. Unfortunately for the scholar, the affair ended inconclusively as a result of the successful coup against President Diem that took place while the Mission was in Saigon”.
(Phái đoàn đến Sài Gòn vào cuối tháng Mười và đã nghe một số nhân chứng. Không may cho các học giả, công việc bị kết thúc dang dở vì cuộc đảo chánh Tổng thống Diệm đã thành công khi Phái đoàn đang ở Sài Gòn)

Từ nhiều năm nay, đã có những kẻ không biết ngượng, dùng đoạn văn trong khảo luận nầy, cố tình dịch sai chữ “inconclusively” thành “không kết quả” hoặc viết lửng lơ “không có kết luận, the affair ended inconclusively” mà không thêm 2 câu: “Unfortunately for the scholar” và “as a result of the successful coup against President Diem” với hàm ý Phái đoàn không thấy có đàn áp Phật giáo, hầu lạc dẫn người đọc để chối tội cho chế độ Diệm.

Mới đây, trước mùa Phật đản 2013 kỷ niệm 50 năm Pháp nạn của Phật giáo Việt Nam, một ông cựu sĩ quan Cảnh sát hung hăng chống phá Phật giáo, chắc bị nhiểm độc hay chính ông uống độc dược loại thông tin như thế, đã hỗn láo thách thức một Hòa Thượng đọc lại Phúc trình nầy, tưởng rằng sẽ rửa được cái tội đàn áp Phật giáo dùm cho ông Diệm, mà thật ra ông Cảnh sát chẳng biết được rằng Phúc trình A/5630 nầy của LHQ chẳng có kết luận nào như thế cả.



3-      KẾT LUẬN

Nói tóm lại, đọc hết 93 trang của Phúc trình A/5630, lại được xác nhận bởi Kết luận của Biên bản Buổi họp thứ 1280 của Đại Hội đồng LHQ, rồi sau đó được Giáo sư Roger Stenson Clark tham chiếu trong tác phẩm  A United Nations High Commissioner For Human Rights của ông, ta có thể khẳng định rằng Phúc trình A/5630 không hề kết luận rằng chính phủ Diệm "không có đàn áp tôn giáo" như cái thế lực đã thù nghịch với Phật giáo từ thời Cố đạo Alexandre de Rhodes gọi Phật Thích Ca bằng “thằng” trong Phép Giảng Tám Ngày, tìm cách xuyên tạc tài liệu để mạo hóa lịch sử từ mấy năm nay.

 
Tâm Diệu và Nguyễn Kha

4/7/2013

 

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013


TRANH ĐẤU BẤT BẠO ĐỘNG
Lý Nguyên Diệu


Để tưởng niệm ngày vị pháp vong thân của
Hoà Thượng Thích Quảng Đức 50 năm trước (1963-2013)

 
Trong bối cành một thế giới đang hừng hực nóng từ lò lửa Trung Đông đến biên giới Thái-Miên, câu hỏi về sự hiệu nghiệm của tranh  đấu theo phương pháp “Bất Bạo Động” bỗng trở nên quan trọng . Từ “Vô Vi”của Lão Tử đến “Bất Bạo Động” của Gandhi là một con đường dài dẫn chúng ta từ an sinh cá nhân đến tranh đấu cho xã hội. Và nói theo Marx thì có xã hội là có bất công. Nhất là khi nhìn vào cả hai xã hội Cộng sản và Tư bản ngày nay, con cháu của Marx lại càng phải vất vả tranh đấu chống bất công trường kỳ hơn cả Mao, thường trực hơn cả Trotsky, sáng tạo hơn cả Obama.

Từ gốc rể, triết lý tranh đấu bất bạo động có thể coi như được gói gọn trong câu nói nổi tiếng của Gandhi: “Phương tiện là nhân mà mục đích là quả.” Nếu chúng ta sử dụng phương tiện vừa bạo, vừa động thì sẽ gặt hái một kết qủa không bình, không yên. Đây chính là thuyết nhân qủa ở một tiến trình praxis trong sáng và đơn giản nhất. Nhìn lại ba trường hợp tranh đấu bất bạo động thành công dưới đây, hy vọng chúng ta sẽ tìm ra được chìa khoá cho những vấn nạn quốc tế của những thập niên đầu của thế kỷ 21.

 
MAHATMA (Great Soul) GANHDI (1869-1948)

Phương pháp “Satyagraha” của Gandhi là một tổng hợp của Can đảm, Bất bạo động Sự thật. Phương pháp nầy đã được ông áp dụng một cách hữu hiệu để chống lại đế quốc thực dân Anh đem lại độc lập cho Ấn Độ.

Mahatma (Tâm Hồn Cao Thượng) Gandhi sinh trưởng trong một gia đình trung lưu. Được cha mẹ dàn xếp để lấy vợ năm 13 tuổi. Từ trẻ, ông đã chủ trương rằng giết thú vật để làm thực phẩm và áo quần là sai lầm. Năm 18 tuổi qua Luân Đôn học Luật, sau khi ra trường, về Ấn Độ làm việc nhưng không thành công, ông qua làm việc ở Nam Phi (lúc đó cũng là thuộc địa của thực dân Anh). Thời gian đầu tiên, tuy là một luật sư, ông vẫn bị kỳ thị vì là người Anh gốc Ấn. Tự đó, ông khởi đầu phong trào công nhân gốc Ấn chống kỳ thị qua tờ báo Indian Opinion.cùng với những chiến dịch tranh đấu bất bạo động và “dân bất tuân lệnh” (civil disobedience). Dù bị giam tù nhiều lần, Gandhi cũng đạt được kết qủa là chính quyền Anh đã nhượng bộ một sốquyền lợi cho người lao động gốc Ấn ở Nam Phi.

Đệ Nhất Thế chiến bùng nổ, ở tuổi 49, Gandhi trở về Ấn để tranh đấu cho độc lập của quê hương thoát vòng cai trị của đế quốc Anh, một đế quốc “luôn có mặt trời không bao giờ lặn” (the sun never sets). Trong vòng 5 năm, ông trở thành lãnh tụ của phong trào tranh đấu toàn nước Ấn. Chính quyền thực dân đưa ra luật Rowlatt để cấm tổ chức chống chính quyền. Ông dẫn đầu các cuộc nỗi dậy dùng phương pháp “Satyagraha” nhưng không hoàn toàn thành công. Tuy nhiên, niềm tin nầy vẫn càng trở nên sắt đá hơn nhờ vụ người Anh dùng bạo lực thảm sát gần 400 dân Ấn tại Amritsar năm 1919 càng làm cho chính quyền thực dân Anh thêm yếu kém và mất uy tín. Năm sau đó, ông khởi xướng chương trình tự dệt vải với 3 mục tiêu rõ rệt: (1) Tạo dựng tinh thần tự lập cho người dân Ấn (2) Nâng cao giá trị của lao động để người Ấn ý thức được khái niệm tự do và (3) tẩy chay kỷ nghệ dệt vải của “mẫu quốc” Anh để chuẩn bị cho một nền độc lập tự chủ.

Năm 1930, cũng trong tinh thần tranh đấu cho tự túc tự cường bằng phương pháp bất bạo động, Gandhi dẫn đầu một cuộc di hành vĩ đại dài gần 400 cây số xuống biển để làm muối chống lại đạo luật chỉ được mua muối của chính quyền thực dân. Trong suốt ĐệNhị Thế Chiến (1939-1945) ông liên tục hướng dẫn nhân dân Ấn biểu tình bất bạo động cho đến năm 1947, sau tổng cọng 7 năm Gandhi vào tù ra khám, nước Anh đã phải bằng lòng trả lại độc lập cho dân Ấn.

Chủ trương bất bạo động mà ông cổ xúy không bắt nguồn từ niềm tin Ấn Độ giáo của ông mà từ những suy nghiệm tự thân về bản chất con người. Ông chống lại những tôn giáo có tổ chức (organized religion) mà một câu nói nổi tiếng của ông là “Tôi thích Chúa Kitô nhưng tôi không thích các tín hữu Kitô giáo. Họ chẳng giống Chúa Kitô chút nào cả” (I like your Christ, I do not like your Christians. Your Christians are so unlike your Christ - Nguồn: Wikipedia)

Theo Gandhi, thật sự bất bạo động đòi hỏi tính can đảm. Muốn đạt được can đảm phải vượt qua lòng sợ hãi. Và ông đã dạy dân Ấn vượt qua lòng sợ hãi bằng lòng yêu quê hương.Khi người ta yêu quê hương thì chết cũng không sợ. Yếu tố thứ hai trong phương pháp Satyagraha của ông là sự thật. Loại “Sự Thật” có thể được tìm thấy bằng tính khoan dung và lòng thương tha nhân. Để nhấn mạnh yếu tố nầy, Gandhi đã đặt tựa của Hồi ký là “My Experience with Truth” (Kinh Qua Đời Tôi với Sự Thật”).

Sau khi ông bị một tín đồ Ấn Độ giáo cực đoan ám sát chết, nhà bác học Albert Einstein đã tuyên bố: “Những thế hệ tương lai khó mà tin được trái đất nầy đã có một người như vậy hiện hữu bằng xương bằng thịt” (“Generations to come will scarcely believe that such a one as this walked the earth in flesh and blood.”)

MARTIN LUTHER KING JR. (1929 – 1968)

Ông là một trong hai anh hùng của nước Mỹ mà ngày sinh nhật được chọn làm ngày quốc lễ (người kia là George Washington). Cuộc tranh đấu cho dân quyền bất bạo động từ 1955 đã mang lại cho ông vinh dự là người trẻ tuổi nhất được nhận giải thưởng Nobel Hoà Bình.

Martin Luther King Jr. (MLK) sinh trưởng trong một gia đình có 3 đời làm Mục sư phái Tin lành Báp-tít. Ông cũng là tác giả của 5 cuốn sách viết từ khởi đầu của cuộc tranh đấu năm 1958. Sau khi được thụ phong Mục sư năm 1948, ông tiếp tục học và lấy bằng Tiến sĩ Thần học tại Đại học Boston University năm 1955.

Năm 1955 là thời điểm xuất phát cuộc tranh đấu của ông với mục tiêu đầu tiên là đạt được bình quyền cho người da đen tại thành phố Montgomerry qua đạo luật kỳ thị bắt người da đen trên xe buýt phải nhường ghế ngồi cho người da trắng. Các lãnh tụ da đen trong thành phố nầy đã mời ông cầm đầu phong trào tranh đấu. Trong bài diễn văn nhậm chức, ông tuyên bố: “Điều tiên quyết phải xác định chúng ta là công dân nước Mỹ. Chúng ta không kêu gọi bạo động. … Sự huy hoàng vĩ đại của nền dân chủ Mỹ là quyền được phản đối để được quyền.” Vũ khí của MLK trong cuộc tranh đấu nầy là kêu gọi quần chúng tẩy chay xe búyt. Chỉ một năm sau, Tối cao Pháp viện Liên bang ra lệnh thành phố Montgomerry phải đối xử bình quyền trong hệ thống chuyên chở công cộng. Chiến thắng nầy đã giúp MLK đương nhiên trở thành lãnh tụ phong trào tranh đấu cho dân quyền trong nước Mỹ.

Từ vấn đề chuyên chở, cuộc tranh đấu lan qua bình quyền trong các lãnh vực giáo dục, lao động, nhà ở, chính trị (quyền bầu phiếu).và kinh tế. Những lãnh vực căn bản mà sự kỳ thị bất công trong xã hội Mỹ đã hiển hiện đến mức người da trắng (kể cả tài tử Paul Newman, Warren Beatty) cũng xuống đường biểu tình ủng hộ ông. Các cơ quan truyền thông đăng tải hình ảnh những người da đen biểu tình cam chịu trước những vòi xịt nước và những con chó hung dữ đã làm quần chúng Mỹ bắt đầu quan tâm. Cao điểm của phong trào tranh đấu là cuộc tuần hành vào mùa Hè năm 1963 với hơn 250,000 người Mỹ đủ sắc dân biểu tình không gậy gộc, gươm dao tại Hoa Thịnh Đốn. Vũ khí của họ chỉ là giọng ca cao vút của Joan Baez qua bài hát nổi tiếng “We Shall Overcome” (Chúng ta sẽ vượt qua, Một ngày nào đó chúng ta sẽ vượt qua, vì tự đáy lòng chúng ta tin là sẽ vượt qua – Nghe như câu chú “Gate Gate ParaGate …” của Bát Nhã Tâm Kinh vậy).

Năm 1964, Quốc hội Mỹ ban hành Sắc luật Bảo vệ Dân quyền (Cìvil Rights Act). Qua năm sau, với hậu thuẫn của Tổng Thống Lyndon Johnson, Quốc hội Mỹ ban hành sắc luật cho phép người da đen đi bầu (Voting Rights Act). Những thành công đó của ông cũng chưa làm vừa lòng nhóm SNCC (Ủy ban Sinh viên Bất Bạo động) đến mức họ bắt đầu dùng khẩu hiệu “Black Power” (“Quyền lực Người Da Đen”) và có khuynh hướng muốn sử dụng những phương tiện bạo động làm cho MLK lo ngại cho nguyên tắc tranh đấu theo lối Gandhi của ông. Theo ông, “phương tiện tranh đấu cũng phải trong sáng như mục tiêu mà chúng ta ước mong”. Năm 1967, MLK tập trung tất cả ưu tiên vào mục tiêu chống nghèo đói mà ông cho là đầu mối của tất cả thảm trạng mà người da đen ở Mỹ phải nhận chịu.

Tháng 4 năm 1968, ông đến Memphisđể ủng hộ cuộc đình công của công nhân đổ rác và bị một người tội phạm da trắng bắn chết.

Ngày nay, học sinh trung học Mỹ đều phải học về bài diễn văn nổi tiếng của ông đọc tại Hoa Thịnh Đốn trong cuộc biểu tình năm 1963: “I Have A Dream” (“Tôi Mơ Một Giấc Mơ”) để nói về khát vọng tự do, bình quyền của người dân trong một cường quốc mạnh nhất thế giới. Nhiều người đã tự hỏi có phải bài diễn văn nầy đã biến “một giấc mơ “ thành một hiện thực của một nước Mỹ năm 2008 với Tổng thống da đen Barrack Hussein Obama?

THÍCH QUẢNG ĐỨC (1897 – 1963)

Trong cuộc tranh đấu dài 6 tháng vào năm 1963 giữa Phật Giáo Việt Nam và chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm, cuộc tự thiêu của Hoà Thượng Thích Quảng Đức (HT) được coi như cao điểm của tinh thần vô úy, bất bạo động của đạo Phật. HT tên thật là Lâm Văn Tuất sinh tại huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Năm 7 tuổi đã vào chùa tu hành. Năm 20 tuổi, đạt phẩm Tỳ Kheo, pháp hiệu Quảng Đức. Sau đó, HT tịnh tu ba năm trên một ngọn núi ở Ninh Hòa gần bờ biển Đại Lảnh.

Trong thời gian hành đạo tại miền Trung, HT đã kiến tạo và trùng tu tất cả 14 ngôi chùa. Năm 1943, rời Khánh Hòa vào Nam, HT hành đạo khắp Sài Gòn, 6 tỉnh Nam kỳ. Trong ba năm ở Nam Vang, HT vừa giáo hóa các Phật tử kiều bào, vừa nghiên cứu kinh điển PaLi và Phật giáo Nam Tông. Năm 1958, trủ sở Hội Phật học Nam Việt, mà HT là Phó Trị sự, dời về chùa Xá Lợi ở Sài Gòn.

Đầu tháng 5 năm 1963, khi chính quyền cấm treo cờ trong ngày lễ Phật đản và thảm sát 8 người biểu tình ở Huế, hình thức tranh đấu của Phật giáo chỉ là biểu tình và tuần hành bất bạo động. Trước phản ứng hung bạo của chính quyền qua các cuộc bắt bớ Phật tử, phong toả chùa chiền, Phật giáo tăng mức độ chống đối lên đồng loạt tuyệt thực của các sư và Phật tử. Nghĩa là vẫn bất bạo động. Nhưng cũng vẫn chưa“khai thị” được chính quyền.

Cuối tháng 5/1963, HT viết thư xin tự thiêu nhưng bị các cấp lãnh đạo Phật giáo từ chối. Đến đầu tháng 6, khi cuộc khủng hoảng như đang đi vào bế tắc vì chính quyền không bày tỏ thiện chị thực hiện 5 nguyện vọng, Phật giáo nâng hình thức tranh đấu bất bạo động ở mức cao nhất: Không thiêu đốt kẻ thù mà thiêu đốt tấm thân “ngũ uẩn giai không” của chính mình để đưa cao ngọn đuốc soi sáng đầu óc vô minh. Trong di chúc để lại, HT có viết thẳng cho người lãnh đạo chính quyền đang đàn áp Phật giáo, đối tượng của cuộc tự thiêu, một cách hiền hoà, từ bi và đầy tình dân tộc:

“Mong ơn Phật Tổ gia hộ cho Tổng thống NgôĐình Diệm sáng suốt chấp nhận năm nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt nam . . . Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc... “

Ngày 11 tháng 6 năm 1963, trong một cuộc tuần hành của 800 nhà sư Phật giáo, HT Thích Quảng Đức đã ngồi tự thiêu trên một ngả tư lớn giữa trung tâm thủ đô Sài Gòn trước sự chứng kiến của lực lượng Cảnh sát, Phật tử và các phóng viên ngoại quốc. Cái chết bất chợt và bi hùng nầy đã tạo nên ba loại phản ứng:

(1) Từ chính quyền: Thứ nhất là một câu tuyên bố để lộ bản chất độc tài, vô chính trị của TT Diệm: “Sau lưng Phật giáo trong nước còn có Hiến pháp, nghĩa là có tôi.” Và thứ hai là một câu của bà Cố vấn Ngô Đình Nhu bị cả thế giới lên án: "Tôi sẽ vỗ tay khi thấy một vụ nướng sư khác" (I would clap hands at seeing another monk barbecue show) và nếu ai thiếu xăng dầu tôi sẽ cho. Tôi còn thách mấy ông sư thêm mười lần nữa. Phương pháp giải quyết vấn đề Phật giáo là phớt lờ, không cần biết tới".

(2) Từ người dân Việt: Im lặng trước chính quyền đang say máu. Nhưng trong lãnh vực văn hoá có ba phản ứng bất bạo động: Thứ nhất là quyết định từ chức của một số giáo sư Đại học (LM Cao văn Luận, giáo sư Phạm Biểu Tâm, giáo sư Vũ Văn Mẩu). Thứ hai là nhà văn Nhất Linh uống thuốc độc “tự hủy mình cũng như Hoà Thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu”. Và thứ ba là bài thơ “Lửa Từ Bi” đầy máu lệ của Đại thi sĩ Vũ Hoàng Chương được phát hiện sau khi chính quyền bị lật đổ với 5 câu thơ khởi đầu:

Lửa! Lửa cháy ngất tòa sen!
Tám chín phương nhục thể trần tâm hiện thành thơ, quỳ cảxuống.
Hai vầng sáng rưng rưng, Đông Tây nhòa lệ ngọc,
Chắp tay đón một mặt trời mới mọc.
Ánh Đạo Vàng phơi phới đang bừng lên, dâng lên ...

(3) Từ dư luận quốc tế: Hầu như toàn thể các cơ quan truyền thông trên thế giới đều đăng lại tấm hình tự thiêu hùng tráng và bi thiết nầy. Ngày 14 tháng 6, nhật báo New York Times đăng trên trang nhất “Mỹcảnh cáo Việt-Nam về những nguyện vọng của Phật giáo: (TT) Diệm được bảo là ông ta có thể bị khiển trách nếu không thỏa mãn được những kêu ca chính đáng về tôn giáo.” ("U.S. Warns South Vietnam on Demands of Buddhists: Diem is told he faces censure if he fails to satisfy religious grievances, many of which are called just."). Sử gia Seth Jacobs nhân xét là HT Thích Quảng Đức “cũng đã đốt ra tro con bài Ngô Đình Diệm của Mỹ” ("reduced America's Diệm experiment to ashes as well").

Về phía Công giáo, là đạo của TT Diệm, Giám mục Nguyễn văn Bình của Tổng giáo phận Sài Gòn kêu gọi chính quyền áp dụng khoan dung tôn giáo. Linh mục Lê Quang Oánh nhân danh khối tu sĩ Đồng Tâm lên án “tội bất công” đã giết hại đồng bào Phật tử vô tội (ngày 12/5). Và bất chấp cả lời kêu gọi (ngày 17/8) của Giáo hoàng Paul VI từ Vatican thúc dục TT Diệm giải quyết vụ khủng hoảng Phật giáo, đêm 20/8, như một ngọn lửa rơm bùng lên trước khi tắt, chính quyền phát động chiến dịch “Nước Lũ”, đem quân tấn cống các chùa Phật tại hầu hết các tỉnh trên toàn miền Nam và bắt nhốt cấp lãnh đạo Phật giáo và rất nhiều nhà sư, Phật tử, sinh viên, học sinh.

Cuối tháng 10, Liên Hiệp Quốc cử 1 phái đoàn đến Việt-Nam để điều tra tình trạng đàn áp tôn giáo của chính quyền TT Ngô đình Diệm. Nhưng đã quá trễ. Đầu tháng 11 năm 1963, quân đội nghe theo tiếng gọi của toàn dân, đứng lên lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm trong một cuộc binh biến ngắn ngủi, nhanh chóng không đến 24 giờ vì gần như không có kháng cự.

Bốn mươi tám năm sau hành động chống đối bất bạo động đó, tháng 9 năm 2010, một tượng đài tưởng niệm Bồ Tát Thích Quảng Đức được khánh thành tại Sài Gòn ngay ở địa điểm mà HT đã tự thiêu.

KẾT LUẬN

Nhìn lại cả ba cuộc tranh đấu, những yếu tố đáng chú ý là:

  • Mức độ bất bạo động luôn luôn được phe tranh đấu giữ ở tình trạng tối đa theo nghĩa không có một chống đối, chạm trán nào đưa đến hậu qủa xương rơi máu chảy cho phiá có quyền, có lực dù phía nầy đã bạo động không nương tay (ở Amritsar, ở Alabama, ở Huế).
  • Phe cầm quyền là một chính quyền thực dân, đế quốc (cho Gandhi). một truyền thống chính trị bị lạm dụng (cho Marin Luther King Jr.) và một chế độ đôc tài, gia đình trị và giáo trị (cho HT Thích Quảng Đức). Đây là những quyền lực không xuất sinh từ quần chúng, không phục vụ quần chúng và không được quần chúng ủng hộ.
  • Kết qủa là những lực lượng chủ trương sử dụng bạo động đã phải đầu hàng, nhượng bộ hoặc bị lật đổ trước một phương pháp tranh đấu với tinh thần Satyagraha - Canđảm cùng cực, Bất bạo động tuyệt đối Sự thật không thể chối cải.
Vậy thì ta có nên hy vọng một ngày nào, sau hơn nửa thế kỷ bạo động với hàng trăm ngàn nhân mạng tử vong, sẽ có những Gandhi, những Martin Luther King, những Thích Quảng Đức cùng chung nhau quạt tắt những lò lữa âm ỉ hay bùng cháy đang thiêu đốt nền hòa bình mong manh trên thế giới hiện nay không ?

LÝ NGUYÊN DIỆU
[Cập nhật 5/2013]

 

  

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013


PHẬT GIÁO MUỐN GÌ?

Cao Huy Thuần

GNO - Tại Đại lễ kỷ niệm 50 năm Bồ-tát Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân (Khánh Hoà, 28 đến 30-5-2013), Giáo sư Cao Huy Thuần đã có buổi thuyết trình đề tài "Từ áo lam tử đạo đến Ngọn lửa Quảng Đức". Sau đây là một phần nội dung được trích từ bài nói chuyện của Giáo sư trước hai ngàn thính chúng là Tăng Ni, trí thức, Phật tử và tuổi trẻ tại xứ Trầm Hương - quê hương của Bồ-tát Thích Quảng Đức.
Giáo sư Cao Huy Thuần tại Đại lễ kỷ niệm Bồ-tát Quảng Đức (chùa Long Sơn, Nha Trang)

Pháp nạn năm 1963 mở đầu cho một sự tham dự trực tiếp của Phật giáo vào tình hình của thời cuộc gây nên do chiến tranh và sự lợi dụng chiến tranh để nắm giữ quyền hành của dư đảng ông Diệm. Lần đầu tiên, tên gọi “Phật giáo dấn thân” xuất hiện trên báo chí. Phật giáo làm chính trị chăng?

Xin bàn một chút về lý thuyết, không ra ngoài phạm vi của đề tài năm 1963. Thế nào là “dấn thân”? Năm 1963 chẳng phải là dấn thân đó sao? Như đã nói, các nhà lãnh đạo Phật giáo hồi đó luôn luôn muốn hành động của mình không rời lý thuyết để không ai. Vì vậy, dấn thân của sự kiện năm 1963 cũng như sau năm 1963 là dấn thân trên mặt trận văn hóa, không phải dấn thân vào chính trị. Dấn thân theo nghĩa đó không mới mẻ gì trong lịch sử Phật giáo. Đó chỉ là tinh thần nhập thế trong đạo Phật. Vậy thì, thế nào là xuất thế, thế nào là nhập thế?

Phật giáo xuất thế gian, đúng vậy, nhất là đối với người xuất gia. Chùa chiền thì xây trên núi. Cách sống thì xa lánh cõi trần. “Cạo bỏ râu tóc, làm bậc sa môn, tiếp nhận lấy đạo, thì hãy rời bỏ tài sản thế gian, khất thực vừa đủ, mỗi ngày đứng bóng ăn một bữa, mỗi đêm dưới cây ngủ một lần, thận trọng đừng thêm. Làm cho người u mê tồi tệ chính là ái dục”. Phật đã dạy như vậy trong Kinh 42 bài.

Mẫu mực đó đâu phải là của người dấn thân vào những tranh đấu trong xã hội? “Tu” là để giải thoát. Mà người giải thoát là người đã thấy rõ sự vật là vô ngã, vô thường. Thấy rồi thì sinh tâm nhàm chán, cắt bỏ phiền não vô minh, đoạn trừ luân hồi sinh tử. Vậy thì tại sao các ông sư thời 63 biểu tình tuyệt thực? Lý tưởng là diệt khổ, đeo thêm cái khổ chính trị làm chi? Đó là miệng lưỡi của chính quyền trong những năm 1963 để an trí các ông sư trong chùa.

Xuất thế đâu phải vậy! Lấy lý thuyết mà nói, Phật giáo nhìn thực tại dưới hai mặt: một mặt thuộc về tục đế, một mặt thuộc về chân đế, nói nôm na là cái thấy ở cấp dưới và cái thấy ở cấp cao tột.

Ở tục đế, khi chưa giải thoát, ta thấy có sinh lão bệnh tử, có khổ cần phải diệt, có niết bàn để hướng đến. Khi đã giải thoát, khi phiền não đã phá tung, nhận thức thay đổi: những thứ trước đây gọi là khổ, là sinh lão bệnh tử, thì nay được nhận ra không còn là khổ nữa. “Nếu cần sinh ra thì sinh, đến lúc già thì già, nếu phải bệnh thì bệnh, rồi khi chết thì chết”. Khổ đã không thấy thì niết bàn cũng không thấy, vì ta đã sống trong đó rồi. An vui, thanh thản, vững chắc trong cái mà trước đây ta gọi là khổ. Ta rời cái thấy về khổ ở tục đế để đạt đến cái thấy về khổ ở chân đế. Và như vậy, niềm vui xuất thế gian không còn là niềm vui đối nghịch với khổ nữa, vì khổ còn đâu nữa mà đối nghịch? Khổ đã không còn thì tất cả đều không còn, kể cả không còn tu. Kinh Bát Nhã nói: “không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không thanh, hương, vị, xúc, pháp” là thế, là tất cả đều không. Sự thật thế gian đã đi sang xuất thế gian. Và vì tất cả đều không nên Kinh nói: giải thoát ra khỏi mọi khiếp sợ.

Nhưng tư tưởng Phật giáo là một tư tưởng biện chứng. Biện chứng cả trong lý thuyết lẫn hành động. Trong lý thuyết, chân đế không rời tục đế. Phải thấy cái khổ ở mức tục đế rồi mới siêu việt cái khổ ở mức chân đế. Không còn thấy cái khổ nữa ở mức chân đế không có nghĩa là không biết có khổ ở mức tục đế. Cái thấy ở xuất thế gian không có nghĩa là không biết cái thấy ở mức thế gian. Có cái này rồi mới biết có cái kia. Khi có cái kia rồi vẫn biết nhân gian còn có cái này. Cho nên xuất thế gian không rời thế gian.

Tư tưởng biện chứng đưa đến hành động biện chứng. Thấy tất cả đều không thì không còn gì là chướng ngại. Ngay đến kẻ thù cũng không còn là kẻ thù. Dưới con mắt của chân đế, kẻ thù chỉ là nạn nhân của khổ mà chính họ không biết. Thì ta phải giải khổ cho họ với lòng từ bi! Căn bản của tranh đấu bất bạo động là như vậy. Thấy kẻ thù không phải là kẻ thù, chỉ là đối phương mà tình thương của ta sẽ làm hóa giải. Không thấy được điều đó thì không hiểu được ngọn lửa Quảng Đức. Thì không thể hiểu được tại sao Vũ Hoàng Chương lại đặt tên cho bài thơ bất hủ của ông về ngài là “Lửa từ bi ”. Vì ngài có cái nhìn xuất thế gian nên mới có hành động nhập thế đến mức ấy.

Đông đảo thính chúng là Tăng Ni, trí thức, Phật tử và tuổi trẻ tham dự
Giữa xuất thế và nhập thế, hai bên qua lại thong dong, không có biên giới. Tôi đọc một đoạn trong kinh Lăng Nghiêm:

“Ngài Trì Địa Bồ-tát bạch với đức Phật: ‘Con nhớ xưa làm người xuất gia, bấy giờ đường sá, sông biển, ruộng đất, núi non, tất cả chỗ ấy nơi nào có chi chướng ngại, hại cho sự đi lại và sự chuyên chở, thì con san bằng phẳng, làm cầu cống, lấp hầm hố. Siêng khó như vậy trải qua vô số kiếp. Có ai cần người mang gánh giúp thì con mang gánh trước, đến tận chỗ họ muốn rồi con để xuống, đi ngay, không lấy tiền thuê. Mãi đến thời kỳ đức Tỳ Xá ra đời, bấy giờ thế gian đói khổ lắm, con làm người gánh chở giúp, bất kể xa gần. Chỗ nào xe, đò bị mắc kẹt, thì con rán sức xô đẩy. Quốc chúa nước con lúc đó thiết trai cúng dường đức Tỳ Xá Thế Tôn, con bèn san đắp bằng phẳng đường đi để đón chờ. Khi ngài đi qua, xoa đầu con mà bảo: Hãy bình tâm địa thì thế giới đại địa đều bình’”.

Đó là nhập thế. Xuất thế ngay lập tức không chướng ngại:

Nghe lời ấy, tâm trí con tức thì khai ngộ. Con thấy những đan vị cực nhỏ tạo thành thân con cùng với những đan vị cực nhỏ tạo thành vũ trụ đều bình đẳng không sai biệt. Tánh của những đan vị ấy không xúc chạm nhau, cho đến binh đao khí giới cũng đều như vậy, không hề đụng chạm lẫn nhau”. Không ở đâu biện chứng xuất thế và nhập thế hiển lộ cụ thể hơn nơi con người Trần Thái Tông và Sư Trúc Lâm. Trần Thái Tông muốn gì khi bỏ kinh đô lên Yên Tử? “Ta suy đi nghĩ lại: chi bằng lui về ở chốn núi rừng, tìm lục Phật pháp để hiểu rõ việc lớn sanh tử, lấy đó để đền đáp công ơn cha mẹ, chẳng hay hơn sao?”. Vua nói thêm: “Lại nghĩ sự nghiệp các bậc đế vương đời trước, thịnh suy không tường, cho nên Trẫm đến núi này chỉ cầu làm Phật, chứ không cầu gì khác”. Ấy là Trần Thái Tông muốn xuất thế.

Và Sư Trúc Lâm, người đã xuất thế rồi, đã ở trên non rồi, khuyên gì nhà vua? Hãy nhập thế! “Phàm làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón Bệ Hạ trở về, Bệ Hạ không về sao được. Song phải nghiên cứu nội điển, mong Bệ Hạ đừng xao lãng”. Nghĩa là hãy nhập thế, nhưng hãy học xuất thế. Nếu ngày nay, ai làm vua làm quan mà biết xuất thế như vậy, cái bả quyền lực phú quý đâu còn ngậm chặt trong lưỡi! Khi vào thì làm đầy tớ cho dân cũng làm như kinh Lăng Nghiêm dặn thế, khi ra thì không vướng ngại, không thấy sai biệt, ra vào với một tâm bình đẳng.

Tôi nhắc một chút lý thuyết như vậy để làm rõ cái ý muốn đanh thép của các vị lãnh đạo phong trào Phật giáo năm 1963. Các vị ấy dấn thân vào một cuộc tranh đấu dù sao cũng dính dáng đến chính trị nhưng họ không muốn vướng mùi bùn chính trị. Trước mắt họ là tấm gương sáng ngời của các vị quốc sư trong lịch sử, vua vời đến để hỏi chuyện chính sự thì nói chính sự, nhưng nói xong thì rút về chốn núi non. Mà chuyện “chính sự” của các quốc sư ấy không phải là thứ chính trị nhỏ nhặt, đó thường là cái thế để giữ nước trường tồn, nghĩa là những nguyên lý mà tính chất văn hóa, đạo lý là căn bản.

Tôi trích vài đoạn phản ánh ý muốn không lay chuyển nói trên có liên quan đến thời sự 1963:

Tại sao người xuất gia không thể tham gia chính trị và quân sự?

1. Trước hết, dù ở trong trường hợp tự vệ, quân sự cũng vẫn là một hành động trái với nguyên tắc tôn trọng sự sống, huống chi là trường hợp khác. Trong trường hợp tự vệ, vì cái tinh thần vô úy hy sinh sự sống để bảo vệ sự sống, người Phật tử tại gia phải làm, bất đắc dĩ phải làm. Còn người xuất gia thì không thể như vậy vì họ đã là hiện thân của nguyên tắc tôn trọng sự sống của tất cả.

2. Huống chi phương pháp tự vệ không phải chỉ là chính trị và quân sự; chính trị và nhất là quân sự là những điều bất đác dĩ nhất trong tự vệ. Hai người muốn thắng nhau mà phải đánh nhau vẫn là một điều dở. Cho nên người xuất gia, vì lẽ tương quan sinh tồn, nếu có thể, chỉ nên tham gia kinh tế, văn hóa và xã hội mà thôi, còn chính trị và quân sự không những trái với nguyên tắc tôn trọng sự sống, mà còn trái hẳn với nguyên tắc “trên tất cả”, không phân biệt chủng tộc, giai cấp của người xuất gia”.

Trong một đoạn ngắn mà đã có đến hai lần xác nhận thái độ “bất đắc dĩ”. Đấu tranh năm 1963 cũng là bất đắc dĩ mà thôi. Thêm một “bất đắc dĩ” nữa trong đoạn dưới đây:

Đạo Phật chỉ thừa nhận sự tương quan sinh tồn. Đạo Phật dạy cho người ta thấy ở đời phải tự lập chớ không thể biệt lập. Phật tử không thấy, không tạo nên một đối phương. Vũ trụ là một lò tương quan; không có gì là trung tâm, không có gì là phụ thuộc, hay là ngược lại. Bởi thế cho nên phân ly là tự tạo một ung nhọt, mà chiến đấu (theo nghĩa hẹp) chỉ là tương đối. Chiến đấu phải là một hành động vì bảo vệ sự sinh tồn mà bất đắc dĩ. Nếu biến sự bất đắc dĩ ấy thành sự tuyệt đối cần thiết trong mọi trường hợp, thì chiến đấu sẽ trở thành chiến tranh.

Nhập thế thì chiến đấu hết mình, hy sinh cả mạng sống. Nhưng tuyệt đối phải biết xuất thế để tẩy ngay cả cái khái niệm chiến tranh ra khỏi tâm. Khi bắt đầu khởi động phong trào 63, không mấy ai tin ở thành công. Nhưng bắt buộc chiến đấu thì sẵn sàng chiến đấu, xem thành bại trong chiến đấu giống như thành bại trong công việc hoằng pháp hàng ngày, thành thì tốt, mà bại không chừng lại còn tốt hơn: đó là điều khó hiểu đối với người thường, nhưng đó lại là điều hiển nhiên của hành động trong Phật giáo:

“Chúng ta đã và vẫn sẵn sàng chấp nhận cảnh ngộ khó khăn. Điều đó chúng ta không thiệt, trái lại nữa là đằng khác. Bởi vì việc làm gặp cảnh ngộ dễ dãi thì đó là cảnh ngộ tác thành, chúng ta có công đức gì đâu. Còn nếu chúng ta chỉ biết nỗ lực mà làm thì chúng ta vẫn có công đức; còn việc làm ấy có thành hay bại vì cảnh ngộ chăng nữa, công đức cũng không vì sự thành hay bại ấy mà có hay không có. Ấy là nói về bản thân người làm. Còn nói hậu quả thì thành cố nhiên là tốt, mà bại lại càng tốt hơn. Việc làm nào được gọi là chân chính là phải có sự quy phục của nhân tâm. Mà cảnh ngộ Phật giáo hiện thời, nếu thành thì nhân tâm đã có, mà nếu bại thì nhân tâm lại càng có hơn. Đó là sự thật hiển nhiên”.

Tư liệu báo chí năm 1963 được giới thiệu tại triển lãm - một trong những nội dung của Đại lễ

Hành động trái nghĩa với manh động. Manh động thì rất sợ bại. Mà thường là bại. Nhập thế với cái tâm không sợ bại, vậy mà thường là thắng. Trong hoàn cảnh chính trị và văn hóa cực kỳ khó khăn của năm 1963, mấy ai dám tin vào thành công? Vậy mà Phật giáo vượt qua pháp nạn!

Pháp nạn vượt qua, các nhà lãnh đạo cảnh giác ngay cái bẫy chính trị luôn luôn rình rập các tôn giáo, khẳng định lại lập trường cố hữu của mình với ba nguyên tắc cụ thể:

1. Phật giáo không ủng hộ cũng không chống lại một chính quyền nào; Phật giáo ủng hộ hoặc chống lại các chính sách. Phật giáo ủng hộ chính sách nào tốt. Phật giáo chống lại chính sách nào xấu.

2. Trên tiêu chuẩn nào xét đoán chính sách nào tốt, chính sách nào xấu? Trên tiêu chuẩn phù hợp hay không phù hợp với tiền đồ của Phật giáo và dân tộc. Phật tử không bao giờ chấp nhận các chính sách đưa đến những hậu quả tai hại cho Phật giáo và dân tộc.

3. Phật giáo không nhắm việc nắm chính quyền, dù trực tiếp hay gián tiếp.

Căn cứ trên ba nguyên tắc đó, HT.Thích Trí Quang, lúc đó là Thượng tọa, kết luận: Phật giáo làm hết sức mình để phụng sự tổ quốc và dân tộc, chống lại những ai lợi dụng tôn giáo để tìm cách thống trị chính quyền và dân chúng, và kêu gọi phật tử ủng hộ hết lòng các chính sách tốt và chống lại các chính sách xấu: đó là “sức mạnh” mà người ta có thể tìm thấy trong Phật giáo.

Sức mạnh đó là sức mạnh văn hóa. Đời đời không phải là sức mạnh chính trị mà Phật giáo lánh xa. Bởi vì chính trị không nằm trong bản chất của Phật giáo. “Phật giáo không thích ứng với chính trị mà thích ứng với văn hóa. Phật giáo tồn tại bởi dân tộc, không như tôn giáo khác tồn tại vì chính quyền”. Đó là nguyên văn lời khẳng định lặp đi lặp lại bao nhiêu lần trong suốt mùa bão tố 1963 và sau đó. Trước 1963, Hội Phật giáo đã xác định tôn chỉ của mình rõ ràng:

Vì là một tổ chức tôn giáo, nhất là một tôn giáo dân tộc, hội Phật giáo trung thành với sứ mạng chánh yếu của mình, sứ mạng củng cố và khai thác nền đạo đức của dân tộc. Hội xác nhận rằng điều đó thật là tối hệ trọng đối với dân tộc, vì dân tộc muốn còn là phải còn dân tộc tính, mà dân tộc tính căn bản là nền đạo đức của dân tộc: đó là một sự thực quá rõ ràng bất cứ được nhìn bằng nhãn giới nào”.

“Phật giáo và văn hóa của dân tộc”: đó không phải là khẩu hiệu suông. Đó là niềm tin sắt đá của người lãnh đạo phong trào 1963. Tin rằng Phật giáo và văn hóa Việt Nam là một. Tin rằng Phật giáo phải luôn luôn tự mình xứng đáng để vẫn là một với Việt Nam. Đạo Phật “nhập thế” là nhập thế vào xã hội, văn hóa, nhắm vào con người mà cho vui, cứu khổ, nhắm vào đạo đức mà phát huy, nhưng đạo Phật “siêu thoát” thế gian, nhất là siêu thoát khỏi chính trị. Đời đời.

Tôi trích dẫn trên đây khá nhiều câu viết của HT.Trí Quang bởì vì lập trường ấy là huyết mạch của phong trào 63. Xuyên qua lập trường ấy, xuyên qua toàn bộ các tác phẩm của vị lãnh đạo này, nổi bật lên một chữ thôi, một chữ tự nó đủ sức cắt nghĩa tất cả tinh hoa mà đạo Phật muốn mang cống hiến cho thời đại: chữ “khác”. Trong một thư gửi cho Phật tử Huế, nơi khởi sinh cuộc tranh đấu 1963, chữ ấy là châm ngôn, là lý tưởng của hành động:

Phật tử Huế phải làm cho đạo mình “khác” đạo kẻ khác, chứ không phải làm cho đạo mình “hơn” đạo kẻ khác – “khác” ở chỗ nêu cao và thể hiện cho được sự khoan hồng và độ lượng của đức tính Từ bi dầu phải thiệt thòi đến cao độ

Cái chữ “khác” ấy là gia tài văn hóa mà đạo Phật đã để lại trong lịch sử. Thể nhập cái gia tài ấy, Phật giáo Việt Nam tiếp tục viết nên trang sử năm 1963 mà rạng rỡ nhất là ngọn lửa Quảng Đức.

Sự kiện năm 1963 là một khẳng định văn hóa. Tuyệt đối không phải là một phản ứng chính trị.

Cao Huy Thuần