Thứ Năm, 28 tháng 1, 2016


“PHÁ TRẬN” ĐẢO NHÂN TẠO CỦA TRUNG QUỐC
TRÊN BIỂN ĐÔNG

Alexander Vuving

Những hình ảnh chụp từ vệ tinh được tờ tạp chí tình báo quốc phòng IHS Jane’s phân tích cho thấy Trung Quốc đang xây dựng trên Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa một doi đất mang hình dáng sân bay dài 3.000m và một hải cảng đủ lớn cho các tàu chở dầu và tàu chiến lớn neo đậu. Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc làm vậy, đảo này là hòn đảo mới nhất được Trung Quốc xây dựng trong chuỗi hành động xây đảo lấn biển mà nước này đang tiến hành ở cả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trên biển Đông.
Trung Quốc xây đảo để làm gì? Mục đích tối thượng của những dự án này là gì? Lăng kính thông thường chúng ta sử dụng để giải mã các động thái chiến lược trên trường quốc tế không phù hợp để trả lời những câu hỏi ấy. Lăng kính thông thường nhìn trò chơi giữa các quốc gia dưới góc độ cờ vua, nhưng ở biển Đông, Trung Quốc lại đang chơi cờ vây.

Cờ vây (weiqi) là loại cờ cổ xưa nhất Trung Hoa (được biết đến ở phương Tây qua tên gọi của người Nhật là go), mang nhiều điểm tương đồng với một dòng tư duy chiến lược truyền thống có nhiều ảnh hưởng của Trung Hoa. Trong khi cờ vua là trò chơi chiếu tướng thì cờ vây, như tên gọi của nó, lại là trò bao vây. Trong cờ vây, không có vua, hậu hay tốt mà chỉ có những quân cờ giống nhau, quyền lực của chúng phụ thuộc vào vị trí của chúng trong tương quan rộng lớn hơn trên bàn cờ. Nếu như cờ vua là cuộc chiến giữa hai đội quân thì cờ vây là cuộc chiến của những tính toán định hình bàn cờ. Người chơi cờ vua giỏi nhắm đến việc đập tan sức mạnh cứng của đối phương, người chơi cờ vây giỏi nhắm đến việc kiểm soát các vị trí chiến lược, từ đó lan tỏa sức mạnh dựa trên vị trí.

Nếu coi biển Đông là một bàn cờ vua thì những động thái của Trung Quốc ở đó hầu như chỉ là vặt vãnh. Hầu như chỉ có tốt tiến quân, trong khi những quân cờ quyền lực hơn không có mấy động thái. Có lẽ vị trí đáng gờm nhất trên bàn cờ là căn cứ tàu ngầm hạt nhân ở Du Lâm phía nam đảo Hải Nam. Tuy nhiên, căn cứ này không nằm trong vùng biển tranh chấp. Quân đội hiếm khi là lực lượng chính tham gia vào tranh chấp biển Đông, mà chủ yếu là tàu đánh bắt cá và tàu hải giám. Và tâm điểm tranh chấp lại là những đá nhỏ, không thể cư ngụ và thường chìm.
Thoạt nhìn trò chơi này dưới góc độ cờ vua, một nhà ngoại giao kỳ cựu của Mỹ từng nói “các cường quốc không gây chiến với nhau chỉ vì những hòn đá” và một học giả hàng đầu về hàng hải Trung Quốc kết luận “những căng thẳng giữa một cường quốc mới nổi và các nước láng giềng là tự nhiên và không cấu thành mối đe dọa đáng kể nào đối với cân bằng quyền lực toàn cầu cũng như hoạt động bình thường của hệ thống quốc tế.”

Nhưng dưới con mắt của người chơi cờ vây, những gì mà Trung Quốc làm ở biển Đông là ví dụ kinh điển cho thấy nước này đã chơi môn cờ vây tài tình thế nào. Mục đích tối thượng là nhằm kiểm soát khu vực. Chiến lược để đạt được mục đích này dựa vào việc lấn dần, chứ không phải những trận giao tranh lớn. Lấn dần (creeping expansion – hay tằm ăn dâu – NBT) là một chiến lược đã được thực hiện trong suốt nhiều thập kỷ. Song song với chiến lược này là chiến lược cắt lát salami và ngoại giao gậy nhỏ (small-stick diplomacy – tức đe dọa ở mức độ vừa phải – NBT). Logic ẩn dưới đó là dần dần biến chuyển tình hình theo hướng có lợi cho sự bành trướng của Trung Quốc bằng cách khéo léo dùng thủ đoạn thay đổi thế chiến lược trong khu vực.

Chiến lược này đòi hỏi một số bước đi cần thiết, thực hiện tuần tự. Đầu tiên là hết sức tránh các cuộc xung đột vũ trang công khai; có thể khởi phát xung đột nhỏ, nhưng việc ấy chỉ được thực hiện nhằm lợi dụng tình hình vốn đã có lợi cho Trung Quốc. Bước thứ hai là kiểm soát những điểm chiến lược nhất trên biển; nếu không kiểm soát từ trước thì có thể lén lút chiếm, thậm chí có thể có xung đột nhỏ nếu cần. Bước thứ ba là phát triển những điểm đó thành điểm kiểm soát mạnh, tích cực xây dựng các trung tâm hậu cần và căn cứ hiệu quả để phô trương sức mạnh. Lịch sử can dự của Trung Quốc ở xung đột biển Đông cho thấy nước này đã theo sát những đường đi nước bước kể trên.
Đá Chữ Thập sau khi được cải tạo thành đảo nhân tạo
có diện tích lớn nhất Trường Sa với một đường băng dài 3km
Mặc dù Trung Quốc sẵn sàng lao vào đối đầu quân sự, nhưng nước này vẫn thường tránh viện đến các cuộc chiến vũ trang lớn để mở rộng không gian kiểm soát. Trong suốt sáu mươi năm qua, chỉ có hai lần Bắc Kinh xung đột quân sự để chiếm đảo. Lần thứ nhất vào tháng Giêng năm 1974 với Việt Nam, kết thúc với việc Trung Quốc chiếm nửa phía Tây của quần đảo Hoàng Sa, nhóm đảo Lưỡi Liềm. Lần thứ hai là một xung đột nhỏ hơn nhiều, nhưng cũng không kém phần đẫm máu với nước Việt Nam thống nhất tại Đá Gạc Ma hồi tháng 3/1988.

Điểm đáng chú ý ở hai lần đối đầu này là chúng đều xảy ra khi trong khu vực này xuất hiện một khoảng trống quyền lực lớn. Lần thứ nhất, Mỹ đang rút quân khỏi khu vực này, và lần thứ hai là khi Liên Xô rút dần sự hiện diện. Trong cả hai lần, Trung Quốc đều được hưởng lợi từ cái gật đầu ngầm của Mỹ, nhân tố quyền lực nhất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương mở rộng. Vì thế, những cuộc xung đột quân sự ấy không gây ra nhiều hệ lụy về mặt ngoại giao (cho Trung Quốc).
Bước đi thứ hai được phản ánh rất rõ trong cách Bắc Kinh chọn các địa điểm chiếm đóng trong khu vực đang tranh chấp. Khi Trung Quốc chiếm đảo của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa năm 1988, Trung Quốc đã chọn chất lượng bù số lượng. Trung Quốc chiếm 6 đảo, nhưng 5 trong số đó là những vị trí chiến lược nhất trong quần đảo.
Lựa chọn đầu tiên của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa là Đá Chữ Thập, một trong những đảo tốt nhất trong quần đảo xét về vị trí và khả năng mở rộng. Rạn san hô này án ngữ vị trí lý tưởng cửa ngõ phía Tây của quần đảo Trường Sa và là một trong số ít các địa vật trong quần đảo này gần các tuyến hải hành xuyên đại dương đi qua biển Đông. Đá Chữ Thập không quá gần cũng không quá xa các nhóm đảo khác, lợi thế giúp giảm khả năng bị tấn công đồng thời mở rộng không gian ảnh hưởng.

Ngoài ra, Đá Chữ Thập còn chiếm một khu vực rộng 110 km vuông, một trong những địa vật lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Bốn trong số năm địa vật còn lại là đá Subi, đá Gaven, đá Gạc Ma và đá Châu Viên nằm ở rìa bốn nhóm đảo khác nhau, từ đó có thể kiểm soát một vùng biển rộng lớn và những tuyến hải hành chủ chốt ở quần đảo Trường Sa. Sau này Trung Quốc còn chiếm thêm hai địa vật nữa cũng có giá trị chiến lược vô cùng to lớn.
Đá Vành Khăn mà Trung Quốc lén lút chiếm của Philippines hồi cuối năm 1994, đầu năm 1995 nằm ngay trung tâm cánh phía đông của quần đảo Trường Sa và rất gần các tuyến hải hành trọng điểm dọc phía đông biển Đông. Bãi cạn Scarborough mà Trung Quốc chiếm năm 2012 với chiến lược ngoại giao gậy nhỏ và “ngoại giao lật lọng” (double-dealing diplomacy) bao quát góc đông bắc biển Đông và là chốt canh lý tưởng nhằm kiểm soát các tuyến hải hành chính qua khu vực này.

Với việc kiểm soát quần đảo Hoàng Sa, bãi cạn Scarbourough và các đảo nhân tạo chiến lược khác trong quần đảo Trường Sa, Trung Quốc có lợi thế hơn bất cứ nước nào khác trong việc kiểm soát cái mà Robert Kaplan gọi là “yết hầu của các tuyến đường biển toàn cầu”. Chẳng hạn, đảo Phú Lâm (đảo lớn nhất trong quần đảo Hoàng Sa), Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn và bãi cạn Scarborough tạo thành một chòm sao bốn điểm với bán kính chỉ 250 hải lý từ đó có thể kiểm soát chặt chẽ toàn bộ biển Đông.

Điều đó có nghĩa là để trở thành lãnh chúa trên biển Đông, Trung Quốc chỉ cần phát triển những tài sản ấy thành nền tảng vững chắc có thể cung cấp hậu cần cho một mạng lưới tàu đánh cá, tàu hải giám, tàu ngầm và máy bay nhằm thống trị bầu trời và vùng nước khu vực này, cũng như một số vùng đất để thiết lập những khu kinh tế và an ninh rộng.
Đó chính xác là những gì Bắc Kinh đang tiến hành. Sáu mươi năm trước đảo Phú Lâm chỉ là một bãi cát không người ở, nay đã có gần 1.000 người, cả dân lẫn binh lính. Cơ sở vật chất lưỡng dụng bao gồm một sân bay với một đường băng 2.700m và một đường dẫn máy bay song song, có sức chứa hơn tám máy bay thế hệ thứ tư như tiêm kích SU-30MKK và máy bay đánh bom JH-7, một cảng nước sâu 1.000m có thể cho phép tàu tải trọng 5.000 tấn neo đậu.

Từ năm 2013, Trung Quốc cũng tiến hành các dự án xây dựng khổng lồ ở phía nam quần đảo Trường Sa hòng biến những đá mà nước này chiếm được thành đảo. Theo một quan chức tình báo cấp cao của Đài Loan tên là Lý Tường Trụ (Lee Hsiang-chou), chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã thông qua kế hoạch mở rộng đảo lấn biển để xây dựng các cơ sở quân sự trên năm đảo nhỏ trong vùng biển này, trong đó có Đá Châu Viên, Đá Gạc Ma, Đá Gaven, Đá Tư Nghĩa và Đá Chữ Thập.
Trong số những dự án xây đảo ấy, gây nhiều tác động nhất phải kể đến dự án Đá Chữ Thập. Từ một rạn san hô chìm, Đá Chữ Thập sẽ sớm trở thành đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Sau khi lấn biển, với diện tích đất dự kiến đạt 2km vuông, Đá Chữ Thập sẽ lớn gấp bốn lần đảo tự nhiên lớn nhất trong quần đảo là Ba Bình hiện đang bị Đài Loan chiếm đóng. Khu vực mở rộng này cho phép Đá Chữ Thập chứa được một sân bay với đường băng 3.000m, một cảng nước sâu, các trạm radar, vài tên lửa tầm trung và tầm xa, kho bãi và cơ sở vật chất cung cấp dịch vụ khác đủ khả năng hỗ trợ hàng trăm tàu cá, tàu hải giám, tàu chiến và máy bay.
Chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu trong tương lai gần đến trung hạn Bắc Kinh tiếp tục xây đường băng sân bay và cảng nước sâu ở Subi, Đá Vành Khăn và bãi cạn Scarborough và thiết lập một vùng nhận dạng phòng không ở biển Đông.

Với các đảo được mở rộng và xây mới ở các vị trí chiến lược, Trung Quốc có nhiều khả năng hơn tất cả các cường quốc khác trong việc giành thế thống trị trên không và trên biển ở biển Đông. Mặc dù Bắc Kinh vẫn còn cả một con đường dài phía trước, nhưng trong vòng hai mươi năm nữa viễn cảnh một biển Đông la liệt các căn cứ của Trung Quốc trải dài từ quần đảo Hoàng Sa ở tây bắc tới Đá Vành Khăn ở đông nam, từ bãi cạn Scarborough ở đông bắc đến Đá Chữ Thập ở tây nam sẽ chẳng có gì là quá khó tưởng tượng.
Trung Quốc cũng đang xây dưng một sân bay khác trên Đá Subi
Liệu quá trình lấn dần này có phải là không thể ngăn chặn? Mặc dù Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) mà Trung Quốc và các nước ASEAN ký năm 2002 không tạo nhiều cơ sở để phong tỏa các điểm xây dựng lại, nhưng các nước muốn duy trì nguyên trạng vẫn có thể gửi các quan sát viên quốc tế tới để giám sát xây dựng và gây sức ép ngoại giao nhằm thuyết phục Trung Quốc dừng hành động.

Một cách nữa để thách thức chiến lược cờ vây của Trung Quốc là dùng chính chiến thuật mà nước này sử dụng. Ví dụ, bước đầu tiên, Việt Nam có thể cho phép Ấn Độ sử dụng căn cứ hải quân ở vịnh Cam Ranh và cho Mỹ sử dụng căn cứ không quân ở Đà Nẵng. Đây là hai địa điểm chiến lược nhất của Việt Nam dọc bờ biển Đông.
Nếu Trung Quốc không để ý tới thông điệp này, Việt Nam có thể tăng cường động thái ngăn chặn bằng cách cho phép quân đội Mỹ và Nhật Bản vào Cam Ranh và Đà Nẵng, từ đó hai nước có thể tuần tra biển Đông. Trên hết, nếu Trung Quốc vẫn quyết tâm biến biển Đông thành ao nhà của mình thì các nước Việt Nam, Philippines, Mỹ, Nhật và Ấn Độ cần hình thành một liên minh mạnh mẽ hòng đảo ngược lại trạng thái mất cân bằng quyền lực ấy.

Đại chiến lược của Trung Quốc ở biển Đông là một kế hoạch thâm sâu tận dụng những điểm yếu của các chiến lược dựa trên các trận đánh lớn mà điển hình là Chiến lược tác chiến không-hải mà Mỹ đưa ra nhằm vô hiệu hóa năng lực Chống tiếp cận – phong tỏa khu vực (A2AD) của Trung Quốc và Chiến lược kiểm soát tầm xa (Offshore Control), lựa chọn thay thế chủ chốt của chiến lược A2AD.
Nhưng chiến lược lấn dần này của Trung Quốc không phải là hoàn hảo. Nó có thể bị ngăn chặn nếu Mỹ, Nhật Bản, Việt Nam và các cường quốc khu vực khác chơi cờ vây điêu luyện như Trung Quốc.

* Tác giả Alexander Vuving là phó giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương ở Honolulu (Mỹ).
Theo QPAN
Thứ Hai, ngày 11/1/2016 - 06:08


Nguồn: http://viettimes.vn/dia-chinh-tri/pha-tran-dao-nhan-tao-trung-quoc-tren-bien-dong-32719.html

Thứ Tư, 20 tháng 1, 2016


ÔNG DIỆM VÀ CÁC THÀNH PHẦN ĐỐI LẬP
(TRONG GỌNG KỀM LỊCH SỬ - Chương 13)

Bùi Diễm & David Chanoff
(In The Jaws Of History - Phan Lê Dũng dịch)


LGT – Có một số người thiếu hiểu biết về lịch sử cứ cho rằng biến cố năm 1963 chỉ là cuộc khủng hoảng của chính quyền Ngô Đình Diệm lên đến cao điểm trong chính sách kỳ thị Phật giáo của ông ta mà thôi. Và từ đó, giản lược hóa sự sụp đổ của chế độ Đệ Nhất Cọng hòa chỉ bằng một nguyên nhân: vì cuộc đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo của Phật giáo!
Cách nhìn như thế không những phi lịch sử mà còn rõ ràng có ác ý với Phật giáo Việt Nam. Vì lịch sử không trôi một cách đơn tuyến (linear) như vậy, và các lực vận động của lịch sử thì phức tạp, đa dạng và đan kết phải rất chặt chẻ mới tạo ra được một biến cố bi hùng như những gì đã xãy ra trong suốt 6 tháng cuối cùng của năm 1963 tại miền Nam Việt Nam.
Ngoài chính quyền nhà Ngô, chính quyền Kennedy, Hà Nội, Tòa thánh Vatican, và phong trào Phật giáo, ta còn có thể kể đến sự hiện diện của một số lực lượng to lớn và năng động khác như lực lượng thanh niên sinh viên đô thị, thành phần sĩ quan cấp trung trong Quân Đội (xem thêm FRUS 1961-1963, Volume IV), giới trí thức đại học và các văn nghệ sĩ, … và lẽ dĩ nhiên, thành phần các đảng phái quốc gia vốn là lực lượng chính trị có tổ chức nhất nhưng cũng đã nhiều lần bị chính quyền Diệm đàn áp dữ dội nhất (vụ Ba Lòng 1955, vụ chống đối ở các tỉnh Nam-Ngãi, vụ binh biến 11-11-1960 và cái chết của văn hào Nhất Linh, vụ Tuyên ngôn Caravelle, vụ dội bom Dinh Độc Lập 27-2-1962 do con của một lãnh tụ Quốc Dân Đảng phát động, …)
Đã có nhiều bài viết, ký sự, tác phẩm của các đảng phái Việt Nam viết về giai đoạn bị đàn áp khốc liệt dưới thời ông Diệm. Bài trích đăng dưới đây (Chương 13 của tác phẩm In The Jaws Of History, Indiana University Press, 1999) là một chứng liệu khác được tác giả, một đảng viên cao cấp của Đảng Đại Việt, phác thảo và tổng kết lại như một nhân chứng có thẩm quyền, về  thời kỳ 9 năm cai trị của nhà Ngô tại miền Nam. - HNG

* * * * *

Khi chánh quyền ông Diệm thực sự củng cố chánh quyền thì những phần tử quốc gia như chúng tôi ở bên ngoài thường vẫn thảo luận với nhau. Tất cả đều cố tìm cách mở rộng các hoạt động chính trị, hoặc tìm cách thúc đẩy Hoa Kỳ lay chuyển ông Diệm đi vào một khuynh hướng nào đó tốt đẹp hơn. Chúng tôi đã tiếp xúc với các nhân viên Hoa Kỳ và ngay cả sau khi những cố gắng Lansdale–Collins đã thất bại, những cuộc tiếp xúc giữa những phần tử quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn liên tục nối tiếp. Chúng tôi hy vọng có được một quốc hội tự do, một cuộc tổng tuyển cử tự do, hoặc là những phương pháp khác cho phép chúng tôi thỏa mãn những mong mỏi xây dựng và bảo vệ đất nước.
Lúc này, tất cả các thành phần quốc gia đứng ngoài chánh phủ đều bị dồn vào một tư thế thụ động bất đắc dĩ. Kể từ sau đệ nhị thế chiến, họ là những người lúc nào cũng ấp ủ hoài bão xây dựng độc lập cho Việt Nam. Nhưng giờ đây, khi đất nước vừa mới dành được phần nào độc lập thì chính chánh phủ lại ngăn chận, không cho họ đóng góp. Tuy tất cả các phần tử quốc gia đều cố gắng thực hiện những điều ấp ủ, chúng tôi vẫn chẳng tìm được kẽ hở nào cả. Ông Diệm đã lấp tất cả mọi cơ hội trong khi ông Nhu thiết lập một guồng máy chính trị cá nhân nhằm chánh thức gạt bỏ tất cả những người có tinh thần tự chủ.

Lúc này, tôi đã thật sự là một kẻ bàng quan hơn là một người trong cuộc. Tôi đã chánh thức bị loại khỏi chánh trường từ thời gian này cho đến tận năm 1963. Bởi thế, tôi đã có dịp quan sát giai đoạn phôi thai của chính quyền ông Diệm qua đôi mắt của một kẻ thất vọng đứng ngoài. Đầu tiên thì vấn đề chống đối chánh phủ Ngô Đình Diệm khởi thủy từ nhóm Bình Xuyên và các giáo phái vũ trang của Cao Đài, Hòa Hảo. Những nhóm này bị lực lượng của ông Diệm tấn công đè bẹp. Sau đó những đòi hỏi tự trị của họ bị tiêu diệt tận gốc. Tôi vốn không ưa những tổ chức với lực lượng quân sự. Đối với tôi thì việc các lực lượng quân sự riêng rẽ chỉ trung thành với cấp chỉ huy của họ không phải là một việc mà chính quyền có thể chịu đựng được. Tuy vậy, phương pháp đàn áp của ông Diệm đã khiến vấn đề biến thành phức tạp. theo ý tôi, thì đàm phán và thuyết phục vẫn là một giải pháp tốt hơn. Nếu biết áp dụng đàm phán đúng mức, chính quyền sẽ đạt được những thỏa thuận tốt đẹp và thu hút được những nhóm đối lập vào guồng máy của chánh phủ. Khi có người nói với tôi rằng phương pháp đàn áp bằng quân sự của ông Diệm rất hữu hiệu thì tôi trả lời rằng: Có thể ông Diệm đã thành công trong nhất thời nhưng rồi đây những phẫn khích của các đoàn thể bị đàn áp sẽ khiến công cuộc tranh đấu chống cộng, một cuộc tranh đấu lâu dài và đáng kể nhất, phải chịu nhiều bất lợi lớn lao.
Vào mùa hè năm 1955, ông Diệm quyết định lật đổ ông Bảo Đại. Ông Diệm dùng cuộc trưng cầu dân ý để thực thi ý định. Mục đích chính của cuộc trưng cầu dân ý là để chuyển hướng chính trị Việt Nam từ một thể chế quân chủ sang một thể chế dân chủ, nhưng một mục đích khác là để lật đổ ông Bảo Đại. Lúc đó, nhiều nhân vật quốc gia đã cho là chính ông Nhu hoàn toàn chủ động. Chúng tôi đã nhìn rõ người em ông Diệm là một con người thật sự tâm cơ. Có thể chính ông Nhu đã thấy rõ sự đe dọa của ông Bảo Đại hơn là ông Diệm. Vì rằng dù có nghĩ thế nào về Bảo Đại đi nữa thì chính bản thân ông Diệm cũng đã từng có tiếng là người tôn trọng đạo đức cổ truyền. Nhưng chính người liên lạc giữa ông Diệm và Hoa Kỳ là cố vấn Lansdale cũng đã góp phần quan trọng vào việc vận động cho cuộc trưng cầu dân ý. Lúc này, Hoa Kỳ cho rằng cuộc trưng cầu dân ý là một việc tất yếu (như Lansdale đã tiết lộ với tôi về sau) để củng cố những bước đầu tiên của chính quyền dân chủ Miền Nam. Vào ngày 23 tháng 10, sau cuộc trưng cầu dân ý, 98.2% bầu cho ông Diệm và nền dân chủ mới. Chỉ riêng con số 98.2% cũng khiến người ta thấy rõ dân chúng Miền Nam đã thực sự bỏ phiếu ra sao.

Trong năm đầu tiên của chánh quyền ông Diệm còn một biến cố lớn lao khác là một chiến dịch được gọi là “Chiến dịch tố Cộng.” Đây là một chiến dịch toàn quốc nhằm tiêu diệt những thành phần Việt Minh còn sót lại tại Miền Nam sau hiệp định Geneva. Tuy rằng khi Việt Minh quay về Miền Bắc củng cố lực lượng, họ quả có để lại những căn cứ tại Miền Nam, nhưng trong khi tiêu diệt các căn cứ này, ông Diệm đã đàn áp một cách không cần thiết và gây ra những chống đối lớn lao. Chẳng những chiến dịch đàn áp đã ráo riết mà ngay cả các thể thức hành động của các chiến dịch tố cộng cũng làm nhiều người chán ngán. Áp lực tố cộng đã đưa đến nhiều trường hợp hàng xóm và người quen bị buộc phải tố cáo lẫn nhau. Khung cảnh chẳng khác nào những cảnh tuyên truyền và khủng bố mà cộng sản đã phát động trước đây.
Tuy chính sách của ông Diệm là thế mà ông vẫn thành công rực rỡ trong những năm đầu ở nhiều bước quan trọng. Ông đã đập tan các lực lượng quân sự của các đoàn thể đối lập, đã lật đổ được ông Bảo Đại và gạt bỏ được tất cả những người không đồng quan điểm ra ngoài chánh phủ. Trong khi đó ông Nhu thiết lập đảng Cần Lao, một đảng phái chính trị độc quyền trong các hoạt động chính trị và chỉ trung thành với chính cá nhân anh em nhà họ Ngô mà thôi. Mục kích mọi sự qua đôi mắt của một người ngoài cuộc quả là một kinh nghiệm đặc biệt. theo tôi thấy thì những chính sách của ông Diệm lúc này đang chuyển đất nước về một hướng có thể đưa tới nhiều chia rẽ trong hàng ngũ quốc gia. Thay vì đoàn kết, mỗi bước ông đi là một bước đưa đến chia rẽ. Thay vì hỗ trợ lẫn nhau bằng những liên hệ tương quan, mỗi chính sách ông đề ra là một chánh sách nhằm chia cắt mọi đoàn thể.
Vào lúc này, việc tự tạo ra những kẻ thù bên trong là việc tự tạo cho mình nhược điểm, nhất là vào khi những kẻ thù bên ngoài lại hoàn toàn hung hiểm và tàn độc. Những chính sách liên tục tiếp liền của ông Diệm ngày càng đem lại sự thất vọng cho những người bị buộc phải bàng quan thúc thủ như chúng tôi, những người vốn dĩ đang ở cương vị hành động bỗng bị chuyển thành những attentistes — những kẻ chùm chăn đợi chờ — Mặc dù đợi chờ được tới mức nào thì cũng không ai được rõ.

Vào năm 1951, tôi đã không còn đủ khả năng để đợi chờ. Lúc này, tôi cùng nhà tôi đã tiêu hết không còn lấy một xu để dành. Dù là bằng cách này hay cách khác, tôi cũng phải tìm kế mưu sinh. Trong khi tôi lần mò tìm việc thì một người bạn tôi đề nghị rằng tôi nên làm một cuốn phim. Theo ý người bạn này thì một cuốn phim về chiến tranh mang nội dung thông điệp chính trị sẽ có nhiều hy vọng thành công, nhất là khi cuộn phim có phẩm chất cao và là kết tinh của một nỗ lực đáng kể. Phim ảnh Việt Nam lúc đó chưa đạt đến mức độ hội đủ tiêu chuẩn của các sản phẩm quốc tế. Nếu có thể hòa hợp được kỹ thuật tinh vi cùng những nhiều diễn biến và một câu chuyện tình tiết biết đâu chúng tôi có thể tạo ra một tác phẩm hấp dẫn đáp ứng đúng với thị trường. Tất cả mọi ý kiến đều đi đôi với sáng kiến của người bạn, rồi thì những suy tưởng về công việc làm phim đã khiến tôi thích thú.
Trước tiên, hẳn nhiên là tôi phải tìm cách xoay tiền. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy mình có thể mượn tiền rất dễ dàng từ bạn bè và những người đầu tư riêng để tiến hành công việc làm phim. Khi nhìn vào danh sách những người hậu thuẫn ủng hộ, tôi thấy mình dường như đã mượn được tiền của cả nửa thành phố Sài Gòn. Nợ tiền của dân Việt Nam không cũng chưa đủ, vì vững tin vào những kinh nghiệm kỹ thuật điện ảnh hiện đại của người Phi, tôi còn mướn thêm một đạo diễn và một toán chuyên viên Phi Luật Tân để lo liệu về vấn đề kỹ thuật. Hơn nữa, khi mướn các chuyên viên Phi, chúng tôi có thể làm một ấn bản đồng thời bằng tiếng Phi và cuộn phim do đó sẽ có một thị trường rộng rãi hơn.
Việc làm phim mất hết một năm rưỡi. Chúng tôi được quân đội Miền Nam hợp tác trong việc dàn cảnh những cuộc đụng độ. Tuy rằng phải đối đầu với những khốn khó trong việc làm một cuốn phim thương mại, cuối cùng chúng tôi vẫn cho rằng mình đã tạo nên một sản phẩm có giá trị: Một cuốn phim đầu tiên của Việt Nam qua kỹ thuật điện ảnh hiện đại, tân kỳ nhất vào lúc bấy giờ. Cuốn phim mang nhan đề là: “Chúng tôi muốn sống”. Mặc dù cứ theo những hoàn cảnh thô sơ của điện ảnh thời bấy giờ thì phẩm chất của cuốn phim rất cao, nhưng việc mang cuốn phim vào thị trường thương mãi đã thất bại nặng nề. Do rất nhiều lý do (có vài lý do mà cho đến nay tôi vẫn hoàn toàn chưa hiểu rõ) ấn bản tiếng Phi không hề đem lại bất kỳ lợi tức nào cả.
Trong thị trường Việt Nam thì mặc dầu cuốn phim được hoan nghênh như là một thành công, nhưng số tiền thâu được ở thị trường Việt Nam kém xa số tiền chi dùng vào việc sản xuất. Khi mọi sự đã đâu vào đấy, tôi thấy mình lại tự quàng vào người một món nợ cao đến hàng triệu. Đây không còn là lúc để thử thách những cơ hội mới. Vì phải đương đầu với mọi nợ nần khó khăn, cả nhà tôi lẫn tôi đều phải đi làm. Nhà tôi xoay sở được chân đứng bán thuốc cho một cửa hiệu thuốc tây và tôi tìm được chỗ dạy toán ở một trường tư thục Sài Gòn. Những khổ sở tinh thần thật muôn vàn khó nhọc, nhưng ít ra chúng tôi cũng có một nguồn tài chánh đều đặn. Lần hồi chúng tôi lại tìm đường thoát ra khỏi đáy vực hố sâu mà tôi đã tự đào cho gia đình.

Vào cuối thập niên 1950, vì những chánh sách độc tài và đố kỵ của ông Diệm, gần như tất cả hoạt động của mọi đoàn thể trong nước đều có dính dáng đến chính trị. Ngay cả ngôi trường trung học tôi dạy cũng không tránh khỏi ngoại lệ này. Mọi người trong ban giảng huấn, kể từ hiệu trưởng trở đi đều chống đối chế độ nếu không ở phương diện này thì cũng ở phương diện khác. Hoàn toàn do sự tình cờ, tôi lại tới dạy tại một nơi với toàn những người chống đối chính phủ. Một trong những giáo sư mà tôi quen biết khá thân là người chống đối ông Diệm dữ dội. Chính anh đã tổ chức một mạng lưới bạo động rất hiệu lực và đã tuyển mộ được nhiều người trong khắp cả Miền Nam gia nhập. Tên anh là Phan Châu và anh phụ trách dạy môn Văn Chương. Tuy vậy, nghề giáo chỉ là một lớp mặt nạ phía ngoài.
Anh Phan Châu trở thành một nhà cách mạng mà nhiều người trong các đoàn thể chống đối biết rõ. Anh đứng đầu một tổ chức hoạt động ở Nha Trang. Anh rất căm hờn ông Diệm và cố tạo mọi cơ hội để có thể tấn công chánh quyền ông Diệm về mọi mặt. Đầu óc anh Châu lúc nào cũng đầy ắp những chuyện cách mạng. Sau khi chúng tôi biết nhau, anh vẫn thỉnh thoảng ghé vào chỗ tôi vào ban đêm, đôi khi anh mang đến một bao đầy mìn plastique. Mỗi lần anh đến là mỗi lần nhà tôi kinh hãi — Câu chuyện của anh Châu kết thúc cũng bất ngờ như những câu chuyện tương tự vào lúc đó. Một hôm, chúng tôi không thấy anh đến dạy mà cũng không thấy anh nhắn lại. Đây là một việc chưa hề xảy ra bao giờ. Cả ban giảng huấn đều sợ đã xảy ra chuyện gì rồi. Từ đó, chúng tôi chẳng còn nghe tin tức gì về anh nữa. Ít lâu sau, người ta phát hiện chiếc xe của anh bỏ rơi tại một vùng ruộng dưới miền Lục Tỉnh. Dần dà cảnh sát chìm ngấm ngầm thừa nhận rằng chính họ đã thủ tiêu anh Châu, một lời đe dọa không chút dấu diếm với những người đối lập khác.
Đối với những người không quen thuộc với tình cảnh Việt Nam lúc này thì chuyện Phan Châu có vẻ là một hiện tượng lạ, nhưng thật sự thì anh ta là một trường hợp điển hình cho một lớp người trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Vừa là trí thức, cách mạng, vừa hoạt động bất hợp pháp, lại vừa yêu nước, anh Châu chính là một người đã hiến dâng tâm hồn cho lý tưởng và đất nước. Trong một giai đoạn hòa bình nào khác có lẽ anh đã sống một cuộc sống thật bình thường, nhưng trong giai đoạn hiện tại tình thế đã ngăn cản, không cho phép anh được sống bình thường như vậy. Sự bất công làm anh phẫn khích tột độ — và vì vậy — anh đã tận dụng tất cả khả năng vào những toan tính lật đổ chế độ ông Diệm. Mặc dù một phần đời sống của anh — đời sống của một nhà giáo luôn luôn vắng mặt — đã gắn bó anh với đời sống của xã hội, cơn phẫn khích đã chuyển anh thành một người yêu nước mạo hiểm có thể làm bất cứ chuyện gì. Phan Châu là người có lý tưởng hoàn toàn trong sạch, có thể so sánh với những nhân vật của Dostoevski. Tuy trường hợp của anh được nhiều người biết nhất, anh Phan Châu không phải là một người duy nhất sống cuộc đời bạo động. Trong những ngày nhiễu nhương lúc đó, những người sống trong những tình trạng tương tự đầy dẫy khắp nơi, trộn lẫn ngay trong đời sống hàng ngày của mọi người.

* * * * *

Vào năm 1960, các chính sách của ông Diệm đã đưa đất nước vào những khó khăn mà các phần tử quốc gia đã tiên đoán trước. Trong khi tuyển mộ các nhân viên chính phủ thì một trong những điều kiện tiên quyết là người được tuyển phải trung thành với gia đình ông Diệm. Vì thế chánh quyền chuyển hướng trở thành một chánh thể gia đình trị. Cả hai guồng máy điều hành dân sự và quân sự đều bị lũng đoạn vì các nạn hối lộ, đố kỵ và thiếu khả năng. Đời sống kinh tế của đất nước ngày càng tụ tập vào tay chân, bạn bè và những người ủng hộ ông Diệm.

Tình trạng này đã khơi thêm hố sâu ngăn cách giữa hai tầng lớp kinh tế nghèo giàu rõ rệt. Tuy rằng ở các miền quê chánh phủ vẫn có cải cách nhưng những cải cách lúc đó đã chẳng hiệu lực mà còn bị dân chúng ghét cay ghét đắng. Phong trào cải cách thường buộc các nông dân phải tập họp lại thành những toán tự vệ để thiết lập “Khu trù mật.” Đây là tên gọi của những khu vực nông thôn an toàn mà nông dân bị cưỡng bách phải cư ngụ. Trong khi đó, cảnh sát, công an xuất hiện ở khắp mọi nơi khiến cho bầu không khi trở nên căng thẳng. Nhà tù luôn đầy ắp người và những người đối lập lúc nào cũng bị đàn áp triệt để.
Đã vậy, tình trạng lại còn nghiêm trọng hơn. Chiến tranh du kích do Việt Minh phát động ngày càng lan rộng và Cộng Sản đang mượn dịp thuyết phục tất cả các nhóm chống đối. Vì không còn cách nào khác khả dĩ có thể ảnh hưởng đến chính sách của chính quyền vào tháng 4 năm 1960, một nhóm những chính khách quốc gia có tiếng quyết định cùng tụ họp để kêu gọi ông Diệm. Bác Sĩ Quát, cụ Trần Văn Đỗ (đã từ chức Ngoại Trưởng một thời gian ngắn sau khi được đề cử), ông Trần Văn Tuyên, thày giáo cũ của tôi, và khoảng 20 người khác cùng viết một lá thư cho tổng thống. Bức thư được viết thật hòa nhã, và đã liệt kê tất cả những nhận xét của chúng tôi về tình hình quốc gia lúc này, những sai lầm trong đường hướng của chính phủ và sau cùng đề nghị với chánh quyền một số biện pháp để cải thiện tình hình. Tôi đã góp phần soạn thảo lá thơ.
Một trong những lời đề nghị bắt đầu như sau: Tổng thống nên mở rộng chánh phủ, thực thi tinh thần dân chủ, bảo đảm một số quyền công dân căn bản, nhìn nhận những thành phần đối lập, giúp nhân dân mạnh dạn trình bày ý kiến để có thể giải tỏa những phàn nàn, phẫn khích… Một khi người dân được hưởng những quyền lợi đó, họ sẽ tự so sánh đời sống của họ với đời sống của những người sống dưới chế độ Cộng Sản Bắc Việt. Họ sẽ nỗ lực để bảo vệ chánh phủ Miền Nam vì họ thấy rõ rằng họ đang tranh đấu để bảo vệ cho một chánh phủ dân chủ và cho những quyền lợi tự do thật sự của họ.
Lá thư đã được 18 nhân vật có tiếng trong nhóm chúng tôi ký và được gửi riêng cho ông Diệm. Ý kiến của tất cả là cố tạo ra một bầu không khí có thể cho họ gặp riêng tổng thống, để tạo cơ hội đối thoại giữa chính quyền và đối lập. Tuy thế, lá thư được gửi đi không hề có đến một lời đáp ứng. Mọi việc diễn ra chẳng khác nào chúng tôi chưa từng gửi lá thư đi bao giờ. Khi đã rõ rằng ông Diệm nhất định từ chối, lá thư được chuyển đến giới báo chí. Câu chuyện lập tức biến thành sôi động. Một ký giả phụ trách tin tức chính trị gọi những người ký kết là nhóm Caravelle, tên của một khách sạn tại Sài Gòn, nơi những người ký kết đã tụ họp. Lá thư được gọi là Bản Tuyên Ngôn Caravelle.
Vì những chính khách ký tên vào bản tuyên ngôn đều có uy tín, và vì những đề nghị xây dựng của họ lại được trình bày rất ôn hòa nên đa số nhân dân đều ủng hộ họ. Ông Diệm phản ứng kịch liệt. Công an ruồng bố, cầm tù tất cả, bất chấp uy tín của những người đã ký vào bản kêu gọi. Ngay cả cụ Trần Văn Đỗ, chú của bà Nhu cũng bị cầm tù. Bác sĩ Quát đã phải trốn tránh tại nơi tôi cư ngụ hơn một tuần lễ trước khi tình hình lắng dịu để ông có thể về nhà riêng. Vì không ký tên vào bản kêu gọi nên tôi tránh khỏi những ruồng bố nhất thời.
Khi những chính khách Miền Nam còn đang bị cầm tù thì một trong những nhân vật quốc gia lớn tuổi là nhà văn nổi tiếng Nguyễn Tường Tam đã tự vẫn, để lại một lá thư nói rằng ông không thể sống trong một chế độ như chế độ độc tài của Miền Nam. Hành động của ông làm chấn động toàn quốc. Khi đám táng ông cử hành đã có hàng ngàn người theo sau tiễn đưa, tỏ ý thương tiếc.

Lá thư Caravelle chỉ là một trong những dấu hiệu phản ảnh một quan niệm chung rằng chế độ ông Diệm đang đến ngày suy sụp. Trước đây, khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa mới bắt đầu dưới quyền ông Diệm thì phần đông dân chúng đều ủng hộ ông, nhưng những chánh sách gia đình trị của ông Diệm đã khiến những người ủng hộ ông ngày càng ít đi. Cho tới khi các chính khách quốc gia dưa ra bản kêu gọi thì gần như chẳng còn ai ủng hộ chánh quyền ông Diệm nữa. Lúc này phương tiện đáng kể của ông Diệm chỉ còn là võ lực đàn áp mà thôi. Thay vì mang lại sự thống nhất và tinh thần tranh đấu giữ vững đất nước, ông Diệm và gia đình đã tạo ra những nhóm chánh trị chỉ hoạt động ở hai thái độ cực đoan: Nếu không phải thúc thủ thất vọng thì cũng là đương đầu chống đối. Ngoài hai môi trường vừa kể dường như không hề có bất cứ môi trường nào khác có thể giải tỏa được những hoài bão của những người sống vào lúc này.

Vào ngày 11 tháng 11, năm 1960 nhiều đơn vị Dù ở Sài Gòn đã tự đứng ra giải quyết vấn đề. Họ bao vây anh em ông Diệm ở Phủ Tổng thống và bắt đầu nói chuyện với ông Diệm qua điện thoại. Cũng như nhóm Caravelle, họ thúc đẩy ông Diệm phải cải cách mở rộng chánh phủ và thay đổi các chánh sách. Ông Diệm nói chuyện với những người đang làm đảo chánh hàng giờ qua điện thoại. Ông đồng ý chịu nhìn nhận những sự đòi hỏi của họ và còn bàn luận cả những chi tiết về cách cải tổ chánh phủ. Nhưng những lời lẽ đàm phán dài dòng chỉ là một chiếc bẫy khéo léo của ông Diệm nhằm duy trì hòa hoãn với các tướng lãnh và kéo dài thời gian để cho những lực lượng ở xa có đủ thời giờ kéo về đàn áp các lực lượng phản loạn. Khi mọi sự đã qua, ông Diệm phớt lờ tất cả những lời đã hứa.
Mặc dầu đảo chánh thất bại, những hậu quả tối quan trọng của cuộc đảo chánh quân sự vẫn có ảnh hưởng quan trọng đến sự tồn tại của chánh quyền ông Diệm và ông Nhu. Cho dù những người đảo chánh có tổ chức thiếu khéo léo đến độ nào đi nữa thì họ cũng đã bao vây được dinh tổng thống suốt 36 tiếng đồng hồ. Tự nhiên những người mưu toan đảo chánh đều thấy được rằng họ có thể thay đổi chánh phủ dễ dàng bằng những đơn vị nhỏ đóng ở thành phố. Vì biết ông Diệm không bao giờ chịu cải tổ chánh phủ, những người chống đối nằm trong các đoàn thể dân sự cũng như quân sự đã bắt đầu bàn bạc không ngớt về những cuộc đảo chánh trong tương lai.
Vào tháng 10, 1960 thì gần như khắp nơi đều bàn luận vấn đề đảo chánh. Cũng vừa vặn vào thời gian này, những người trong nhóm đối lập đã bắt đầu nghe dư luận đồn đãi về một tổ chức chống chánh phủ gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. MTGP do ông Nguyễn Hữu Thọ là một luật sư Sài Gòn cầm đầu. Tổ chức này qui tụ những người chống đối tại Miền Nam muốn lật đổ ông Diệm. Đối với những người đã từng trốn chạy từ Miền Bắc Việt Nam thì MTGP rõ ràng là một tác phẩm của Cộng Sản Bắc Việt, một guồng máy chính trị nhằm kêu gọi những người Miền Nam chất phác đang chống đối ông Diệm tham gia vào một tổ chức do đảng Cộng Sản điều động và ngấm ngầm lãnh đạo.
Mặt Trận Giải Phóng có tất cả những nét chấm phá huyền thoại do sự tổ chức lão luyện của ông Hồ và đảng Cộng Sản Việt Nam. Bất kỳ ai đã từng chứng kiến những kỹ thuật này chắc chắn đều khó thể quên nổi. Tất cả những người di cư từ Miền Bắc đều đã trải qua những kinh nghiệm đau thương. Vì chính bản thân đã qua nhiều màn điêu đứng khi còn ngoài Bắc, chúng tôi đã nhận ra ngay bản chất và mục đích thực sự của MTGPMN. Ngay chỉ cái tên Mặt Trận Giải Phóng cũng đã gợi lại quá rõ ký ức về những mặt trận khác mà ông Hồ đã tổ chức trong thập niên 1940 để thu hút các phần tử quốc gia. Tuy vậy, chúng tôi không làm cách nào thuyết phục được những bạn bè Miền Nam tin theo. Theo tôi thấy thì những người Miền Nam chưa hề biết rõ về cả lai lịch ông Hồ lẫn những chủ trương sách động hô hào cổ điển của Cộng Sản với chiến thuật “sách động tất cả những người có thể bị sách động.” Họ chỉ biết đóng góp những tình cảm cuồng nhiệt của mình vào một phong trào mới mẻ, một phong trào cổ động sức mạnh của tập thể chống lại chính quyền áp bức của ông Diệm.
Rủi thay, những cuộc tranh luận về MTGP lại xảy ra trong một khung cảnh nghi kỵ giữa hai miền Nam, Bắc. Một mặt thì người Nam cho rằng thái độ chống đối MTGP của người Bắc khởi xuất từ những bản tính luôn luôn bi quan và đa nghi bẩm sinh. Mặt khác đối với người Bắc thì những người Nam lại một lần nữa đặt tất cả hành động trên một lý tưởng hoàn toàn ngây thơ. Thật ra, lý do đã khiến chúng tôi không thể thuyết phục được những người Miền Nam còn vượt xa hơn những khác biệt đơn thuần của vị trí địa lý. Nhưng bất kể nguyên nhân khó khăn thực sự là gì thì cũng phải mất một thời gian khá lâu những người Miền Nam mới thấy rõ được mối liên hệ giữa MTGP và đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong khi đó chúng tôi đã cố gắng thuyết phục ông Diệm qua trung gian rằng những chính sách do ông đề ra đã khiến những phần tử quốc gia không đồng ý với ông phải chọn những thái độ cực đoan và nhiều người đang chọn cả những phương pháp chống đối bất hợp pháp. Thiết tưởng cũng không cần nói thêm rằng, cũng như những lần trước, lời cảnh cáo này vẫn chẳng hề được ông Diệm hưởng ứng.

Mặt Trận Giải Phóng chánh thức phát động vào tháng 12 năm 1960. Khoảng một năm về trước, quân đội Việt Minh đã xâm nhập Miền Nam, vượt qua những vùng Phi quân sự và xuôi xuống theo những đường mòn mà sau này được gọi là đường mòn Hồ Chí Minh. Vì là người đứng ngoài, tôi không hề biết rõ những chi tiết về các biến chuyển cũng như những tầm mức quan trọng thực sự của các cuộc chuyển quân. Tôi chỉ biết rằng khoảng cuối năm 1960, đầu năm 1961, quân đội du kích đã mở những cuộc tấn công trầm trọng vào đời sống thôn quê. Trước đây, việc đi lại giữa những vùng thôn quê thật là dễ dàng. Vấn đề chuyển vận từ chỗ này đến chỗ khác không hề bị những cuộc tấn công đe dọa. Nhưng khoảng năm 1961, những cuộc đánh úp và giật mìn là chuyện xảy ra hàng ngày. Những chuyện chuyển vận lúc này nếu tránh được thì tốt, hoặc nếu cần kíp bắt buộc phải đi thì cũng phải xem xét rất là cẩn trọng. Biểu tình diễn ra thường xuyên. Ở khắp mọi nơi bầu không khí đều căng thẳng.

Tuy rằng bầu không khí Miền Nam ngày càng căng thẳng và chính phủ ông Diệm đã gần đến ngày sụp đổ mà chẳng hiểu vì lý do gì Hoa Kỳ vẫn chẳng hề thay đổi chính sách ngoại giao của họ. Tuy chứng cớ đã rõ rành rành rằng chánh quyền ông Diệm không được dân chúng ủng hộ mà tòa đại sứ Hoa Kỳ trải qua hết đại sứ Frederick Reinhardt, Elbridge Durbrow và rồi Fredrick Nolting vẫn chịu đứng làm hậu thuẫn cho ông Diệm. (Tuy rằng đại sứ Durbrow thỉnh thoảng cũng có vẻ khó chịu và không đồng ý với những chánh sách thiếu thực tế của Hoa Kỳ lúc đó) Nếu trước đây, cố vấn Lansdale và những nhân viên cao cấp Hoa Kỳ đã công khai giữ liên lạc với bác sĩ Quát và các phần tử quốc gia khác thì giờ đây Hoa Kỳ lại tránh né tất cả các phần tử quốc gia. Lúc này tòa đại sứ Hoa Kỳ chỉ muốn giao thiệp với chánh phủ “hợp pháp” của Việt Nam. Họ cho rằng giao thiệp với những người đối lập ở Việt Nam lúc này “không tiện”. (Nguyên văn: “not appropriate”, một danh từ phổ thông của giới Ngoại Giao Hoa Kỳ tại Việt Nam lúc đó.)
Hiển nhiên là mật vụ của ông Diệm luôn luôn trông chừng kỹ lưỡng những liên lạc giữa bất kỳ người nào trong nhóm chúng tôi với người Hoa Kỳ. Họ canh gác, thăm dò ráo riết quanh khu cư ngụ của bác sĩ Quát, khu cư ngụ của ông Trần Văn Tuyên và nhiều chính khách khác. Chúng tôi có thể hiểu được hành động của ông Diệm nhưng chúng tôi rất bực bội về việc Hoa Kỳ đã buông thõng, đi đôi cùng với chánh quyền Miền Nam. Tất cả chúng tôi đều hiểu rõ Hoa Kỳ ủng hộ một chế độ dân chủ, ủng hộ những cải cách về mặt xã hội, kinh tế, quân sự. Chúng tôi có thể thông cảm với Hoa Kỳ vào những lúc đầu tiên khi họ giúp đỡ ông Diệm là vì họ chưa hề biết rõ chánh sách của ông ta. Qua hành động của hai ông Lansdale và Collins, chúng tôi cũng đã biết sơ về những chủ trương của Hoa Kỳ. Họ đã cố gắng thúc đẩy ông Diệm về việc mở rộng chánh phủ. Nhưng giờ việc ông Diệm khăng khăng nhất định theo đuổi những chánh sách gia đình trị, cũng như việc những phương pháp đàn áp của ông đã dẫn đến những khủng hoảng nội bộ trong nước và những kết quả yếu kém về quân sự là việc đã rõ rành rành.
Ở vào tình trạng hiện tại, chúng tôi không thể hiểu được tại sao Hoa Kỳ lại ủng hộ anh em ông Diệm mà không hề đả động gì đến những người cùng chung lý tưởng dân chủ đang ở ngay sát bên họ. Lúc đó, và cho đến hiện giờ, tôi vẫn nghĩ là Hoa Kỳ, tại thời điểm này nên nói thẳng cho ông Diệm rõ những sự mong đợi của họ. Và nếu những điều này không được đáp ứng, họ nên rút ra ngay, cho dù sự rút lui có mang lại ít nhiều cơ hội thắng lợi cho Cộng Sản. Việc ông Diệm thất bại khi điều hành chánh quyền bằng những phương pháp độc tài là việc đã quá rõ ràng.
Chúng tôi không tài nào hiểu được sự vô lý khi Hoa Kỳ vẫn vui lòng đặt ảnh hưởng và uy tín của mình để ủng hộ một nhân vật như ông Diệm. Khi bàn bạc với nhau chúng tôi đã cho rằng người Mỹ lúc này quả thật mù quáng chẳng khác nào con đà điểu chui đầu trong cát. Mặc dầu có sức mạnh vô biên, họ vẫn bị dụ vào những thế thụ động bất lợi cho chính sách của họ. Nguyên do phẫn uất của chúng tôi là do tình cảnh bất lực. Tất cả chúng tôi đều nhìn thấy những việc phải làm mà không có cách gì để xoay sở cả. Biến cố Caravelle đã khiến mọi tầng lớp chống đối phải chịu đựng những áp lực đàn áp nặng nề. Lúc này rất nhiều người bị cầm tù và tất cả những chống đối về mặt chính trị hoặc ngôn luận đều bị kềm kẹp. Dân chúng thận trọng hơn trong lời ăn tiếng nói. Mọi người đều biết họ đang bị canh chừng và hơn nữa họ còn biết mật vụ của ông Diệm có thể tùy ý suy diễn những hành động của họ.
Bầu không khí căng thẳng đã khiến chúng tôi bắt đầu lý luận rằng nếu muốn làm thay đổi tình thế thì chúng tôi chẳng còn cách nào khác hơn là phải dùng những biện pháp quân sự. Những ý nghĩ về một cuộc đảo chánh khác lại bắt đầu xâm nhập bầu không khí chính trị của Việt Nam. Những người đang phục vụ trong quân đội cũng đã cảm thấy rõ điều này và tự họ cũng bàn bạc để có thể hành động kịp thời khi có đảo chánh. Đây chính là điểm khởi đầu đã đưa đến những mầm mống chống đối của Phật Giáo, và thúc đẩy tất cả các hoạt động chống đối chuyển thành bạo động và chống lại chính quyền ông Diệm.

[Hết Chương 13]


Theo Wikipedia (https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B9i_Di%E1%BB%85m), tác giả Bùi Diễm (sinh năm 1923) là đại sứ Việt Nam Cộng hòa ở Hoa Kỳ từ 1967 đến 1972. Ông từng là học sinh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời tướng Giáp còn là giáo viên lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long, Hà Nội.
Ông quê ở Hà Nam, Việt Nam; cha ông là nhà nho Ưu Thiên Bùi Kỷ, dòng dõi phó bảng Bùi Văn Quế và Bùi Ân Niên. Ông có người cô ruột lấy Trần Trọng Kim, tức thủ tướng của Đế quốc Việt Nam (1945).
Ông hoạt động chính trị từ thời học trường Bưởi ở Hà Nội, vận động cho chính phủ Trần Trọng Kim và vào Đảng Đại Việt năm 1944 do lời giới thiệu của một người bạn là ông Đặng Văn Sung. Năm 1945 ông tham gia Trường Lục quân tại Yên bái, được nửa chừng thì bỏ dở khi trường chuyển về Sa Pa.
Ông rời chính trường cho tới khi nền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam chấm dứt.
Trong thời gian đó ông làm chủ nhiệm tờ báo Vietnam Post xuất bản ở Sài Gòn bằng Anh ngữ (1954-1963). Đây là tờ báo tiếng Anh đầu tiên ở Việt Nam. Ông cũng thành lập hãng phim Tân Việt, sản xuất cuốn phim Chúng tôi muốn sống.
Khi thủ tướng Phan Huy Quát ra chấp chính, ông giữ chức Bộ trưởng Phủ Thủ tướng. Ông cũng là đảng viên Đảng Đại Việt.
Thời Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam ông được bổ làm đại sứ Việt Nam Cộng hòa ở Washington, D.C., thay thế đại sứ Vũ Văn Thái. Chức vụ này ông đảm nhiệm từ năm 1967 đến năm 1972 thì chuyển làm đại sứ lưu động cho đến năm 1975.
Sau năm 1975, ông tị nạn tại Hoa Kỳ.
Ông là tác giả cuốn hồi ký chính trị Gọng kìm lịch sử. Cuốn này ấn bản đầu tiên viết bằng tiếng Anh với tựa The Jaws of History rồi sau đó được dịch ra tiếng Việt. Cuốn sách thứ hai là cuốn Vietnamese Economy and Its Transformation to an Open Market System xuất bản năm 2004.
Ông là học giả tại Trung tâm quốc tế Woodrow Wilson và Viện Doanh nghiệp Mỹ, cũng như giảng viên tại trường Đại học George Mason.
Ông là một thành viên trong Ban Cố vấn của National Congress of Vietnamese Americans  (NCVA, Nghị hội Toàn quốc người Việt tại Hoa Kỳ). Ông vẫn hoạt động trong Đảng Đại Việt và nắm chức Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương của Ðại Việt Cách Mạng Ðảng.


Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016


TRỊNH CÔNG SƠN VÀ NHỮNG NGÀY VĂN KHOA

Từ Thức Trần Công Sung

Gởi những người bạn Sài Gòn ngày xưa.

Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
(Vũ Đình Liên)


Một ngày đầu tháng tư (2001), tôi lên phi trường Charles de Gaulle đón một người bạn từ Việt Nam qua. Trên xe về Paris, anh ta hỏi: Cậu có nghe tin về Trịnh Công Sơn (TCS)? Tôi gật đầu. Mấy hôm trước, có người gọi dây nói cho hay TCS vừa từ trần.
Anh bạn nói đám tang Sơn rất đông. Người ta ở đâu đổ về như kiến, chật cả đường phố. Quen có, lạ có. Không đủ chỗ đặt vòng hoa phúng điếu. Tôi nói với ông bạn: Như vậy, cái xứ của ông vẫn còn văn minh, vẫn còn thuốc chữa.
Đó là cái tin lạc quan nhất về Việt nam mà tôi được nghe từ nhiều năm nay. Dostoievski [1] nói: Cái đẹp sẽ cứu vãn nhân loại [2]. Bỏ công ăn việc làm, đến tiễn đưa một thi sĩ – TCS là một nhạc sĩ – thi sĩ – chứng tỏ người ta còn nghĩ đến cái đẹp, người ta còn có tâm hồn.

Tự nhiên tôi nghĩ đến “Bác sĩ Jivago” của Boris Pasternak. Cũng như Sơn, Jivago là một thi sĩ. Cũng như Sơn, Jivago bị cuốn hút trong cơn lốc của lịch sử, bị quẳng vào một bi kịch kinh thiên động địa từ trời giáng xuống. Như hàng triệu người Nga, Jivago bị đánh bạt ra khỏi gia đình, quê hương khi cách mạng vô sản Nga ập xuống nước Nga, cuốn trôi tất cả: gia sản, vợ con, bè bạn, tình ái trong một xã hội thay đổi tận gốc rễ.
Chỉ có một điều không bao giờ thay đổi: là một thi sĩ, Jivago tiếp tục làm thơ. Lấy thơ làm nhân chứng, lấy thơ làm cái phao. Lấy thơ làm một nguồn hy vọng để vươn lên. Khi Jivago chết, người ta ở đâu đổ về rất đông, nhiều người không hề quen biết. Pasternak viết: người Nga yêu thơ, yêu thi sĩ. Nghĩa là yêu cái đẹp, nghĩa là chưa hoàn toàn tuyệt vọng. Chỉ hoàn toàn tuyệt vọng khi người ta không còn thiết tha đến điều gì, ngay cả cái đẹp. Đó là nét lạc quan nhất trong một cuốn sách đầy thảm kịch : chiến tranh, tang tóc, chia lìa, đổ vỡ. Một tia sáng loé lên trong bầu trời đen tối.

mưa vẫn mưa rơi…

Khi Charles Trenet[3] chết, hàng chục ngàn người kéo về đưa tang một nhạc sĩ – thi sĩ hiện đại nổi tiếng nhất của Pháp. Đưa tang Trenet, người Pháp, trong vài giờ, quên mình đang sống trong một xã hội vật chất, suốt ngày túi bụi giành giựt. Trong vài giờ, thấy mình vươn lên, thấy đời có ý nghĩa hơn, bởi còn yêu cái đẹp. Trenet viết: Những thi sĩ đã qua đời, nhưng tiếng hát của họ vẫn bay nhẩy trên khắp đường phố.[4]

TCS đã qua đời, nhưng tiếng hát của anh vẫn bay nhẩy trong các hang cùng, ngõ hẹp. Không phải chỉ ở Việt Nam, mà trên khắp địa cầu. Người Việt, tan tác như một đàn gà mất mẹ, nương thân trên khắp nẻo đường thế giới, mang theo những kỷ niệm quê hương, mang theo mùi nước mắm, mùi sầu riêng, mùi phở và mang theo tiếng hát TCS. Tôi đã nghe TCS qua tiếng hát nhừa nhựa khói thuốc của Khánh Ly, tiếng hát thánh thót, không có tuổi của Thái Thanh, tiếng hát truyền cảm của Lệ Thu; và rất nhiều tiếng hát vô danh, tiếng hát của những người sống ở ngoại quốc nhưng chỉ nói tiếng Việt, của những người thuộc thế hệ sau này, hát TCS với một thứ tiếng Việt pha giọng Mỹ, giọng Pháp, giọng Đức. Tôi đã nghe tiếng hát TCS vọng ra từ những căn nhà ở New York, Tokyo, Budapest, Athènes hay Palerme…Một buổi chiều tàn, trong một bìa rừng ở Brésil (Ba Tây), cách Rio de Janeiro hàng ngàn cây số một nơi khỉ ho cò gáy, tưởng như không có hơi người, tôi nghe một giọng khàn khàn vọng ra từ một căn nhà gỗ. Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ/Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao. Người hát là một ông già gốc Ấn Độ, sống ở Việt nam từ nhỏ.Vượt biển, thuyền đắm, ông già được tầu Ba Tây vớt, ở lại Ba Tây, làm nghề canh rừng. Suốt ngày, lủi thủi một mình, tháng năm dài đằng đẵng, ông già Ấn mơ đến những cơn mưa trên tầng tháp cổ ở một xứ ông đã nhận làm quê hương.
Một ngày ở ngoại ô La Havanne, trong một tiệm ăn nhỏ trên bờ biển, nơi người ta bán lậu tôm hùm cho du khách (tôm hùm là tài sản quốc gia, chỉ để xuất cảng hay bán trong những tiệm ăn quốc doanh), tôi nghe một giọng hát đàn bà, rất trong, rất ngọt từ trong bếp vọng ra Ngày gió lớn tôi đi môi gọi thầm/ Gọi tên anh tên Việt Nam/ Gần nhau trong tiếng nói da vàng. Người hát là một bà Bắc kỳ, từ Hà Nội tới Cuba, trong một chương trình hợp tác gì đó giữa hai nước “xã hội anh em”, có lẽ đã mệt nhoài sau nhiều năm thề ăn gan uống máu quân thù.

Tác phẩm TCS đã đi sâu vào tâm hồn dân tộc. Nước ta có trên 80 triệu dân. Trừ trẻ con và những người không biết đọc, biết viết, có khoảng 50 triệu người làm thơ. Sự thực, không cần phải biết đọc, biết viết mới biết làm thơ: tác giả những câu thơ đẹp nhất trong văn chương Việt Nam, ca dao, là những người nông dân không biết đọc biết viết. Trong số 50 triệu người làm thơ, mỗi thế hệ cho vài ba thi sĩ. Những thi sĩ đi sâu vào tâm khảm đám đông, gặp gỡ tâm hồn một dân tộc còn hiếm hoi hơn nữa. TCS thuộc cái số hiếm hoi đó.

Sài Gòn, những ngày xáo trộn

Tiếng hát TCS đến với Sài gòn vào những năm 60, ở trường đại học Văn Khoa Sài Gòn, nằm trên góc đường Gia Long – Nguyễn Trung Trực, ngay trung tâm thành phố. Sơn ở Bảo Lộc trôi giạt về, lai vãng thường xuyên vì cái sinh hoạt trẻ ở đó rất náo nhiệt. Trường đang rục rịch di chuyển một phần về cơ sở mới gần sở thú Sài Gòn vì số sinh viên tăng rất nhanh, trường cũ không đủ chỗ. Văn Khoa là trường đông sinh viên nhất ở Việt Nam. Xa rồi, cái trường Văn Khoa đầu tiên ngoài Bắc, do giáo sư Cao Xuân Huy sáng lập năm 1949, với số sinh viên vỏn vẹn có bẩy người, gọi là thất hiền.[5]
Trường di chuyển, nhiều gỉảng đường bỏ trống. Gọi là giảng đường cho sang, sự thực đó chỉ là những căn nhà tiền chế. Tất cả những gì gọi là sinh hoạt văn hoá xã hội của giới trẻ Sài Gòn kéo về, chiếm đóng những căn nhà tiền chế. Một phần dành cho CPS (Chương trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Học Đường), một phần dành cho hội họa sĩ trẻ, đoàn văn nghệ Nguồn Sống. Phần còn lại, một số sinh viên chúng tôi tịch thu làm nơi tập trung, hội họp. Hồi đó, người ta tự hào thuộc giới trẻ, có lẽ vì thất vọng với những gì “lớp già” để lại. Gia tài của mẹ để lại cho con, gia tài của mẹ, một nước Việt buồn. Họa sĩ trẻ, nhạc sĩ trẻ, ca sĩ trẻ… quên rằng người ta sớm muộn gì cũng …già. Các “cụ” trong nhóm Người Việt, Thế Kỷ 21 ngày nay đều là những người trẻ ngày xưa ở sân trường Văn Khoa.

Phải sống ở Văn Khoa những ngày ấy mới thấy sinh hoạt văn nghệ, sinh hoạt xã hội là một nhu cầu thiết yếu của tuổi trẻ, và nếu có cơ hội, sinh hoạt ấy bùng lên, tuổi trẻ bùng lên, đất nước không còn là một nước Việt buồn. Sống ở đó rất tiện: Văn Khoa nằm ngay trung tâm thành phố, đi vài bước là tới những tiệm cà phê nổi tiếng trên đường Catinat, vài bước là tới Khai Trí, tiệm sách lớn nhất Sài Gòn, tha hồ đọc sách cọp. Ông chủ Khai Trí là một người mê sách, muốn phát triển văn hóa, ông ấy khuyến khích sinh viên đọc sách cọp. Nhà cửa điện nước đều của chùa, rất tiện, trong khi hầu hết chúng tôi đều nghèo kiết xác, từ những ông họa sĩ trẻ, những ông văn nghệ sĩ có tiếng nhưng không có miếng ở đất nước của Tản Đà, Văn chương hạ giới rẻ như bèo, những ông ký giả đầu tháng đã hết lương, những ngày cuối tháng khó khăn, nhất là 30 ngày cuối tháng, theo cách nói của Coluche[6], đến đám sinh viên trong đầu đầy những mộng đổi đời, cải tạo xã hội và trong túi không có đủ tiền uống một ly cà phê.

đại bác đêm đêm vọng về…

Từ 1963, sinh hoạt giới trẻ Sài Gòn cực kỳ náo nhiệt. Chúng tôi sống ở ngoài đường nhiều hơn ở trong nhà hay trong lớp học. Hết biểu tình, hội thảo chống đàn áp Phật giáo dưới thời ông Diệm, đến hội thảo, biểu tình chống các chính phủ thi nhau lên xuống. Xuống đường trở thành một sinh hoạt thường nhật. Giữa những cuộc biểu tình, những buổi hội thảo, thỉnh thoảng ghé vào giảng đường học vài chữ cho phải phép. Đó là giai đoạn giới trẻ tham gia tích cực vào đời sống chính trị xứ sở. Với lòng nhiệt thành, và cố nhiên với đôi chút ngây thơ. Ngây thơ tin vào sức mạnh vạn năng của tuổi trẻ, nhất là khi thấy chỉ vài buổi xuống đường cũng đủ lật đổ một chính phủ, một ông tướng, một chính khách; và quên mất rằng trong cái hỗn loạn của đất nước, người Việt chỉ là những quân cờ thí.
Trước Tết Mậu Thân, lớp trẻ Sài Gòn còn tin tưởng, chưa hoàn toàn mệt mỏi, tuyệt vọng. Những ngày đầu thập niên 60, chiến tranh chưa thực sự len vào thành phố, mặc dù hàng ngày vẫn đọc trên báo những cuộc đụng độ nẩy lửa ở Pleiku, Cà Mâu, Đồng Xoài, Bình Giả; thỉnh thoảng chứng kiến những vụ pháo kích; thỉnh thoảng họp nhau, nhậu vài két la-de, lạc rang, củ kiệu, tiễn một người bạn lên đường nhập ngũ. Chiến tranh còn ở xa, đại bác đêm đêm dội về thành phố/Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe. Dân Sài gòn chưa thấy tận mắt thấy những xác người nằm chết như mơ, những xác người nằm bơ vơ dưới mái hiên chùa, trong giáo đường thành phố, trên thềm nhà hoang vu.

Sinh hoạt trẻ Sài Gòn ồn ào, sinh hoạt trẻ Văn Khoa còn náo nhiệt hơn nữa. Bên cạnh những hoạt động chính trị, những cuộc xuống đường, còn rất nhiều những đêm không ngủ, những hội Tết, những đêm văn nghệ Nguyễn Đức Quang, Nguồn Sống, những ngày túi bụi làm báo Xuân, nguyệt san Đối Thoại. Ở đó, (và ở trụ sở Tổng Hội Sinh viên Sài Gòn), Phạm Duy ra mắt trường ca Mẹ Việt Nam, Vũ Thành An ra mắt bài hát đầu tay. Chúng tôi, tuổi 20, kề vai nhau nghe Lệ Thu ngủ đi em, mộng bình thường/ru em sẵn tiếng thùy dương đôi bờ, nghe Thái Thanh ca tụng mẹ Việt Nam không son không phấn/ mẹ Việt Nam chân lấm tay bùn (nhạc Phạm Duy); và thực tình xúc động với cái viễn ảnh Việt nam quê hương đất nước sáng ngời. Cái viễn ảnh ấy, trong những đêm không ngủ, tựa vai nhau, chỉ tưởng tượng cũng đã muốn khóc. Trước cái trống rỗng của hiện tại, và cái lo lắng cho một tương lại mù mịt, người ta ngồi sát lại nhau, người ta nắm tay nhau, xin chờ những rạng đông. Những câu hát đẹp như thơ của Sơn đã đi thẳng vào lòng người.
Phong trào hoạt động xã hội cũng phát triển rầm rộ. Ảnh hưởng của phong trào thanh niên chí nguyện quốc tế của Kennedy, những hội đoàn như CPS, Thanh Niên Thiện Chí, Thanh Niên Chí Nguyện vv … mọc ra như nấm. Tuổi trẻ tích cực tham gia những lần đi cứu trợ nạn lụt ngoài Trung, cải biến những xóm nghèo ở thành phố, leo lên những làng Thượng dạy học, đào giếng, chữa bệnh. Có anh tham dự vào những ngày cuối tuần, có anh bỏ học, hoạt động hai ba tháng, nhiều khi cả năm. Đó là một tuổi trẻ còn đầy lý tưởng, còn yêu đời, yêu người, còn đầy tình người trong mạch máu, ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau.
Điều đó chứng tỏ tuổi trẻ rất tha thiết đến dân tộc, sẵn sàng đóng góp cho đất nước. Nếu họ thờ ơ với đất nước như người ta than phiền, lỗi không phải ở họ: người ta đã không tạo cơ hội cho tuổi trẻ tham gia. Họ bị gạt ra ngoài lề. Đất nước không còn là đất nước của họ.

đường phượng bay

Bìa album Sơn Ca 7 với Khánh Ly hát những tình khúc Trịnh Công Sơn (1974)
TCS đến với Văn Khoa trong bối cảnh đó. Sơn không phải sinh viên Văn Khoa; anh ở Huế vào, bỏ học vì hoàn cảnh gia đình. Những đêm trăng, chúng tôi ngồi trên bãi cỏ trước quán Văn, nghe Sơn đàn, nghe Khánh Ly hát. Khánh Ly sinh ra để hát TCS, cũng như Thái Thanh sinh ra để hát Phạm Duy.
Quán Văn là một ngôi nhà tiền chế, nằm giữa sân trường Văn Khoa. Một nhóm thổ công Văn Khoa sửa sang lại, biến thành môt quán cà phê, làm nơi tụ họp, gặp gỡ. Đúng là một cái quán, đơn sơ, nhưng đầy tình bè bạn. Giống như một cái quán ở miền quê, nơi người nông dân ghé qua, uống một bát chè tươi, hút một điếu thuốc lào, ngâm vài câu thơ, vài câu ca dao, tán gẫu với nhau sau những giờ lao động. Ở đó, chúng tôi khám phá ra cái đậm đà của tình bạn, cái thi vị của những buổi hẹn hò. Ở đó đã nở ra những mối tình, đôi khi dang dở, nhưng có nhiều cặp còn keo sơn tới ngày nay.

Sơn, người nhỏ bé, gầy gò, ăn nói nhỏ nhẹ, ôn tồn (tôi chưa hề thấy một TCS giận dữ, gây gổ bao giờ), Sơn trở thành bạn của mọi người một người một cách rất tự nhiên. Đôi mắt tinh anh, láu lỉnh, nụ cười hiền lành như một thầy tu, Sơn có cái phong thái của một thi nhân, cái khiêm tốn của một người có thực tài. Từ cách nâng ly uống một ly rượu, tiếp chuyện với bạn bè, cách trang phục, giản dị nhưng trang nhã, cái phong thái thi nhân ấy hiện diện ở Sơn, thường trực, tự nhiên. Đừng tưởng ông thi sĩ nào cũng có phong thái thi nhân. Sartre nói về Heidegger, một triết gia hàng đầu mà chính ông chịu nhiều ảnh hưởng: “Có những người ta chỉ nên biết tác phẩm, không nên biết đến con người, nếu không muốn thất vọng”. Heidegger là một triết gia lỗi lạc, lại cũng là người theo chủ nghĩa Nazi. Tôi đã quen những ông thi sĩ, tác giả những câu thơ rất đẹp mà lại ăn uống, cư xử như một con heo đực.
TCS ở ngoài đời rất giống TCS người ta tưởng tượng khi nghe những bản nhạc tình của anh.
Chúng tôi, mới đầu, ngạc nhiên thấy một gã người Huế, rất thanh nhã, rất ung dung, từ tốn; không phải cái từ tốn của một ông già, mà là cái ung dung quí phái của một con mèo, với nụ cười hiền hoà thường trực trên môi. Sơn học chương trình Pháp, nhưng xử dụng tiếng Việt một cách tài tình. Nhiều chữ rất tầm thường, với Sơn, chợt trở nên truyền cảm; nhiều chữ do Sơn bịa ra, nhiều hình ảnh đến từ một trí tưởng tượng phong phú, nếu không nghe Sơn giải thích, chắn chắn không ai hiểu. Mặc dù vậy, người ta cũng vẫn rung động, vẫn thấy cái Sơn nói đến rất thực, rất gần gũi. Đó là cái ma lực của chữ nghĩa, của thơ khi thơ đạt, khi chữ nghĩa có duyên nợ với nhau. Nhiều chữ, nhiều câu rất cũ, đột nhiên ở Sơn trở thành rất mới. Nhiều chữ nhiều câu rất cầu kỳ, đột nhiên gần gũi. Khi thất tình, người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ, khi tuyệt vọng, mùa thu không về, mùa xuân cũng ra đi,ngay cả khi nói đến chiến tranh tang tóc, xác người nằm như mơ, TCS không lúc nào quên mình là thi sĩ.

TCS nói về những cái rất riêng tư, những kỷ niệm rất riêng tư, qua một ngôn ngữ rất riêng tư. Và lạ lùng, cái riêng tư ấy của thi sĩ thấm vào lòng người nghe. Người ta xúc động mặc dù không hiểu từng câu, từng chữ. Nhất là trong những bản nhạc tình. Nói về chiến tranh, ngôn ngữ TCS là ngôn ngữ của mọi người; chiến tranh là một tai họa chung, một thảm kịch của cả một dân tộc, không phải là thảm kịch của một cá nhân, mặc dù mỗi cá nhân là một thảm kịch.
Một người bạn tôi nói khi nghe Sơn hát đường phượng bay mù không lối vào, anh thấy hình ảnh rất đẹp, rất mới, nhưng không biết tác giả nói gì, cho đến một hôm, ở một tỉnh nhỏ, anh thấy hoa phượng rơi, bị gió cuốn mịt mù, đỏ rực cả con đường trước mắt.
Nếu không quen Sơn, ít ai biết trời cao níu bước sơn khê, nói đến một người bạn gái tên Khê; ngàn cây thắp nến lên hai hàng/ để nắng đi vào trong mắt em mô tả những tia nắng cuối cùng của một buổi chiều tà đọng trên những ngọn cây, giống như ngàn cây thắp nến.[7]

Ngôn ngữ TCS khác với ngôn ngữ Phạm Duy (PD). Ngôn ngữ PD là ngôn ngữ ca dao. Hình ảnh của PD là hình ảnh của ca dao. Nhiều câu, nhiều hình ảnh trong nhạc PD không hiểu là của PD hay mượn từ ca dao. Đó không phải một lời chỉ trích; đó là một lời ca ngợi. Bởi vì dùng ngôn ngữ của một dân tộc, nói lên tình tự của dân tộc không phải ai cũng làm được, là một điều rất đáng tự hào. Lời ca của PD ai cũng hiểu, hình ảnh của PD ai cũng đã từng thấy, vì trong tiềm thức, chúng ta đã sống với ca dao từ hàng ngàn năm nay. Trong một bài báo ngày xưa ở trong nước[8], tôi viết tiếng hát Thái Thanh không có tuổi, vì đã làm say mê ba thế hệ. Tôi nghĩ thêm: tiếng hát Thái Thanh qua nhạc PD không có tuổi vì chúng ta vẫn nghe từ hàng ngàn năm nay. Tiếng hát ấy gợi ra trong đầu người nghe những cánh đồng lúa xanh, tiếng cười rúc rích của cô thôn nữ, những làn khói lam trên những mái nhà tranh, tiếng chuông chùa ngân nga, tiếng hò hát của người nông dân những ngày được mùa, tiếng nghẹn ngào của bà mẹ mù mắt chờ con đi chinh chiến, tiếng than vãn của những đời lầm than, đen tối. PD sống với ca dao, thở với ca dao, cười khóc bằng ca dao. Ít có người Việt Nam nào Việt Nam hơn PD. Có lẽ có một người: Nguyễn Bính. Nguyễn Bính là ca dao, ca dao là Nguyễn Bính.

hai nghệ sĩ, hai cuộc chiến

Trên bãi cỏ trường Văn Khoa, trước quán Văn, TCS và Khánh Ly hát trước hàng ngàn người hay chỉ năm, bẩy anh em. Không phải chỉ hát cho tình yêu. Sơn càng ngày càng bị ám ảnh bởi chiến tranh. Từ hình ảnh lãng mạn của người phu quét đường dừng chổi đứng nghe, chiến tranh trở thành cụ thể hơn, ghê rợn hơn :
Một buổi sáng mùa xuân
Một đứa bé ra đồng
Đạp trái mìn nổ chậm
Xác không còn đôi chân.

Nhạc tình TCS là những tiếng thở dài, có buồn cũng chỉ buồn thoang thoảng: mùa đông vời vợi, mùa hạ khói mây, có trách cũng chỉ trách nhẹ nhàng: từngngười tình bỏ ta đi, như những giòng sông nhỏ. Một thái độ rất thiền, rất ‘zen’:trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệtrọi suốt trăm năm một cõi đi về.

Nói về chiến tranh, TCS kêu gào, phẫn nộ. Chiến tranh không còn từ xa vọng về như những ngày đầu, nó ở trước mắt: Xác người nằm trôi sông phơi trên ruộng đồng/trên nóc nhà thành phố trên những đường quanh co. Cùng với cuộc chiến càng ngày càng dữ dội, tiếng kêu gào của Sơn càng ngày càng thảm thiết. Anh nói đến những em bé loã lồ, suốt đời lang thang, đến những xác người nằm bơ vơ, dưới mái hiên chùa, đến những trái mìn nổ chậm, người chết hai lần. Chiến tranh trở thành khốc liệt, tang tóc đổ xuống dân tộc kinh hoàng. Hàng vạn chuyến xe, claymore lựu đạn/Hàng vạn chuyến xe mang vô thị thành/Từng vùng thịt xương, có mẹ có em.TCS của chiến tranh trở thành một người dở điên, dở dại, thất thểu, chiều đi trên đồi cao, hát trên những xác người. Hình ảnh bi thảm, ma quái. Một thi sĩ thất thểu trên Bãi Dâu, hát bên những xác người. Đi trên đồi cao, bên cạnh xác người là một hình ảnh bi thảm, nhưng hát bên những xác người, hình ảnh mang thêm một cái gì ma quái, điên dại. Bi đát như chiến tranh với những con ngựa hý điên cuồng trong tác phẩm Guernica của Picasso.

Ngôn ngữ TCS về chiến tranh khác với ngôn ngữ TCS về tình yêu. Chiến tranh trong nhạc TCS cũng khác chiến tranh trong nhạc Phạm Duy. PD có “cái may” sống trong một cuộc chiến tranh chống Pháp, có địch, có thù, chiến tuyến phân minh. PD 24 tuổi lên đường tham gia kháng chiến, như hàng ngàn hàng vạn thanh niên khác. Chiến tranh trong nhạc tiền chiến của PD nó hào hùng, nó bừng bừng khí thế. PD tiền chiến không có cái cấu xé, cái dằn vặt. Cái chọn lựa của PD nó hiển nhiên. Nhạc PD không có cái lưỡng lự, nó là một tiếng quân ca, tiếng gọi lên đường. Bên cạnh cái hào hùng là cái lãng mạn của một trí thức tiểu tư sản ở tuổi 20, của một nghệ sĩ giầu tình cảm. Đó là cuộc chiến của những cô nàng gánh lúa cho anh đi diệt thù, của những chiến sĩ dừng chân trên chiếc cầu biên giới tưởng tới người yêu ở quê xa.
Điều đó không có nghĩa là trong nhạc PD không có cái bi thảm của chiến tranh. Nhạc PD có Bà Mẹ Gio Linh lên đường đi kiếm xác con bị giặc chặt đầu, có bà mẹ đón người con thương binh trở về, tiếc rằng ta đôi mắt đã loà vì quá đợi chờ. PD nói ông làm tới ba bài người thương binh vì ông sống qua ba cuộc chiến. Tác giả Con Đường Cái Quan nói ông khác xa những nghệ sĩ khác thời tiền chiến vì họ chỉ làm nhạc hùng; trong khi ông nói cả đến cái bi thảm của chiến tranh. Nhưng cái tàn phá của chiến tranh, cái thảm họa đổ lên đầu dân tộc càng khiến PD thấy cuộc chiến tranh của mình có ý nghĩa hơn. PD thuộc những người, như Malraux nói, không thích chiến tranh, (bởi vì có những người thích chiến tranh, coi đó là lẽ sống) nhưng tham chiến một cách dứt khoát vì là chuyện phải làm.

Cuộc chiến của TCS khác, cái nhìn của TCS khác. Đối với Sơn, đó chỉ là một cuộc nội chiến tương tàn. Nạn nhân là nước Việt, người Việt:
Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng
Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn

Lật xác người chết, chỉ thấy đồng bào, cha mẹ, anh em:
Bên xác người già yếu có xác còn thơ ngây
Xác nào là em tôi dưới hố hầm này
Trong những vùng lửa cháy bên những vồng ngô khoai

Những câu hát làm người ta nghĩ đến chiến tranh của Quang Dũng:
Mẹ tôi, em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có thằng em bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông


Ngay cả ở cùng một thời điểm, cái nhìn về chiến cuộc của hai nhạc sĩ cũng khác nhau. Với TCS, đó là một cuộc nội chiến mà người Việt Nam là nạn nhân. Với PD, đó là cuộc chiến Quốc Cộng nối dài, mặc dù sau này, Phạm Duy, vì cơm ăn áo mặc, hay vì một lý do gì khác, đã vứt bỏ cái hình ảnh của một nghệ sĩ dấn thân, đánh đổi vai trò thần tượng của một thế hệ để đóng vai trò “hàng thần lơ láo”. Ca ngợi cái chết của một phi công, Phạm Phú Quốc, PD nói: Ðặt tên cho anh anh là Quốc/Ðặt tên cho anh anh là nước/Ðặt tên cho người đặt tình yêu nước vào nôi. Viết cho một phi công khác tử trận, TCS không nói đến chiến công, không ca ngợi anh hùng, chỉ nói đến một kiếp người: Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây/Đã vui chơi trong cuộc đời này/Đã bay cao trong vòm trời này.
Trong bài “Kỷ vật cho em”, thơ Linh Phương, PD phổ nhạc, có câu: anh trở về bại tướng cụt chân. Nếu Sơn là tác giả, tôi nghĩ chắc Sơn viết anh trở về vì đã cụt chân. Đối với Sơn, không có thắng có bại; chỉ có người Việt Nam bị cuốn hút vào một cuộc chiến tương tàn. Nếu chưa bị cụt chân thì còn đánh nhau. Đó là một cái nhìn cực kỳ bi đát về cuộc chiến.

nghệ sĩ và cuộc chiến

Trong cuộc chiến ấy, TCS không có chỗ đứng.
Người Cộng Sản không chấp nhận anh là chuyện đương nhiên. Với người CS, không có chuyện lưng chừng, lưỡng lự, phân vân. Những người không hoàn toàn theo họ là những kẻ thù. Những người chống Cộng lên án Sơn đã trở cờ. Nhưng đọc kỹ những lời ca anh viết sau 75, không thấy một lời ca chứng tỏ anh về hùa, tâng bốc nhà cầm quyền. Nó vẫn chỉ là những lời ca ngợi tình yêu; kêu gọi tình anh em, nghĩa đồng bào. Không hề thấy hô hào thù hận, như Xuân Diệu chẳng hạn, khi “nhà thơ của tình yêu” (!) kêu gọi đấu tố năm nào:
Lôi cổ bọn chúng ra đây
Bắt quỳ gục xuống đoạ đầy chết thôi
Bắt chúng đứng,cấm cho ngồi
Bắt chúng ngước mặt, vạch người chúng ra

Còn nhạc gọi là phản chiến trước 75? TCS chỉ làm công việc của một nghệ sĩ: diễn tả cái thảm kịch của chiến tranh, cái đọa đầy của một dân tộc. Ai mà không chia sẻ giấc mộng của Sơn: Khi đất nước tôi không còn giết nhau, trẻ em đi hát đồng dao ngoài đường.

Một câu hỏi đáng được đặt ra: TCS có ảnh hưởng xa gần đến việc miền Nam thua trận? Có thể. Rất có thể. Một người lính xúc động vì hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng/từng vùng thịt xương có mẹ có em chắc chắn không chiến đấu hăng say bằng những người cuồng tín. Một người lính than vãn ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè/Ngựa hồng đã mỏi vó/Chết trên đồi quê hương, chắc chắn không chém giết hữu hiệu bằng một người lính suốt đời chỉ đưọc dạy ăn gan uống máu quân thù. Một quân đội suốt ngày nghe (trên đài phát thanh nhà nước!) những câu người già co ro, buồn nghe tiếng nổ/Em bé lõa lồ, khóc tuổi thơ đi, chắc chắn không xả súng tưng bừng bằng một cán bộ suốt đời chỉ biết vực sâu thăm thẳm, vực nào sâu bằng chí căm thù (Hò kéo pháo)Nhưng nếu cuộc chiến đấu của miền Nam có ý nghĩa, cái ý nghĩa ấy chính ở chỗ nó cho phép mọi người, trong đó có nghệ sĩ, được tự do diễn đạt tư tưởng của mình. Đó là cái yếu của một chế độ dân chủ, ngay cả dân chủ tương đối. Năm người mười ý, trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Đó cũng là lẽ sống của một nền dân chủ. Đó là cái giá phải trả, bởi vì không có chọn lựa nào khác. Nói theo kiểu Winston Churchill: dân chủ là chế độ dở nhất, nếu không kể các chế độ khác.

Khó trách người nghệ sĩ bày tỏ sự rung động của mình trước cái đau thương của đồng bào. Ngay cả Phạm Duy, tác giả bài ca tụng Phạm Phú Quốc, người đã tử nạn trong chuyến oanh tạc miền Bắc, Ðặt tên cho anh anh là Quốc/Ðặt tên cho anh anh là nước/Ðặt tên cho người đặt tình yêu nước vào nôi,cũng đã kêu giết người đi thì ta ở với ai? Khó trách nghệ sĩ bày tỏ sự rung động của mình. Cái điều lạ, cái cảnh khó tin nhưng có thực, là những đêm không ngủ chống chiến tranh ở Văn Khoa ngày xưa diễn ra ngay ở trung tâm Sài Gòn, với … cảnh sát, quân đội giữ an ninh chung quanh sân trường. Nếu TCS sống ở miền Bắc, chắc chắn anh đã bỏ mạng trong trại cải tạo, và chúng ta sẽ không bao giờ có được những Diễm xưa, Tuổi đá buồn…

huyền thoại da vàng

Nhiều người trách cái ngây thơ chính trị của TCS. Nhưng cái ngây thơ chính trị của nghệ sĩ, của trí thức là chuyện rất phổ thông. Chỉ cần nêu trường hợp Jean Paul Sartre, suốt đời hô hào ủng hộ cách mạng vô sản, nhắm mắt trước cái dã man, chà đạp nhân quyền trong những goulag. Chiến tranh, chính trị phức tạp hơn là tình cảm của nghệ sĩ.
Chẳng hạn, TCS day dứt về thân phận “da vàng” đến kiếp nô lệ “da vàng”; hết tiếng nói “da vàng” đến dư khúc “da vàng”. Làm như cái bất hạnh của dân tộc nằm trong cái nghiệp sinh ra từ mầu da, quên rằng nhiều dân tộc khác, cũng vàng khè không thua gì người An Nam ta, đang tiến nhanh, tiến mạnh. Nhật Bản đã làm Tây phương thất điên bát đảo trên mọi phương diện, Đại Hàn trở thành một cường quốc, Trung Cộng sẽ là một trong hai lãnh tụ thế giới, và những nước phát triển nhất trên địa cầu, Đài Loan, Singapore là những nước da vàng. Một triết gia nói: “Có hai loại người, những người chấp nhận làm nô lệ và những người không chấp nhận”. Vàng, xanh, trắng, đỏ không liên hệ gì đến thân phận của một dân tộc. Ai đã gặp một người Nhật có mặc cảm da vàng ? Họ không muốn thua ai, không muốn bằng ai, họ muốn trên mọi người, đứng đầu thiên hạ, họ không biết hai chữ thân phận, vàng hay xanh.

Những câu hát phản chiến của TCS là những tiếng nói của tình cảm, không phải là một phân tách chính trị, không phải những hô hào chính trị. Đó chỉ là những giọt nước mắt, Giọt nước mắt thương đất, đất cằn cỗi bao năm, giọt nước mắt thương dân, dân mình phận long đong, thoát ra từ trái tim, mặc dù những giọt nước mắt đó, vì khả năng truyền cảm của nó, chắc chắn đã có ảnh hưởng đến chính trị, đến chiến cuộc.

chữ nghĩa ích gì

Từ những năm 64-65, chiến tranh càng ngày càng dữ dội. Xã hội càng ngày càng xáo trộn, tình hình chính trị càng ngày càng nát bét. Ngay cả trong bối cảnh đó, trường Văn Khoa vẫn sinh hoạt mạnh. Số sinh viên càng ngày càng đông. Ban giảng huấn đã rất tận tụy góp phần vào việc phát triển trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Cố nhiên, đó chưa phải là một trường đại học tân tiến, kiểu mẫu. Phương pháp giáo huấn còn cổ hủ, từ chương khoa cử, chưa thực sự có đối thoại, trao đổi giữa thầy và trò. Nhưng ngay cả ở Sorbonne, cũng vẫn còn cái cảnh ông thầy ngồi trên giảng đường, thao thao bất tuyệt, đám sinh viên ngồi dưới hí hoáy biên chép như các cụ đồ ngày xưa dạy học.
Nền giáo dục Việt Nam thời đó hoàn toàn miễn phí, từ mẫu giáo đến đại học. Trong một nước chiến tranh, thực hiện một nền giáo dục hoàn toàn miễn phí là một cố gắng đáng kể. Người ta có thể chê trách chế độ rất nhiều điểm, nhưng đó là một điểm son phải ghi nhận. Điểm son đó là nhờ ý thức của những người có trách nhiệm, hay nhờ truyền thống tôn trọng học vấn của một xã hội chịu ảnh hưởng Khổng giáo? Khổng giáo, ít nhất trên phương diện đó, có khía cạnh tích cực với xã hội VN. Điều chắc chắn: nếu không có nền giáo dục hoàn toàn miễn phí, hầu hết chúng tôi đã bỏ học từ lâu.

Một câu hỏi luẩn quẩn trong đầu tôi từ nhiều năm: một trường Văn Khoa đóng vai trò gì trong một nước chiến tranh? Sách vở ích gì cho buổi ấy ?(Nguyễn Khuyến). Bên cạnh bom nổ, thịt rơi, cái sống cái chết gần kề, có phi lý không khi ngồi đó mổ xẻ “Tứ thư ngũ kinh”, phân tích tư tưởng Socrates, tìm hiểu nguồn gốc chữ Nôm. Bên cạnh cái nghèo đói của một xã hội lạc hậu, có vô nghĩa không khi ngồi đó tụng niệm kinh điển bách gia, rung động với Lord Byron hay Beaudelaire? Sartre nói: Bên cạnh một đứa trẻ chết đói, cuốn La Nausée không có một giá trị gì.
Câu hỏi ấy lởn vởn trong đầu, rất nhiều năm, và tôi đã thực sự nhiều lúc hoài nghi, không tìm được câu trả lời.

Câu trả lời, mãi sau này tôi mới tìm ra. Câu trả lời tên là Céline, một cô bạn Pháp. Một buổi chiều thứ bẩy, tôi lên phi trường đón Céline từ Sarajevo về. Céline là một thiếu nữ thông minh, có bằng cấp, có chỗ làm tốt trong một công ty lớn, sống nhàn hạ trong cái xã hội hưởng thụ là cái xã hội Pháp. Weekend bay qua Madrid hay Marakech. Mùa đông trượt tuyết ở Courchevel, mùa hè nghỉ mát ở Bali hay Bora Bora. Tóm lại, cô nàng có đủ thứ để hạnh phúc. Nhưng thay vì hạnh phúc, Céline lúc nào cũng tất tả ngược xuôi, mệt mỏi cả thể xác lẫn tinh thần; nhất là tinh thần. Rồi thuốc ngủ, thuốc an thần, hết Lexomil đến Prozac.
Một buổi, Céline dẹp hết, bỏ việc, bán nhà, bán xe. Và biệt tăm. Adieu Céline. Cho đến cái hôm ở phi trương, tôi gặp lại Céline, nhưng một Céline khác, má rất hồng và miệng rất tươi. Céline nói sau khi vứt bỏ mọi chuyện, cô nàng gia nhập một ban hợp tấu, lưu diễn khắp nơi. Céline là một tay violon thiện nghệ, từ nhỏ vẫn mơ thành nhạc sĩ. Céline lãnh một số lương tượng trưng, đủ cà-phê, thuốc lá, vì ban nhạc thường đi trình diễn ở những nước nghèo. Họ vừa ở Sarajevo về. Trình diễn hòa tấu ở Sarajevo, nơi người ta giết nhau như ngoé, nơi người ta thí mạng để cướp một ổ bánh mì, một cái mền? Ở đó, người ta chờ bột mì, thịt cá, đường muối, bột giặt, aspirine, ai chờ Beethoven với Mozazt? Ban đầu, Céline cũng nghĩ như vậy. Nhưng đêm trình diễn nào cũng đông nghẹt.

Trong một ngôi nhà thờ đổ nát, một trường học còn đang cháy dở, mưa dột vì mái nhà bị pháo kích loang lổ, người ta chen lấn nhau tới nghe nhạc. Ban ngày, người ta chạy bom, giành giựt nhau miếng ăn, một mớ củi để sưởi. Đêm xuống, người ta kéo nhau đi nghe nhạc. Đàn bà lục hành lý, lôi ra những nữ trang, những bộ quần áo đẹp. Có ông thắt cà vạt chỉnh tề. Có bà vừa nghe nhạc vừa lặng lẽ khóc. Céline vừa chơi nhạc vừa cầm nước mắt. Cô nàng vừa tìm thấy hạnh phúc. Chưa bao giờ cô nàng thấy yêu đời như vậy, yêu mình như vậy. Lần đầu tiên, Céline thấy mình có ích. Cô ta tìm thấy hạnh phúc của mình trong cái hạnh phúc của người khác. Y chang tâm trạng của lớp người trẻ chúng tôi ngày xưa khi đi cứu lụt, đào giếng.
Céline nói có thấy tận mắt cái cảnh người ta lấy tờ báo che mưa nghe nhạc trong một ngôi nhà đổ nát, mới thấm thía cái câu quen thuộc của người Pháp: Người ta không phải chỉ sống bằng bánh mì.[9] Ngay cả trong những lúc khốn cùng, cái đẹp, cái thẩm mỹ không phải là một xa xỉ, vô ích.

Cái đẹp sẽ cứu nhân loại, không phải Marx hay Lénine, không phải bin Laden hay Bush.
Cái đẹp sẽ cứu vãn nhân loại. Người ta đã từng giết nhau, hành hạ nhau, bỏ tù nhau nhân danh thượng đế, nhân danh chính nghĩa, nhân danh giáo điều, nhân danh đất nước, nhân danh đồng bào, nhân danh chân lý. Chưa bao người ta giết nhau nhân danh cái đẹp. Người ta giết nhau vì thánh kinh, vì Coran, vì Hitler, vì Mao, vì Mác, chưa bao giờ người ta giết nhau vì Picasso, vì Beaudelaire, vì Nguyễn Du. Sau này, khi giận hờn sẽ quên,những gì người ta nhớ lại về TCS là những bài hát, những câu thơ đẹp.
Cái đẹp sẽ cứu vãn nhân loại. Cái đẹp không phải chỉ là những tác phẩm văn hóa. Cái đẹp còn là, cũng là, nhất là tình người, một xã hội của những người tử tế, lương thiện. Đem cái dối trá, đểu cáng, bất nhân làm tiêu chuẩn cho đời sống là cách hữu hiệu nhất để làm tiêu vong dân tộc. Biến Xuân Diệu, tác giả của “tôi khờ dại quá, ngây thơ lắm. Chỉ biết yêu thôi, chẳng biết gì”, của “ít nhiều thiếu nữ buồn không nói, tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì”, thành một người gào thét, căm hờn “lôi cổ bọn chúng ra đây”, là thành quả ghê rợn nhất của công cuộc hủy diệt cái đẹp.

Ismail Kadaré nói ngay cả trong những lúc cực kỳ khó khăn vẫn phải có thái độ nghiêm trọng đối với văn hoá. Kadaré sinh ra, lớn lên và viết văn trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, ở một nước Cộng Sản độc tài bực nhất thế giới: Albanie. Kadaré viết văn trong một xứ kiểm duyệt khắt khe, một nước vỏn vẹn ba triệu dân, nghèo đói, người mù chữ đông hơn người biết đọc, biết viết. Và viết bằng tiếng Albanie. Mặc dầu vậy, ông viết văn với một thái độ cẩn trọng. Ngày nay, Kadaré được coi là một trong những nhà văn quan trọng nhất thế giới.
Nghệ thuật, cái đẹp có công dụng gì? Chẳng có công dụng gì. Nhưng đời sống không có cái đẹp sẽ buồn tẻ biết bao nhiêu. Bức tượng của Michel Ange, bức tranh của Van Gogh không có công dụng gì, nhưng hãy tưởng tượng một thế giới không có Michel Ange, Van Gogh. Hãy tưởng tượng Paris không có tháp Eiffel, New York không Nữ Thần Tự Do.
Nghe cô nàng Céline kể chuyện về những buổi trình tấu ở Sarajevo, tôi hiểu rằng trong một xứ chiến tranh, nghèo đói, một trường Văn khoa chẳng có ích lợi thiết thực gì, nhưng nó là cái cốt yếu cho một dân tộc còn muốn vươn lên.

đời sao im vắng

Tôi gặp lại TCS những ngày cuối cùng của năm 1999, khi về thăm Việt Nam. Sơn ngồi trước một cái bàn nhỏ, trong sân Hội Văn Nghệ Sĩ gì đó ở Sài Gòn. Vẫn nụ cười hiền lành, nhưng buồn bã, vẫn thái độ từ tốn, phong nhã,vẫn đôi kính đồi mồi nhưng trước mắt tôi là một TCS lục tuần bịnh hoạn, mệt mỏi, mặc dầu đôi mắt vẫn sáng lên khi nghe đến tin bè bạn. Sơn hỏi thăm tin tức về người này ở bên Tây, người kia ở bên Mỹ. Sơn nói về những người ở lại, kẻ mất, người còn.
Bơi trong cái áo sơ mi rộng thùng thình, Sơn nói: mình chỉ còn 39 kí. Sơn nói rượu đã tàn phá lá gan đến độ không có thuốc gì chữa nổi. Có người sẵn sàng đưa anh đi ngoại quốc giải phẫu gan nhưng anh từ chối. Sơn nói anh rất mệt, nhiều khi xây xẩm mặt mày vì bịnh áp huyết thấp (hypotension).
Vừa nói chuyện, Sơn vừa chào hỏi của những người qua lại. Vị nhạc sĩ lão thành, tác giả bài Dư Âm nổi tiéng hồi nào ở Hà Nội (Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ…) kể chuyện đi thăm bác sĩ, chuyện thuốc men. Nhạc sĩ Trần Tiến nói về đêm ca nhạc thành công tuần trước. Ông Vũ Hạnh chạy qua chạy lại hối bài cho một đặc san kỷ niệm “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước”.

Sơn ngồi đó, mỉm cười hiền lành, buồn bã. Tôi hỏi Sơn có tính đi ngoại quốc chơi một chuyến, nhân tiện chữa bệnh, dù tôi biết Sơn đang sống những ngày tháng cuối cùng. Nếu người nghiện rượu tiếp tục uống, dù có thuốc thánh, dù có gỉai phẫu gan cũng không thay đổi gì. Sơn không muốn nghỉ rượu, hay không nghỉ được. Sơn nói mình uống ít hơn trước nhiều. Sơn mỉm cười: mình sang đó, sợ các ông ấy đập mình. Rồi tiếp: sự thực thì ở bên Pháp không có vấn đề gì, bên Pháp ít có người quá khích; kỳ trước mình qua Pháp, anh em đãi ngộ rất tử tế.
Sơn tiếp: nói cho đúng, mình mệt lắm, có muốn cũng không đi được. Sơn nói, từ tốn, không lộ một chút xúc động. Anh đang ở một cõi khác, những cái lăng nhăng ở cuộc đời này không liên hệ gì đến anh nữa. Nghe tôi sắp đi Nhật, Sơn nhắc đến một cô sinh viên Nhật Bản đã làm một luận án về ngôn ngữ và chiến tranh trong nhạc TCS.

Khi tôi ra về, Sơn đưa cho tôi số điện thoại ở nhà riêng: “Ráng đến chơi, mình có chuyện muốn nói. Thằng em mình, biết cậu về, chắc nó mừng lắm”. Em Sơn ngày xưa cũng la cà ở quán Văn.
Tôi nghĩ Sơn muốn nói những gì không thể nói được ở một nơi có nhiều người qua lại. Tôi ân hận vì không có thì giờ tới nhà Sơn như đã hứa, vì phải rời Việt Nam ngày hôm sau. Tôi rời Sài Gòn ngày mùng 1 tháng giêng năm 2000. Thế giới đang bước sang một thế kỷ mới. Tôi gọi điện thoại chào Sơn. Anh hỏi: Cậu đi ngày đầu năm 2000, không sợ ‘“sự cố” à? Tôi nói sự cố nó sợ tôi chứ tôi sợ gì nó. Hồi ấy, ở Sài Gòn, người ta kỵ đi máy bay ngày đầu năm 2000. Sơn nói, giọng buồn: Nếu gặp lại X,Y cho mình gởi lời hỏi thăm; chắc mình không có dịp gặp lại anh em nữa. Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè. Ngựa hồng đã mỏi vó chết trên đồi quê hương.

Mỗi lần nghe nhạc TCS, tôi nghĩ đến cái cô đơn cùng tận của người nhạc sĩ ngồi trước cái bàn nhỏ ngoài sân, mỉm cười với người này người kia, nhưng đầu óc ở một nơi khác. Sơn ngồi đó, cô độc. Một mình tôi về với tôi. Đem cái cô đơn của kiếp người nhân lên gấp mười, bạn có cái cô đơn của người nghệ sĩ, nhân lên trăm lần có cái cô đơn của người nghệ sĩ Việt Nam, nhân lên ngàn lần có cái cô đơn của TCS. Cái cô đơn của một người suốt đời ca ngợi tình yêu, tình đồng bào, ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau, mà cuối cùng bị chỉ trích từ mọi phía. Sơn ngồi đó, nâng niu cô đơn từng ngày…mà đời còn nhiều đắng cay (Vũ Thành An). Sơn ngồi đó, một mình, giữa nhiều người
Đời sao im vắng
Như đồng lúa gặt xong
Như rừng núi bỏ hoang
Người về soi bóng mình
Giữa tường trắng lạnh câm

Cái sân chỗ Sơn ngồi đông người qua lại, và ngoài đường xe hơi, xe gắn máy chạy loạn xà ngầu, nhưng Sơn ngồi đó, giữa tường trắng lạnh câm.

anh đã đến, đã vui chơi…

Sơn ra đi ngày 1 tháng tư 2001, hưởng thọ 62 tuổi. Sáu mươi hai tuổi, đời người như gió qua. Ở bên Pháp, ngày 1 tháng tư là ngày “cá tháng Tư” (poissons d’Avril), ngày người ta đùa nhau bằng những chuyện hoàn toàn bịa đặt. Báo cho một ông nhà văn hạng bét là ông ta vừa chiếm giải Goncourt. Thú với cô fiancée là đã có vợ với ba con, rồi sau đó cho hay đó chỉ là những cá tháng Tư, những chuyện đùa chơi.
TCS ra đi thật hay chỉ thả một con “cá tháng Tư”?
Sơn đã đến, đã vui chơi trong cuộc đời này. Bây giờ có lẽ anh đang bay cao trong bầu trời này. Nhưng, nhiều lúc, tôi tự hỏi có quả thật anh đã vui chơi trong cuộc đời này. Có bao nhiêu người Việt nam đã thực sự vui chơi trong cuộc đời này?

Trần Công Sung
(Paris, tháng 3/2011)
[1] Xin lưu ý: Những tên tác giả trong bài viết nầy viết theo tiếng Pháp
[2] C’est la beauté qui va sauver le monde, Fiodor Dostoievski, trích từ tiểu thuyết L’Idiot
[3] Charles Trenet (1913-2001) ca nhạc sĩ Pháp
[4] Longtemps, longtemps, longtemps / Après que les poètes sont disparu / Leurs chansons courent encore dans les rues …
[5] Tư tưởng Phương Đông, Nhà Xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1995.
[6] Le plus difficile c’était la fin du mois, surtout les trente derniers jours. Coluche, biệt danh của Michel Colucci (1944-1986), một nghệ sĩ Pháp nỗi tiếng vì tài dí dỏm.
[7] Trịnh Cung, Phan Thanh Tâm, Thế kỷ 21, May 2001.
[8] Đất Mới, Sài Gòn 1966.
[9] On ne vit pas que du pain / l’être humain ne vit pas seulement de pain (từ Thánh Kinh)