Chủ Nhật, ngày 01 tháng 3 năm 2015


AI GIÚP CỌNG SẢN ĐÁNH ĐỔ VIỆT NAM CỌNG HÒA?

Lê Xuân Nhuận

TÓM-LƯỢC SỬ-LIỆU
BỨC-TỬ VIỆT-NAM CỘNG-HÒA
(trích từ hồi-ký Biến-Loạn Miền Trung, hình của Blogger Nam Giao )


Lời Giới Thiệu - Từ lâu, tại hải ngoại, khi truy tầm nguyên nhân khiến Việt Nam Cọng Hòa bị sụp đổ vào mùa Xuân năm 1975, nhiều “nhà nghiên cứu” thường cố ý giản lược hóa vào chỉ một nguyên nhân mà thôi.
Các vị cựu viên chức VNCH thì bảo vì “đồng minh tháo chạy”, các vị quân nhân vất súng trốn chạy trong 55 ngày thì bảo vì “Việt Cọng có vũ khi Nga sô Trung cọng”, mấy ông tàn dư Cần Lao Công giáo, vốn khống chế lãnh vực truyền thông nhằm chống phá Phật giáo để trả thù cho ông Diệm, thì bảo vì “sư sải xuống đường”, v.v…
Một hiện tượng lịch sử cực kỳ phức tạp như sự sụp đổ của một chế độ, sự xóa bỏ một quốc gia không thể đến chỉ từ chỉ một nguyên nhân mà thôi, dù nguyên nhân đó có quan trọng đến mức nào.  Thế nhưng những thành phần hải ngoại kể trên thì vẫn duy trì nhận thức phi khoa học và thái độ phản lịch sử loại nầy là vì họ chỉ muốn che dấu mặc cảm thất trận.
Che dấu để vừa chạy tội cho mình, vừa đổ tội cho người khác.

Thật vậy:
■ Sao đồng minh (Mỹ) không “phản bội” ba nước tuyến đầu nóng bỏng là Tây Đức, Nam Hàn và Đài Loan mà lại phải “tháo chạy” chỉ ở Nam Việt Nam? Có phải vì chính bản thân cả hai nền Cọng hòa ở miền Nam vừa không xứng đáng để làm “đồng minh”, vừa độc tài tham nhũng, bất lực không hoàn thành nỗi “hợp đồng” chống Cọng với Mỹ không?
■ Sao khi còn bộ máy chiến tranh gồm nữa triệu quân Mỹ cọng với 115,000 quân nhân của 8 nước đồng minh hiện diện thì 4 vùng chiến thuật vẫn còn an toàn, mà đến khi Đồng minh bắt đầu thực hiện “Việt Nam hóa” (nghĩa là, bấy giờ, mới trao trách nhiệm chiến tranh cho VNCH) thì hai năm sau, 1,5 triệu tay súng VNCH lại cởi áo tan hàng trong 55 ngày?
■ Sao trong khi vận mệnh miền Nam do hai ông Tổng thống Công giáo với binh hùng tướng mạnh, độc quyền cai trị suốt 10 năm tại miền Nam thì không chịu trách nhiệm, mà lại đổ tội cho cuộc đấu tranh đòi dân sự hóa và dân chủ hóa của Phật tử tại miền Trung vốn đã tàn lụi từ năm 1967, tám năm trước ngày miền Nam thất thủ? Tại sao lại vu khống cho một nhóm mấy ông Sư “Phật giáo Ấn Quang” không phương tiện, không thế quốc tế mà làm “mất” miền Nam được?

Bài viết dưới đây, trích từ tác phẩm “Biến Loạn Miền Trung”, của tác giả Lê Xuân Nhuận, soi rọi một lực lượng chính trị - tôn giáo tại miền Nam Việt Nam đã từng khống chế sinh hoạt chính trị của VNCH trong suốt hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cọng hòa.
Lực lượng nầy là các chức sắc trong Giáo hội Công giáo Việt Nam, vốn được định hướng bởi lập trường chính trị của vị chủ chăn là Giáo hoàng Phaolồ VI tại Vatican, đã thao túng và gây hổn loạn chính trường miền Nam, lên đến cao điểm từ sau Hòa đàm Paris (1973). Họ tạo ra những cuộc khủng hoảng chính trị giữa lúc miền Nam cần ổn định nhất; tạo ra những vết dao “đâm sau lưng chiến sĩ” giữa lúc trên chiến trường, quân lực VNCH cần bàn tay yểm trợ nhất. Họ đã nối giáo cho giặc, thậm chí có người còn là “giặc” (mà sau 1975 mới lộ diện ra cho chúng ta biết).
Vì thế, lực lượng nầy đúng là một trong những thành tố có trách nhiệm chính yếu trong biến cố sụp đổ của Việt Nam Cọng Hòa năm 1975. / NG

… Trong lúc đó, ngay tại Thủ-Đô, trong cơn dầu sôi lửa bỏng, những tay điệp-viên chiến-lược của Cộng-Sản, từ lâu vẫn nấp dưới lớp áo tu-hành, như các Linh-Mục Thanh Lãng, Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trần Du, Nguyễn Quang Lãm, Trần Ngọc Nhuận, v.v… (cùng với Trần Hữu Thanh trong “Phong Trào Chống Tham-Nhũng”), cũng sách-động quần-chúng xuống đường hằng ngày để gây thêm rối-loạn, hoang-mang trong quần-chúng, và tạo sức ép đối với Tổng-Thống Thiệu, làm nản thêm lòng người Mỹ, và tạo thêm lợi-thế về mặt chính-trị cho Bắc-Việt xâm-lăng. (trang 436) 
  
Phong-Trào Chống Tham-Nhũng 


Nói đến “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, tưởng cần nhắc lại một số hoạt-động nổi bật của giới Kitô-Giáo trong và ngoài Việt-Nam Cộng-Hòa.


Trong thời-gian diễn ra Hội-Nghị Paris từ 1968 đến 1973), Giáo-Hoàng Phaolô VI đã nhiều lần “nhân đạo” kêu gọi chấm dứt chiến-tranh Việt-Nam


Tháng 12-1969, Giám-Mục Phạm Ngọc Chi, Phó Chủ-Tịch Hội-Đồng Giám-Mục Việt-Nam, qua Hoa-Kỳ, đã tuyên-bố với báo-chí Mỹ: “Miền Nam [Việt-Nam] đồng-tình với chính-sách ‘Việt-Nam-Hóa Chiến-Tranh’ của Tổng-Thống Nixon.”
Tháng 9-1972, Đại-Hội lần 2 của tổ-chức “Kitô-Hữu Quốc-Tế” gồm hơn 20 nước họp tại Quebec (Canada),  với đề-tài giải-phóng các dân-tộc Việt, Lào và Campuchia, đã “tố-cáo các cuộc xâm-lăng và ném bom vô-nhân-đạo của Mỹ, khẳng-định quyền tự-quyết, tự-do được sống hòa-bình của nhân-dân Việt-Nam.

Tức là việc Mỹ chuẩn-bị rút lui đã được Kitô-Giáo Việt-Nam, giáo-dân mấy chục nước khác, và nhất là Giáo-Hoàng Phaolô VI tán-đồng, không còn đánh nhau với Cộng-Sản nữa.
 
Ngày 20-9-1970, Linh-Mục Phan Khắc Từ, Tuyên-Úy Thanh Lao Công Sài-Gòn, qua Châu Âu, đã tuyên-bố tại Thành-Phố Firenze (Ý, nước có Tòa Thánh Vatican): “Kinh-nghiệm trước mắt cho chúng tôi xác tín rằng Giáo-Hội [Kitô] tại Việt-Nam hôm nay là một công-cụ hữu-hiệu của người Mỹ.”

 
Tháng 3-1971, Linh-Mục Nguyễn Viết Khai tuyên-bố: “Từ chính-quyền trung-ương xuống cho tận anh Trưởng Ấp, người Miền Nam không được phép giải-quyết vấn-đề của mình mà không có người nước ngoài xen vào.”


Tháng 11-1971, Linh-Mục Trương Bá Cần, Tuyên-Úy Thanh Lao Công toàn-quốc, tham-gia vụ đình-công tại Hãng Pin “Con Ó”, bị Cảnh-Sát bắt, đã viết: “Giáo Hội của tôi không biết chọn, nhất là chọn để chống lại những kẻ đang nắm quyền-hành trong xã-hội này… Giáo Hội của tôi cũng đã biết lựa chọn, nhưng không biết lựa chọn người nghèo khổ...” 


Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam đồng-ý với lời cáo-buộc và chiêu-bài của đối-phương. 
  
Nhưng, sau Hiệp-Định Paris 27-1-1973 [chấm dứt chiến-tranh Việt-Nam], thì Bắc-Việt gia-tăng nỗ-lực và quyết-tâm tiến-chiếm Miền Nam.

 
Ngày 19-9-1973, Tổng-Giám-Mục Sài-Gòn Nguyễn Văn Bình đọc diễn-văn khai-mạc “Năm Thánh”: “Chúng tôi hy vọng rằng những cuộc giết chóc và hận thù sẽ thực-sự chấm dứt trên mảnh đất này và đồng thời có được quan hệ hai chiều giữa Bắc và Nam, trong lúc đất nước tạm thời còn phân chia.”

 
Ngày 10-1-1974, sau cuộc Hội-Nghị toàn-thể hàng giáo-phẩm, các Giám-Mục Miền Nam đã công-bố một bản tuyên-ngôn “tha thiết kêu gọi hai chính phủ Bắc và Nam cùng đồng loạt, vì tình thương dân tộc, mà ngưng mọi hoạt động gây chiến và mọi chiến dịch bôi nhọ và thù ghét lẫn nhau.” 
Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam [Cộng-Hòa] không đề-cập đến việc Bắc-Việt vi-phạm Hiệp-Ước, mà chỉ muốn Miền Nam bắt tay làm hòa với Miền Bắc―đối-nghịch lập-trường “4 Không” của Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu.

 
Giáo-Hội Kitô-Giáo Việt-Nam ở Sài-Gòn ra “Thư Chung” phát-động cuộc tranh-đấu “chống tham nhũng”, chống Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu. Họ đòi Thiệu phải từ-chức, vận-động trưng-cầu dân-ý buộc Thiệu phải ra đi. 


Lời kêu gọi đó đã dấy lên liền một “Phong-Trào” gọi là “Chống Tham-Nhũng”. 

   *
*

“Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” do Linh-Mục Trần Hữu Thanh cầm đầu, các LM Đinh Bình ĐịnhNguyễn Học Hiệu cùng Bác-Sĩ Nguyễn Thị Thanh phụ-lực, qua một bản “Tuyên Ngôn” được sự bảo-trợ của 301 linh-mục khác, kể cả “Tuyên-Úy Công Giáo”, ra mắt tại Giáo-Xứ Tân Việt, Sài-Gòn, từ năm 1973, là một tập-hợp tương-đối lớn, có nhiều tín-đồ nhất, và tại nhiều địa-phương nhất―so với Nhóm các linh-mục cộng-sản nằm vùng và thân-Cộng tại Sài-Gòn.
 
“Phong-Trào” được sự tham-gia của các nhân-vật ngoài Kitô-Giáo, như Thượng-Nghị-Sĩ  Hoàng Xuân Tửu và Dân-Biểu Nguyễn Văn Kim cùng nhiều DB thuộc Đảng Đại-Việt của Hà Thúc Ký và phía Dương Văn Minh; DB Đặng Văn Tiếp phía Nguyễn Cao Kỳ; DB Nguyễn Văn Cử chống Diệm và phía Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng; DB Vũ Công Minh phía Hòa-Hảo; DB Đỗ Sinh Tứ phía quân-đội; Bác-Sĩ Nguyễn Tuấn Anh; Luật-Sư Đặng Thị Tám; Nhân-Sĩ Nguyễn Trân; v.v…

 
Linh-Mục Thanh được báo-chí ngoại-quốc tặng cho danh-hiệu “Hiệp Sĩ của Người Nghèo”. 
  
Sau đó, “Phong-Trào” công-bố các bản “Cáo Trạng” trong các cuộc biểu-tình, xuống đường rầm-rộ dữ-dội và liên-tục của các tín-đồ do các linh-mục lãnh-đạo có khi có hàng chục ngàn người tham-dự tại Huế, Đà-Nẵng, Quy-Nhơn, Nha-Trang, Cam-Ranh, Sài-Gòn, Mỹ-Tho, Cần-Thơ, v.v…

 
Cuối năm 1974, nhất là đầu năm 1975, những cuộc biểu-tình chống-chính-phủ của nhóm Linh-Mục Trần Hữu Thanh, có sự tham-gia của một số chính-khách, lãnh-tụ đảng-phái, cộng với việc Hội-Đồng Giám-Mục Việt-Nam phổ-biến “Thư Chung”, kêu-gọi các Nhà Thờ toàn-quốc “chống tham nhũng”, thúc-đẩy giáo-dân xuống đường rầm-rộ, liên-tục… đã khiến cho các binh-sĩ ngoài tiền-tuyến chán-nản, mất tinh-thần, và ảnh-hưởng tai-hại đến sự sống-còn của đất-nước.

 
Bên cạnh “Phong-Trào” của LM Trần Hữu Thanh, còn có các Nhóm tay sai Cộng-Sãn và thân-Cộng, là các LM Trương Bá Cần, Thanh Lãng, Huỳnh Công Minh, Vương Đình Bích, Hồ Thành Biên, Nguyễn Thành Trinh; Nhóm “Đối Diện” của 11 linh-mục phản-chiến Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Phan Khắc Từ, Nguyễn Hữu Khai, v.v… trong mấy tháng cuối-cùng, đã lợi-dụng các buổi thuyết-giảng tại các Nhà Thờ để công-khai tuyên-truyền cho “người anh em bên kia”. 


(Điển-hình là Phan Khắc Từ, từ năm 1969 đã đi dự đại-hội Thanh Lao Công Thế-Giới có xu-hướng thân-Cộng được Mạc-Tư-Khoa đỡ đầu, tại Liban. Ở Pháp thì đến hội-ý với Nguyễn Thị Bình, Trưởng Phái-Đoàn thương-thuyết của “Mặt Trận Giải Phóng”; tham-gia đình-công; biểu-tình đòi công-bằng cho giới lao-động; cùng sinh-viên và công-nhân đòi hòa-bình cho Việt-Nam. Sau này về nước thì dính vào Mặt Trận Nhân-Dân Tranh-Thủ Hòa-Bình, Phong Trào Học-Sinh Sinh-Viên Đòi Quyền Sống, Phong- Trào Chống Tăng Học-Phí, Chống Độc-Diễn; đóng vai “linh-mục hốt rác” gây sự chú ý của dư-luận; dùng Nhà-Thờ Vườn Xoài làm nơi chế-tạo bom xăng cho phong-trào đốt xe Mỹ trên đường phố; cùng công-nhân đình-công để gây trở-ngại cho các cuộc hành-quân; tiếp tay CS dựng lên Ủy-Ban Bảo-Vệ Quyền-Lợi Lao-Động Miền Nam; rồi lại giả-danh từ-thiện hoạt-động trong tổ-chức trá-hình của CS là Mặt Trận Nhân Dân Cứu Đói…) 

Chủ-Tịch Thượng-Nghị-Viện Trần Văn Lắm lên án Tổng-Thống Thiệu “lạm quyền, tham nhũng”. 

Một số lãnh-tụ đảng-phái và tôn-giáo, như Phan Bá Cầm (Hòa-Hảo), Trần Quang Vinh (Cao-Đài), Hà Thế Ruyệt (Duy-Dân), Thượng-Tọa Pháp-Tri và các Ông Ngô-Văn-Ký, Nguyễn Văn Lục, Xuân Tùng (Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng) thành-lập “Trận Tuyến Nhân Dân Cách Mạng”, kêu-gọi TT Nguyễn Văn Thiệu từ-chức và các phe liên-hệ “chấm dứt chiến-tranh, giải-quyết vấn-đề Miền Nam bằng phương-thức hòa-bình”. 


Nhóm “Sóng Thần” thì tổ-chức “Ngày Ký-Giả đi Ăn Mày” rồi tiếp theo là “Ngày Công-Lý và Báo-Chí Thọ-Nạn” vào tháng 10-1974.

 
Các Tuyên-Úy Công-Giáo thì tổ-chức Đại-Hội tại Thủ-Đô. Họ rao giảng với giáo-dân quân-nhân rằng “cộng-sản cũng là con-cái của Chúa”, rằng “Công-Giáo và CS có thể sống chung hoà-bình”… 

Bản “Cáo Trạng số 1” được ghi là ký tại Huế vào ngày 8-9-1974, khi được tung ra tại Nhà Thờ Tân-Sa-Châu, Sài-Gòn, có báo bảo là “làm lung-lay ghế Tổng-Thống Thiệu.” 


Các báo Time, Newsweek; các đài BBC, VOA đều loan tin. Hậu-quả là Quốc-Hội Mỹ quá chán-ngán Chiến-Tranh Việt-Nam và mệt-mỏi vì đã yểm-trợ một đồng-minh có quá nhiều khuyết-điểm và thối-nát.  Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam đã tiếp tay cho Hoa-Kỳ chấm dứt viện-trợ và phủi tay đối với Việt-Nam Cộng-Hòa.

 
Việc Mỹ cắt-giảm quân-viện đã làm tê-liệt hẳn khả-năng chiến-đấu của Quân-Lực VNCH, và từ đó làm suy-nhược tinh-thần kháng-cự, yếu-tố quan-trọng nhất trong bất-kỳ cuộc chiến-tranh nào. 



Các chức sắc Công giáo đã làm loạn ở miền Nam, tạo bất ổn chính trị và khoảng trống an ninh,
do đó đã trực tiếp đóng góp vào sự sụp đổ của Việt Nam Cọng Hòa vào mùa Xuân năm 1975.
Hình từ trái qua và trên xuống: Phaolồ Nguyễn Văn Bình, Hoàng Quỳnh, Giuse Trần Hữu Thanh,Gioan Baotixita Huỳnh Công Minh, Phêrô Phan Khắc Từ, Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận,Thanh Lãng, Stêphanô Chân Tín,
Giuse Maria Đinh Bình Định, Nguyễn Ngọc Lan, Phêrô Trương Bá Cần.
Và không có trong hình:  Nguyễn Viết Khai, Nguyễn Học Hiệu, Vương Đình Bích,
Hồ Thành Biên, Nguyễn Thành Trinh, Lê Văn Ấn, Trần Viết Thọ, Nguyễn Quang Lãm,
Hoàng Kim, Nguyễn Thiện Toàn, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Văn Huệ, Nguyễn Nghị
*
*    *
Về phần Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu thì ông đích-thân đi trực-tiếp cầu-cứu tại chính-quốc Hoa-Kỳ, nhưng đã không được nghênh-đón long-trọng tại Thủ-Đô Hoa Thịnh Đốn. Năm 1968, Johnson (chủ-chiến, Dân-Chủ) chỉ tiếp Thiệu tại thành-phố đảo Honolunu, và chỉ để thảo-luận sách-lược hòa-đàm với Cộng-Sản. Năm 1969, Nixon (chủ-hòa, Cộng-Hòa) cũng chỉ tiếp Thiệu tại Đảo Midway, và cũng chỉ để thỏa-thuận về chính-sách Việt-Nam-Hóa và lịch-trình rút quân của Mỹ.

Thiệu lại đích-thân đi trực-tiếp cầu-cứu với Giáo-Hội Kitô La-Mã, là một trung-tâm quyền-lực chính-trị khác của thế-giới. Tuy nhiên, Giáo-Hoàng Paul VI, trong cuộc viếng-thăm lục-địa Á-Châu lần đầu-tiên, đã không ghé đến Việt-Nam là quốc-gia đang bị Cộng-Sản đe-dọa, nhất là Việt-Nam có tỷ-số giáo-dân đông thứ nhì tại lục-địa này. Thiệu đến Tòa Thánh, nhưng không được Giáo-Hoàng tiếp-kiến―dù Thiệu là một Tổng-Thống, một con chiên ―vì lập-trường của Vatican về vấn-đề Chiến-Tranh Việt-Nam là chỉ bênh-vực Hà-Nội, chỉ muốn chấm dứt chiến-tranh dù Miền Nam có rơi vào chế-độ Cộng-Sản sắt máu. Đã thế, Giáo-Hoàng còn chỉ-trích Thiệu, lại còn tiếp-kiến cặp Nguyễn Thị Bình và Xuân Thủy, trưởng phái-đoàn Cộng-Sản tại Hòa-Hội Paris. 

Từ năm 1968, Giáo Hoàng Phaolồ Đệ-Lục đã lập ra “Ngày Quốc-Tế Hòa-Bình”, cổ-vũ Hòa-Bình bằng thương-thuyết tại Việt-Nam. Vatican xác-định lập-trường là chấm dứt chiến-tranh, quan-hệ tốt với Miền Bắc và Chính-Phủ Lâm-Thời Miền Nam. Chính Giáo-Hoàng trao-đổi công-điện trực-tiếp với Hồ Chí Minh


Vào tháng 6-1971, đang lúc tên gián-điệp cộng-sản Vũ Ngọc Nhạ (kẻ được Linh-Mục Hoàng Quỳnh che-chở) bị Việt-Nam Cộng-Hòa cầm tù ở Côn-Đảo, mà Tòa Thánh và Giáo-Hoàng Phaolô VI lại tặng Bằng Khen và Huy Chương “Vì Hòa Bình” cho y.


Tức là Giáo-Hoàng Paul VI đã biến Vatican và nhiều Giáo-Hội địa-phương thành một guồng máy chính-trị, ngoại-giao, tình-báo khổng-lồ để giúp Hà-Nội tiến chiếm Miền Nam.
     

Lảnh đạo Đế quốc Công giáo La Mã 15 năm, từ 1963 đến 1978,
Giáo hoàng Phaolồ VI (1897-1978) đã tác động lên chính sách đối ngoại
của bốn Tổng thống Mỹ (Kennedy, Johnson, Nixon và Ford) sao cho quyền lợi
của Vatican được bảo đảm, nhiều khi bất chấp những tác hại trên các quốc gia khác.

Thế mà Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng vẫn chưa thấy là Hoa-Kỳ sắp bỏ rơi Việt-Nam, không thay-đổi đường-lối chính-trị, vẫn cứ sử-dụng giải-pháp quân-sự, và không tin là Hà-Nội có đủ sức tấn-công đại-quy-mô. 

Ông sửa-đổi Hiến-Pháp để làm Tổng-Thống thêm một nhiệm-kỳ năm năm nữa, khiến Đại-Tướng Thủ-Tướng Trần Thiện Khiêm phải ra mặt chống-đối, làm tình-hình chính-trị trong nước càng rối-ren thêm.

 
Ðầu tháng 2-1975, “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” phổ-biến tiếp bản “Cáo-Trạng số 2” tố-cáo TT Thiệu nhiều tội và hô-hào lật đổ bằng vũ-lực, khiến ông phải dùng biện-pháp mạnh, cho bắt giam nhiều chính-khách, trí-thức, lãnh-tụ đảng-phái, như các Thượng-Nghị-Sĩ Thái Lăng Nghiêm, Phạm Nam Sách, Nguyễn Văn Chức; các ông Hà Minh Lý, Trần Thúc Linh, và một số ký-giả trong đó có những nhân-vật nổi tiếng chống-Cộng như Mặc Thu, Lê Trần, Vũ Bằng, Đinh Từ Thức, Trương Cam Vĩnh, Ngô Đình Vận…


Để đối-phó với “Phong-Trào”, Thiệu vận-dụng nhiều đồng-đạo ủng-hộ mình. 

Có sáu linh-mục, trong đó có cả Linh-Mục Hoàng Quỳnh, sáu đêm liền, thay phiên nhau lên đài truyền-hình bênh-vực và ca-ngợi Thiệu; ngoài ra, còn có các Nghị-Quyết, Quyết-Định, Đề-Nghị, có chữ ký của 70 Dân-Biểu ủng-hộ Thiệu. 


Có cả Giám-Mục Lê Văn Ấn, đặc-trách Tuyên-Úy, Giám-Mục Nguyễn Văn Thuận, Linh-Mục Cao Văn Luận, đứng ra cãi giùm cho Thiệu.

 
Tình-hình gay-cấn đó, do “Phong Trào Chống Tham-Nhũng” gây nên, đã tạo ra thế “nội công, ngoại kích”, quả là đã phá rối hậu-phương, làm lung-lạc tinh-thần binh-sĩ nơi tiền-tuyến, làm lợi cho Cộng-Sản, trong khi đó thì Bắc-Việt xua quân tấn-công Miền Nam…



Kết-Luận 
  
Có người cho rằng “Phật-Tử Tranh-Đấu”, tức [số người hậu-thuẫn cho] Phái Ấn-Quang của Phật-Giáo Việt-Nam (về sau là Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất) đã liên-tục chống-đối Chính-Quyền Việt-Nam Cộng-Hòa, khiến cho Nền Đệ-Nhất Cộng-Hòa sụp-đổ, rồi Nền Đệ-Nhị Cộng-Hòa cũng suy-tàn theo. 


Nhưng, theo như tôi đã lược-dẫn trên, thì:
 
“Phật-Tử Tranh-Đấu” đã chấm dứt hoạt-động từ ngày thành-lập Nền Đệ-Nhị Cộng-Hòa, cuối năm 1967. Mãi đến lâu sau Hiệp-Định Paris 1973 mới tái-xuất-hiện trong “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc”.

 
Cả phía “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” bên giới Phật-Tử, lẫn phía “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” bên giới Giáo-Dân, đều tranh-đấu chống Thiệu để có được một Tổng-Thống trong-sạch. 


Tuy nhiên, các điểm khác nhau là: 


● “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” chỉ họp tại Chùa, sinh-hoạt ôn-hòa, bất-bạo-động, không đòi lật Thiệu, chỉ chờ đến ngày bầu-cử Tổng-Thống vào cuối năm 1975 sẽ sử-dụng lá phiếu hợp-Hiến và hợp-Pháp của mình. Trong khi đó thì “Phong-Trào Chống Tham Nhũng” rầm-rộ xuống đường, biểu-tình tuần-hành, đòi Thiệu từ-chức, và hô-hào dùng bạo-lực để lật đổ Thiệu tức-thời.

 
● “Phật-Tử Tranh-Đấu” mít-tinh ôn-hòa, không xáo-trộn trật-tự công-cộng, tiến-hành trong vòng luật-pháp cho phép, và theo truyền-thống sinh-hoạt dân-chủ tại các nước Tự-Do. Trong khi đó  thì “Giáo Dân Tranh Đấu” triệt-hạ uy-tín và hiệu-năng quyền-lực của một Tổng-Tư-Lệnh Quân-Đội đang đứng trước họng súng của quân thù, lại còn đòi dùng vũ-lực để lật đổ một Tổng-Thống dân-cử, tức là xóa bỏ Hiến-Pháp, tức là trở thành nội-phản/nội-thù của Quốc/Dân.

 
● Phía “Giáo-Dân Tranh Đấu” thì đòi trừng-phạt một cá-nhân tham-nhũng―mà tổng-số vật-sản bị lạm-chiếm so ra không đáng bao lăm đối với tài-nguyên quốc-gia, lại vẫn còn đó, rồi sẽ lấy lại, chưa mất đi đâu―trong lúc Phía “Phật-Tử Tranh Đấu” thì đặt “nợ nước trước thù nhà”, mọi người chung sức đồng lòng chống giặc trước đã, trước hết là để trì níu lại cái Cơ-Đồ Dân-Chủ đang trong cơ nguy bị vĩnh-viễn cướp mất đi.

 
Phần tôi, tôi đối-lập với chính-sách quân-phiệt của Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu―cũng như với chế-độ độc-tôn của Tổng-Thống Ngô Đình Diệm trước kia―nhưng tôi đã chọn trước tiên là làm tròn bổn-phận của một công-dân đối với Chính-Thể Cộng-Hòa.

 
Riêng về “Phong Trào Chống Tham Nhũng”, có ít nhất là ba vấn-đề quan-trọng hàng đầu mà phía “Giáo Dân Tranh Đấu” (“trả thù cho [cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm]”, theo lời trối-trăn của Diệm “Tôi chết thì trả thù cho tôi”) cố ý không đề-cập đến: 


I. Việc hạ bệ Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu: 

a/ Họ muốn đảo-chánh quân-sự, nhưng không thuyết-phục được ai, nên không thành-công. 
b/ Họ quyết hạ Thiệu, nhưng không tìm ra được một “ứng-viên” nào của “phe ta” xứng-đáng để lên thay Thiệu. Chỉ nhắm trước mắt mà không nhìn thấy xa hơn―tình-hình hậu-Thiệu―thì tức chỉ là “không lấy thì khuấy cho hôi” mà thôi.


II. Lý-do hạ Thiệu: 


1) Thiệu là thủ-phạm, đã tấn-công Dinh Gia-Long, đưa đến cái chết của Diệm.

2) Nhưng, cái tội lớn nhất của Thiệu, là đã có Đảng Dân-Chủ, lan trong quần-chúng, len trong chính-quyền, luồn trong quân-ngũ, mà lại chỉ lo gia-tăng phe-cánh cho cá-nhân mình, chứ không chịu dùng nó [như một Đảng Cần-Lao tái-sinh] để “mở-mang nước Chúa”.

III. Mục-đích đích-thực của “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”:

 
Danh-xưng thực-thụ của Nhóm này (cái đuôi mà họ cố giấu) là: “Phong trào nhân dân chống tham nhũng để cứu nước và kiến tạo hòa bình”. Toàn câu đã được ghi rõ phía dưới “Cáo Trạng số 1”, làm tại Huế, ngày 8 tháng 9 năm 1974.

Trong các hoạt-động sôi-động trước mọi người, họ cố tình nhấn mạnh mấy chữ “chống tham nhũng” mà lơ đi cái đuôi là mấy chữ “kiến tạo hòa bình”.
 
Thử hỏi: trong tình-thế dầu sôi lửa bỏng lúc bấy giờ, có ai còn có cách nào “kiến-tạo hòa-bình” khác hơn là tuân giữ “đức vâng lời”, tuân lệnh Giáo-Hoàng PhaoLô VI và ngoại-bang Vatican, bỏ súng, bắt tay với cộng-sản, rước địch vào nhà?


*    *
*


Sau Hiệp-Định Paris năm 1971, chậm nhất là kể từ sau “Mùa Hè Đỏ Lửa” năm 1972, các vụ “Bàn Thờ Phật Xuống Đường” cũng như “Tổng-Công-Kích Tết Mậu-Thân” đã là chuyện cũ, đã lùi vào dĩ-vãng rồi. 

Các ván cờ đó đã được các bên tham-dự xóa hết rồi. 


Hệ-quả có chăng là sau vụ “Bàn Thờ Phật Xuống Đường” năm 1966 thì Nhóm “Phật-Tử Tranh-Đấu” đã không còn “tranh-đấu” nữa; và sau vụ VC “Tổng-Công-Kích Tết Mậu-Thân” năm 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 thì tinh-thần chống-Cộng của Dân và Quân Miền Nam đã lên cao hơn. 
Cho nên Biến-Động Miền Trung là chuyện đã xưa rồi. 


Mới nhất, gian-xảo nhất, và nham-hiểm nhất, là chuyện Biến-Loạn Miền Trung


Trên bàn cờ thời-sự Miền Nam Việt-Nam, vào giai-đoạn cuối-cùng của lịch-sử Việt-Nam Cộng-Hòa, chỉ còn có một ván cờ mới―chung-kết và chung-quyết: 


Đối-thủ chính bên phía đối-lập với Chính-Quyền là các Nhóm “Giáo-Dân Tranh Đấu”, do đại-khối hơn 300 linh-mục trong “Phong Trào Chống Tham Nhũng” và cả đám linh-mục nằm vùng và thân-Cộng, “lãnh-đạo tinh-thần” Kitô-Giáo Việt-Nam, đứng ra thao-túng tình-hình.  Ở trên đầu và sau lưng họ là Tòa Thánh La-Mã với đích-thân Giáo-Hoàng Phaolô VI cùng với hàng chục quốc-gia chư-hầu của Vương-Quốc Vatican. 


(Nhưng quốc-gia Việt-Nam của Kitô-Giáo đâu được làm một chư-hầu. Chư-hầu là một nước nhỏ/yếu, tùng-phục một nước lớn/mạnh, để được tồn-tại, nghĩa là vẫn còn là một nước. Đằng này, chỉ một Dòng Chúa Cứu-Thế là một giáo-đoàn/chi-phái của Giáo-Hội Kitô, mà đã tự xem là một Quốc-Gia, và thu-tóm cả nước Việt-Nam làm thành một Tỉnh nội-thuộc của Nước họ rồi: 
Nguồn:<http://www.cuuthe.com/dong/dongmain.html> Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.)
 
Thế đánh cạn-tàu ráo-máng của nội-thù đã chiếu bí Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu, trực-tiếp mở đường cho ngoại-địch hạ gục đối-thủ trong nước cờ kết-thúc giữa Bắc-Việt Xâm-Lược với Việt-Nam Cộng-Hòa.

 
Vận Nước suy-đồi, mỗi người dù nhiều dù ít đều có một phần trách-nhiệm (thất-phu hữu-trách). 
  

Chỉ có những kẻ đầy thiên-kiến, mù lương-tri, có ác-ý, và không tôn-trọng Sự Thật, mới đổ hết lỗi cho một riêng ai. 

Ngày nay, mang thân-phận thất-quốc, lưu-vong, chỉ trừ những kẻ đã ở hẳn bên phía cộng-sản Việt-Nam rồi, còn thì không có “Phật-Tử Tranh-Đấu” nào mà không luyến-tiếc Việt-Nam Cộng-Hòa.
 
Trong lúc đó, có một số “Giáo-Dân Tranh-Đấu”, đến tận ngày hôm nay―đã gần 40 năm qua―mà vẫn còn tự-hào, hãnh-diện về những âm-mưu, toan-tính, nỗ-lực, và hành-động của cái-gọi-là “Phong-Trào Chống Tham Nhũng”, vì mình không những chỉ chống-phá cá-nhân Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu mà đã đạp đổ cả cơ-chế Hiến-Pháp―với Lập-Pháp, Hành-Pháp, Tư-Pháp ở trong Chính-Quyền―và các Khối, các Nhóm trong Dân-Nhân―với các Chính-Đảng và các Giáo-Hội sống dưới Chính-Thể Việt-Nam Cộng-Hòa―nói chung là Việt-Nam Cộng-Hòa.

 
Tóm lại, nếu vì một lý-do nào đó mà phải gán riêng cho đích-danh một số người nào đó là “thủ-phạm chính” quấy-rối an-ninh trật-tự công-cộng nhất, lũng-đoạn tình-hình chính-trị quốc-gia nhất, gây cho tinh-thần dân-chúng hoang-mang nhất, khiến cho ý-chí chống-Cộng của chiến-sĩ giao-động nhất, vào mấy năm cuối-cùng của Chiến-Tranh Việt-Nam―tức là đâm một nhát dao chí-tử vào Việt-Nam Cộng-Hòa khi đang hấp-hối―thì số người đó rõ-ràng, không thể chối-cãi được, phải là thành-phần cực-đoan trong Nhóm “Giáo-Dân Tranh-Đấu”―các linh-mục cộng-sản nằm vùng, tay sai và thân-Cộng, cùng với Ban Lãnh-Đạo của “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”―dù là một bộ-phận nhỏ―của giới tín-đồ Kitô-Giáo Miền Nam Việt-Nam. (các trang 472-84)


LÊ XUÂN NHUẬN
   



Thứ Năm, ngày 26 tháng 2 năm 2015

BÀ MARIA CÓ HIỆN RA TẠI LA VANG KHÔNG?

Lê Xuân Nhuận

Tòa Thánh Vatican, trong tuần-báo “L'Osservatore Romano”, tiếng nói chính-thức và có thẩm-quyền nhất của Ky-Tô-Giáo La-Mã, trong số ra ngày 12-19/8/1998, đã thành-thật và thẳng-thắn xác-quyết rằng: “Tiếc thay, không có một văn-bản tài-liệu nào chứng-minh các lần Đức Mẹ Hiện Ra Tại La Vang” chỉ vì một lý-do đơn-giản: Đức Mẹ không hề hiện ra tại La Vang!

 
Ðây là trang 3 (và phóng lớn bên tay phải) của Ấn-bản tiếng Anh của L'Osservatore Romano số 32/33 (hai số gộp môt) tuần-lễ 12/19 August 1998 nhằm vào thời-điểm kỷ-niệm 200 năm Đức Mẹ La Vang vào tháng 8 năm 1998 - Đoạn đóng khung được phóng lớn ghi rằng: “Unfortunately, there is no written documentation of these apparitions: such documents were perhaps kept in the Hué church archives, which were destroyed during two local wars: in 1833, under King Minh Mang, and in 1861 in the reign of King Tuduc. [Tiếc thay, không có văn-bản tài-liệu nào chứng-minh cho các lần (Đức Me) hiện ra (tại La Vang): các tài-liệu ấy có lẽ được lưu trong văn-khố của nhà thờ ở Huế, và đã bị tiêu-hủy trong hai cuộc chiến tại địa-phưong: vào năm 1833 dưới triều Minh Mạng, và vào năm 1861 dưới triều Tự Đức.]
Hình của Lê Xuân Nhuận – Ngoài ra, xin xem thêm http://www.miraclehunter.com/marian_apparitions/statements/lavang_statement_01.html

LỜI GIỚI-THIỆU

Nhân dịp kỷ-niệm “200 Năm Đức-Mẹ Hiện Ra Tại La-Vang (1798-1998)”, các nhân-vật tên-tuổi Ky-Tô-Giáo Việt-Nam và ngoại-quốc đã đặc-biệt biên-soạn và tham-khảo những bài tiêu-biểu tổng-lược sự-tích ấy, để làm tài-liệu căn-bản cho lịch-sử của “biến-cố” nói trên. Chúng tôi xin trích nêu ra các đoạn chủ-yếu sau đây, để độc-giả khắp nơi thưởng-lãm. - Ðức Cố LÊ


CHƯƠNG I
NGUỒN GỐC HAI TIẾNG “LA VANG”

A/  TÀI-LIỆU:
Báo “Thằng Mõ” (918 S First St, San Jose, CA 95110, USA), số 832 ra ngày 28-3-98, có đăng bài “Tinh Thần La Vang” của Trần Văn Trí.  Một trong các tiểu-mục của bài này là “Tên La Vang”:
Trong hạt Dinh Cát có một họ đạo tên là Cổ Vưu được thành-lập từ thế-kỷ 17, nay còn gọi là xứ Trí Bưu.  Người dân sống bằng nghề “làm củi” (chính-yếu là chặt những cây nhỏ dùng để nấu bếp).  Theo linh-mục Stanislaô Nguyễn Văn Ngọc, đặc-điểm trong vùng là đồng-bào Công Giáo và không-Công-Giáo đoàn-kết mật-thiết với nhau.  Từ thế-kỷ 16, dân đi làm rú, còn gọi là “đi củi”.  Họ phá một sở rẫy giữa rú xanh cách Cổ Vưu độ 7 cây số để trồng khoai sắn và cấy lúa.  Người dân đặt tên vùng đó là La Vang.
Đức giám-mục Hồ Ngọc Cẩn cho biết:  “Ban đêm, phường La Vang không có sự thinh lặng.  Đêm nào người ta cũng la lối om sòm.  Họ đánh mõ, đánh thùng rộn ràng, để đuổi các thú dữ như heo rừng, voi, cọp từ rú xanh ra phá khoai, sắn, lúa, nên người ta gọi là phường La Vang.” (Lm Lê Văn Thành: Đức Mẹ La Vang, 1955, tr. 15-16).
Nhưng giải-thích sau đây của linh-mục Philipphê Lê Thiện Bá, gốc Cổ Vưu, có cơ-sở hơn:  “Trong sổ bộ lập từ đời nhà Lê, nơi đó, tức sở rẫy của dân Trí Bưu, gọi là phường Lá Vằng, vì có nhiều cây lá vằng, một thứ cây có hột đen ăn được và lá là vị thuốc mà phụ-nữ xứ Dinh Cát dùng để uống sau khi sinh đẻ.  Về sau người dân đọc Lá Vằng ra La Vang, và nơi Đức Mẹ hiện ra được gọi là linh-địa La Vang.” (Lm Stanislaô Nguyễn Văn Ngọc: Linh-Địa La Vang, tr. 32-34 và Lm Hồng Phúc: Đức Mẹ La Vang, tr. 30-31).

B/  NHẬN-XÉT:
La Vang đã trở thành một “linh-địa”, và các nhà viết sử, chủ-yếu là các tu-sĩ Ky-Tô-Giáo, không thể không tìm hiểu và viết về nó, kể cả nguồn gốc của địa-danh này.  Nhưng ở đây lại có hai lời giải-thích khác nhau của các tu-sĩ:  một bên là giám-mục Hồ Ngọc Cẩn do linh-muc Lê Văn Thành kể lại (“La Vang”); một bên là các linh-mục Lê Thiện Bá, Nguyễn Văn Ngọc và Hồng Phúc (“Lá Vằng”).

a)  Bản-thân các tài-liệu:
          1- Tài-liệu của Lm Lê Văn Thành được xuất-bản năm 1955 (vào đầu thời-kỳ chấp-chính của tổng-thống Ky-Tô-Giáo Ngô Đình Diệm, và căn-cứ vào lời của Gm Hồ Ngọc Cẩn (“La Vang”).
          2- Tài-liệu của Lm Nguyễn Văn Ngọc được xuất-bản năm 1978 (ba năm sau khi CSVN đã chiếm Miền Nam) và căn-cứ vào lời của Lm Lê Thiện Bá, người được xem là gốc Cổ Vưu (“Lá Vằng”).
          3- Tài-liệu của Lm Hồng Phúc được xuất-bản năm 1997 (sau khi CSVN đã “đổi mới” và Giáo Hội Ky-Tô-Giáo trong nước (được CSVN chấp-thuận) đã chuẩn-bị cho đại-hội La Vang sẽ diễn ra vào năm 1998) (“Lá Vằng”).

b)  Thắc-mắc:
          1-  Báo “Saigon USA” (345 E Santa Clara St, #108, San Jose, CA 95113, USA), số 97 ra ngày 14-9-98, có đăng bài “Linh-Địa La Vang”, trong đó có đoạn:“... dưới thời hai Cha Sở: Bonin (Ninh) và Cadière (Cả). Cha này đã công-tác rất nhiều trong việc kiến-thiết Linh-Địa La Vang lúc ban đầu” (năm 1903).  Đó là vào đầu thế-kỷ 20, gần với sự-tích Đức Mẹ La-Vang hơn các tác-giả kể trên.  Lm Cadière là một học-giả người Pháp thông-thạo về Việt-Nam (hiểu biết và có thể giải-thích nhiều điều, kể cả các điển-tích lịch-sử Trung-Hoa và các ẩn-dụ văn-học trong Truyện Kiều của Nguyễn Du), là một nhân-vật nổi bật trong Hội Ái-Hữu Cố-Đô Huế (AAVH=Association des Amis du Vieux Hué) cũng như Trường Viễn-Đông Bác-Cổ của Pháp.  Hơn nữa, ông đã từng là Cha Xứ Cổ-Vưu (Trí-Bưu)coi cả La Vang.  Tại sao Lm Cadière (cha Cả) không hề nói gì về nguồn gốc hay ý-nghĩa của hai tiếng La Vang?
          2-  Giám-mục Hồ Ngọc Cẩn (theo Nguyễn Lý Tưởng trong “Linh-Địa La Vang”, là một nhà thông-thái, gốc Quảng-Trị là Tỉnh của La Vang) đã được đồng-bào cả trong lẫn ngoài Ky-Tô-Giáo biết đến.  Sau khi ông Ngô Đình Diệm chấp-chính (1954-1963), chính-quyền họ Ngô nói chung và giáo-hội Ky-Tô-Giáo Việt-Nam nói riêng đã nhắm ít nhất là hai chủ-đích: giúp cho tổng-giám-mục Ngô Đình Thục (anh của ông Diệm) được phong hồng-y bằng cách gia-tăng tín-đồ ; và phát-triển tầm quan-trọng của La Vang, vì một cảnh-trí Đức Mẹ hiện ra chắc hẳn sẽ làm cho quốc-gia sở-tại nổi tiếng khắp thế-giới và lôi-cuốn đông-đảo tín-hữu cũng như du-khách từ xa đến hành-hương.  Do đó, lời giải-thích của Gm Hồ Ngọc Cẩn (La Vang là la-lối om-sòm), hồi đó hẳn là đáng tin-cậy nhất nên Lm Lê Văn Thành đã trích dẫn và xuất-bản vào năm 1955 (là năm ông Diệm lên làm tổng-thống sau khi mới làm thủ-tướng có hơn một năm).  Hơn nữa, tại sao suốt nhiều năm trời, kể cả sau khi họ Ngô không còn, không hề có ai, nhất là trong giới tu-sĩ Ky-Tô-Giáo (thí-dụ giám-mục Lê Hữu Từ) đưa ra một lời giải-thích nào khác hơn?
          3-  Thế thì Lm Lê Thiện Bá, được xem là gốc Cổ Vưu, làm gì, ở đâu, trong lúc lời giải-thích của Gm Hồ Ngọc Cẩn đã được công-bố từ năm 1955, mà mãi đến năm 1978 (23 năm sau, và 3 năm sau khi CSVN đã chiếm Miền Nam), mới lên tiếng cãi lại rằng La Vang là Lá Vằng?
          4-  La Vang hay Lá Vằng thật ra không thành vấn-đề, mà vấn-đề chính là:  Một “tài-liệu” của một giáo-phẩm cao-cấp Ky-Tô-Giáo (giám-mục Hồ Ngọc Cẩn) xuất-bản năm 1955 (giữa thế-kỷ 20 tiến-bộ này) mà đã bị một số tu-sĩ cấp dưới (thí-dụ linh-mục Hồng-Phúc), thuộc cùng giáo-hội,  phản-bác, cho là không đúng sự thật; vậy thì làm sao tin được các “tài-liệu” khác của những người cùng giáo-hội ấy viết ra, từ một thế-kỷ chậm tiến trước đó, lui về cho đến thế-kỷ 16 xa xưa?

CHƯƠNG II
MỨC-ĐỘ KHẢ-TÍN CỦA LINH-MỤC HỒNG-PHÚC

A/  TÀI-LIỆU:
Báo “Mẹ Việt-Nam” (67 E Hedding St, San Jose, CA 95112, USA), số 102 ra ngày 15-8-98, có đăng bài “Đốt Lò Hương Cũ: Cụ Ngô-Đình Diệm và La Vang” của Lm Hồng-Phúc.

            1)  Lm Hồng-Phúc viết:  “Tập sách “Đức Mẹ La-Vang và Giáo-Hội Việt Nam”... Bản thảo của tập sách bị thất-lạc.  Cha Giuse Lê-Văn-Thành đã thu-thập lại được một ít tài-liệu, nhờ linh-mục Hồng Phúc ấn-loát gấp 10.000 quyển gởi ra trước kiệu Đại Hội lần thứ 12, tháng 8-1955.  Cuối tháng 7, tôi nhận được điện-tín của ngài cho biết máy bay không nhận chở ra Huế.  Tôi về viếng Mẹ La-Vang xin Mẹ giúp.  Chúng tôi cùng với một cha bạn quen với họ Ngô, vào xin yết-kiến Tổng-Thống.  Văn-phòng Phủ Tổng-Thống cho biết là Tổng Thống rất bận.  Họ nói với chúng tôi:  Đúng 5 giờ, Tổng Thống có thói quen ra thở không-khí trời vài phút...  Tôi nói ngay sự việc và xin Tổng Thống giúp...”

Ý-kiến:  Độc-giả không cần nhớ lại lịch-sử, vì Lm Hồng-Phúc đã viết trong một đoạn trước của cùng bài ấy: “Từ khi lên làm Tổng Thống (tháng 10-1955), mỗi lần có dịp ra Quảng Trị việc đầu tiên là tới La Vang cầu-khẩn với Đức Mẹ”.
            Việc chuyên-chở sách đạo và đại-hội La Vang xảy ra vào tháng 8-1955, vào thời-gian ấy ông Ngô Đình Diệm còn là Thủ Tướng của chính-phủ Bảo Đại (Diệm phải đợi đến ngày 23 tháng 10-1955 (hai tháng sau) mới lật đổ Bảo Đại để lên làm Tổng Thống), thế mà Lm Hồng Phúc đã gọi ông Diệm là Tổng-Thống thay vì sự thật là Thủ Tướng.

            2)  Lm Hồng-Phúc cũng viết: “Ngày 16-8-1961 Cụ đến kính viếng Đức Mẹ”.  Nhưng ông lại ghi-chú dưới bức ảnh tổng-thống Ngô Đình Diệm đang bước trên các bực cấp của nhà-thờ La Vang, đăng cạnh đó:  “Tổng-Thống Ngô Đình Diệm trong ngày Đại-Lễ Đức Mẹ La-Vang 15-8-1961”.

Ý-kiến: Tổng-Thống đến dự Đại-Hội vào ngày lễ chính, thế mà Lm Hồng Phúc không nhớ chính-xác là vào ngày nào, và cũng không thấy là mình đã ghi hai ngày khác nhau trong cùng một bài viết.

            3)  Trong một đoạn khác, Lm Hồng Phúc viết:  “Những lần Cụ đến Dòng Chúa Cứu-Thế...  Ra đi có cận-vệ, quân-cảnh, còi hụ...”.
            
Ý-kiến: Lm Hồng Phúc rõ-ràng không nhớ rằng vào thời ấy lực-lượng hộ-tống Thủ-Tướng (sau đó là Tổng-Thống) Ngô Đình Diệm là Cảnh-Sát, Công-An, và Hiến-Binh, chứ không phải là (vì chưa có) Quân-Cảnh.

B/  NHẬN XÉT:
Linh-mục Hồng-Phúc là một trong các tác-giả viết về đề-tài La Vang, nhưng ông không có trí nhớ sáng-suốt.  Ông không nhớ được những gì xảy ra lâu hơn, và chỉ chọn nhận những gì mà ông thích hơn.  Thế thì làm sao mà những bài viết của ông là đúng sự thật và đáng tin-cậy?
Hơn nữa, không phải chỉ có một mình Lm Hồng Phúc là như thế đó.


CHƯƠNG III
NHỮNG SỰ VIỆC SAU ĐÂY
XẢY RA VÀO THỜI-ĐIỂM NÀO?

I/  Phong-Trào Văn-Thân Yểm-Trợ Thành-Công Cho Nguyễn-Huệ Lên Ngôi Vua?

A)  TÀI-LIỆU:
 Báo “L'Osservatore Romano”, cơ-quan truyền-thông chính-thức của Tòa Thánh Vatican ở La Mã, số ra ngày 12/19-8-98, có đăng bài “Ky-Tô-Hữu Việt-Nam Sùng Kính Đức-Mẹ La-Vang:  Sự-Tích Đức-Mẹ Hiện Đến Với Giáo-Dân Trong Rừng La-Vang Ở Việt-Nam”, trong đó có đoạn:
Vào cuối thế-kỷ 18, lãnh-thổ Việt Nam bị chia thành 2 vương-quốc:  Đàng Ngoài thuộc quyền chúa Trịnh đóng đô ở Hà Nội; và Đàng Trong thuộc quyền chúa Nguyễn đóng đô ở Huế.  Các chúa trong Nam muốn đánh ra Bắc nên nhờ người Pháp giúp đỡ.  Nhưng có một nhóm trí-thức, gọi là Văn Thân, chống lại sự can-thiệp của người Pháp và đã thành-công trong việc giúp vua Quang Trung lên ngôi.  Ông này chiếm được miền Bắc, nhưng từ-trần sớm, để lại ngai vàng cho con là vua Cảnh-Thịnh, tuổi mới lên mười...

B)  NHẬN XÉT:
Theo “Việt Nam Sử-Lược” của Trần Trọng Kim, Tập II, Chương X (Tình-Thế Nước Nam Từ Năm Giáp-Tuất Về Sau), thì:
            Đoạn I.  Văn-Thân nổi loạn ở Nghệ An.  Tháng giêng năm giáp-tuất (1874), là năm Tự Đức thứ 27, đất Nghệ An có hai người tú-tài là Trần Tấn và Đặng Như Mai hội-tập cả các văn-thân trong hạt rồi làm một bài hịch gọi là “Bình Tây, Sát Tả”, đại-lược nói rằng:  “Triều-đình dẫu hòa với Tây mặc lòng, sĩ-phu nước Nam vẫn không chịu, vậy trước nhất xin giết hết giáo-dân, rồi sau đánh đuổi người Tây cho hết...”  Bọn Văn-Thân cả thảy độ non ba nghìn người, kéo nhau đi đốt phá những làng có đạo...
Và, trong cùng sách, cùng Tập, Chương XV (Việc Đánh Dẹp Ở Trung-Kỳ Và Bắc-Kỳ):
            Đoạn 8.  Ông Phan-Đình-Phùng mở đồn-điền ở Vũ Quang, Hà Tĩnh, rồi cho người đi sang Tàu, sang Tiêm, học đúc súng đúc đạn, để đợi ngày khởi-sự.  Sau ông ấy đứng đầu đảng văn thân để chống-cự với quân Pháp... (1893-1895)

Thiển-nghĩ vì tin vào các tài-liệu của các Ky-Tô-Hữu Việt-Nam cung-cấp mà báo “L'Osservatore Romano”, tiếng nói có thẩm-quyền cao nhất của Ky Tô Giáo, đã để độc-giả thấy rõ là không biết đúng về lịch-sử Việt Nam, nhất là về những sự việc liên-hệ mà họ kể lại.  Chỉ vì vua Cảnh Thịnh ngược-đãi tín-đồ Ky Tô Giáo, mà hội Văn Thân thì cũng hành-động như thế, cho nên bài báo ấy đã kết-hợp cả hai phía lại thành cùng một nhóm, mặc dù hai lực-lượng nói trên hiện-hữuvào hai thế-kỷ khác nhau.  Thật ra, dưới thời các vua Quang Trung và Cảnh Thịnh, vào cuối thế-kỷ 18, không có Văn Thân.  Nhóm kháng-Pháp này chỉ mới bắt đầu thành-hình sau khi quân Pháp đã chiếm lấy nhiều phần đất của Việt Nam, dưới thời vua Tự Đức, và sau khi nước Pháp đã đặt nền đô-hộ trên nước Việt Nam dưới thời vua Thành Thái, vào cuối thế-kỷ 19.
Sự-kiện lịch-sử mà bị viết sai như thế thì làm thế nào mà đúng sự thật trong những chuyện khác, như chuyện Đức Mẹ Hiện Ra Tại La-Vang?

II/  Các Cuộc Bách-Hại Ky-Tô-Giáo Tại Việt-Nam Thật-Sự Bắt Đầu Xảy Ra Vào Thời-Điểm Nào?

A)  TÀI-LIỆU: 
             1-  Theo báo “L'Osservatore Romano” thì:  “Vào tháng 8-1798, triều-thần của vua Cảnh-Thịnh ra lệnh đàn-áp Thiên Chúa Giáo.  Giáo-dân cùng với gia-đình chạy trốn vào vùng La Vang.  Một hôm, Đức Mẹ hiện ra với họ lần đầu, có bồng Đức Chúa Hài-Đồng trong tay, có hai thiên-thần vây quanh, hứa sẽ che-chở và cứu-vớt họ.  Sau đó còn có những lần hiện ra tiếp theo...”
            2-  Vào ngày 19-6-1998, giáo-hoàng John Paul II có nói:  “Kể từ 1533, nghĩa là từ khi Thiên Chúa Giáo bắt đầu truyền sang Đông Nam Á-Châu, trừ vài thời-kỳ yên-ổn, Giáo-Hội Việt Nam đã bị ngược-đãi suốt 3 thế-kỷ...”  Nhưng trước đó, linh-mục Pierro Gheddo, tác-giả “Cây Thập-Tự và Cây Bồ-Đề”, đã viết trong cuốn sách ấy:  “Thí-dụ, tại Bắc-Kỳ, các cuộc trấn-áp dữ-dội đã bắt đầu vào các năm 1696, 1713, 1721, 1778, v.v...”

B)  NHẬN XÉT:
            1-  Lm Pierro Gheddo thì viết rằng các sự kỳ-thị trở nên khắc-nghiệt vào năm 1696; báo “L'Osservatore Romano” của Vatican thì viết rằng tàn-ác nhất là vào năm 1798 nên Đức Mẹ phải hiện đến để “che chở” các tín-đồ Ky Tô Giáo tỵ-nạn tại La Vang; và giáo-hoàng John Paul II thì nói rằng các sự ngược-đãi ấy (dù có một số thời-kỳ lắng yên) đã bắt đầu từ năm 1533.
Nhưng, để tìm hiểu các cuộc đàn-áp ấy thật-sự xảy ra vào thời-gian nào (từ 1533 đến 1696), ta hãy tra-cứu các sách lịch-sử và các tài-liệu khác nữa đã được phổ-biến công-khai.

            2-  Tác-giả Ky Tô Giáo Nguyễn-Văn-Thông đã viết chi-tiết cụ-thể về các cuộc giết hại giáo-dân, nhưng chỉ kể năm 1630 là năm giết đạo gay-gắt đầu tiên.  Sử-gia không-Công-Giáo Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử-Lược, trái lại, đã kể những vụ cấm đạo xảy ra sớm hơn trước đó rất nhiều:
Năm bính-thân (1596) đời ông Nguyễn Hoàng có người giáo-sĩ Tây Ban Nha tên là Diego Adverte vào giảng đạo ở trong Nam trước hết cả.  Nhưng lúc bấy giờ lại có mấy chiếc tàu Tây Ban Nha cùng đến, chúa Nguyễn sợ có ý quấy-nhiễu gì chăng, bèn đuổi đi...  Năm bính-dần (1626) đời vua Lê Thần Tông, giáo-sĩ là Baldinoti vào giảng đạo ở ngoài Bắc, bị chúa Trịnh không cho, phải bỏ đi...  Năm tân-vị (1631) ở trong Nam, chúa Thượng là Nguyễn Phúc Lan cấm không cho người Tây vào giảng đạo ở trong nước...  Năm giáp-thìn (1644) chúa Hiền ở Miền Nam bắt giết những người đi giảng đạo ở Đà Nẵng...  Năm quí-mão ở ngoài Bắc chúa Trịnh là Trịnh Tạc bắt đuổi các giáo-sĩ và cấm không cho người mình theo đạo Gia-Tô...  Năm bính-tí (1696) đời vua Lê Hi Tông, Trịnh Cán bắt đốt phá hết cả những sách đạo và nhà đạo ở các nơi và đuổi những người giảng đạo ra ngoài nước...

            3-  Rốt cuộc, ta không tìm thấy tài-liệu về việc ngược-đãi (dù không gay-gắt) Ky Tô Giáo vào 60 năm đầu tiên, từ lúc khởi đầu giảng đạo vào năm 1533 cho đến năm 1596 (là năm chúa Nguyễn Hoàng đuổi giáo-sĩ và tàu chiến Tây Ban Nha, mặc dù không bắt và không gây thiệt-hại gì cho họ cả), chưa kể các thời-kỳ yên-ổn khác về sau.  Thế thì việc giảng đạo Ky Tô tại Việt Nam quả đã không bị trở-ngại suốt sáu thập-niên đầu tiên.  Ai nấy đều biết tại sao sau đó nó đã trở nên cay đắng.  Cho nên, đáng lẽ Vatican không nên tảng lờ về 60 năm êm-thắm đầu tiên, mà lại mập-mờ gán cho Việt Nam là vốn kỳ-thị tôn-giáo từ đầu.

III/  La-Vang Được Chọn Làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc Từ Bao Giờ?

 A)  TÀI-LIỆU:
            1-  Báo “Mẹ Việt-Nam”, số đặc-biệt 102 ra ngày 15-8-98, có đăng bài “Linh-Địa La Vang” của Nguyễn Lý Tưởng, với đoạn kết-luận như sau:  “Hội-Đồng Giám-Mục (Việt Nam) họp ngày 01-05-1980 đã chấp-thuận chọn La Vang làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc”.
            2-  Trong bài báo của Vatican đăng trên “L'Osservatore Romano” kể trên, có đoạn:  “Qua Bức Thư Chung (của Hội-Đồng Giám-Mục Nam Việt-Nam) đề ngày 8-8-61, La Vang đã được công-nhận là Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc.  Sau ngày 30-4-75, tất cả giám-mục của Việt Nam, họp tại Hà Nội ngày 1-5-80, đã long-trọng chấp-thuận việc tiếp-tục chọn La Vang làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc...

B)  NHẬN-XÉT:
            “L'Osservatore Romano” viết đúng hơn Nguyễn Lý Tưởng, vì khắp Việt Nam chỉ có một La Vang, và La Vang đã được chọn làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc vào ngày 8-8-61, cho nên các giám-mục trước kia ở Miền Bắc mà nay họp chung với các ông lâu nay ở Miền Nam thì chỉ làm có một việc hình-thức là đồng-thuận với một việc đã rồi, mà trong thâm-tâm họ đã đồng-thuận từ 8-8-61.
            Bài viết của Nguyễn Lý Tưởng rất dài, gồm nhiều chi-tiết, nhiều mặt, nhưng thiếu chính-xác về điểm nói trên:  Hội-Đồng Giám-Mục họp tại Hà Nội ngày 1-05-80 không phải chấp-thuận chọn La Vang làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc (như thể đây mới là lần đầu tiên) mà là chấp-thuận việc tiếp-tục chọn La Vang (là một việc đã được chấp-thuận và có giá-trị thi-hành từ năm 1961 rồi).  Có chăng, đây là việc được (CSVN) chấp-thuận cho chấp-thuận.

IV/  Nhà-Thờ La-Vang Đã Được Nâng Lên Hàng Vương-Cung Thánh-Đường?

A)  TÀI-LIỆU:
            Trong bài “Tinh-Thần La Vang” đăng trên báo “Thằng Mõ”, số 832 ra ngày 28-3-98, tác-giả Trần Văn Trí viết:  “Đền thờ Đức-Mẹ La Vang là Vương-Cung Thánh-Đường đã được xức dầu Thánh ngày 22-8-61 theo sắc-chỉ Tòa Thánh dưới thời Đức Giáo-Hoàng Gioan...”

B)  NHẬN-XÉT:
            Trong bài “Ky-Tô-Hữu Việt Nam Sùng Kính Đức-Mẹ La Vang” đăng trên báo “L'Osservatore Romano” nói trên, có đoạn: “Vào ngày 22-8-61, nhà thờ La Vang đã được giáo-hoàng John XXIII nâng lên hàng Tiểu-Vương-Cung Thánh-Đường.”
            La Vang chưa phải là một Vương-Cung Thánh-Đường như Trần Văn Trí viết.  Hệ-thống tổ-chức của Giáo-Hội Ky-Tô-Giáo không cho phép lẫn-lộn giữa giám-mục và tổng-giám-mục, v.v..., do đó, không thể lẫn-lộn giữa Tiểu Vương-Cung với Vương-Cung.  Sự sai lầm của Trần Văn Trí, cũng như của các người khác, quả đã góp phần gia-tăng mối nghi-ngờ về sự chính-xác của vấn-đề La Vang.

V/  Người tử-đạo đầu tiên tại Việt Nam là ai, vào thời-điểm nào?

A)  TÀI-LIỆU:
           1-  Báo “L'Osservatore Romano” ra ngày 27-6-98 có đăng lời của giáo-hoàng John Paul II:  “... Linh-mục Vincent Liem, thuộc dòng Đa-Minh, đã tử-đạo vào năm 1773; ông là người tử-đạo đầu tiên trong số 96 người tử-đạo có quốc-tịch Việt Nam...”
            2-  Báo “Thằng Mõ”, số 852 ra ngày 15-8-98, có đăng bài “Sự-Kiện La Vang: Trang Sử Tử-Đạo” của Nguyễn Văn Thông, trong đó có đoạn:
            “Năm 1630, thời-gian giáo-sĩ Đắc Lộ truyền đạo ở Đàng Ngoài, có Phan Sinh... không chịu bỏ đạo... bị đao-phủ bổ đầu làm đôi.  Phan Sinh là vị tử-đạo đầu tiên ở Đàng Ngoài và trên toàn cõi Đại Việt”.
             3-  (Ghi nhận thêm vào tháng 8 năm 2008):  Ngày 25-7-2008, "tại nhà thờ Mằng Lăng, thuộc giáo-hạt Phú Yên, giám mục giáo phận Qui-Nhơn Phê RôNguyễn Soạn đã chủ sự thánh lễ đồng tế mừng sinh nhật trên trời lần thứ 364 năm của á thánh Anrê Phú Yên, vị chứng nhân tiên khởi của Hội Thánh Việt Nam". Theo cuốn sách "Người chứng thứ nhất" của Phạm Đình Khiêm, André Phú Yên là "Chứng Nhân Tử Đạo” đầu tiên của Giáo Hội Việt Nam" (http://andrephuyen.org/home.php).

B)  NHẬN-XÉT:
           Trong bài viết (đầy những sai lầm) nói trên, trước khi kể đến trường-hợp tử-đạo của Phan Sinh, Nguyễn Văn Thông đã viết:  “Về các sử-liệu liên-hệ, chúng ta có khá nhiều để đối-chiếu một số cách trình-bày thiên-vị... với các sử-liệu như thư viết tay, sổ-sách ghi tên giáo-hữu..., những bản phúc-trình của từng khu-vực truyền-giáo gởi về Bộ Truyền-Giáo ở Roma, ở Paris, ở các nhà dòng Tên, dòng Đa Minh... có chi-nhánh ở Macao, Penang, Nhật, Phi Luật Tân, Thái Lan... đã bổ-túc cho ta biết những sự-kiện khách-quan và xác-thực hơn.  Dưới đây chỉ là đôi ba nét lấy ra từ trang sử tử-đạo của Giáo-Hội Công-Giáo Việt Nam...”
            Thế mà, trong lúc báo “L'Osservatore Romano” của Tòa Thánh Vatican đăng lời của giáo-hoàng John Paul II nói rằng “Lm Vincent Liem là người Việt Nam đầu tiên tử-đạo vào năm 1773”, thì Nguyễn Văn Thông lại xác-quyết trên báo “Thằng Mõ” rằng “Phan Sinh là người đầu tiên trên toàn cõi Việt Nam tử-đạo vào năm 1630”.
             Và Phạm Đình Khiêm thì viết rằng vị tử đạo đầu tiên của Giáo Hội Ky Tô Giáo Việt Nam chính là Anrê Phú Yên.

            Cũng thế, người nào tử-đạo đầu tiên, vào ngày tháng nào, không phải là vấn-đề chính; mà vấn-đề chính là: “tài-liệu” nào, của tác-giả nào, thuộc gốc-gác nào, là “thật-sự” chính-xác; và khi mà đã có nhiều trái nghịch với nhau như thế, thì liệu những điều nói ra, viết ra, như đã trích trên, có đáng được sự tin-cậy của mọi người hay không?

CHƯƠNG IV
ĐỨC MẸ HIỆN RA TẠI LA-VANG NHƯ THẾ NÀO?

A/  TÀI-LIỆU:
           1)  Báo “L'Osservatore Romano” của Vatican, ra ngày 12-8-98, có đăng bài “Sự-Tích Đức-Mẹ Hiện Ra Tại Rừng La-Vang Ở Việt-Nam” trong đó có đoạn:
            “... Cùng với gia-đình, các Ky Tô Hữu vào trốn trong rừng La Vang, cách xa nhà họ chừng 60 cây số.  Họ họp hằng ngày dưới một cây lớn và đọc kinh lần chuỗi vinh-danh Đức Mẹ.  Một hôm, Đức Mẹ với hai thiên-thần vây quanh và bồng Chúa Hài-Đồng trong tay, hiện ra với họ lần đầu tiên, hứa sẽ bảo-vệ và an-ủi họ.  Sau đó, còn có những lần hiện ra tiếp theo...”
            2)  Báo “Églises d'Asie” (EDA), số 270 ra ngày 1-9-98, có đăng bài “Ky Tô Hữu Hành-Hương Tại La-Vang”, trong đó có đoạn:
            ... Việc hành-hương tại La Vang bắt nguồn từ cuối thế-kỷ 18.  Năm 1798, dưới triều Tây Sơn, vua Cảnh Thịnh đã ban-hành một cuộc đàn-áp rất khắc-nghiệt khiến cho giáo-dân phải chạy trốn vào trong một thung-lũng, tập-trung cầu-nguyện ở một khoảng đất trống lẻ-loi giữa rừng dày đặc nằm về hướng Tây của Tỉnh Quảng-Trị.  Họ họp nhau quanh một bức tượng Đức Mẹ đặt trên cành của một cây đa lớn, xin đước đấng mà họ gọi là “Mẹ” an-ủi và ban cho sức mạnh.  Vào cuối thế-kỷ 19, một nhà thờ được dựng lên chỗ đó...
            3)  Báo “Thằng Mõ”, số 832 ra ngày 28-3-98, có đăng bài “Tinh-Thần La Vang” của Trần Văn Trí, trong đó có đoạn:
            ... Lm Ng. V. Ngọc kể: “Trong lúc lánh nạn tại đây, ban đêm họ họp nhau cầu-nguyện và lần chuỗi.  Bỗng nhiên họ thấy một bà đẹp-đẽ mặc áo choàng hiện ra gần một cây đa đại-thụ, mà họ nhận biết ngay là Đức Mẹ, có bồng Chúa Hài-Đồng, hai bên có hai thiên-thần cầm đèn chầu...
            4)  Báo “Mẹ Việt-Nam” số 102 ra ngày 15-8-98, có đăng bài “Linh-Địa La Vang” của Nguyễn Lý Tưởng, trong đó có đoạn:
            ... Tương-truyền Đức Mẹ đã hiện ra tại gốc cây đa cổ-thụ.  Dân làm rừng thường đến đó van-vái, về sau họ nghe nói có một Bà linh thiêng hiện ra tại đây nên họ đã đắp một cái nền dưới gốc cây đa, gọi là nền vọng, và rào chung quanh.
            5)  Báo “Saigon USA”, số 97 ra ngày 14-9-98, có đăng bài “Linh-Địa La Vang” trong đó có đoạn:
            ... Cây đa đại-thụ:  Theo cổ-truyền ngày xưa Đức Mẹ đã hiện ra gần gốc nó, nay không còn tăm dạng gì...
            ... LM Giuse Nguyễn Xuân Cảnh (Kim Long) đã ở Phó tại Cổ Vưu dưới thời hai Cha Sở: Bonin (Ninh) và Cadière (Cả)...
            ... Đến sau Cha Cadière (Cả) đã sắm một bàn kiệu...

B/ NHẬN XÉT:
            1)  Báo “L'Osservatore Romano” là cơ-quan chính-thức của Vatican, có uy-tín và khả-tín nhất, trên tất cả, đã đơn-giản kể lại việc Đức Mẹ hiện ra lần đầu như thế nào trước giáo-dân tại La Vang: bài báo không nói cụ-thể xuất-hiện ở vị-trí nào so với cây đa đại-thu, và cũng không đề-cập đến áo choàng cùng với đèn chầu.
            2)  Thư tin song-ngữ “Églises d'Asie” của các Hội Truyền-Giáo Ngoại-Quốc tại Paris, chuyên về Á Châu, cũng có tầm-vóc quốc-tế, đã không đề-cập đến việc “Đức Mẹ xuất-hiện” mà chỉ mô-tả cảnh tín-đồ Ky Tô Giáo hội họp để cầu-nguyện ở đó, với “bức tượng” của Đức Mẹ, và nói rõ là tượng ấy được đặt trên cành cây -- những chi-tiết không thấy có trong các “tài-liệu” khác.  Không có Chúa Hải-Đồng và hai thiên-thần, là những chi-tiết được xem là quan-trọng nhất trong lần hiện ra đầu tiên.
            3)  Trần Văn Trí trên báo “Thằng Mõ”, căn-cứ vào Lm Nguyễn Văn Ngọc, thì xác-nhận rằng Đức Mẹ hiện ra lần đầu (“bỗng nhiên họ thấy”) không phải trên cành, mà là gần (bên cạnh) cây đa.
            4)  Nguyễn Lý Tưởng trên báo “Mẹ Việt-Nam” thì khẳng-định rằng dân La Vang đã tụ họp ở đó để cầu nguyện trước khi họ nghe nói rằng xưa kia có một Bà Linh-Thiêng xuất-hiện ở đó, và do nghe nói như thế họ mới đắp cái “nền vọng” dưới gốc cây đa.  Ngoài ra, bài viết không đề-cập đến Chúa Hài-Đồng và hai thiên-thần, là những chi-tiết tiêu-biểu hầu như không-thể-thiếu cho sự-tích này.
            5)  Báo “Saigon USA” thì đề-quyết rằng Đức Mẹ hiện ra gần gốc cây đa.  Bài viết rất dài, tỷ-mỷ, nhưng lại không đả-động gì đến Chúa Hài-Đồng và hai thiên-thần, mà đáng lẽ phải được kể ra, nếu có, vì đó là những điểm chính quan-trọng hơn mọi nét tả linh-tinh khác.

C/  Ý-KIẾN:
            1)  Theo báo “Églises d'Asie” thì (kể từ đời Cảnh Thịnh) mãi cho đến cuối thế-kỷ 19 mới có một nhà thờ được dựng lên.  Nhưng theo Nguyễn Lý Tưởng trong “Linh-Địa La Vang” trên báo “Mẹ Việt-Nam” số 102 thì ngay từ “khoảng đầu đời Minh Mạng (1820-1840= đầu thế-kỷ 19) ba làng đồng-thuận nhường chỗ đó lại cho bên Công Giáo... và cha xứ đã cho sửa-sang nơi đó thành một nhà thờ bằng tranh.  Đây là ngôi nhà thờ đầu tiên tại La Vang.”
            2)  Các tác-giả viết về “sự xuất-hiện của Đức-Mẹ tại La Vang”, vì muốn tô vẽ thêm cho sự-tích tăng phần khả-tín mà lại chỉ căn-cứ vào cổ-truyền, lời đồn (nghe nói), đồng-thời dựa vào ấn-tượng và tưởng-tượng cá-nhân, một chiều, cho nên thiếu cơ-sở trung-thực, khiến mâu-thuẫn nhau, làm cho người đọc thấy sựbịa-đặt rõ-ràng.
            3)  Khi mà chính sự hiểu biết của giám-mục tên tuổi Hồ Ngọc Cẩn còn bị cấp dưới là linh-mục Lê Thiện Bá (cả hai đều có gốc-gác Quảng Trị) bác bỏ, và cứ như thế, thì làm sao mà người đọc có thể tin được các tác-giả khác trong cùng đề-tài, khi mà chính họ không hề đích-thân trực-tiếp tiếp-cận với các sự-việc hoặc bằng-chứng chính-xác về sự-việc lúc đang xảy ra của sự-tích “lịch-sử” này?
            4)  Tóm lại, ngay chính báo “L'Osservatore Romano” cũng đã đưa ra kết-luận, liền sau đoạn viết về sự xuất-hiện của Đức Mẹ tại La Vang: “Tiếc thay, hiện nay không có một tài-liệu viết nào viết về những lần Đức Mẹ hiện ra: những tài-liệu ấy có lẽ được lưu-trữ ở Huế và đã bị tiêu-hủy trong hai cuộc chiến địa-phương, năm 1833 dưới thời Minh Mạng, và năm 1861 dưới thời Tự Đức”* (hơn một thế-kỷ trước khi có lễ “kỷ-niệm 200 năm” này, là cơ-hội tốt để các tác-giả kể trên tha-hồ đặt điều, phịa chuyện).

            *CHÚ-THÍCH 1:
            Nguyễn Lý Tưởng trong bài “Linh-Địa La Vang” trên báo “Mẹ Việt-Nam” đã viết: “Lm Stanilas Nguyễn Văn Ngọc đã trích dẫn một đoạn trong bức thư của Lm Lôrensô Lâu, ở vùng Dinh Cát (Quảng Trị) đề ngày 17-2-1691 gởi về Roma”.  Như thế rõ-ràng là các báo-cáo từ vùng Dinh Cát (gồm có La Vang) đã được gởi về thấu tận Roma từ hơn một thế-kỷ (1691-1798) trước khi có vụ gọi là “Đức-Mẹ Hiện Ra Tại La Vang.
            Và Trần Văn Trí trong bài “Tinh-Thần La Vang” trên báo “Thằng Mõ” cũng đã viết: “Vài Nét Lịch-Sử Về La-Vang: 1717-1739: xảy ra một số xáo trộn màTòa Thánh phải trực-tiếp can-thiệp...”  Đây cũng là một bằng-chứng nữa rằng Roma đã theo dõi sít-sao tình-hình cộng-đồng Ky Tô Giáo tại La Vang hơn năm thập-niên (1739-1798) trước vụ gọi là Đức-Mẹ Hiện Ra Tại La-Vang.
            Theo-dõi nắm vững tình-hình La Vang sít-sao từng chi-tiết suốt hơn cả một thế-kỷ từ trước như thế, mà rồi vẫn không ghi-nhận được một chữ nào về biến-cố trọng-đại có tầm-vóc quốc-tế là vụ "Đức Mẹ Hiện Ra Tại La Vang", một chuyện động trời, động đất đối với giáo-hội ấy.  Tất-nhiên, ai nấy đều thấy:  sở-dĩ hiện nay không có tài-liệu viết về vụ này lưu-trữ tại Vatican, chỉ vì một lý-do quá đơn-giản:  Đức Mẹ Không Hề Hiện Ra Tại La Vang.

            *CHÚ-THÍCH 2:
            Nguyễn Lý Tưởng còn viết:  “Năm 1886 Đức Giám-Mục Caspar ở Huế mới quyết-định xây nhà thờ bằng gạch... phải mất 15 năm mới hoàn-thành.  Đại-Hội Đức-Mẹ La Vang lần thứ I và khánh-thành nhà thờ vào các ngày 6, 7 và 8 tháng 8 năm 1901.
            Vậy thì trong suốt thời-kỳ 15 năm này (từ 1886 đến 1901), hơn 88 năm sau vụ gọi là “Hiện Ra” vào năm 1798 (1798-1886), và ít nhất là 25 năm sau lần “tài-liệu bị tiêu-hủy dưới thời Tự Đức” vào năm 1861 (1861-1886), tại sao không có người nào tìm ra được một tài-liệu nào khả-tín, nếu có, về sự xuất-hiện của Đức Mẹ tại La Vang?

*
*    *

            Vấn-đề bây giờ là:  những chi-tiết mới được thêm-thắt trong các bài viết dẫn trên, nếu không được làm sáng tỏ, thì hẳn là sẽ bị sử-dụng như là “tài-liệu căn-bản”, “bằng-chứng lịch-sử” để tiếp-tục lưu-truyền Sự Giả (nghịch với Sự Thật) cho các thế-hệ con cháu của chúng ta trong tương-lai.

CHƯƠNG V
CÓ AI TẬN MẮT TRÔNG THẤY
ĐỨC MẸ HIỆN RA TẠI LA-VANG?


I/  "NGÔI CHÙA THÀNH NHÀ CHÚA" TRONG HOÀN-CẢNH NÀO?

A)  TÀI-LIỆU:
            Trong bài “Tinh-Thần La Vang” đăng trên báo “Thằng Mõ”, số 832 ra ngày 28-3-98, tác-giả Trần Văn Trí viết:
            Vào đầu thế-kỷ 19, tiếng đồn về Đức Bà linh thiêng lan rộng khắp nơi.  Trong những năm đầu 1820-1840, các người Công Giáo thuộc các làng Ba Trừ,Cổ Thành và Thạch Hãn có chung nhau xây một ngôi chùa ngay tại nơi Đức Mẹ hiện ra, gọi là chùa Ba Làng.  Nhưng sau đó họ bàn tính lại với nhau và đồng thuận rằng Đức Bà hiện ra là “bên giáo”, nên họ đã nhường ngôi chùa lại cho bên Công Giáo và các gia-đình Công Giáo tu sửa “ngôi chùa thành nhà Chúa” (Lm Hồng Phúc: Đức Mẹ La-Vang, tr. 35).

B)  NHẬN XÉT:
            1-  Ta hãy tìm hiểu xem “ngôi chùa đã trở thành nhà Chúa” trong tình-hình nào.  Báo “Thằng Mõ”, số 852 ra ngày 15-8-98, có đăng bài “Sự-Kiện La Vang: Trang Sử Tử-Đạo” của tác-giả Nguyễn Văn Thông, trong đó có đoạn:
            Giám-mục Tabert ghi lại rằng, giáo-hội Miền Nam, khi vua Minh Mạng ra chỉ-dụ cấm đạo, đã có hàng trăm giáo-hữu bị bắt giam tù, bị tra-tấn và bị án lưu-đày hoặc xử-tử...
                        a.  Trong năm 1832, Chỉ-huy-trưởng đoàn quân hộ-vệ cho vua Minh Mạng là Tống Viết Bường cùng với những sĩ-quan và binh-sĩ cấp dưới bị bó-buộc ký giấy xuất-giáo.  Ông Bường và 12 người không chịu ký.  Họ bị truyền phải mang gông và đánh đòn...  Đầu roi chì quất xuống xé thịt văng ra...  Trước cực-hình dã-man ấy, sáu binh-sĩ không chịu nổi...  Ông Bường và sáu người khác chịu tù ngục và tra-tấn cho tới cùng rồi bị mang đi chém đầu vào tối ngày 23-10-1833 ở Thợ Đúc, Huế (Bùi Đức Sinh: Giáo-Hội Công Giáo ở VN, tập III, trg 46-47).
                        b.  Ngày 8-9-1835, giáo-sĩ Marchand bị bắt tại Gia Định, bị đóng cũi như một con vật mang về Huế cùng với Lê Văn Viên 7 tuổi, con của Lê Văn Khôi...  Giáo-sĩ bị khép tội cùng với Lê Văn Khôi làm loạn chống lại triều-đình Minh Mạng...  Lí-hình liền lấy kìm trong lò lửa kẹp mạnh vào hông giáo-sĩ, thịt cháy xèo bốc khói...  Ngài và ba người bị khép tội đồng-lõa cùng với em Viên phải án lăng-trì.  Họ bị lột hết quần áo, bị trói vào cáng điệu đến pháp-trường ở nhà thờ họ Thợ Đúc...  Lí-hình lấy kìm kẹp từng miếng thịt lôi ra cho một lí-hình khác cầm dao phay cắt miếng thịt ấy.  Chúng bắt đầu bằng việc cắt dương-vật của người tử-tội trước, rồi đến hai miếng thịt vú, hai miếng bả vai, cắt hai tay, hai bên đùi rồi hai bắp vế...  cho đến khi còn lại bộ xương dính những sợi thịt đỏ lòm.  Sau đó lí-hình chặt đầu vị giáo-sĩ... tháo giây trói cho xác ngã sấp xuống đất, lấy búa chặt thành bốn khúc theo bề ngang rồi bổ mỗi khúc làm đôi theo bề dọc...  Đầu của giáo-sĩ Marchand được mang đi các tỉnh treo ở chợ, sau đó bỏ vào cối mà xay (Phan Phát Huờn: Louvet: La Cochinchine Religieuse, QII, trg. 92) và nhiều, nhiều vụ khác.

            2-  Thời-kỳ 1820-1840 mà tác-giả Trần Văn Trí kể trên, rơi đúng vào chính triều-đại Minh Mạng, giai-đoạn bách-hại Ky Tô Giáo khắc-nghiệt như thế.  Và sử-gia Trần Trọng Kim đã viết trong “Việt Nam Sử-Lược”: “Lúc bấy giờ không phải là một mình vua Thánh Tổ ghét đạo mà thôi, phần nhiều những quan-lại cũng đều một ý cả cho nên sự cấm đạo lại càng nghiệt thêm.”  Lê Văn Khôi và đồng-đảng hùng mạnh đến độ chiếm được 6 tỉnh Miệt Trong chỉ trong một tháng, vàcố-thủ thành Gia-Định suốt 3 năm trờiở tận miền Nam xa vời; thế mà Minh Mạng cũng đã dẹp tan và trừng-trị được, khủng-khiếp như trên.  Vậy thì một nhóm giáo-dân Ky Tô Giáo tay không, ẩn trốn cách kinh-đô và ảnh-hưởng của nhà vua chỉ trong 60 cây số (Huế - Quảng-Trị), làm sao không bị phát-hiện*1, mà còn công-khai tu sửa ngôi chùa thành nhà Chúa, trong khi các cuộc giết đạo vẫn còn tiếp-diễn thêm 40-60 năm nữa (cho đến khi Pháp đến, vào thập-niên 1880)?

            *CHÚ-THÍCH 1a:
            Lưu ý:  “Tiếng đồn về Đức Bà linh thiêng lan rộng khắp nơi”, và dân La Vang (gồm cả người không-Công-Giáo) thì sống bằng nghề đốn củi đem bán cho cả các làng (không Công Giáo) bên ngoài La Vang.

            *CHÚ-THÍCH 1b:
            Giám-mục Tabert viết về các sự việc xảy ra trong khoảng 1820-1840 trong một nước Việt Nam đã được thống-nhất từ hơn hai mươi năm trước (Gia Long lên ngôi từ năm 1802) mà vẫn mô-tả đó là Miền Nam (lúc còn sông Gianh của thời Trịnh Nguyễn phân-tranh).  Tabert lại còn không nhớ địa-danh Phường Đúc mà gọi nó là Thợ Đúc.  Làm sao tin được bài viết của Gm này?

            3-  Nếu Đức Mẹ thực-sự hiện ra tại La Vang năm 1798, tại sao giáo-dân phải đợi cho đến 22-42 năm sau (1820-1840) mới nghe tiếng đồn, mới xây ngôi chùa, rồi sau mới bàn với nhau rằng Bà linh-thiêng*2 hiện ra là “bên*3 giáo”?  Hơn nữa, chính họ là “dân Ky Tô Giáo từ 3 làng Ba Trừ, Cổ Thành và Thạch Hãn” đã xây ngôi chùa ấy, tại sao họ không nói hẳn ra (đại-khái: "đến nay thì chúng ta đã có thể chính-thức công-nhận nó là nhà Chúa, vì Bà hiện ra đích-thực là Đức Mẹ Maria"), và báo cho bên không-Công-Giáo biết như thế"), chứ cần gì phải chờ về sau mới bàn (giữa dân Công Giáo) với nhau rằng Bà ấy là của "bên Công Giáo"?  Tóm lại, tất cả chỉ thuần-túy là tin đồn, và không có ai tận mắt trông thấy Đức Mẹ hiện ra ở La Vang!

            *CHÚ-THÍCH 2:  Bên Phật-Giáo cũng có một Bà:  Đức Phật Bà Quán-Thế-Âm.
            *CHÚ-THÍCH 3:  Từ-ngữ “bên” cho thấy là có ít nhất 2 bên liên-can trong hiện-vụ, và cách dùng chữ lương-thiện như thế chứng-tỏ là bên không-Công-Giáo trước đó cũng đã có nhìn-nhận ngôi chùa là của bên Phật-Giáo rồi.

II/  TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO NGƯỜI TA BẮT ÐẦU NGHE NÓI ÐẾN VIỆC ÐỨC MẸ HIỆN RA TẠI LA VANG?

A)  TÀI-LIỆU:
            Trong bài “Linh-Địa La Vang” đăng trên báo “Mẹ Việt-Nam”, số 102 ra ngày 15-8-98, tác-giả Nguyễn Lý Tưởng viết:
            1-  Năm 1797, nhân khi thủy-quân của Nguyễn Ánh tiến ra tận cửa bể Tư Dung (cửa Tư Hiền) thuộc tỉnh Thừa Thiên, thì Lê Văn Lợi, một vị quan của Tây Sơn đã đề-nghị vua ra lệnh bắt hết người Công Giáo và các linh-mục, lấy lý-do dân theo đạo ủng-hộ Nguyễn Phúc Ánh...  Vua Cảnh-Thịnh đã ra mật-lệnh cho các địa-phương hẹn đến tháng 5-1798 sẽ bắt và giết tất cả giáo-dân cũng như linh-mục, không để sót người nào...  Đức giám-mục Jean De Labartelle lúc đó đang trốn tránh ở làng Di Luân (Quảng Trị)...  Tin đó được loan truyền ra trong giới Công Giáo và dân theo đạo ở các làng Trí Bưu, Thạch Hãn, Hạnh Hoa bèn chạy vào miền núi La Vang để ẩn núp.  Và chính trong thời-gian đó Đức Mẹ đã hiện ra với họ.
            2-  Tương-truyền Đức Mẹ đã hiện ra tại gốc cây đạ cổ-thụ.  Dân làm nghề rừng thường đến đó van vái, về sau họ nghe nói có một Bà linh thiêng hiện ra tại đây nên họ đã đắp một cái nền dưới gốc cây đa gọi là nền vọng và rào chung quanh.  Khoảng đầu đời Minh Mạng, 1820, dân ba làng Thạch Hãn, Ba Trừ vàCổ Thành chung nhau làm một ngôi miếu nơi đó, về sau họ nghe nói ngày xưa có một Bà bên đạo hiện ra ở chỗ đó nên cả ba làng đồng thuận nhường chỗ đó lại cho dân bên đạo Công Giáo.  Giáo-dân thời đó đã đem việc này trình cho vị linh-mục ở xứ Trí Bưu (Cổ Vưu) và cha xứ*4 đã cho sửa-sang nơi đó thành một nhà thờ bằng tranh.  Đây là ngôi nhà thờ đầu tiên tại La Vang.
            3-  Vua Đồng-Khánh lên ngôi (1885, vào cuối thế-kỷ 19), chủ-trương tìm kiếm hòa-bình...  Cũng trong thời-điểm này, cha xứ Trí Bưu (Cổ Vưu) đã hỏi những giáo-hữu lớn tuổi trong giáo-xứ khi đến giờ lâm-chung, chịu phép giải tội và xức dầu thánh*5, rằng: “Con phải thề nói sự thật, con có nghe cha mẹ, ông bà trước kia nói gì về sự-tích Đức Mẹ hiện ra tại La Vang không?”  Tất cả những người đó đều trả lời: “Có” và “chuyện xảy ra đã gần 100 năm rồi.”  Đức Mẹ đã hiện ra trước đó khoảng 100 năm.  Bằng-chứng là năm 1886 (88 năm, sau năm 1798) Đức Cha Caspar (Lộc) ở Huế đã quyết-định xây đền thờ kính Đức Mẹ hiện ra, theo cha mẹ, ông bà kể lại, cách nay cả trăm năm, (tức là vào cuối thế-kỷ 18, dưới thời Tây Sơn).

B)  NHẬN XÉT:
            1-  Pigneau vừa là giám-mục (cao-cấp trong giới truyền-giáo của đạo bị cấm) vừa là người Pháp (ngoại-quốc cướp nước), lại giúp kẻ thù là Nguyễn Phúc Ánh và lãnh-đạo các tín-đồ tại địa-phương; thế mà vua Cảnh-Thịnh lại nhắm vào các giáo-dân (là người chạy theo) trước cả các kẻ cầm đầu?  Ngoài ra, giám-mụcJean De Labartelle có mặt tại làng Di Luân, Quảng-Trị, tỉnh của La Vang, thế mà không hề viết gì làm chứng về vụ gọi là Đức Mẹ hiện ra ngay vào lúc đó (1798) tại La Vang trong vùng hoạt-động của mình.

            2-  Lạ-lùng hơn nữa là ngay chính các giáo-dân từ 3 làng Trí Bưu (vâng, Trí Bưu tức Cổ Vưu), Hạnh Hoa và Thạch Hãn, là những tín-đồ Ky Tô Giáo đã chạy đến tị-nạn tại La Vang và được kể là đã thấy Đức Mẹ hiện ra hứa che chở họ ngay chính vào lúc Đức Mẹ hiện ra (năm 1798), thì lại không lập, dù chỉ là một cái bàn, để thờ Đức Mẹ; mà phải chờ đến hơn hai mươi năm về sau (1820-1840) để các cư-dân thuộc nhiều tín-ngưỡng khác nhau của 2 làng khác, Ba Trừ và Cổ Thành, đến đó cùng với làng Thạch Hãn của La Vang đứng ra làm một ngôi chùa đặt tên là Chùa Ba Làng (dù cho có bài viết là ngôi miếu), để thờ một Bà mà họ thấy là không phải Đức Bà của Ky Tô Giáo (cho đến về sau khi họ nghe nói rằng đó là Đức Mẹ họ mới "nhường lại" cho bên Công Giáo).

            *CHÚ-THÍCH 4:  Có đáng tin không: dưới triều Minh Mạng, khi sự cấm đạo ngày càng gắt-gao, hằng trăm giáo-dân đã bị bắt, giết (kể cả giáo-sĩMarchand ở tít từ trong Gia Định), mà vẫn còn có một cha xứ hiện-diện bên ngoài vùng ẩn-nấp La Vang, để các tín-đồ từ trong đó ra tiếp-xúc và báo-cáo tình-hình?
            *CHÚ-THÍCH 5:  Có đáng tin không: khi có cha xứ Trí Bưu (gồm cả La Vang, là nơi ẩn-trú của giáo-dân từ 3 làng nói trên và từ nhiều vùng khác nữa, thí-dụ “cách đó 60 cây số” nghĩa là từ Huế) mà cha xứ ấy không nghe biết gì về tin đồn truyền ra từ 1798 cho đến hơn hai thập-niên về sau (1820-1840) mới nghevề việc có Bà linh-thiêng hiện ra cách đó chỉ 4 cây số, và dân đến báo là đã “đồng thuận nhường chỗ đó lại cho bên Công Giáo”?

            3-  Giám-mục Caspar là người quyết-định xây đền thờ kính Đức Mẹ vào năm 1886 (sau khi thực-dân Pháp đã đô-hộ Việt-Nam từ 1884), tức là ông đã hoàn-toàn tự-do trong tình-hình mới (giáo-dân Ky Tô Giáo vươn lên), nghiên-cứu kỹ-càng về biến-cố này; thế mà ông cũng không hề lưu lại một bút-tích nào (dù là báo-cáo chính-thức gửi về Tòa Thánh hay là nhật-ký cá-nhân, thư riêng) về vụ Đức Mẹ hiện ra tại La Vang: phải chăng vì ông cũng thấy vụ đó là không đáng tin?

            4-  Người đọc thấy ngay là cha xứ Trí Bưu đã lợi-dụng giờ phút lâm-chung của người già-cả, muốn “hồn được lên thiên-đường”, mà sợ không được cha xứ cho lên, nên bắt họ phải thề*6 là có nghe ông bà cha me trước kia kể lại, chuyện đã xưa gần trăm năm...  Chỉ cần có một tiếng “Có!” giản-dị, không cần chi-tiết gì cả.  Tại sao việc này không được thực-hiện trước năm 1885, khi mà trước đó giáo-dân La Vang đã có thể công-khai biến nhà chùa thành nhà Chúa (1820-1840), suốt 40-60 năm qua?  Và tại sao cha xứ không hỏi các giáo-dân mạnh-khỏe trẻ-trung?  Chắc-chắn lý-do là vì “sáng-kiến” này mới được nảy-sinh vào năm 1885 (Đồng-Khánh lên ngôi), họ tính là không còn ai đủ già để biết và để cãi lại sự việc cho là xảy ra đã gần trăm năm.

            *CHÚ-THÍCH 6:  Cha xứ bắt thề như thế là để căn-cứ vào đó mà lập hồ-sơ về chuyện hiện ra, và sở-dĩ thế là vì từ 1798 đến 1885 (Đồng Khánh thân-Pháp lên ngôi) ròng-rã 87 năm, không hề có một hồ-sơ tài-liệu nào cả về chuyện Đức Mẹ Hiện Ra, dù cho sau này người ta nói là hiện ra vào năm 1798, nhường ngôi chùa lại cho bên Công Giáo vào khoảng 1820-1840.  Và tại sao lại không có một tài-liệu nào, khi mà ít nhất là một bức thư của linh-mục Lôrensô Lâu về việc viếng thăm Cổ Vưu (Trí Bưu) đã được gửi về La Mã từ thời 1691 (hơn một trăm năm về trước), và khi mà Tòa Thánh Vatican đã có thể trực-tiếp giải-quyết chuyện nội-bộ La Vang từ thời 1717-1739 (hơn nừa thế-kỷ về trước)?

            Xin thưa:  là vì thật ra không hề có việc Đức Mẹ (của Ky Tô Giáo) hiện ra tại La Vang.
            Về vấn-đề này, tôi đã có đọc được một tài-liệu từ trước năm 1975. Sau khi cộng-sản kiểm-soát Miền Nam, một chiến-dịch gọi là “bài-trừ văn-hóa-phẩm nô-dịch và đồi-trụy” đã được phát-động, và tôi mất hết tủ sách của mình.
            Vào đầu năm 1998, nhất là sau khi Giáo-Hoàng John Paul II vào ngày 19-6-1998 công-khai nhìn-nhận tầm quan-trọng của “Đức Mẹ La Vang” và tỏ ý muốn tái-thiết nhà thờ La Vang để kỷ-niệm 200 năm ngày “Đức Mẹ” hiện ra lần đầu tiên, tôi đã phổ-biến một bài-viết trên một số diễn-đàn liên-mạng, tôi nhớ trong đó có diễn-đàn tiếng Anh vnforum@vnforum.org của Tiến-Sĩ Trần Đình Hoành, để bác-bỏ câu trả lời “Có” của các tín-đồ già đang hấp-hối khi Cha Xứ Trí Bưu hỏi là có nghe nói gì về sự hiện ra của “Đức Mẹ” hay không, rồi Cha Xứ căn-cứ vào đó mà báo-cáo về các lần hiện ra.  
            Sau đó hai tháng, chính Giáo-Hoàng John Paul II, trên tờ “L'Observatore Romano” ra ngày 12-8-1998 đã thành-thực và thẳng-thắn xác-quyết rằng: Tiếc thay, hiện nay tại Tòa Thánh không có một văn-kiện nào về các lần “Đức Mẹ” hiện ra ở La Vang. (Phải mất một thời-gian sau tờ báo ấy mới tới tay độc-giả Việt-Nam.)
            Ngẫu-nhiên, vì quá hăng say trong việc góp phần tích-cực của mình vào ngày đại-lễ Kỷ-Niêm 200 Năm, một nhân-vật Ky-Tô-Giáo liên-hệ là Ông Nguyễn Lý Tưởng vào ngày 15-8-1998 đã cho đăng báo bài-viết trích trên: “cha xứ Trí Bưu (Cổ Vưu) đã hỏi những giáo-hữu lớn tuổi trong giáo-xứ khi đến giờ lâm-chung, chịu phép giải tội và xức dầu thánh rằng: “Con phải thề nói sự thật, con có nghe cha mẹ, ông bà trước kia nói gì về sự-tích Đức Mẹ hiện ra tại La Vang không?”  Tất cả những người đó đều trả lời: “Có” và “chuyện xảy ra đã gần 100 năm rồi.” Đức Mẹ đã hiện ra trước đó khoảng 100 năm.
            Vì sợ không được Cha Xứ cho lên Thiên Đàng, các “chứng-nhân” sắp lìa đời ấy đã phải trả lời là “Có” nghe nói về các lần “Đức Mẹ” hiện ra, cả trăm năm trước, rất lâu trước lúc chính họ được sinh ra đời (chứ họ không đích-thân thấy). Điều đó giải-thích lý-do tại sao Tòa Thánh Vatican phủ-nhận các lần “Đức Mẹ” hiện ra tại La Vang.

            Tuy thế, họ vẫn chống-chế cho rằng các tài-liệu ấy có lẽ đã bị tiêu-hủy dưới thời Minh Mạng, Tự Đức*7:  Họ giả-vờ coi như không có ai có thể gửi gì ra khỏi xứ Huế và nước Việt Nam trong suốt 42 năm trường (từ 1798, đến 1840 là năm Minh Mạng qua đời); họ đã quên mất thời-gian 18 năm (1802-1819) dưới thời Gia Long, mà vì mang ơn người Pháp nên vua không nặng vấn-đề cấm đạo; hơn nữa, họ đã tảng-lờ tình-trạng người Pháp đô-hộ Việt Nam hơn 60 năm(1884-1945) và coi như các phần-tử thực-dân Ky Tô Giáo này không biết phụng-vụ Đức Mẹ ngay tại thuộc-địa của mình, nhất là sau khi đã có những vụ hiện ra tại Lourdes ở Pháp năm 1858 và tại Fatima ở Bồ Đào Nha năm 1917!

            5-  Ta cũng gặp được một óc tưởng-tượng khác người:  Trong khi các bài viết khác nói rằng mãi đến 1820-1840 giáo-dân Ky Tô Giáo tại La Vang mới nghe tiếng đồn về việc Đức Mẹ hiện ra ngày xưa, thì tác-giả Trần Văn Trí trong bài “Tinh-Thần La Vang” đăng trên báo “Thằng Mõ" số 832 lại viết:  “Bỗng nhiên (trong năm 1798) họ thấy một bà đẹp-đẽ mặc áo choàng hiện ra gần một cây đa đại-thụ, mà họ nhận biết ngay là Đức Mẹ.
            Những “nhân-chứng” ấy nhận biết ngay tại chỗ vào năm 1798 rằng đó chính là Đức Mẹ, thế mà giáo-dân phải đợi cho đến 22-42 năm sau (1820-1840)mới nghe tiếng đồn, mới xây ngôi chùa, mà cũng chưa bàn là Bà linh-thiêng thuộc về "bên ta"; và trong lúc đó (1798) chính giám-mục Jean De Labartelle có mặt tại tỉnh địa-phương, thế mà không có một chứng-tích nào, tài-liệu viết nào của ông về sự-kiện ấy được lưu hồ-sơ.  Chỉ nội một chi-tiết đó đã đủ để vô-hiệu-hóa tất cả các chi-tiết khác về vụ hiện ra.

            Cũng như trong các bài viết khác, tất cả chỉ là nghe nói, tiếng đồn, tương-truyền, và mỗi lần lại mỗi khác nhau và mâu-thuẫn nhau.

            6-  Ta lại có thêm một nguồn ngoại-sử qúy-báu, không phải là về Đức Mẹ mà là về Cây Đa:  linh-mục Pierro Gheddo viết về sự-tích Đức Mẹ hiện ra tại La Vang cũng như các sự ngược-đãi Ky Tô Giáo tại Việt Nam, đã đặt nhan đề cho sách của mình là “The Cross and the Bo-Tree” (Cây Thập-Giá và Cây Bồ-Đề).
            Lm Pierro Gheddo quả đã thực-tế gọi hẳn cây đại-thụ là cây bồ-đề thay vì cây đa.  Cây Bồ Đề thông-thường là cây của nhà chùa, của Đức Phật; và lẽ tất-nhiên Đức Mẹ Maria của Ky Tô Giáo không bao giờ muốn đến gần, nói gì dùng nó làm điểm tiếp-cận để xuất-hiện trước tín-đồ của mình!
            Dù sao, cây đa ở đây hẳn thuộc về bên không-Công-Giáo, dù là hồi đó hay là bây giờ; và dân La Vang đến đó cầu-nguyện là dân đa-tín, tin thờ nhiều thần (kể cả ma quỷ, là những hình bóng chập-chờn thỉnh-thoảng hiện ra nơi các cây đa), rất lâu trước khi có dân Ky Tô Giáo đến đó tị-nạn rồi sau mới nghe tiếng đồnvề Bà linh-thiêng...

            7-  Tác-giả Trần Văn Trí trong “Tinh-Thần La Vang” đăng trên báo “Thằng Mõ”, số 832 ra ngày 28-3-98, viết:  “Hội-Đồng Giám-Mục Việt-Nam trong phiên họp ngày 13-4-61 đã cho đền thờ Đức-Mẹ La Vang làm Đền Thờ Toàn-Quốc Dâng Kính Trái Tim Vô-Nhiễm Đức Mẹ và nhận Linh-Địa La Vang làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc.”  Báo “L'Osservatore Romano” của Vatican ra ngày 12/19-8-98 thì viết rằng : “Trong bức thư chung ngày 8-8-61 của các giám-mục Việt Nam, La Vang được chọn làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc.”
            Vậy là ngày 13-4-61 hay ngày 8-8-61?).

            *CHÚ-THÍCH 7:  Họ nói là các bút-tích về vụ Đức Me hiện ra có lẽ đã được giữ trong hồ-sơ của nhà thờ Huế và bị thiêu-hủy trong hai cuộc chiến địa-phương: vào năm 1833 dưới thời Minh Mạng, và vào năm 1861 dưới thời Tự Đức.  Thật ra, trong năm 1833 có việc triều-đình dẹp loạn Nông Văn Vân ở Lạng-Sơn & Cao-Bằng ngoài Bắc, và loạn Lê Văn Khôi ở Gia-Định trong Nam; và trong năm 1861 có quân Pháp và I Pha Nho đến đánh Quảng-Nam, xúi Tạ Văn Phụng ra Bắc dấy binh ở Quảng-Yên; nhưng trong các thời-điểm ấy ở kinh-đô Huế thì vẫn bình yên: làm sao mà hồ-sơ nhà thờ ở Huế bị thiêu-hủy được.  Huống nữa, hồ-sơ vụ này không phải chỉ có ở Huế mà thôi.
             Chính tác-giả Nguyễn Văn Thông đã viết:  “Về các sử-liệu liên-hệ, chúng ta có khá nhiều để đối-chiếu... với các sử-liệu như thư viết tay, sổ-sách ghi tên giáo-hữu..., những bản phúc-trình của từng khu-vực truyền-giáo gởi về Bộ Truyền-Giáo ở Roma, ở Paris, ở các nhà dòng Tên, dòng Đa Minh... có chi-nhánh ởMacao, Penang, Nhật, Phi Luật Tân, Thái Lan..."
            Và, như tác-giả Nguyễn Lý Tưởng đã viết: “Lm Stanilas Nguyễn Văn Ngọc đã trích dẫn một đoạn trong bức thư của Lm Lôrensô Lâu, về việc viếng thămCổ Vưu (Trí Bưu) ở vùng Dinh Cát (Quảng Trị) đề ngày 17-2-1691 gởi về Roma”:  Như thế rõ-ràng là các báo-cáo từ vùng Dinh Cát (gồm có La Vang) đã được gởi về thấu tận Roma từ hơn một thế-kỷ (1691-1798) trước khi có vụ gọi là “Đức-Mẹ Hiện Ra Tại La Vang.  Lại nữa, tác-giả Trần Văn Trí cũng đã viết: “Vài Nét Lịch-Sử Về La-Vang: 1717-1739: xảy ra một số xáo trộn mà Tòa Thánh phải trực-tiếp can-thiệp...”:  Như thế hiển-nhiên là, lần này nữa, Tòa Thánh đã nắm vững tình-hình La Vang từ hơn nửa thế-kỷ (1739-1798) trước vụ "hiện ra".
             Do đó, tài-liệu viết về sự xuất-hiện của Đức Mẹ tại La Vang, nếu có, thì phải đã có tại Tòa Thánh Vatican ngót một thế-kỷ rưỡí, trước cuộc chiến đầu tiên trong 2 cuộc chiến 1833  1861 mà báo L'Osservatore Romano của Tòa Thánh đổ lỗi là có lẽ đã tiêu-hủy hết hồ-sơ liên-quan.

            8-  Tóm lại, người đọc có thể kết-luận rằng:  trong ngót một thế-kỷ rưỡi sau vụ gọi là Đức Mẹ hiện ra (từ 1798 đến 1945), cả thực-dân Pháp lẫn các chức-sắc Ky Tô Giáo thuộc nhiều quốc-tịch khác nhau đã rất lương-thiện, vì họ không hề chính-thức công-nhận (bằng lời nói, chữ viết lưu lại) mà chỉ chiều theo tương truyền trong giới giáo-dân địa-phương mà thôi về sự "hiện ra" của Đức Mẹ tại La Vang, bởi lẽ chuyện đó là vô căn-cứkhông có người nào tận mắt trông thấy Đức Mẹ hiện ra.  Và chỉ đến khi giáo-dân Ngô Đình Diệm lên làm thủ-tướng, rồi tổng-thống, của Việt Nam Cộng-Hòa (1954-1963) thì chuyện hiện ra mới được làm to lớn lên (nhưng nay thì chính Tòa Thánh Vatican đã phủ-nhận rồi - xin xem Phần VIII).

           Rõ-ràng lập-trường của Vatican trong vụ nhà thờ La Vang là chỉ dựa vào báo-cáo và đề-nghị của các thừa-sai tại địa-phương, mà giai-đoạn này thì họ chịu hoàn-toàn ảnh-hưởng của Tổng-thống Ngô Đình Diệm và Tổng Giám-Mục Ngô Đình Thục của Miền Nam Việt-Nam.

CHƯƠNG VI
LINH-MỤC TRẦN HỮU THANH &
TỔNG-GIÁM-MỤC NGUYỄN VĂN THUẬN
NÓI GÌ VỀ VỤ NÀY?

I/  TIỀN-ÐỀ
Đức-Mẹ Hiện Ra Tại La-Vang Vào Lúc Nào, Trong Hoàn-cảnh Nào?

A)  TÀI-LIỆU:
            1-  Theo L'Osservatore Romano, “tháng 8-1798, triều-thần của vua Cảnh-Thịnh (Tây-Sơn) ra lệnh đàn-áp Ky Tô Giáo.  Giáo-dân cùng với gia-đình chạy trốn vào rừng La Vang...  Một hôm, Đức Mẹ hiện ra.”
            2-  Theo Nguyễn Lý Tưởng, “vua Cảnh-Thịnh đã ra mật-lệnh cho các địa-phương hẹn đến tháng 5-1798 sẽ bắt và giết tất cả giáo-dân cũng như linh-mục, không để sót người nào...  Dân theo đạo ở các làng Trí Bưu, Thạch Hãn, Hạnh Hoa bèn chạy vào miền núi vùng La Vang để ẩn núp.  Chính trong thời-gian đó, Đức Mẹ đã hiện ra với họ.”
            3-  Theo Trần Văn Trí, “năm 1798, đời Cảnh-Thịnh, giáo-dân phải trốn tránh vì những lệnh bắt giáo-sĩ, thu ảnh-tượng, rỡ nhà thờ, đàn áp giáo-dân... là năm Đức Mẹ hiện ra ở La Vang.”

B)  NHẬN XÉT:
            Không kể một số chi-tiết khác nhau, ta hãy căn-cứ vào bài thuyết-giảng của tổng-giám-mục Nguyễn Văn Thuận tại Anaheim Convention Center (Nam California) hôm 22-2-98 “mỗi lần Đức Mẹ hiện ra nơi nào là để báo trước một biến-cố sắp-sửa xảy đến cho nhân-loại” để hiểu ý của ông rằng: ĐỨC-MẸ HIỆN RA TẠI LA-VANG VÀO THÁNG 8-1798 DƯỚI TRIỀU VUA CẢNH-THỊNH LÀ LÚC GIÁO-DÂN VIỆT NAM SẮP (CHƯA) BỊ ĐÀN-ÁP KHỐC-LIỆT.

Đó là Chính-Đề.

II/  PHẢN-ÐỀ:
Quan-Điểm Của Linh-Mục Trần Hữu Thanh

            Báo “Mẹ Việt-Nam”, số 102 ra ngày 15-8-98, có đăng bài “Thử Xác-Định Thời-Điểm Và Hoàn-Cảnh Sự Việc Đức Mẹ Hiện Ra Ở La Vang” của linh-mục Trần Hữu Thanh, trong đó có đoạn:
            Ba anh em Tây Sơn biết rõ Đức Giám-Mục Pigneau ủng-hộ Nguyễn Phúc Ánh, hại mình; và các thừa-sai, linh-mục bản-quốc đều ngả về phía Nguyễn Phúc Ánh; nhưng chắc-chắn là vì chính-trị cao, không muốn gây thêm thù, và giữ tình đoàn-kết quốc-dân, họ không ngược-đãi các thừa-sai, trái lại còn ban cho nhiều ân-huệ (CGDT, tr. 18,19) và để người Công-Giáo tự-do.
            Mặc dù có kể ra hai vụ cấm đạo, nhưng Lm Trần Hữu Thanh khẳng-định rằng các anh em Tây Sơn nói chung, vua Cảnh-Thịnh nói riêng, và đặc-biệt là cuộc bắt-bớ đạo vào năm 1798, thật ra không có quá ác như nhiều người nghĩ.  Bài viết của Trần Hữu Thanh chú-trọng nghiên-cứu phân-tích thời-điểm và hoàn-cảnh của việc Đức Mẹ Hiện Ra Tại La Vang.

I/  THỜI-ĐIỂM:

A)  TÀI-LIỆU:
            Lm Trần Hữu Thanh viết: “Việc bố ráp ở Huế xảy ra ngày 7-8-1798.  Sắc-chỉ bắt đạo được ban-hành 10 ngày sau, là vào ngày 17-8-1798.  Cơn bách-hại kéo dài độ một tháng, là từ khoảng 17-8-1798 đến 17-9-1798.”

B)  NHẬN XÉT:
            Dù đã bắt đầu viết rằng “Đức Mẹ hiện ra ngày tháng năm nào? Không sử-sách nào ghi chép rõ!” linh-mục Trần Hữu Thanh vẫn kết-luận:  “Như thế ta có thể xác-định việc Đức Mẹ hiện ra tại La Vang là vào khoảng 17-8 đến 17-9-1798.  Ta không thể xác-định chính-xác hơn ngày giờ Đức Mẹ hiện ra, nhưng xác-định được tháng năm và khung-cảnh Đức Mẹ hiện ra...”
            Thế là linh-mục Thanh (mặc dù "không sử sách nào ghi chép rõ") đã xác-định được cả thời-điểm Đức Mẹ hiện ra (trong lúc các nhân-vật khác không xác-định được).

II/  HOÀN-CẢNH:

A)  TÀI-LIỆU:
            1-  Về La Vang dưới thời chúa Trịnh (1774-1786), linh-mục Trần Hữu Thanh viết:
            Theo các thừa-sai viết lại, các quan cao-cấp chúa Trịnh gởi vào là người Công Giáo, ít ra là thân-Công-Giáo, nên suốt thời-gian này không có việc bắt đạo (CGĐT tr. 0 và tr. 62).  Chỉ có một sắc-chỉ cấm đạo ngày 3-12-1778.  Nguyên-nhân có thể do các thanh-tra Đàng Ngoài khiển-trách các quan-chức quá dung-dưỡng người Công Giáo.  Và cũng có thể vì sự việc một tàu nước Anh đã vào buôn bán ở Cửa Hàn, đã bắn phá các pháo-đài của quân-đội, nên chính-quyền tức giận đã ra lệnh cấm đạo.  Vì người thời đó đồng-hóa mọi người Âu Châu với Công Giáo.  Cả hai nguyên-do cấm đạo đều hời-hợt, chỉ hạn-chế trong vùng vịnh Đà Nẵng, nơi xảy ra sự việc quân Anh bắn phá vùng quanh thị-xã Huế, và chỉ qua-loa trong vài ngày (CGĐT tr. 63).  Ngày 8-1-1779, một năm sau, cũng có một chỉ-thỉ cấm đạo nữa.  Nhưng người ta không áp-dụng các hình phạt của chỉ-thị, nên các giáo-hữu vẫn sinh-hoạt như thường (sđd 64).
            Như thế thì hai cuộc bách-hại trên không có ảnh-hưởng đến tỉnh Quảng Trị (Tỉnh của La Vang).
            2-  Về cuộc bắt đạo chủ-chốt tại La Vang năm 1798, Lm Thanh viết:
            Ngày 7-8-1798 giữa trưa, 4 toán lính đột-nhập vào 4 họ đạo ở thành-phố Huế.  Tại họ Phường Đúc đã bắt được linh-mục Emmanuel Nguyễn Văn Triệu là linh-mục hoạt-động ở Đàng Ngoài về quê thăm mẹ (bị bắt trong cuộc bố ráp 7-8-1798, bị hành-quyết ngày 17-9-1798), và: Mười ngày sau cuộc bố ráp đó, vua Cảnh-Thịnh đã ban-hành một sắc-chỉ truyền phá hủy tất cả các nhà thờ, tất cả các nhà ở của các linh-mục và bắt tất cả những ai có thể bắt được.  Cuộc bách-hại này xảy ra dữ-dội.  Phản-ứng của Cảnh Thịnh là phản-ứng của con người dẫy chết, và binh-sĩ của ông cũng thấy mình tận-số nên hung-hăng đốt-phá cướp-bóc chém-giết. 
Và:
            Chắc việc tàn-sát bắt-bớ rất hung-bạo.  Nhưng phải là cơn bắt đạo đột-ngột và ngắn ngày.  Vì đột-ngột nên người ta chỉ lo sao tránh mặt quan, chứ chưa phải tìm nơi định-cư tuyệt-đối an-toàn.  Vì Cổ-Vưu chỉ xa La Vang độ 4 cây số, nghĩa là chỉ vào sâu trong rừng độ 3 cây số...  Và cơn bắt đạo ngắn ngủi.  Vì các sự việc kể lại chỉ xảy ra trong vài ba tuần, một tháng.  Không thấy nói người Công Giáo chuyển vào sâu, đi nơi khác, hay là cố-định cuộc sống, mà như sau đó là trở về lại cố-hương.

B)  NHẬN XÉT:
            1-  Về chính-quyền họ Trịnh ở Dinh Cát thời-gian 1774-1786, Trần Văn Trí đã “ghi lại những nét chính yếu góp nhặt từ các tài-liệu đã được phổ-biến về Đức Mẹ La-Vang” và đã viết trong bài “Tinh-Thần La Vang” đăng trên báo “Thằng Mõ” số 832 như sau:
            Đại-tướng Ngô Cầu được bổ vào cai-trị từ Bình Trị Thiên vào Nam.  Từ 1778-79, nhiều giáo-dân bị giết, ruộng đất bị chiếm đoạt, tài-sản bị tịch-thu...
            Trần Văn Trí thì dựa vào các tài-liệu "đã được phổ-biến" mà viết rằng có nhiều giáo-dân trong hạt Dinh Cát (Quảng-Trị), bị giết, trong lúc linh-mục Trần Hữu Thanh thì dựa vào các thừa-sai mà viết rằng trong suốt thời-gian họ Trịnh chiếm đóng (gồm cả Quảng Trị) không có việc bắt đạo.
            2-  Về cuộc bách-hại của vua Cảnh Thịnh, Nguyễn Lý Tưởng viết: “Năm 1797, dưới triều vua Cảnh Thịnh, nhân khi thủy-quân của Nguyễn Phúc Ánh ra tận cửa bể Tư Dung (Tư Hiền) của tỉnh Thừa Thiên, một vị quan đề-nghị bắt hết người Công Giáo và các linh-mục.  Vua Cảnh-Thịnh im lặng không trả lời nhưng sau đó đã ra mật-lệnh hẹn đến tháng 5-1798 sẽ bắt và giết tất cả giáo-dân cũng như linh-mục không để sót người nào.”
            Trần Văn Trí viết:  “Cảnh Thịnh bắt được một lá thư của Nguyễn Ánh gửi cho Đức Cha Gioan Labartelle, nên nghi-ngờ Công Giáo thông-đồng với kẻ thù của mình.  Ngày 7-8-1798, vua ra lệnh tấn-công mấy họ đạo ở Phú Xuân và cả vùng Cổ Vưu, Quảng Trị.  Cha Emmanuel Triệu đã ra nạp mình với quân Tây Sơn và bị tử-hình ngày 17-9-1798.”
            Như thế tức là biến-cố 1798 đã được vua Cảnh Thịnh dự tính trước từ năm 1797, nhất là sau khi (theo Trần Văn Trí) “bắt được bức thư của Nguyễn Phúc Ánh gửi giám-mục De Labartelle” và (theo chính Lm Thanh) “Nguyễn Phúc Ánh đem quân ra đánh Qui Nhơn và còn ra tận Đà Nẵng, có giám-mục Pigneau và hoàng-tử Cảnh tháp-tùng (theo Nguyễn Lý Tưởng: thủy-quân của Ánh đã ra tận cửa bể Tư Hiền của tỉnh Thừa Thiên), chính vì thế nên Cảnh Thịnh và triều-đình Huế phản-ứng mạnh.”
            Trong lúc đó, theo linh-mục Trần Hữu Thanh thì:  “Ta hãy đối-chiếu với lịch-sử, Miền Trung nói chung và Thừa-Thiên+Quảng-Trị nói riêng, trong khoảngtừ 1750 đến 1800 là trên dưới 100 năm đối với thời sau 1885 để nhận ra cơn cấm đạo nào có những tính-cách nói trên (nghiêm-ngặt, ác-liệt, việc tàn-sát bắt-bớ rất hung-bạo).”
            Vì chỉ chọn khoảng từ 1750 đến 1800, mà ông tính là trên dưới 100 năm, Lm Thanh đã kể ra vài vụ cấm đạo khác để chứng-minh rằng vụ 17-8-1798(trước thời Hàm-Nghi 1884) là “chắc rất hung-bạo”, nghĩa là đến nỗi Đức Mẹ phải hiện đến với giáo-dân để an-ủi họ.”
            Đây là sự tự mâu-thuẫn lớn nhất của linh-mục Trần Hữu Thanh, ngoài sư mâu-thuẫn với các tác-giả khác.
                        a.  Đã viết “một cơn bắt đạo nghiêm-ngặt”, “chắc việc tàn-sát bắt-bớ rất hung bạo”, “cơn bách-hại này xảy ra dữ-dội”, thế mà linh-mục Thanh lại viết:  “Nhưng phải là cơn bắt đạo đột-ngột và ngắn ngày.”  Nguyễn Lý Tưởng viết: “Quan thượng-thư Hồ Công Diệu đã báo tin đó cho Đức Giám-Mục Jean De Labartelle lúc đó đang trốn tránh ở làng Di Luân (Loan), xa Huế chừng 90 cây số.  Tin đó được loan truyền ra trong giới Công Giáo và dân theo đạo ở các làng... bèn chạy vào miền núi vùng La Vang để ẩn núp.”
            Thế thì “đột-ngột” chỗ nào?
                        b.  Còn về “ngắn ngày” thì Lm Thanh viết:  “cơn bắt đạo ngắn-ngủi, các sự việc kể lại chỉ xảy ra trong vài ba tuần, một tháng. Không thấy nói người Công Giáo chuyển vào sâu, đi nơi khác, hay là cố-định cuộc sống, mà như sau đó là trở về lại cố-hương,” và giải-thích: “dân-chúng miền Trung vẫn trung-thành với các chúa Nguyễn, và cho Tây Sơn là loạn-quân, nên họ không sốt-sắng gì với lệnh bắt đạo này.  Chúng ta lại thấy các người lương-dân giao-tiếp với người Công Giáo tị-nạn cách bình-thường, không dọa-nạt hay dò-xét để tố-cáo họ, bắt họ nộp cho quan để lấy thưởng.”
            Vậy thì có gì là tính-cách “nghiêm-ngặt, hung-bạo, dữ-dội” của biến-cố này?
            Linh-mục Trần Hữu Thanh, vì muốn chứng-tỏ là Ky Tô Giáo tốt đẹp, được lòng đồng-bào bên lương, triều-đình Cảnh-Thịnh phi-nghĩa nên không được dân tuân theo... nên đã làm phai loãng mất hoàn-cảnh và ý-nghĩa thích-đáng của việc "Đức Mẹ hiện ra".

*
            Trở lại với câu nói của giáo-hoàng John Paul II, rằng Ky Tô Giáo đã bị bách-hại trong suốt 300 năm truyền-giáo tại Việt Nam, ta hãy làm cùng một việc với linh-mục Trần Hữu Thanh, là “thử xác-định thời-điểm và hoàn-cảnh” của mỗi sự-việc để nhận ra cơn bắt đạo nào trong 300 năm ấy là thật-sự ngặt-nghèo.
            Theo Nguyễn Văn Thông trong bài “Sự-Kiện La Vang: Trang Sử Tử-Đạo” thì:  “Vua Hàm-Nghi (1884-1885) khai-sinh phong-trào Cần Vương.  Trong cả giáo-phận Tây Đàng Ngoài có 3 linh-mục, 25 chủng-sinh và thầy-giảng, và hàng trăm bổn-đạo bị giết, 107 họ đạo bị phá hủy.  Tại Nghệ-An... đã có khoảng 4.500 bổn-đạo bị giết và 300 họ đạo bị phá hủy.  Ở Bình-Chính, chúng đã đốt phá 59 họ đạo, giết khoảng 600 người.  Ở Thanh-Hóa, có đến độ 100 họ đạo bị tàn-phá.  Ở Hà-Tĩnh có đến 6.000 giáo-dân chết vì giặc.  Ở Quảng-Ngãi, Cần-Vương giết 3 thừa-sai, đốt-phá 100 họ đạo, giết hơn 6.000 giáo-dân.  Ở Bình-Định cũng 3 thừa-sai bị giết, 150 họ đạo bị đốt phá.  Giáo-phận Qui Nhơn có 24.298 giáo-dân, bị Cần-Vương tàn-sát chỉ còn lại khoảng 20.000 người.  Làng Dương-Lộc bị tàn-sát tập-thể, khoảng 4 linh-mục, 50 nữ-tu, và khoảng 2.500 giáo-dân...”
            Như thế, so với những thời-điểm và hoàn-cảnh này thì La Vang (1798) đâu đã thấm gì?  Vậy là La Vang chưa phải là vụ bức-hại giáo-dân khốc-liệt nhất tại Việt-Nam: ĐỨC-MẸ ĐÃ KHÔNG HIỆN RA (NẾU CÓ) ĐỂ AN-ỦI, CHE-CHỞ GIÁO-DÂN LÚC ĐÓ MÀ LÀ ĐỂ BÁO TRƯỚC NHỮNG HOÀN-CẢNH BI-THIẾT HƠN, SẼ XẢY SAU VỤ LA-VANG

Đó là Phản-Đề (theo Linh-Mục Trần Hữu Thanh): CƠN BẮT ĐẠO TẠI LA-VANG NĂM 1798 CHỈ LÀ MỘT CUỘC BỐ RÁP NGẮN-NGỦI, GIÁO-DÂN SAU ĐÓ AN-TOÀN TRỞ VỀ LẠI CỐ-HƯƠNG

III/  TỔNG-HỢP-ÐỀ:
Tin ai bây giờ?

            Linh-mục Trần Hữu Thanh là một nhân-vật Ky-Tô-Giáo quan-trọng nổi bật từ thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa của Miền Nam.  Ông được xem là "ngôn-sứ" của “chủ-nghĩa nhân-vị” vốn là xương sống của đời sống chính-trị và ý-thức-hệ của cố tổng-thống Ngô Đình Diệm.  Ông là Giám-Đốc Trường "Nhân-Vị", nơi mà các viên-chức cao-cấp dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa đều phải đến học.
             Ðối với đa-số giáo-dân dưới thời Ðệ-Nhị Cộng-Hòa, ông là linh-hồn của phong-trào và các nỗ-lực nhằm lật đổ tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu, nên lời ông nói và bài ông viết có trọng-lượng hơn các giáo-sĩ khác.

             Ngoài ra, sau quốc-nạn 30-4-1975, tổng-giám-mục (sau này là hồng-y) Nguyễn Văn Thuận được xem như là cái phao tôn-giáo và chính-trị cho một số đông người đắm tàu.
             Theo lời ông giảng thì Ðức Mẹ "hiện ra" tại La Vang (1798) không phải là để an-ủi hay che-chở cho các giáo-dân ngay trong thời-điểm ấy, vì cuộc bắt đạo đã bắt đầu rồi, họ đã chạy trốn vào La Vang rồi, và họ đã van vái hằng ngày một thời-gian rồi, rồi Bà linh-thiêng mới hiện ra (tham-chiếu "L'Osservatore Romano" ngày 12-8-1998, Trần Văn Trí trên "Thằng Mõ" ngày 28-3-1998, Nguyễn Lý Tưởng trên "Mẹ Việt-Nam" ngày 15-8-1998, v.v...), mà là để báo trước một biến-cố (hẳn là phong-trào Cần-Vương) sắp-sửa xảy đến cho nhân-loại (giáo-dân Việt-Nam), bắt đầu từ khi vua Hàm-Nghi lên ngôi (1884-1885), tức sẽ xảy đến trong hơn 86 năm về sau.

            Xin để tùy mỗi người tự rút ra từ đó một Tổng-Hợp-Đề.

CHƯƠNG VII
TẢN-MẠN NGOÀI LỀ

LỜI NÓI ĐẦU:
         Qua 6 Phần trên, chúng tôi chỉ trích-dẫn các đoạn chủ-yếu trong những bài viết tiêu-biểu của các nhân-vật tên-tuổi Ky-Tô-Giáo, Việt-Nam lẫn ngoại-quốc.
         Chính các tu-sĩ, trí-thức, và văn-nghệ-sĩ Ky-Tô-Giáo viết ra, chứ không phải do chúng tôi viết ra.  Chúng tôi chỉ gom góp lại, trích nêu những đoạn quan-trọng và nổi bật nhất, đối-chiếu với nhau, để mọi người có một nhận-định chung, hầu tìm ra Sự Thật.

         Chính họ cho thấy:

● Tại sao giáo-dân các làng Thạch Hãn, Ba Trừ và Cổ Thành, sau khi cư-dân La Vang đã cùng nhau van vái Bà Linh-Thiêng bên gốc cây đa ròng-rã hơn 20 năm (1798-1820) lại đã cùng nhau xây chùa, còn gọi là chùa Ba Làng (dù gọi là miếu thì cũng không phải là đền thờ Ky Tô Giáo) ngay tại La Vang, là nơi mà họ (và cha mẹ họ) đã đến tị-nạn Cảnh Thịnh bắt đạo, và là nơi mà Đức Mẹ sau đó mới được đồn là đã hiện ra để an-ủi che-chở họ trong cơn giáo-nạn ấy?

● Tại sao Đức Mẹ được đồn là đã hiện ra từ năm 1798, mà mãi đến năm 1885, tức 87 năm sau, các cụ sắp chết mới bị bắt phải thề là đã có nghe lời đồn như thế (có nghe mới được lên thiên-đàng) để họ buộc lòng phải trả lời là “có”?

● Tại sao, trong lúc các vụ hiện ra, tại Lourdes ở Pháp năm 1858 và tại Fatima ở Bồ-Đào-Nha năm 1917, đã được Tòa Thánh công-nhận trong vòng từ 4 năm đến 13 năm thôi, thì tiếng trả lời "Có" ấy đã được ghi vào hồ-sơ rồi, mà Tòa Thánh Vatican phải đợi đến năm 1961 (hơn 160 năm, sau năm cho là có sự "hiện ra"; ngót 140 năm, sau năm giáo-dân nghe đồn về vụ "hiện ra"; gần 80 năm, sau năm các cụ sắp chết bị bắt phải thề là có nghe lời đồn), nhất là sau khi anh em Ngô Đình Diệm+Ngô Đình Thục đã nắm trọn chính-quyền và giáo-quyền tại Việt Nam rồi, mới xức dầu thánh và nâng La Vang lên hàng tiểu-vương-cung thánh-đường?

● Tại sao các giám-mục tại Việt-Nam (nếu chỉ biết lo việc đạo; nếu thật “công chính”, không làm công-cụ cho các thế-lực chính-trị), mặc dù đã được thoải-mái hoạt-động từ ngày thực-dân Pháp đến đô-hộ Việt-Nam vào năm 1884 (tức 77 năm trước đó), mà cũng phải đợi đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa (1961) mới nhậnlà Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc?

 Câu trả lời đã được Tòa Thánh Vatican đưa ra, qua tuần-báo L'OSSERVATORE ROMANO, là tiếng nói chính-thức và có thẩm-quyền nhất của Giáo-Hoàng và giáo-triều Ky-Tô-Giáo La Mã (xin xem Phần VIII):

        Hiện nay không có tài-liệu viết nào lưu-trữ về các lần Đức Mẹ hiện ra tại La Vang.

        Thế thì tại sao Tòa Thánh lại nâng nhà thờ La Vang lên hàng Tiểu-Vưong-Cung Thánh-Đường?

        Một trong các điều răn của Đức Chúa Trời là không được làm chứng dối.  Phải chăng Đức Giáo Hoàng cũng đồng lõa với các nhân-vật kia để làm chứng dối (tức chống Chúa=anti-Christ)?

        Trong lúc chờ-đợi Đức Giáo-Hoàng John Paul II lên tiếng, như Ngài đã từng nhìn-nhận những sai-lầm khác của Giáo-Hội trong quá-khứ, chúng tôi xin trích đăng thêm vài ý-kiến ngoài lề để rộng đường dư-luận:

I/  Ai Có Thẩm-Quyền Chỉ-Định Vị-Trí Cho Đức Mẹ Trên Thiên-Đường?

        Báo “Chính-Nghĩa” (554 S 9th St., San Jose, CA 95112, USA), số 439 ra ngày 12-9-98, có đăng bài “Đức Mẹ La Vang Được Tôn Vinh Giữa Lòng Giáo-Hội Hoa Kỳ” của linh-mục Trần Quý Thiện và tiến-sĩ Trần An Bài, trong đó có đoạn:

        Phần thánh-ca trong đại-lễ này do một ca đoàn tổng-hợp... đặt dưới sự điều-khiển của Linh-Mục Dao Kim và Sơ Mỹ-Hằng...  Và Người Nữ đã được Thiên Chúa cất nhắc lên ngôi vị vô cùng sang trọng như một Hoàng Hậu.  Đó chính là Đức Trinh Nữ Maria, Người đã hiện ra tại La Vang thuộc tỉnh Quảng Trị, Việt Nam, cách đây 200 năm.  Lm Dao Kim đã phổ nhạc vào bài Thánh Vịnh số 45 “Hoàng Hậu Đứng Bên Hữu Đức Vua...

        Cứ theo Thánh-Kinh thì trên thiên-đình có rất nhiều ngôi vua:

       Trước hết, về vua:  theo các Sách, như Jeremiah (10:10), Zechariah (14:9), 1 Timothy (1:17), Revelation (19:16), v.v..., thì Đức Giê-Hô-Va là Đức Chúa Cha, là vua chính.

Về ngôi:  theo Sách Acts (2:34), thì có Đức Jesus Christ là Đức Chúa Con ngồi bên hữu của Đức Chúa Cha;  theo Sách Revelation (3:21), thì có Đức Thánh-Linh cùng ngồi với Đức Chúa Cha trên ngôi của Ngài.  Trong lúc đó, theo sách Matthew (19:28) thì Đức Jesus đã nói với tiên-tri Peter:  “các ngươi là kẻ đã theo ta, cũng sẽ ngồi trên 12 ngôi...”; theo sách Revelation (4:2,3,4) thì tiên-tri John đã thấy có 24 trưởng lão mặc áo trắng và đội mũ triều-thiên vàng ngồi trên 24 ngôi xung quanh ngôi của Đức Chúa Trời; và cũng theo Sách Revelation (3:21) thì Đức Thánh Linh có nói rằng “Kẻ nào thắng (ý nói thắng Satan), ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi, như chính ta đã thắng và ngồi với Cha ta trên ngôi của Ngài”.

Về vị-thế khi ngự trên ngôi: theo các Sách Psalms (29:10; 110:1), Mathew (19:28), Acts (2:34), Revelations (3:21; 4:2,3,4) thì Đức Chúa Con ngồi, Đức Thánh Linh ngồi, 12 sứ-đồ ngồi, 24 trưởng lão ngồi, và bất cứ kẻ nào thắng kẻ thù của Chúa cũng sẽ ngồi (trên ngôi của Chúa, xung quanh ngôi của Chúa).

Tôi không dám có ý-kiến về việc Đức Mẹ lên Thiên Đình, mà lại đứng (chứ không được ngồi) bên hữu của Đức Giê-Su con mình!
  
II/  Giáo-Hoàng John Paul II Đã Nói Gì Về Đức Mẹ Maria?

         Đây là một đoạn trích trong báo “The WatchTower” (Tháp Canh) của Giáo-Hội “Jehovah's Witnesses” (25 Columbia Heights, Brooklyn, NY 11201-2483, USA), số phát-hành ngày 1-8-98:

         Theo tờ báo của Tòa Vatican L'Osservatore Romano, giáo-lý Công-Giáo về Sự Thăng-Thiên phát-biểu: “Đức Trinh-Nữ Vô-Nhiễm Nguyên-Tội, được gìn giữ khỏi mọi dấu vết của tội-lỗi nguyên-thủy, được mang vào sự vinh-hiển trên trời với cả xác lẫn hồn, khi đời sống của bà trên đất chấm dứt.”  Báo này nói rằng giáo-lý này đã khiến một số nhà thần-học Công Giáo cho rằng Ma-Ri “không chết và được mang ngay vào sự vinh-hiển trên trời từ đời sống trên đất.”
        Gần đây, Giáo Hoàng Gioan Phao-Lồ II có quan-điểm khác về vấn-đề này.  Trong buổi Tổng Tiếp-Kiến tại Tòa Vatican vào ngày 25-6-1997, ông nói:  “Tân Ước không nói gì về hoàn-cảnh khi Ma-Ri chết.  Sự-kiện này khiến ta cho rằng đó là cái chết tự-nhiên, không có chi-tiết nào đặc-biệt đáng đề-cập...  Những ý-kiến cho rằng bà không chết vì nguyên-nhân tự-nhiên dường như vô căn-cứ.”

        Lời phát-biểu của Giáo-Hoàng Gioan Phao-Lồ để lộ một khiếm-khuyết nghiêm-trọng trong giáo-điều về sự Vô Nhiễm Nguyên Tội.  Nếu mẹ của Chúa Giê-Su“được gìn giữ khỏi mọi dấu vết của tội-lỗi nguyên-thủy”, thì sao Ma-Ri lại chết vì “các nguyên-nhân tự-nhiên”, là hậu-quả của tội-lỗi A Đam truyền lại? (Rô-Ma 5:12).  Sở-dĩ có vấn-đề thần-học nan-giải này là vì Giáo-Hội Công Giáo có quan-điểm lệch-lạc về mẹ của Chúa Giê-Su.  Thảo nào mà đã có sự chia-rẽ và rối-rắm trong Giáo-Hội Công Giáo về vấn-đề trên.

        Tuy mô-tả Ma-Ri là một người khiêm-nhường, trung-thành và ngoan-đạo, Kinh Thánh không nâng cao các đức-tính này lên hàng “vô-nhiễm nguyên-tội” (Lu-Ca 1:38; Công-Vụ Các Sứ-Đồ 1:13, 14).
        Kinh Thánh chỉ nói:  “Mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời” (Rô-Ma 3:23).  Vâng, Ma-Ri thừa-kế tội-lỗi và sự bất-toàn như mọi người khác trong nhân-loại, và không có mảy-may bằng-chứng nào cho thấy Ma-Ri chết vì bất-cứ nguyên-nhân nào khác ngoài nguyên-nhân tự-nhiên (xác còn dưới đất). (So-sánh 1 Giăng 1:8-10).

California, Hoa-Kỳ, Mùa Thu 1998
Đức cố 

Chú Thích:  Xin mời quý vị xem tiếp Chương VIII là phần cuối, giới thiệu bài báo kết-luận về vấn-đề Đức Mẹ La Vang đăng trên tuần-báo L'Osservatore Romanocủa Giáo-Hoàng và giáo-triều Vatican tại http://lexuannhuan.tripod.com/Vatican.html

Nguồn:
-          Chương I: http://lexuannhuan.tripod.com/NguonGoc.html
-          Chương II: http://lexuannhuan.tripod.com/HongPhuc.html
-          Chương III: http://lexuannhuan.tripod.com/SuViec.html
-          Chương IV: http://lexuannhuan.tripod.com/DucMe.html
-          Chương V: http://lexuannhuan.tripod.com/TanMat.html
-          Chương VI: http://lexuannhuan.tripod.com/HuuThanh.html
-          Chương VII: http://lexuannhuan.tripod.com/TanMan.html