Thứ Bảy, ngày 16 tháng 5 năm 2015


TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ ĐỨC TIN TÔN GIÁO
Phan Thành Đạt
Tự do ngôn luận và tự do về tư tưởng là những quyền con người cơ bản được Hiến pháp, Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 và Công ước châu Âu về quyền con người năm 1950 bảo vệ. Nhà luật học Jean Rivero phân chia quyền con người thành ba loại: Quyền tự nhiên, quyền tham gia vào các hoạt động chính trị xã hội, quyền được hưởng từ các chính sách của Nhà nước nhằm chăm lo cho con người. Quyền con người thuộc thế hệ thứ nhất là những quyền tự nhiên nếu thiếu chúng, tự do, hạnh phúc của con người sẽ không được đảm bảo. Quyền được sống, tự do đi lại, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo là các quyền cơ bản thuộc thế hệ thứ nhất.
Sống trong một xã hội văn minh, công dân tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội. Quyền tự do lập hội, thành lập các đảng phái chính trị hoạt động trong khuôn khổ của luật pháp, quyền tự do ứng cử và bầu cử, quyền biểu tình, đình công… là các quyền quan trọng của công dân thuộc thế hệ thứ hai. Các quyền về chính trị và xã hội này cần được Nhà nước tôn trọng vì đây là những tiêu chuẩn đánh giá mức độ dân chủ của mỗi nước. Quyền con người thuộc thế hệ thứ ba bao gồm những lợi ích mà Nhà nước đem lại với mục đích giúp cho con người trở nên hoàn thiện. Các quyền này bao gồm quyền được chăm sóc y tế khi đau ốm, quyền được học hành, quyền lao động…
Tự do ngôn luận là quyền được nói và viết ra những suy nghĩ của mình mà không sợ bị đe dọa hay bắt bớ. Điều 11 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 có nội dung khái quát nhưng khá đầy đủ về tự do ngôn luận: “Tự do bày tỏ suy nghĩ hay trình bày quan điểm là một trong những quyền quý giá nhất của con người. Công dân có quyền nói, viết, truyền bá các thông tin, trừ những trường hợp bị pháp luật ngăn cấm khi lạm dụng quyền này”.
Tự do về tư tưởng thể hiện qua tự do tôn giáo, tự do suy nghĩ, nhận thức của con người. Tự do tôn giáo chính là điều kiện quan trọng đảm bảo tự do tư tưởng. Tự do tôn giáo được tôn trọng khi con người có quyền lựa chọn tôn giáo mà mình thích hoặc từ chối không theo bất cứ tôn giáo nào. Con người có quyền thờ cúng, tham gia các nghi lễ tôn giáo và thể hiện đức tin tôn giáo của mình.
Tự do ngôn luận có những biểu hiện ra bên ngoài như các phát ngôn, sách báo còn tự do tôn giáo thường thể hiện ở bên trong mỗi con người vì đức tin tôn giáo mang tính chủ quan và không dễ đo đếm được. Một câu hỏi rất quan trọng được đặt ra là làm thế nào để bảo đảm tốt các quyền tự nhiên này vì tự do ngôn luận và tự do tôn giáo trong một số trường hợp đặc biệt có thể xung đột và phủ định lẫn nhau một khi khi vách ngăn giữa hai quyền tự do này khó xác định. Nếu đề cao tự do ngôn luận, đức tin tôn giáo của một cộng đồng người hay một nhóm người có thể bị xúc phạm còn nếu bênh vực tự do tôn giáo, tự do ngôn luận có thể bị hạn chế. Đây có thể là một bước lùi nguy hiểm trong mỗi thể chế dân chủ.
Tôn trọng tự do ngôn luận và tự do tôn giáo cũng chính là tôn trọng con người. Nhưng để bảo đảm cả hai quyền này cùng song song tồn tại, điều này không phải dễ dàng. Nhiều phán quyết của tòa án mỗi khi xảy ra những xung đột giữa tự do ngôn luận và tự do tôn giáo không thuyết phục được các tổ chức tôn giáo. Những người đệ đơn cho rằng tự do ngôn luận cần bị hạn chế khi quyền này đụng đến đức tin tôn giáo của mỗi người. Ngược lại, những người đề cao tự do ngôn luận lại muốn có quyền tự do phê phán, tự do châm biếm vì theo họ đó là biểu hiện của tự do ngôn luận.
Một bức tranh biếm họa, một tác phẩm văn học hay một bộ phim bàn về tôn giáo đụng chạm đến những điều thiêng liêng của tôn giáo, có thể khiến một nhóm người hay cả một cộng đồng người nổi giận vì đức tin tôn giáo của họ bị xúc phạm. Nhưng nếu ngăn cấm tự do ngôn luận, xã hội sẽ không thể phát triển. Khi một quốc gia được lãnh đạo bởi các chính khách tôn sùng tôn giáo, coi tôn giáo là nền tảng của chính trị, xã hội, khi đó tôn giáo sẽ quyết định vận mệnh của đất nước. Tự do ngôn luận sẽ bị hạn chế, những tư tưởng tiến bộ định hướng cho sự phát triển của đất nước sẽ bị bóp nghẹt một khi những ý tưởng đó có mâu thuẫn với tôn giáo, phủ định tôn giáo. Kết quả là xã hội sẽ chìm đắm trong cảnh tối tăm. Ví dụ đêm trường Trung Cổ ở châu Âu kéo dài gần 1000 năm dưới sự thống trị của giáo hội La Mã là một minh chứng cho sự can thiệp quá sâu của nhà thờ đến đời sống của con người. Phải đợi đến thời kì phục hưng con người mới bắt đầu thoát khỏi vòng kiểm tòa của nhà thờ để được giải phóng về tư tưởng.
Tự do ngôn luận và tôn trọng đức tin tôn giáo luôn là những quyền cơ bản cần được bảo vệ. Nếu hai quyền này có những mâu thuẫn, khi đó quan tòa phải vào cuộc để xác định ranh giới cụ thể nhằm đảm bảo tốt cả hai quyền này. Nếu chỉ được phép chọn lựa một trong hai quyền, quan tòa cần dựa vào hoàn cảnh thực tế, phân tích lợi ích và thiệt hại từ quyết định của mình để từ đó phán quyết hoặc là đề cao tự do ngôn luận hay tự do tôn giáo. Một số ví dụ dưới đây chứng minh những mâu thuẫn giữa tự do ngôn luận với tôn giáo khi con người thể hiện quyền của mình:
I. Một số vụ tranh chấp về giới hạn của tự do ngôn luận và tôn trọng đức tin tôn giáo
1.      Salman Rushdie và những vần thơ của quỷ Satan
Salman Rushdie là nhà văn người Anh gốc Ấn Độ, năm 1988 ông cho xuất bản cuốn tiểu thuyết những vần thơ của quỷ Satan. Cuốn sách lấy cảm hứng từ một số sự kiện có thật như vụ khủng bố máy bay ở hãng hàng không Ấn Độ năm 1985, vụ bạo động ở Brixton, Luân Đôn năm 1981, chiến tranh ở Iran năm 1979. Cuốn sách miêu tả những giấc mơ và ảo giác của nhân vật chính có tên là Gibreel Farishta. Qua những cơn ác mộng của Gibreel Farishta, người đọc nhận thấy những chi tiết có tính lịch sử và truyền thuyết của tiên tri Mohamed. Những chủ đề lớn như đức tin tôn giáo, sự cuồng tín, nạn phân biệt chủng tộc, chiến tranh đã được Salman Rushdie phân tích. Đầu đề của cuốn sách dựa theo những giả thiết về cuộc đời của tiên tri Mohamed. Mohamed muốn thiết lập chế độ đơn thần tại Mecca, ông chỉ cho phép một vị thần duy nhất là chúa trời, trước khi  từ bỏ điều đó.
Nhà văn Salman Rushdie và tác phẩm những vần thơ của quỷ Satan gây tranh cãi
Những vần thơ của quỷ Satan khiến cộng đồng người Hồi giáo nổi giận, nhiều vụ biểu tình đã diễn ra tại Anh, Pakistan, Ấn Độ, Indonésia… Người Hồi giáo cho rằng Salman Rushdie có ý báng bổ đạo hồi và tiên tri Mohamed. Giáo chủ hồi giáo dòng Chiit Khomeini đã yêu cầu người Hồi giáo phải có nhiệm vụ ám sát Salman Rushdie. Các nhà xuất bản ở các nước phương tây nhận được nhiều thư đe dọa, yêu cầu cấm xuất bản tác phẩm của Salman Rushdie, một số dịch giả bị ám sát. Nhiều vụ bạo động đã diễn ra. Bản thân Salman Rushdie phải sống lẩn trốn trong suốt 10 năm. Ông không dám gặp mặt con, không dám tiếp xúc với người lạ, ngay cả với người thợ đến sửa ống nước. Quan hệ ngoại giao giữa Anh và Pakistan bị gián đoạn trong gần một năm do những tranh cãi về cuốn sách này. Với thế giới phương tây, Salman Rushdie là biểu tượng của tự do ngôn luận nhưng với nhiều người Hồi giáo, ông là kẻ thù.
2.                  Những bộ phim và những vở kịch có thể xúc phạm đến đức tin tôn giáo của một số người 
Bộ phim Kính mừng Maria (Je vous salue Marie) của đạo diễn Jean-Luc Godard được chiếu tại các rạp ở châu Âu năm 1985. Bộ phim kể về câu chuyện tình yêu của Marie và Joseph. Marie là sinh viên yêu thích thể thao, ngoài giờ đến giảng đường, cô còn đến giúp việc cho gia đình mình ở một trạm xăng. Joseph là lái xe taxi. Hai người gặp gỡ và có tình cảm với nhau. Thiên thần Gabriel báo tin và thuyết phục Joseph phải chấp nhận cái thai trong bụng Marie. Nội dung phim gây scandal vì tên của hai nhân vật chính trong phim trùng với tên của đức mẹ Marie và thánh Joseph, đặc biệt là chi tiết thiên thần Gabriel báo tin. Những cảnh trần tục trong phim đã khiến một số người biểu tình phản đối bộ phim. Giáo hoàng Jean-Paul II tuyên bố rằng bộ phim đã xúc phạm nghiêm trọng đến tình cảm tôn giáo của những người mộ đạo. Ở Pháp bộ phim Kính mừng Maria đã thu hút được hơn 350 nghìn khán giả, đạo diễn Jean-Luc Godard cho rằng bộ phim không có mối liên hệ gì đến đức mẹ Marie mà đó chỉ là nhân vật nữ có cùng tên bị đặt vào một tình huống đặc biệt mà cô không muốn.
Bộ phim Sự cám dỗ cuối cùng của chúa Jésus (The Last Temptation of Christ) của đạo diễn người Mỹ Martin Scorsese miêu tả Jésus như một người bình thường sống trong tội lỗi và sợ hãi. Jésus muốn có cuộc sống đơn giản như như nhiều người khác. Jésus yêu Marie-Madeleine. Nhưng chúa trời đã chọn Jésus là đấng cứu thế. Jésus đi thuyết giáo và có rất nhiều môn đệ, một trong số đó là Judas. Jésus hiểu rằng chúa trời muốn mình chết trên cây thập giá, để xóa hết mọi tội lỗi của con người vì thế Jésus đã yêu cầu Judas tố cáo mình cho quân La Mã. Bị đóng đinh trên cây thập giá, Jésus được thiên thần cứu thoát và từ đó ông có cuộc sống bình thường có vợ và con, ông sống đến già tại Jérusalem. Thành phố này sau đó bị quân La Mã đốt phá, Judas báo với Jésus rằng không phải thiên thần đã cứu ông mà đó là quỷ Satan đã giải thoát Jésus. Với cách suy luận hoàn toàn sai lệch so với kinh thánh, bộ phim đã xúc phạm đến đức tin tôn giáo của nhiều người. Bộ phim đã vấp phải sự phản đối ở khắp nơi. Khi bộ phim được chiếu tại Pháp, các tờ truyền đơn và những lời đe dọa khủng bố đã cảnh báo các khán giả đến xem phim. Các tín đồ tôn giáo đã gây ra nhiều vụ cháy ở các rạp chiếu phim. Bộ phim bị cấm trong một thời gian dài ở các nước Mỹ la tinh. Hiện nay, bộ phim vẫn bị cấm chiếu ở Philippines và Singapour. 
Bộ phim Ave Maria và bộ phim Amen cũng gây nhiều tranh cãi về giới hạn của tự do ngôn luận và sự tôn trọng đức tin tôn giáo. Bộ phim Ave Maria, được giới thiệu bằng hình ảnh người phụ nữ để ngực trần và bị trói tay trên cây thập giá. Các tổ chức tôn giáo đã đệ đơn kiện vì nội dung quảng cáo xúc phạm nghiêm trọng đến đức tin của nhiều người công giáo và coi đó là hành động báng bổ, bất kính đối với họ. Kết quả là tòa án đã ra phán quyết ngăn cấm ảnh quảng cáo của phim Ave Maria. Các quan tòa nhận định: “Hình tượng cây thập giá được giới thiệu qua hình ảnh quảng cáo của bộ phim ở những nơi công cộng chính là hành động khiêu khích, xúc phạm nghiêm trọng đến đến đức tin và nhân phẩm của con người“.
Bộ phim Amen lại được giới thiệu với công chúng bằng hình ảnh một linh mục bên cạnh biểu tượng chữ thập ngoặc của Đức Quốc Xã, ám chỉ giáo hội La Mã đã không có những hành động thiết thực để ngăn chặn nạn diệt chủng của Hitler. Hình tượng linh mục đại diện cho nhà thờ ở bên cạnh biểu tượng chữ thập gây chết chóc đã gây sốc cho nhiều người. Tuy nhiên, trong bộ phim, linh mục này có những hoạt động tích cực cứu giúp con người khỏi nạn diệt chủng.
Áp Phích của bộ phim Amen
Vở kịch Golgota Picnic của nghệ sĩ Argentina Rodrigo Garcia trình diễn tại Paris năm 2011 cũng gây nhiều tranh cãi về ranh giới giữa tôn trọng tình cảm tôn giáo và tự do sáng tạo. Vở kịch miêu tả cảnh đóng đinh trên cây thập giá của chúa Jésus và có xu hướng bình thường hóa cảnh tượng thiêng liêng, khi chúa Jésus chịu khổ nạn để cứu rỗi con người. Trong vở kịch, một người đàn ông trần truồng chơi đàn piano để thể hiện những lời nói của chúa Jésus. Các tổ chức tôn giáo như Civitas, Le Collectif culture et foi phản đối nội dung xuyên tạc của vở kịch. Tổng giám mục giáo phận Paris André Vingt-Trois nhận xét: “vở kịch châm biếm và diễn tả thô thiển cảnh chúa Jésus bị đóng đinh trên cây thập giá, vở kịch đã xúc phạm đến chúa“. Ngược lại, các tổ chức nhân quyền và tổ chức công đoàn lại bênh vực tác giả của vở kịch với mục đích đề cao năng lực sáng tạo của người nghệ sĩ.
Một vở kịch khác của nghệ sĩ người Ý Roméo Castellucci có tên Cách nhìn nhận về diện mạo của đức chúa Jésus được giới thiệu tại Avignon năm 2011 cũng gây ra một làn sóng phản đối khắp nơi. Các tổ chức tôn giáo cho rằng vở kịch có nội dung khiêu khích và thù ghét đạo thiên chúa. Các thành viên tích cực của các tổ chức tôn giáo tìm mọi cách để ngăn cản vở kịch đến với công chúng vì theo họ nội dung vở kịch đã xúc phạm nghiêm trọng đến tình cảm tôn giáo. Hơn nữa vở kịch thiếu tính nghệ thuật và thẩm mĩ.

3.                  Bức tranh bữa tiệc ly biệt của Léonard de Vinci và tấm pano quảng cáo quần áo 
Bữa tiệc ly biệt là một trong những kiệt tác nghệ thuật của Léonard de Vinci. Bức tranh miêu tả bữa ăn cuối cùng của Jésus với các môn đệ trước khi chia tay. Jésus cũng thông báo với 12 tông đồ rằng mình sẽ bị giao nộp cho quân La Mã vì một người trong số họ sẽ là người phản bội Jésus. Đây là một trong những cảnh thiêng liêng nhất trong kinh thánh. Jésus cầm bánh mì và nói với các môn đệ: “Này là mình thầy sẽ bị nộp vì các con, các con hãy nhận lấy mà ăn”. Jésus lại cầm cốc rượu và nói với các môn đệ:  “Đây là chén máu thầy, máu tân ước vĩnh cửu sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được xóa tội. Các con hãy nhận lấy mà uống”. Cảnh bữa ăn chia tay giữa Jésus và 12 vị tông đồ còn được miêu tả trong nhiều bức tranh của các họa sĩ nổi tiếng. Nhà thờ coi bữa tiệc ly biệt giữa Jésus với các tông đồ, cùng những lời dặn dò của Jésus là những điều rất thiêng liệng, được chọn để rao giảng trong các buổi thánh lễ.
Bức tranh bữa tiệc ly biệt của Léonard de Vinci hiện được trưng bày
tại tu viện Santa Maria delle Grazie ở Milan, Ý
Công ti GIP quảng cáo quần áo hiệu Marithé et François Girbaud lấy ý tưởng từ bức tranh bữa tiệc li biệt (La Cène) của Léonard de Vinci. Hình ảnh 12 tông đồ được thay thế bằng 12 người phụ nữ mặc các bộ trang phục do hãng này sản xuất. Hình tượng Jésus ngồi giữa bàn tiệc được thay thế bằng hình ảnh một người phụ nữ có cử chỉ và điệu bộ như của Jésus. Bên cạnh người phụ này là một người đàn ông lưng trần, dáng điệu đang ôm ấp một người phụ nữ. Hình ảnh một tông đồ có vóc dáng nữ, ngồi cạnh Jésus trong bức tranh của Léonard de Vinci được thay thế bằng hình ảnh người đàn ông này. Tấm áp phích quảng cáo như muốn gửi đến một thông điệp rằng những phụ nữ có trang phục của hãng quần áo Marithé et François Girbaud đều ăn mặc đẹp, hợp thời trang, không mặc quần áo của hãng này, chẳng khác gì ở trần như người đàn ông trong ảnh. Tấm áp phícH quảng cáo quần áo dài 4 mét được treo vào đúng dịp mùa chay tại Porte de Maillot, lối vào Paris, nơi có nhiều người đi lại.
Tấm pano quảng cáo của công ty GIP dựa theo bức tranh của Léonard de Vinci
Tổ chức tôn giáo có tên là Đức tin và tự do đã kiện công ty GIP tại Tòa án cấp đệ nhị Paris. Tổ chức này cho rằng tấm quảng cáo đã xúc phạm nghiêm trọng đến tình cảm và đức tin của những người công giáo. Bức tranh đã báng bổ đạo thiên chúa và chửi rủa những điều thiêng liêng sâu thẳm của người công giáo. Tổ chức này yêu cầu tòa án dẹp bỏ ngay tấm quảng cáo có mục đích thương mại tầm thường này. Tòa án cấp đệ nhị Paris đã xử phạt công ty GIP vì cho rằng công ty này vi phạm tự do tôn giáo. Ngày 14 tháng 11 năm 2006, Tòa án tối cao đã bác bỏ phán quyết của các quan tòa cấp dưới và bác đơn của tổ chức Đức tin và tự do. Tòa án tối cao lập luận như sau: “Việc nhại lại bức tranh Bữa tiệc ly biệt với mục đích kinh doanh không phải là việc làm bất hợp pháp, và cũng không gây rối loạn. Mục đích quảng cáo không có ý xúc phạm hay khiêu khích những người có đức tin tôn giáo. Đây cũng không phải là hành động chửi rủa hay tấn công mang tính cá nhân, trực tiếp đến một nhóm người vì lí do niềm tin tôn giáo”. Các chuyên gia luật của Tòa án tối cao đã suy xét trong việc chọn lựa giữa tự do ngôn luận và tôn trọng đức tin tôn giáo. Họ đã đề cao tự do ngôn luận trong phán quyết quan trọng này.

4.                  Bức ảnh Piss Christ và sự đề cao sáng tạo nghệ thuật 
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Andres Serrano người Mỹ gốc Cuba đã tạo ra bức ảnh có tên Immersion (sự chìm đắm) theo cách riêng của mình. Ông lấy một cốc nước tiểu và máu của mình rồi nhúng một cây thập giá vào đó. Với khả năng phối cảnh và tạo ra màu sắc vàng và đỏ có tính nghệ thuật, ông đã tạo ra bức ảnh Immersion đầy tai tiếng, bức ảnh này còn được gọi là Piss Christ. Đây là cách sáng tạo khá kì lạ và là tâm điểm của những lời bàn tán cũng như nhiều tiếng nói phản đối. Ông đã phát biểu: “Nếu tôi chụp ảnh một cây thập giá, điều đó là một chuyện hết sức bình thường ở Mỹ. Nhưng bức ảnh này đã gợi nhớ đến máu, nước tiểu và nước mắt. Cách giới thiệu của tôi sẽ gây ra nhiều phản ứng, nhưng đó cũng là cách nhắc với mọi người đến những khổ đau mà chúa Jésus phải trải qua”.

Bức ảnh Immersion (Piss Christ) của Andres Serrano và bức ảnh sau khi bị phá hủy
Bức ảnh Piss Christ đã được triển lãm ở nhiều nước và trở thành trung tâm của mọi sự rắc rối. Ở tất cả những nơi tác giả triển lãm ảnh, ở đó đều có các cuộc biểu tình phản đối, nhiều người cho rằng bức ảnh thể hiện thái độ khiêu khích của tác giả đối với những người có đức tin. Nhiều người đã có những lời đe dọa đối với các nhà tổ chức buộc họ phải từ bỏ triển lãm. Tại những nơi triển lãm, an ninh được tăng cường để đảm bảo an toàn cho người xem. Bức ảnh đã bị phá hủy nhiều lần bởi các tín đồ quá khích. Năm 1997, bức ảnh bị hư hại nghiêm trọng trong một cuộc triển lãm tại Melbourne. Năm 2007, bức ảnh lại bị thiệt hại khi trưng bày tại Thụy Điển. Năm 2011, bức ảnh được trưng bày tại một bảo tàng ở Avignon Pháp. Một cuộc biểu tình đã diễn ra với sự tham gia của hàng nghìn người, nhà thờ ủng hộ những người biểu tình. Nhiều người đã yêu cầu giám đốc bảo tàng không được tổ chức triển lãm ảnh. Nhưng bức ảnh vẫn được giới thiệu. Hai kẻ quá khích đã giả làm khán giả đến xem triển lãm. Họ mang theo búa và phá hủy nghiêm trọng bức ảnh. Andres Serrano đã đệ đơn kiện lên toàn án cấp đệ nhị ở Avignon. Đơn kiện của tác giả đã bị tòa án bác bỏ, vì không có mục đích rõ ràng. Năm 2014, bức ảnh lại được triển lãm tại Ajaccio, đảo Corse. Một nhóm các tín đồ nhiệt thành đã biểu tình với dòng chữ Vì danh dự của chúa Jésus và vì đảo Corse, Serrano hãy cút đi. Nhóm người này đã yêu cầu tòa thị chính phải đóng cửa bảo tàng. Để bảo đảm trật tự công cộng, thị trưởng thành phố đã quyết định hủy bỏ cuộc triển lãm. Nhiều chính khách cũng lên tiếng bày tỏ sự phản đối vì tác phẩm đã xúc phạm đến tình cảm tôn giáo của nhiều người. Bức ảnh gây ra những rắc rối về an ninh trật tự. Tuy nhiên, những người có thẩm quyền vẫn cho trưng bày tác phẩm để đề cao tự do ngôn luận và sức sáng tạo nghệ thuật, cho dù đây là cách sáng tạo kì cục, mang tính khiêu khích và  khó chấp nhận.

5.                  Charlie Hebdo và tự do ngôn luận 
Charlie Hebdo là tờ báo trào phúng của Pháp. Đây là tờ báo nhỏ không được nhiều người chú ý. Tờ báo này được biết đến qua một số vụ kiện của các tổ chức tôn giáo vì lí do báng bổ tôn giáo, xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm của các tín đồ. Tuy nhiên, tòa án đã bác đơn kiện của các tổ chức này nhiều lần. Năm 2005, Charlie Hebdo đã đăng lại 12 bức tranh châm biếm của một tờ báo Đan Mạch. Các bức tranh giới thiệu chân dung tiên tri Mohamed. Bức tranh gây sốc nhất đối với nhiều người Hồi giáo là hình ảnh tiên tri Mohamed quấn một chiếc khăn có hình quả bom trên đầu. Hội những người Hồi giáo ở Pháp đã đệ đơn kiện báo Charlie Hebdo. Năm 2007, tòa án cấp đệ nhị Paris đã bác đơn vì cho rằng Charlie Hebdo không vi phạm luật. Các quan tòa cho rằng: “Xã hội Pháp là xã hội thế tục thể hiện sự đa dạng. Tôn trọng đức tin tôn giáo luôn đi kèm với tự do phê bình tôn giáo, kể cả tôn giáo đó có những quy định như thế nào, tôn giáo đó có thể được giới thiệu bằng các nhân vật đại diện, hay được các tín đồ đặc biệt tôn kính, nhưng quyền báng bổ thần thánh hay tôn giáo, không bị ngăn cấm ở Pháp“.
Nhiều bức biếm họa về tôn giáo tiếp tục xuất hiện trên các trang báo của Charlie Hebdo. Các họa sĩ cho rằng họ đang thực hiện quyền tự do ngôn luận được luật pháp bảo vệ. Họ có quyền châm biếm tôn giáo, chính trị. Họ luôn nhấn mạnh quyền biếm họa là nguyên tắc quan trọng của tự do ngôn luận nếu quyền này bị ngăn cấm đây sẽ là bước thụt lùi của nền dân chủ.
Đức giáo hoàng, tiên tri Mohamed, chúa Jésus, phật, những nhân vật nổi tiếng, các chính khách đều là mục tiêu châm biếm của Charlie Hebdo. Họ không trừ ai cả. Ví dụ khi giáo hoàng Benoît XVI tuyên bố một câu nói hớ: “Việc sử dụng bao cao su cũng không góp phần giảm đại dịch HIV AIDS”. Benoît XVI bị công kích bằng những bức vẽ châm biếm. Một bức họa khác của một tổ chức phòng chống HIV AIDS đã lấy hình tượng chúa Jésus đang dùng phép mầu bằng cách tạo ra thật nhiều bao cao su để phân phát cho người dân ở châu Phi. Tổ chức này cho rằng thiên chúa luôn yêu thương con người nhưng con người đang tỏ ra bất lực trước đại dịch HIV AIDS. Chúa hãy dùng phép mầu của mình để cứu lấy con người, (trong kinh thánh, chúa Jésus đã dùng phép mầu để tạo ra nhiều bánh mì, nuôi sống những người đói rách). Bức họa này đã gây sốc đối với nhiều người có đức tin vì tính trần tục khác xa với những điều thiêng liêng của tôn giáo.
Khi giáo hoàng Benoît XVI phản đối đám cưới của những người đồng tính vì cho rằng điều này trái với quy luật tự nhiên. Ngay lập tức, Charlie Hebdo phản ứng bằng cách đặt câu hỏi liệu một ông già hơn 80 tuổi, không biết đến phụ nữ thì có hợp với quy luật tự nhiên hay không? Với ngôn ngữ đơn giản, thô tục, kèm theo những bức họa có tính khái quát cao, Charlie Hebdo bàn luận về các vấn đề chính trị, văn hóa, tôn giáo, chiến tranh, nạn phân biệt chủng tộc, sự bất bình đẳng nam nữ trong xã hội… Đây là những nét rất riêng của tờ báo này. Điều này tạo ra nhiều điểm khác biệt với các báo châm biếm khác như le carnard enchaîné les guignols des infos. Charlie Hebdo luôn chạm đến ranh giới của tự do ngôn luận và tự do tôn giáo và muốn mở rộng hơn phạm vi của tự do ngôn luận. Những bức tranh và những lời bình luận của tờ báo này có thể dễ dàng gây tổn thương đến tình cảm tôn giáo và sự sùng kính của một số tín đồ Hồi giáo, đặc biệt là những người quá khích. Tuy nhiên, những việc làm của họ không vi phạm luật pháp vì nhiều vụ kiện chống lại họ đã bị bác bỏ. Cho dù những bức tranh giễu cợt tôn giáo hay chính trị có thể gây sốc đối với nhiều người nhưng các nhà báo, họa sĩ của Charlie Hebdo có quyền nói lên tiếng nói của mình về các vấn đề chính trị, xã hội, tôn giáo. Họ cho rằng mình trở thành những người đi tiên phong để bảo vệ tự do ngôn luận trong xã hội dân chủ.
Bức họa chân dung nhà tiên tri Mohamed đang khóc và cầm trên tay tấm biển
có dòng chữ: Tôi là Charlie, báo Charlie Hebdo 

II. Những cố gắng nhằm đảm bảo quyền tự do ngôn luận và tự do tôn giáo 

Tự do ngôn luận và tôn trọng đức tin tôn giáo là những quyền con người có nguy cơ mâu thuẫn và xung đột với nhau. Thực hiện tự do ngôn luận có thể gây tổn thương đến tình cảm tôn giáo của một số người nhưng để bảo đảm tốt tự do tôn giáo, tự do ngôn luận có thể bị giới hạn trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Trong một chế độ dân chủ, con người luôn lo lắng làm thế nào để đảm bảo tự do bày tỏ chính kiến của mình nhưng không làm tổn thương đến đức tin của người khác. Điều này không hể đơn giản, các nhà luật học, các thẩm phán cố gắng tìm kiếm sự dung hòa giữa tự do ngôn luận và tự do tôn giáo. Họ đưa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo cả hai quyền quan trọng này. Nhưng trong những trường hợp đặc biệt, họ buộc phải chọn lựa tự do ngôn luận hay tự do tôn giáo. Khi đó, họ dựa vào các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, để có sự lựa chọn thỏa đáng. Cũng cần khẳng định rằng bảo vệ tự do tôn giáo không phải là bảo vệ thần thánh và các giáo lí mà chính là bảo vệ con người vì con người là mối quan tâm lớn nhất trong xã hội. Tuy nhiên, quan điểm về tự do ngôn luận và tự do tôn giáo của phương Tây và khu vực Trung Đông có nhiều điểm khác nhau.
1.      Hai quan điểm khác nhau về tự do ngôn luận và tự do tôn giáo 
Quyền châm biếm tôn giáo và báng bổ thần linh không bị ngăn cấm ở Pháp, không có một điều luật nào kết tội con người khi con người có những hành động nhạo báng tôn giáo. Thời kì triết học ánh sáng thế kỉ XVIII và cuộc cách mạng Pháp năm 1789 đã xóa bỏ những trói buộc của nhà thờ. Nước Pháp trở thành Nhà nước thế tục, tội báng bổ tôn giáo đã bị loại bỏ. Ở các nước châu Âu khác như Đức, Hy Lạp, Ý… vẫn quy định tội báng bổ tôn giáo nhưng về cơ bản, con người có quyền phê phán tôn giáo.
Nhà nước thế tục không coi thần thánh là đối tượng cần bảo vệ bởi vì thần thánh là những con người của truyền thuyết, lịch sử hoặc là những nhân vật mang bản chất tôn giáo. Vì vậy thần thánh không phải là những con người tồn tại trong đời sống hiện tại, do đó thần thánh không có tư cách pháp nhân nên không phải là đối tượng được bảo vệ. Ngược lại, con người mới là đối tượng được luật pháp bênh vực. Bảo vệ niềm tin và tình cảm tôn giáo chính là bảo vệ con người khi con người thực hành tôn giáo và tuân theo giáo lí của tôn giáo đó. Đối với các quốc gia có tôn giáo chi phối đời sống chính trị, văn hóa thì bảo vệ tôn giáo gắn liền với bảo vệ quyền lực. Truyền bá và củng cố đức tin tôn giáo cho con người cũng chính là một hình thức bảo vệ quyền thống trị đối với con người.
Tự do ngôn luận và tự do về tư tưởng được đề cao ở các nước dân chủ vì đây là tiền đề cho năng lực sáng tạo của con người và cũng là cơ sở cho sự phát triển của xã hội. Đạo luật năm 1881 ra đời ở Pháp quy định các quyền tự do báo chí và truyền bá thông tin. Điều 29 của đạo luật này quy định khi các thông tin thiếu chính xác gây tổn thương đến một nhóm người thì những thông tin đó cần được kiểm chứng và sẽ bị loại bỏ để bảo vệ lợi ích cho họ. Tuy nhiên, quy định này khó có thể áp dụng đối với những thông tin có mục đích báng bổ tôn giáo, gây tổn hại đến tình cảm tôn giáo của con người. Quy định này chỉ có thể áp dụng trong trường hợp có những thông tin sai trái như bôi nhọ, vu khống làm hại đến danh dự, nhân phẩm của con người.
Giáo dục có ảnh hưởng lớn  đến quyết định lựa chọn tôn giáo hay xa rời tôn giáo của con người. Trong một nền giáo dục nhân bản, tiên tiến, con người được trang bị những kiến thức cơ bản để hoàn thiện bản thân. Con người sẽ quyết định mình nên theo hoặc không theo tôn giáo. Còn nền giáo dục bị chi phối bởi tôn giáo, con người dễ bị áp đặt phải theo một tôn giáo chính thống. Vì thế, quyền tự do lựa chọn tôn giáo, quyền từ bỏ tôn giáo sẽ khó được đảm bảo khi giáo dục và truyền bá tôn giáo có nhiều mối liên quan.
Ở phương Tây, luật pháp quy định chính trị và tôn giáo là hai lĩnh vực tách biệt. Các quyết định chính trị không chịu tác động của tôn giáo. Nhưng ở các nước Trung Đông, chính trị và tôn giáo luôn có những mối quan hệ mật thiết. Tôn giáo bao trùm đến mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội. Vì vậy, rất khó để phân biệt đâu là lĩnh vực chính trị hay tôn giáo. Hiến pháp của nhiều nước Trung Đông coi đạo Hồi là quốc giáo, luật pháp phải dựa trên nền tảng của đạo Hồi, luật charia được một số nước chọn là đạo luật cơ bản để quản trị xã hội. Do những tác động của tôn giáo, tự do ngôn luận bị hạn chế tối đa. Quyền báng bổ thần linh bị coi là trọng tội. Tất cả những lời nói xúc phạm đến tiên tri Mohamed, đến kinh Coran đều bị lên án. Mohamed là đấng tiên tri được người Hồi giáo kính trọng, mỗi người đều có cách hình dung khác nhau về Mohamed. Việc vẽ hình ảnh nhà tiên tri này, đi kèm những lời châm biếm là điều không chấp nhận được đối với nhiều người Hồi giáo. Tuy nhiên, quyền tự do châm biếm tôn giáo lại được luật pháp cho phép ở nhiều nước phương Tây. Đây là những khác biệt rõ rệt về văn hóa và tôn giáo của phương Tây và khu vực Trung Đông. Có thể đó là cú sốc về văn hóa và tôn giáo.
Các nhà báo của Charlie Hebdo theo văn hóa phương Tây, cách nhìn nhận các vấn đề chính trị, tôn giáo, xã hội của họ cũng theo cách phân tích đánh giá của người phương Tây. Những bức tranh châm biếm về tiên tri Mohamed đối với người phương Tây không gây sốc vì họ thực hiện quyền tự do ngôn luận được luật pháp bảo vệ. Tuy nhiên đối với nhiều người Hồi giáo cực đoan đó là sự khiêu khích. Xã hội phương Tây đã có những bước tiến lớn về dân chủ và quyền con người trong nhiều thế kỉ. Trong khi đó, xã hội phương Đông và khu vực Trung Đông vẫn chịu sự chi phối rất lớn của tôn giáo. Những nguyên tắc của đạo Hồi vẫn được áp dụng từ những thế kỉ trước. Đây chính là những cản trở lớn cho sự phát triển của xã hội.
Tự do ngôn luận và tự do tôn giáo ở phương Tây và khu vực Trung Đông có nhiều điểm khác biệt. Tự do ngôn luận ở các nước dân chủ thể hiện quyền được nói và viết ra những suy nghĩ của mình mà không bị ngăn cản. Tự do tôn giáo là quyền được theo một tôn giáo, thờ phụng và thực hành tôn giáo của mình hoặc không theo tôn giáo nào cả. Ở các nước Hồi giáo, tự do ngôn luận không có nghĩa là quyền được báng bổ tôn giáo, quyền châm biếm thần linh, quyền được phê phán những nguyên tắc cứng rắn và lạc hậu của kinh Coran, hay quyền đòi bãi bỏ luật charia…Tự do tôn giáo cũng không có nghĩa là quyền hoàn toàn được tự do về tư tưởng, hay có những suy nghĩ phóng khoáng, trái ngược với những giáo lí áp đặt. Các nước Hồi giáo đã có kiến nghị đến Hội đồng nhân quyền của Liên hiệp quốc để bảo vệ quyền tự do tôn giáo của con người, nhưng thực chất là đề nghị coi báng bổ tôn giáo là vi phạm quyền con người. Các tổ chức tôn giáo ở các nước phương Tây cũng tạo ảnh hưởng để Nhà nước bàn lại về tội báng bổ tôn giáo và tiến đến ngăn cấm điều này để bảo vệ tốt hơn tình cảm tôn giáo của con người. Tuy nhiên, rất khó xác định, báng bổ tôn giáo ở mức độ nào sẽ làm tổn thương con người bởi vì đức tin và tình cảm tôn giáo là những điều sâu kín. Mỗi người đều có những suy nghĩ và tình cảm ở mức độ khác nhau. Nếu ngăn cấm mọi thứ sẽ hạn chế tự do ngôn luận.
2.                  Bảo đảm quyền tự do ngôn luận và tự do tôn giáo 
Bản tuyên bố về quyền con người của Hội đồng châu Âu năm 1950 đã được 47 quốc gia châu Âu kí kết. Điều 9 và điều 10 của văn bản này bảo vệ quyền tự do tôn giáo và tự do ngôn luận. Điều 18 và 19 của Hiến chương về quyền con người của Liên hiệp quốc năm 1948 cũng bảo vệ hai quyền cơ bản này. Tòa án về quyền con người của Hội đồng châu Âu đã ra nhiều phán quyết quan trọng để bảo vệ tự do ngôn luận và tự do tôn giáo. Các quyết định của cơ quan này thường là những quyết định khung mang tính chất khái quát và tổng hợp. Tòa án châu Âu muốn tạo ra một khuôn mẫu về việc bảo vệ các quyền tự do, đồng thời cho phép các nước có các phán quyết riêng về tự do ngôn luận và tự do tôn giáo dựa theo hoàn cảnh chính trị, xã hội của mình, nhưng những phán quyết đó phải dựa theo định hướng đã được vạch ra.
Trong phán quyết có tên Handyside c/Royaume-Uni năm 1975, tòa án này có một định nghĩa rất quan trọng về tự do ngôn luận: “Tự do ngôn luận không chỉ thể hiện bằng những thông tin và những ý tưởng được đón nhận bằng sự vui vẻ, cổ vũ, đó có thể là những thông tin bình thường, không làm tổn thương người khác. Tự do ngôn luận còn thể hiện qua những thông tin gây sốc, gây lo lắng và tổn hại đến một số người. Tự do ngôn luận gắn với sự đa dạng về thông tin, sự cảm thông, cùng trí tuệ rộng mở, không có các điều kiện đó, sẽ không có xã hội dân chủ“. 
Điều 9 trong Tuyên ngôn về quyền con người của Hội đồng châu Âu ghi nhận về quyền tự do tôn giáo: “Mỗi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo. Quyền này thể hiện tự do thay đổi tôn giáo hay đức tin tôn giáo, cũng như quyền thể hiện tôn giáo bằng cách tham gia vào các nghi lễ tôn giáo, truyền bá và thực hành tôn giáo“. Tự do tôn giáo và tự do ngôn luận có thể bị hạn chế trong những hoàn cảnh đặc biệt, thật sự cần thiết.
Khi các quyền tự do trên có xung đột với nhau, các nhà luật học tuân theo ba tiêu chí quan trọng để lựa chọn cả hai quyền trên, hoặc loại bỏ một trong hai quyền: (i) Điều kiện chính thống, phù hợp với sự công bằng và đạo lí, hợp với lẽ phải. (ii) Điều kiện hợp pháp, đúng với những tiêu chuẩn và quy định của luật pháp. (iii)Điều kiện cần thiết đảm bảo lợi ích chung của xã hội, vì trật tự, an toàn xã hội và vì con người.
Ví dụ về trường hợp bức ảnh Piss Christ của nghệ sĩ Andres Serrano, không có điều luật nào quy định cách thức sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Mỗi người có cách sáng tạo riêng, xét về mặt luật pháp việc tạo ra bức ảnh gây tranh cãi không vi phạm luật pháp, xét về mặt đạo đức và tôn trọng tình cảm tôn giáo, chắc chắn bức ảnh đã gây tổn thương cho một số người có tình cảm tôn giáo nhiệt tình. Khi bức ảnh được trưng bày ở nhiều nơi, vấn đề trật tự và an toàn xã hội trở thành mối lo của các nhà tổ chức. Vì thế để đảm bảo an toàn xã hội và trật tự công cộng, ở một số nơi như đảo Corse, cuộc triển lãm của Andres Serrano đã bị hủy bỏ. Tuy nhiên, bức ảnh vẫn tiếp tục được trưng bày ở nhiều nơi khác vì sự đề cao tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Trong trường hợp này, tự do ngôn luận được đề cao hơn tự do tôn giáo.
Đối với trường hợp của tờ báo Charlie Hebdo, tờ báo này thường xuyên bị các tổ chức tôn giáo, các chính khách, các tổ chức cực hữu kiện ra tòa. Đã có 50 đơn kiện Charlie Hebdo kể từ năm 1992 đến nay, tuy nhiên tờ báo này vẫn trụ vững vì nội dung cơ bản của tờ báo này là chống phân biệt chủng tộc, chống phân biệt đối xử, bảo vệ bình đẳng. Charlie Hebdo phân tích các vần đề chính trị, xã hội bằng những bức tranh châm biếm. Charlie Hebdo cho rằng tự do ngôn luận là được nói lên tất cả những suy nghĩ của mình, kể cả đó là những điều cấm kị. Những bức tranh châm biếm là cách nhìn nhận các vấn đề, tôn giáo, chính trị, xã hội theo cách khái quát của tờ báo này. Vì thể hiện tự do ngôn luận thẳng thắn và không kiêng nể, những bức vẽ của Charlie Hebdo thường gây nhiều tranh cãi, tòa báo này luôn nhận được những lời đe dọa. Tuy nhiên, Charlie Hebdo không gây kích động bạo lực, không khuyến khích hận thù tôn giáo và sắc tộc, không cổ vũ chiến tranh, vì đây là những giới hạn quan trọng của tự do ngôn luận. Khi xét đến những tiêu chuẩn cơ bản như điều kiện hợp pháp, điều kiện đảm bảo lợi ích chung của xã hội, sự tồn tại của Charlie Hebdo có nhiều ý nghĩa.
Những bức vẽ của Charlie Hebdo gây tổn thương cho một số người Hồi giáo, nhất là những người có tư tưởng cực đoan. Nhà nước có thể ngăn cấm việc xuất bản các số báo của Charlie Hebdo trong một thời gian nhất định, một là để bảo vệ quyền sống cho chính những nhà báo vì họ thường xuyên nhận được những lời đe dọa, hai là để đảm bảo trật tự công cộng vì những bức vẽ nhà tiên tri Mohamed của Charlie Hebdo gây ra nhiều rối loạn, như việc đốt cờ Pháp, biểu tình trước đại sứ quán, và bạo loạn. Sự nổi giận của một bộ phận người Hồi giáo có thể gây ra những nguy hiểm cho cộng đồng người Pháp đang sinh sống tại nước ngoài. Trái ngược với những giả thuyết trên, chính phủ Pháp quyết định hỗ trợ Charlie Hebdo một triệu euros, để tờ báo này tiếp tục hoạt động, nhiều tổ chức cũng trợ giúp tài chính cho tờ báo, rất nhiều người đặt mua tờ báo theo quý, khiến doanh thu của tờ báo này tăng vọt. Qua vụ việc của Charlie Hebdo, có thể thấy ý thức bảo vệ các quyền tự do của con người trong xã hội dân chủ. Tự do ngôn luận bị bịt miệng qua vụ khủng bố, lại được bảo vệ tốt hơn.
Đại hội nghị viện của Hội đồng châu Âu đã ban hành nghị quyết 1510, năm 2006 trong đó khẳng định: “Không có tự do ngôn luận sẽ không có xã hội dân chủ. Tiến bộ xã hội và sự phát triển của mỗi cá nhân phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận và chia sẻ các thông tin, các luồng tư tưởng. Tự do về tư tưởng và tự do tôn giáo là điều kiện cơ bản của một xã hội dân chủ“. Tôn giáo luôn là yếu tố quan trọng của văn hóa và việc hình thành nhân cách của con người. Mỗi quốc gia có sự đa dạng về văn hóa và tôn giáo sẽ tạo ra sự đa dạng về các di sản. Những giới hạn của tự do ngôn luận và những nguyên tắc đảm bảo đức tin tôn giáo cần được thảo luận rộng rãi để tìm ra những giải pháp đảm bảo sự tồn tại hài hòa của hai quyền cơ bản này. Con người không thể lấy lí do bảo vệ tôn giáo để bóp nghẹt tự do ngôn luận, nhưng cũng không thể đề cao tự do ngôn luận thái quá nhằm gây tổn thương đến tình cảm tôn giáo của một số người. Trong những trường hợp xung đột giữa bảo vệ tự do ngôn luận và tự do tôn giáo, cần có những quyết định đúng đắn của luật pháp.
Những phán quyết của tòa án về quyền con người của Liên minh châu Âu và của tòa án thuộc các nước thành viên đang có xu hướng đề cao tự do ngôn luận hơn là bảo vệ đức tin tôn giáo. Con người sống trong xã hội dân chủ đang ngày càng khẳng định bản thân, cái tôi của con người ngày càng lớn vì các quyền tự do cơ bản được đề cao trong khi tôn giáo không còn giữ vai trò quan trọng như trước đây trong đời sống chính trị, xã hội. Các bức tranh châm biếm, những bộ phim hay những vở kịch thể hiện sự sáng tạo nghệ thuật nhiều hơn là sự khiêu khích đối với tôn giáo. Đó là những cách khác nhau để thể hiện tự do ngôn luận. Trong những trường hợp đặc biệt, tự do ngôn luận có thể vượt quá giới hạn, khi đó cần có sự can thiệp của tòa án để bảo vệ tự do tôn giáo và các quyền tự do khác của con người.
P.T.Đ.
Tác giả gửi BVN 

Tài liệu tham khảo 
8.                  La liberté d’expression, les grands textes de Voltaire à Camus, le Monde hors-série, mars 2015


Thứ Bảy, ngày 09 tháng 5 năm 2015


NHÀ THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA
NÓI VỀ THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH

Trần Đăng Khoa


Có lẽ với đông đảo người đọc, Thiền sư Thích Nhất Hạnh không còn xa lạ. Ông là một trong những đại Thiền sư nổi tiếng nhất thế giới, người được các Phật tử xem như là một vị Phật sống tái thế. Những cuốn sách của ông, những bài thuyết pháp của ông được lưu truyền trên khắp hành tinh. Từ những năm bảy mươi của thế kỷ trước, ông đã là ứng cử viên của Giải Nobel hòa bình. Tôi biết ông có phần muộn hơn, nhưng cũng trước Hoàng Anh Sướng đến cả hàng chục năm.

Dịp ấy đang độ xuân. Như mọi người dân Việt, tôi đưa vợ con đi lễ chùa Bồ Đề (Gia Lâm, Hà Nội). Ngôi chùa này, Thiền sư Thích Nhất Hạnh và tăng đoàn Làng Mai đã từng đến thuyết pháp. Thế rồi, trong lúc chờ vợ hóa vàng, tôi dắt con gái đi dạo chơi vãn cảnh chùa. Tôi thực sự ngạc nhiên khi nhìn thấy trong cửa hàng bán Kinh Phật cùng sách Tử vi bói toán, có rất nhiều đĩa CD thuyết pháp của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, cả đĩa hình, đĩa tiếng, nhưng đều bán đồng loạt một giá như nhau, và bán rất rẻ, chỉ có hai ngàn đồng một đĩa. Số tiền ấy không đủ mua một gói kẹo lạc hay một mớ rau muống. Nhưng nhờ với giá rẻ như thế mà một em bé đánh giầy lang thang cơ nhỡ hay một bà hành khất cũng dễ dàng có được cả một buổi thuyết pháp của một vị Thiền sư lừng danh thế giới.
 
Tôi mua một vài đĩa về nhà nghe thử. Nghe cũng vì tò mò. Nhưng nghe rồi, tôi bắt đầu mê các bài thuyết pháp của ông. Tôi rất kinh ngạc khi trong các bài pháp thoại của vị Thiền sư nổi tiếng thế giới mà lại không thấy chùa, không thấy Kinh, không thấy cả Phật nữa, chỉ toàn những chuyện đời thường của mình, của gia đình mình, của những người thân. Nó vô cùng giản dị như muôn mặt của đời sống. Thiền sư hướng dẫn giúp ta làm sao có được sự an lạc, thảnh thơi giữa đời sống bộn bề những lo toan, hờn trách. Làm thế nào để có thể đứng vững trước bao nhiêu bão táp, mưa giông, bon chen, đố kỵ. Rồi cách ứng xử để lập truyền thông với bố mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè, để có tình yêu thương đích thực, để được hiểu và được thương. Đặc biệt, ta cần phải làm gì khi người thân mất?

 
Người mất thì họ đi về đâu? Tôi rất thích lối diễn giải của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Ông bắt đầu câu chuyện từ một giọt mưa. Giọt mưa rơi xuống phiến đá. Ta nhìn thấy rõ giọt nước ấy. Nó long lanh sáng. Rồi nó thẫm dần như một chấm nâu. Ta nhắp đi, ngoảnh lại, không còn thấy nó nữa. Lại nghĩ, giọt mưa đã chết. Nó đã biến khỏi mặt đất. Nhưng không! Giọt mưa không chết. Nó cũng không biến đi. Nó vẫn đang tồn tại. Nhưng tồn tại trong một hình dạng khác. Nó đã thành một đám mây che mát trên đầu ta. Rồi từ mây, nó hóa tiếp cơn mưa, tưới mát lành cả mặt đất. 

Cũng tương tự như thế, khi bố mẹ ta chết, bố mẹ cũng có mất đâu. Bố mẹ vẫn tồn tại, nhưng tồn tại ở một dạng khác. Bố mẹ vẫn luôn ở trong ta, trong từng tế bào cơ thể ta. Không cần phải xét nghiệm ADN, ta chỉ đứng trước gương. Thấp thoáng sau gương mặt ta là gương mặt bố mẹ, gương mặt của ông bà, và xa hơn nữa là các cụ kỵ, tổ tiên ta. Tổ tiên vẫn luôn hiện hữu ở ngay trong ta. Vậy thì ta phải sống thế nào, tu thế nào để gương mặt ta luôn sáng đẹp. Gương mặt ta sáng đẹp, tâm hồn ta sáng đẹp, thì gương mặt bố mẹ, ông bà, tổ tiên cũng sáng đẹp.

Bàn được đến thế là sâu sắc lắm!



Tôi cũng rất ám ảnh bởi câu chuyện của Thiền sư Thích Nhất Hạnh về một người lính Mỹ. Anh tham trận ở Việt Nam. Trong một trận càn, anh đã giết một đứa trẻ con. Đứa trẻ hoàn toàn vô tội. Vì thế, anh ân hận, dằn vặt và đau khổ. Nhiều người lính khác cũng thế. Đó là những người tốt. Chỉ những người tốt mới biết ân hận. Trở về Mỹ, họ mắc một căn bệnh - bệnh hội chứng chiến tranh Việt Nam. Có người bị tâm thần, không còn sống được bình thường, cũng không có bệnh viện nào chữa khỏi. Họ tìm đến Thiền sư Thích Nhất Hạnh, học một khóa tu của Ngài. 

Thiền sư bảo, dẫu sao anh cũng đã giết người. Bây giờ, anh có dằn vặt, ân hận hay đổi cả mạng sống của mình thì đứa trẻ ấy cũng không thể sống lại được nữa. Tội của anh rất nặng. Nhưng anh vẫn có thể thoát được nghiệp chướng. Đứa trẻ không sống lại được, nhưng vẫn còn rất nhiều những đứa trẻ khác đang nguy kịch. Chúng đang đói khát và tật bệnh. Chúng sẽ chết nếu như không được cứu. Vậy thì anh hãy cứu chúng đi. Anh cứu được một đứa trẻ thoát khỏi cái chết là anh đã giải được nghiệp rồi. Anh cứu được đứa thứ hai, thứ ba, thứ tư..., anh sẽ thành vị Bồ Tát. Và như thế, ngay cả những kẻ tội đồ cũng có thể thành được Bồ Tát, nếu biết tu tập. 

Người lính ấy bỗng như được giải thoát. Anh đã khỏi hẳn bệnh. Đã khỏe mạnh trở về được với đời sống thường ngày. Rồi anh đi làm việc thiện. Không phải anh cứu được một đứa trẻ thoát khỏi cái chết mà anh cứu được hàng trăm đứa trẻ bất hạnh ở Việt Nam và ở khắp nơi trên thế giới.

Tôi tìm mua các cuốn sách về Phật, các bài Kinh, rồi các bài giảng của các Đại đức, Hòa thượng khác. Nhưng phải nói thật, khi đã nghe Thiền sư Thích Nhất Hạnh thuyết pháp rồi thì rất khó nghe các vị sư khác. Nhiều khi, tôi còn thấy dị ứng. Có vị sư giảng Phật pháp mà mắt cứ long lên sòng sọc, giọng vỏng vót, gắt gỏng, đầy sân hận. Có vị vừa giảng vừa trêu ghẹo mấy nữ Phật tử ngồi dưới. Có vị lại còn tạo sự hấp dẫn bằng cách kể những câu chuyện tiếu lâm rất tục tĩu, bợm trợn, kể cả chuyện Đậu phụ làng cắn đậu phụ chùa. Giảng Phật pháp, hướng người ta đến với đạo Phật, lại mang chùa mang sư ra diễu thì ai còn tin Phật, tin sư nữa đây?

Tôi lại phải trở về với Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Lại sưu tầm các đĩa ghi hình những bài pháp thoại của ông. Rồi tôi lọ mọ chuyển các đĩa CD, VCD bài giảng của ông ra MP4, MP3. Tôi đưa vào các Ipod, Ipad rồi tặng bạn bè và người thân của mình. Nhà báo Hoàng Anh Sướng là người đầu tiên tôi tặng món quà quý đó. Tôi biết anh là nhà báo có tài. Anh cũng rất giỏi thuyết giảng. Nhiều bài viết, bài nói của Hoàng Anh Sướng về Trà đạo, về tâm linh, ngoại cảm rất hay, rất hấp dẫn. Bản thân tôi cũng đã viết bài giới thiệu tập sách “Bùa ngải xứ Mường” của anh. Tôi bảo Sướng: "Chú nghe đi. Trong này có hàng ngàn bài hát. Hàng chục cuốn tiểu thuyết đặc sắc của thế giới phát trong chương trình Đọc chuyện đêm khuya của Đài Tiếng nói Việt Nam. Nhưng trước hết, chú hãy nghe phần của Thầy Nhất Hạnh. Nhiều lắm. Nghe các bài thuyết pháp trước rồi nghe các truyện dài của thầy sau".

Lúc bấy giờ, Hoàng Anh Sướng đang say mê nghiên cứu các nhà ngoại cảm. Anh lầm lụi vượt rừng, vượt núi cùng họ đi tìm mộ liệt sĩ, rồi nghiên cứu các cuộc gọi hồn. Trông anh lúc nào cũng tất tả, bận rộn. Người lúc nóng, lúc lạnh, lúc vui, lúc buồn. Có lúc cũng đau khổ vì sự hục hặc của các nhà ngoại cảm với nhau. Tôi hỏi : "Chú đã nghe chưa? Nghe Thầy Nhất Hạnh thuyết pháp chưa?". "Em nghe rồi. Nhưng cứ nửa chừng lại bỏ. Ông cụ ề à quá. Cứ tháng Năm một câu, tháng Mười một câu. Oải vô cùng!". 


Tôi biết mình thật vô duyên. Muốn hướng người thân đến với Phật pháp. Nhưng mặt mình trông cứ gian gian. Làm sao người đời tin được. Người nhẹ dạ còn chả tin thì làm sao thuyết phục được một cây bút sắc lẹm như Hoàng Anh Sướng!


Câu chuyện bỏ lửng đó. Tôi và Hoàng Anh Sướng vẫn gặp nhau thường xuyên nhưng không bàn đến chuyện ấy nữa. Anh cũng quẳng cái Ipod 160 GB tôi tặng ở xó xỉnh nào mất rồi. Tôi không hỏi mà anh cũng chẳng quan tâm.

Thế rồi mùa hè năm 2013, đột ngột anh khoe với tôi: "Thiền sư Thích Nhất Hạnh mời em sang Mỹ ba tháng tham dự những khóa tu và buổi thuyết pháp của thầy dọc nước Mỹ”. “Thế thì chú đi ngay” - Tôi bảo Sướng. “Tuyệt lắm đấy. Bận gì cũng hãy bỏ hết. Đây là cơ hội ngàn năm có một. Chú phải đi ngay!”.

Quả như sự tiên đoán của tôi. Chuyến đi ấy vô cùng thú vị. Cuộc gặp gỡ giữa nhà báo Hoàng Anh Sướng với Thiền sư Thích Nhất Hạnh như có sự dẫn dắt, sắp đặt của Trời, Phật. Anh có rất nhiều tư liệu quý về Thiền sư Thích Nhất Hạnh do tôi cung cấp trước đó, nhưng vì không chịu nghe nên đến khi tiếp xúc với Thiền sư tại Mỹ, anh vẫn là kẻ tay không. Anh hoàn toàn tinh khiết như một trang giấy trắng. Và rồi, suốt ba tháng theo chân Thiền sư Thích Nhất Hạnh dọc nước Mỹ, anh đã tự khám phá tầm vóc lồng lộng của Thiền sư.
Anh kinh ngạc khi thấy người dân khắp nơi trên hành tinh đổ về nước Mỹ nghe Thiền sư thuyết giảng Phật pháp. Trong số hàng ngàn người nghe đó có những nhà chính trị nổi tiếng, những nhà khoa học lỗi lạc từng được trao giải Nobel. Trình độ, địa vị xã hội và số phận của mỗi người cũng rất khác nhau nhưng họ đều sùng kính Thiền sư, coi Thiền sư như một vị Phật sống. Anh cũng ngạc nhiên khi biết mỗi giờ thuyết giảng của Thiền sư được trả rất nhiều tiền. Nhưng Thiền sư sống vô cùng đạm bạc. Tài sản và vật dụng của Thiền sư chẳng có gì đáng giá. Số tiền khổng lồ ấy, Thiền sư dùng để nuôi hàng ngàn đệ tử trong Tăng đoàn, rồi làm từ thiện cho những người bất hạnh ở khắp nơi trên thế giới.
 
Ở Việt Nam, những năm bao cấp, rất nhiều nghệ sĩ nghèo khổ đã nhận được sự giúp đỡ của ngài. Một trong số họ là thi sĩ Hoàng Cầm. Sau này, qua cuốn hồi ký của sư cô Chân Không, tôi mới biết được bí mật ấy. Hoàng Cầm nhận được tiền qua sư cô Chân Không gửi. Và ông cứ tưởng Chân Không là một nhà doanh nghiệp hay một tiểu thư khuê các, một mệnh phụ phu nhân giàu có và lãng mạn, rất yêu những bài thơ tình của ông. Ông hoàn toàn không biết đó là một Ni sư. Và tiền ông nhận là tiền của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.




Cái tài đặc biệt của Thiền sư Thích Nhất Hạnh là ông đã hiện đại hóa đạo Phật, đưa đạo Phật vào cuộc sống của mọi tầng lớp người, trong đó, có những người Tây phương đã từng theo nhiều tôn giáo khác nhau. Cũng nhờ có ông mà đạo Phật ở phương Tây phát triển rất nhanh và mạnh, đặc biệt được giới trẻ và trí thức hâm mộ. Ông mở nhiều khóa tu tập riêng cho giới doanh nhân, giới bảo hộ môi trường, giới giáo chức, cựu chiến binh, văn nghệ sĩ. Ông cũng mở cả khóa tu cho giới diễn viên Hollywood, các nghị sĩ Quốc hội Hoa Kỳ, rồi những khóa tu cho cả cảnh sát, an ninh, và người coi tù. Người dự khóa tu không cần phải quy y nhưng có thể thừa hưởng kho tàng tuệ giác của đạo Phật để tháo gỡ khó khăn trong đời sống nội tâm, tái lập lại truyền thông với những người khác, trong đó có gia đình, đồng nghiệp, đem lại hạnh phúc trong đời sống hàng ngày. 

Điều đáng kinh ngạc là những người tham gia khóa tu của Thiền sư, có người từng là linh mục, là mục sư, như mục sư Robert Schaibly ở Houston, Texas. Vị mục sư này đã xin thụ trì 5 giới, quy y Tam bảo mà không thấy có sự mâu thuẫn nào giữa đức tin Cơ đốc giáo của bản thân với tuệ giác đạo Phật. Sau đó, ông còn đến Làng Mai của Thiền sư Thích Nhất Hạnh ở Pháp để tiếp tục tu học cho đến khi thành một vị giáo thọ của làng Mai, tức là người có khả năng mở những khóa tu theo giáo lý đạo Phật. Vị mục sư này cũng đã viết thư cho bề trên, đề xuất nguyện vọng muốn được vừa làm mục sư, vừa làm giáo thọ đạo Phật. Sáng chủ nhật ông giảng bài cho con chiên, chiều hướng dẫn thiền tập cho mọi người, trong đó có cả những con chiên ở trong nhà thờ…


Ai sinh ra cũng mong mình được hạnh phúc. Không phải ngẫu nhiên, trong Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bàn đến hạnh phúc. Người dẫn cả tuyên ngôn của nước Mỹ, trong đó khẳng định, con người ai sinh ra cũng có quyền bình đẳng. Đó là quyền bất khả xâm phạm. Trong số những quyền ấy, có quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Trong tiêu chí của một Quốc gia mà chúng ta luôn vươn tới, cũng là “Độc lập” – “Tự do” và “Hạnh phúc”. Nhưng nói như một nhà thơ: “Hạnh phúc là gì? Bao lần ta lúng túng – Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi vẫn không ra?”. Chúng ta đi tìm hạnh phúc, nhưng sao chỉ gặp những khổ đau. Có lẽ vì quan niệm “Hạnh phúc là đấu tranh” thì làm sao mà hết khổ đau được.
Theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh, không thể có hạnh phúc từ những cuộc tranh giành. Sự thành công của mình không thể lại phải trả giá bằng sự thất bại của người khác. Tại sao người kia phải thất bại thì mình mới thành công? Tại sao người khác cứ phải đau khổ thì mình mới hạnh phúc? Đó là câu hỏi quan trọng. Làm thế nào để tôi thành công và anh cũng thành công, thì hạnh phúc của ta sẽ lớn hơn, trọn vẹn hơn vì không ai phải đau khổ vì sự thành công của chúng ta hết. Hạnh phúc của chúng ta đâu phải chỉ là quyền lực, danh vọng, tiền bạc. Hạnh phúc là khi chúng ta có tình yêu thương và sự hiểu biết.
 
Với đạo Phật, phần lớn chúng ta mới thực tập tín mộ, tín ngưỡng, chứ ít người sử dụng được tuệ giác đạo Phật để chuyển hóa thân tâm, tháo gỡ những khó khăn. Cầu nguyện cũng phần nào đem lại sự an lạc, vì giúp lắng dịu những khổ đau, lo lắng. Nhưng muốn giải quyết tận gốc vấn đề thì phải có tuệ giác, mà tuệ giác phải do tu tập mới có được. Hạnh phúc là an lạc, không có an thì không có lạc, an trong thân và trong tâm. Nếu con người chứa chất quá nhiều sự căng thẳng, thân không an thì tâm làm sao mà an được? Trong khi đó tâm có những cảm giác, cảm xúc như giận hờn, tuyệt vọng, bạo động, nếu không có phương pháp cụ thể thì làm sao nhận diện và chuyển hóa được những bất an của tâm? Trong Kinh Niệm xứ hay Kinh Quán niệm hơi thở, Đức Thế Tôn đã dạy những phương pháp cụ thể để làm lắng dịu những căng thẳng trong thân, trong tâm, rồi nhìn sâu để xem tận gốc rễ của những khổ đau phiền não đó do đâu, từ đó mới bắt đầu chuyển hóa được đau khổ, mới có được hạnh phúc.


Cũng theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh, đạo Phật ngày xưa giúp đất nước nhiều lắm. Học giả Hoàng Xuân Hãn cho rằng, đạo Phật giúp đời Lý là triều đại thuần từ nhất trong lịch sử, khi từ vua quan tới thường dân đều thực tập đạo Phật. Đời Trần cũng vậy. Sau khi chiến thắng Nguyên Mông, quan quân có đệ trình lên một hòm tài liệu của một số viên chức chính quyền liên lạc với giặc. Nhưng Vua Trần Thánh Tông đã đem hòm tài liệu đó đốt trước mặt bá quan để yên tâm trăm họ, bởi chúng ta đã giành được độc lập, đẩy lui được quân thù thì cần nhất bây giờ là đoàn kết quốc gia. Đó là hành động phát sinh từ tuệ giác của đạo Phật. Hiện giờ, ta có thể học theo những hành động như thế. Cố nhiên là trong chiến tranh chúng ta bị chia rẽ, có những ý thức hệ đối chọi nhau, có những nhận thức khác nhau về chính trị, có cách thức yêu nước khác nhau. Giờ phải làm thế nào để buông bỏ thái độ đã trở nên không còn phù hợp với thực tiễn. Đừng cho rằng chỉ có lý thuyết của mình là duy nhất đúng, còn mọi lý thuyết khác đều sai lầm. Thái độ bám vào một chủ thuyết, không bao dung đó sẽ tiếp tục làm cho dân ta khổ.

Trong giới luật Tiếp hiện của chúng tôi có đưa ra tinh thần đạo Phật là không thờ phụng bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, kể cả đó là lý thuyết Phật giáo. Đạo Phật đưa ra những phương tiện để tu tập, để học hỏi, để chuyển hóa bản thân chứ không phải là những lý thuyết để thờ phụng, để phải phát động những cuộc chiến đẫm máu. Tôi nghĩ thái độ đó rất cần thiết. Vua A Dục ca ngày xưa sau khi thống nhất đất nước đã đi tu, yểm trợ cho các tôn giáo để các tôn giáo thống nhất nhân tâm. Vì thế, vua A Dục ca thống nhất được nhân tâm sau khi thống nhất lãnh thổ. Chúng ta nên học bài học đó. Chúng ta thống nhất Nam Bắc nhưng chưa thống nhất được lòng người, vẫn có sự tị hiềm, hận thù, đau khổ trong lòng mỗi chúng ta. Áp dụng đạo Phật là để buông bỏ những hận thù trong quá khứ. Đó là một trong những thực tập mà ta có thể thực hiện ngay, để thống nhất lòng người, ôm lấy nhau mà sống...

Cái tài của Thiền sư Thích Nhất Hạnh là thế. Ông giảng Phật pháp mà không thấy chùa, cũng không thấy Kinh, không thấy Phật, chỉ thấy đời sống, thấy những chuyện nóng hổi của đất nước, của xã hội, của gia đình mình và của chính mình. Đến với Phật không phải trông chờ vào phép mầu nhiệm của Phật trong cõi huyền bí nào đó. Điều quan trọng là chúng ta phải vững tin. Tin vào chính mình. Nghĩa là ta phải tự biến ta thành Phật, để tự giải thoát cho mình. Nhiều khi chỉ thay một quan niệm, chúng ta đã thoát được khổ đau, đã tìm thấy hạnh phúc đích thực. Bởi nhiều khi chính ý niệm về hạnh phúc lại là chướng ngại của hạnh phúc. Ta bị mắc kẹt, bị cầm tù bởi chính ý niệm của mình. Không phá được cái nhà tù tự mình dựng lên để giam hãm mình thì làm sao có được hạnh phúc.



Nhà báo Hoàng Anh Sướng trong buổi ra mắt sách
"Hạnh phúc đích thực" tại Hà Nội. Ảnh: Vnexpress

Nguồn: