Thứ Ba, 24 tháng 4, 2018


30 THÁNG 4:
TẢN MẠN NHÂN VẬT LỊCH SỬ DƯƠNG VĂN MINH

Trần Văn Chánh
  
Tổng thống VNCH Dương Văn Minh, 30-4-1975

           Trong lịch sử cận-hiện đại của Việt Nam nói chung và miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Genève 1954 nói riêng, trường hợp nhân vật lịch sử Dương Văn Minh (1916-2001) có lẽ khá đặc biệt, và không ít người đã coi ông là một vị  tướng lãnh “có vấn đề”. Ông sống nói chung trong sạch, bề ngoài có vẻ luôn khiêm tốn hiền lành nhưng toàn tham gia những đại sự quân chính có tác dụng đảo chuyển hướng đi của lịch sử.

Vào thời kỳ đầu của Việt Nam Cộng Hòa, dưới thời Ngô Đình Diệm, Dương Văn Minh đã từng được coi là anh hùng trong thành tích đánh dẹp lực lượng Bình Xuyên (năm 1954) ở khu Rừng Sác (ngoại vi Sài Gòn) và dẹp tan quân đội của giáo phái Hòa Hảo (năm 1956), được thăng chức Trung tướng (5.1.1956). Hai đại sự khác trong đời ông là việc năm 1963 với tư cách Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng ông cầm đầu nhóm tướng lãnh đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, và việc năm 1975 với tư cách Tổng thống đã quyết định đầu hàng không điều kiện “đối phương” miền Bắc để kết thúc gọn nhẹ cuộc chiến tranh thảm khốc 30 năm, lập lại hòa bình cho dân tộc Việt.
Sở dĩ bị coi là vị tướng “có vấn đề” vì trong cả hai trường hợp vừa nêu trên, ông có những chỗ rất dễ bị chỉ trích bởi một số người khác biệt quyền lợi hoặc không đồng quan điểm. Đây cũng là một lẽ rất thường tình, bởi nếu ông Minh chỉ là một kẻ tầm thường vô dụng, không lý tưởng, chỉ biết sống “dĩ hòa vi quý” cho được vinh thân phì gia như bao người khác thì có lẽ chẳng ai cần nhắc gì tới ông, kể cả việc chỉ trích ông thậm tệ nhất đi nữa.

■ Liên quan cuộc đảo chánh 1.11.1963, trừ ra một số người sùng bái ông Diệm mà quyền lợi của họ vốn gắn chặt với chế độ Đệ nhất Cộng hòa, còn thì đa số nhân dân miền Nam lúc đó đều hoan nghênh ủng hộ. 
Về lịch sử/ diễn biến cuộc đảo chánh, đã có rất nhiều sách báo/ tài liệu đề cập chi tiết nên ở đây xin khỏi nhắc lại. Chỗ có vấn đề đang nói cho đến nay vẫn còn nhiều người thắc mắc, đó là việc ông Minh có phải hay không là người ra lệnh cho những người dưới trướng ông hạ sát Tổng thống Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu trên chiếc xe bọc sắt M 113 một cách thảm thiết quá, trên đường chở hai ông Diệm-Nhu về Bộ Tổng tham mưu ngày 2.11.1963 để xử lý, thay vì theo truyền thống văn hóa chính trị, phải để cho hai nhân vật lãnh đạo này được lưu vong sang xứ khác? Ngoài ra, nhắc lại việc này, một số người còn tố cáo ông Minh là kẻ phản bội tàn ác, vì con đường binh nghiệp của ông được thăng tiến nhanh chóng có một phần quan trọng là nhờ ở Tổng thống Ngô Đình Diệm…

Cho đến cuối đời, sống ở Pháp rồi ở Mỹ, vì là việc quá tế nhị, nhóm đảo chánh của ông Minh (gồm cả Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính…) không ai dám hé môi nói rõ việc này. Tuy nhiên, cũng có vài chi tiết được hé lộ trong hồi ký của một vài chứng nhân, qua đó chúng ta có thể đánh giá tương đối chính xác.
Hồi ký Tâm sự tướng lưu vong của Hoành Linh Đỗ Mậu (NXB Công An Nhân Dân, 1995, tr. 502-503), có đoạn kể, ngày 2.11.1963, ông Mậu thấy các tướng đảo chánh gồm Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân và Đại tá Dương Ngọc Lắm đang xầm xì bàn tán có vẻ bí mật, đến hỏi thì tướng Trần Văn Minh (Minh nhỏ) trả lời rất nhỏ, “Anh em đang bàn định cách đối xử với ông Diệm, nên giết hay nên cho ông ta xuất ngoại”. Ông Mậu phát biểu không đồng ý giết ông Diệm[1] thì tướng Nguyễn Ngọc Lễ nói to lên: “Xin anh em đừng nghe lời anh Mậu, đã nhổ cỏ thì phải nhổ cho tận rễ”. Thấy không ai phản đối tướng Lễ mà có vẻ im lặng đồng ý, Đỗ Mậu bèn nói thêm: “Việc tha hay giết ông Diệm là hành động lịch sử, vậy muốn tha hay giết ông ta, tôi đề nghị phải lấy quyết định tối hậu qua một cuộc bỏ phiếu kín, phải ghi vào biên bản đàng hoàng”. Đỗ Mậu cho biết tiếp: “Tất cả mọi người lại im lặng không có ai tỏ ra tán đồng ý kiến của tôi. Còn tướng Dương Văn Minh thì nhún vai tỏ thái độ bất mãn với tôi… Sau đó tướng Minh ra lệnh cho tướng Mai Hữu Xuân, Đại tá Dương Ngọc Lắm, Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa và Đại úy Nguyễn Văn Nhung đi đón hai ông Diệm-Nhu tại nhà thờ Cha Tam”.                 
Đỗ Thọ (cháu gọi Đỗ Mậu bằng chú ruột) lúc đó là sĩ quan tùy viên thân cận nhất của Ngô Đình Diệm, người đã theo sát đến phút chót bên cạnh hai ông Diệm-Nhu trên đường trốn từ Dinh Gia Long đến nhà thờ Cha Tam, trong một đoạn hồi ký cũng có nhắc lại sự kiện gần giống như trên: “Chú tôi (tức Đỗ Mậu- TVC) nói rằng luôn luôn kính trọng thương tiếc Tổng thống Diệm. Vụ 1.11.1963 chỉ cốt lật đổ ông bà Ngô Đình Nhu. Đưa Tổng thống Diệm lên Đà Lạt hoặc Côn Đảo trong một thời gian. Nhưng quyết định này đã có nhiều tướng lãnh không chịu. Trong đó có tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân” (Nhật ký Đỗ Thọ, Đồng Nai xuất bản, Sài Gòn, 1971, tr. 158). Ở một đoạn tiếp theo, tác giả Đỗ Thọ còn cho biết, khi ông Nhu không chịu lên xe M 113 để chở về Bộ Tổng tham mưu, một sĩ quan phe đảo chánh đã gào lên: “Ông không còn là cố vấn… Và Tổng thống nữa. Hãy lên xe gấp. Chúng tôi được lệnh Trung tướng Chủ tịch phải thi hành” (tr. 177).

Theo mấy chi tiết dẫn chứng trên đây, chúng ta có thể thấy, việc giết hai ông Diệm-Nhu, ông Minh không quyết định một mình, mà có sự họp bàn tập thể nhưng chỉ bàn kín hạn chế với vài tướng lãnh chủ chốt, trong đó có các tướng Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân và Đại tá Dương Ngọc Lắm, chứ không đưa ra toàn thể Hội đồng Quân nhân Cách mạng lấy quyết định. Còn ở một vài tướng tá khác, tuy không thấy nhắc trong đoạn hồi ký trên kia của Đỗ Mậu, nhưng chắc chắn cũng đã được ông Minh tham khảo ý kiến trước đó theo một cách nào đó thôi.

Theo cựu dân biểu Dương Văn Ba, một người thân cận có vài năm sống tá túc hoạt động báo chí trong nhà của Dương Văn Minh (ở số 3 Võ Văn Tần bây giờ), “Có sách ngoại quốc nói rõ người điều khiển việc bắt giết Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu là Trung tướng Mai Hữu Xuân, Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Tướng Xuân là người thân tín với Dương Văn Minh. Rất có thể tướng Xuân đã ra lệnh bắn chết Diệm, Nhu để tuyệt trừ hậu họa. Người thi hành lệnh bắn là thiếu tá Nhung, một trong những cận vệ của tướng Minh. Tướng Mai Hữu Xuân trực tiếp chỉ huy việc tiến chiếm Dinh Gia Long, ông chịu trách nhiệm về cái chết của Diệm, Nhu với tư cách người chỉ huy trực tiếp trận đánh. Nhưng một vấn đề chưa sáng tỏ là ông Xuân thi hành lệnh của Dương Văn Minh hay tự ý quyết định tại mặt trận. Giết Diệm, Nhu để tránh hậu họa, một giả thuyết hợp lý đối với con người mưu lược như ông Mai Hữu Xuân”. Rồi Dương Văn Ba kết luận: “Về phần Dương Văn Minh, ông chưa lần nào lên tiếng nói rõ vấn đề này. Dù có ra lệnh giết hay không, tướng Minh vẫn phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về cái chết của Diệm, Nhu” (Hồi ký Những ngả rẽ, Bản thảo phổ biến nội bộ, tr. 26-27). 

Từ khi hai anh em ông Diệm-Nhu bị chết thảm (ngày 2.11.1963), ông Minh và đám tướng tá đồng sự của ông không ai công khai thừa nhận mình có tham gia quyết định giết Tổng thống, có thể vì 2 lẽ: (1) Việc giết nguyên thủ quốc gia có tiếng tăm lớn như ông Diệm là một việc quá sức tưởng tượng theo quan niệm của Việt Nam Cộng Hòa thời đó; (2) Các tướng tá tham gia đảo chánh trong chừng mực nào đó hầu hết đều có thọ ơn ông Diệm trên con đường thăng tiến binh nghiệp của mình, nhưng họ bất đắc dĩ phải hạ thủ là để “sát nhất miêu cứu vạn thử” (giết một con mèo để cứu muôn con chuột), và cần phải “nhổ cỏ tận gốc” đề phòng nhóm ông Diệm lưu vong nước ngoài sẽ có thể tái tập hợp lực lượng, kết hợp với ngoại bang hoặc thành phần trong nước tìm cách phục hồi.

Xét hai lẽ nêu trên thì thấy việc nhóm ông Minh trước sau vẫn kín tiếng không thừa nhận giết Tổng thống Diệm cũng là một sự cận nhân tình, hầu như ai cũng vậy, vì họ sợ dư luận nghĩ không tốt về mình. Còn việc bắt buộc phải giết Tổng thống như trong trường hợp ông Diệm thì đó thuộc về lý do chính trị mà theo cách nghĩ của họ ngay vào thời điểm đó, khó thể có một chọn lựa nào khác tốt hơn. Có thể rằng ông Minh và vài người khác sau này cảm thấy áy náy trong lòng khi nghĩ lại chuyện đã qua, nhưng đây thuộc trường hợp mâu thuẫn mà một chính khách có lương tâm dễ bị mắc phải khi phải đối đầu với những tình huống quá phức tạp. Tuy nhiên, trên thực tế, hành động của nhóm ông Minh đã có thể được biện minh khi kết quả cuộc đảo chánh như được biết đã mang lại lợi ích cho đại đa số dân chúng, bằng việc loại trừ được một chế độ có nhiều chỗ bất ổn cho dân, theo kiểu “sát nhất miêu cứu vạn thử!”.

■ Đại sự thứ hai trong cuộc đời ông Minh liên quan đến ngày 30.4.1975 lịch sử, khi đại quân miền Bắc ồ ạt tiến sát vào Sài Gòn, quân lính Việt Nam Cộng Hòa nhiều nơi đã bị tan rã. Khi ấy, với cương vị Tổng thống vừa được Quốc hội đưa lên trước đó chỉ 3 ngày, nhóm chấp chính Dương Văn Minh (gồm cả Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu…) đã quyết định “không chống cự” và sau đó tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Sự đầu hàng nhanh chóng này tất nhiên nhận được nhiều sự đánh giá trái ngược nhau. Đối với “bên thua cuộc”, mỗi lần nhắc đến Dương Văn Minh, không ít người Việt tị nạn ở nước ngoài vẫn còn oán trách, cho ông là “hàng tướng” đã hèn nhát đầu hàng CS, “trao nước cho giặc”, để đến nỗi đất nước phải như ngày hôm nay (theo họ là nghèo nàn lạc hậu, nạn tham nhũng tràn lan vô phương cứu chữa, mất dân chủ này khác…). Đây là một quan điểm đánh giá có nhiều phần vội vã, cực đoan, đơn giản, không thấy hết thực tế của hình thế thời cục lúc đó, cũng như nhu cầu bức thiết chấm dứt chiến tranh tái lập hòa bình phải là mối ưu tiên hàng đầu đối với bất kỳ nhà lãnh đạo nào biết thương dân, vì đó là nguyện vọng thiết tha của nhân dân cả hai miền Nam, Bắc, sau khi đã bị nếm trải cuộc chiến tranh kéo dài vô cùng khốc liệt, mà cuộc chiến tranh ấy, ai cũng biết, không hoàn toàn do mỗi bên chủ động vì còn chịu ảnh hưởng nặng nề của các cường quốc, trong đó cả hai bên chiến tuyến đều thường có những người là họ hàng ruột thịt với nhau. Là một quân nhân kinh qua nhiều chiến trận, hơn ai hết ông Dương Văn Minh là người thấu cảm với nỗi khổ của nhân dân vô tội trong chiến tranh, và ngay cả bản thân ông, cũng có người em ruột là sĩ quan cao cấp Dương Thanh Nhựt (Mười Tỵ) đang đấu tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa ở bên kia chiến tuyến.

Giả định, ngày 30.4.1975, Dương Văn Minh không chịu đầu hàng mà kiên quyết “tử thủ” thì khó thể suy đoán sẽ còn bao nhiêu dân và quân của cả hai bên chiến cuộc tiếp tục thương vong, đổ máu. Ngay cả những người chủ trương “tử thủ” cùng với gia đình vợ con họ vì thế còn chưa biết số phận rồi sẽ  đi đến đâu? Trong khi đó, tử thủ trong điều kiện cận kề ngày 30.4 như đã biết thì kết quả hầu như chắc chắn phải thua, nhưng cho dù có thắng, phía bên kia tiếp tục kháng chiến thì chiến tranh vẫn sẽ còn kéo dài lâu hơn, 5 năm hay 10 năm nữa chưa biết chừng. Cho nên có thể nói, ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng là một hành động sáng suốt tránh cho Sài Gòn và cả nước không bị đổ máu thêm vô ích, trước hết vì mục tiêu hòa bình và hòa giải hòa hợp dân tộc, vốn là chủ trương căn bản của ông, cho dù ông có chịu ảnh hưởng bởi những ý đồ chính trị phức tạp của người Mỹ, người Pháp, hay có bị CS móc nối hay không. Trong trường hợp này, cũng giống như trong cuộc đảo chánh năm 1963, có lẽ phải nghĩ ông Dương Văn Minh tuy không hoàn toàn độc lập hành động (làm sao có sự độc lập này được?), cũng không phải tiếp tay cho CS (tuy rằng về mặt tác dụng khách quan thì có), nhưng là người đã biết khéo nương theo diễn biến thời thế, khai thác những chỗ “ám hợp” (hợp ngầm) giữa ông với những thế lực chi phối khác để làm lợi cho dân tộc: năm 1963 xóa bỏ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, còn nay là để kết thúc cuộc chiến tranh đau khổ tái lập nền hòa bình. Giả định, nếu được cầm quyền lâu hơn, đường lối chính trị của ông Minh chắc chắn sẽ có nhiều điểm không giống hẳn với những người CS.              
Việc ông Dương Văn Minh đầu hàng “giặc” trong thế thua để tránh bớt thương vong cho dân quân của cả hai phe xem ra cũng có khía cạnh hao hao giống với quyết định giao thành cho giặc rồi uống thuốc độc tự tử của Phan Thanh Giản, khi hùng binh của Pháp tiến đánh Vĩnh Long tháng 6.1867. Điểm khác biệt là ở đối tượng được giao, và ông Minh đã không tự tử như Phan Thanh Giản[2], vì hoàn cảnh lịch sử và tình huống cụ thể có khác, nhưng trong cả hai trường hợp của người xưa và người nay, đều rất dễ phát sinh dị nghị.
Có quan điểm khá phổ biến cho rằng ông Minh tuyên bố đầu hàng đơn giản chỉ vì bị lâm vào cái thế hoàn toàn thúc thủ, nhưng theo một số nhân chứng lịch sử lúc bấy giờ, tướng Dương Văn Minh nhận lên làm Tổng thống không có ý để thương thuyết với phe cách mạng vì đã thấy không còn khả năng thương thuyết; cũng không có ý để tiếp tục chiến tranh vì lâu nay ông vốn chủ trương hoà bình, hòa giải hòa hợp dân tộc (xem Chánh Trinh, Hồi ký không tên, NXB Thời Đại, 2012).        

Một câu hỏi nữa cũng đáng để đặt ra: Là một tướng lãnh cấp cao nhất trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, thông thường phải có khuynh hướng chủ chiến, nhưng tại sao Chính phủ do ông Minh đứng đầu lại có vẻ hiền lành chủ hòa với thiện ý cao nhất?
       Ngoài những lý do đương nhiên về chính trị, cũng như những đòi hỏi khách quan của lịch sử cùng nguyện vọng hòa bình của dân tộc, theo tôi chắc hẳn còn có một lý do sâu xa tiềm ẩn quan trọng nữa có thể giải thích nguồn gốc thái độ và chủ trương hòa bình-hòa giải hòa hợp dân tộc của Chính phủ Dương Văn Minh, từ đó đi tới quyết định đầu hàng nhanh chóng. Đó là lý do tôn giáo: Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đều theo Phật giáo, trong khi Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền là người rất mộ Kitô giáo. Đạo Phật là đạo của hòa bình, từ bi hỉ xả; Kitô giáo là đạo của lòng bác ái vị tha, lẽ tất nhiên các ông đứng đầu này đều có khuynh hướng chung không muốn cho sinh linh phải bị tàn sát, trong bất kỳ điều kiện nào còn có thể tránh được.
     Họ đều là những người nổi tiếng thanh liêm, đạo đức, sống nghèo, chưa nghe có tai tiếng gì về đời tư, thậm chí có người còn sống khổ hạnh, như ông Huyền cả đời chỉ ở nhà cấp 4, không có xe hơi riêng, cuối đời chỉ chuyên lo việc tu hành. Riêng bản thân ông Dương Văn Minh theo đạo Phật, nhân từ, thương người, sợ sát sinh, sợ phải giết người. Thấy ai hoạn nạn thì ra tay can thiệp, cứu giúp, cả đối với một số người thuộc chiến tuyến đối lập.

Cả ba vị đứng đầu Chính phủ Dương Văn Minh đều đã hành động xuất phát từ lòng nhân đạo, đã kết hợp nhuần nhuyễn nhau trong sự đồng thuận chấp nhận ưu tiên đường lối hòa giải hòa hợp dân tộc và giải pháp đầu hàng trong buổi hoàng hôn của chế độ để tránh cho thành phố Sài Gòn khỏi đổ nát và nhân dân vô tội cả nước khỏi phải chết thảm thêm nữa vì việc đánh nhau giữa hai bên vào giờ chót. Nếu không có sự đồng thuận giữa những con người cùng lý tưởng, được un đúc thấm nhuần bởi tinh thần từ bi hỉ xả và vị tha của các bậc giáo chủ, thì thật khó đi đến một quyết định mau lẹ, kịp thời và sáng suốt như vậy. Vì thế cho nên bây giờ bình tĩnh nhìn lại, có người còn đánh giá cuộc đầu hàng lịch sử nêu trên chẳng những không chút nhục nhã mà còn đáng ca ngợi là một hành vi anh hùng, đặc biệt hợp với lối hành xử bi-trí-dũng của nhà Phật.

Một số người thân cận với Dương Văn Minh (như các ông Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Lý Quý Chung, Thích Trí Quang…) đều cho rằng ông không phải là người làm chính trị sắc bén, có bản lĩnh[3], có lẽ họ nói theo nghĩa phàm đã xông pha vào chính trị thì phải khéo linh hoạt với rất nhiều thủ đoạn. 
Theo cựu dân biểu Dương Văn Ba, một người thân cận từng ở nhờ thời gian khá dài trong tư gia của tướng Dương Văn Minh (số 3 đường Trần Quý Cáp, nay là Võ Văn Tần), cả trước và sau 30.4.1975, thì ông Minh là “loại người trầm lắng, suy tư dù gốc của ông là một quân nhân. Triết lý của ông là triết lý trầm lắng của Phật giáo, ông không đua chen, không sân si; ông thuộc vào loại thấy đủ biết đủ, thấy nhàn biết nhàn. Đó là một loại triết lý pha lẫn giữa Phật giáo và Lão giáo. Ông sống khá bình dị, hòa mình với mọi người, đa số bạn bè bà con đều thương ông” (tldd., tr. 263).
Ông Ba còn cho biết tiếp: “Gia đình ông Dương Văn Minh thuộc vào loại thanh bạch, không có dư dả nhiều. Tài sản ông để lại trước khi ông đi Pháp là hàng ngàn chậu Hoa Lan, 3-4 con chó bẹc giê, 5-7 cái máy chụp hình loại chuyên nghiệp và lũ khũ những đồ đạc, vật dụng linh tinh không giá trị nhiều lắm của một vị tướng lãnh” (tr. 364).
     Rõ ràng, ông Dương Văn Minh đầu hàng “giặc” không phải để được vinh thân phì gia, vì ai cũng biết, sau khi hoàn tất trách nhiệm trước lịch sử và lui khỏi chính trường, ông đã sống cuộc đời ẩn dật nơi nước ngoài với con cái, không phát biểu về chính trị, không viết hồi ký để kiếm tiền, chấp nhận cuộc sống nghèo bình thường, từ chối mọi sự trợ cấp từ phía các chính phủ Pháp, Mỹ mà ông đã có thời gian từng phục vụ[4]. Ông không giống như một vài vị tướng khác, suốt ngày đeo cái lon tướng để được tiếp tục nhận sự vinh danh cho tới chết mới thôi, mặc dù nhiệm vụ lịch sử đã hoàn thành từ rất lâu.    
     Ngày nay, xét diễn biến các sự kiện, đa số người ta đều thừa nhận việc đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh cùng nội các của ông chẳng những không nhục nhã mà còn là hành động sáng suốt thức thời vụ. Điều này về sau đã được cố thủ tướng Võ Văn Kiệt công khai thừa nhận trong một lần trả lời cuộc phỏng vấn liên quan đến vấn đề đang xét của tuần báo Quốc Tế (Bộ Ngoại giao) nhân dịp 30.4.2005. Có lần ông Kiệt chia sẻ với cựu dân biểu Lý Quý Chung: “Ông Minh là một con người tốt và có lòng yêu nước…” (Hồi ký không tên, sđd., tr. 447).
     Cho nên, liên quan đến một chi tiết về thủ tục tiếp quản tại Dinh Độc Lập ngày 30.4.1975, khi ông Minh bảo rằng sáng nay đã có một tuyên bố trao quyền cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời rồi thì người cán bộ tiếp quản nói “Anh chẳng có gì để trao. Anh chỉ có thể tuyên bố đầu hàng![5],  tôi cho câu nói vặn lại này là một câu hơi lố, rất dở, không thật sự cần thiết, không xứng với tầm nghĩ việc lớn cũng như với thiện chí rất đáng được trân quý của ông Dương Văn Minh.  
     
 
Tướng Dương Văn Minh (1916-2001), và Thủ tướng Võ Văn Kiệt (1922-2008) 


Con trai ông Dương Văn Minh, kỹ sư Dương Minh Đức, có lần được hỏi ý kiến nhận xét sự kiện lịch sử ngày 30.4.1975, và về người cha của mình, đã phát biểu: “Tôi rất yêu quý ba tôi…Thứ nhất, ông là vị tướng sống trong sạch, không chấp nhận chuyện tham nhũng; thứ hai, trong nguyên tắc tìm giải pháp hòa bình cho đất nước Việt Nam, theo ông phải do chính người Việt Nam tự giải quyết. Tôi hiểu quan điểm của ba tôi luôn đặt dân tộc và sinh mệnh nhân dân trên hết. Chính vì vậy, ông không ngại đứng ra đảm nhận vai trò Tổng thống trong buổi hoàng hôn của một chế độ…. Ba tôi là người luôn chủ trương hòa giải, hòa bình dân tộc và ông đã bác bỏ ý kiến của một số người yêu cầu “tử thủ” Sài Gòn. Tôi tin rằng đây là quan điểm xuyên suốt trong cuộc đời chính trị của ông “ yêu nước trước hết là phải cứu dân” (theo tạp chí Hồn Việt, 1.6.2009).
Đúng như vậy đó, khái niệm yêu nước rất rộng. Đánh giặc hăng say chỉ là một trong những biểu hiện của tinh thần yêu nước khi đất nước bị xâm lăng mất độc lập, nhưng đó chẳng qua cũng chỉ là hành động bất đắc dĩ chứ chẳng nên lúc nào cũng cổ vũ thái quá, bởi lẽ đơn giản “phi nguy bất chiến” (lời trong Tôn Tử binh pháp, không kẹt vào thế nguy thì đừng đánh). Trong mọi trường hợp khác nhau, yêu nước không thể tách rời với thương dân/ cứu dân, mà thương dân/ cứu dân trước hết là phải bảo vệ tối đa và bằng mọi cách sinh mạng của dân, rồi sau đó mới tính tới chuyện để cho họ được hưởng đầy đủ các phúc lợi vật chất cũng như các quyền về tự do dân chủ. Thà chịu “thua” ngay tức khắc mà bảo vệ được sinh mạng của dân, sớm mang lại hòa bình cho dân tộc, còn danh dự hơn cố đánh trong cái thế tất bại mà để cho dân, quân phải hi sinh xương máu quá nhiều. Mặt khác, cho dù một bên có thắng mà nướng con dân trong lửa đỏ cũng không phải điều tốt. Hiểu được như vậy ta sẽ thấy ông Dương Văn Minh là một người có đức kiên trì tốt nhịn, có lòng nhân ái thiết tha, đã xử lý vấn đề hợp tình lý, đúng lúc đúng thời theo cái nghĩa “quân tử kiến cơ nhi tác” (người quân tử biết nương theo thời cơ mà hành động), “thức thời giả vi hào kiệt” (kẻ thức thời là hào kiệt), và sẽ là không quá đáng nếu chúng ta hôm nay coi quyết định đầu hàng ngày 30.4.1975 của ông là một hành động anh hùng.

23.4.2018    
                                                                                                   

[1] Đỗ Mậu tham gia đảo chánh chỉ vì muốn loại trừ sự lộng hành của vợ chồng Ngô Đình Nhu, còn đối với ông Diệm, Đỗ Mậu vẫn là người tâm phúc.
[2] Trong một bức thư ông Minh gởi cho tướng Nguyễn Chánh Thi (người từng đảo chánh Ngô Đình Diệm năm 1960 nhưng thất bại) đề ngày 15.4.1987, có đoạn viết: “Theo tôi, tự tử không phải lúc nào cũng là đúng. Đôi khi mình phải dám sống để hứng nhận những hậu quả cho sự quyết định của mình gây ra. Có lẽ anh Đỗ Mậu (cũng như nhiều người) không rõ là tôi lấy quyết định cuối cùng sau khi đã tham khảo ý kiến với một số những vị dân biểu và nghị sĩ còn lại, với những anh em quân nhân đến gặp tôi vào giờ chót, với các thầy mà trong đó thầy Trí Quang và Trí Thủ đã nói và đã nhắn nhủ để cứu dân” (xem Trương Võ Anh Giang, Máu chảy về tim, NXB Trẻ, 2016, tr. 311). 
[3] Xem Chánh Trinh, Hồi ký không tên, NXB Thời Đại, 2012, tr. 225, 305.
[4] Về cuộc sống đạm bạc của ông Dương Văn Minh trong thời gian ẩn dật ở Pháp và ở Mỹ, cũng như nhiều chi tiết khác liên quan cả cuộc đời ông, rất nhiều sách vở tài liệu đã ghi chép. Có thể xem: Trương Võ Anh Giang, sđd., “Viết tiếp bài ‘Ông Dương Văn Minh và tôi’”, NXB Trẻ, 2016, tr. 290-318.
[5] Xem Lý Quý Chung, sđd., tr. 410.

Tác giả gởi cho viet-studies ngày 23-4-18

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018



NGÔ THẾ VINH VIẾT VÒNG ĐAI XANH
GIỮA NÚI RỪNG BẤT AN

Phan Tấn Hải

Giới thiệu của HNG - Đây là một cuốn sách mà tác giả mượn hình thức tiểu thuyết để nêu lên một vấn đề rất lớn, nhằm lý giải vì sao người Thượng rủ nhau theo Đạo Tin Lành và xem đạo này như căn cước tín ngưỡng của sắc tộc Rhadé. Hiện tượng tiếp biến văn hóa (acculturation) một chiều có tính áp đặt (forced) nầy ít người Kinh quan tâm và nghiên cứu. Chế độ Ngô Đình Diệm đã thực hiện kế hoạch đẩy các sắc tộc Thượng vào một vị trí bên lề, còn các Mục sư Mỹ thì vào phát phẩm vật cứu trợ để truyền giáo. Quân đội Mỹ đã dựng lên 60 căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt ở vùng cao nguyên, huấn luyện dân quân Thượng, làm hàng rào ngăn Việt Cộng. Họ cũng thả Biệt Kích Mỹ dọc biên giới Miến Điện để truyền giáo và xây dựng các cứ điểm tạo nên “Vòng Đai Xanh” để bao vây Trung Quốc. Tác giả Ngô Thế Vinh là Y Sĩ Trưởng LLĐB. Ông được trao Giải Văn Toàn Quốc năm 1970 nhờ cuốn Vòng Đai Xanh này (nhưng lại bị bị truy tố ra tòa án Sài Gòn năm 1971 vì bài viết Mặt Trận ở Sài Gòn đăng trên tạp chí Trình bày số 34), nên đã nhìn khá thấu đáo những chuyện bí ẩn, kể cả chuyện chính vị Mục sư giúp người Thượng đã ra yêu sách ly khai tự trị khỏi người Kinh để lập quốc riêng.
Chúng tôi xin đăng lại bài điểm sách nầy của nhà văn Phan Tấn Hải, vốn đã được phổ  biến trên Việt Báo Online ngày 8/2/2018. - HNG
Nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết cuốn tiểu thuyết Vòng Đai Xanh bằng tấm lòng ưu tư với dân tộc. Trên các trang giấy, chúng ta đọc được nỗi lo của ông bên cạnh những âm vang cồng chiêng của các sắc dân Thượng, xen lẫn gần xa là tiếng súng giao chiến giữa AK-47 và M-16.
Nơi đó, hiện lên trong các dòng chữ cũng là nỗi lo của giới trí thức Sài Gòn (điển hình với nhân vật chính là họa sĩ tên Triết, xưng tôi) khi nhìn thấy 60 trại lính Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ (LLĐB Hoa Kỳ) trên vùng biên giới cao nguyên Việt Nam có thể tương lai sẽ trở thành một cõi quốc gia tân lập của người Thượng, một đất nước mới manh nha cho các sắc dân thiểu số vùng cao có tên gợi ý là Đông Sơn và viễn ảnh một cuộc chiến mới sẽ bùng nổ giữa dân tộc Kinh và các sắc tộc Thượng – nơi đó, ngòi nổ sẽ bị kích hỏa, hoặc là do chính người Mỹ hay do chính Cộng Sản Bắc Việt gây ra, hay do cả hai cùng bật lên.
Trong tiểu thuyết Vòng Đai Xanh, độc giả có thể thấy phần hư cấu gắn liền với sự thực lịch sử. Nghĩa là, có thể đọc như một cuốn sách biên khảo về Cuộc Nội Chiến Quốc-Cộng trên vùng cao nguyên, nơi đó phía Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) được lính LLĐB Hoa Kỳ hỗ trợ, và nhiều khi phía Mỹ nắm phần chủ lực khi trực tiếp huấn luyện dân quân người Thượng.
Chúng ta cũng có thể đoán rằng nhà sư Pháp Viên có lẽ là Thầy Thích Trí Quang (?),  và tương tự, có thể đoán nhà sư Giác Nghiệp ở Phương Bối Am là một vị nổi tiếng khác. Một nhân vật gay cấn như điện ảnh còn là vị Mục sư truyền giáo (cũng là bác sĩ) Denman, người bị phía CSVN nghi ngờ là bàn tay CIA kích động tư tưởng người Thượng ly khai để lập quốc. Trong truyện, có lẽ tác giả Ngô Thế Vinh hiện ra như một tổng hợp của nhân vật xưng tôi (tức họa sĩ Triết, cũng là phóng viên điều tra về cuộc chiến ở cao nguyên VN) và một nhà báo tài tử sinh viên Đại Học Y Khoa và rồi trở thành Y Sĩ Trưởng một đơn vị LLĐB. Ông Giáo sư Hoàng Thái Trung trong truyện hẳn là một vị giáo sư tên Trung – cũng nên ghi nhận rằng thời cuối thập niên 1960s, có 2 vị giáo sư tên Trung (một vị họ Lý, một vị họ Nguyễn) dạy ở một số đại học Sài Gòn, đều yêu nước nồng nhiệt nhưng lại cũng thiên tả mỗi người một kiểu riêng… Có thể GS Hoàng Thái Trung là ám chỉ một vị, hay tổng hợp từ hai giáo sư đó, hay chỉ hư cấu thêm từ một vị.  Nghĩa là, đối với độc giả từng sống dưới chế độ VNCH trong thời 1960s, 1970s, không khí chính trị của Vòng Đai Xanh hiện lên rất quen thuộc. Lãng đãng, mơ hồ, như thật, như hư cấu…
Có hai cách để độc giả tiếp cận cuốn Vòng Đai Xanh. Hoặc đọc từ trang đầu tới trang cuối. Hoặc đọc các bài giới thiệu phía sau trước, rồi mới đọc truyện sau. Đối với nhiều độc giả, có lẽ nên đọc phần sau trước, để thấy bối cảnh truyện này ra đời, dư luận và ảnh hưởng.
Một điểm cực kỳ quan trọng trong truyện là hiện tượng rất nhiều người Thượng căm thù người Kinh. Người Tù Trưởng Rhadé qua lời kể của Mục sư Denman hiện ra như sau:
Sáng nay tôi tới thăm một buôn Rhadé cách đây chừng tám cây số, tình cờ tôi phải chứng kiến một cuộc mua bán giằng co giữa một người Mỹ và viên tù trưởng. Viên Đại úy LLĐB thì nài nỉ mua cho được ít thớt voi để vận tải tiếp tế cho mấy trại tân lập trong rừng rú, thương lượng giá cả mãi cũng chẳng được, tức mình viên Đại úy phải hằn học hét lên: - Sao ông không chịu giúp chúng tôi diệt hết bọn cộng sản, thì đằng nào tụi nó cũng là người Việt mà ông thì muốn giết bọn họ có phải vậy không? ... Và kết quả thật kỳ lạ không ngờ, các anh có biết sao không, chỉ với một giá rẻ mạt, viên Đại úy có ngay số thớt voi cần thiết.” (Vòng Đai Xanh, trang 25)
Tại sao người Thượng không ưa người Kinh, dù là người Kinh VNCH hay người Kinh CSVN?
Mục sư bác sĩ Denman giải thích:
“Theo tôi trên thực tế vẫn có mối cừu hận thường xuyên giữa đám dân miền núi và số người Việt ở đồng bằng, tất cả bắt nguồn từ một mặc cảm kỳ thị và khinh bỉ; mối tương quan Kinh Thượng hết sức suy đốn do bởi những đối xử tệ hại của đám người Kinh với một thiểu số mà họ khinh miệt quen gọi là Mọi. Thực sự cũng có những người Thượng học thức, họ vẫn chẳng được tham dự chánh phủ, họ không được hưởng thêm một quyền lợi gì khi làm một công dân Việt Nam. Đôi lúc họ lại bị ném lên xe như những con vật, chở về thành phố để đón rước một số ông lớn tới thăm họ. Mỗi lần như vậy là họ phải giết trâu ăn thề làm lễ rửa chân đeo vòng để tỏ sự trung thành và tình thân hữu đối với quan khách. Sau đó họ lại bị ném trả vào rừng núi, tiếp tục cuộc sống đói khát thiếu thốn…
…Theo lịch sử truyền kỳ thì cả miền Trung và cao nguyên xưa kia là của người Thượng với kinh đô ở gần bờ biển phía đông, có lẽ là tỉnh Nha Trang hiện giờ. Những người già cả còn sống sót cũng kể lại rằng quê hương ông cha họ trước kia cũng ở phía mặt trời mọc, cho đến vị vua cuối cùng của họ vì say mê cưới một nàng công chúa người Việt ở phương Bắc, và chính nàng công chúa này đã âm mưu hãm hại nhà vua. Kể từ đấy họ hoàn toàn bơ vơ không ai hướng dẫn và bị người Kinh tàn ác xua đuổi họ vào mãi tận rừng sâu sống khổ cực cho đến ngày nay.” (trang 25, 26)
Nơi phần Phụ Lục, trong bài “Từ Vòng Đai Xanh 1970 tới Người Thượng Đôi Bờ 2017,” nhà văn Ngô Thế Vinh giải thích cội nguồn căm thù đó:
Quy chế Hoàng Triều Cương Thổ riêng biệt dành cho người Thượng có từ thời vua Bảo Đại, đã bị ông Diệm hủy bỏ (từ tháng 3/1955). Có nghĩa là không còn chính sách đãi ngộ và tôn trọng quyền lợi đặc biệt của những người thiểu số. Với chính sách Dinh điền, hàng chục ngàn người dân công giáo di cư từ miền Bắc đã được đưa lên Cao nguyên định cư, xâm phạm cả những vùng đất đai màu mỡ đã từng là sở hữu của người Thượng qua nhiều thế hệ. Cộng thêm với vô số những lỗi lầm khác của chánh quyền thời bấy giờ, như ra lệnh đóng các tòa án phong tục Thượng, ngăn cấm các thổ ngữ và hạn chế số người Thượng có khả năng và có học tham gia vào các cơ cấu hành chánh. Thái độ bất mãn và không hợp tác của người Thượng và cả chống đối nữa là điều rất dễ hiểu.”(trang 220-221)
Tuy nhiên, trong truyện cho thấy, người Thượng phân biệt minh bạch người Kinh VNCH và người Kinh CSVN… và người Cộng sản được người Thượng so sánh như cọp dữ.
Trong truyện, tác giả kể rằng:
"...có hơn sáu trăm đồng bào Thượng ở Dakto bị Việt cộng cưỡng bách đi dân công và sắp bị lùa qua bên kia biên giới chậm nhất là trong vòng ba ngày..." (trang 58)
Và một người Thượng trốn được, băng rừng tới xin quân lực VNCH tới cứu, trích:
"Khi được hỏi về cảm tình của dân chúng đối với cộng sản, gã bảo:
-Nói đến Việt cộng là chúng tôi hết hồn vía, dân làng vẫn thường gọi chúng là chim Dụng tức là con dơi, còn nói về tàn bạo thì chúng tôi sợ họ như cọp dữ. Họ bắt đồng bào chúng tôi đi dân công tải đạn, chúng lại còn thâu thuế cướp bóc gạo và gia súc của dân làng. Nếu chúng tôi có ý định bỏ đi thì họ dọa bắn giết cả làng, không ai có thể đi xa khỏi vùng quá mấy cây số." (trang 58)
Nghĩa là, dưới mắt đa số dân Thượng, chính phủ VNCH vẫn có chính nghĩa  hơn xa so với quân CSVN.
Giữa khói lửa ngút trời như thế, hình ảnh Nguyện hiện ra trong truyện rất mực dịu dàng, rất mực lãng mạn. Nhân vật nữ trong truyện viết thời cuối thập niên (Ngô Thế Vinh viết xong là 1969) lại có lối sống rất mực tha thiết nữ quyền.
Nhân vật tôi (họa sĩ Triết) yêu thương cô Nguyện, một nữ tùy viên văn hóa tại Bộ Ngoại Giao VNCH, và từng nghĩ là sẽ cưới cô.
Trong khi đó, Nguyện quý trọng tài năng họa sĩ Triết:
"...Riêng bức Mèo Đen Trên Thảm Hồng do một người đàn bà tên Như Nguyện hỏi mua..." (trang 21)
Nguyện rất mực lãng mạn, dưới ngòi bút Ngô Thế Vinh:
"...Tôi nghĩ tới Nguyện, dòng sông Hương và khung cảnh sống của những ngày sắp tới. Người đàn bà trụy lạc nhưng không thể đồng hóa với người khác; giữa nàng và đời sống vẫn có một bức tường ngăn cách. Tôi cô đơn khi xa nàng nhưng đồng thời sự gần gũi cuồng nhiệt của dục vọng chính là những phút run rẩy hấp hối của hạnh phúc. Sự cô đơn thật khủng khiếp khi thân thể bị lạm dụng cho mục đích khám phá cảm giác. Tôi hoàn toàn mất Nguyện ở những giây phút giẫy giụa đó."(trang 35-36)
Có lúc chàng nhớ Nguyện rất mực thiết tha, và nghĩ tới rời bỏ cao nguyên để cùng nàng về xứ Huế:
"...tôi chợt nghĩ và nhớ tới Nguyện tha thiết. Phải chi Davis là nàng, tôi sẽ vui sướng để nhận lời mời của mấy vị chủ làng buổi tối. Nguyện cũng sẽ tập uống rượu cần, tôi sẽ chỉ dẫn cho nàng cách nhận một ống triêng bằng tay phải, bởi vì tôi nhớ Nguyện có thói quen dùng bàn tay trái mà người Thượng thì lại không mấy quý bàn tay trái, xử dụng nó được coi như dấu hiệu khiêu khích và khinh bỉ. Cái không biết và vô tình của nàng có thể làm suy giảm mối giao hảo thân hữu giữa chủ và khách. Nhưng tôi hiểu rằng Nguyện không thể nào chọn quê hương là nơi đây và để có được tình yêu tôi và Nguyện, một trong hai người phải hy sinh cái thế giới mộng tưởng của mình. Và dẫu sao, tôi cũng đã có một quyết định dứt khoát bỏ nghề báo và ra Huế." (trang 47-48)
Trong khi Nguyện có sức lôi cuốn chàng như một loài chim lạ, nàng vẫn gặp rất nhiều tai tiếng:
"....Tôi cũng gặp Như Nguyện, người đàn bà mua tranh tôi trong vai trò tùy viên văn hóa của sứ quán và tôi cũng không thể nghĩ rằng sẽ có những ràng buộc định mệnh giữa tôi và nàng sau này. Thực sự cho đến bây giờ tôi không biết gì hơn về người đàn bà ngoài cái hiện tại của một cuộc sống phóng thả và rất nhiều tai tiếng. Nguyện đối với tôi có một sức hấp dẫn kỳ lạ của một loài chim bay rất cao để có một tiếng hót hay. Có lần từ Tokyo, Nguyện viết thư cho tôi, thư khá dài không đề cập tới một chuyện gì rõ rệt nhưng chứng tỏ tâm hồn nàng đang có những dao động. Nguyện bảo, nàng như một con chim nhỏ đi trốn tuyết và rất cô đơn. Phải chi Nguyện được anh giam hãm như anh đã từng giam hãm con mèo đen trên cái ấm áp của một thảm hồng." (trang 53)
Đó là một mối tình đẹp, hiện ra cực kỳ thơ mộng trong một không khí chiến tranh gay gắt ở cao nguyên... Tất cả hiển lộ qua bút pháp tiểu thuyết của Ngô Thế Vinh với hơi văn trầm tĩnh, từ tốn, thoảng hương rượu cần miền núi và ngây ngất hương tình Vỹ Dạ.

Phần Kết Từ do Thế Uyên viết năm 1970, giải thích về hoàn cảnh truyện Vòng Đai Xanh ra đời, gợi ý về các Trung đoàn nông tác VNCH xây dựng mô hình Kibbutzim kiểu người Do Thái có thể giúp người Thượng sống đời định cư và chống Cộng. Nơi đó, tuổi trẻ Kinh Thượng một nhà sẽ gìn giữ núi rừng cao nguyên, đẩy lùi làn sóng Phương Bắc.

Trong phần Phụ Lục, bài “Bách Khoa Đàm Thoại Với Ngô Thế Vinh: Từ Vòng Đai Xanh đến Mặt Trận ở Sài Gòn” sẽ giúp độc giả hiểu về tình hình, vì sao Ngô Thế Vinh với Vòng Đai Xanh được giải thưởng bộ môn Văn trong Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc 1971 trước Tết, thì sau Tết lại nhận trát tòa gọi ra tòa về bài “Mặt Trận ở Sài Gòn”…
Trong Phụ Lục còn có thư của học giả Hoàng Xuân  Hãn nêu về vấn đề Kinh-Thượng…
Nhưng nói đầy đủ chi tiết, nói lên nan đề nhức nhối Kinh-Thượng là nhà văn Nhật Tiến qua bài viết năm 2002 “Mở Lại Cuốn Vòng Đai Xanh của Nhà Văn Ngô Thế Vinh” (trang 245-253) mô tả số phận đau thương của người Thượng và nhu cầu giải quyết tận gốc cho xong vết thương của dân tộc để chung sức ngăn cản Trung Quốc ở cả Biển Đông và phía Đông.
Nguyễn Quốc Trụ có bài viết “Đỉnh Cồn, Vòng Đai Xanh, Ngô Thế Vinh, Và Tôi” (trang 255-258) kể kỷ niệm thời viết Ngô Thế Vinh trong ký túc xá sinh viên.
Phần Phụ Lục cũng có trích một số điểm sách đối với ấn bản tiếng Anh (The Green Belt, NXB Ivy House, 2004)) của Vòng Đai Xanh từ GS Trần Ngọc Ninh, sử gia Gerald C. Hickey, nhà nghiên cứu sắc tộc học Oscar Salemink, nhà hoạt động nhân quyền José Quiroga, GS Nguyễn Văn Tuấn, các nhà văn Phan Nhật Nam, Nguyễn Thuyết Phong, Nguyễn Quỳnh, Mặc Đỗ, Nguyễn Sao Mai, Ánh Nguyệt, Hoàng Mai Đạt.

Tiểu sử  tác giả sơ lược như sau.
Ngô Thế Vinh tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn 1968. Trong ban biên tập, nguyên tổng thư ký rồi chủ bút báo sinh viên Tình Thương truờng Y khoa Sài Gòn từ 1963 tới khi báo đình bản 1967. Nguyên y sĩ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Tu nghiệp ngành Y khoa Phục hồi tại Letterman General Hospital San Francisco. Trở về Việt Nam, làm việc tại trường Quân Y.
Sau 1975, tù ba năm qua các trại cải tạo Suối Máu, Trảng Lớn, Phước Long, Bù Gia Mập… Ra trại, về Sài Gòn, một thời gian sau trở lại làm việc tại Trung Tâm Phục Hồi Bà Huyện Thanh Quan và trường Vật Lý Trị Liệu Sài Gòn.
Tới Mỹ tám năm sau 1983, mất thêm 5 năm để trở lại ngành y: thời gian đầu làm volunteer tại các bệnh viện, rồi clinical fellow Đại học USC trước khi trở lại làm bác sĩ nội trú rồi thường trú các bệnh Đại học SUNY Downstate Brooklyn New York. Tốt nghiệp ngành Nội khoa American Board of Internal Medicine và về làm việc tại một bệnh viện miền nam California.

Tác phẩm Vòng Đai Xanh ấn bản Việt ngữ trải qua nhiều lần in: NXB Thái Độ năm 1970, NXB Văn Nghệ 1987, và bây giờ do Văn Học Press ấn hành năm 2018.
NXB Văn Học Press do nhà thơ Trịnh Y Thư thực hiện, với giải thích:
“-- Mô hình thực hiện xuất bản và phát hành: Amazon…
-- Xuất bản và tái bản những tác phẩm thơ, văn, dịch thuật, biên khảo (văn học, lịch sử, chính trị…) giá trị của các tác giả khắp nơi trong cộng đồng người Việt tự do dưới dạng sách in hoặc eBook hoặc cả hai....
-- Cộng tác với ban chủ biên các trang mạng văn chương để thực hiện những tuyển tập thơ văn hoặc biên khảo do các chủ biên tuyển chọn từ diễn đàn của mình.
-- Thực hiện những tuyển tập thơ, văn hoặc biên khảo lấy ra từ các số VHNT và Văn Học cũ từ số đầu tiên xuất bản năm 1978 cho đến khi tờ tạp chí đình bản."
Các quan tâm về tác phẩm, có thể liên lạc ở: trinhythu2000@yahoo.com

 



Thứ Hai, 15 tháng 1, 2018


ĐI XEM MỘT KỶ NIỆM
Tản mạn về phim “The Post”

Lý Nguyên Diệu

“Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng …”
Trịnh Công Sơn


Chiều hôm qua tôi đi xem phim “The Post” vừa được phát hành với giá vé chỉ 6 đồng cho người lớn tuổi. Ngoài cái lợi tiền bạc, người lớn tuổi còn được xem phim nầy như hồi tưởng về một kỷ niệm không thể quên, dựa trên một câu chuyện có thật đã xảy ra cách đây gần nửa thế kỷ.
Điều đặc biệt đầu tiên của phim “The Post” là, dù đã biết rất rõ kết cuộc sẽ như thế nào, người xem càng lớn tuổi (những người đã sống qua thời kỳ những năm 1960, 70), càng thấy thấm thía cái hay của phim nầy. Một điều đặc sắc khác trong thời buổi nầy là một phim Mỹ dài 1 giờ 56 phút mà không có súng đạn (trừ hai phút đầu tiên về chiến tranh Việt Nam), không có tình dục, áo quần hở hang, … lại được đa số các cơ quan truyền thông Mỹ xếp hạng 1 trong 10 phim hay nhất của năm 2017. Một điều hi hữu để lôi kéo các tay ghiền xi-nê là phim nầy tập họp 3 ngôi sao sáng chói của Hollywood: Đạo diễn Steven Spielberg (14 Oscars & 10 Đề cử), nữ tài tử Meryl Streep (3 Oscars & 17 Đề cử) và nam tài tử Tom Hanks (2 Oscars & 3 Đề cử).

Phim “The Post” bao gồm ba câu chuyện chính. Chuyện chiến tranh Việt Nam, chuyện một người đàn bà can đảm và quan trọng nhất là chuyện tự do ngôn luận. Tựa của cuốn phim là tên cắt ngắn của nhật báo “The Washington Post”. Một trong những tờ nhật báo hàng đầu của miền Đông nước Mỹ đã lấy một quyết định vô tiền khoáng hậu khi bất chấp áp lực của Toà Bạch Ốc, in lại Hồ sơ Ngũ Giác Đài (Pentagon Papers) làm rung động nước Mỹ từ mùa Hè năm 1971 cho đến bây giờ, dưới thời đại “fake news” của Tổng thống Donald Trump đang cố gắng khuất phục một nền báo chí bất trị.

Chuyện thứ nhất về Hồ sơ Ngũ Giác Đài thì với người Việt Nam, 4000 trang của Hồ sơ về nguồn gốc và quá trình tham chiến của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam phải là chuyện quan trọng. Đạo diễn Spielberg cũng ý thức điều nầy khi ông bắt đầu phim bằng hình ảnh một cuộc hành quân bi thảm tại Hậu Nghĩa năm 1966. Kéo theo phản ứng của Daniel Ellsberg, một chuyên viên của Rand Corporation, khi làm việc trên Hồ Sơ Ngũ Giác Đài theo lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng Robert S. McNamara, đã khám phá những dối trá liên tục của 5 chính quyền Mỹ từ thời Tổng thống Truman đến Nixon.
Đáng chú ý nhất là sau khi lấy trộm Hồ sơ để công khai hoá qua báo chí, một nhà báo đã hỏi anh có biết sẽ có thể bị tù vì giải mật một tài liệu quốc gia không? Ellsberg đã trả lời không ngần ngại bằng lương tâm (“tấm lòng” của TCS) của một con người đầy nhân bản: “Nếu đi tù mà (chấm dứt chiến tranh) cứu được bao nhiêu mạng người thì cũng đáng”. Để làm rõ hơn tính chất dối trá của cuộc chiến, đạo diễn Spielberg còn sưu tầm và trình bày lại những đoạn diễn văn lừa bịp của các Tổng thống Eisenhower, Kennedy, Johnson mà bây giờ một người Việt Nam đã đọc qua Hồ sơ Ngũ Giác Đài không thể không thấy chua xót cho thân phận của hai nền Cộng Hoà của miền Nam Việt Nam, từ Tổng thống Diệm đến Tổng thống Thiệu, đã bị làm con cờ thí cho “đồng minh”. Trong năm 2017, tài liệu truyền hình “Chiến tranh Việt Nam” (The Vietnam War) của Ken Burns cũng đã trình bày rất cặn kẽ và rõ ràng bi kịch nầy của dân tộc ta.

Chuyện thứ hai về người đàn bà vai chính trong phim là Katharine “Kay” Graham (qua phần diễn xuất điêu luyện xứng đáng giải Oscar của Meryl Streep). Goá chồng năm 46 tuổi và phải thay chồng cầm đầu một tạp chí lớn. Tám năm sau, 1971, người đàn bà quý phái, mảnh mai đó phải lấy một quyết định sinh tử mang nặng hai hệ quả: Một là quay lưng lại với tình bạn cố cựu giữa gia đình bà và gia đình Tổng thống Lyndon B. Johnson và gia đình Bộ trưởng McNamara. Hai là chính bà và chủ bút Ben C. Bradlee có thể đi tù vì cãi lệnh toà án đang bị áp lực của chính quyền Nixon.
Trong cái thập niên 1960 hỗn loạn, bà “Kay” đã phải ra khỏi chốn khuê phòng để tương tác với những nhà tài phiệt lão luyện của Thị trường Chứng khoán Nữu Ước (NYSE) đã là một điều đáng khâm phục như một khởi đầu của phong trào phụ nữ bình quyền. Để thể hiện tư cách của bà chủ báo, cuốn phim cho thấy khi nghe nhân viên báo cáo một triệu rưỡi Mỹ kim tiền lời cho báo Washington Post, bà nói ngay: “Đó là lương của 25 ký giả giỏi” chứ không nói gì đến tài khoản ngân hàng của bà sẽ gia tăng. Cũng trong tinh thần đó, bà đã nói với chủ bút Bradlee: “Phẩm chất cũng có thể đi đôi với lợi nhuận”. Thật là ngược hẳn với nguyên tắc kinh tế của Trung Cọng bây giờ là hy sinh phẩm chất để đạt lợi nhuận. Năm 1971, sự nghiệp bà lên đến cao điểm tận cùng khi bà dựa vào lương tâm (“tấm lòng” của TCS), dựa vào sự nghiệp báo chí của cha và của chồng, dựa lên bổn phận của một người dân, để quyết định đăng lên báo Washington Post của bà những trang “Tối Mật” của Hồ sơ Ngũ Giác Đài. Đoạn phim đầy xúc động khi bà đến nhà cựu Bộ trưởng McNamara để, nhân danh là một người bạn, một bà mẹ, một người dân, một nhà báo, đặt thẳng câu hỏi: “Vì sao ông biết không thể thắng cuộc chiến từ năm 1965 mà ông vẫn tiếp tục gửi quân qua chiến trường Việt Nam?” Những biện hộ lúng túng của ông cựu Bộ trưởng trong căn nhà vắng vẻ chỉ có hai người cho ta thấy sự thật trần truồng của cuộc chiến bi thảm dài 20 năm đó, không có một “chính nghĩa” nào, một “lý tưởng tự do” nào, mà chỉ có quyền lợi nước Mỹ (“America First”) và thân phận bi thảm của những dân tộc nhược tiểu.

Chuyện cuối cùng và quan trọng nhất, vượt cả thời gian lẫn không gian, của phim “The Post” là cuộc tranh đấu bảo vệ tự do ngôn luận giữa báo chí và quyền lực nhà nước. Ngược lại với những trang sử đen tối của nước Mỹ trong cuộc Nội Chiến chống chế độ nô lệ  năm 1861 hay cuộc “thảm sát Mỹ Lai” năm 1968, những gì đã xảy ra tại Hoa Thịnh Đốn vào mùa Hè năm 1971 phải được coi là trang sử sáng láng nhất của nước Mỹ mà toàn thế giới phải tìm đọc và ráng học lại mỗi ngày. Phần nầy của phim giúp cho chúng ta hiểu vì sao “Tu chính Án số Một” của Hiến Pháp Hoa Kỳ phải là Số Một. Số đầu tiên. Số quan trọng nhất. Hãy cùng nhau đọc lại viên ngọc nầy: “Quốc Hội không được đưa ra bất kỳ luật nào để thiết lập tôn giáo, hoặc để cấm tự do tôn giáo; để giảm bớt quyền tự do ngôn luận, hoặc tự do báo chí; hoặc quyền người dân được tụ tập ôn hoà, và quyền kiến ​​nghị chính quyền phải giải quyết các khiếu nại.” (Congress shall make no law respecting an establishment of religion, or prohibiting the free exercise thereof; or abridging the freedom of speech, or of the press; or the right of the people peaceably to assemble, and to petition the Government for a redress of grievances).
Phân tích một cách cơ bản thì chính Đệ Nhất Tu Chính Án nầy là thành trì bảo vệ Đệ Tứ Quyền đã giúp kiểm soát, quân bằng và yểm trợ ba quyền Lập Pháp, Tư Pháp và Hành Pháp để nước Mỹ trở thành cường quốc như ngày hôm nay theo logic của một bài chính trị học đơn giản: Quốc gia nào cũng phải có một chính quyền. Chính quyền là sản phẩm của con người nên chính quyền nào cũng không hoàn toàn, phải có lỗi lầm, sai trái (bugs in each and every system). Muốn sửa sai trái thì phải biết có sai trái và sai trái như thế nào. Sau khi sửa sai chính quyền mới có thể có tiến bộ. Trong tiến trình chính trị nầy, báo chí lãnh trách nhiệm nặng nề nhất. Đó là dùng quyền tự do ngôn luận để giúp cho chính quyền “biết có sai trái và sai trái như thế nào”.

Chính vì ý thức được tầm quan trọng căn bản đó mà Katharine Graham và Chủ bút Ben Bradlee (với sự hổ trợ tích cực của các ký giả như Meg Greenfield, Ben Bagdikian) đã đứng đầu sóng ngọn gió để vượt qua áp lực chính trị của Tổng thống Nixon, vượt qua áp lực kinh tế của các chủ ngân hàng. Và chính nghĩa của họ đã “tất thắng” chói lọi khi gần 20 nhật báo lớn khác của Mỹ đoàn kết theo gương tờ Washington Post để cùng trích đăng Hồ sơ Ngũ Giác Đài, và nhất là khi Toà Án Tối Cao Liên Bang đã phán quyết bầu thuận cho tờ Post qua đa số phiếu 6-3.
Điều phải nói thêm là cuốn phim cho thấy quyết định xử dụng quyền tự do báo chí của bà chủ nhân Graham và chủ bút Bradlee là một quyết định đầy ý thức trách nhiệm. Trách nhiệm với quốc gia, với dân tộc, dựa trên một quá khứ cách mạng chống thực dân Anh và dựa vào một tin tưởng ở tương lai dân chủ, thịnh vượng của nước Mỹ.
Vì vậy mà giá trị, đáng mua cái vé 6 đồng, của phim “The Post” là đã vẽ được một cách sinh động một kinh nghiệm huy hoàng trong lịch sử nước Mỹ mà người dân Mỹ có thể hãnh diện nhất. Và đó cũng là một bài học về tôn trọng tự do ngôn luận mà nhà nước Việt Nam (và rất nhiều nước khác) phải cho trình chiếu rộng rãi cho đại chúng, và phải học mỗi ngày bằng cách bắt buộc tất cả cán bộ phải xem phim “The Post” mỗi buổi sáng.

LÝ NGUYÊN DIỆU
Đầu năm 2018


                                                                                        

Thứ Năm, 11 tháng 1, 2018


LỊCH SỬ CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM TRONG 999 CHỬ
Sưu tầm và Tổng kết của Kevin Trần

 
Hình bìa số Xuân Canh Tý (1960) của báo Tự Do xuất bản tại Sài Gòn, đăng hình của Họa sĩ Nguyễn Gia Trí, vẽ 5 con chuột gậm nhắm trái dưa hấu, hàm ý tố cáo 4 anh em nhà Ngô (Thục, Diệm, Nhu, Cẩn) và bà Trần Lệ Xuân đang đục khoét miền Nam.  Vừa phát hành, báo tức khắc bị tịch thu, tòa soạn bị đóng cửa và Ban chủ trương bị bắt đi tù.

<START> "Họ Ngô có 4 gian hùng / Diệm ngu, Nhu ác, Cẫn khùng, Thục điên": Đó là câu vè  tại miền Trung vào những năm 1960s của thế kỷ trước. Câu vè đó mô tả nhân cách của 4 người đàn ông dòng họ Ngô Đình đã từng một thời là cấp lãnh đạo chóp bu của miền Nam Việt Nam với ông Ngô Đình Diệm làm Tổng thống. Ông Diệm được Mỹ "bồng" về làm Tổng thống bằng một cuộc bầu cữ gian lận năm 1955 (98.2% số phiếu thắng vua Bảo Đại) để biến miền Nam thành tiền đồn chống Cộng cho Tài phiệt Mỹ và để làm công cụ cho Đế quốc Vatican mở mang nước Chúa.
Bốn “bà mụ” Mỹ đã nuôi và bồng ông Diệm về Việt Nam là Hồng y Spellman, Ngoại trưởng Dulles, Thượng nghị sĩ Mansfield và trùm tình báo Lansdale. Không có họ đở đầu và giúp đở, ông Diệm đã chỉ là một anh chính khách xa-lông “bao năm từng lê gót nơi quê người” như câu đầu của bài hát Suy Tôn Ngô Tổng Thống mô tả mà thôi. Chính nhờ họ mà kinh viện, quân viện và "cố vấn" Mỹ đổ ào ạt vào miền Nam, giúp chế độ ông Diệm đạt được một số thành quả kinh tế xã hội trong vài năm đầu tiên …

Tuy nhiên, đến cuối năm 1959, ông Diệm bắt đầu thiết lập chế độ độc tài với 3 gọng kềm: Gia đình trị, Công giáo trịCông an trị; và đén năm 1960 thì ông Diệm bắt đầu trở thành bù nhìn, để cho ông bà Nhu thao túng quyền lực quốc gia. Vì vậy mà trong 8 năm bạo trị, quân dân miền Nam đã nỗi lên chống đối kịch liệt 8 lần, hầu như mỗi năm một lần: Vụ thảm sát Quốc Dân Đảng tại chiến khu Ba Lòng 1955, vụ mưu sát Ban Mê thuột 1957, vụ Tuyên ngôn Caravelle 1960, vụ binh biến của binh chủng Nhảy Dù 1960, vụ ném bom Dinh Độc lập 1962, vụ tự vẩn của văn hào Nhất Linh 1963, vụ đàn áp Phật Giáo 1963. Đó là chưa kể đông đảo nhân dân miền Nam vì bất mãn với chế độ Diệm nên đã theo ủng hộ "Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam" chống lại chính quyền. Cuối cùng, lần thứ 8 vào năm 1963, đã độc tài bạo trị mất lòng dân như thế, Diệm-Nhu lại còn mưu đồ thỏa hiệp với Cọng sản Hà Nội, phản lại Hiến Pháp Việt Nam Cọng hòa, phản lại gần một triệu đồng bào Công giáo Bắc di cư 1954, phản lại chiến lược chống Cọng của chủ nhân Mỹ, và phản lại biết bao hy sinh xương máu của Quân đội VNCH đã bỏ mạng ngoài chiến trường. Phản như thế nên bị lật đổ là đáng rồi, là đúng rồi!

Thế mà nhóm "hoài Ngô" lại bảo là vì Diệm chống Mỹ đổ quân vào VN nên bị Mỹ lật!!! Thật ra, năm 1963, sau thất bại thê thảm vụ Vịnh Con Heo (1961, Cuba) và trước thềm cuộc tranh cử Tổng thống (1964), Kennedy đã không những không muốn một cuộc phiêu lưu quân sự đầy bất trắc tại Việt Nam (chắc chắn làm mất phiếu) mà còn quyết định, từ tháng 10/1963, sẽ rút hết quân Mỹ về nước vào năm 1965, chỉ để lại 1,000 “cố vấn” (National Security Action Memorandum số 263, ngày 11-10-1963, Xem thêm Hồ Sơ Mật 1963).  Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã gói ghém quan hệ Mỹ-Diệm trong một câu: “Bảo là người Mỹ đã giết Diệm? Không! Diệm đã chết trong lòng dân tộc từ lâu. Mỹ chỉ đến lượm xác chết của y” (Người Việt Đáng Yêu, Sáng Tạo, Sài Gòn, 1965)
Phóng ảnh Bản Ghi nhớ NSAM 263, ngày 11-10-1963

Chế độ gia đình trịCông giáo trị đã bị nhân dân miền Nam quẳng vào hố rác lịch sử năm 1963. Từ lăng kính văn hóa dân tộc, dòng họ Ngô Đình còn bị luật nhân quả báo ứng: Ngô Đình KhôiNgô Đình Huân bị Việt Minh thủ tiêu ở Huế, mộ phần Ngô Đình Khả bị sét đánh ở Thừa Thiên, Ngô Đình Diệm Ngô Đình Nhu bị bắn chết trong thiết vận xa, Ngô Đình Cẩn bị hành hình ở pháp trường Sài Gòn, Giám mục Ngô Đình Thục từng bị Giáo hoàng dứt phép thông công, Ngô Đình Lệ ThủyNgô Đình Lệ Quyên bị tai nạn giao thông chết thảm ở Âu châu, Cha mẹ bà Nhu bị con là Trần Văn Khiêm hạ thủ giết chết ở Mỹ... Có gia đình dòng họ nào vô phước như thế không??? Phải là đại gian đại ác, giết người hại dân quá nhiều, theo cái đạo gì mà chối bỏ cả Tổ tiên và chi mắng cả Trời Phật ... mới bị như vậy!

Thời gian đã trôi qua hơn nửa thế kỷ, bao nhiêu nước đã chảy qua cầu, bao nhiêu tài liệu đã được giải mật … thế mà tàn dư Ngô triều vẫn tìm cách xuyên tạc lịch sử, mạo hóa chứng cớ để rửa mặt cho một gia đình nhân bất nhân bất nghĩa. Và nhóm "Cần lao Công giáo" thì đang dựng lại xác chết Diệm-Nhu để cho Vatican phong Thánh Tử đạo hầu phục vụ cho những mưu đ chính trị tương lai…
Hừm! Bàn tay lông lá của Vatican ghê gớm thật, huy động “cán bộ áo đen” lừa bịp được cả thành phần “sĩ phu Bắc Hà” ở trong nước và lớp “Mỹ con mới lớn” ở ngoài nước, vốn bị mù về lịch sử nên cả tin về một “lá bài Ngô Đình Diệm” ba đời làm Việt gian theo giặc, nay mong sẽ được Mỹ và Vatican bảo kê lên cầm quyền!  <END>

Kevin Trần sưu tầm và tổng hợp.
California, 2/2018

● PHỤ LỤC MỘT: Bốn “Bà mụ” tôn giáo-chính trị Mỹ năn ra và cưu mang chế độ Diệm


Từ trái: Francis Spellman (1889-1967) Hồng y trong quân phục Tổng Tuyên úy –  John Foster Dulles (1888-1959), Ngoại trưởng trong nội các TT Eisenhower – Mike Mansfield (1903-2001), Chủ tịch khối Đa số Thượng viện – Edward Lansdale (1908-1987), Đại tá Không quân làm tình báo  bên cạnh CIA.

PHỤ LỤC HAI: Từ năm 1960, bản chất độc tài của chế độ Diệm bắt đầu lên đến đỉnh điểm nên quân dân miền Nam bắt đầu đáp trả và thách thức quyền lực của gia đình họ Ngô.
Từ trái: 26-4-1960, Trang 6 của Tuyên Ngôn Caravelle, liệt kê tên của 18 nhân sĩ từ nhiều khuynh hướng chính trị, cảnh báo ông Diệm về tình hình nguy kịch của miền Nam để đòi cải tổ cấp lãnh đạo –  11-11-1960, dân chúng thủ đô biểu tình “Đã đảo Chế độ Gia đình trị Ngô Đình Diệm” để ủng hộ binh chủng Nhảy Dù làm đảo chánh chế độ Diệm – 27-2-1962,  hai Trung úy Phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cữ ném bom cánh trái Dinh Độc Lập nhằm mưu sát ông Diệm, vợ chồng ông Nhu và Giám mục Thục.     
     
PHỤ LỤC BA: Năm 1963, năm oan trái của chế độ. 
Từ trái:  8-5-1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối và cảnh tỉnh ông Diệm hầu xin bình đẳng với Công giáo (Một tôn giáo với số tín đồ gần 80% dân số  lại xin được bình đẳng với một tôn giáo mà tín đồ không đến 10% dân số!!!) – 7-7-1963, Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam uống thuốc độc tự vẩn, để lại chúc thư: “Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội những phần tử quốc gia đối lập là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản. Vì thế tôi tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu là để cảnh cáo những ai chà đạp mọi thứ tự do." – Tháng 10-1963: Đêm 20-8, Ngô Đình Nhu tung chiến dịch “Nước Lũ”, dùng Cảnh sát Dã chiến tổng tấn công chùa chiền trên 16 tỉnh miền Nam, bắt giam hơn 1,400 Tăng Ni tại Sài Gòn. Cấp lãnh đạo Phật giáo hoàn toàn tê liệt nên đến phiên đảng phái chính trị, trí thức và học sinh sinh viên Sài Gòn thay Phật giáo đồ xuống đường tiếp tục đấu tranh. Diệm-Nhu điên cuồng cho Mật vụ và Cảnh sát đánh đập, bắt giam và chở về nhốt tại Quân lao Gò Vấp và Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.  

PHỤ LỤC BỐN: Ngày tàn của một chế độ Ngược Lòng Dân, Phản Thời Đại.
Từ trái: Chiều 2-11-1963, đông đảo người dân thủ đô Sài Gòn biểu tình trên đại lộ Thống Nhất (bây giờ là Lê Duẫn) để “… nhiệt liệt ủng hộ cuộc Cách mạng của Quân Đội” (banderole). –    Sáng 3-11-1963, Dân chúng hân hoan tập hợp đông đảo (Jubiliant crowds) trước Thương xá Tax hô to các khẩu hiệu (shout slogans) mừng chiến thắng. – Ngày 3-11-1963, trong lúc chiến hạm HQ401 chở hơn 300 tù nhân chính trị (bị giam ở nhà tù Côn Sơn) được phóng thích sắp trở về thì tại Bến Bạch Đắng, sinh viên kéo giựt sập tượng Hai Bà Trưng, vốn bị ra lệnh phải tạc giống hình hai mẹ con bà Nhu.