Thứ Hai, ngày 18 tháng 8 năm 2014

NHÀ NGÔ ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO ĐÊM 20-8-1963

Trần Quang Diệu chú giải
 Và Thư của Nhân chứng Nguyễn Hữu Tín



Trích từ “Công Cuộc Tranh Đấu Của Phật Giáo Việt Nam - Từ Phật Đản Đến Cách mạng”, Sài Gòn, 1964. Chùa Khánh Anh tái bản tại Paris năm 1987. (Trang 394 đến 396) và Thư của nhân chứng Nguyễn Hữu Tín

"Tối hôm đó, 20.8.1963, nếp sinh hoạt thường nhật của chùa Xá Lợi có thay đổi đôi chút (1). Khác với mọi khi, đêm nay, mới 9 giờ giữa lúc các thiện tín, sau khi lễ Phật xong còn đang đứng nói chuyện trước sân chùa, trao đổi tin tức và chờ tin giờ chót để về phổ biến cho bà con xóm phường được rõ, thì một Đại Đức tới nhủ họ ra về. Thấy ý các thầy như vậy họ chỉ nghe theo không cần biết lý do và cũng không thắc mắc đến việc trái với thường lệ là 11 giờ đêm mới tới giờ tín đồ buộc phải ra về để chư Tăng nghỉ ngơi.
Thời gian cứ chậm chạp trôi qua, tới 10 giờ đêm thì nếp sinh hoạt nhộn nhịp sôi nổi của ngày thường đã biến đi, trả lại sự tĩnh mịch cho chùa Xá Lợi. Cổng chùa, mặt tiền, bên hông đều được đóng lại kỹ lưỡng. Ngoài đường, người qua lại bắt đầu thưa thớt, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe hơi hoặc gắn máy lướt nhanh trên đại lộ, phát ra những tiếng nổ ròn tan rồi chìm trong đêm vắng.

Trong sân chùa, trái với thường lệ, về khuya, các ngọn đèn thường được tắt bớt; nhưng hôm nay, ánh sáng đèn néon như rực rỡ hơn. Giữa màn đêm u tịch, chùa Xá Lợi tỏa ra muôn ánh hào quang, làm cho mảnh trăng non thành phố mờ đi như ánh sao mai trong buổi bình minh.
11 giờ đêm, thời gian vẫn lặng lẽ trôi. Trên gác, các Thượng tọa hầu hết đã vào phòng riêng an nghỉ. Thỉnh thoảng mới có một Đại đức lướt nhanh qua hành lang hướng về phòng Thượng tọa Thích Tâm Châu, nơi duy nhất còn tiếng máy đánh chữ nhè nhẹ.
Dưới nhà hậu, phần lớn chư Ni đã đi nghỉ, chỉ còn có một số đang lom khom, lặng lẽ lau nốt mấy bực thềm hoa. Số khác bận rộn trong việc quay ronéo, đóng thành từng bản tin tức để phân phối vào sáng hôm sau. Họ yên lặng làm việc, thận trọng, nhẹ nhàng như sợ phát ra tiếng động làm mất giấc ngủ của Hòa thượng và chư Thượng tọa trên lầu. Ngoài động tác của những bàn tay, tiếng giấy sột soạt, tiếng máy ronéo xè xè, không còn thấy gì hơn trên những gương mặt điềm đạm và bình thản đến độ không ai có thể ngờ rằng trong giây lát nữa đây, giông tố bão bùng sẽ đến với những người tuổi còn trẻ mà đã sớm ý thức và sớm vì tình thương của nhân loại, rũ bỏ lợi danh nhận trọn cuộc đời khổ hạnh trong cảnh an bần lạc đạo.
Đồng hồ thư viện điểm 12 tiếng, âm thanh văng vẳng ngân dài trong đêm thanh vắng. Mọi hoạt động đều ngừng, ánh điện quang chùa Xá Lợi sáng chói lên. Trên đại điện, dưới nhà hậu, chư Tăng Ni đều đã đi nghỉ. Riêng một số thanh niên Tăng sĩ trong ban trật tự còn ngồi gác sau hai cổng chùa. (2)
Theo lệ thường của chùa Xá Lợi, ban trật tự này chia làm 6 chúng. Đêm nay, chúng 5 phụ trách trong khoảng từ 1 đến 3giờ 15.
Khi chúng 5 vừa tới thay phiên gác và ngồi trông chừng hai mặt cửa chùa được độ 3 phút, thì trên đường phố đang vắng lặng, bỗng xuất hiện một toán người mặc áo sơ mi bỏ ngoài quần tây. Họ ngồi trên xe đạp, từ từ lượn quanh, ngó vào chùa dò xét...

Thế rồi, trong giây lát, một hồi còi ré lên và một đoàn trên 200 người, tay lăm lăm súng cắm lưỡi lê ào tới bao vây quanh chùa. Đoàn người này mặc đồ trận rằn ri, mũ sụp xuống lấp trán. Họ thi nhau xông tới phá hai cổng chùa. Trong chốc lát, các cổng đều bật tung và đoàn người võ trang hùng hổ tràn vào chùa. Họ cúi lom khom, lủi nhanh, núp vào các gốc cây, bờ tường, giống như đoàn quân thiện chiến đang xung kích trên trận địa sống chết với kẻ thù.
Lúc này chư Tăng, Ni đều đã dậy cả, ai nấy vội vã leo cầu thang rút lên thượng điện.
Các Thượng tọa gấp rút gọi giây nói cho các ký giả, sứ quán, nhưng đường giây đã bị cắt đứt, đồng thời hơi điện trong chùa cũng bị cúp luôn. Thế là, trong màn đêm, lờ mờ qua ánh điện đường sân chùa tràn ngập bọn người hung dữ, sát khí đằng đằng. Họ ồ ạt xông vào chính điện, đập phá cánh cửa, đạp đổ bàn thờ Hòa thượng Thích Quảng Đức và phá tan hộp đựng tiền công đức của thiện tín thập phương rồi cướp hết (3). Họ như điên cuồng, đập phá bàn ghế, xô đạp Hương đài, chặt cánh tay và móc mắt Phật lấy cặp nhãn (cặp mắt - tqd) kim cương trị giá trên hai triệu đồng.

Trong khi đoàn người mệnh danh "quân đội chính phủ" (4) đang đột nhập làm chủ tình hình và phá phách ở phía trước chùa, thì trên Thượng điện, tất cả Tăng, Ni đều quây quần vây bọc chung quanh Hòa thượng và các Thượng tọa. Người người nhất trí, khoẻ trước yếu sau trấn đóng hai đầu cầu thang không cho bọn người hung dữ tiến lên xâm phạm vào các Thượng tọa.
Ngay từ phút đầu của cuộc tấn công, cảnh chùa đã trở nên huyên náo, bên dưới bọn người hung dữ phá phách rầm rầm (5); ở trên Thượng điện, chư Tăng, Ni khua trống, đánh chuông, đập thùng thiếc cùng kêu la inh ỏi làm náo động cả một góc thủ đô.

Khi thanh toán xong dưới nhà, bọn người hung dữ nương theo hai cầu thang xông lên Thượng điện. Nhưng, họ gặp ngay phản ứng của hàng ngũ thanh niên Tăng sĩ; ngoài những bàn ghế chất đầy hai đầu cầu thang dùng làm chướng ngại vật, Tăng, Ni còn đem ấm chén, bát đĩa và tất cả các vật dụng trong phòng ra xếp thành một đống phía sau; hễ kẻ nào nhô đầu lên từ phía chân cầu thang lên, lập tức các đồ vật dụng được ném xuống xối xả, khiến bọn người hung dữ không sao tiến lên được. Lập tức lựu đạn cay từ dưới thi nhau tung lên sân Thượng điện, tiếng nổ chát chúa vang ra, cả trăm Tăng, Ni bị khói cay ho sặc sụa, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng. Một số người sức yếu, ngất đi nằm vật xuống.
Bọn người hung dữ lại từ dưới xông lên. Các thanh niên Tăng sĩ, mặc dù nước mắt nước mũi chảy ràn rụa làm mù mịt không trông thấy gì, nhưng họ vẫn liên tiếp thay phiên nhau nhắm hướng cầu thang liệng vật dụng xuống. Lựu đạn cay lại từ dưới nhất loạt tung lên, khói đen tỏa dày đặc, nhiều Tăng, Ni bị lựu đạn nổ ngay trên mình hoặc bị vỏ thủy tinh bắn ra cắt đứt da thịt, máu chảy quá nhiều nên ngã quỵ xuống.
Để đối phó lại, hàng tiền đạo Tăng sĩ được võ trang bằng khăn ướt, bịt trên mặt để ngăn bớt khói cay.
Lần thứ ba, sau khi lưu (or hưu? - tqd) chiến 15 phút, bọn người không tim không óc lại nhất loạt xông lên, lần này họ đội trên đầu mỗi người một chiếc ghế tựa để ngăn "đạn" từ trên xả xuống; đồng thời, họ vừa xung kích vừa tung lựu đạn cay.
Nhưng, kẻ xung kích dùng đòn độc, lấy ghế làm mộc, thì người bị tấn công, cũng đổi chiến lược, các "đạn" hạn nặng, như bàn giấy, chậu cảnh được quăng xuống và bất kỳ một thứ gì như thermode nước sôi, vỏ chai, hễ vớ được là họ quăng liên hồi...

Nhưng bọn người phía dưới hung dữ quyết bám sát trận địa, hết lớp này đuối sức thì lớp kia xông lên (6) và lựu đạn vẫn nổ liên tiếp làm inh tai điếc óc chư Tăng (có nghĩa là những ông thầy! - tqd). Tuy vậy, trận chiến vẫn diễn ra ác liệt, chư Ni một số ngã gục, một số bị ho sặc sụa, phải chạy vào phòng tắm, đóng chặt cửa tránh khói, còn một số vẫn hăng hái tìm kiếm vật dụng cho chư Tăng ném xuống...
Thời gian khủng khiếp nặng nề trôi... chư Tăng đã gần kiệt sức mà lực lượng cứu viện không có. Kẻ ngoại cuộc duy nhất ủng hộ là hãng U.S.O.M, từ các cửa sổ trên lầu cao, những bàn tay người ngoại quốc, đàn bà có, đàn ông có, đưa ra vẫy liên hồi, rồi cũng những bàn tay đó, nắm chặt lấy nhau đấm vào không khí ngụ ý tán trợ và cổ võ (7). Thế rồi, từ trên đỉnh ngôi nhà lầu hãng USOM ánh điện của máy chụp hình loé lên ánh sáng, lại càng chớp nháy liên tiếp khi một bóng người đàn bà vận quân phục từ trên xe Háp-tơ-rắc nhảy xuống (8). Người đàn bà này đứng giữa đường, hai tay chống ngang hông ngó vào cổng chùa Xá Lợi (9). Lập tức viên chỉ huy bọn người hung dữ được báo động và y chạy tới khúm núm trước thân người đàn bà này. Người đàn bà vận quân phục chỉ trỏ và quát tháo một hồi rồi lên xe đi thẳng. (10)
Trong sân chùa, trận chiến khởi đầu từ 1 giờ tới 2 giờ 45 phút thì thế cờ bắt đầu chuyển hướng. Lực lượng võ trang xông lên hùng hổ bao nhiêu thì sức kháng cự của Tăng, Ni yếu dần đi bấy nhiêu. Các vật dụng của nhà chùa dùng làm vũ khí đã hết... Thậm chí, chư Tăng phải xử dụng đến cả những bàn ghế trước đây dùng làm chướng ngại vật để quăng xuống...
Thế là mọi người chỉ còn hai bàn tay trắng, đưa ra đón lấy những mũi nhọn của lưỡi lê ào ạt từ dưới lao lên. Lần lượt những người tu hành bị bọn người hung dữ thúc lưỡi lê vào ngực, vào lưng dồn tới một xó chùa.

Tranh biếm họa của tờ Washington Post,
Herblock mai mỉa chính quyền nhà Ngô:
"Ồ! Ông ta chống Cộng dử lắm đó. Có điều, ông ta thấy rằng Phật tử dễ bắt hơn nhiều.
(sưu tầm của sachhiem.net)

Khi đã chiếm xong thượng điện, bọn người hung dữ tiếp tục khủng bố. Họ tràn vào thư viện bắt trói đánh đập các Thầy ở đây rồi dẫn đi, Thầy Hoàng Lạc, không chịu để chúng bắt, Thầy chạy ra sân lầu đại điện, nhào xuống đất để chết. Không ngờ lại rớt trúng đầu bọn hung dữ ở phía dưới; chúng hoảng hốt nổ súng (11), nhưng thầy Hoàng Lạc đã rơi xuống sân nằm bất tỉnh, khiến những viên đạn này lại bắn lộn vào đám đông, mấy mạng gục xuống. Sau đó chúng lục xạo khắp các phòng, chân đạp tung cửa, tay chuẩn bị bóp cò súng, miệng gầm thét chửi rủa tục tĩu...
Có nhiều thầy vừa ra tới cửa bị chúng còng tay, rồi đẩy đi. Qua một trận ngửi hơi ngạc các Thầy mệt mỏi, bước đi chậm chạp bị chúng tống báng súng vào lưng, khiến các Thầy ngã sấp xuống gạch. Tay lại bị còng ra phía sau, không thể chống đỡ nên các thầy đành chịu cảnh dập mày dập mặt, máu tuôn ướt áo, ướt đường.
Như để hả giận, vừa dồn các thầy ra chỗ ngồi tập trung trước sân thượng điện, bọn người hung dữ vừa chửi rủa vừa đánh đập, chúng bất kể già trẻ, ngôi vị trong chùa.
Kế đó, đèn được bật sáng; mọi người mới biết đoàn người hung dữ này không ai xa lạ chính là bọn mật vụ, cảnh sát và lực lượng đặc biệt do Trần Văn Tư, Giám đốc cảnh sát Đô thành chỉ huy tổng quát. Riêng Dương Văn Hiếu, tay chân đắc lực của lãnh chúa miền Trung được đặc biệt phái vào Sài Gòn, chỉ huy mật vụ của Ngô Đình NhuLê Quang Tung, tư lệnh lực lượng đặc biệt thì chỉ thấy quân mà không thấy mặt chúng. Không rõ chúng chỉ huy đánh chiếm mạn nào hay nằm ở "Bộ tư lệnh chiến dịch đánh chùa"?

Theo lệnh Trần Văn Tư, bọn mật vụ lần lượt bắt Hòa thượng Hội chủ, các Thượng tọa, Đại đức, dẫn ra xe. Chúng vừa tìm kiếm vừa reo lên "a thằng Tâm Châu đây rồi... cả thằng Giác Đức nữa, may quá...". Lập tức chúng xúm lại khiêng hai Thượng tọa xuống lầu. Đại đức Thích Đức Nghiệp cũng bị chúng nó lôi đi xền xệt trên cầu thang. Thế rồi các vị bị chúng đưa đi, giam mỗi người một phương nào không ai được biết.
Sau khi chúng kiểm soát kỹ lưỡng khắp chùa một lần nữa, thấy không còn sót ai, bọn mật vụ, cảnh sát, lực lượng đặc biệt, xếp hàng hai bên lối đi, mỗi đứa cách nhau một thước, nối tiếp nhau từ trên Phật điện xuống cầu thang vòng ra cổng. Chúng quay mặt đối diện với nhau, rồi một bọn khác tới lùa mấy trăm Tăng, Ni, ra xe.

Chư Tăng, Ni líu díu bước theo nhau thành một đoàn người rách rưới tả tơi, máu me lem luốc đầy mặt, khắp mình."
"Vì Tăng, Ni đông quá nên cầu thang trở nên chật chội, không thể nào đi nhanh được. Điều đó lại để cho bọn mật vụ có cơ hội tức giận nguyền rủa. Từ phía sau, chúng chửi bới, xô đẩy và dùng báng súng thúc mạnh vào lưng chư Tăng. Trong đoàn Tăng, Ni bị xô đạp này, nhiều người yếu quá ngã xuống, nhất là chư Ni, chân không (không có giày dép - tqd) dẫm (giẫm) lên những đống máu đông đặc lầy nhầy đọng trên cầu thang, khiến không gượng được nên ngã vật xuống. "Mặc kệ", "chết bỏ", chúng vừa quát tháo vừa xô mạnh cho những người phía sau dày (giày) xéo lên những người phía trước vừa ngã dưới bực cầu thang. Có nhiều vị Tăng chỉ vì cố dừng lại khiêng mấy Ni cô bị ngã, nhưng vì sức yếu không sao gượng dậy được giữa đám chân người lủng củng, dồn dập từ trên cao lấn xuống, nên bị chúng dùng gậy đập trên đầu đến váng (choáng váng - tqd) óc té xỉu đi.
Cho tới 3 giờ rưỡi sáng, bọn người gian ác này hoàn toàn thành công trong việc đánh phá chùa Xá Lợi.





Những ảnh biếm họa khác của Herblock /Washington Post về việc đàn áp Phật giáo của chính quyền Diệm Nhu (SH sưu tầm, ảnh http://www.authentichistory.com/1961-1974/4-vietnam/1-overview/3-1955-1963/)
Ngoài những Thượng tọa bị đưa đi, giam riêng, còn bao nhiêu Tăng Ni chúng chất lên xe chở về Rạch Cát nhốt trong một cái đồn hoang dại, hẻo lánh thuộc quận bảy, thuộc ngoại ô Chợ Lớn.
Sau đó, chúng đem xe hơi tới hốt các Tăng Ni bị chết, bị ngất hoặc bị thương trầm trọng, nằm la liệt trên sân thượng điện về bệnh viện Cộng Hòa. Chúng chở luôn cả những "chiến lợi phẩm" mà chúng không "nuốt" được như máy móc, giấy tờ về quận III, còn bao nhiêu thứ có thể bỏ túi được thì chúng "chia bùi sẻ ngọt" với nhau.
Chùa Xá Lợi sau hơn ba tiếng đồng hồ sóng gió kinh hoàng, lúc này hoàn toàn tan hoang. Thứ duy nhất còn lại ngoài mấy vách tường, đồ đạc hư nát, và máu tươi, thịt bấy của Tăng Ni loang lổ khắp sân chùa.
Sáng ra, người ta mới biết, người đàn bà đêm qua mặc quân phục, hằn học nhìn vào chùa Xá Lợi là bà Ngô Đình Nhu tức Trần Lệ Xuân.

Vợ chồng Ngô Đình Nhu - Trần Lệ Xuân, lãnh đạo chiến dịch tiêu diệt Phật giáo Việt Nam

Trần Lệ Xuân tới để chứng kiến cảnh tan nát cho hả lòng căn giận đối với những người độc nhứt trên đất nước này dám công khai đả kích bà ta và công khai chống lại uy quyền của nhà họ Ngô.
Ngoài ra, Trần Lệ Xuân còn tới để đôn đốc bọn tay sai phá chùa, chiếm lại bức thư của thân phụ bà ta mới gởi về (từ Hoa Kỳ - tqd) tạ lỗi với các vị Thượng tọa cách đây mấy ngày về việc Trần lệ Xuân đã vô lễ xúc phạm tới mấy thầy, mạt sát Phật giáo, một tôn giáo mà họ Trần tôn thờ.
Trong khi chùa Xá Lợi chìm trong cảnh tang tóc máu lửa, thì hầu hết các chùa trên lãnh thổ gia đình Ngô đình Diệm thống trị đều chung một số phận như vậy.

Riêng tại chùa Từ Đàm, Huế, trong đêm 20-8-1963, với 5.000 Phật tử túc trực bao quanh nhục thân cố Thượng tọa Thích Tiêu Diêu đã là một cản trở rất lớn cho bọn tay chân Ngô đình Cẩn. Ngô đình Cẩn phải huy động 2000 quân, chiến đấu từ 1 giờ đêm đến 8 giờ sáng mới thanh toán xong chiến trường (12) . Sở dĩ có trận chiến đấu ác liệt như vậy là vì Phật giáo đồ tưởng rằng lực lượng Ngô đình Cẩn tới cướp thi hài Thượng tọa Thích Tiêu Diêu như chúng đã từng làm đối với các Tăng ni tự thiêu trước đây. Và cũng vì vậy nên chư Thượng tọa có mặt trong chùa để yên cho Phật giáo đồ cầm cự, cố sống cố chết bảo vệ lấy thi hài duy nhất của bốn vị tự thiêu tại miền Trung còn lại. (13)

Trong những phút cuối cùng của cuộc giao tranh, Phật giáo đồ đã có lần định phóng hỏa đốt chùa để cùng nhau chết trong vòng vây nguy khốn chứ không chịu khuất phục trước bạo quyền...
Nhưng, việc làm này bị thất bại bởi lực lượng Ngô Đình Cẩn quá đông, chúng ào vào dập tắt lửa và tấn công dữ dội hơn, làm cho Phật giáo đồ rối loạn, xô lấn, ngã xuống chất lên nhau.
Trong chùa, lúc nầy Phật tử chỉ còn hai bàn tay không dơ (giơ) ra chống đỡ với lưỡi lê của những kẻ bạo tàn. Bao nhiêu củi đuốc bàn ghế, ấm, chén, nồi nêu, bát, đĩa, xoong, chảo trong chùa, Phật giáo đồ đều dùng thay vũ khí và đã ném đi hết sạch. Vì thế, lực lượng võ trang của Ngô đình Cẩn chỉ còn việc lần lượt bắt trói từng người dẫn đi.

Bắt bớ giam cầm sau ngày Tổng tấn công chùa

Thế rồi sáng hôm sau, 21-8-1963, tại thủ đô Sài gòn, thành phố Huế và khắp các tỉnh , khi mọi người thức dậy ra đường, đã thấy nhan nhản những truyền đơn, hiệu triệu và sắc lệnh thiết quân luật (14) dán đầy trên tường. Xe thông tin gắn loa phóng thanh chạy khắp phố phường thôn xã loan tin: "Chính phủ đã diệt trừ xong bọn phản động"!

Trích nguyên văn sách đã dẫn ở phần trước, từ trang 394 đến 396.
Ngày 11.11.2011. (15)
Trần Quang Diệu
________________________
Chú thích của Trần Quang Diệu:
1) Vì chùa Xá Lợi đã nhận được tin "mật" vào lúc 5 giờ chiều ngày 20.8.1963 cho biết rằng "đêm nay chính quyền Ngô Đình Diệm sẽ tấn công , tàn phá các chùa". Như vậy, rõ ràng đã có người ngay trong những tay chân được nhận lệnh chuẩn bị tấn công chùa đã không nỡ, nên họ đã lén mật báo cho Ủy ban Liên Phái Bảo vệ Phật giáo biết chuyện này.
2) Nếu không gác, canh, trông chừng, thì tài liệu giả VC sẽ được mang vào thảy đâu đấy rồi cho người hô lên đặng tóm bắt "CS".
3) Y hệt đoàn quân Thập Tự chinh hồi thời Trung cổ. Và đang có sẵn đấy chứ khỏi cần ông NVC đệ trình văn thư xin thành lập.
4) Không phải, quân đội VNCH lúc đấy không đồng lõa chuyện này!
5) Ông Ngô Đình Nhu bảo ông "sẽ tiêu diệt Phật giáo trong 5 phút" có lẽ là như vậy?
6) Lực lượng võ trang của chính phủ dùng để chống giặc mà trưng dụng, khi lén quần chúng quốc dân, ban đêm huy động để tấn công nhà chùa thì làm sao không đủ lực lượng, làm sao có thể không "thiện chiến" để chiến thắng?
7) Người ngoại quốc chứng kiến tận mắt cảnh tượng chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp PG là như vậy, chứ không phải họ chỉ có ngồi mà đọc báo hay xem TV, nghe Radio ở Washington D.C, hay ở đâu tận những nơi đèo heo hút gió của trái đất.
8) Bà Trần Lệ Xuân!
9) Phải chi người đàn bà nầy, đang đứng phía bên này cầu Hiền Lương, vĩ tuyến 17 - nơi ngăn đôi hai bên bờ đất nước - "hai tay chống ngang hông" chỉ qua phía bên kia mà ra lịnh cho quân sĩ... thì quả thực là nữ "thư" hùng.
10) Vì chiến dịch, gọi là "diệt trừ ma quỉ" chưa xong.
11) Trong những phút giây lúc ngồi đánh ra, đến chỗ này, tôi bỗng "thắc cười" đến thót ruột vậy.
12) Đó là cảnh đã làm cho Linh mục Cao văn Luận, Viện trưởng Viện Đại học Huế mắng thẳng vào mặt những người lãnh đạo: "Các ông vô đạo, Phật giáo có chính nghĩa".
13) Chế độ Ngô đình Diệm đã cướp đi mất dạng tất cả bốn thi thể của những Tăng, Ni đã tự thiêu. Đó là: Thích Nguyên Hương, Thích Thanh Tuệ, Ni cô Diệu Quang và Đại Đức Thích Thiện Mỹ - người tự thiêu cuối cùng trong thời 1963, trước nhà thờ Đức Bà tại Sài gòn ngày 27.10.1963. Xem bài "Chân dung những nhà sư vị pháp thiêu thân"
14) Đưa quân đội ra đường, bố phòng, canh giữ khi nào quốc gia có "biến". Quân đội VNCH hồi đó, buộc lòng phải làm theo lệnh của anh em nhà Ngô, nhưng, hầu hết là họ bất bình. Và, điều đó, càng làm cho phần đông các tướng lãnh phải quyết tâm liên kết để lên kế hoạch cho một cuộc đảo chánh lật đổ chế độ mà họ đã nung nấu từ hồi năm 1960 như Nguyễn Chánh Thi đã làm và Trần Văn Đôn đã viết trong hồi ký của ông.
15) Đúng cả ngày, tháng mà năm mươi (50) năm trước đây, binh chủng Nhảy Dù VNCH đã làm đảo chánh (11.11.1960). Nhưng, nhờ Đại tá Trần Thiện Khiêm đem quân từ Mỹ Tho về "cứu giá" ông Ngô đình Diệm cho nên cuộc đảo chánh thất bại. Đấy rõ ràng là cảnh "quân đội đánh nhau với quân đội" mà tổng thống Diệm không ngăn cản. Nó chứng minh một cách hùng hồn để bác bỏ lý cứ mà khi Vĩnh Phúc phỏng vấn ông Cao Xuân Vỹ; hoặc trên diễn đàn có người thuật lại rằng "tổng thống Ngô Đình Diệm không cho quân đội đánh nhau" khi cuộc đảo chánh 1.11.1963 xảy ra (Vĩnh Phúc, "Những Huyền Thoại & Sự Thật Về Chế Độ Ngô Đình Diệm", Văn Nghệ, USA, 1998, trang 317, 318, 319).

____________________________________


Thứ Bảy, ngày 16 tháng 8 năm 2014


THẢO LUẬN VỀ
“THOÁT TRUNG VỀ VĂN HÓA”
TRÊN VĂN VIỆT

Hoàng Hưng 



Văn Việt: Buổi hội thảo “THẢO LUẬN “THOÁT TRUNG VỀ VĂN HOÁ” TRÊN VĂN VIỆT” tại trụ sở Hội Liên hiệp Khoa học Kỹ thuật Việt Nam do Quỹ Phan Châu Trinh và NXB Tri Thức tổ chức chiều 15/8/2014 đã có sự tham dự đông đảo, đặc biệt là thành phần trẻ có tỷ lệ đáng kể. Nhà thơ Hoàng Hưng thay mặt Văn Việt đã tóm lược những ý kiến chính đã đăng tải trên Văn Việt về chủ đề “Thoát Trung về Văn hoá”.

Các ý kiến phát biểu sôi nổi khá đa dạng, đa chiều, đặt ra nhiều vấn đề cần suy nghĩ và tiếp tục đào sâu, cụ thể hoá. Đây cũng là dịp Văn Việt công khai xuất hiện chính danh như một diễn đàn văn hoá nghiêm túc, có trách nhiệm xã hội, có vị trí trong công chúng văn hoá nước nhà. 
Cuộc thảo luận “Thoát Trung về Văn hoá” do Văn Việt mở từ cuối tháng 6/2014 đến hôm nay (15/8/2014) đã đăng 19 bài, có một số bài lấy từ các trang mạng khác. Các tác giả khá đa dạng về lĩnh vực hoạt động và địa bàn cư trú, gồm nhà hoạt động chính trị, xã hội, nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo, dịch giả… trong và ngoài nước. Đến đây ta có thể nhìn lại một số ý kiến chính đã được nêu trong các bài viết, nhằm nhận rõ những gì đã có thể coi là khá thống nhất, những gì còn khác biệt, những gì cần tiếp tục thảo luận để nhận thức sáng tỏ và thiết thực hơn về chủ đề lớn này.

Xin lưu ý:
1/Những khái niệm bao quát thường gặp trong cuộc thảo luận này như “văn hoá”, “dân tộc” có nội hàm rất phong phú, có thể hiểu theo nhiều cách, nhiều tầng, nhiều cung bậc, tùy theo phạm vi và mục đích sử dụng. Thậm chí gần đây theo nhà nghiên cứu Trần Quang Đức thì triều đình Việt từng nhiều lần tự xưng là Trung Quốc, Hoa Hạ, một số nhà nho đầu TK 20 như Hoàng Cao Khải nói “Dân tộc Nam ta là Hán tộc không còn nghi ngờ gì nữa”… cho thấy sự phức tạp và biến chuyển trong sự giao thoa, tiếp biến kéo dài mấy nghìn năm trong quan hệ Trung-Việt, Bắc-Nam.
2/ Những bài viết trên Văn Việt về chủ đề “Thoát Trung về văn hoá” không mang tính thuần túy học thuật, mà có ý nghĩa “thực dụng”, bàn những vấn đề cấp bách về chính trị xã hội của đất nước, các văn bản cũng không phải những tiểu luận chỉn chu mà chỉ là những ý kiến sơ khởi.

A/ NHỮNG Ý KIẾN KHÔNG ĐỒNG TÌNH

Ngay từ khi Văn Việt tuyên bố mở mục, đã có một số ý kiến không tán thành xuất hiện trên mạng, tiêu biểu là của nhà báo Phạm Thành gửi cho Văn Việt: 1/ Văn hoá Việt đồng nghĩa văn hoá Trung Hoa nên nói thoát văn hoá Trung là hủy văn hoá Việt. 2/ Vấn đề cấp thiết hiện nay là thoát Trung về chính trị chứ không phải văn hoá.
“Cho nên đặt vấn đề thoát Trung về văn hóa để thảo luận đồng nghĩa với việc đặt vấn đề tiêu tùng văn hóa Việt, người Việt.
Đó là lý do mà trong một ngàn năm người Việt có chính quyền nhà nước, chưa từng có triều đại nào đặt đề thoát Trung về văn hóa như mấy nhà điều hành mạng vanviet.info đang phát động.
Nhưng, mặc dù học tập và ứng dụng đại trà Văn hóa Trung Hoa vào nước Việt nhưng người Việt vẫn giữ gìn được bờ cõi cương vực, và mặc dù triều đại nào của nước Trung Hoa cũng đưa quân xâm lược nước Việt, rốt cuộc chúng nó vẫn bị đánh cho tơi bời, buộc phải cong đuôi rút chạy về nước.”
(Phạm Thành – Thảo luận kiểu chọc tiết lợn đằng đít)

Cũng có một số ý kiến cho rằng việc học văn hoá Trung Hoa để chống lại Trung Hoa là cần thiết, như học Khổng là thiết yếu để xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền Việt Nam để bảo vệ độc lập.
Ý kiến văn hoá Việt đồng nghĩa hoặc chịu ảnh hưởng rất quan trọng (theo hướng tốt) của văn hoá Trung Hoa cũng được chia sẻ ở các mức độ khác nhau, như hai dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng và Trần Đĩnh đều nhấn mạnh giá trị và sự hấp dẫn không thể phủ nhận của văn học Trung Hoa xưa, điện ảnh Trung Quốc bây giờ. Hai tác giả cảnh báo phải thận trọng khi nói đến văn hoá, một vấn đề “rất trừu tượng mà cũng rất cụ thể” (Trần Đĩnh) và không được sa vào chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi (Trần Tiễn Cao Đăng, Trần Đĩnh), vì văn hoá Trung Hoa là sản phẩm tốt đẹp của nhân dân Trung Hoa qua ngàn năm lịch sử.

B/ Ý NGHĨA THỜI SỰ CỦA CUỘC THẢO LUẬN “THOÁT TRUNG VỀ VĂN HOÁ”.

Như vậy câu hỏi đầu tiên phải đặt ra là: Cuộc thảo luận “Thoát Trung về văn hoá” có thật sự cần thiết? Cuộc vận động “Thoát Trung” nói chung đang diễn ra sôi sục hiện nay trong lòng xã hội Việt Nam có ý nghĩa thiết thực gì?

1/ Văn hoá mà Văn Việt đặt vấn đề thảo luận đã được giới thuyết theo nghiã rộng:
“Văn hoá xin được hiểu theo nghĩa bao gồm các giá trị tinh thần như ý thức tư tưởng, triết lý, đạo đức, tâm linh, lối sống,… Như thế, Văn hoá chính là nền tảng sâu xa và lâu bền của sức mạnh dân tộc. Không thể “thoát Trung” về kinh tế, an ninh, chính trị… nếu không xuất phát từ “thoát Trung về Văn hoá” (Lời mời tham gia thảo luận)

2/ “Thoát Trung về chính trị” thật ra cũng là “thoát Trung về văn hóa”. Vì chính trị (quan niệm về chính trị, cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước…) thực ra cũng là một bộ phận cấu thành và làm nên những thang giá trị văn hóa trong tiến trình lịch sử của một dân tộc.
(Quách Hạo Nhiên – “Thoát Trung” hay “thoát Mác – Lênin”?)
“Nền quốc chính là sản phẩm của văn hóa vừa là tác nhân, nhân tố quan trọng nhất để xây dựng, bảo tồn và phát triển văn hoá của Dân tộc. Phải có nền văn hoá đúng, tốt và đẹp mới tạo ra được nền chính trị của đất nước Đúng – Tốt – Đẹp…”
(Nguyễn Khắc Mai – Giữ gìn và phát triển nền văn hoá dân tộc với 7 chữ Quốc)

3/ Sự phụ thuộc toàn diện của Việt Nam vào China trong nhiều năm qua trong đó phụ thuộc văn hoá là nghiêm trọng:
- Không thể coi là ngẫu nhiên những việc như truyền hình dày đặc phim Tàu, phố xá đầy đèn lồng Tàu, sư tử Tàu nhảy vào án ngữ đền chùa, sách cho thiếu nhi in hình cờ China là cờ Tổ quốc…
- Việt Nam là phiên bản của Tàu, đặc biệt về tư duy: Theo GS Nguyễn Văn Tuấn (Australia): “Nói “tương đồng” thì có vẻ oai, chứ Tàu nó chỉ xem Việt Nam chỉ là một phiên bản của họ. Chính vì thế mà các quan chức Tàu có thể hống hách và ngổ ngáo trong các tuyên bố như là lời phán của cha mẹ dành cho con. Việt Nam có vùng vẫy hay suy nghĩ gì thì Tàu cũng đoán trước được, vì Việt Nam chỉ học từ Tàu thôi, và đâu có thầy nào (nhất là thầy Tàu) mà dạy cho trò 100% sở trường. Sự lệ thuộc ngoại bang nó ghê gớm ở chỗ làm cho dân tộc không còn tự chủ và độc lập trong suy nghĩ, và người ngoài nhìn vào với ánh mắt khinh thường.”
(Nguyễn Văn Tuấn – Một bản sao của Tàu)

- Tình trạng thần phục mù quáng văn hoá China:
Dịch giả Trần Đĩnh phân biệt sự tiếp nhận ảnh hưởng văn hoá có sáng tạo với sự mù quáng thần phục. Ông thí dụ: “Marx nêu khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” nhưng sang đến ta thì trở thành”Anh em vô sản bốn phương một nhà”, “Bốn phương vô sản đều là anh em”. Quan hệ “liên hiệp” tức bình đẳng biến dạng thành quan hệ “anh em một nhà”, nhất là “một nhà” kiểu gia đình Á Đông tức là có trên, có dưới thì chết rồi! Từ kháng chiến chống Pháp, chúng tôi đã được giáo dục để rất tự hào có hai ông anh Liên Xô, Trung Quốc! Tức là chúng ta đã quá quen với thứ quan hệ “nương tựa”, “trên bảo dưới nghe” chứ không phải đoàn kết trên cơ sở bình đẳng. Cho nên thoát Trung về văn hoá là thoát cái quan hệ phụ thuộc, thần phục ấy.”
(Trần Đĩnh – Trao đổi với Văn Việt)

4/ China rất ý thức “bá quyền văn hoá” và dùng văn hoá để ràng buộc Việt Nam:
Không phải ngẫu nhiên trong hội nghị Thành Đô, Giang Trạch Dân “ban” cho các đối tác Việt Nam 16 chữ vàng trong đó 8 chữ là “lý tưởng tương thông, văn hoá tương đồng”.
Đến đây ta có thể nói: quan hệ giữa thoát Trung về chính trị và thoát Trung về văn hoá là quan hệ tương tác rất căn bản, muốn thoát Trung về chính trị không thể không thảo luận về nền tảng văn hoá của sự phụ thuộc chính trị (xét về lâu dài) cũng như ngược lại, ngay lúc này, muốn thoát Trung về văn hoá lại phải bắt đầu bằng thoát Trung về chính trị.
Vấn đề bây giờ là: xác định cái gọi là văn hoá Trung Hoa mà hôm nay ta phải thoát nó là cái gì? hoặc những gì trong cái văn hoá ấy?

C/ THOÁT TRUNG VỀ VĂN HOÁ LÀ THOÁT CÁI GÌ?

“Văn hoá Trung Hoa” là khái niệm quá lớn và phong phú để mổ xẻ. Ở đây có một điểm nhiều tác giả nhấn mạnh: Phân biệt văn hoá truyền thống của nhân dân China với thứ văn hoá mà những kẻ thống trị áp đặt cho xã hội China, nhất là tập đoàn Trung Nam Hải thời hiện đại:
“Tội của chúng thì đầy, nhưng nguy hiểm nhất vẫn là huỷ hoại nền văn hoá Trung Hoa và tạo nên những thế hệ người máy chỉ biết suy nghĩ theo giáo điều của đảng, không phân biệt được trắng với đen” (GS Nguyễn Văn Tuấn)
Dịch giả Trần Đĩnh cũng khẳng định: “Cần thấy sự khác biệt giữa nền văn hoá truyền đời của người dân với cái chính sách văn hoá nhất thời mà nhà chính trị chọn lựa”, “giới thống trị thoái hoá làm hỏng văn hoá dân tộc”.
Nhà thơ Hoàng Hưng cũng xác định rõ thoát Trung về văn hoá là thoát cái văn hoá mà giai cấp thống trị phong kiến và các nhà chính trị hiện đại của China đã xây dựng ở xã hội China và lan truyền khá mạnh ở xã hội Việt Nam do mối quan hệ “môi răng” đặc biệt.

1/ Tư tưởng bành trướng bá quyền, chủ nghĩa dân tộc Đại Hán:
Đây là tư tưởng chủ đạo của nhà cầm quyền China từ nghìn năm nay, càng trở nên mãnh liệt với tham vọng ngông cuồng trong thời hiện đại:
(Nguyễn Vi Khải – Nhận diện tư tưởng bành trướng thời hiện đại)
GS Cao Huy Thuần phân tích nội hàm của danh xưng “Trung Hoa” và “thiên hạ” trong tư duy chính thống của Trung Quốc ngàn năm và nhấn mạnh nguy cơ của chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã được đẩy lên hết mức trong thời nay:  “Làn sóng thứ hai là dân tộc chủ nghĩa tấn công: nó nguy hiểm vì đến từ một nước bá quyền. Nó càng nguy hiểm hơn khi cả một dân tộc sôi sục tấn công, hung hăng đến nỗi cấp trên phải hãm bớt phanh, sợ chính mình cũng bị đốt cháy, sợ không điều khiển nổi cơn lũ. Từ một ý thức hệ do Nhà nước đẻ ra để chính đáng hóa lãnh đạo của mình, thứ “dân tộc chủ nghĩa Nhà nước”(“state nationalism”) ấy đã trở thành “dân tộc chủ nghĩa xã hội”(social nationalism) khi nó động viên được cả xã hội. Mearsheimer gọi thứ dân tộc chủ nghĩa “bình dân” ấy của Trung Quốc ngày nay (popular nationalism) là “siêu dân tộc chủ nghĩa” (hypernationalism)”
(Cao Huy Thuần – Trung Quốc muốn gì?)
Thoát khỏi tư tưởng bành trướng bá quyền, chủ nghĩa Đại Hán là hết sức cần thiết, vì trong thực tế xã hội Việt Nam hôm nay còn có bộ phận không nhỏ bị tư tưởng ấy khuất phục, thậm chí mê hoặc, dẫn đến tâm lý hèn yếu cam phận chịu nhân nhượng, phụ thuộc, trở thành phiên quốc, thậm chí có thể… làm “một khu tự trị” (GS Trần Ngọc Vương gọi là tâm thế “nam nhân bắc hướng”).

2/ Yếu tố phải thoát khỏi trong văn hoá Trung Hoa ngày nay: nằm ở mặt Văn hoá chính trị, mà cái gốc là ý thức hệ:
- Tư tưởng phản dân chủ của Khổng giáo kéo dài đến hôm nay:
Nhà báo Lê Phú Khải hình ảnh hoá bằng tên gọi “nền văn hoá quỳ lạy”: “Điều nguy hiểm nhất của triết thuyết Khổng Tử là: Người quân tử nhờ tu thân mà có vai trò cai trị, nhưng khi quân tử – tức kẻ cai trị – không tu thân, trở thành những hôn quân bạo chúa thì dân chúng vẫn phải cam chịu, không được làm cách mạng lật đổ chúng. Vì thế Nguyễn Khắc Viện mới viết: Khổng Tử từ chối mọi cải cách! Trong xã hội Khổng giáo mấy ngàn năm ở Trung Quốc, kẻ sĩ đi học là mong được làm quan. Làm quan để được quỳ lạy dưới ngai vàng. Cáivăn hoá quỳ lạyấy đã kìm hãm nước Trung Hoa trong vòng tăm tối mấy ngàn năm. Trong nền văn hoá quỳ lạy ấy, chỉ có kẻ trên đúng. Chỉ có vua đúng. Vua bảo chết là phải chết. Cha bảo chết thì con phải chết. Tóm lại là không có chân lý. Hay nói khác đi, không ai đi tìm chân lý cả. Chân lý đã có sẵn ở kẻ bề trên, ở triều đại chính thống, bất kể nó thế nào!
…Nước Trung Hoa cộng sản hôm nay vẫn nguyên hình là một xã hội Khổng Mạnh trá hình mà thôi!
(Lê Phú Khải – Giã từ nền văn hoá quỳ lạy)

Từ đó sinh ra thứ “văn hóa thảo dân”, tức tâm thức chấp nhận sự bao cấp tư duy của người có quyền, tình trạng sợ hãi người có quyền bao phủ xã hội:
“Người dân tự nhận mình là “thảo dân”… Thân phận người dân được chính họ tự nhận là cây cỏ… Từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ toàn trị, tâm lý thảo dân càng có cơ sở để phát triển do người dân bị không chế toàn diện cả về kinh tế lẫn chính trị. Nỗi sợ hãi bao trùm xã hội. Người dân sợ bị mất sổ gạo (sổ mua lương thực), sợ con bị đuổi học, sợ bị đi tù. Từ nỗi sợ đó dẫn đến tâm lý vâng lời, nghe theo cấp trên để được yên thân. Và, điều tai hại lớn là sự vâng lời ấy dẫn đến sự bao cấp về tư tưởng”.
(Lê Phú Khải – Từ văn hoá quỳ lạy đến văn hoá “thảo dân”)
Nhà văn Nam Dao tức GS kinh tế Nguyễn Mạnh Hùng (Canada) gọi đó là “hệ hình văn hoá Hoàng đế”:
“Văn hoá là nền tảng trầm tích của mọi tổ chức xã hội. Tổ chức đó xây dựng trên cơ sở phân bổ những quyền lực của cộng đồng, tức quyền lực chính trị. Những quyền lực ở Trung Quốc đó từ hàng ngàn năm nay là gì? […] xã hội Trung Quốc xưa nay đóng băng trong một hệ hình gọi là hệ hình “hoàng đế’’. Phải chăng Thoát Trung về văn hóa là thoát cái hệ hình đó?”. Tác giả khẳng định hệ hình Hoàng đế thời Hậu Mao thể hiện ở thể chế “Vua tập thể”.  (Nam Dao – Thoát Trung?)

- Chủ nghĩa Marx-Lenin?
“Cái quyết định nhất chính là cái vòng kim cô mang tên chủ nghĩa Mác – Lê (từ đây đẻ ra cái gọi là “ý thức hệ cộng sản” mà lãnh đạo chính quyền Việt Nam mê muội, không chịu từ bỏ nên đã bị Trung Quốc lợi dụng). Về chuyện này, dân gian đã khái quát rất hay qua câu thành ngữ có tính phản tỉnh là nếu “trâu không uống nước thì ai đè đầu trâu” cho được?”
(Quách Hạo Nhiên – “Thoát Trung” hay “thoát Mác – Lênin”?)
-  “Thoát Trung” cần bắt đầu từ việc “đổi tên Đảng”. Một việc nhỏ thôi nhưng chắc có hiệu quả nhiều mặt. Tôi đề nghị Đảng Cộng sản Việt Nam thoát khỏi cái danh xưng “cộng sản”, cho khỏi trùng hợp với cái tên của “Đảng Cộng sản Trung Quốc bành trướng xâm lược”.
(Phùng Hoài Ngọc – Đổi tên Đảng, trước hết, để thoát Trung)

-  Thực chất hơn nữa, và rút lại, chính là thoát ý thức hệ độc tài, toàn trị:
Hoàng Hưng lập luận rằng thực tế Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng đang tự thoát khỏi chủ nghĩa Marx-Lenin, xây dựng một xã hội tư bản man rợ, chỉ giữ lại cái danh để che giấu cái thực là duy trì quyền toàn trị của một tầng lớp đặc quyền.
Từ đó Hoàng Hưng nói đến cái Văn hoá Giả dối bao trùm xã hội lâu nay:
“Một khi đã GIẢ DỐI từ những điều thiêng liêng nhất, thì nói còn ai nghe: lòng dân không tin, không phục, ấy là mầm loạn lớn nhất; và trong khí quyển giả dối ấy, chỉ những kẻ bất tài cơ hội man trá mới có đất dụng võ, người trung thực sẽ bị vứt bỏ, bộ máy nhà nước sẽ suy yếu nhanh chóng, ấy là mầm loạn lớn thứ nhì. Đó là ở bài này, mới chỉ nói trong phạm vi những vấn đề thời sự, tôi chưa muốn bàn đến hệ lụy lâu dài mà SỰ GIẢ DỐI thống trị gần nửa thế kỷ trên cả nước đã phá hủy rất căn bản nền tảng đạo đức xã hội của người Việt, mà tôi coi đó là một tội ác lớn nhất của chủ nghĩa Stalin + Mao đối với dân tộc ta.”
(Hoàng Hưng – Muốn thoát Trung, phải trung thực)

“Giải cấu trúc triết lý phát triển độc nguyên. Một chính đảng, một tôn giáo có quyền giữ triết lý độc nguyên của mình. Nhưng một dân tộc thì không. Nhân loại và các dân tộc tồn tại đến ngày nay đều phải phát triển trong đa văn hoá. Mô hình xã hội nào chỉ khẳng định độc nguyên sẽ bại vong, hoặc kéo dài sự trì trệ lạc hậu có khi đến cả ngàn năm mà sớm muộn đều tiêu vong”
(Nguyễn Khắc Mai – Giữ gìn và phát triển nền văn hoá dân tộc với 7 chữ Quốc)
Dịch giả Trần Đĩnh còn tiến xa hơn khi xác định: vấn đề không chỉ là thoát văn hoá độc tài vì muốn thoát Trung mà còn là để bảo vệ bản thân văn hoá, vì độc tài thì kỵ văn hoá. 

“Bản thân văn hoá là cởi mở. Một đặc điểm căn bản của kỷ nguyên hiện đại, khác với kỷ nguyên trung đại là chấp nhận “cái khác”. Mà độc tài là chống cái khác. Chống cái khác thì dễ chống văn hóa. Vậy muốn xây dựng văn hoá phải chống độc tài. Độc tài vốn dĩ kỵ văn hoá. Nên biết độc tài chính trị có xu hướng làm tàn lụi văn hóa. Đặc điểm của độc tài là chính trị hóa cao độ tất cả sinh hoạt xã hội, thâu tóm toàn bộ sinh hoạt xã hội vào cái túi chính trị vạn năng là vốn liếng riêng biệt của nhà cầm quyền. Trong khi lẽ ra cần phải để cho văn hóa được quyền mở ra xét duyệt “cái túi chính trị vạn năng” đóHình như có dạo rất hay nói chính trị hàng đầu, tư tưởng hàng đầu.Thế không phải là độc tài thì là gì? Ai đó chứ dân đâu được đề ra chính trị, đề ra tư tưởng?”.
(Trần Đĩnh – Trao đổi với Văn Việt)

3/ Rút cuộc, Thoát Trung là phải tự thoát: vì trớ trêu là lãnh đạo Việt Nam còn bám chắc vào ý thức hệ hơn Trung Quốc:
“Về mặt trung thành với lý tưởng, Đảng Cộng sản Việt Nam cao cả gấp bội so với đảng bạn bên Trung Quốc! Đảng Trung Quốc chính thức bị chúng ta coi là kẻ thù từ năm 1979 khi tiến hành chiến tranh xâm lược đẫm máu các tỉnh biên giới nước ta… Sự trung thành với ý thức hệ đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam bỏ qua mối thù 1979 (bấy giờ được Đảng coi là nhỏ, so với “đại cục”) để chủ động xin gặp gỡ đảng bạn, đề nghị chủ trì sự nghiệp cứu vãn phần còn lại của chủ nghĩ xã hội. Kết quả: Thành công; hội nghị Thành Đô 1990 đã đi đến những thỏa thuận (nào đó)”.
(Nguyễn Ngọc Lanh – Thoát Trung rốt cuộc là thoát gì?)

Nhà nghiên cứu Đinh Bá Anh cũng khẳng định “trên nhiều phương diện, Trung Quốc còn “thoát Trung” một cách chủ động hơn, nhanh và xa hơn Việt Nam”; “cả tư duy và tầm nhìn của giới lãnh đạo lẫn ý thức của người dân về quyền và trách nhiệm ở Trung Quốc đều cao hơn ở Việt Nam” (Việt Nam có cơ hội thoát Trung?)

D/ THOÁT VĂN HOÁ TRUNG ĐỂ ĐI TỚI VĂN HOÁ NÀO?

1/ Khôi phục những truyền thống văn hoá Việt đã bị xoá bỏ hoặc xói mòn bởi bọn xâm lược Trung Hoa và sự tiếp nhận mù quáng của chính giới lãnh đạo Việt Nam:
- Cáo Bình Ngô: “xưng nền văn hiến đã lâu… phong tục Bắc Nam cũng khác”.
- Bảy chữ quốc: Quốc hồn/túy, học, văn, sử, dân/bản, chính, tế (Nguyễn Khắc Mai)
- Phật giáo Lý Trần với đặc tính khoan dung, mềm dẻo: “Tiếng nói của ý thức tự chủ và tinh thần tự cường của con dân nước Việt khi Phật giáo thống nhất chỉ có ở đời Trần. Đó là nền Phật giáo độc lập, là uy tín của quốc gia Ðại Việt, là xương sống của nền văn hóa Việt Nam tự chủ… Chính nhờ các đặc tính khoan dung và mềm dẻo của văn hóa đời Trần mà vua quan cùng dân chúng đã đồng thanh tương ứng chống ngoại xâm và xây dựng đất nước. Văn học đời Trần rực rỡ và phản chiếu tinh thần từ ái, hòa đồng, thanh thoát, không tỏ ra khiếp nhược, yếm thế mà tóat lên sự tự lực, tự cường và tiến thủ, thấm nhuần tính cách dung hợp và khai phóng của đạo Phật… Tinh thần Phật giáo giúp các nhà chính trị đời Trần áp dụng những chính sách bình dị, thân dân và dân chủ…”
(Thùy Linh – Việt Nam – một số phận nghiệt ngã)

Chữ “Nhân” là cốt lõi của văn hoá Việt Nam:
“Chữ nhân lần này được thử thách trên một mặt trận lớn, đưa chúng ta đi xa hơn nữa trong nhân lý giữa bối cảnh toàn cầu hoá, trong nhân tính của quá trình thế giới hoá, chúng ta sẽ giữ cho bằng được nhân cách trước đe doạ của chiến tranh tới từ một đối phương lớn và thô bạo. Đây là một mặt trận vừa mới về nhân phẩm, vừa lớn vềnhân sinh… Trước thế giới, chúng ta phải đủ vai vóc của nhân nghĩa, tầm vóc của nhân giáo, nội công của nhân bản để thắng được đối phương trong lần thư hùng này, chính nghĩa của ta chính là nhân đạo, mà cha ông của chúng ta đã dạy chúng ta từ hồi lập quốc, từ khi Việt tộc là Việt tộc.
(Lê Hữu KhoáGS Nhân học Đại học Charles de Gaulle – Nhân cách giáo lý Việt tộc)
- Yếu tố dân chủ trong văn hoá “làng xã” dựa trên “tình làng nghĩa xóm” xa lạ với những quy tắc Khổng Mạnh: “Phép vua thua lệ làng”.
* Lưu ý: Các bài tham gia thảo luận không đề cập đến những yếu tố tiêu cực cần loại bỏ, khắc phục của chính truyền thống văn hoá dân tộc hình thành trong xã hội tiểu nông lạc hậu mà nhiều trí thức, đặc biệt các trí thức trẻ có kinh nghiệm cọ xát với các nền văn hoá ở các nước phát triển nhấn mạnh. Sau “Thoát Trung”, “thoát ta” sẽ là một đề tài cần đặt lên bàn nghị sự.

2/ Khôi phục những ảnh hưởng tinh tuý văn hoá thế giới phương Tây mà Việt Nam đã có thời tiếp nhận:
“Thế hệ trí thức lớn lên vào thời Pháp đô hộ được hưởng khá nhiều lợi ích của nền văn hóa tinh túy bậc nhất thế giới bấy giờ. Có nhiều nét tính cách của người Thăng Long được thừa hưởng vẻ tài hoa, tinh tế của văn hóa Pháp. Tiếp nối tính nhân văn, tự trọng, khiêm cung, tự do, khoáng đạt của đạo Phật thời Lý, Trần, âm ỉ trong suốt thời gian độc trị của Nho giáo, để rồi bắt nhịp, hòa hợp với văn minh phương Tây, làm nên tính cách người Thăng Long xưa chăng? Trước năm 45, giới trí thức Hà Nội, Sài Gòn được hưởng làn gió trong lành về tự do, dân chủ từ Pháp quốc thổi sang… Chính nhờ những ảnh hưởng này đã sản sinh ra giới trí thức tuyệt vời mà đến giờ gần bị “tuyệt chủng”.
(Thùy Linh)

3/ Tư tưởng hoà bình:
“Đối với Việt Nam – một quốc gia có truyền thống hòa hiếu, đi theo lộ trình phát triển hòa bình là lựa chọn tất yếu trong hiện tại và tương lai. Điều này càng trở nên cấp thiết khi chúng ta đối diện với một Trung Quốc luôn đặt trọng tâm phát triển trên bạo lực, bá quyền và muốn chi phối Việt Nam trong cái vòng cương tỏa mà họ tự vẽ ra.
Những điều kiện để hình thành một xã hội hòa bình:
- Một nhà nước đối thoại, tương tác (interactive state)… Đây là cơ sở để hình thành một nền chính trị trách nhiệm (accountable politics).
- Một đời sống văn hóa đa dạng
- Một cộng đồng gắn kết và ôn hòa
(Đặng Hoàng Giang – Sức mạnh của hoà bình và những gợi ý cho Việt Nam)

THAY LỜI KẾT:

1/ Thoát Trung về Văn hoá, có thể nói chính xác là “giải Hán hoá”, rút cuộc là thoát sự phụ thuộc, sao chép những yếu tố văn hoá tiêu cực mà tầng lớp thống trị China đã áp đặt lên xã hội của họ và xã hội Việt Nam: 1. Tư tưởng Đại Hán, bành trướng bá quyền China là nguyên nhân của thái độ khiếp nhược, thần phục của một bộ phận người Việt Nam. 2. Văn hóa tập quyền, độc nguyên là nền tảng của ý thức độc tài. Hai yếu tố này ngăn cản Việt Nam xây dựng độc lập tự chủ và phát triển bền vững.

2/ Việc xây dựng nền văn hoá Việt độc lập trong thời hiện đại phải nhìn trong hai mối quan hệ biện chứng: Khôi phục, phát huy những tinh túy của văn hoá bản Việt “nhân nghĩa, hoà bình” song song đào thải những yếu tố tiêu cực, lạc hậu; chủ động tiếp nhận ảnh hưởng tích cực của các nền văn hoá hiện đại thế giới mà tinh thần chủ đạo là “dân chủ, đa nguyên”.

3/ Vấn đề bao trùm cả thoát Trung, tự thoát, phải chăng là Thoát Á?
“Đôi khi các giá trị châu Á dường như là một cách gọi các giá trị “văn hóa Trung Quốc” hoặc Nho giáo, hoặc các lý tưởng về các chế độ được điều tiết và trung ương tập quyền cao như của Singapore. Trong các trường hợp khác, các chế độ thực dụng chủ yếu dựa trên các đặc lợi như ở Indonesia hoặc Trung Quốc, cũng sử dụng các “giá trị châu Á” để hợp pháp hóa quyền hành không bị hạn chế của các chế độ đầu sỏ quan liêu.
Ở các quốc gia mạnh của châu Á, xu hướng là ép buộc người dân chấp nhận các ý thức hệ duy nhất, do nhà nước quy định. Thay vì là các cơ chế để đạt đồng thuận, các thể chế chính trị lại được thiết lập chủ yếu nhằm đảm bảo an ninh, kỷ cương xã hội và “tính trách nhiệm” trong suy nghĩ và biểu đạt, nhất là trên các phương tiện truyền thông.
Trên thực tế, “giá trị châu Á” đã trở thành hệ tư tưởng của một loạt các chế độ kết hợp giữa một biến thể mang tính tập trung quyền lực của chủ nghĩa bảo thủ chính trị với nền kinh tế thị trường.
(Giá trị châu Á – Richard Robison (1996). “The politics of ‘Asian values’”, The Pacific Review, Vol. 9, No. 3, pp. 309-327 http://nghiencuuquocte.net/2014/07/27/gia-tri-chau-a

4/ Còn câu hỏi lớn: Thoát Trung về văn hoá bằng cách nào?
Đinh Bá Anh cho rằng: Không thể thoát Trung với động cơ “yêu nước” nặng về tình cảm, mà phải sựa trên sự phân tích tỉnh táo các điều kiện thoát Trung của Việt Nam, các tương quan về địa chính trị, thời thế, tầm nhìn của giới tinh hoa chính trị… Ông gợi ý phải chăng “Việt Nam chỉ thực sự thoát Trung khi nó có khả năng sáng tạo, thiết kế mô hình và đưa ra những luật chơi khiến Trung Quốc phải tôn trọng (hoặc du nhập)”, cụ thể là chủ động “chuyển từ một chế độ theo mô hình Lenin sang mô hình dân chủ tự do”.
Với riêng tôi, đất nước có thoát Trung được hay không trước nhất phải ở sự tỉnh ngộ chân thành và dũng cảm thay đổi của mỗi người chúng ta, những trí thức đã gần suốt cuộc đời đi theo một niềm tin từ tuổi thanh xuân đẹp đẽ. Tâm sự của nhà thơ Nguyễn Đình Thi bộc lộ trong những bài thơ cuối đời mà có lẽ ít người biết khi hoang mang nhìn lại con đường cách mạng mà mình đã theo suốt đời:
Đã có mùa xuân đời tôi không nhỉ
Và đã có không cả một mùa hè
Tôi chỉ nhớ đã đi nhiều mê mải
Năm tháng đêm ngày theo một ánh xa
(Mùa thu vàng)
Cuối cùng tự đấm ngực sám hối bi thương:
Người tôi còn nhiều bùn tanh
Mặt tôi nhuốm xanh nhuốm đỏ
Tay tôi vướng nhiều đồ bỏ
Nhiều dây nhợ tự buộc mình

Thôi xin tha cho mọi lỗi lầm
Quên cho những dối lừa khoác lác
Tôi biết tôi đã nhiều lần ác
Và ngu dại còn nhiều lần hơn
(Gió bay)
Cầu mong sao chúng ta, nhiều người ở đây đã vào tuổi xế chiều, kịp thời “tự thoát” để không lâm vào cảnh bi thương như nhà thơ khi nhận ra những lầm lạccủa đời mình thì không còn thay đổi gì được nữa.


H.H.