Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2021

 

CHIẾM NHÀ QUỐC HỘI VÀ GIỌT NƯỚC TRÀN LY

Nguyễn Quang Dy

Ngày 6/1/2021 sẽ đi vào lịch sử khi hàng ngàn người ủng hộ Trump quá khích xông vào Nhà Quốc Hội gây bạo loạn. Nếu Nhà Quốc Hội (Capitol), Tượng đài Washington (Monument) và Bảo tàng Lincoln (Memorial) ở Washington D.C. là biểu tượng của nền dân chủ Mỹ thì vụ tấn công vào Capitol là lần đầu tiên đánh thẳng vào nền dân chủ Mỹ. Joe Biden gọi đó là “khủng bố trong nước” (domestic terrorists), để so sánh với vụ máy bay khủng bố của Al Qaeda đánh sập Tháp Đôi (11/9/2001) của Trung tâm Thương mại ở New York.  

Cùng tắc biến

Người Mỹ phẫn nộ nhưng không ngạc nhiên khi bạo loạn xảy ra trên đường phố, như “Black Lives Matter” (BLM) gần đây. Nhưng họ thực sự sốc khi thấy Capitol bị tấn công, làm phó Tổng thống Mike Pence và các nghị sỹ đang họp phải trốn. Hình ảnh Capitol thất thủ không chỉ làm người Mỹ phẫn nộ mà còn làm nhiều nước lo ngại. Khi các nhà báo phỏng vấn những người quá khích đó, nhiều người không biết họ muốn gì, vẫn tưởng rằng nghe lời kêu gọi của Trump tấn công Capitol là “Làm Nước Mỹ Vĩ đại Trở lại” (MAGA).

Cảnh bạo loạn ở Capitol có thể làm người ta nhớ lại hình ảnh hồng vệ binh thời Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc, và làm nhiều người khác nhớ lại hình ảnh nước Cộng hòa Chuối (Banana Republic). Trong khi Trump mỵ dân bằng MAGA, ông đã làm xấu nước Mỹ bằng MADA (Make America Disgraced Again). Trump đã làm nước Mỹ ngày càng giống một nước Cộng hòa Chuối, và làm cho chính mình giống “Đại tá Trump”. Có người gọi Trump là “trùm kích động” (Inciter-In-Chief) cũng như “trùm nói dối” (Liar-in-Chief).  

Những người ủng hộ Trump quá khích xông vào Capitol có thể bị truy tố vì tội phá hoại, nhưng  họ chỉ là nạn nhân bị xúi giục. Cách đây bốn năm, Trump đã từng khoe “Tôi có thể đứng giữa Đại lộ số Năm và bắn ai đó, nhưng không mất phiếu”.  Chắc không có chính khách nào dám nói như vậy. Nhưng Không chỉ có Trump, mà một số nghị sỹ (như TNS Ted Cruz và TNS Josh Hawley) đã ủng hộ Trump và xúi giục họ phản đối Quốc Hội xác nhận kết quả bỏ phiếu, vì động cơ cá nhân của họ là gây quỹ và tìm cơ hội tranh cử năm 2024.

Giọt nước tràn ly

Trump đắc cử năm 2016 với ảo tưởng (delusion). Khi Trump thất cử năm 2020 ảo tưởng đó bị tổn thương, kích hoạt hội chứng ngạo mạn (nascissism) trở nên cực đoan. Trong khi đó, những người ủng hộ Trump bị mê hoặc bởi chủ nghĩa mị dân Trumpism, và thuyết âm mưu pha trộn tâm linh của Epoch Times, biến thành một thứ bùa mê như một loại cocktail. Họ ngộ nhận về Trump như một thánh nhân chứ không phải bệnh nhân (psychopath). Bùa mê đó lây lan như virus Corona, nên năm 2020, nước Mỹ mắc hai loại virus nguy hiểm.   

Năm 2016, Trump đắc cử nên chưa có cơ hội ăn vạ rằng “bầu cử gian lận” (fraud). Năm 2020, Trump thất cử nhưng không chấp nhận thất bại, tiếp tục đấu lý và ăn vạ rằng bầu cử gian lận, tuy các luật sư của Trump (như Rudy Giuliani) không đưa ra được bằng chứng nào trước tòa. Hai tháng đấu lý vô vọng và tốn kém (lương Giuliani $ 20.000/ngày), trong khi hình ảnh Rudy Giuliani và Sidney Powell ngày càng phản cảm. Trump không chỉ thất cử mà còn bị cô lập ngay trong đảng Cộng Hòa, vì ngạo mạn hành xử như “con bạc khát nước”.  

Trump kêu gọi người ủng hộ đến Capitol để ngăn cản Quốc Hội xác nhận kết quả kiểm phiếu, nhưng ảo tưởng của Trump trở thành “điểm bùng phát” (tipping point) làm “giọt nước tràn ly”.  Cuộc đối đầu thầm lặng (standoff) hai tháng qua đã kết thúc tại Capitol (như “anti-climax”),  phản ánh cuộc khủng hoảng chính trị và truyền thông. Tình trạng chia rẽ và phân hóa không chỉ diễn ra giữa hai đảng, mà còn trong nội bộ của đảng Cộng Hòa đã bị Trump thao túng, nay hàng loạt quan chức Nhà Trắng và Nội các đang từ chức (tuy quá muộn).

Bốn năm qua, tuy Trump làm được những điều mà các tổng thống khác chưa làm được là dám chống Trung Quốc, nhưng ông lại rút khỏi TPP, giúp Trung Quốc một cơ hội vàng. Gần đây, Trung Quốc đã ký được hiệp định thương mại RCEP với 10 nước ASEAN và bốn nước Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Tân Tây Lan) mà không có Mỹ và Ấn Độ. Tuy chính quyền Trump chống Trung Quốc mạnh hơn, nhưng làm suy yếu quan hệ đồng minh. Tuy bức tranh kinh tế tốt hơn, nhưng đại dịch Corona năm 2020 làm Mỹ phải trả giá quá đắt.

Lời cuối

Tuy buộc phải “lên án bạo lực và hứa sẽ chuyển giao quyền lực”, Trump khuyên người ủng hộ mình “về nhà” (go home, I love you!), trong khi Quốc Hội vận dụng Tu Chính án 25 để phế truất Trump (lần hai). Nếu Trump bắt chước Nixon từ chức để Mike Pence ân xá (trước 20/1), thì có thể thoát tội liên bang, nhưng khó thoát tội tiểu bang New York. Trump từng dọa Hillary Clinton (lock her up), nay đến lượt mình (lock him up). Tuy chưa điều tra vụ Capitol, nhưng Trump bị Facebook và tweeter khóa tài khoản vì “kích động bạo lực”.

Tuy còn quá sớm để biết Trump và những người liên quan có thoát tội hay không, nhưng chắc Trump sẽ không được hoan nghênh trong “câu lạc bộ các cựu thổng thống”. Hôm trước, Trump kêu gọi những người ủng hộ mình kéo đến Đại lộ số Năm và Nhà Quốc Hội, nhưng hôm sau Trump lên án bạo lực và “quay lưng lại với họ”. Tấn công vào Capitol là một vết đen cùng Trump đi vào lịch sử như một hiện tượng xấu xa của Trumpism. Đáng tiếc là có nhiều người Việt ủng hộ Trump, và treo lá cờ VNCH trên nóc nhà Quốc Hội Mỹ.   

Đây là sự thật chứ không phải đang xem vở kịch “Fawlty Towers”!

NQD. 09/01/2021

Nguồn: http://www.viet-studies.net/kinhte/NQuangDy_ChiemNhaQuocHoi.html

 

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2021

 

HAI NGÀY SÔI ĐỘNG CUỐI THÁNG 9 NĂM 1963:

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CỦA “MR. SMITH” VÀ “MR. R”

(Tài liệu Giải mật của CIA, Bộ Ngoại giao và Pentagon Papers)

Người dịch: Tâm Diệu, Trí Tánh, Nguyên Giác

Office of the Historian (Văn phòng Sử gia) là một cơ quan thuộc Bộ Ngoại giao Hoa kỳ, “theo luật định, chịu trách nhiệm về việc soạn thảo và phát hành tài liệu lịch sử chính thức của chánh sách ngoại giao Mỹ” trong Tổng tập FRUS (Foreign Relations of the United States), đã được giải mật.

 [The Office of the Historian is responsible, under law, for the preparation and    publication of the official documentary history of U.S. foreign policy in the "Foreign Relations of the United States" series].

 

Lời Giới Thiệu - Ngày 5 tháng 7 năm 1967, Quốc hội Mỹ khóa thứ 89 ban hành đạo luật “Freedom of Information Act (FOIA)” cho phép các tài liệu của chính phủ Mỹ có thể được giải mật (declassification) nếu vượt quá thời hạn 50 năm ban hành. Mục đích của  đạo luật nầy là  “… thúc đẩy trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của chính phủ bằng cách cung cấp một khung pháp lý cho các cá nhân có nhu cầu truy cập các tài liệu của chính phủ” (“The FOI Act promotes government accountability and transparency by providing a legal framework for individuals to request access to government documents”). 

Những tài liệu liên quan đến “Biến cố 1963” tại miền Nam Việt Nam, kéo dài từ lễ Phật Đản đến Chính biến 1-11-1963, thì nay đã đáp ứng điều kiện khung “thời gian 50 năm” nầy của đạo luật FOIA. Khối tài liệu đồ sộ nầy của chính quyền Kennedy (tại Washington cũng như tại Sài Gòn) được giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm kể từ giữa thập niên 2010’s, khi có một số sử gia Mỹ bắt đầu tìm cách nghiên cứu và đánh giá lại toàn bộ chiến tranh Việt Nam.

Hy vọng các thông tin được giải mật nầy, ít nhất là từ phía Mỹ, sẽ giúp các nhà viết sử có thêm tài liệu tham chiếu để thẩm định lại một cách chính xác và đúng đắn hơn về một giai đoạn bi hùng của lịch sử nước ta.

 

Vào cuối tháng 9 năm 1963, trong khuôn khổ chuyến viếng thăm Việt Nam đtìm hiểu (fact finding mission) của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara và Tướng Chỉ huy trưởng Liên quân Maxwell Taylor, có hai nhân vật được nhắc đến tên trong các văn kiện trao đổi giữa các giới chức lãnh đạo của Mỹ tại Sài Gòn và Washington. Họ được đặt bí danh là “Mr Smith” cho một nhà nghiên cứu người Mỹ   “Mr. R” cho một viên chức cao cấp người Việt thân tín bậc nhất của ông Diệm.

Cho đến nay, nhân thân của “Mr. Smith” vẫn chưa được tiết lộ, chỉ biết lúc đó ở Sài Gòn, là một nhà nghiên cứu và là nhà văn về Việt Nam, trước đó là người ủng hộ Diệm nồng nhiệt cho tới lúc đó”. Còn “Mr. R”, thì bây giờ chúng ta biết rõ chính là ông Nguyễn Đình Thuần , Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống, kiêm Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng, tạm giữ chức Bộ trưởng Đặc nhiệm Phối hợp An ninh”. Bộ trưởng Thuần chính là người mà từ hai năm trước đó, đã theo lệnh TT Diệm, yêu cầu chính phủ MỹGửi quân Mỹ tác chiến hoặc quân Mỹ “cố vấn tác chiến” cho quân VNCH.” (Theo “The Pentagon Papers”, Ed. Bantam Books Inc., 1971, trang 40, trích từ Điện văn của Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn gửi bộ Ngoại Giao ngày 13 tháng 10, 1961)

 

Hai nhân vật nầy, trong những văn kiện trao đổi giữa Washington và Sài Gòn trong hai ngày 26 và 27/9/1963 đã được đề cập đến như  là đã cung cấp các thông tin được cập nhật, cũng như những phân tích và bình luận tình hình tại Nam Việt Nam. Đáng lưu ý là, những ý kiến của hai “Mr” nầy đã được đánh giá cao và góp phần định hình quyết sách của Mỹ trong thời gian sôi động đó, cũng như đã cảnh báo khá đúng phản ứng của hai ông Diệm Nhu sau nầy.    

 (Hình ảnh lấy từ Internet - Phần nhấn mạnh / in đậm là của blog Nam Giao - 1/2021)

 ------------------------------------------------------------------------------------------------

■ Ngày 26/9/1963. Từ CIA Sài Gòn gửi về trung ương Hoa Kỳ.

Sau đây là tóm tắt nội dung cuộc nói chuyện dài nửa giờ với Tướng Khiêm vào sáng ngày 26/9/1963 do Khiêm mời tới. Khiêm giải thích rằng Khiêm yêu cầu nói chuyện theo lệnh Tướng Dương Văn Minh, muốn tiếp tục liên lạc thế này. Khiêm nói về nội dung cuộc nói chuyện giữa Khiêm với Minh, chỉ với Minh thôi, và xin đừng để lộ ra. Tướng Khiêm nói Việt Cộng mới đây cho thấy sức mạnh ở chiến trường, nơi thiệt hại của quân đội VNCH lần đầu tiên nặng nề như của VC. Khiêm thêm rằng xuyên qua các chiến dịch mới đây chỉ huy do Đại Tá Phước của ARVN J-2 (Tình Báo Quân Đội, VNCH) cho thấy nhiều chứng cớ rằng VC đã rất mạnh, đã có kế hoạch kỹ lưỡng và có nguồn lực tại chỗ để nỗ lực tấn công Sài Gòn nếu có bất kỳ hỗn loạn nào xảy ra. Khiêm nói có biết phía "dân sự" cũng đang âm mưu đảo chánh, nhưng phía "dân sự" không biết gì về tình hình sức mạnh của Việt Cộng. Do vậy, nên các tướng (tức là, Minh, Khiêm và Khánh) quyết định hủy bỏ kế hoạch đảo chánh trong khi chờ chính phủ Diệm cải tổ theo yêu cầu của các tướng lãnh.

(Lời Người Dịch: Trong tuần lễ thứ nhì của tháng 9/1963, các tướng lo ngại Nhu sẽ thương thuyết với Hà Nội và sẽ từ từ nhuộm đỏ Miền Nam, nên đã đề nghị với TT Diệm cải tổ chính phủ, để quân nhân nắm chức Bộ Trưởng các Bộ Quốc Phòng, Bộ Nội Vụ, Bộ Tâm Lý Chiến và Bộ Giáo Dục. TT Diệm nói sẽ trả lời sau. Các tướng đề nghị với TT Diệm rằng, Bộ Quốc Phòng giao cho hoặc Tướng Minh, Đôn hoặc Khánh. Các tướng tiên đoán TT Diệm sẽ chọn Tướng Đôn nắm Bộ Trưởng Quốc Phòng. Đề nghị Tướng Tôn Thất Đính nắm Bộ Nội Vụ, và tin là TT Diệm sẽ đồng ý. Bộ Tâm Lý Chiến đề nghị hoặc Tướng Trần Tử Oai hay Lê Văn Kim. Bộ Giáo Dục, hoặc tướng Trần Văn Minh hoặc Phạm Xuân Chiểu.)

Tướng Khiêm tin rằng TT Diệm sẽ đồng ý. Khiêm dự trù rằng ngày 4/10/9163 sẽ là hạn chót của các tướng để TT Diệm chấp nhận thay đổi chính phủ, nếu không thì các tướng sẽ có kế hoạch khác. Các tướng tin rằng TT Diệm sẽ chấp thuận nội các chiến tranh đó, vì quân VC đã cho thấy họ có sức mạnh nguy hiểm là từ kết quả chính phủ Diệm-Nhu trong quá khứ đã có những sai lầm chính sách cho tới giờ này. Các tướng tin rằng nếu các bộ quan trọng thay đổi (tốt nhất là, Tướng Dương Văn Minh nắm Bộ Quốc Phòng, Tướng Trần Văn Đôn nắm Bộ Nội Vụ) thì đường dây chỉ huy các mặt trận, và xuống tới các tỉnh, huyện sẽ hiệu quả chống lại hiểm họa từ trong (nội bộ chính phủ Diệm-Nhu) cho tới ngoài là Bắc VN.

Diệm đã có một bước như các tướng muốn là mới vài ngày trước đã ký lệnh đưa Đại Tá Tung và Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt của Tung nằm trực tiếp dưới quyền Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH. Chưa rõ lệnh này hiệu quả ra sao. Diệm cũng có hành động khác làm hài lòng các tướng là đưa Bác sĩ Trần Kim Tuyến (chỉ huy mật vụ, an ninh) ra ngoài VN. Tướng Khiêm xem Tuyến là một trong những người của Nhu chịu trách nhiệm nhiều nhất về tính kém hiệu quả của các cơ quan dân sự trong cuộc chiến chống VC. Khiêm nói, nếu tân chính phủ cải tổ như ý các tướng, ảnh hưởng của Cố vấn Nhu đối với hướng đi của VN sẽ thành tối thiểu. (Nhận định từ CIA Sài Gòn: Chúng tôi không chia sẻ niềm tin của Khiêm rằng Diệm sẽ chấp thuận đề nghị trao các Bộ đó cho các tướng nắm giữ.)

Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara trong chuyến

Tham quan Tìm hiểu (Fact Finding Mission trip) vào tháng 9 năm 1963. 

■ Ngày 26/9/1963. Bản báo cáo của Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara. Viết từ Sài Gòn.

Nội dung: McNamara phỏng vấn Giáo sư Smith. Ghi chú cho biết, theo William P. Bundy, người tháp tùng McNamara tới Việt Nam, GS Smith là tên giả. Smith lúc đó ở Sài Gòn, là một nhà nghiên cứu và là nhà văn về Việt Nam, trước đó là người ủng hộ Diệm nồng nhiệt cho tới lúc đó. Bundy về sau nhớ lại rằng ý kiến của Smith ảnh hưởng mạnh vào McNamara. Sau đây là tóm lược bài phỏng vấn.

Smith, một giáo sư tại đại học hàng đầu American University, nói tiếng Việt lưu loát, học giả về Đông Phương, quen biết rộng với các lãnh đạo ở cả Nam và Bắc VN, công việc hàng ngày tiếp cận các bản chép lại các bài phát thanh của Bắc Việt và các lá thư cá nhân và các tài liệu khác được đưa lậu ra khỏi Bắc VN. Smith vừa hoàn tất chuyến thăm Nam VN, các lần viếng thăm trước đó là năm 1960 và 1953. Trong chuyến đi này, Smith không đi nhiều ra ngoài Sài Gòn. Smith nói với McNamara như sau.

Khi tới thăm Nam VN, Smith nghĩ rằng sẽ nguy hiểm nếu cuộc chiến chống Cộng không có TT Diệm. Sau nhiều tuần lễ ở đây, ông đổi ý kiến. Diệm già kinh khủng kề từ 1960, bây giờ trí não trì trệ. Nhu là người, với lưng đã bị đẩy vào tường; bản thân Nhu đã rơi vào tình trạng kinh hoàng và đã tới một giai đoạn phản ứng tuyệt vọng; và rồi, ngay cả với các thành phần không liên hệ tới chính trị tại Sài Gòn cũng lo sợ bị Nhu bắt giam.. Diệm sẽ không tồn tại quá 24 giờ nếu không có Nhu, người tiếp nhận các khoản tiền hối lộ và quấy động quyền lực để sống còn. Nhu sẽ không tồn tại quá 24 giờ nếu không có vẻ ngoài uy tín của Diệm. Họ cần nhau. Không thể làm cho chế độ cởi mở. Diệm không có khả năng thay đổi. Do vậy, Mỹ phải chọn giữa việc chiến thắng cùng với chế độ này, hay là ủng hộ sự thay đổi để có chế độ khác.

Trong nhiều năm, công chúng chỉ trích chế độ, nhưng là chỗ rieng tư. Bây giờ là chỉ trích công khai, từ người dân ngoài đường phố, và chỉ trích cũng công khai từ quân nhân và cảnh sát. Chế độ đàn áp Phật Tử đã gây bất mãn cho mọi thành phần người Việt. Họ kinh hoàng khi cảnh sát tấn công các chùa. Cả người Thiên Chúa Giáo cũng bất mãn như Phật Tử. Không có chuyện xô xát Phật Tử với giáo dân Thiên Chúa Giáo. Trong quá khứ chưa từng có giáo hội chính thức nào của Phật Giáo, thế rồi đột nhiên họ phải tổ chức lại, vv. Từ lâu đã có sự chống đối chế độ một cách tiêu cực khắp VN, nhưng đã hiển lộ ra quanh người Phật Tử sau khi xảy ra sự kiện Huế. Bây giờ, không chỉ là phong trào tôn giáo, mà còn là chính trị.

Điểm đầu tiên để nghiên cứu kỹ lưỡng là: Chúng ta có thể chiến thắng với chế độ Diệm không? GS Smith tin là không thể chiến thắng. Như vậy, là phải thay thế. Bất kỳ vận động nào tách rời chế độ đều rất rủi ro. Sinh viên và Phật Tử không thể lật đổ chính phủ. Chỉ có đảo chánh quân sự hay một cú ám sát mới hiệu quả, và một trong 2 viễn ảnh đó thế nào cũng sẽ xảy ra. Trong các viễn ảnh đó, Hoa Kỳ có 50% cơ may sẽ có được điều tốt đẹp hơn. Thompson tuần trước nói rằng chương trình Ấp Chiến Lược tiến triển khả quan; đài phát thanh Bắc Việt chỉ trích nặng nề nhất là chương trình đó. Qua các nguồn tin độc lập, Smith xác nhận rằng Nhu nói với phóng viên Alsop (của báo Washington Post) và rồi Alsop viết lên báo, và rằng Bắc Việt đã nói chuyện với Nhu xuyên qua người Pháp, như Nhu đã nói. Một Đại tá quân đội, bạn chung của Nhu và của GS Smith, nói rằng mới vài ngày trước, Nhu hỏi rằng quân đội VNCH sẽ phản ứng ra sao đối với việc thương thuyết hai miền. Đại Tá nói với Nhu rằng ông sẽ không sống sót quá 24 giờ sau khi khởi động thương thuyết như thế. Nếu CS chiếm trọn Miền Nam VN, sẽ không có lãnh tụ chính trị nào tại Châu Á còn tin vào thế giới Phương Tây nữa. Thực sự, mất lòng tin sẽ không riêng ở các lãnh đạo Châu Á. Chính phủ Mỹ không thể làm gì khác hơn là hoặc công khai ủng hộ Diệm, hoặc im lặng. Nếu Mỹ im lặng, sẽ có một cuộc đảo chánh có lẽ xảy ra trong vòng 4 tuần lễ nữa. Đó sẽ là ván cờ bạc để xem ai sẽ nắm quyền sau chế độ quân sự lâm thời.

Các giáo sư tại Đại Học Sài Gòn nói rằng đời sống y hệt như địa ngục. Nếu đại học mở cửa lại, sinh viên sẽ lại xuống đường và Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa sẽ cùng với sinh viên biểu tình. Nhu đan bắt giam nhiều người thêm, và căng thẳng không ngừng. Do vậy, tinh thần chiến binh cũng xuống. Gỡ bỏ thiết quân luật và giới nghiêm nhưng tăng tốc bắt giam. Thế là nhà tù đầy thêm. Nếu Mỹ âm mưu đảo chánh, thì lại thất bại, vì chính phủ mới sẽ bị tai tiếng  là búp-bê của Mỹ. VC chưa lợi dụng được bất ổn chính trị, và Bắc Việt đang thiếu lương thực thê thảm. Theo ý tôi (GS Smith), nếu chính phủ Mỹ không nói gì để ủng hộ chính phủ Diệm, sự bùng nổ sẽ xảy ra trong vòng 2 hay 3, hay 4 tuần lễ tới.

.

■ Ngày 27/9/1963. Bầu cử Quốc Hội VNCH trên toàn lãnh thổ Nam VN, với tiên đoán được là tỷ lệ đi bầu sẽ đông và đa số ứng cử viên là người của chính phủ Diệm. Bản ghi chú của Bộ Ngoại Giao Mỹ ghi rằng một ứng cử viên nổi tiếng với các quan điểm độc lập, Nguyễn Trân, bị chính phủ cho là bất hợp lệ. Không có nhà hoạt động đối lập nào được tranh cử. Có một số nghi ngờ rằng chính quyền gian lận bằng cách cấp cho các cá nhân tin cậy mỗi người nhiều hơn một phiếu bầu, và cũng gian lận bằng cách đếm sai, trong khi chính phủ có một danh sách các ứng cử viên được ưa thích sẵn và đã giúp cho các ứng cử viên này.

Các ứng cử viên thắng phiếu sẽ vào 123 ghế, trong đó có 60 ghế đương nhiệm (có 25 người đương nhiệm thất cử). Theo báo cáo của CAS, 96 ứng cử viên được chính phủ Diệm hỗ trợ đã thắng cử. Trong đó bao gồm 55 thành viên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia (NRM) và 19 phụ nữ, tất cả đều có lẽ là thành viên Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới (WSM). Mặt khác, dựa vào báo cáo CAS, có 15 trường hợp được chính phủ VN hỗ trợ nhưng thất cử (chính phủ VN giữ trung lập trong phần còn lại cùa các ứng cử viên). Chưa rõ tất cả nhóm 15 người thất cử này sẽ chấp nhận thua hay không, vì có tin vài người nộp đơn khiếu nại. Khuôn mặt mới có 2 đại biểu người gốc Hoa, và là lần đầu tiên người Hoa ở Chợ Lớn gia nhập chính trị VN. Vắng mặt trong Quốc Hội mới sẽ là các khuôn mặt tương đối độc lập, những người có khuynh hướng gần với nghiệp đoàn lao động, như Phạm Văn Tùng và Trần Sanh Bửu. Điều chú ý là, 2 người này thua phiếu 2 ứng cử viên gốc Hoa kia. Trong tình hình Quốc Hội cũ vốn đã bất lực, các nhân sự mới không có vẻ gì sẽ là vai trò sáng tạo. Các viên chức ngoại giao Hoa Kỳ không sẵn sàng chấp nhận con số do chính phủ VN đưa ra là 92.82% dân số đi bầu là khả tín, nhưng xác nhận rằng người dân đông đảo đi bầu, một phần vì áp lực từ các viên chức địa phương, một phần vì không khí lễ hội trong ngày bầu cử. 

Biết rằng Bộ Trưởng McNamara và Tướng Taylor sẽ đề nghị dùng chương trình viện trợ để áp lực TT Diệm, cho nên cả Đại sứ Lodge và Brent (Giám Đốc USOM) đều chống lại phương pháp đó. Lodge gửi điện văn lúc giữa trưa, nói rằng nếu Mỹ cắt giảm viện trợ sẽ làm đời sống người dân khổ hơn, và sẽ bất lợi cho cuộc chiến chống Cộng.

.

■ Ngày 27/9/1963. 6 p.m. Gửi từ Tòa Đại sứ về BNG. Ký tên Lodge. Hãy chuyển tới USIA cho Murrow.

Tôi đề nghị nghiên cứu tức khắc về khả năng làm một loạt chương trình trên đài VOA, sẽ nói bằng tiếng Việt trên làn sóng phủ khắp Nam VN đều đặn, trình bày các lý tưởng Hoa Kỳ như tự do phát biểu, tự do báo chí, quyền được ra tòa nếu bị bắt, phẩm chất cá nhân phải được tôn trọng, quyền tìm hạnh phúc, mọi người đều bình đẳng, chính quyền là đầy tớ của dân, vân vân. Hiện nay tất cả các nguyên tắc đều bị vi phạm tàn bạo ở VN. Thực sự, tôi vừa nhận được bản báo cáo khả tin về chuyện cảnh sát nửa đêm gõ cửa nhà dân và bắt đi các phụ nữ trong một gia đình về nhà giam để thẩm vấn (Xem khung chữ đính kèm).

Mục đích chiến dịch thông tin này để dân VN ý thức về quyền của họ, tới mức gây lo ngại cho Diệm-Nhu và sẽ giúp Mỹ có sức ép. Tôi tin rằng sức mạnh của lý tưởng chúng ta sẽ mạnh hơn là tiền hay là thế lực của chúng ta. Tôi có ý nghĩ trên vì tin rằng đài VOA có đông thính giả tại VN. Mecklin cũng nghĩ thế.

.

■ Từ Sài Gòn. Không ghi ngày. Bản báo cáo của Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara. Về buổi nói chuyện ngày 27/9/1963 với Richardson (Trưởng Phòng CIA Sài Gòn). Buổi nói chuyện dài 2 giờ đồng hồ. Sau đây là nhận xét của Richardson.

Khủng hoảng Phật Giáo chỉ là cao điểm của những bất mãn đã ẩn tàng từ lâu. Tương lai bất định, khó đoán. Tình hình bắt giam hàng loạt sinh viên là rất tệ hại. Các vụ bắt giam này có cả các con của các sĩ quan và các công chức cao cấp. Các vụ bắt trong đêm chỉ làm người dân căm ghét thêm. R (bí danh của Bộ Trưởng Nguyễn Đình Thuần) nói với Diệm rằng cứ mỗi viên chức trong nội các là đều có một khủng hoảng cá nhân. Điều R muốn nói chính là bầu không khí của những nỗi nghi ngờ. Họ kính trọng Diệm, nhưng không chịu nổi gia đình nhà Ngô. R đặc biệt lo sợ hành động của các cấp cao nhất trong quân đội. Hai lần trong vài ngày qua, R từ chối đề nghị rằng R sẽ lên nắm chức Tổng Thư Ký Hội Đồng Chính Phủ (Secretary General of the Council); Diệm nói như thế là đưa R vào chức Thủ Tướng, nhưng R nói R không thể chấp nhận chức vụ đó trong chính phủ này. R được báo cáo là R đang bị theo dõi, gia đình nhà Ngô nhìn R như một người Mỹ. R nói R không thấy có ai có đủ đạo đức cá nhân để thay thế Diệm, nhưng hướng đi mà Diệm và nhà Ngô đang dẫn đi sẽ đưa tới thảm họa. Diệm là người yêu nước nhưng gắn bó với gia tộc nhà Ngô. Quan hệ giữa các cố vấn quân sự Hoa Kỳ và người tương nhiệm (VN) là tốt, nhưng nếu bầu không khí nghi ngờ không hết, các cấp thấp phía người Việt sẽ rút ra khỏi quan hệ này -- R nói có thấy tiến trình xấu này. Richardson nói, "Tôi yêu cầu Bộ Trưởng hãy rất cứng rắn; đây là con đường duy nhất. Đừng cắt đứt viện trợ; chỉ treo viện trợ thôi." Diệm lo lắng về chuyện chậm trễ viện trợ thương mại. R nói, có 4 tướng xin được giữ chức trong nội các chính phủ. Họ rất nguy hiểm.

Ông Nguyễn Đình Thuần (thứ hai từ trái, ngồi bên mặt PTT Nguyễn Ngọc Thơ) trong một cuộc họp báo của Ủy ban Liên Bộ năm 1963. Vì ông Ngô Đình Diệm là Tổng thống nhưng kiêm nhiệm luôn chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng nên ông Thuần chỉ giữ chức “Bộ trưởng Phụ tá Quốc Phòng” kiêm nhiệm “Bộ trưởng Phủ Tổng thống”). - Hình của Lo Vinh, sưu tầm của southeastasiacollector.

Để cứu VN, chúng ta phải áp lực Diệm để buộc ngưng các biện pháp đàn áp dân và phải buộc Nhu ra đi. Nếu không, đảo chánh sẽ xảy ra và sẽ là thảm họa. Nhu là kẻ chủ mưu, chỉ huy trận tấn công các chùa. Đừng tin những gì nhìn thấy, vì người dân đang nổi giận. Chuỵện các sinh viên thì cực kỳ kinh hoàng. Trong thâm tâm, nhiều sĩ quan đã bất mãn lớn với chính phủ. Tư Lệnh Hải Quân, người đã cứu sinh mạng Diệm trong năm 1960, bây giờ không thuyết phục nổi chính thân phụ của mình về cái gì là tốt đẹp của chính phủ. Dân chúng ghét bà Nhu và cậu em (Trần Văn Khiêm). Nếu Nhu tìm cách nối ngôi Diệm, sẽ có chiến tranh liền. Không chỉ có chuyện bắt người ban đêm, cũng có chuyện Mật Vụ bắt cóc người. Có bao nhiêu người bị bắt, bao nhiêu được thả ra? Tôi không biết. Tổng Thư Ký tờ Trudo (Tự Do?), tờ báo bị nghi là ủng hộ người Mỹ, bây giờ đã bị bắt giam.

Nhiều thành viên nội các chính phủ đã chán rồi, muốn từ chức, nhưng nếu từ chức là sẽ có chuyện bất tường. Có 36 mật vụ trong nhà Mẫu [Ngoại trưởng] khi Mẫu tìm cách rời VN. R nói với Diệm: Tổng Thống không thể sống sót nếu không có viện trợ Mỹ. Đồng tiền sẽ sụt gíá, lúc đó đồng tiền đã sụt giá rồi. Khiêm, em trai bà Nhu và là chỉ huy cảnh sát bí mật, là một người điên khủng và bị ám ảnh tình dục. R nằm trong danh sách ám sát của Khiêm. Bộ Trưởng Kinh Tế, một tín đồ Thiên Chúa Giáo thuần thành, nói với R rằng ông không thể ngủ đêm qua khi nghĩ về các lời tuyên bố chống Mỹ của Nhu; ông tin rằng tuyên bố như thế thì phe hưởng lợi nhiều nhất là người Cộng sản và ông kết luận rằng hẳn là có một người Cộng sản phía sau Nhu. Bản báo cáo này có chữ ký được đánh máy của Bộ Trưởng Robert S. McNamara.

TDTTNG/202101

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2020

 

BA NGÀY CUỐI THÁNG 8 NĂM 1963 -

TÀI LIỆU GIẢI MẬT CỦA CHÍNH PHỦ MỸ

(CIA - Bộ Ngoại Giao - Pentagon Papers)

 

Người dịch: Tâm Diệu, Trí Tánh, Nguyên Giác

 

Lời Giới Thiệu - Ngày 5 tháng 7 năm 1967, Quốc hội Mỹ khóa thứ 89 ban hành đạo luật “Freedom of Information Act (FOIA)”. Mục đích của  đạo luật nầy là  “… thúc đẩy trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của chính phủ bằng cách cung cấp một khung pháp lý cho các cá nhân có nhu cầu truy cập các tài liệu của chính phủ” (“The FOI Act promotes government accountability and transparency by providing a legal framework for individuals to request access to government documents”). Ngoại trừ 9 biệt lệ được xử lý với quy trình riêng, hầu hết mọi tài liệu của chính phủ được ban bố từ 50 năm trở đi đều có thể được tự động chọn lựa để  giải mật (declassification), hoặc được xét riêng để giải mật khi được yêu cầu.

Những tài liệu liên quan đến “Biến cố 1963” tại miền Nam Việt Nam, kéo dài từ lễ Phật Đản đến Chính biến 1-11-1963, thì nay đã đáp ứng điều kiện khung “thời gian 50 năm” nầy của đạo luật FOIA. Khối tài liệu đồ sộ nầy của chính quyền Kennedy (tại Washington cũng như tại Sài Gòn) được giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm kể từ giữa thập niên 2010’s, khi có một số sử gia Mỹ bắt đầu tìm cách nghiên cứu và đánh giá lại toàn bộ chiến tranh Việt Nam.

Trong “Biến cố 1963”,  phong trào đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo của Phật giáo Việt Nam kéo dài 6 tháng, còn được gọi là “Sáu tháng Pháp Nạn”, có ba cột mốc lớn:

(1) Vụ chính quyền đàn áp gây tử vong tại đài Phát thanh Huế đêm Phật Đản 8/5/1963.

(2) Vụ tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức tại Sài Gòn ngày 11/6/1963, và

(3) Chiến dịch “Nước Lũ” càn quét chùa và bắt bớ Tăng Ni toàn quốc do Cố vấn Ngô Đình Nhu phát động trong đêm 20/8/1963, gần như đã tê liệt hóa toàn bộ Phong trào Phật giáo, biến cuộc đấu tranh bất bạo động cho bình đẳng tôn giáo thành cuộc đấu tranh chính trị công khai của đảng phái, trí thức và sinh viên (và của quân đội trong bí mật).

Chiến dịch Nước Lũ đó, do vậy, cũng đã là một bước ngoặt quan trọng làm gay gắt thêm mâu thuẩn giữa chính phủ Ngô Đình Diệm và các tổ chức bất mãn của Quân đội do các Tướng lãnh chủ xướng. Đồng thời cũng đặt chính phủ Mỹ trước viễn ảnh một cuộc khủng hoảng về khả năng chống Cọng của phía Việt Nam và sự tham dự của Mỹ tại “tiền đồn chống Cọng” nầy.

Các tài liệu (văn bản, công điện, bản ghi nhớ, …) của chính phủ Mỹ trong ba ngày cuối tháng Tám  năm 1963  mà chúng tôi tìm dịch dưới đây, ghi lại các thảo luận, quyết định, động thái của cấp lãnh đạo Mỹ một tuần ngay sau chiến dịch “Nước Lũ”.

 

Hy vọng các thông tin được giải mật nầy, ít nhất là từ phía Mỹ, sẽ giúp các nhà viết sử có thêm tài liệu tham chiếu để thẩm định lại một cách đúng đắn hơn về một giai đoạn bi hùng của lịch sử nước ta.

(Phổ biến, nhân dịp sắp đến kỷ niệm ngày sinh thứ 120 của ông Ngô Đình Diệm, một nhân vật gây nhiều tranh cãi trong lịch sử Việt Nam cận đại - Phần nhấn mạnh / in đậm là của blog Nam Giao - 12/2020)         

----------------------------------------------------------------------------------------------------

■ Ngày 27/8/1963. Điện văn từ CIA Sài Gòn gửi về trung ương. Trung tá Conein gặp Tướng Trần Thiện Khiêm theo lời mời của Khiêm tại Bộ Tổng Tham Mưu. Tướng Khiêm nói kế hoạch đảo chánh đã thảo luận với một ủy ban tướng lãnh trong đó lãnh đạo là Tướng Dương Văn Minh, và tất cả đồng ý là sẽ thực hiện đảo chánh trong vòng một tuần nữa.

Ủy ban tướng lãnh, bên cạnh Tướng Dương Văn Minh còn có các tướng: Lê Văn Kim, Nguyễn Khánh, Phạm Xuân Chiểu, Nguyễn Ngọc Lễ, Trần Tử Oai (Oai không là thành viên ủy ban nhưng cho biết sẽ hợp tác). Tướng Trần Văn Đôn là thành viên ủy ban nhưng không thể hành động, vì đang bị vây quanh và ngăn chận bởi người của Tổng Thống Phủ.

Các tướng không nằm trong kế hoạch và phải bị vô hiệu hóa là: Tướng Tôn Thất Đính, Tướng Huỳnh Văn Cao.

Đại tá Lê Quang Tung bị xem là một mục tiêu chính phải tấn công và tiêu diệt cùng với toàn bộ nhân sự trung thành của Tung ngay trong các hành động đầu tiên của đảo chánh.

Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ biết về kế hoạch đảo chánh và cho biết ủng hộ. Thơ là lựa chọn của các tướng lãnh để làm lãnh đạo dân sự của chính phủ kế tiếp. Thơ cũng biết nội dung cuộc nói chuyện giữa Conein với Khiêm.

Nội các chính phủ lập sau cuộc đảo chánh sẽ do Phó Tổng Thống Thơ lãnh đạo, nhưng sẽ có một vài chức trong nội các do các tướng nắm giữ. Để tránh bất ổn định, chánh phủ kế tiếp sẽ không phải là chính phủ quân sự hay thuần tướng lãnh.

.

■ Ngày 27/8/1963. Bản ghi nhớ từ Michael V. Forrestal (NSC) trình Tổng Thống Kennedy. Cho biết vào chiều nay lúc 4 p.m. sẽ có môt số viên chức tới trình bày với Tổng Thống về chính sách Mỹ tại Việt Nam. Trong buổi họp sẽ có thêm Murrow (Giám đốc Truyền thông Hoa Kỳ) và Đại sứ Nolting.

Roger Hilsman (Thứ Trưởng Ngoại Giao về Viễn Đông Sự Vụ) và Bill Colby (CIA) sẽ trình bày cho Tổng Thống nghe về diễn tiến mới. Một ủy ban các tướng lãnh VN đã thành lập nhằm đảo chánh trong vòng một tuần nữa. Dự kiến đảo chánh xong, nội các mới sẽ do Phó Tổng Thống Thơ lãnh đạo, và vài tướng lãnh giữ chức Bộ Trưởng. Các tướng yêu cầu Mỹ bày tỏ thiện chí  bằng một thông điệp vô hại trên đài VOA. Có tin về một âm mưu đảo chánh khác do các nhà đối lập dân sự đang hình thành, trong đó sẽ có Trần Quốc Bửu, nhà lãnh đạo lao động, và họ muốn đưa Tướng Dương Văn Minh lên chức Tổng Thống.

Đề  nghị Tổng Thống [Kennedy] có thể kết thúc buổi họp bằng cách lập lại chính sách hiện nay với VN là: Mỹ không thể ủng hộ một chính phủ tại Nam VN do Cố vấn Nhu khống chế; Mỹ muốn giữ lại Tổng Thống Diệm trong chức vụ Tổng Thống, nhưng nghiêm túc lo ngại  về tính khả thi hiệu quả hay không, và do vậy để tùy các tướng VN xem có thể giữ lại Diệm hay không; Mục tiêu căn bản của Mỹ tại VN không đổi: tiếp tục toàn lực hỗ trợ cuộc chiến chống Cộng, và sẽ tiếp tục viện trợ bất kỳ chính phủ nào tại Nam VN có khả năng thực hiện nỗ lực này.

.

■ Ngày 27/8/1963. Bản ghi nhớ của Phụ tá Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ (Lansdale). Theo lời mời của bà Trần Văn Chương (mẹ của bà Nhu), tôi (Lansdale) tới thăm bà tại lãnh sự quán VN ở thủ đô Washington. Một chút sau khi tôi tới, Đại sứ Trần Văn Chương vào, cùng nói chuyện. Các điểm chính như sau.

Hai ông bà: Mỹ phải hành động cứng rắn, nhanh nhóng, để thay thế cả Diệm và Nhu, bằng chính phủ mới. Dân VN đã phẫn nộ, và đã quá trễ để giữ ông Diệm ở lại trên ngôi Tổng Thống. Người dân, nhìn thấy Lực Lượng Đặc Biệt và cảnh sát cùng với vũ khí và quân trang Mỹ, biết rằng Diệm chỉ có thể ở trên ngôi với hỗ trợ từ Mỹ, họ sẽ chống lại Mỹ trừ phi có thay đổi ở cấp cao chính phủ. Nếu Mỹ hài lòng với việc thay đổi chính sách của Diệm về Phật Giáo và sinh viên, k cả việc trả tự do cho tù nhân Phật Tử và sinh viên, điều này không đổi được sự căm ghét của người dân VN đối với các hành vi tội phạm đã gây ra.

Đại sứ Chương: Mỹ sẽ bán đứng dân VN cho Cộng sản nếu đúng là Mỹ đang tính đưa Bửu Hội làm Thủ Tướng dưới quyền Tổng Thống Diệm. Bửu Hội, với liên hệ CS, sẽ trở thành một hình thức Việt Nam của Souvanna Phouma và CS sẽ chiến thắng.

Bà Chương (nói riêng): Ông (Lansdale) phải tới Sài Gòn mau, bảo Diệm và 2 ông bà Nhu rời VN bây giờ. Dân chúng căm ghét họ, và họ không nên ở lại vì dân chúng sẽ giết họ. Họ chắc chắn sẽ bị giết nếu ở lại VN. Không ai ở Tổng Thống Phủ nói thực với họ cảm xúc của dân.

Cả hai ông bà Chương: Chúng tôi sẽ ở lại Tòa Đại sứ cho tới khi Ly, tân Đại sứ, tới từ New Delhi, và chúng tôi sẽ ở lại trong khu vực thủ đô Mỹ với tư cách công dân riêng tư.


Đại tá Edward Lansdale, Phụ tá Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (trái)

và Đại sứ VN tại Hoa Kỳ Trần Văn Chương (Thân phụ bà Ngô Đình Nhu)

■ Ngày 27/8/1963. Điện văn từ Tòa đại sứ Mỹ số 364. Lodge đánh giá lạc quan về lực lượng tham dự đảo chánh, bày tỏ tin tưởng các tướng lãnh.

NSC họp buổi thường nhật. Các viên chức Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đồng ý xúc tiến đảo chánh, trong khi Bộ Quốc Phòng và cựu Đại sứ Nolting cản lại để thuyết phục TT Diệm thêm.

.

■ Ngày 28/8/1963. Điện văn từ MACV (Military Assistance Command—Vietnam), ký số 1557. Tướng Harkins (Tư lệnh MACV) bày tỏ nghi ngờ về lực lượng sẽ tham dự đảo chánh và thấy không có lý do nào phải chấp thuận gấp rút.

Điện văn Bộ Ngoại Giao Mỹ ký số 269, Tổng Thống Kennedy gửi Lodge, và điện văn Bộ Quốc Phòng Mỹ ký số 3385, Taylor gửi Harkins. Lo ngại vì các quan điểm dị biệt của Lodge và Harkins, cũng như ý kiến dị biệt ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Tổng Thống hỏi ý Đại sứ và MACV về các lượng định tình hình riêng biệt của họ.


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v04/d60

■ Ngày 28/8/1963. Bản tin CIA báo cáo rằng vào ngày 28/8/1963, Ngô Đình Nhu suy diễn rằng bản tin đài VOA hôm 26/8/1963 và các hành động của Mỹ từ khi Đại sứ Lodge tới VN là dấu hiệu rõ ràng cho thấy chính phủ Mỹ muốn gỡ bỏ Nhu ra khỏi bất kỳ chức vụ quyền lực nào trong chính phủ. Nhu không nghĩ rằng chính phủ Mỹ muốn gỡ bỏ ông Diệm ra khỏi quyền lực. Nhu đã ra lệnh bắt một số nhà hoạt động đối lập dân sự.

.

■ Ngày 28/8/1963. Bản ghi nhớ về buổi họp với TT Kennedy. Có tham dự của nhiều viên chức cao cấp của CIA, Bộ Quốc Phòng và Bộ Ngoại Giao.

Tướng Taylor báo cáo rằng quân lực Mỹ trong khu vực đã sẵn sàng, nếu cần phải di tản công dân Mỹ ra khỏi VN. Ông nói khoảng 3000 tới 4000 người Mỹ có thể được di tản bằng phi cơ không vận ra khỏi VN. Đại sứ Lodge lo ngại khả năng không vận chưa chắc thích nghi. Tướng Taylor  nói, không kể quân nhân, tại Sài Gòn có hơn 4000 người Mỹ. Taylor nói quân trung thành với Diệm tại Sài gòn đông gấp đôi quân đảo chánh tại Sài Gòn, nhưng họ sẽ ủng hộ các tướng lãnh khi xảy ra đảo chánh. Bên ngoài Sài Gòn, quân của các tướng đảo chánh đông hơn quân trung thành của TT Diệm, nhưng chỉ cần vài đơn vị quân tinh nhuệ tuy ít nhưng có thể kiểm soát tình hình là đủ để đảo chánh thành công.

Đại sứ Nolting nói, ông tin là Diệm và Nhu đã biết các hoạt động của Mỹ với các tướng lãnh.

Bộ Trưởng McNamara nói rằng Mỹ nên quyết định trước tiên rằng có nên ủng hộ các tướng lãnh trong nỗ lực của họ đảo chánh Diệm hay không. Nếu ủng hộ, Mỹ nên bàn kế hoạch làm sao chiêu dụ các tướng lãnh còn nghi ngờ dao động.

Ball nói tình hình sẽ khó khăn, nếu không phải là bế tắc cho Mỹ trong tình thế mà Nhu là thế lực khống chế tại VN. Ball nói ông tin là Mỹ không còn đường nào để chọn, chỉ duy là phải ủng hộ đảo chánh. Mỹ đã quá điểm có thể quay trở lại rồi. Vấn đề bây giờ là làm sao giúp đảo chánh thành công.

McNamara nói, ông tin là Mỹ không nên tiến hành nếu bị thúc đẩy. Nếu Mỹ quyết định ủng hộ đảo chánh, thì nên xúc tiến đ thắng. Các điện văn ông đọc từ Sài Gòn nêu ngờ vực về khả năng chưa chắc thắng của các tướng đảo chánh. Ít nhất là ban đầu, quân trung thành của Diệm có thể đè bẹp quân đảo chánh.

TT Kennedy nói rằng cả Đại sứ Lodge và Tướng Harkins đã khuyến nghị Mỹ nên ủng hộ đảo chánh. TT Kennedy nói ông không tin là Mỹ nên chọn vị trí mà phải xúc tiến chỉ vì đã đi tới quá xa. Nếu đảo chánh không nằm trong các giải pháp, Mỹ có thể từ chối. Các tướng nói về đảo chánh đã không có vẻ nhiệt tình.

Bundy nói về nên cân nhắc hậu quả từ chối đảo chánh đối với xúc tiến ủng hộ đảo chánh. Ông nói Mỹ phải quyết định ngay hôm nay là có nên từ chối ủng hộ các tướng đảo chánh hay không.

TT Kennedy nói rằng Tổng Thống đã hỏi Tướng Harkins hai lần là có ủng hộ đảo chánh hay không. Cả Đại sứ Lodge và Tướng Harkins đều nói là nên ủng hộ các tướng đảo chánh.

Đại sứ Nolting nói rằng ông không ủng hộ đảo chánh vì lòng tin vào người Mỹ có liên hệ chuyện này. Ủng hộ đảo chánh là tệ hại trên nguyên tắc, và là đưa ra một tiền lệ bất lợi.

Ball nói về ý kiến của Nolting, vấn đề là Diệm đã thất hứa với Mỹ, trong khi Diệm và thủ hạ đang có các hành động chống lại người Mỹ. Tình hình bây giờ là: chúng ta không thể chiến thắng cuộc chiến chống cộng với Diệm ở vị trí kiểm soát, vì thế giới nhìn thấy Mỹ ủng hộ một chế độ không được dân ủng hộ. Do vậy, không thể lùi trong nỗ lực gỡ bỏ cả Diệm và Nhu. Nếu Mỹ để mặc kệ các tướng, và họ đảo chánh thất bại, chúng ta cũng thua, vì kết quả không tốt gì. Chúng ta quyết định tiến hành, không lựa chọn nào khác, và phải quyết định bây giờ để giúp đảo chánh ông Diệm thành công.

Harriman nói đồng ý với Ball.

TT Kennedy nói bây giờ phải tăng cơ hội thành công cho các tướng lãnh đảo chánh. Chúng ta nên hỏi Đại sứ Lodge và Tướng Harkins làm sao chúng ta có thể xây dựng lực lượng quân sự có thể đảo chánh thành công. Vì hiện giờ, có vẻ quân đảo chánh không thể thắng quân trung thành của Diệm.

Hilsman nói Đại sứ Lodge xin thẩm quyền đứng chờ: ngưng tất cả viện trợ kinh tế cho chính phủ Diệm, nhưng tiếp tục viện trợ bằng cách trực tiếp trao cho các tướng; ngưng tất cả hoạt động của Mỹ tại VN; Trợ giúp các tướng phe đảo chánh bằng cách trao quân dụng cho họ; Tuyên bố công khai rằng Mỹ ủng hộ quân đội đang tìm cách lật đổ ông Diệm…

Harriman nói Mỹ mất Việt Nam nếu đảo chánh thất bại. Ông nói, Mỹ không thể chiến thắng nếu còn ông bà Nhu. Mỹ đã thua cuộc ở VN và phải rút toàn bộ ra nếu không có đảo chánh. Mỹ đã đưa Diệm lên Tổng Thống và Diệm đã phản bội Hoa Kỳ. Ông nói rằng phải gỡ bỏ Nhu và sai lầm là Mỹ đã không hành động như thế từ lâu. 

Hilsman nói Mỹ không ngăn cản nổi các tướng bây giờ, và họ phải xúc tiến đảo chánh, nếu không, họ sẽ chết. Ông nói, Mỹ không thể thắng trận, nếu không gỡ bỏ Diệm.

Trả lời câu hỏi của TT Kennedy, Harriman nói Mỹ trước đây chiến thắng cùng với Diệm là nhờ các tướng đứng bên Diệm. Bây giờ các tướng nổi loạn vì hành động của Diệm chống lại Phật Giáo. Trong tình hình hiện nay, chống Diệm có thể sẽ được ủng hộ mạnh mẽ.

TT Kennedy nói tạm hoãn thảo luận, sẽ họp lại lần nữa vào 6:00 p.m.

.

■ Ngày 28/8/1963. 6 p.m. Bản ghi nhớ về buổi họp với TT Kennedy. Có tham dự của nhiều viên chức cao cấp của CIA, Bộ Quốc Phòng và Bộ Ngoại Giao.

TT Kennedy đã yêu cầu họp riêng trong một phòng khác với Dean Rusk (Ngoại Trưởng), McNamara (Bộ Trưởng Quốc Phòng), Mac Bundy (Cố vấn An ninh Quốc gia) và Tướng Taylor (Tham Mưu Trưởng Quân Lực Hoa Kỳ).

Sau khi họp riêng trở lại, TT Kennedy loan báo rằng có 3 điện văn sẽ gửi tới Sài Gòn. Một, từ Tướng Taylor gửi Tướng Harkins để hỏi về lượng định cá nhân về tình hình và về kế hoạch của các tướng lãnh. Hai, thông điệp cá nhân từ Kennedy gửi Đại sứ Lodge, muốn được bảo đảm là có phối hợp toàn diện giữa Sài Gòn và Washington, rằng Kennedy muốn lượng định cá nhân và thẳng thắn của Lodge, rằng Kennedy muốn tránh bất kỳ tình thế nào mà sứ quán tiến hành một kế hoạch mà trái nghịch với đánh giá tốt hơn của họ bởi vì họ nghĩ rằng đó là lệnh từ Washington và Washington đang đưa ra chỉ thị dựa trên giả thiết sai lầm rằng phía sứ quán đã đồng ý. Ba, điện văn tổng quát soạn bởi McNamara, Harriman, Bundy, Forrestal và Hilsman sau buổi họp sáng nay.

Kennedy kết thúc buổi họp bằng ý kiến: "Cần biết nhận định của Tướng Harkins về những gì chúng ta nên làm, chứ không phải là phản ứng của Tướng Harkins đối với những gì Tướng Harkins nghĩ là đã có quyết định ở đây." TT Kennedy nói rằng ý kiến của Tướng Harkins chưa rõ ràng lúc này.

Mùa Hè năm 1963, Tổng thống Kennedy họp với Đại sứ Cabot Lodge (hình trái)

và với Tướng Maxwell Taylor và Bộ trưởng Quốc phòng McNamara

■ Ngày 29/8/1963. Các viên chức tình báo CAS gặp Tướng Minh. Buổi gặp do Minh thu xếp. Tướng Minh hỏi chứng cớ rõ ràng rằng Mỹ sẽ không bán đứng họ cho Nhu. Tướng Minh không muốn nói chi tiết về kế hoạch đảo chánh. Khi được hỏi là dấu hiệu nào cho thấy Mỹ sẽ hỗ trợ đảo chánh, Tướng Minh trả lời rằng Mỹ nên ngưng viện trợ kinh tế cho VN.

Điện văn từ tòa đại sứ Mỹ gửi, số 375. Lodge trả lời câu hỏi của Tổng Thống Kennedy rằng Hoa Kỳ có nên cam kết chắc chắn với các tướng VNCH hay không. Lodge đề nghị chuyển các lời cam kết qua các viên chức CAS để các tướng lãnh tin cậy và nếu như thế chưa đủ, Lodge đề nghị ngưng viện trợ kinh tế như các tướng muốn thấy có dấu hiệu Mỹ sẽ không trở mặt với các tướng.

Điện văn từ MACV số 1566. Harkins trả lời Taylor, gợi ý rằng một nỗ lực cuối nên làm với ông Diệm là trong hình thức một tối hậu thư yêu cầu gỡ bỏ ông Nhu. Làm như thế, không gây nguy hiểm cho các tướng lãnh.

NCS họp. Một buổi họp khác, kết quả vẫn là ý kiến chia rẽ về chuyện Mỹ có nên ủng hộ cuộc đảo chánh của các tướng lãnh hay không.Kết quả là để Lodge quyết định chính sách.

Điện văn Bộ Ngoại Giao Mỹ số 272. Lodge được cho phép để Harkins chuyển các thông điệp CAS cho các tướng lãnh xem để đổi lại, được biết về kế hoạch chi tiết của các tướng. Lodge cũng được phép ngưng viện trợ Mỹ, nếu cần.

.

■ Ngày 29/8/1963.  6 p.m. Điện văn từ Tòa Đại sứ gửi về Bộ Ngoại Giao Mỹ. Ký tên Lodge. Chúng ta đã bước tới chỗ không thể trở ngược lại được: lật đổ chính phủ Diệm. Không trở ngược lại được, bởi vì, theo tôi nhìn, với chính phủ Diệm, chúng ta không thể nào chiến thắng Việt Cộng. Dù là với Diệm hay với bất kỳ ai trong gia đình nhà Ngô nắm quyền, cũng không thể nào chinh phục được lòng dân Viêt Nam, như giới trí thức trong và ngoài chính quyền, giới quân đội và dân sự -- đó là chưa kể tới dân Mỹ. Trong vài tháng vừa qua (và đặc biệt, từng ngày) họ [nhà Ngô] đã mất lòng dân tới mức không thể đo lường nổi. Chúng ta nên toàn lực giúp các tướng đảo chánh. Tôi nhận thấy rằng [giúp đảo chánh] sẽ có rủi ro rất lớn là mất Việt Nam. Nó cũng liên hệ một số rủi ro làm người Mỹ chết. Tôi sẽ không bao giờ đề nghị nếu tôi cảm thấy có một cơ may hợp lý để giữ Việt Nam với Diệm. Tướng Harkins nghĩ rằng tôi nên yêu cầu Diệm từ bỏ Nhu trước khi giúp các tướng đảo chánh. Nhưng tôi tin rằng, yêu cầu như thế sẽ không có kết quả và sẽ có hậu quả nghiêm trọng là sẽ bị các tướng xem là người Mỹ do dự và muốn trì hoãn. Các tướng hiện thời đã không tin chúng ta nhiều. Điểm nữa, Diệm sẽ xin thời gian cho yêu cầu (từ bỏ Nhu) khó làm đó. Điều này trao trái banh về phía Nhu.

.

■ Ngày 29/8/1963. Giữa trưa. Bản ghi nhớ về cuộc thảo luận với Tổng Thống Kennedy. Có tham dự của Ngoại Trưởng Rusk, Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara, Bộ Trưởng Ngân Khố Dillon, và nhiều viên chức cao cấp Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ.

Rusk nói rằng cả Đại sứ Lodge và Tướng Harkins đồng ý rằng cuộc chiến chống Cộng tại VN không thể thắng dưới chế độ Diệm. Tướng Harkins muốn thử cách tách rời ông bà Nhu ra xa ông Diệm, vì tin mục tiêu trở ngại là Nhu hơn là Diệm. Bây giờ phải quyết định có nên chỉ thị Tướng Harkins phải hỗ trợ phương pháp đã đề nghị với các tướng VN do các viên chức VIA đưa ra. Đại sứ Lodge đã nói với một viên chức CIA, Phillips, rằng hãy nói với các tướng VN rằng Đại sứ Loge ủng hộ phương pháp của CIA. Mặc dù cho thấy ủng hộ đảo chánh, chúng ta nên tránh dính vào chi tiết về kế hoạch các tướng dàn dựng đảo chánh.

TT Kennedy hỏi là có ai có ý kiến dè dặt gì về các hành động Mỹ đang xúc tiến không. Nghĩa là, có nên tiếp tục như đang làm, hay là rút lui khỏi các nỗ lực hiện nay (nghĩa là: ủng hộ đảo chánh hay thôi).

McNamara đề nghị Mỹ không nên dính vào các nỗ lực đảo chánh, nhưng ông muốn có nỗ lực của Tướng Harkins là bảo Diệm sa thải Nhu. Gilpatric đồng ý với cách này, nói rằng nên gặp Diệm, đưa ra tối hậu thư nói rằng trong vòng vài giờ Diệm phải quyết định [loại bỏ Nhu hay không], mục đích cũng không để Diệm có thì giờ phản ứng chống các tướng lãnh trong thời khoảng trước khi họ sẵn sàng khai hỏa đảo chánh.

McNamara nói không thấy có ai thay thế Diệm được. PTT Thơ thì không phải loại người thay ông Diệm. Một nhóm tướng lãnh VN đang âm mưu đảo chánh thì không có khả năng điều hành chính phủ lâu dài. Do vậy, nỗ lực cuối nên là thúc giục Diệm sa thải Nhu.

Trả lời câu hỏi của TT Kennedy về ai đang điều hành chính phủ VN, Đại sứ Nolting nói Diệm kiểm soát và thường làm việc 18 giờ/ngày. Diệm dựa vào Nhu là ý kiến. Người giúp điểu hành cho Diệm là Thuần (Bộ Trưởng Bộ Tổng Thống), chống Nhu và trung thành với Diệm. Nếu Nhu ra đi, Thuần sẽ ở lại với Diệm.

Rusk nói rằng Mỹ đang đối phó với Nhu. Nếu đảo chánh thành công, Nhu sẽ mất quyền và có thể mất mạng. Do vậy, Nhu không có gì để mất. Nhu có thể kêu gọi Bắc Việt giúp Nhu trục xuất người Mỹ ra khỏi VN. Mỹ không nên tới gặp Diệm và bảo là phải sa thải Nhu, nhưng chính các tướng lãnh, như khúc dạo đầu của đảo chánh, sẽ đòi Diệm sa thải Nhu.

Rusk nói, giai đoạn đầu là tước bỏ quyền lực ông bà Nhu.

Đại sứ Lodge có vẻ như tin rằng không có hy vọng nào tách rời Diệm và Nhu được.

TT Kennedy nêu ra vấn đề di tản công dân Mỹ [nếu đảo chánh thất bại] và hỏi khả năng di tản có đủ không. McNamara tóm tắt về kế hoạch di tản, đưa chiến binh Mỹ vào Sài Gòn trong vòng 10 giờ đồng hồ để đưa dân Mỹ đi. Tướng Taylor nói đang đưa thêm môt số đơn vị tới gần VN để khi cần thì nhảy vào VN đưa công dân Mỹ di tản.

TT Kennedy chỉ thị: Tướng Harkins nhận lệnh hỗ trợ phương pháp CIA với các tướng VN; Đại sứ Lodge được phép loan báo ngưng viện trợ Mỹ; Không nói gì về tình hình đưa quân Mỹ vào khu vực gần VN [để di tản dân Mỹ, nếu cần], tin này dương nhiên cũng sẽ bị lộ ra. Nhưng Mỹ không muốn người VN suy đoán là quân đội Mỹ sửa soạn can thiệp vào VN; Trao Đại sứ Lodge thẩm quyền toàn bộ chiến dịch này. 

TDTTNG/12.2020


 

 

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2020


                                 12/12/1974: TRN PHƯỚC LONG

VÀ KHỞI ĐẦU CHO MỘT CỨU RỖI MỚI 

Nguyễn Hữu Liêm

Trong các năm 1970, 1971, Tây Ninh đã là nơi các trận giao tranh

ác liệt giữa lực lượng cộng sản với quân đội Hoa Kỳ và quân lực VNCH

(Ảnh tư liệu từ giai đoạn trước 1973)

Tuần này 46 năm năm trước, Quân đội Nhân Dân (QĐND) miền Bắc, dưới sự chỉ huy của tướng Hoàng Cầm, mở màn trận đánh tỉnh lỵ Phước Long, chỉ cách Sài Gòn khoảng 120 cây số phía Tây Bắc. Tướng miền Nam là Dư Quốc Đống chỉ huy các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) chống trả trong một hoàn cảnh rất khó khăn.

Hơn ba tuần sau, ngày 6 tháng 1, 1975, Phước Long thất thủ.

Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam muốn đánh thử trận nầy để xem phản ứng của Hoa Kỳ như thế nào. Như ai cũng biết, Mỹ hoàn toàn không can thiệp, không có một động thái chính trị hay ngoại giao nào đáng kể nhằm khuyến cáo miền Bắc cho sự vi phạm Hiệp định Paris khi chưa ráo mực chữ ký.

Vài tuần sau, QĐND phát động tổng tấn công từ Quảng Trị đến đồng bằng Cửu Long. Chỉ trong vòng ba tháng sau, ngày 30 tháng 4, miền Nam đầu hàng vô điều kiện. Chiến tranh chấm dứt. Đất nước thống nhất.


Cảnh chạy loạn ở Nam Việt Nam,  tháng Sáu 1974

Định mệnh Lịch sử


Trận Phước Long, như nhiều trận khác trong cuộc chiến Quốc-Cộng vừa qua, cùng chia sẻ một mẫu số chung về bản sắc và tính chất nhân văn của hai miền Nam Bắc, giữa Quân đội VNCH và QĐND.

Mặc dầu hai phía trong chiến tranh đều là quân nhân người Việt Nam, nhưng bản sắc của người lính QĐND được trang bị nhiều ưu thế, từ vũ khí, chiến thuật, lãnh đạo, chính trị và thời thế. Số phận VNCH đã được an bài - không phải như là mục tiêu chính sách - mà là một định mệnh lịch sử.

Bỏ qua những yếu tố chính trị, lãnh đạo, hay quân sự, phía miền Bắc có cả một chiều dài lịch sử sau lưng họ. Đó là ý chí độc lập, thống nhất đất nước. Miền Bắc phải hoàn tất thiết yếu tính cho một bản sắc sử mệnh mà thời đại đã giao.

Còn phía miền Nam thì bị lịch sử bỏ rơi. Nó tiếp nối một gia sản chính trị và tâm lý từ vai trò lệ thuộc vào ngoại bang. Họ thụ động chiến đấu - mà không hề mang một ý chí hay ý thức về sứ mệnh chiến tranh cho mình.

Người dân miền Nam, và cả quân đội VNCH, đã giao hoán lòng yêu nước cho đối phương và vì thế đánh mất luôn hồn ái quốc. Chiến tranh đối với họ chỉ là một chuyện cực chẳng đã, một phản ứng tự vệ cho qua chuyện. Và chính vì điểm hời hợt và thụ động đó, miền Nam đã vô tình mang một bản sắc chính nghĩa vượt làn ranh Quốc-Cộng.

Trái với miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN vốn tập trung hoàn toàn năng lực quốc gia cho mục tiêu chiến tranh, VNCH, từ chính quyền cho đến quần chúng, là hiện thân của một ý chí tự do và nhân bản trên cơ sở cá nhân. Dù trong thời chiến, nhưng văn chương, âm nhạc, thi ca của miền Nam vẫn chỉ nói về tình yêu, về con người và số phận – chứ gần như không hề đề cập đến mối hiểm nguy mà họ đang phải đối đầu.

Dù bộ máy tâm lý chiến VNCH có cố gắng nhắc nhở về hiểm họa độc tài cộng sản, dân miền Nam vẫn không thèm nghe – vì họ coi chuyện đó là một thể loại tuyên truyền hạ đẳng. Dân miền Nam, qua tâm chất ôn hòa và thông thoáng, biểu lộ tinh thần tự do qua tâm lý chán ngấy và nghi ngờ chiến tranh. Và đó là điểm yếu sinh tử cho họ khi phải đối đầu với một đối phương như là Đảng CSVN. Trong khi dân miền Nam chỉ có mục tiêu là hòa bình, thì miền Bắc là chiến thắng.


Xung đột ở Nam Việt Nam, tháng Sáu 1974

Văn hóa Nam Bắc: Tâm hồn Hy Lạp đối với khí chất Do Thái


Hiệp định Geneva 1954, chia cắt Việt Nam thành hai phía Nam Bắc rõ rệt trên bình diện chính trị. Nhưng chính trị ở đây là sự thể hiện và kết thành từ một định mệnh văn hóa. Nó phát xuất từ tâm chất và bản sắc tâm lý của dân hai miền, vốn rất khác biệt nhau.

Chiến tranh Quốc-Cộng, bỏ đi yếu tố ngoại bang, là một biểu lộ cho một mâu thuẫn văn hóa và con người Nam Bắc - mà sử mệnh Việt Nam phải đến lúc cần phải được tiêu hóa và hóa giải. Trận Phước Long cuối năm 1974 và bốn tháng binh lửa sau đó chỉ là một hồi kịch cuối vốn đã được viết sẵn từ trong bản sắc xung đột văn hóa Bắc Nam. Như là vở kịch bi tráng, nó đã đến hồi kết thúc, xả hơi, mà ngay cả phe thua trận cũng đã phải thở phào nhẹ nhõm.

Ta có thể suy rộng ra rằng, trên sân khấu chiến tranh Bắc Nam khi đó, phe miền Nam mang bản sắc tâm hồn giống văn minh Hy Lạp cổ đại, vốn mang ý thức thẩm mỹ, hài hòa, trật tự, và họ chỉ biết sống với hiện tại kéo dài gần như vô tận. Tức là, chiến tranh đối với họ không cho một mục đích nào cả. Họ chiến đấu để duy trì đời sống yên lành và yên ổn - và mong ước cao nhất vẫn chỉ là chấm dứt chiến tranh. Dân miền Nam hoàn toàn không mang ý chí lịch sử - vì sử hồn của dân tộc đã bị miền Bắc chiếm hữu. Trong khi miền Bắc mang linh hồn tập thể, thì miền Nam chỉ có tâm hồn cá nhân.

Dân Nam bộ muốn vĩnh cửu hóa hiện tại – như một bác xích lô sau khi kiếm được cuốc xe, mua xị đế, đến gốc cây lề đường, uống say, ngủ một giấc an lành, không sợ trộm cắp, không màng chi ngày mai. Họ chỉ muốn biến cái hiện tại thuần thưởng ngoạn đơn giản thành ra một vòng tròn vĩnh cửu bất tận cho đời sống tự nhiên, vô tư của mình. Có nghĩa rằng, họ không mang ý chí hay suy nghĩ về tương lai – dù họ đang bước dần đến một tương lai bại trận rất gần.

Trong khi đó, người Cộng sản miền Bắc là hiện thân của một bản sắc có gốc từ văn minh Do Thái-Thiên Chúa giáo (Judeo-Christian) khi họ đặt cứu cánh chiến tranh thành chân lý. Chiến thắng là chủ đích lịch sử.

Miền Bắc thấy ở cuối đường binh biến là một khả thể và cơ hội cứu rỗi khi đất nước thống nhất, khi tổ quốc sạch bóng quân thù xâm lược, và nhân dân sẽ sống ấm no hạnh phúc trong một trật tự thiên đường Việt Nam mới trên mặt đất lãnh đạo bởi đấng cứu thế Hồ Chí Minh và Giáo hội Đảng CSVN.

Có nghĩa rằng đối với người CSVN thì chủ nghĩa Marx-Lenin là một thể loại cứu rỗi luận – eschatology – vốn điều hướng tâm ý nhân gian về một biến cố lịch sử mang tính chất đồng quy cho tất cả ước mơ và tác hành của nhân loại bằng một Phán xét cuối cùng.

Ý thức hệ Marxist, vốn là hành trang tinh thần cho Đảng CSVN trong chiến tranh, thực chất là một phiên bản đảo nghịch về biện chứng, nhưng vẫn giữ nguyên cứu cánh luận của truyền thống Do Thái - Thiên Chúa giáo, với tất cả tính cực đoan tuyệt đối luận trong đức tin tôn giáo.

Khi con người mang đức tin giáo điều như thế, không có gì có thể cản trở họ.

Dẫu là Chúa cũng sinh từ ruột máu. Ta đẻ ra đời sao khỏi những cơn đau!” – như Chế Lan Viên đã viết.

Chuyển hóa suy thức Không gian lên với Thời gian


Trước chiến tranh, khi người miền Nam nhìn qua người khác nơi ngõ làng, họ chỉ thấy đó là những anh chị hàng xóm, thân cận với ta. “Bán anh em xa, mua láng giềng gần” là thế. Họ chỉ suy nghĩ trên bình diện không gian. Trong khi đó, người Cộng sản miền Bắc thì khác. Chiến tranh là 'Đường ra trận mùa này đẹp lắm'. Họ muốn nâng cái nhìn không gian của dân Nam lên với phạm trù thời gian. Anh hàng xóm không còn là người bên cạnh nhà - mà nay hắn là vô sản, hay là địa chủ, hay là phản động. Tức là, người Cộng sản khái niệm hóa cái nhìn mang tâm chất nông dân lên tầm mức ý niệm theo thời gian. Vì thế, bản sắc sâu xa của cuộc chiến Nam Bắc vừa qua là cả một trường biện chứng đối nghịch và tiến hóa giữa hai phạm trù không gian và thời gian.

 

Miền Nam là không gian; miền Bắc là thời gian. Khi người CS miền Bắc tiên phong đi trước nhân dân miền Nam, nắm được ý chí lịch sử với một cơ đồ khái niệm mới qua nghi lễ rửa tội bằng nước thánh ý thức hệ, họ cương quyết phá vỡ lề lối suy nghĩ thuần không gian (bờ cõi, thân xác) của nhân dân. Vì thế, làn ranh chia cắt Bắc Nam phải được xóa bỏ. Theo đó, dự án lịch sử qua chân lý chiến thắng phải được hoàn tất nhằm thỏa mãn cơn khát khái niệm theo thời gian – một thế giới đại đồng, vô giai cấp, không khổ đau - của những cán bộ nay đã say men ý thức hệ.

Điều nghịch lý cao độ ở đây là điều rằng, khi người Cộng sản tôn vinh tự hào chủ nghĩa Marx-Lenin là “bách chiến, bách thắng” cùng lúc phủ nhận toàn triệt gia tài và giá trị Thiên Chúa giáo - và hãnh diện tự coi mình đã tiêu diệt hết thần linh - thì chính họ lại hăng say hiện thực hóa bản sắc cứu rỗi luận của đạo Ki Tô, một thứ 'thánh chiến' vốn nay đã không còn hiệu năng cho khối nhân loại trời Tây. Thành công và chiến thắng của miền Bắc vừa qua, từ góc độ siêu hình, là một chiến thắng tôn giáo tự bản chất.

Tìm một đức tin cứu rỗi mới

Bốn mươi sáu năm đi qua nhanh. Hôm nay chúng ta cùng nhìn lại để thấy rằng, sau 1975, lịch sử Việt Nam hậu chiến đã theo thời gian biến hóa và hoán chuyển vai trò nhân văn Bắc Nam một cách ngoạn mục. Khi người Cộng sản miền Bắc chiến thắng vào tiếp quản miền Nam, kẻ mang niềm tin ý thức hệ và chân lý chiến tranh nay được trung hòa và khai mở bởi cái bản sắc vô chân lý, vô sử tính, không giáo điều của dân Nam.

 

Như một câu chuyện thời chiến kể rằng, có mấy anh bộ đội xung kích mang súng AK và B40, đầu đội nón cối, đi lạc vào một con hẻm ở một thành phố miền Nam, mấy bà Nam bộ biết họ lạc đường đành thương hại đứng ra chỉ đường cho họ để đến đánh căn cứ quân sự VNCH nơi mà chồng con, anh em của các bà đang đồn trú. Cái hiện tại vô cầu, không cứu cánh của người miền Nam là lý do thất bại; nhưng cũng với cái tâm ý thuần vô tư đó, nay đã trở thành một thể loại nước thánh mới nay được rắc lên tâm hồn dân Bắc như một ý nguyện cứu rỗi lại cho những anh chị cộng sản kiên cường và khắc nghiệt vốn đã chiến thắng miền Nam bằng đức tin thánh chiến.

Một ngày nào đó sẽ có một chủ nhà, ví dụ, gốc Nghệ An, nhìn thấy một chàng ăn trộm trên mái nhà của anh đành lên tiếng nghiêm trang nhưng ôn hòa khuyên người lạ mặt kia hãy cẩn thận kẻo té bị thương và bắc thang cho người ấy leo xuống đất an toàn – sau khi đã gọi cho công an đến xử lý. Đức tính nhân từ mang tính chất Nam bộ của vị chủ nhà sẽ cứu vớt kẻ trộm, biểu dương tinh thần ôn hòa và trọng pháp, với một nhân sinh quan đức độ ngay cả đối với kẻ đối nghịch nguy hiểm. Đối với chủ nhà này, cứu rỗi nằm ngay trong hiện tại, nơi những tác hành bình thường mà khi hành động, ông đã không biểu lộ lòng hung dữ, thù hận, hay mong cầu điều gì cho chính mình.

Có lẽ rằng về lâu về dài, tôi vẫn tin rằng mẫu người và văn hóa miền Bắc sẽ là một phiên bản của tâm chất người Nam. Quốc gia đi về phía Nam, hướng ra Biển Đông, ra thế giới cần một niềm tin mới – một đức tin không tôn giáo, không ý thức hệ chính trị, một hoài vọng nhân bản về một khả năng cứu rỗi từ văn hóa cho dân tộc hai miền - khi mà tất cả những di sản đau thương của chiến tranh Bắc Nam vừa qua sẽ chỉ còn là một ký ức nhẹ nhàng đi vào quên lãng.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của luật sư, tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm từ Hoa Kỳ từ San Jose, California. Trong số các sách của ông đã có cuốn 'Thời tính, Hữu thể và Ý chí: Một luận đề siêu hình học” được xuất bản ở Việt Nam năm 2018.

Nguồn: https://www.bbc.com/vietnamese/forum-55200258