Thứ Bảy, ngày 26 tháng 7 năm 2014


BERLIN, NGÀY HÈ …


Nguyễn Tường Bách



Tôi đến Berlin đúng ngày 13.7.2014. Lần này đi Berlin không phải du lịch, chẳng phải công việc mà tôi phải đi vì chữa mắt, chứng đục thủy tinh thể. Trong ngành nhãn khoa thì phẫu thuật thay thủy tinh thể thuộc loại giản đơn, nhưng tôi chấp nhận lái xe gần 650km vì muốn được một người bạn tư vấn và chữa trị. Anh là giáo sư tiến sĩ, giám đốc của một bệnh viện nhãn khoa tiếng tăm tại Berlin, một trong những người Việt thành đạt nhất trong bọn chúng tôi, sinh viên du học từ 45 năm trước.
Khi định ngày đến Berlin tôi không ngờ nhằm ngày chung kết của giải vô địch bóng đá thế giới. Đến Berlin, thủ đô của Đức, mà đúng dịp Đức vào chung kết thì lại càng nằm ngoài mọi tiên liệu. Không ai tính trước được kết quả bóng đá, tôi nghĩ thế vì cho rằng trong bóng đá yếu tố may rủi đóng vai trò quá lớn. Trong bóng rổ, bóng ném hay bóng chuyền ta có thể loại bỏ tính chất may rủi vì số lượng bàn thắng quá lớn. Còn trong bóng đá bàn thắng quá hiếm hoi.
Khách sạn nằm gần sông Spree, thuộc địa phận Đông Berlin ngày xưa. Berlin đã thay đổi nhanh chóng, không còn phân biệt đông tây. Ngày nay Berlin đúng là thủ đô của một nước lớn với những tòa kiến trúc tráng lệ và hiện đại. Nhưng Berlin cũng là một không gian sống đúng nghĩa cho tất cả mọi giai tầng xã hội. Đi giữa Berlin ta vẫn tìm thấy những góc nhỏ bình yên xanh mướt, những khu vườn hoang phế, những góc rừng âm u, những con đường lát đá cổ xưa như từ thời trung cổ còn sót lại.
Berlin đón tôi bằng một chiều trời nhiều mây sắp mưa. Tối nay 9 giờ trọng tài sẽ thổi còi mở màn trận đấu. Tôi mong đến trung tâm Berlin tại Brandenburger Tor để xem bóng đá cùng hàng trăm ngàn người. Nhưng từ trên xe đài phát thanh đã báo cảnh sát không cho ai vào nữa, Fanmeile đã ngập người. Cũng phải thôi, nếu vào đó, nhỏ người như vợ tôi chắc sẽ không thấy nổi màn hình. Và dù có lọt vào, liệu nàng có chịu nổi đứng suốt trận, có thể 120 phút, có thể đá phạt luân lưu?
Tàu điện ngầm ngập người. Hai cô gái châu Á mang trên đầu vòng hoa đen đỏ vàng đợi xe, nói cười tíu tít. Trên xe nhiều người đã mặc sẵn áo mưa, xem ra họ sẵn sàng đội mưa đêm nay. Những dòng người đi ngược chiều nhau, mỗi nhóm hẳn có một chỗ xem. Xung quanh tôi là tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hà Lan và vô số ngôn ngữ không thể xác định. Berlin bây giờ đã international thế ư, khác hẳn 45 năm trước?
Chúng tôi vội tìm đường đến Potsdamer Platz, nơi tôi hy vọng sẽ tìm ra một tiệm ăn với màn hình lớn. Ra khỏi ga tàu điện ngầm quả nhiên trời mưa. Còn hơn một tiếng nữa, kịp thôi. Nhác thấy bên kia đường một tiệm ăn Ấn Độ đông người, tôi băng qua quảng trường rộng mênh mông. “Đi đâu, đi đâu”, cô hầu bàn tay bưng cà-ri, miệng hỏi dồn dập. “Fussball”, tôi trả lời. “Hết chỗ, hết chỗ”. Tôi đưa mắt nhìn bàn đang trống, có tiếng “đã đặt từ lâu”. Tôi thầm rủa người Đức cái gì cũng đặt chỗ, lên xe xuống tàu, ăn sáng ăn tối gì cũng đặt chỗ trước. Thế thì những dòng người ngoài kia mang cờ quạt kéo nhau đi đâu? Mưa rơi, những người ngồi ngoài hiên đã ướt. Gần đến giờ, tôi không thể hụt một phút. Tôi chợt nhớ tới sảnh trong khách sạn của mình, màn hình cũng khá lớn.

Ngoài âm thanh trong máy dội ra, cả Berlin dường như nín thở lặng yên. Sau một trận thắng dòn dã, đội cầu Đức thường gặp khó khăn. Thực vậy, họ sắp thua. May quá, Higuain việt vị. Phút thứ 113, một tiếng reo như vỡ tổ, một tiếng reo duy nhất của cả Berlin, một tiếng reo kéo dài cả phút. Không phải chỉ tiếng reo, tôi cảm nhận có một làn sóng vận động trong không gian. Phải chăng niềm vui của hàng triệu dân Berlin đã trở thành năng lực vật chất để ta “nghe” một sự bùng nổ?
Trong phút kỳ diệu đó Götze dùng ngực chặn banh, chân trái làm bàn. Bàn thắng đó không phải chỉ là bàn thắng mà là một tác phẩm nghệ thuật. Bóng vào khung thành qua một góc rất nhỏ. Götze được mệnh danh sẽ đi vào lịch sử bóng đá Đức nhờ thắng trái này, bàn thắng duy nhất của trận đấu. Tôi yêu mến Götze và Özil, hai cầu thủ khiêm tốn và ít nói trong đội cầu và mừng cho anh gặp may. Nếu thủ môn đẩy ra được hay bóng không vào, người ta sẽ trách Götze sao không bình tĩnh chận banh lại và chỉ lách nhẹ là khung thành trống rỗng chờ trước mặt.
Anh tốt nghiệp ngành nhãn khoa năm 1977. Anh kể tôi nghe tiến bộ kỳ diệu của môn phẫu thuật nhãn khoa. Chỉ hai ba mươi năm trước có khi người ta phải chụp thuốc mê để bệnh nhân nằm yên, không được nhúc nhích. Ngày nay việc mổ xẻ cho tôi chỉ là một thao tác kéo dài chưa đầy 15 phút, với thuốc tê nhẹ quanh mắt. Tôi tin anh và thành tựu ngành y khoa, nhưng đối với người ngoại đạo như tôi, “mổ mắt” trước sau là một động tác vô cùng hiểm nghèo.
Trong thời gian gần nửa thế kỷ đã qua của chúng tôi, thành tựu khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực là cuộc cách mạng vĩ đại nhất trên thế giới. Người Việt xa quê như chúng tôi cũng từ xa chứng kiến cuộc đổi dời của đất nước, trải nghiệm tận mắt sự sụp đổ bức tường Berlin và công cuộc thống nhất nước Đức. Chúng tôi ai cũng mỗi năm mỗi về viếng thăm quê nhà và tuy không nói ra, vẫn quặn lòng về tình trạng ngổn ngang của xã hội Việt Nam.
Sau chúng tôi một thế hệ mới của người Việt ra đời. Đó là những Neue Deutsche (người Đức mới), như tựa đề của một cuốn sách mà con gái anh là đồng tác giả. Những người Đức gốc Việt đó hiện nay đang ở tuổi trên dưới 30, phần lớn đều thành đạt và có cá tính. Họ được đào tạo trong đại học, nói nhiều thứ tiếng và biết mình muốn gì trong đời. Đặc biệt họ rất coi trọng quê hương Việt Nam của cha mẹ, biết rằng Việt Nam là một yếu tố hình thành tính cách của mình.
Potsdamer Platz là một quảng trường đặc biệt tại Berlin. Ngày xưa trước khi nước Đức bị chia cắt, đây đã là một trung tâm giao lưu quan trọng của thành phố. Bức tường Berlin, như một vết dao tàn bạo, cắt quảng trường này làm hai, phố xá phía trên cũng như các tuyến xe điện ngầm phía dưới. Ngày nay quảng trường này là nơi du khách không thể không đến. Tôi đi thơ thẩn tại đây, đợi ngày mai vào phòng mổ và khám phá Berlin ngày nay toàn là những “người Đức mới”. Họ là ai cả vậy? Tại sao ai cũng trẻ đẹp và đầy sức sống? Họ từ đâu đến mà sao đủ màu da, đủ khuôn mặt và nói muôn thứ tiếng? Hay họ là du khách đêm qua đến Đức coi bóng đá và góp vui vào chiến thắng của đội cầu? Hay họ mới đến hôm nay để ngày mai được tận mắt đón chào đội cầu vô địch về đến Berlin?
Dấu cũ bức tường Berlin (chỗ người thiếu nữ đang đi)

Quảng trường Potsdamer Platz mênh mông có một đường lằn bằng đá chạy xuyên suốt. Đó chính là dấu tích của bức tường Berlin. Thực ra khắp nơi tại Berlin, dấu tích đó vẫn còn được ghi lại bằng đá chạy xéo trên các con đường tấp nập. Dấu tích này được đắp bằng đá thẫm màu, khách đi qua có thể không ai để ý. Đó là cách ghi nhớ quá khứ của người Đức. Họ không rùm beng ồn ào nhưng họ không quên. Những vết đen lịch sử do các chế độ độc tài của họ gây ra trong thế kỷ 20 không bao giờ phai mờ trong tâm trí họ. Không giống người Pháp, họ sợ nói đến lòng tự hào dân tộc vì tính chất này đã hơn một lần gây thảm họa thế chiến. Hôm nay người dân phất cờ đen đỏ vàng chỉ vì Đức thắng trận bóng đá. Ngoài ra người dân Đức không bao giờ phất cờ.
“Ông là người Việt Nam?”. Chị vừa hỏi vừa đắp lên người tôi tấm vải xanh lục truyền thống trong các phòng mổ. “Vâng, còn các chị?”. “Tôi từ Hàn Quốc”. “Còn tôi từ Ba Lan, chúng ta rất international”. Chị người Ba Lan kể tiếp: “Nhờ sếp chúng tôi mà bây giờ bệnh viện mắt này nổi tiếng thế giới, có cả bệnh nhân Saudi nữa cơ đấy”. Thì ra chiếc giường mổ này đã biết đến các vị công hầu người Saudi Arabia, nổi tiếng giàu có và khó tính.
Lúc anh đang mổ cho tôi cũng là lúc đoàn cầu thắng trận trở về Berlin. Chiều nay sẽ có gần nửa triệu người tụ tập trên quảng trường lịch sử Brandenburger Tor để ca khúc khải hoàn. Tôi sẽ không tham gia dự được, anh cũng không, các chị ấy cũng không nốt mặc dù họ rất hâm mộ bóng đá. Ngày trong tuần, ai cũng tất tả làm việc. Thế nhưng trong phòng đợi, một vòng hoa đen đỏ vàng treo trên tường, dáng hình trái tim.
Tôi không được lái xe trong những ngày tới, con mắt cần được hồi phục. Thực ra cũng không mấy ai thích lái xe trong thành phố lớn như Berlin. Thế nên đây cũng là cơ hội để đi lại những con đường lịch sử. Chúng tôi đứng trước một tòa nhà uy nghiêm, đây là nơi xảy ra cuộc khởi nghĩa đầu tiên ngày 17.6.1953 chống chính quyền Đông Đức. Ngày 17.6 đi vào lịch sử, trở thành ngày lễ của Tây Đức mà 45 năm trước sinh viên chúng tôi vui mừng được nghỉ học và không mấy ai biết tại sao.
Cách chỗ tôi đứng vài trăm mét hàng trăm ngàn người đang reo hò đón đoàn cầu, còn nơi đây vài du khách đang ngẩn ngơ đọc thông tin về một ngày lịch sử mà nếu không có nó thì hẳn cũng chẳng có ngày hôm nay. Đoàn cầu Đức thắng lợi chủ yếu nhờ tinh thần đồng đội, đó là điều mà ai cũng công nhận. Ngày nay Đức trở thành cường quốc số một tại châu Âu cũng nhờ lòng đoàn kết. Kể từ ngày thống nhất, họ không nói về hòa giải, họ làm chuyện hòa giải. Ta không quên, vị Thủ Tướng cũng như Tổng Thống hiện nay của họ đều là người đến từ phía đông.
Tôi lại đến xem những mảnh tường Berlin còn sót lại. Những khối bê-tông này được dựng lên năm 1961. Kể từ đó bức tường Berlin trở thành biểu tượng của chia ly và tang tóc. Bức tường này là tiền đồn của hai phe Đông-Tây, là chứng tích của một cuộc đối đầu vô nghĩa của lịch sử loài người. Năm 1989, 28 năm sau, “chủ nghĩa xã hội” đã bị châu Âu loại bỏ. Năm nay, khi Đức giành chức vô địch bóng đá, bức tường đã biến mất cũng khoảng ngần đấy năm, Berlin đã chuyển mình ngoạn mục. Đức trở thành một nước phồn vinh, trở thành một nước nhập cư, đón mời nhà khoa học, chuyên gia và thợ thuyền đến làm việc. Berlin trở thành nơi hội tụ, là chốn gặp gỡ náo nhiệt nhất của hai phía đông tây.
Tôi đến để anh tái khám. Xe chạy trên trục đường lớn mang tên Karl Marx. Berlin cũng như nhiều thành phố khác vẫn vinh danh triết gia xuất sắc này qua những con đường. Ông là một trong những người Đức được tung hô và thóa mạ nhiều nhất. Từ cả hai phía, những người to tiếng nhất thường là những người không đọc ông, không hiểu gì về ông cả.
Punktlandung” (Đúng ngay điểm rơi), đó là cách nói của anh chỉ một ca phẫu thuật chính xác. Chúng tôi bật cười khi nhớ đến từ “sáng mắt sáng lòng” của ngày tháng xa xưa. Sau 45 năm, phần lớn du học sinh ngày nọ đã đi sâu vào chuyên môn riêng của mình, đã trải nghiệm mọi chuyện đời hay dở. Tất cả không khỏi chạnh lòng khi sống tại một nước như xứ Đức mà nhớ về quê hương. Lịch sử hai nước giống nhau biết bao và cũng khác nhau biết bao.
Cúp vô địch bóng đá vừa qua được mấy ngày mà dường như không còn ai nhắc nhở. Đúng thôi, mới qua mấy ngày mà Kroos đã tuyên bố đầu quân cho Real Madrid, Philipp Lahm giã từ đội cầu quốc gia, Van Gaal đã đi huấn luyện cho Manchester United. Những người hùng của ngày 13.7 đã đi đâu mất cả, chắc họ đi nghỉ hè chuẩn bị cho mùa giải mới. Tuần trước đây họ là đồng đội thân thiết, chỉ vài tuần nữa họ sẽ sống mái với nhau trên các sân bóng châu Âu. Báo chí sẽ không thương tiếc phê bình khi họ đá hụt quả phạt đền, dù trước đây vài tuần họ là cứu tinh của màu cờ sắc áo. Không có gì chóng tàn bằng hào quang bóng đá.
Tôi ra phố Berlin đông người qua lại. Trên các đường đi bộ rộng thênh thang, nghệ nhân đường phố đủ mọi lứa tuổi chơi đàn vẽ tranh làm trò kiếm tiền lẻ. Không khác các thủ đô khác, Berlin cũng có kẻ không nhà, họ ngủ dưới gầm cầu, chú chó trung thành là vật sở hữu duy nhất. Tất cả những điều đó không hề làm phiền đến ai, càng không hề hấn đến khách du lịch. Sau lần trời mưa ngay tối chung kết thời tiết chuyển qua những ngày hè oi bức. Khách du lịch tay cầm chai nước, tay cầm bản đồ tuôn đi bốn phía.
Có tiếng hò reo trên phố và một đám đông mang đầy cờ quạt tiến về phía tôi. Lần này thì không phải màu đen đỏ vàng mà cờ Palestina với sọc xanh lá cây. Họ biểu tình chống Israel đem quân đánh dải Gaza. Tôi đi nhanh về phía trước thì gần đó lại một nhóm khác đang mít-tinh đọc tuyên cáo, ủng hộ “quyền tự vệ” của Israel. Cảnh sát Berlin, mặc đồ đen, đầu để trần, xem như võ sĩ châu Á, cả trăm người đang cách ly hai nhóm để tránh ẩu đả. Như thể tai ương ập đến chưa đủ, một chiếc máy bay Malaysia bị bắn rơi, thêm một lần nữa làm ta nhớ cuộc đối đầu Nga Mỹ trong thế kỷ trước mà Berlin là chứng tích vừa mới lành da.
Buổi tối, tôi kéo ghế của tiệm cà-phê trên vệ đường Kurfürstendamm ngồi nghe một chàng thanh niên chơi nhạc bên kia đường. Tiếng đàn điêu luyện với máy móc hẳn hoi vang hẳn qua bên này. Tôi chợt thấy một chị phụ nữ nép mình dưới gốc cây bên kia đường, xây lưng về phía tôi, đang nhìn anh. Tôi vừa nghe nhạc, vừa nhìn chị. Sau hơn nửa tiếng tôi rảo bước qua đường, gửi cho anh một đồng tiền xu, nhân thể nhìn mặt người đàn bà. Người trẻ tuổi chơi nhạc hào hứng, khẻ gật đầu cám ơn. Chị đăm đăm nhìn anh, khuôn mặt sầu muộn, dễ chừng bằng tuổi mẹ anh. Tôi rảo bước về khách sạn, chị vẫn ngắm nhìn anh.
Ngày qua ngày, đường phố Berlin xuôi ngược hàng vạn con người. Tôi mới đến Berlin chưa đầy một tuần. Cuộc đời tưởng như rất ngắn nhưng thực ra rất dài vì nó trải nghiệm quá nhiều biến cố. Hành tinh của chúng ta tưởng như rất bé nhưng thực ra rất lớn vì nó chứa quá nhiều cảnh ngộ và số phận.
Tôi đến Potsdam, đứng trước lâu đài Cecilienhof. Đây là nơi các nhà lãnh đạo Churchill, Truman và Stalin họp hội nghị trong tháng 7.1945 sau thế chiến thứ hai. Tại căn phòng này, các vị đó phân định lãnh thổ Tây Đức - Đông Đức. Rồi họ đàm phán chia thủ đô Berlin ra làm hai, để Tây Berlin thành một ốc đảo nhỏ bé nằm trong lòng Đông Đức. Sau đó Tây Berlin trở thành ngọn hải đăng cho cả dòng diễn biến lịch sử Đức. Phải chăng đây chính là lỗi lầm “chết người” của Stalin, chấp nhận Tây Berlin tồn tại để rồi nước Đức sụp đổ và kéo theo cả hệ thống chủ nghĩa xã hội Đông Âu ? Một sai lầm duy nhất quyết định cả “trận đấu” chăng?
Không, lịch sử không giống bóng đá, không phải chuyện một hai bàn thắng may rủi. Thành bại của lịch sử dệt nên bằng những biến cố từng ngày, vận hội của một nước có thể thấy trước được.
Hôm nay lại một ngày nắng sáng. Mười ngày sau khi đến Berlin, tôi lên xe trở về Tây Đức.

Nguyễn Tường Bách
23.7.2014

Nguồn: http://www.diendan.org/sang-tac/berlin-ngay-he.. 


Thứ Sáu, ngày 25 tháng 7 năm 2014



KỶ NIỆM 100 NĂM, NGÀY SINH HỌC GIẢ,
CHÍNH KHÁCH VŨ VĂN MẪU


 Vũ Văn Mẫu (1914 - 1988)
Là một học giả lớn về Luật Việt Nam, một chính trị gia nổi tiếng trước năm 1975 ở Sài Gòn. Ông từng là Thượng Nghị sĩ trong Liên danh Hoa Sen, Khối Dân tộc, từng giữ chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao rồi Thủ tướng của Việt Nam Cộng hòa. Ngoài ra ông còn là Thẩm phán Tòa Thượng thẩm Sài Gòn, giáo sư thực thụ Đại học Luật khoa Sài Gòn.

Ông sinh ngày 25 tháng 7 năm 1914 tại làng Quất Động , Huyện Thường Tín, Tỉnh Hà Đông, nay là Hà Nội. Như mọi thanh niên thuộc gia đình danh giá thời bấy giờ, ông được gia đình đưa sang học ở Pháp và tốt nghiệp Đại học Luật khoa Paris, Pháp. Ông tiếp tục theo học tại đây cho đến khi lấy được bằng Thạc sĩ và trở về hành nghề luật tại Hà Nội. Hồi trước 1945, ông làm tri huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên. Cha vợ ông là Cụ Cử Sen Hồ Hoàng Gia Luận, em trai Tổng Đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu.

Trưởng khoa Luật đầu tiên Đại học Sài Gòn 
Em ruột ông là Giáo sư Vật lý Vũ Như Canh, giảng dạy tại Đại học Sư Phạm Hà Nội. Năm 1954, ông cùng gia đình chuyển vào Sài Gòn và tham gia giảng dạy Khoa Luật tại Đại học Sài Gòn, (ông Vũ Như canh ở lại Hà Nội). Vũ Văn Mẫu là Trưởng khoa người Việt đầu tiên của Khoa Luật tại Đại học Sài Gòn và được công nhận là một chuyên gia về pháp luật dân sự và lịch sử. 

Trở thành Bộ trưởng Ngoại giao
 Sau khi thực hiện Cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955, phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, tân thổng thống Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ và mời ông giữ chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao của Việt Nam Cộng hòa. Ông giữ chức vụ này trong 8 năm, từ 1955 đến 1963. Trong cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1963, ông đã từ chức, cạo đầu giống như một nhà sư để phản đối.[1] Khi ông cố gắng rời Việt Nam Cộng hòa để tham gia một cuộc hành hương đến đất phật Ấn Độ, thì bị bắt và bị quản thúc. 

Mâu thuẫn với chế độ Ngô Đình Diệm
 Vốn là một nhà kỹ trị, ông hầu như đứng ngoài mọi biến động của thời cuộc bấy giờ. Tuy nhiên, là một Phật tử với pháp danh Minh Không, ông phản đối những biện pháp đàn áp khốc liệt của chính phủ Ngô Đình Diệm với Phật giáo. Ông cạo trọc đầu và sau đó từ chức Bộ trưởng ngày 22 tháng 8 năm 1963 để phản đối hành động tấn công các chùa Phật giáo của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.


 Trở về Việt Nam
 Suốt thời gian biến động miền Nam 1964-1967, ông hoàn toàn không tham gia vì công tác ở đại sứ ở nước ngoài. Mãi đến khi tướng Nguyễn Văn Thiệu lên nắm quyền tổng thống, ông mới được triệu hồi về nước. Ông trở thành Thẩm phán Tòa Thượng thẩm Sài Gòn. Năm 1972, ông tranh cử Thượng nghị sĩ trong liên danh Hoa Sen và đắc cử.

 Thủ tướng 1 ngày
 Trong suốt nhiệm kỳ của mình, ông luôn hoạt động tích cực cho phong trào hòa bình và hòa giải cho dân tộc. Chính vì vậy, khi tướng Dương Văn Minh trở thành tổng thống, ông được đề cử cho chức vụ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa với mục đích tham gia thương lượng chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên, ông chỉ ở trong chức vụ chỉ vỏn vẹn được một ngày thì Việt Nam Cộng hòa sụp đổ trước sức tiến công của quân đội Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ông phải cùng tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện để tránh đổ máu thêm nữa. 

Cuộc sống cuối đời 
Cũng như tướng Dương Văn Minh, chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam  tuy thực hiện các biện pháp hạn chế nhưng không quá khắt khe với Vũ Văn Mẫu. Sau khi tình hình ổn định, họ cho phép ông được xuất cảnh sang Pháp và định cư ở đây cho đến tận cuối đời. Ông mất ngày 20 tháng 8 năm 1998 tại Paris, thọ 84 tuổi.
Ông là một học giả lớn về luật của Việt Nam, uyên thâm cựu và tân học, biết nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Hán và là một giáo sư giảng giải luật rất hấp dẫn. Tác phẩm của ông còn được René David và John E.C Brierley trích dẫn trong cuốn sách nổi tiếng về luật so sánh Major Legal Systems in the World Today.
 
Tác phẩm tiếng Việt:
    Dân luật khái luận, Đại học Luật khoa Sài Gòn xuất bản
    Dân luật lược giảng, 2 tập, Đại học Luật khoa Sài Gòn xuất bản
    Pháp luật diễn giảng, 2 tập, Đại học Luật khoa Sài Gòn xuất bản
    Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử diễn giảng, Đại học Luật khoa Sài Gòn xuất bản, 1973
    Cổ luật Việt Nam thông khảo, 2 tập, 1974
    Tiểu từ điển luật và kinh tế, 350 tr; cùng Hồ Thới Sanh, Lê Đình Chân, Lưu Văn Bình, Nguyễn Cao Hách, 1973
    Tự điển Hiến luật và Dân luật, đồng tác giả với Lê Đình Chân
    Tự điển Pháp-Việt: pháp chính kinh tài xã hội, 895 trang; Viện Đại học Vạn hạnh xuất bản, 1970
    Tự điển Pháp-Việt: pháp luật, chính trị và kinh tế 125 trang, 1955.

Năm 1989, khi lấy hiệu là Minh Không, ông viết bộ sách nói về "Hành trình mở cõi của dân tộc Việt" gồm 3 tập:

    Tập 1: Việt - ChămPa
    Tập 2: Việt - Phù Nam
    Tập 3: Việt - Campuchia
Sách được đánh máy trên khổ giấy A4, không rõ ông đã xuất bản hay chưa.
  Nguồn: trieuxuan.info
______________________
Luật sư Lê Quang Vy:

ĐẾN THĂM GS VŨ VĂN MẪU – MỘT KỶ NIỆM QUÝ TRONG ĐỜI 
(viết nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của GS Vũ Văn Mẫu 25/7/1914 – 25/7/2014)

Tôi có được một niềm hân hạnh và diễm phúc khi được người thầy khả kính của mình – Giáo sư - Tiến sĩ Luật khoa Đào Quang Huy đưa đến thăm Giáo sư - Thạc sĩ Luật khoa Vũ Văn Mẫu (tại Pháp Thạc sĩ Luật – Agrégation de droit - là một học vị chuyên môn trên tiến sĩ, dành cho những tiến sĩ muốn làm giáo sư đại học) tại nhà riêng ở đường Sương Nguyệt Anh, quận 1, TP.HCM, nhân dịp ngày nhà giáo Việt Nam 20/11/1993, khi đó tôi đang là sinh viên năm thứ 3 Cử nhân luật tại Đại học Tổng hợp TP.HCM.

Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt tôi khi được gặp GS đó là một khuôn mặt phúc hậu, một nhà thông thái với đôi mắt sáng ngời và vầng trán cao rộng, mà ẩn chứa bên trong ấy là cả một uyên thâm cựu và tân học. Ấn tượng tiếp theo đó là sự cung kính lễ phép mà thầy của tôi – Thầy Đào Quang Huy đối với người thầy của mình. Cách xưng hô con và thầy (GS Vũ Văn Mẫu lớn hơn GS Đào Quang Huy 14 tuổi) giữa thầy Huy và GS Mẫu đã làm cho không khí buổi gặp mặt giữa ba thế hệ thầy trò chúng tôi trở nên gần gũi và ấm áp hơn. (xin được mở ngoặc nói thêm, cha của tôi cũng là một thầy giáo, trước năm 1975 ông là Giáo sư - Hiệu trưởng trường Phan Thanh Giản – Đà Nẵng. Những dịp 20/11 tại nhà của cha tôi vẫn luôn đầy ắp những tiếng cười của những cựu học sinh trường Phan Thanh Giản, mà ngày nay tuổi của họ đã là những ông bà nội, ngoại). Điều này cho thấy nền giáo dục mà “ta” gọi là thực dân phong kiến (thế hệ thầy trò Vũ Văn Mẫu – Đào Quang Huy) và nền giáo dục thời Mỹ - Ngụy (thế hệ thầy trò của cha tôi), với nền tảng giáo dục cổ truyền, nho giáo, chủ trương “Tiên học lễ, hậu học văn” đã dạy người cái đức dục (lễ) và cái trí dục (văn) như thế nào? để rồi chúng ta có một sự so sánh nhẹ với nền giáo dục hiện nay vậy.

Thông qua tư liệu lịch sử tôi biết đến GS Vũ Văn Mẫu như là một nhà kỹ trị, một chính khách từng trải qua nhiều chức vụ như : trước năm 1945 ông là Tri huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên; từ 1955 đến 1963 là Bộ trưởng Ngoại giao trong chính phủ Ngô Đình Diệm (trong cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1963, ông đã từ chức, cạo đầu để phản đối chính sách của chính quyền Ngô Tổng thống đối với Phật giáo). Sang thời đệ nhị cộng hòa ông là Thượng nghị sĩ trong liên danh Hoa Sen, khối dân tộc. Và sau cùng ông được đề cử chức vụ Thủ tướng VNCH trong chính quyền của tổng thống Dương Văn Minh với mục đích tham gia thương lượng chấm dứt chiến tranh. Ông được nhìn nhận là một nhân vật luôn hoạt động tích cực cho phong trào hòa bình và hòa giải dân tộc.

Song với tư cách là một luật sư, trước hết tôi xin phép được gọi ông là thầy, bởi trước hết do ông cũng là người thầy đáng kính của thầy của tôi. Và hơn nữa ông là một học giả lớn về ngành luật của Việt Nam - giáo sư thực thụ Đại học Luật khoa Sài Gòn. Ngoài ra, ông còn là thẩm phán Tòa Thượng thẩm Sài Gòn. Đặc biệt trong vai trò luật sư, ông đã từng biện hộ cho sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm trong một vụ án chính trị nổi tiếng tại Sài Gòn trước năm 1975. 

Những năm còn ngồi trên giảng đường đại học luật các bộ sách của ông như Cổ luật Việt Nam, Dân luật tổng quát, Pháp luật diễn giảng, Khế ước và nghĩa vụ… luôn là những bộ sách gối đầu giường của thế hệ sinh viên chúng tôi. Tác phẩm của Giáo sư Vũ Văn Mẫu còn được René David và John E.C Brieley trích dẫn trong cuốn sách nổi tiếng về luật đối chiếu The Major Legal System in the World Today. Ngoài ra, tại buổi tiếp xúc với GS Mẫu tại nhà riêng, ông cho chúng tôi biết ông đang hoàn chỉnh bộ sách “Hành trình mở cõi của dân tộc Việt” gồm 03 tập. Đến nay, tôi không rõ thông tin về bộ sách này đã hoàn tất sau khi ông qua đời hay chưa? Ai là người đang nắm giữ bản thảo? và bộ sách này đã được xuất bản (tất nhiên ở hải ngoại) chưa?...

Mặc dù các tác phẩm của ông được viết vào thập niên 60 và 70 của thế kỷ trước, nhưng phải đến những năm đầu thập niên 90, khi bước vào giảng đường đại học luật , thế hệ chúng tôi mới đươc biết và tiếp xúc đến các tác phẩm của ông. Ngày nay nhân loại dù đã bước sang thế kỷ XXI song các tác phẩm luật học của ông vẫn mang giá trị của thời đại bởi hơn hết đó là sự đúc kết một nền khoa học pháp lý văn minh của nhân loại , đó là những học lý đặt nền tảng cho việc xây dựng một nền pháp luật dân chủ, là kim chỉ nam cho một nhà nước pháp trị

Trong xu thế hội nhập hiện nay, nhà nước Việt Nam đang dần dần từng bước thừa nhận những học thuyết về kinh tế, về khoa học pháp lý… của Chủ nghĩa tư bản là những chân giá trị tinh hoa của nhân loại. Vậy không có lý do gì để tôi không tin tưởng rằng một ngày không xa, các tác phẩm kinh điển của Giáo sư Vũ Văn Mẫu sẽ được tái bản trở lại bởi do ông là một cây đại thụ của ngành luật Việt Nam, như luật sư Trương Thị Hòa đã từng viết trong Tạp chí Luật sư Việt Nam số 3, tháng 5/2014: “… Giáo sư Vũ Văn Mẫu, nhà nghiên cứu pháp luật đầu đàn ở miền Nam, mà qua các công trình khoa học pháp lý hiện nay cũng đã khẳng định ông là đầu đàn của cả nước…
 ”.
Hy vọng lắm thay./…
 L.Q.V
__________________ 
LS Lê Công Định:

Tưởng niệm Giáo sư Vũ Văn Mẫu
Hôm nay vừa tròn 100 năm ngày sinh của Giáo sư Vũ Văn Mẫu (25/7/1914 - 25/7/2014). Là một học giả lỗi lạc về luật pháp và chính trị gia nổi tiếng trước năm 1975 tại miền Nam, ông từng là Thượng nghị sĩ, Ngoại trưởng và Thủ tướng của chính thể Việt Nam Cộng Hòa, ngoài ra ông còn là Khoa trưởng và Giáo sư thực thụ của Đại học Luật khoa Sài Gòn. Ông qua đời năm 1998 tại Paris.
Giáo sư Vũ Văn Mẫu có kiến thức uyên bác về cựu và tân học, biết nhiều ngoại ngữ như Anh, Pháp, Latin và Hán. Ông trước tác nhiều tác phẩm luật học rất giá trị bằng tiếng Việt, mà cho đến nay chưa ai có thể so sánh. Tác phẩm của ông được các giáo sư luật đối chiếu danh tiếng thế giới như René David và John E.C Brierley trích dẫn trong các tác phẩm của mình.

Tôi chịu nhiều ảnh hưởng của ông thông qua các tác phẩm ông để lại, từ sách, giảng văn, tạp chí, đến cả luận án tiến sĩ luật mà ông đệ trình tại Pháp. Năm 1989 tôi tốt nghiệp trường luật XHCN, đầy tự tin vì là sinh viên giỏi và chịu khó học hỏi, tích lũy kiến thức. Trong công việc đầu tiên của mình sau khi ra trường, trợ lý Trưởng Phòng Công chứng Nhà nước, tôi được tiếp xúc kho tư liệu và thư viện của Phòng Chưởng khế Sài Gòn trước năm 1975. Thú thật, khi đọc các văn kiện pháp lý và chứng thư công chứng được soạn bằng tiếng Việt và tiếng Pháp trong kho tàng ấy, tôi đã hiểu từ mơ hồ đến … không hiểu gì cả.

Nhanh chóng nhận ra rằng mình đã hoàn toàn không được trang bị những quan niệm nền tảng của một nền học thuật pháp lý đúng nghĩa, tôi lập tức tìm đến các hiệu sách cũ còn bày bán các sách, giảng văn và tạp chí luật được ấn hành tại Sài Gòn trước đây. Một trong những tác giả mà tôi đọc nhiều nhất chính là Giáo sư Vũ Văn Mẫu, hầu như mọi trước tác của ông bằng tiếng Việt và tiếng Pháp tôi đều đọc đi đọc lại nhiều lần, thậm chí học được cả cách hành văn chính xác, ngắn gọn song trau chuốt từ ông.

Năm 1993 lần đầu tiên được diện kiến Giáo sư Vũ Văn Mẫu tại tư gia trên đường Sương Nguyệt Ánh, nhờ tháp tùng thầy của tôi là Tiến sĩ luật Đào Quang Huy (Đại học Luật khoa Sài Gòn), tôi thật ấn tượng về nếp sống bình dị và phong thái tự tại của một bậc đại trí ẩn dật như ông. Ông kể lại việc đệ trình luận án tiến sĩ luật vào năm 1948 và sau đó thi bằng Agrégation (Thạc sĩ luật) khó khăn như thế nào để làm giáo sư luật tại Pháp. Ông cũng thuật lại nhiều sự kiện hậu trường lúc đảm nhiệm chức vụ Ngoại trưởng dưới thời cố Tổng thống Ngô Đình Diệm và giữ cương vị Thủ tướng trong chính quyền của cố Tổng thống Dương Văn Minh.

Một người thầy đáng kính khác của tôi là Tiến sĩ luật Võ Phúc Tùng (Đại học Luật khoa Sài Gòn), trong những câu chuyện sau giờ dạy riêng cho tôi về nền văn chương và luật học của Pháp, đã kể một mẩu chuyện mà ông ấn tượng về Giáo sư Vũ Văn Mẫu. Vì muốn viết một luận án tiến sĩ luật với đề tài “Les droits de la personne humaine sur son corps” (tạm dịch, quyền của con người trên thân thể của mình) (cần lưu ý, cho đến năm 1975, tại Đại học Luật khoa Sài Gòn hầu hết các luận án tiến sĩ ngành tư pháp phải viết và đệ trình bằng tiếng Pháp dù thầy và trò đều là người Việt), nên thầy tôi đến xin ý kiến của Giáo sư Vũ Văn Mẫu, lúc ấy vừa là giáo sư, vừa là Thượng nghị sĩ. Vừa nghe xong, vị giáo sư nói ngay rằng: “Tại sao anh lại chọn một công trình nghiên cứu khó khăn như thế? Lĩnh vực này không có nhiều tài liệu khảo cứu. Sau luận án tiến sĩ của Giáo sư Pháp André Decocq vào năm 1960 nhiều người muốn đào sâu thêm, nhưng hầu như không ai thành công với đề tài này. Anh phải thận trọng nếu không giới học giả Pháp sẽ chỉ trích anh.” Sau đó, vị giáo sư hướng dẫn thầy tôi tìm các tài liệu cần quan tâm.

Thầy tôi nói, sau khi nghe Giáo sư Vũ Văn Mẫu góp ý, ông choáng váng và tự hỏi rằng với bao nhiêu công việc quản lý và giảng dạy đại học, cùng hoạt động chính trị hàng ngày bận rộn như thế, vị giáo sư ấy tìm đâu ra thì giờ để có thể đọc rất nhiều về các lĩnh vực khác nhau của luật pháp, bởi trước đấy thầy tôi từng xin ý kiến của một vài giáo sư khác về đề tài luận án của mình, nhưng chưa thấy ai hiểu thấu đáo lĩnh vực quá chuyên sâu này!

Đối với các vị thầy của tôi, Tiến sĩ Võ Phúc Tùng và Tiến sĩ Đào Quang Huy, cũng như đối với nhiều vị học giả và luật sư khả kính khác thời Việt Nam Cộng Hòa, Giáo sư Vũ Văn Mẫu là một ngọn đuốc soi đường của nhiều thế hệ. Mặc dù chỉ là hậu bối và không trực tiếp lắng nghe ông giảng dạy, song gia tài học thuật ông để lại cũng đủ để tôi trang bị một hệ thống kiến thức nền tảng về luật học và nhận ra đâu là khoa học thật sự. 
......

Hôm nay nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Giáo sư Vũ Văn Mẫu, tưởng nhớ đến ông, tôi vẫn không thôi ao ước một ngày trên đất nước này, người Việt có được một nền luật pháp và học thuật pháp lý đạt đến tầm vóc và đỉnh cao của thế giới văn minh Tây phương, mà một thời tại mảnh đất miền Nam tưởng chừng chúng ta đã gần đạt đến.
(Hình đính kèm là tập luận án của Giáo sư Vũ Văn Mẫu đệ trình tại Đại học Luật khoa Paris ngày 1/7/1948).
 
L.C.D 

Tài liệu đọc thêm:



Thứ Ba, ngày 22 tháng 7 năm 2014

ĐỨC DALAI LAMA, ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
VÀ MẶC CẢM TỘI LỖI CỦA NHÓM “HOÀI NGÔ”

Nguyễn Kha


Trung tuần tháng 7/2014, một người bạn Phật tử chuyển cho tôi một email mà anh cho biết đang được phổ biến trên các diễn đàn điện tử, và hỏi tôi có cách nào kiểm chứng được những thông tin trong mẩu tin ngắn đó không ?
Nội dung email như sau (Tôi copy/paste nguyên văn, chỉ nhấn mạnh 4 đoạn đặc biệt có liên quan đến bài viết nầy của tôi):

Câu chuyện thật cảm động của đức Đạt Lai Lạt Ma nói về đệ nhất VNCH

Chị Hoa Lan kể :

Ngày 20.09.2013 khi người Việt tại Đức được vinh dự đón Đức 
Dalai Lama tại chùa Viên Giác, Ngài đã kể lại 1 câu chuyện thật cảm động:
Những thập niên 50, Mao Trạch Đông xua quân vào Tây Tạng giết sư, đốt chùa và gây ra hằng hà xa số tội ác với 1 dân tộc Tây Tạng hiền lành chịu đựng. Năm 1959 Đức Dalai Lama phải cùng dân tộc của Ngài từ bỏ quê hương lên đường tỵ nạn. TQ lúc bấy giờ như con hổ đói, họ dùng đủ mọi cách để truy lùng ...Ngài.   Khoảng thời gian đó trên thế giới ít người biết và để ý đến tình hình xảy ra ở Tây Tạng, và cũng chẳng ai biết gì về 1 thanh niên với nụ cười thật nhân hậu đang dìu dắt dân tộc mình lánh nạn trước mũi súng bạo tàn của Mao Trạch Đông.
Ấn Độ luôn có đụng độ với TQ về vấn đề biên giới, vi vậy họ không muốn làm tình hình căng thẳng thêm, nên cũng chẳng tha thiết giúp đỡ đoàn người tỵ nạn đến từ Tây Tạng. Tin tức về tình hình bi đát từ Tây Tạng chẳng được loan truyền, lại bị TQ cô lập thông tin toàn diện, nên thế giới chẳng ai biết đến mà quan tâm.

Đoàn người tỵ nạn vì vậy thiếu thốn cơ cực đủ điều, tình hình lúc bấy giờ thật nghiệt ngã.
May thay ở vùng Đông Nam Á có 1 vị Tổng Thống cũng nhân đạo không kém. Ông từng biết thế nào là tỵ nạn CS, vì chính ông cũng đã mở rộng vòng tay đón tiếp và giúp đỡ hằng triệu đồng bào của ông chạy nạn CS từ Bắc vào Nam... Đó là cố TT Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống Công Giáo, đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng.
Một miếng khi đói bằng một gói khi no, Đức Dalai Lama bồi hồi khi kể lại sự giúp đỡ của cụ Diệm đối với dân tộc của ông vào những ngày tháng khó khăn nhất.
Đây là lần đầu tiên tôi nghe được câu chuyện này và cũng rất xúc động. Nếu Đức Dalai Lama không kể lại, chắc câu chuyện đã theo thời gian mà chìm vào quên lãng .. Thương cụ Diệm, thương dân tộc Tây Tạng và thương sao dân tộc mình ...”
Sau khi trả lời cho người bạn rằng “Ai là người viết thì phải có bổn phận đưa ra bằng chứng, chứ tại sao người đọc lại phải có trách nhiệm tìm bằng chứng ?”, tôi mới thấy rằng về lý, trả lời như vậy là đúng rồi, nhưng về tình vẫn chưa ổn vì bạn tôi theo Phật giáo vốn là một đạo Như Thật, đạo của những người tự mình thắp đuốc lên mà đi … tìm ! Thôi thì xin viết bài nầy để vừa tìm thông tin giúp bạn, vừa để thao tác trí thức cho vui vậy.
*     *
*
Hai Nghi Vấn …

1- Trước hết là chi tiết “…đã âm thầm gửi hàng tấn gạo …” có điều gì không ổn !. Tại sao lại phải “âm thầm” khi ông Diệm là Tổng thống, sử dụng tài nguyên quốc gia (“hàng tấn gạo”) để làm một việc công ích (“cứu khổ những người Phật giáo Tây Tạng”) ? Như vậy có gì sai trái đâu mà ông Diệm phải “âm thầm” ? Vã lại, vì sử dụng gạo của chính phủ nên thủ tục hành chánh quốc gia bắt ông phải minh bạch, có hồ sơ lưu trữ. Và minh bạch một chuyện đáng làm thì tại sao ông Diệm lại phải “âm thầm”?
Nói vì ông “khiêm nhường” lại càng sai vì ông đang làm một động thái ngoại giao chứ có lấy gạo riêng của cá nhân ông gửi qua Tây Tạng đâu. Ngoài ra, trong quá khứ, ông cũng đã chẳng khiêm nhường gì khi đi tham quan cứu trợ bảo lụt ở miền Tây năm 1956, hình ảnh ông mặc đồ veste ngồi chểm chệ trên thuyền cho sĩ quan cấp Tá của Quân đội VNCH, với các quân nhân súng ống tận răng bao quanh, lội bì bõm dưới nước để đẩy thuyền, đã được phổ biến khắp trong và ngoài nước (mà chẳng thấy ông ra lệnh cho Bộ Thông Tin dẹp đi) thì ông khiêm nhường chổ nào?

Hai từ “âm thầm” nầy làm toàn bộ bài viết đáng nghi quá ! Sau nầy, tôi mới biết rằng “Chị Hoa Lan” rất láu cá. “Chị” phải dùng hai từ “âm thầm” vì biết trước thế nào rồi đây cũng sẽ có người đòi hỏi bằng chứng. Thế là “Chị” bắt ông Diệm phải “âm thầm” cho … tiện việc sổ sách, sau nầy nếu có ai hỏi thì “Chị” khỏi phải trưng bằng chứng !

2- Thứ nhì là ai cũng biết rằng Đức Dalai Lama, cũng như các vị Giáo hoàng Vatican, là một lãnh tụ tôn giáo nổi tìếng khắp thế giới. Hoàn cảnh và hành trạng của Ngài (cũng như vận mệnh oan nghiệt của đất nước Tây Tạng) đã lôi cuốn sự quan tâm của cả nhân loại. Ngài đi đâu, làm gì ở nơi công cọng, thì đều trở thành News, trở thành những Public events lớn với có khi hàng trăm cơ quan truyền thông ghi nhận và phổ biến từng nụ cười, từng câu nói, từng cảm xúc “bồi hồi” (chữ của “Chị Hoa Lan”) trên gương mặt, trong giọng nói của Ngài …
Đức Dalai Lama đi thăm chùa Viên Giác của cộng đồng Phật tử người Việt ở Hannover (Đức quốc) là môt sự kiện đáng đưa tin (news worthy). Lại xảy ra cách đây chưa đến một năm, vào lúc mà máy hình số (digital camera) và YouTube, Blog cá nhân, Facebook, Twitter, … đã xuất hiện và được sử dụng khá phổ quát từ lâu rồi, nên chuyện kiểm chứng chắc không khó gì. Như vậy, chỉ có người hoặc cực kỳ dại dột, hoặc có hậu ý gì đó mới dựng đứng ra một câu chuyện mà ai có một cái Computer cũng đều có thể kiểm chứng được dễ dàng.

Ba tài liệu …

Hai nghi vấn trên (một là hai từ âm thầm rất đáng nghi, hai là khả năng kiểm chứng quá dễ dàng nên cũng đáng … nghi) khiến tôi lôi cái Lap Top ra. Và trong 0,46 giây, tôi tìm được 388 nghìn kết quả (key words là “đạt lai lạt ma chùa viên giác”). Và tôi đã tìm được ba dạng/chùm tài liệu sau đây:

1-      Các tài liệu Việt ngữ của các trang nhà Phật giáo như Viên Giác, Thư Viện Hoa Sen, Hoa Vô Ưu, Quảng Đức, Kỳ Viên Trung Nghĩa, Lê Bích Sơn, Chùa Phật Linh, Giác Ngộ, Huệ Quang, v.v… Các trang nhà nầy đăng lại các bản tin, bài tường thuật, hoặc ký sự, hoặc hồi ức cá nhân về buổi thuyết giảng của Đức Dalai Lama tại chùa Viên Giác. Và các bản văn nầy tuy hoàn toàn KHÔNG NHẮC ĐẾN MỘT CHỮ “NGÔ ĐÌNH DIỆM” HAY MỘT CHỮ  “TẶNG GẠO” NÀO CẢ, nhưng điều nầy vẫn chưa giúp tôi xác định (hay phủ định) được Ngài có “bồi hồi” kể lại chuyện ông Diệm “âm thầm gửi hàng tấn gạo” như “Chị Hoa Lan” đã khẳng định trong email hay không ! Nhỡ Ngài có nói mà các tác giả không chịu ghi lại thì sao ?

2-      Vì vậy, tôi đổi hướng search qua các nguồn tài liệu tiếng Anh. Cũng nhiều, nhưng tôi đặc biệt chú ý và chọn trang nhà dalailama.com vì trang nầy là “trang web chính thức của Văn phòng Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14” (“the official website of the Office of His Holiness the 14th Dalai Lama”). Bài tường thuậtHis Holiness the Dalai Lama Concludes his European Tour with a Visit to the Vien Giac Vietnamese temple”  kể lại  chuyến viếng thăm của Ngài tại chùa Viên Giác ở Hannover vào ngày 20-9-2013 xuất hiện ở chuyên mục “News”. Đường link đến bài ờng thuật đó là:
Bài tường thuật nầy viết bằng tiếng Anh, mô tả buổi lễ khá chi tiết, và tóm lược lại 4 chủ đề mà Đức Dalai Lama thuyết giảng cùng 3 câu hỏi trong phần vấn đáp sau đó. Đặc biệt, có 5 đoạn trích dẫn nguyên văn lời giảng (để trong ngoặc kép “…”) của Đức Dalai Lama, trong đó có một đoạn nhắc đến từ “Vietnam”.  Tuy toàn bộ bài tường thuật KHÔNG NHẮC ĐẾN MỘT CHỮ “PRESIDENT DIEM” HAY MỘT CHỮ “RICE DONATION” NÀO CẢ, nhưng điều nầy (một lần nữa) vẫn chưa giúp tôi xác định (hay phủ định) được Ngài có “bồi hồi” kể lại chuyện ông Diệm “âm thầm gửi hàng tấn gạo” như “Chị Hoa Lan” khẳng định trong email hay không ! Nhỡ Ngài có nói mà tác giả thấy không quan trọng nên không chịu ghi lại thì sao ?
Phải phục “Chị Hoa Lan” nầy … tinh ma thật ! Và cực kỳ bất lương nữa vì cứ khơi khơi nói vô bằng chứng để bắt ai muốn điều tra để tìm hiểu/phản biện phải tốn công mệt sức.

3-      Cuối cùng, tôi phải nhờ đến ông Goggle một lần nữa: Theo những thông tin trong các Web Anh ngữ và Việt ngữ ở trên thì trước đó, tại Hannover, Đức Dalai Lama đã đi giảng Pháp tại hai chùa người Hoa và người Thái trước khi đến thăm chùa Viên Giác của người Việt Nam. Và sau buổi giảng Pháp cho Phật tử Việt Nam, Ngài phải lên phi trường Hannover ngay để bay về Ấn Độ liền. Thời gian Ngài ở chùa Viên Giác do đó rất ngắn, chỉ vỏn vẹn có khoảng một tiếng rưỡi, quá dễ dàng cho một Video clip quay được từ đầu đến cuối toàn bộ buổi viếng thăm. Với công cụ mạng xã hội nầy (Video) thì không thể sót được một câu nói nào của Ngài !
Thật vậy, có quá nhiều Video về sự kiện nầy trên YouTube.  Tôi xem 5 Video loại dài hơn một giờ thì thấy nội dung chủ yếu là giống nhau, chỉ khác góc quay và thời lượng. Tôi quyết định chọn Video có thời lượng dài nhất (1 giờ, 32 phút, 54 giây), và được posted trên webpage của một tổ chức văn hóa Tây Tạng, TibetView.

Video đăng trên Tibetviews:  http://tibetviews.com/?p=2898

Video nầy quay từ lúc xe của Đức Dalai Lama dừng ở cổng tam quan chùa Viên Giác để Ngài xuống đi vào chùa, cho đến khi Ngài lại ra cổng tam quan để từ giả Phật tử lên xe đi phi trường. Quay liên tục, không ngưng nghĩ trong 1 giờ 32 phút 54 giây, trừ đoạn ngắn gần cuối buổi viếng thăm, sau khi chụp hình chung và riêng với Tăng Ni và Phật tử rất ồn ào lộn xộn, Ngài và các nhân viên tùy tùng Tây Tạng vào phòng riêng nghỉ một chốc trước khi rời chánh điện để bước ra xe rời chùa.

Đâu là sự thật

Trong hơn một giờ rưỡi đồng hồ tại chùa Viên Giác đó, trừ những lúc tụng kinh và niệm chú, toàn bộ phần giảng Pháp của Đức Dalai Lama đều bằng tiếng Anh (và được một vị Thượng tọa Việt Nam dịch ra tiếng Việt). Tiếng Anh của Ngài dễ nghe hơn nhiều so với lần Ngài tiếp xúc cùng Phật tử Việt Nam tại Long Beach, California hơn một năm rưỡi trước (4/2012).  Bỏ đi những phần lễ lạc và ổn định chổ ngồi, buổi giảng Pháp và phần vấn đáp (kể cả thời gian thông dịch) thực sự kéo dài chỉ trong 67 phút (từ 0.15’50” đến 1.22’.31”). Vậy thì nếu quả thật Đức Dalai Lama có kể lại chuyện ông Diệm cho gạo như khẳng định của “Chị Hoa Lan” (từ “Những thập niên 50, …” đến “… cứu khổ những người Phật giáo Tây Tạng”), thì cọng thêm phần Việt dịch, thời lượng cũng phải mất 4 phút trên Video. Không thể không nghe/thấy 4 phút đó được. 

Thế nhưng trong 67 phút đó, Ngài chỉ nhắc đến từ “Vietnam” và “Vietnamese” ba lần. Căn cứ vào “đồng hồ” trên Video:
Phút thứ 15.50 - “Tôi rất sung sướng được đến thăm ngôi chùa Việt Nam nầy. Theo lịch sử, trong số những đệ tử theo Đức Phật, những người theo truyền thống Pali là vai huynh, và với những người theo truyền thống Sanskrit thì người Hoa, rồi người Việt, người Hàn và người Nhật là vai huynh. Rồi sau đó, Phật giáo mới đến với người Tây Tạng chúng tôi. Và  theo tục lệ, đệ tử vai “đệ” như chúng tôi phải tỏ lòng cung kính đối với vai “huynh”.  (“I’m very happy to have been able to come to visit this Vietnamese temple. Historically, among the followers of the Buddha, those who uphold the Pali tradition are senior, and among those who follow the Sanskrit tradition, the Chinese and then the Vietnamese, Korean and Japanese are senior. Buddhism came to us Tibetans later. And it is customary for junior students like us to show respect to their seniors.”).

Phút thứ 21.05 – “Tôi biết dân tộc Việt Nam đã kinh qua nhiều đau khổ và tàn phá vô cùng vì sức mạnh của những vũ khí hiện đại trong cuộc chiến tranh trên đất nước họ” ( “I know that the Vietnamese people experienced great suffering and immense destruction due to the power of modern weapons during the war in their country.”)

Phút thứ 21.35 – “Có một lần nọ, trên đường bay đến Nhật Bản, tôi bay ngang Việt Nam trong giai đoạn [chiến tranh] đó, và qua cửa sổ [phi cơ], tôi thấy các oanh tạc cơ B-52; Tôi không thể không nghĩ đến người dân sống trên mãnh đất dưới đó”. ( “Once flying over Vietnam on my way to Japan during that period and seeing B52 bombers from the window; I couldn’t help thinking of the people on the ground below.”)

Ngoài ba lần đó ra, Đức Dalai Lama đã không còn đả động gì đến Việt Nam nữa. Nhất là Ngài HOÀN TOÀN KHÔNG NÓI MỘT TIẾNGPRESIDENT DIEM” HAY MỘT TIẾNGRICE DONATION” NÀO CẢ. Do đó, dĩ nhiên là không có câu chuyện hoang đường “Đức Dalai Lama bồi hồi khi kể lại sự giúp đỡ của cụ Diệm” đã “âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng.” như “Chị Hoa Lan” đã gian trá phịa ra.

Tôi công khai thách “Chị Hoa Lan” đưa ra được một bằng chứng có thể kiểm chứng được (verifiable proof) về chuyện kể của “Chị”.  “Chị” viết trong email rằng “Đây là lần đầu tiên tôi nghe được câu chuyện này và cũng rất xúc động”, vậy xin “Chị” cho biết hôm 20-9-2013 ở chùa Viên Giác đó, “Chị” đã nghe  Đức Dalai Lama nói lúc nào? Nguyên văn câu tiếng Anh của Ngài ra sao, trong ngữ cảnh gì? Và trong gần 1.000 thính chúng người Việt và người Đức hôm đó, có những ai cùng nghe với “Chị”?  

■ Còn vài điều cần phải nói cho rõ

Thật ra đây không phải là lần đầu tiên có người như “Chị Hoa Lan” dựng đứng một cách gian trá chuyện “cụ Diệm giúp Đức Dalai Lama”.

Cách đây mấy năm, một đám tàn dư Cần lao Công giáo gồm cựu Đại úy Lê Châu Lộc (nguyên sĩ quan tùy viên của ông Diệm), ông Huỳnh Văn Lang (nguyên Phụ tá Bí thư cho Thủ tướng Diệm) khẳng định “như thật” trong tác phẩm của họ rằng ông Diệm được giải thưởng Magsaysay Award và ông đã gửi tặng toàn bộ số tiền (15.000 Mỹ kim từ giải thưởng nầy) cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. Thông tin đó, sau nầy được một số “âm binh hoài Ngô” (như Song Lê, Nguyễn Văn Minh, Bảo Mai, Nguyễn Vy Khanh) lập đi lập lại trên các diễn đàn điện tử khiến cũng có một số người nhẹ dạ bị đầu độc nên tin theo.
Nhưng cũng như “Chị Hoa Lan”, họ gian mà không ngoan, nói láo “thiếu cơ sở”, thông tin nầy mâu thuẫn với sự kiện kia, nên bị tác giả Lê Xuân Nhuận lật mặt nạ gian trá của họ, chứng minh một cách không chối cải được rằng ông Diệm chưa bao giờ được giải thưởng Magsaysay cả. Vì vậy, toàn bộ câu chuyện tuyền truyền xám “ông Diệm gửi tiền của Giải thưởng Magsaysay tặng Đức Dalai Lama” sụp đổ, hiện nguyên hình là một lời nói láo trắng trợn, lố bịch, và nhất là bị phản tác dụng. Cái mặt của ông Diệm bị chính đám tàn dư Cần Lao Công giáo tô son trét phấn giả tạo, nên càng ngày càng trở nên méo mó thô kệch ! Thật ra, trong 4 năm đầu của nền Đệ Nhất Cọng hòa (1956-1959), khi Hà Nội còn bận chữa vết thương chiến tranh nên chưa triển khai cuộc chiến giải phóng miền Nam, và khi quân viện và kinh viện Mỹ đang ào ạt đổ vào miền Nam, ông Diệm cũng làm được nhiều điều ích quốc lợi dân … sao đám tàn dư hoài Ngô không trung thực viết về những thành tích đó, mà cứ phải gian dối “kể” những chuyện hoang đường ông Diệm không bao giờ làm, thậm chí ông còn làm ngược lại ?

Bài viết “Tổng thống Ngô Đình Diệm và Giải thưởng Ramon Magsaysay” của ông Lê Xuân Nhuận được trích đăng / lay-out lại rõ ràng hơn trong Blog Nam Giao theo đường link dưới đây: http://hoangnamgiao.blogspot.com/2013/03/su-that-vegiai-thuong-magsaysay-tong.html
Ai quan tâm đến những âm mưu gian trá và thủ đoạn xão quyệt nhằm “rửa mặt” cho ông Diệm của đám tàn dư hoài Ngô, xin bỏ ra 15 phút đọc bài viết công phu nầy của ông Lê Xuân Nhuận. Và cũng xin tiên tri rằng sau lần “bị cháy” nầy, dăm ba năm nữa, thế nào cũng lại có một “Chị Hoa Thúi Địt” nào đó, kể lại một “câu chuyện thật cảm động” về “ông Diệm nhân hậu, đã âm thầm ra lệnh cho Trục Lôi hạm Chương Dương HQ-112 chở hàng tấn tôm tươi Kontum lên vùng bình nguyên Lasha để cứu đói cho các tu viện Tây Tạng”…!

Thư của bà Carmencita Abella, Chủ tịch Quỹ “Ramon Magsaysay Award Foundation” đề ngày 4 July 2013, trả lời ông Lê Xuân Nhuận, xác định rằng ông Diệm “không phải là một người được Giải thưởng Magsaysay” (“is not a Magsaysay awardee”)

Hết phịa chuyện tiền đến nói láo chuyện gạo, tại sao tàn dư Cần lao Công giáo cứ muốn ông Diệm “dựa” vào Đức Dalai Lama ?

Lý do thật là đơn giản: Một trong những cái tội lớn nhất của ông Diệm là đàn áp Phật giáo, đạp tôn giáo nầy xuống cho Công giáo của ông ta lên ngôi độc tôn. Phật giáo Việt Nam là phên dậu văn hóa của quốc gia, đồng cam cọng khổ với dân tộc từ gần 2000 năm qua; trong khi đó thì Công giáo Việt Nam là đạo quân thứ năm làm tay sai cho giặc Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta gần 100 năm. Đáng lý là nhà lãnh đạo, ông phải thực thi một chính sách đoàn kết tôn giáo, chữa vết thương quá khứ để cùng nắm tay nhau xây dựng quốc gia hầu đối phó với phương Bắc, thì ông lại chỉ làm những điều ngược lại!

Sự thực lịch sử đó càng lúc càng rõ ràng, càng được cũng cố thêm bằng nhiều tài liệu nghiên cứu hoặc hồi ký của nhân chứng khả tín sau 1975. Cho nên cách duy nhất để hóa giải cái mặc cảm “tội tổ tông” đàn áp Phật giáo Việt Nam đó (từ của giáo sư Hồ Sỹ Khuê) là đám tàn dư Cần Lao Công giáo phải cố gắng chứng minh ngược lại, rằng ông Diệm thương yêu và giúp đở Phật giáo nhiều lắm ! Lẽ dĩ nhiên là họ không kiếm ra được sự kiện nào chứng minh ông Diệm giúp đở Phật giáo Việt Nam, nên họ đành phải ngụy tạo ra những giai thoại không có thật chung quanh mối quan hệ giả tưởng giữa Đức Dalai Lama và ông Diệm. Vừa lấy cái uy tín của Ngài Dalai Lama làm bảo chứng, vừa khó kiểm tra hư thật vì toàn là những chuyện “nghe kể” từ hơn nửa thế kỷ trước.
Nhưng vì là chuyện ngụy tạo thì dù có tinh vi thế nào, cuối cùng, sự gian dối cũng bị khám phá. Không thể nào thắng được thời gian, khát vọng tìm sự thật, và lý trí của con người … Chỉ có Đức Dalai Lama, trong tình trạng hỗn loạn rối rắm của chính trị Việt Nam, đã trở thành nạn nhân của những thủ đoạn gian xảo của nhóm hoài-Ngô mà thôi. Nhưng tôi tin chắc rằng Ngài cũng chẳng màng đến !
*     *
*
Để kết bài, tôi đọc lại email của người gọi là Chị “Hoa Lan” [trùng tên một cách … tình cờ (?!?) với một nữ Phật tử tại Đức, có tham dự buổi giảng Pháp ở chùa Viên Giác, và sau đó có viết lại bài ký sự “Nụ Cười Bất Diệt” đăng trên Web Quảng Đức]. Đọc xong, tôi còn một thắc mắc “không biết tỏ cùng ai”: Đó là tại sao “Chị Hoa Lan” có thể gian trá, không nói thành có, một cách tự nhiên như thế được?

Đọc những tỉnh từ óng ả mô tả cảm xúc của “Chị” và của các nhân vật “Chị” đề cập đến (Câu chuyện thật cảm động”, “nụ cười thật nhân hậu”, “có 1 vị Tổng Thống cũng nhân đạo không kém”, “âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ”,Đức Dalai Lama bồi hồi” , “lần đầu tiên tôi nghe được câu chuyện này và cũng rất xúc động”, “Thương cụ Diệm, thương dân tộc Tây Tạng”…), tôi không thể tưởng tượng được người ta có thể bày đặt ra một chuyện dối trá, rồi đóng kịch giả nhân giả nghĩa với tình cảm của mình một cách dễ dàng và tự nhiên như thế được!

Chỉ có một loại người như thế trên thế giới nầy mà thôi: Đó là những tín đồ Công giáo Việt Nam thờ ông Diệm hơn thờ Chúa, bây giờ thường được gọi là “tàn dư Cần lao Công giáo”. Và từ đó, tôi phải đồng ý với một quan điểm mà tư tưởng gia Mỹ Robert Ingersoll (1833-1899) từng triển khai: Đạo thờ Chúa là một tôn giáo có nền thần học dựa trên sự dối trá, có lịch sử truyền giáo dựa trên sự dối trá, và có nghi lễ thờ phượng dựa trên sự dối trá. Với ba thuộc tính đó, đạo nầy chỉ có thể sản sinh ra các tín đồ dối trá mà thôi.
“Chị Hoa Lan” là một trường hợp điển hình chói lọi.

Nguyễn Kha
7/2014