Thứ Tư, 9 tháng 10, 2019


CIA GIẢI MẬT HỒ SƠ VỀ CHÍNH BIẾN 1/11/1963
Ai Chỉ Thị, Ai Giết NĐ Diệm, NĐ Nhu?

Nguyên Giác sưu tầm

Một hồ sơ của Cục Trung Ương Tình Báo CIA mang mã số 80T01357A được giải mật và nhập vào Văn khố Quốc gia (NARA danh số 104-10214-10035) đã đưa ra một số chi tiết về những ngày sau khi chính phủ ông Ngô Đình Diệm tấn công các chùa VN, cho tới khi hoàn tất cuộc cách mạng của quân lực VNCH để lật đổ chế độ này. Hồ sơ nầy có tựa đề “DIEM REPORT (REPORT ON CIA AND U.S. GOVT INVOLVEMENT IN THE VIETNAMESE GENERALS’ COUP FO 1 NOVEMBER 1963” [Phúc trình về Diệm (Phúc trình về sự tham dự của CIA và Chính phủ Mỹ trong Cuộc Đảo chánh 1-11-1963].

Dưới đây là một số điểm đáng lưu ý trong hồ sơ này, ít thấy các tài liệu nghiên cứu của người Việt Nam nhắc đến:
● Hồ sơ mật CIA dài 48 trang, hoàn tất ngày 31/5/1967, đúc kết về cuộc đảo chánh 1/11/1963 tại Nam Việt Nam, đã được lưu trữ trên webpage của Văn Khố Quốc Gia (National Archives): https://www.archives.gov/files/research/jfk/releases/104-10214-10035.pdf
● Các tướng lãnh VNCH đã muốn đảo chánh từ nhiều năm trước 1963.
● Ban đầu, Mỹ chỉ muốn ông Diệm đưa ông Nhu ra khỏi trung tâm quyền lực lãnh đạo quốc gia, muốn ông Diệm trả tự do cho những người Phật tử phản kháng, muốn gỡ kiểm duyệt báo chí, muốn ban hành các quyền tự do căn bản đã bị thiết quân luật siết chặt. Mỹ nhận định cuộc chiến chống Cộng sẽ thảm bại vì chính phủ ông Diệm không còn uy tín trong lòng người dân VN.
● Thời gian quá ngắn để phái đoàn LHQ đi tìm sự thật về chế độ ông Diệm đàn áp Phật Giáo -- từ ngày 25/10 tới 31/10, chưa tới một tuần lễ, vì đảo chánh xảy ra ngày 1/11/1963. Phái đoàn bị chính phủ ông Diệm ngăn cản thăm Chùa Ấn Quang như lịch trình, phải dàn xếp sau đó mới được tới. LHQ không đưa ra kết luận vì chưa hoàn tất cuộc điều tra. (Xem chi tiết)
● CIA không liên hệ gì tới cuộc đảo chánh, bày tỏ thái độ không khuyến khích, không cản, chỉ quan sát.
● Tướng Dương Văn Minh và Tướng Trần Văn Đôn yêu cầu Mỹ đừng can thiệp vào nội bộ Việt Nam.
● Mỹ xin Tướng Đôn thông báo riêng cho Mỹ trong vòng 48 giờ trước đảo chánh, nhưng Tướng Đôn hứa sẽ chỉ thông báo 4 giờ trước. Cuối cùng, Tướng Đôn không thông báo trước. Khi đảo chánh nổ súng, mới thông báo.
● Các tướng không tin người Mỹ, sợ giờ chót Mỹ cứu chế độ ông Diệm, nên Tướng Đôn cho phụ tá tới đón quan chức CIA (Conein) vào bản doanh đảo chánh, sau đó Tướng Minh rút hết dây điện thoại trong bản doanh, chỉ liên lạc ra ngoài bằng radio của Tướng Minh. Cũng là hình thức giam lỏng, và xem Conein như con tin nếu Mỹ bênh ông Diệm.
● Quyết định giết hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu không phải quyết định riêng của cá nhân tướng lãnh nào. Hầu hết trong Hội Đồng Tướng Lãnh quyết định xử tử hai ông Diệm-Nhu.
● Đại Úy Nhung được trao nhiệm vụ xử tử hai ông Diệm và Nhu.
DIEM REPORT (REPORT ON CIA AND U.S. GOVT INVOLVEMENT IN THE VIETNAMESE GENERALS’ COUP FO 1 NOVEMBER 1963.
(Cục Trung Ương Tình Báo / CIA File Number 80T01357A, 05/31/1967)
Nha Văn Khố & Lưu Trữ / National Archives Records Administration
NARA Record Number 104-214-10035
.
(LƯỢC DỊCH HỒ SƠ CIA GIẢI MẬT, 104-10214-10035.PDF)
.
Tất cả các ngày dưới đây đều trong năm 1963.

ngày 8/5/1963:
Biểu tình bùng nổ ở Huế.

ngày 14/8/1963:
Thư nội bộ tình báo (OCI No. 2339/63): Có tin đồn sẽ có đảo chánh, nhưng chúng tôi (CIA) không có chứng cớ cụ thể gì về nhóm nào đang mưu tính gì.
ngày 21/8/1963:
Quân đội và cảnh sát tấn công nhiều chùa khắp VN. Ông Diệm ra lệnh thiết quân luật.
cùng ngày 21/8/1963:
Có tin về âm mưu đảo chánh. Conein (viên chức CIA tại Sài Gòn) gặp Tướng Trần Văn Đôn. Tướng Đôn đề nghị chính phủ Mỹ hỗ trợ cho một cuộc đảo chánh.
ngày 24/8/1963:
Điện tín Bộ Ngoại Giao Mỹ gửi về tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn (Deptel 243): Bộ Ngoại Giao thông báo cho Đại sứ rằng chính phủ Mỹ không chấp nhận tình hình quyền lực nằm trong tay ông Nhu. Nếu ông Diệm không muốn gạt bỏ ông Nhu, ông Diệm có thể phải ra đi. Đại sứ Mỹ được ủy quyền để:
(1) Thông báo chính phủ ông Diệm là phải ngưng đàn áp Phật Tử;
(2) Nói với các tướng lãnh liên hệ rằng chính phủ Mỹ sẽ không ủng hộ chế độ Diệm nếu có Nhu trong đó, và Mỹ sẽ ủng hộ trực tiếp chính phủ chuyển tiếp;
(3) và phải có tuyên bố tại Sài Gòn về việc gỡ bỏ tiếng xấu cho quân đội khi tấn công các chùa VN.
ngày 25/8/1963
Điện văn từ Sài Gòn (SAIG 0291):
Tướng Khánh muốn gặp Spera (viên chức CIA tại Sài Gòn) tức khắc. Trong buổi gặp, Tướng Khánh muốn bảo đảm Mỹ ủng hộ cuộc đảo chánh quân sự.
ngày 26/8/1963
(1) Điện tín CIA từ Sài Gòn (SAIG 0304): Sẽ không có viên chức Mỹ lộ diện trong đảo chánh. Conein sẽ gặp Tướng Khiêm, Spera sẽ gặp Tướng Khánh. Thông điệp chuyển cho các tướng: Mỹ không giúp gì hết cho ban đầu; thất bại hay thành công là chuyện các tướng.
(2) Điện tín từ Sài Gòn (SAIG 0330): Tướng Khánh nói chưa sẵn sàng; Tướng Khiêm nói sẽ bàn với Tướng Minh.
ngày 28/8/1963
(1) Điện văn từ Sài Gòn (SAIG 0363): Richardson (Trưởng Phòng CIA Sài Gòn) viết là tình hình hết cách trở lui, ông tin là các tướng sẽ đảo chánh và có cơ hội thành công.
(2) Tổng Thống Mỹ triệu tập buổi họp, trong đó một số viên chức Bộ Ngoại Giao nói rằng Mỹ không thể chiến thắng CS nếu còn hai ông Diệm-Nhu, nhưng Đại sứ Mỹ Nolting bênh ông Diẹm, nói ông Diệm là người duy nhất giữ cuộc chiến chống Cộng không trở ngại. Harriman (Thứ Trưởng Ngoại Giao) không đồng ý với Nolting.
ngày 29/8/1963:
Báo cáo từ CIA. Trưởng Phòng CIA Richardson chỉ thị Spera và Conein khi gặp Tướng Minh và Tướng Khiêm (trong ngày) là giữ lập trường không khuyến khích, cũng không lộ ý ngăn cản cuộc đảo chánh.
ngày 31/8/1963:
Có buổi họp do Phó TT Mỹ triệu tập với các viên chức về VN. Môt thư nội bộ CIA tóm lược rằng Mỹ không hài lòng chuyện ông Diệm-Nhu tấn công các chùa trên nhiều thành phố VN, cùng nhận định rằng chính phủ Diệm-Nhu không còn uy tín trong lòng dân VN để lãnh đạo và như thế cuộc chiến chống Cộng sẽ thất bại.
Bộ Ngoại Giao đề nghị Mỹ hỗ trợ cuộc đảo chánh của các tướng lãnh VNCH đang bất bình vì ông Diệm đàn áp Phật Giáo, cùng lúc Bộ Ngoại Giao Mỹ sẽ tìm nỗ lực thuyết phục ông Diệm hòa giải với Phật Giáo, trong khi vẫn giữ liên lạc với các tướng lãnh đê hỗ trợ nếu chỉ còn giải pháp duy nhất là lật đổ ông Diệm.
ngày 31/8/1963:
Điện văn CIA từ Sài Gòn (SAIG 0499): Cuộc đảo chánh hủy bỏ, vì các tướng cảm thấy không đủ quân lực kéo về cho cuộc đảo chánh.

ngày 2/9/1963:
(1) Điện văn CIA từ Sài Gòn (SAIG 0523): Richardson cho biết ông Diệm-Nhu biết rằng Hoa Kỳ khuyến khích các tướng làm cuộc đảo chánh.
(2) Báo Times of Vietnam (báo của hai vợ chồng ông Nhu) viết rằng CIA đang âm mưu và tài trợ một cuộc đảo chánh, đồng thời lên án Mỹ đang giúp ẩn náu một nhà sự (Thầy Trí Quang). Nội dung bài báo của ông Nhu lập tức được các báo lớn ở Hoa Kỳ dùng làm tin.
ngày 8/9/1963:
(1) Các báo Mỹ đăng tin rằng Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung (chủ lực tấn công các chùa VN ngày 21/8/1963) đang được CIA trả lương 3 triệu USD/năm và trong ngày 3/9/1963 (sau trận tấn công chùa) trả lương 250 ngàn USD.
(2) David Bell (Giám đốc cơ quan viện trợ USAID) trả lời phỏng vấn trên truyền hình rằng Quốc hội Mỹ có thể sẽ cắt giảm viện trợ nếu ông Diệm không đổi chính sách (để ngưng tấn công PG).
GHI CHÚ: Chính phủ Mỹ ngày 8/10/1963 nói rằng viện trợ đó (cho LLĐB) thực ra đã cắt giảm vài tháng rồi, nhưng việc lộ ra áp lực cắt giảm viện trợ là để các tướng VN tin rằng Mỹ thực sự có áp lực ông Diệm thay đổi. Điện văn (SAIG 0406) cũng ghi lời Tướng Minh nói với Spera và Conein khi 2 viên chức CIA này gặp Tướng Minh và Tướng Khiêm ngày 29/81963 rằng Mỹ cần chứng tỏ có lập trường khác bằng cách cắt giảm viện trợ để áp lực ông Nhu. Thực tế, Mỹ cắt viện trợ vài tháng, nhưng chính phủ ông Diệm-Nhu không đổi lập trường.
ngày 11/9/1963:
(1) Điện văn Đại sứ Lodge từ Sài Gòn (No. 478): Tình hình tệ hại nhanh chóng, tới lúc Mỹ cần cấm vận để làm chế độ ông Diệm sụp đổ để có chế độ khác lên.
(2) Tổng Thống Mỹ họp về VN. Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara nói Lodge có ít tiếp cận với Diệm và chưa bước ra khỏi Sài Gòn. McCone (Giám đốc Tình báo Trung ương DCI) nói là Mỹ cần nói nghiêm túc với ông Diệm, và Lodge nên đi một vòng miền quê VN xem cuộc chiến chống Cộng tới đâu để xem ảnh hưởng ngưng viện trợ. McCone cũng đề nghị Mỹ thuyết phục ông Nhu ra đi.

ngày 5/10/1963:
Điện văn CIA từ Sài Gòn (SAIG 1445): Gặp Conein, Tướng Minh nói ông không mong đợi Mỹ hỗ trợ cuộc đảo chánh, nhưng yêu cầu chính phủ Mỹ đừng cản trở kế hoạch đảo chánh của ông. Tướng Minh đưa ra ba viễn ảnh có thể có cho kế hoạch thay đổi chính phủ:
(a) ám sát hai ông Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn, giữ ông Ngô Đình Diệm trong ghế Tổng Thống;
(b) dùng nhiều đơn vị quân đội bao vây Sài Gòn; và
(c) chạm súng giữa quân đảo chánh và quân trung thành ông Diệm ở Sài Gòn.
cùng ngày 5/10/1963:
Điện văn Tổng Thống Mỹ gửi tới Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, viết rằng Mỹ không đưa  ra khuyến khích nào cho đảo chánh, nhưng yêu cầu giữ liên lạc với những người có thể sẽ là lãnh đạo tương lai nếu đảo chánh thành công.
ngày 8/10/1963 (DỊCH TOÀN VĂN):
Hội Đồng Khoáng Đại Liên Hiệp Quốc đồng ý gửi một phái đoàn tới khảo sát sự kiện ở Nam VN, điều tra về cáo buộc chính phủ đàn áp các Phật tử.
(Bình luận: Phái đoàn tìm hiểu sự kiện rời New York ngày 21/10/1963 và tới Sài Gòn ngày 24/10/1963. Phái đoàn gặp ông Nhu, rồi thăm Chùa Xá Lợi, nơi được xem là trung tâm Phật Giáo phản kháng, nhưng chỉ thấy trong chùa có 2 nhà sư và các cảnh sát chìm VN. Phái đoàn tính thăm Chùa Ấn Quang như kế hoạch, nhưng bị chính phủ Diệm ngăn cấm. Nhưng phái đoàn cũng dàn xếp được để tới Chùa Ấn Quang ngày 27/10/1963, và phỏng vấn Thầy Thích Tịnh Khiết trước mặt nhiều cảnh sát chìm. Cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963 của các tướng lãnh đã gián đoạn công việc của phái đoàn, và phái đoàn rời Nam VN ngày 3/10/1963.
(Đại Hội Đồng LHQ ngày 13/12/1963, không bỏ phiếu, đã chấp thuận ngưng điều tra việc đàn áp Phật tử tại Nam VN. Chủ Tịch Đại Hội Đồng là Rodriguez nói rằng chuyện chính phủ Diệm đàn áp Phật tử không còn là đề tài bởi vì chính phủ Diệm đã bị lật đổ.)
(Phái đoàn tìm sự kiện đưa ra bản phúc trình ngày 11/12/1963. Phúc trình không đưa ra kết luận, chỉ ghi các lời phỏng vấn đã thu góp được trong chuyến đi.)
ngày 10/10/1963:
Tóm lược chỉ thị (DIR 74228) của Đại sứ Mỹ với các nhân viên CIA: đừng khởi ý tìm gặp Tướng Minh và Tướng Đôn, nhưng nếu các tướng nói là muốn gặp, thì nhân viên CIA phải thỉnh ý Đại sứ.
ngày 23/10/1963:
Tướng Đôn đòi gặp Conein. Trong buổi gặp, Tướng Đôn nói các tướng quyết định sẽ đảo chánh trong vòng một tuần lễ sau ngày 26/10/1963. Tướng Đôn hứa sẽ cho Conein biết kế hoạch chính trị hậu-đảo chánh, chỉ để Đại sứ Mỹ xem thôi.
ngày 24/10/1963:
Conein hai lần gặp Tướng Đôn hôm 24/10/1963. Đôn nói đảo chánh sẽ xảy ra không trễ hơn ngày 2/11/1963. Tướng Đôn nói Hội Đồng Tướng Lãnh từ chối đưa kế hoạch chính trị hậu-đảo chánh cho Mỹ xem, nhưng đồng ý cho Tướng Đôn nói sơ lược với Conein.
ngày 25/10/1963:
Tổng Thống Mỹ họp. McCone (Giám đốc Tình báo Trung ương DCI) nói với Tổng Thống rằng:
(1) Đôn có thể bị Nhu dàn dựng;
(2) CIA không kiểm soát được, và do vậy rất ít trách nhiệm đối với tình hình [đảo chánh hay không];
(3) Đôn có thể đang tổ chức âm mưu đảo chánh, và có thể sẽ thành công;
(4) Chúng ta [tình báo Mỹ] đang đối phó tình hình tế nhị trong một cách thiếu chuyên nghiệp;
(5) Đảo chánh thành công sẽ dẫn tới phức tạp vì các tướng sẽ có dàn lãnh đạo [chính trị] yếu;
(6) Sau đảo chánh này có thể dẫn tới đảo chánh khác, và chính trị hỗn loạn sẽ làm thất bại cuộc chiến chống Cộng;
(7) Các nhân vật dân sự có năng lực điều hành chính phủ Nam VN có thể sẽ không được đưa vào chính phủ và để kiểm soát hiệu quả;
(8) Không thể thảo luận vấn đề chính trị quan trọng với ông Diệm được, vì chính sách ông này là "lạnh nhạt, không sai";
(9) Mỹ hoặc là phải làm việc với Diệm-Nhu, hoặc là phải có những bước mạnh hơn để lật đổ họ, và cũng không thể biết chính phủ kế tiếp có khá hơn hay không.
  ngày 28/10/1963:
Tướng Đôn hỏi Đại sứ Mỹ là Conein có nói gì không. Đại sứ Mỹ nói có. Đôn nói rằng Mỹ chớ có can thiệp, mà cũng chớ có thúc đẩy đảo chánh. Đại sứ đồng ý.
cùng ngày 28/10/1963:
Tướng Đôn gặp Conein, yêu cầu Conein ở nhà từ ngày 30/10/1963 cho tới khi có thông báo mới. Conein xin được thông báo trước 48 giờ về cuộc đảo chánh. Tướng Đôn nói có thể sẽ chỉ thông báo trước 4 tiếng đồng hồ.
ngày 30/10/1963:
Điện văn CIA gửi từ Sài Gòn (SAIG 2063): Đại sứ Lodge nói, "...đừng nghĩ rằng chúng ta có thể trì hoãn hay thuyết phục bỏ đảo chánh. Tướng Đôn nói rõ nhiều lần rằng đây là chuyện riêng của người Việt Nam với nhau... Tôi tin rằng chúng ta nên tiếp tục không dính vào chuyện này, nhưng cứ tiếp tục quan sát và hỏi thêm thông tin... Nếu chúng ta nghĩ rằng đảo chánh sẽ thất bại, chúng ta dĩ nhiên sẽ làm mọi cách có thể để ngăn cản đảo chánh."

ngày 1/11/1963:
Đảo chánh khởi sự lúc 13:15 giờ, giờ Sài Gòn, lúc đó là 00:15 giờ, giờ Washington, ngày 1/11/1963.
Lúc 13:15 giờ, một phụ tá Tướng Đôn tới nhà Conein, nói đảo chánh đang tiến hành, nói Tướng Đôn muốn gặp Conein ở bản doanh Tổng Tham Mưu Liên Quân (JGS).
[Xóa trắng gần 1 trang]
Conein tới JGS và ở đây tới khi đảo chánh hoàn tất. Trước khi rời nhà, Conein dùng radio thông báo về cấp trên.
ngày 2/11/1963:
Lúc 10:30 giờ ngày 2/11/1963 (giờ Sài Gòn), Đài Phát Thanh Sài Gòn loan tin cả hai ông Diệm và Nhu đều uống thuốc độc tự sát.
Sau đó trong ngày, Tướng Minh nói rằng cả hai ông Diệm-Nhu đã thoát khỏi Dinh Gia Long vào lúc vừa sau 7:00 giờ sáng ngày 2/11/1963 qua đường hầm mà các tướng không biết. Hai ông vào một nhà thờ Công Giáo ở Chơ Lớn, và uống thuốc độc nơi đây. Người ta khám phá ra hai ông lúc 10:300 giờ.
Mỹ không tin chuyện 2 ông Diệm-Nhu tự sát, nhưng không có nguồn tin khả tín về hai cái chết này.
Theo một bản phúc trình của Conein, ông Diệm điện thoại cho Tướng Đôn lúc 06:50 giờ sáng ngày 2/11/1963, xin đầu hàng vô điều kiện.
Tướng Minh tức khắc ra lệnh gỡ hết dây điện thoại trong phòng JGS, và chỉ liên lạc với bên ngoài qua radio của Tướng Minh.
ngày 16/11/1963:
Một sĩ quan (không được kể tên trong các báo cáo) hoạt động bên ngoài của JGS đưa cho một viên chức CIA xem hai tấm hình xác của ông Diệm và Nhu, nói rằng ông chụp hình này theo yêu cầu của Tướng Kim. Hai tấm hình cho thấy xác đầy máu.
.
Lời kể của sĩ quan này như sau:
- Sĩ quan này nói là có mặt trong khi Ủy Ban Quân Lực Cách Mạng họp về giải quyết 2 anh em ông Diệm-Nhu, đi theo đơn vị bắt giữ 2 ông Diệm-Nhu, và chứng kiến sự kiện ngay sau khi 2 ông bị giết -- nhưng không ngồi trong xe thiết giáp M-113.
- Theo sĩ quan này, cuộc thảo luận dài trong đêm 1 rạng sáng 2/11/1963 về cách giải quyết hai ông Diệm-Nhu, hầu hết các tướng đồng ý xử tử 2 ông. Quyết định kết cuộc: giết 2 ông Diệm-Nhu. Buổi họp chọn Đại Úy Nhung làm người xử tử.
- Vào sáng ngày 2/11/1963, Ủy ban Quân Lực Cách Mạng nhận được cú điện thoại từ một người điềm chỉ cho biết nơi ông Diệm-Nhu trốn. Một đơn vi quân nhân tới bắt hai người. [Tin này mâu thuẫn với báo cáo của Conein là dây điện thoại đã bị gỡ ra hết.] Một chút sau 10:00 giờ sáng, Diệm và Nhu vào xe thiết giáp với Đại Úy Nhung.
- Khi xe này tới bản doanh JGS, hai ông Diêm và Nhu đã chết. Nhu bị bắn 5 phát đạn, bị đâm 21 nhát lưỡi lê súng carbine. Diệm bị bắn hai phát vào ngực. Nhung nhảy ra khỏi xe thiết giáp với lưỡi lê trên tay, đưa cho những người chung quanh xem. Hai cánh tay Nhung đầy máu. [Trong hình, có vẻ như Diệm và Nhu bị trói tay ra sau lưng.]
(Hết lời kể)
.
TÓM TẮT:
(a) CIA không ủng hộ giải pháp lật đổ ông Diệm, nhưng trung thành làm theo chỉ thị cấp trên.
(b) Các viên chức CIA -- Conein và Spera -- liên lạc với các tướng (chỉ huy đảo chánh) nhưng chỉ khi được chấp thuận và theo chỉ thị.
(c) Viên chức CIA -- Conein -- hiện diện tại Bộ Tư Lệnh Đảo Chánh trong suốt cuộc giao chiến.
(d) [Câu (d) bị xóa trắng, chưa giải mật].
(e) CIA không liên hệ gì tới các vụ ám sát, và không hề biết trước các chuyện này.

(HẾT HỒ SƠ GIẢI MẬT 104-10214-10035.PDF)
Hồ sơ này được lưu ở địa chỉ: https://www.archives.gov/files/research/jfk/releases/104-10214-10035.pdf
.

Trang Mục Lục, Hồ sơ CIA số 80T01357A, ngày 31/5/1967


CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM
TỪ GÓC NHÌN CỦA MỘT TRÍ THỨC MIỀN NAM

[Trích từ Thân Phận Trí Thức của Vũ Tài Lục]

Bìa Thân Phận Trí Thức (Việt Chiến, Sài Gòn, 1969)

LGT – Nếu học giả Đoàn Thêm, người được may mắn nằm ở trung tâm quyền lực chính trị dưới nhiều chế độ, đã cần mẫn và chi li ghi lại những biến cố tại Việt Nam qua hai tác phẩm “Hai Mươi Năm Qua - Việc Từng Ngày (1945-1964)” và “Những Ngày Chưa Quên (1954-1963)” mà nhờ đó, ta mới có được một kho tài liệu vô giá về giai đoạn lịch sử nhiều biến động, thì nhà nghiên cứu Vũ Tài Lục, cũng là một “người chép sử” (History Recorder) khác, nhưng với phong thái của một người “ngoài cuộc” để mô tả và phân tích các lực vận động lịch sử xã hội nào đã tác động vào vận mệnh nước ta trong những thập niên 1960’s và 70’s. Ông là một loại “Sĩ phu Bắc hà” di cư vào Nam trong thập niên 1950’s. Là người quen biết rộng và sâu với Who’s Who của miền Nam, bạn thân với nhiều giới trong và ngoài chính quyền nhưng chưa bao giờ tham chính để giữ cho tư duy và ngòi bút của mình được ngay thẳng.
Ngoài Thân Phận Trí Thức, ông còn xuất bản Quốc Tế Chính Trị, Thủ Đoạn Chính Trị, Những Quy Luật Chính Trị Trong Sử Việt, Những Khuôn Mặt Tài Phiệt, Nói Chuyện Tam Quốc, …và một số sách nghiên cứu Tử vi, Tướng mệnh Đông phương.
Trích đoạn dưới đây là góc nhìn của ông về chế độ Ngô Đình Diệm. Phần nhấn mạnh là của HNG



… Ông Ngô Đình Diệm với sự ủng hộ đặc biệt của Hoa Kỳ được đưa về chấp chánh toàn miền Nam kể từ vĩ tuyến 17 trở vào. Năm đầu ông phải đương đầu với vấn đề xã hội. Nhờ miền Nam sung túc phì nhiêu, nhờ viện trợ Mỹ đầy đủ, vấn đề xã hội miền Nam không những ổn định dễ dàng mà còn chuyển thành công cuộc thống nhất văn hóa lớn lao chưa từng có trong lịch sử. Sang năm thứ hai ông phải đương đầu với vần đề chính trị. Pháp thỏa thuận với Mỹ lặng lẽ rút lui nhưng còn những thế lực chính trị của Pháp ở lại. Nhờ chính phủ Ngô Đình Diệm là chính phủ đầu tiên mang nhiều sắc thái độc lập nhất kể từ lúc người Pháp đặt chân lên đây cho nên toàn dân nhiệt liệt ủng hộ. Quan trọng hơn hết là quân đội cũng ủng hộ để tiêu diệt các thế lực chính trị của Pháp qua trung gian (par personne interposé). Và từ đó quân đội lớn lên trong chiến tranh Việt-Pháp bây giờ thực sự trở thành một quân đội của quốc gia độc lập. Nhờ lực lượng quân đội ông Ngô Đình Diệm đã giải quyết vấn đề quét sạch các thế lực chính trị đối nghịch dễ dàng.
Chính phủ Diệm sau khi đã củng cố vững mạnh phải gánh vác hai sứ mạng trọng đại:
-        Thứ nhất là đấu tranh quốc tế, chặn đứng ngọn sóng lan tràn của thế lực đỏ cho thế giới tư sản tự do.
-        Thứ hai là đấu tranh xây dựng một quốc gia chống Cộng sản.

Ông Ngô Đình Diệm có thành công không?
Mấy năm đầu sứ mạng ngăn chặn ngọn sóng đỏ có thành công. Ký giả thân cộng Burchett cũng thú nhận điều này. Nhưng thành công xét kỹ ra là nhờ thế cục nhiều hơn là giỏi giang.
Đến sứ mạng xây dựng một quốc gia để tạo ra hình thế Quốc Cộng thì ông Diệm lại thất bại ngay từ đầu. Ông Ngô Đình Nhu, người trí thức của chính quyền Diệm, trước khi về chấp chánh ông rất thận trọng bằng việc mang chủ nghĩa nhân vị về nước làm căn bản đấu tranh tư tưởng chống lại chủ nghĩa Mác xít. Nhưng ông đã lầm và chủ nghĩa nhân vị có gốc gác thần học không thể được người trí thức Việt, vốn cho tôn giáo là mê tín, chấp nhận. Chủ nghĩa nhân vị cũng không thể đi vào tâm hồn người công giáo chất phác vốn tin Chúa và phép lạ một cách tuyệt đối vì nó tự do quá. Thế là chủ nghĩa nhân vị bị bỏ sang một bên. Nghiên cứu nhân vị chủ nghĩa là công việc làm cho có lệ, chẳng một ai tin tưởng vào nó.


Ông Ngô Đình Diệm, một vị quan tu xuất làm Tổng thống
Ông Ngô Đình Nhu, một chiến lược gia cuồng vĩ làm Cố vấn

Nhờ được thế tốt, mọi việc trôi chảy dễ dàng. Uy tín ông Diệm bành trướng quá mau chóng. Qua tâm trạng say với quyền bính, qua sự phỉnh nịnh của quyền uy, các nhà lãnh đạo cho vứt xó mọi lý tưởng để thiết lập chế độ… chế độ Diệm và gia đình. Một trận tuyến quốc gia dân tộc đâu có bằng một trận tuyến anh minh Ngô Đình Diệm.
Những năm tháng thắng lợi to tát làm cho ông Nhu tưởng ông có một tài năng chính trị vô biên, ông không bao giờ nghĩ rằng ở Austerlitz, Napoléon là một thiên tài nhưng ở Moscou, Napoléon là một tên imbécile [ngu xuẫn – HNG].
Phần ông Diệm, ông là người của tín ngưỡng. Ông tin Chúa nhưng lỗi lầm của ông là ông cũng tin Chúa tin ông ta. Ông ưa học thuyết Khổng Tử nhưng lỗi lầm của ông là ông ưa học thuyết này vì nó nói rằng địa vị ông bây giờ đứng ở đầu tam cương ngũ thường.
Bởi vậy thay vì gây dựng hình thế Quốc-Cộng, hai ông Nhu, Diệm đã gây dựng hình thế Diệm-Cộng. Thêm vào đấy, hai ông Ngô Đình Thục và ông Ngô Đình Cẩn gây dựng hình thể Công giáo-Cộng sản.

Dưới chế độ Diệm, phần tử trí thức đi theo đều bị biến thành bọn thư lại, thấp hơn nữa là gia nhân của một triều đại.
Do ảnh hưởng quốc tế thay đổi, một bộ phận lớn trí thức được đào tạo vào hoạt động thông ngôn. Vì hết chiến tranh, vì những cuộc di động của một số lớn người nên phong trào đi học dâng lên như nấm mà vẫn không đủ cung cho số cầu. Nhưng bởi không có một chính sách văn hóa đúng đắn, không có một chính sách giáo dục hẳn hoi, chỉ biết vá chắp nay đổi mai thay, bởi chế độ Diệm đã đem thần tài vào học cung cho nên giáo dục rơi vào tình trạng hỗn tạp quái đản. Trên mặt văn học, chế độ phong kiến của gia đình Diệm không thể đi đôi với một nền văn học dua nịnh tâng bốc khiến cho hàng ngũ trí thức chia hẳn.
Phần tử trí thức phản kháng thì hoàn toàn tiêu cực, chui rúc vào tư tưởng tự do bằng một số từ ngữ tối nghĩa. Ở đó chủ nghĩa hiện sinh đã du nhập. Một số khác thì viết báo chửi tục để xả hơi, hoặc nói bóng gió chửi xiên xéo cho hả giận.

Năm khúc quanh
Ảnh hưởng chính trị Mỹ với Việt Nam có năm khúc quanh (virage)
1) Ngày 27-6-1950, Tổng Thống Truman tuyên bố gởi một phái bộ quân sự tới Đông Dương để cộng tác chặt chẽ với quân viễn chinh Pháp.
2) Pháp thua trận Điện Biên Phủ đặt thành vấn đề Mỹ phải thay Pháp trong chiến tranh Đông Dương? Tổng Thống Eisenhower áp dụng chính sách triết-trung giữa hai chủ trương: can thiệp quân sự và khoanh tay bỏ mặc. Người đại diện thi hành chính sách này là ông Ngô Đình Diệm.
3) Năm 1961 tại Washington xôn xao về tin chế độ Diệm hấp hối. Vấn đề đặt ra cho chính quyền Kennedy là làm thế nào tránh cho Việt Nam một sự sụp đổ? Có hai nhóm đưa ra giải pháp:
a/- Nhóm Harriman, Galbraith và H. White chủ trương chính trị, đòi thay chính phủ Saigon, không ủng hộ chính thể Diệm, tách chính trị Saigon ra khỏi lệ thuộc quân sự.
b/- Nhóm Maxwell Taylor và W. Rostow chủ trương quân sự, đề nghị gửi những bộ đội chiến thuật (groupement tactique) của Mỹ qua Việt Nam, ít thôi nhưng có sức quật (force de frappe) rất mạnh. Dean Rusk ủng hộ nhóm Taylor.
Cuối cùng nhóm Taylor và Rostow được Tổng Thống Kennedy nghe theo. Chấp nhận giải pháp quân sự có nghĩa là tăng cường luôn cả sự ủng hộ chính phủ Diệm. Ông đại sứ Nolting và tướng Harkins thi hành.
4) Năm 1963 nhiều quan sát viên Mỹ phàn nàn Hoa Kỳ không hề ủng hộ một chính phủ Việt Nam mà ủng hộ một gia đình phong kiến kỳ cục. Các chính khách Hoa Kỳ đã bắt đầu nhìn các ông Diệm, Nhu, Thục, Cẩn và bà Nhu bằng nhãn quan tâm lý bệnh học. Họ gọi những người ấy là bọn mất hết lý trí (déraison absolue) và chính phủ Diệm là chính phủ của những người điên (un government de fous).
Chiến tranh và chính trị phong kiến của Diệm đã làm cho chế độ suy yếu. Chế độ Diệm càng suy yếu thì bang giao giữa chế độ này với Hoa Kỳ càng tàn hoại. Hoa Kỳ muốn thay Diệm mà Diệm cứ cố nắm chặt chính quyền. Hoa Kỳ sửa soạn và rình rập một sai lầm là quật đổ người mà Hoa Kỳ đã tố cáo là điên. Tháng 5-1963, do kỳ thị tôn giáo của chế độ Diệm- Thục đã đến độ không thể chịu đựng hơn nữa, Phật giáo biểu tình phản đối giám mục Thục cấm treo cờ Phật giáo ngày Phật đản. Chính phủ huy động lực lượng cảnh sát đàn áp, bắn vào đám quần chúng Phật giáo. Phong trào lan rộng ra toàn quốc. Ông Thích Quảng Đức tự thiêu vang dội đấu tranh ra khắp thế giới. Tình hình nặng nề kéo non 6 tháng. Tháng 11 quân đội hưởng ứng phong trào đấu tranh Phật giáo, nổi dậy đảo chính. Chế độ Diệm sụp đổ.
5) Ngày 28-7-1965 Tổng Thống Johnson loan báo với dân chúng Mỹ và thế giới ông đã quyết định gửi một số quân quan trọng sang dự chiến ở Việt Nam. Quyết định này nằm trong quyết định tham dự không hạn chế. (engagement illimité).
…. 
Vũ Tài Lục
[Thân Phận Trí Thức, Nhà xuất bản Việt Chiến, Sài Gòn, 1969]

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2019


QUÊ HƯƠNG NGÀY TRỞ LẠI

Thụy Khuê
 (Những đoạn nhấn mạnh là của hoangnamgiao)


VIII. Huế
[Minh Mạng ● Tự Đức ● Nguyễn Trường Tộ ● Trương Vĩnh Ký ● Các giáo sĩ Pháp]

Huế vô cùng quyến rũ về nhiều mặt, bởi vì Huế là kinh đô cuối cùng của thời đại tự chủ. Huế còn giữ được phong độ, qua nếp sống, kiến trúc, văn hoá và ẩm thực. Huế không bị ngộp thở vì nhà cao tầng. Huế vẫn lác đác những nhà cổ trên đường phố ngoại ô, như lời chào của quá khứ đón ta về Huế. Đi sâu vào thành nội, ta gặp muôn vàn quyến rũ khác, như thể tất cả vàng son và uy quyền của một thời còn đọng lại trong không gian, trong cỏ cây, trong sự đài các của cô gái Huế, của các món ăn Huế, trong cách trang trí Huế, từ vườn rau, cây kiểng, cái gì cũng nhuốm chất hoàng gia, sang trọng, lịch lãm.

Về cái chết của vua Minh Mạng, tác giả Đạo Giáo ở nước Nam (La Cochinchine Religieuse) cuốn sách nổi tiếng nhất của Pháp về thời kỳ truyền giáo, linh mục Louvet viết:
"Vài tuần sau đó, kẻ tàn sát cũng lên hầu toà án Thượng Đế: Ngày 20 tháng Giêng năm 1841, Minh Mạng bị ngã ngựa, chết bất thình lình và đạo Thiên chúa mà y quyết tâm tận diệt vẫn sống, sống mạnh mẽ hơn, qua 10 năm chiến đấu, tự hào với hàng ngàn linh mục và hàng trăm người tử tội. Vì tự mình làm kẻ tàn sát đạo, tên bạo chúa đã bị thần dân của y kinh tởm và có biệt hiệu là bạo chúa Néron Việt Nam. Thay vì lùi, đạo Chúa đã tăng trưởng trong cuộc tranh đấu bền bỉ và đã chiến thắng vinh quang. Kẻ nào không tin hãy nhìn thống kê sau đây: Năm 1830, có một Khâm sứ Giáo Hoàng [Pháp] tám giáo sĩ [Pháp] hai mươi linh mục bản xứ và sáu mươi ngàn giáo dân. Năm 1841, một Khâm sứ Giáo Hoàng, bẩy giáo sĩ, ba mươi linh mục bản xứ và bẩy mươi lăm ngàn giáo dân" (Louis-Eugène Louvet, Đạo Giáo ở nước Nam (La Cochinchine Religieuse),1885, tập II, t. 115).
Không chỉ mình vua Minh Mạng có biệt hiệu Néron Việt Nam, cả chúa Nguyễn Phước Tần thời trước cũng "được" các giáo sĩ gọi như thế.

Khi xe leo lên đèo Hải Vân để về Huế, trời mưa tầm tã, tôi đã nhìn thấy vua Minh Mạng sừng sững đứng trên đỉnh núi, ở nóc đồn rêu phong, lệnh cho quân sĩ giữ vững Hải Vân Quan, chặn không cho liên quân Pháp-Y Pha Nho tiến lên chiếm Huế.
Minh Mạng (1820-1841) là vị vua lớn của triều Nguyễn, đã nhìn thấy hiểm hoạ ngoại xâm bắt nguồn từ các giáo sĩ người Pháp: đặc biệt từ khi Alexandre de Rhodes vận động Giáo Hoàng cho giáo sĩ Pháp độc quyền cai quản địa phận Việt Nam, các giáo sĩ Pháp luôn luôn tìm cách dẫn đường cho thực dân Pháp.
Vì thế, vua Minh Mạng cấm đạo, nên ông đã được các giáo sĩ "đặc biệt quan tâm".

Nhưng linh mục Louvet chưa phải là người đầu tiên nguyền rủa Minh Mạng.
Người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đã buộc tội và mạ lỵ Minh Mạng nặng nề, vô cố nhất là học giả Trương Vĩnh Ký trong cuốn Giáo trình Lịch sử An Nam(Cours d' Histoire Annamite) (Saigon Imprimerie du Gouvernement, 1875, bản điện tử). Đến năm 1897, ông lại "xác định" thêm rằng Olivier de Puymanel và Le Brun, hai người lính Pháp vô học đã "xây" thành Gia Định bằng câu: "Vua dạy [bảo] ông Olivier, ông Le Brun coi xây thành Gia Định", mà không đưa ra bằng chứng nào.

Khi viết sử về giai đoạn Pháp thuộc, Trương Vĩnh Ký có giọng điệu thực dân hơn cả thực dân, ông dùng chữ "trừng trị" để chỉ việc Pháp đánh nước ta, ông hồ hỡi khi Pháp thắng trận. Những đoạn mạt sát Minh Mạng, đôi chỗ trở thành "phản quốc", ông không ngừng buộc tội vua, bằng những sự kiện hoàn toàn bịa đặt:
1- Minh Mạng giết Nguyễn Văn Thiềng [Thành] vì Thiềng đã khuyên Gia Long nên để dòng chính (tức là con trai Hoàng tử Cảnh) kế vị, nên sau này Thiềng bị Minh Mạng thù.
[Thực ra Nguyễn Văn Thành có con trai làm thơ "phản kháng", đại ý: ta bỏ triều này dựng triều khác hay hơn, mới đầu vua Gia Long biết nhưng lờ đi; ba năm sau, bị một số quần thần ghét, tố cáo, thêm thắt, vua Gia Long không bênh còn luận tội, nên ông đã tự tử chết năm 1817, dưới thời Gia Long].
2- Ngôi báu mà Minh Mạng thừa hưởng của cha là nhờ công ơn của một số "sĩ quan" Pháp, có người đã hy sinh đến tính mệnh [Ai?]. Vậy mà sau này Minh Mạng cùng bọn quần thần bội bạc đã đối xử tồi tệ với các "sĩ quan" đã giúp Gia Long dựng nước, cố tình kéo Gia Long ra khỏi ảnh hưởng Pháp. Vì thế, trong suốt thời kỳ đối đầu giữa chế độ Cộng hoà và chế đô Đệ nhất đế chính [ở Pháp] không có mối liên lạc nào giữa Annam và Pháp, đó là lỗi Minh Mạng.
[Hai người theo Gia Long từ đầu và còn ở lại trong triểu đến cuối là Vannier và Chaigneau, Minh Mạng không đuổi ai cả, còn ban chức tước, phẩm vật trước khi họ về Pháp].
3- Sau khi lên ngôi, trong thời gian đầu, Minh Mạng dùng các giáo sĩ vào việc dịch sách, xong, thả họ sang Ai Lao (Lào) cho chết vì bệnh sốt rét rừng, để âm thầm thanh toán tất cả những người ngoại quốc này, nhưng các giáo sĩ đã can trì tranh đấu.
[Không hề thấy tên một giáo sĩ Pháp nào bị chết như vậy].
Trương Vĩnh Ký viết nguyên văn:
- "Minh Mạng, dùng dụ để thoả mãn mức độ nóng nẩy kinh hồn và đầy hận thù, đạt tới sự độc ác vì mê đắm hay vì lòng ghen tuông mù quáng. Tham vọng thống trị của ông ta vô độ: chính trị của ông ta lạnh lùng, bất chính, tàn nhẫn" (trích dịch bản điện tử).
 4- "Minh Mạng lên ngôi, bằng cách tiếm vị của cháu, [con trai hoàng tử Cảnh], sợ một ngày nào đó nó có thể tranh ngôi của mình (...) Nghe đồn ông ta tư thông với vợ goá của Hoàng Tử Cảnh đến khi bà này có thai, bèn kết án loạn luân rồi sai giết cả mẹ lẫn hai con của hoàng tử Cảnh để phi tang. (trích dịch bản điện tử)
[Hoàng tử Cảnh mất năm 1801, 22 tuổi, vì bệnh đậu mùa, có hai con trai là Mỹ Đường và Mỹ Thùy. Năm 1824, Tống Thị Quyên, vợ goá hoàng tử Cảnh tư thông với Mỹ Đường, bị Lê Văn Duyệt biết, tâu vua. Tống Thị phải tội: [Lê Văn Duyệt] dìm nước cho chết. Mỹ Đường tội nặng bị giáng xuống hàng thứ nhân, mất năm 1848, đời Tự Đức. Mỹ Thùy bị bệnh chết năm 1826, không có con. Các con của Mỹ Đường được giữ Tôn Thất, Lệ Chung trông nom việc thờ phụng dòng Hoàng Tử Cảnh. Những việc này ghi rõ trong Thực Lục và Liệt Truyện].
Trương Vĩnh Ký viết tiếp:
"Sau tội ác mà vô liêm sỉ và đạo đức giả đen tối nhất pha trộn với sự hiểm ác sâu sắc nhất cùng nhau cạnh tranh như thế, ta còn ngạc nhiện làm gì trước thái độ của ông ta đối với các sĩ quan Pháp và các giáo sĩ? Không, dĩ nhiên là không.
Minh Mạng, bẩm sinh tàn ác, lạnh lùng, đen tối, gian trá, từ nay có thể làm tất cả mà chắc chắn là không bao giờ thấy quá đáng." (trích dịch bản điện tử)
Ở đầu sách, Trương Vĩnh Ký viết một đoạn song ngữ Pháp-Việt, xin trích câu tiếng Việt:
"Ở các trò trai, ta xin kiếng sách này cho các trò, vì làm nó ra là làm cho các trò coi. Dùng tiếng Pha-Lang-Sa là tiếng đã rộng mà lại hay mà chép truyện đất nước ta ra cho anh em coi cho quen thuộc tiếng ấy... [Ta tặng sách này cho nam học sinh. Khi viết ta muốn anh em đọc quen với tiếng Pháp là thứ tiếng giầu mà hay, qua chuyện lịch sử nước ta...]
Lối viết sử của học giả Trương Vĩnh Ký cho học trò học về vua Minh Mạng là như thế. Trương Vĩnh Ký còn xác nhận rằng nước ta "có tội" trước nên Pháp mới "trừng trị". Như lời nhiều sử gia thuộc điạ, cuốn lịch sử đầu tiên họ được đọc về Việt Nam là cuốn lịch sử của Trương Vĩnh Ký, cho nên ông chính là kẻ dẫn đường.
Mười năm sau, Louvet, 1885, cùng luận điệu này, đi sâu và đi xa hơn, trở thành cuốn sách tiêu biểu, sau đó các sử gia thi nhau chép lại.

Nguồn cội sự bài trừ Minh Mạng từ đâu ra? Hẳn là từ việc Minh Mạng cấm đạo và Trương Vĩnh Ký được các giáo sĩ nuôi dạy ở chủng viện Pinang từ nhỏ. Nhưng việc cấm đạo ở nước ta, không đơn giản, có một quá trình dài từ thời các chúa Nguyễn, lúc gắt gao, lúc nương tay, tuỳ theo tình trạng nội trị và ngoại giao, có khi bởi chính các giáo sĩ đã dìu dắt giáo dân chống lại triều đình.
Sau khi lên ngôi, Gia Long giữ khoảng cách với đạo Gia Tô, ông không thích người dân mê muội vì đạo. Năm 1804, Gia Long ra chỉ dụ đầu tiên gồm bốn điểm chính: 1- Cấm xây thêm chùa. 2- Sửa sang chùa chiền phải xin phép. 3- Cấm xây thêm đền thờ thánh, thần. 4- Đạo của người Bồ Đào Nha (tức đạo Gia-Tô) là một lý thuyết ngoại lai, đã lỡ truyền vào và dân ta nhiều người theo, nay cũng cấm không cho xây thêm nhà thờ, và nếu muốn sửa nhà thờ cũng phải xin phép.
Vì chỉ dụ này, mà Louvet đã viết lời xúc phạm Gia Long, cho rằng Gia Long đã "vô ơn bội ước" với Bá Đa Lộc và nước Pháp là "cha đẻ ra vương quốc của ông".

Khi Minh Mạng lên ngôi, những năm đầu chưa có quyết định về đạo Gia-Tô, nhưng vua cũng không muốn đạo này bành trướng, nên không cho phép giáo sĩ vào thêm; tuy vậy giáo sĩ vẫn vào lậu. Tháng 5/1821, Chaigneau từ Pháp về, cho 4 giáo sĩ: Olivier, Gélan, Taberd, Gagelin trốn vào. Minh Mạng được thông báo, biết nhưng lờ đi, không hỏi tội.
Để giới hạn việc giảng đạo, vua ra lệnh cho các giáo sĩ phải về kinh dịch sách.
Năm 1825, hai giáo sĩ Jaccard và Régereau lại vào lậu. Jaccard trốn ra Bắc. Tháng 1/1825 Régereau đi tầu Thétis vào Đà Nẵng, bị tố cáo, bị truy nã, trốn vào Nam, nhưng cũng phải đi Singapore, hai năm sau mới vào lại miền Bắc.
Vụ Régereau khiến vua Minh Mạng nổi giận.
Ta nên biết: vua Minh Mạng nghiêm ngặt và kỷ luật hơn vua Gia Long nhiều. Quần thần rất sợ, đến nỗi Chaigneau khi ở Pháp về với chức Lãnh sự, lãnh lương của chính phủ Pháp mà nín thinh, không dám tâu. Vua hỏi: "Ngươi lại muốn về [trở về nước VN] sao? Đáp: "Thần chịu ơn dầy của nước, không biết lấy gì báo đáp. Nay tuổi già, xin làm tôi trọn đời". (TL, II, t. 131). Diard, nhà vạn vật học đi cùng Chaigneau, viết thư về Pháp tố cáo sự khúm múm của Chaigneau trước vua Minh Mạng, nên không làm được nhiệm vụ một Lãnh sự. Chaigneau bị chính phủ Pháp viết thư khiển trách nặng nề nhiều lần. Đó là lý do chính khiến Chaigneau phải trở về Pháp chứ không phải Minh Mạng đuổi.

Tháng 2/1825, vua Minh Mạng ra chỉ dụ cho trấn thủ các hải cảng phải tuyệt đối khám xét, không để cho một giáo sĩ nào lọt vào. Tuy vậy từ 1825 đến 1830 vẫn có 6 giáo sĩ vào lọt: Noblet, Bringole, Cuenot, Marchand, Mialon và Viale. Năm 1827, Giám mục Taberd trở thành Khâm sai Giáo Hoàng thay thế Giám mục Labartette qua đời năm 1822.
Tháng 4/1833, Lê Duy Lương, nhân danh con cháu nhà Lê, khởi loạn ở Bắc, có giáo sĩ trợ giúp với chủ trương lật đổ triều Nguyễn mở triều đại nhà Lê mới, theo đạo Gia Tô.
Tháng 5/1833, Lê Văn Khôi, con nuôi Lê Văn Duyệt, khởi loạn trong Nam, cũng với sự hỗ trợ của nhóm giáo sĩ, trong đó có Marchand và Taberd, muốn lật đổ triều Nguyễn, lập một "nước" ở Gia Định, theo đạo Gia Tô. Giáo sĩ Marchand tức Cố Du ở chung với loạn quân.
Vì thế, vua Minh Mạng mới ra chỉ dụ cấm đạo đầu tiên, năm 1833, 13 năm sau khi vua lên ngôi, lời lẽ đại ý: Vì dân chúng nghe lời dụ dỗ, theo thứ đạo ngoại lai, khinh thường đức Phật, không thờ cúng tổ tiên; nay ta quyết định: Dân ngu thì phải giáo dục cho chúng hiểu. Từ quan trở xuống, ai biết sợ uy quyền [triều đình] thì nên bỏ đạo. [Thày tu] bước qua thánh giá sẽ tha. Nhà thờ sẽ bị huỷ. Người nào bất tuân vẫn tiếp tục truyền đạo [chỉ các thầy tu người Việt] sẽ bị nghiêm trị [xử tử].

Minh Mạng cực nghiêm, ra dụ là áp dụng chứ không đùa như Chúa Thượng Nguyễn Phước Lan đã bao dung Alexandre de Rhodes, để ông ta vác đầu lâu André Lý đi hơn ba năm về Roma xin giáo hoàng trừng trị nước Nam (Xem bài Alexandre de Rhodes).
Trong chỉ dụ trên đây, Minh Mạng không nói gì đến giáo sĩ Pháp, tuy vậy, trên thực tế, giáo sĩ Pháp rất sợ, họ chạy sang Lào, Xiêm, để tránh bị bắt về Kinh dịch sách hoặc bị quản thúc tại giáo phận của mình.
Giáo sĩ Gagelin bị bắt vì tội đã trốn khỏi địa hạt bị quản thúc, đi khắp nơi giảng đạo (Louvet nói rằng ông ra đầu thú, việc này khó tin, bởi nếu ra đầu thú thì không thể bị xử tử, vì các ông Jaccard và Odorico cũng bị bắt, chỉ bị đuổi sang Xiêm, nhưng rồi ít lâu sau, tình hình dễ thở hơn, họ lại tìm cách trở về VN). Gagelin bị xử giảo (thắt cổ) ngày 17/10/1833. Giám mục Taberd, Khâm Sai Giáo hoàng, sợ quá, chạy sang Xiêm.
Người thứ hai là Cố Du tức cha Marchand, bị bắt trong sào huyệt cuối cùng của loạn quân Lê Văn Khôi, bị xử lăng trì (chặt chân tay cho chết dần) ngày 30/11/1835 cùng với 5 người khác. Tội lăng trì đã bỏ, nhưng vua Minh Mạng hoặc vì tức giận (đánh ba năm mới dẹp xong loạn Khôi) hoặc vì muốn làm gương, nên đã áp dụng hình thức nặng nề nhất của án tử hình.
Tuy vậy đạo Gia-Tô vẫn tiếp tục bành trướng. 1836, bẩy giáo sĩ: Candalh, Jeanne, Lefèbvre, Viale, Miche, Duclos, Chamaison vào lậu, lập hai trường dạy đạo, một ở Bắc, một ở Nam, hoạt động công khai như không có dụ cấm đạo.
Năm 1838, tình hình nước Tầu đã găng lắm, lo ngại quân Tây phương sẽ lấn đến VN, vua Minh Mạng áp dụng chính sách cấm đạo triệt để hơn nữa: có hai giáo sĩ bị tử hình là Linh mục Jaccard ở Cam Lộ ngày 21/9/1838 và Giám mục Borie bị chém đầu tại Đồng Hới ngày 24/11/1838.
Đó là những lý do tại sao dưới triều Minh Mạng có tới bốn giáo sĩ người Pháp bị tử hình.

Đến đời vua Thiệu Trị (1840-1847) giáo sĩ bị bắt vẫn kết án tử hình, nhưng vua Thiệu Trị không xử tử ai cả, đợi có tầu ngoại quốc đến, gửi đi, hoặc sai quan dẫn độ sang Singapore. Nhưng chính sách khoan hồng và mở cửa của vua Thiệu Trị không làm cho người Pháp thực dân như đô đốc Cécille, Tổng tư lệnh hải quân Pháp ở Thái Bình Dương hiểu, y vẫn tiếp tục ngoan cố, vẫn tìm cớ "giải thoát" giáo sĩ để đánh nước ta.
Biến cố vịnh Đà Nẵng 1847 đã chứng tỏ điều đó. Việc này đã chấm dứt tất cả những mối quan hệ giữa Pháp và Việt Nam. (Xem kỳ trước)
Mười năm sau, 1857, liên quân Pháp Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng, lần này là vì sự vận động của Giám Mục Pellerin với Napoléon III và Giáo Hoàng Pie IX.
Do đó có thể nói, chính sách xâm lược nước ta, là sự kết hợp giữa chính quyền thực dân và giáo hội La Mã, bắt đầu từ thời Alexandre de Rhodes.

Lên ngôi, Minh Mạng cải tổ toàn diện nền giáo dục, sửa sang việc hành chính, nội trị và binh bị, lo bảo vệ đất nước, đề phòng ngoại xâm. Riêng việc thi cử: Thời Gia Long, 6 năm mới có kỳ thi, Minh Mạng đổi lại 3 năm một lần, đặt thi tiến sĩ, mở thêm các trường thi trên khắp đất nước. Số người đỗ đạt ra làm quan tăng lên gấp bội. Ông sửa sang hành chính, đặt ra tỉnh, huyện.
Minh Mạng còn là nhà kiến trúc, xây 23 thành trì: Hưng Hoá (1821); Sơn Tây (1822); Quảng Bình, Ninh Bình (1823); Bắc Ninh, Cao Bằng, Định Tường (1824); Quảng Yên (1827); Nghệ An (1831); Hưng Yên (1832); Nam Định, Hà Tĩnh, Quảng Nam (1833); A Giang (Châu Đốc), Hà Tiên, Lạng Sơn (1834); Hà Nội (1835); Gia Định (Sàigòn, 1836), Phú Yên, Bình Thuận, Quảng Trị (1837), Biên Hoà (1838). Thiệu Trị xây thêm thành Tuyên Quang (1844).
Nếu Minh Mạng không chết vì ngã ngựa, chưa chắc quân Tây Dương đã dám dụng đến nước ta. Bởi tất cả những thành trì kiên cố này đã ngăn chặn quân Pháp, gây khó khăn, nên họ không thể nhanh chóng mà chiếm được. Phải mất 20 năm.

Nhưng những điều mà học sinh được học về Minh Mạng, đã bị lọc qua lăng kính sử gia thuộc điạ, kể cả những người như Trần Trọng Kim và Phan Khoang cũng đều nhất loạt cho rằng: vì Minh Mạng giết đạo và bế quan toả cảng nên nước ta mới lạc hậu và sau này bị Pháp xâm chiếm, là hoàn toàn sai.
Trái với Gia Long, chủ trương bế quan toả cảng thực sự, vì ông sợ Anh, Pháp xâm chiếm, Minh Mạng không hề bế quan toả cảng. Ông gửi nhiều phái bộ đi nước ngoài với mục đích: đo lường sự đe dọa của Tây phương, học hỏi các tiến bộ khoa học và khảo sát tổ chức thương nghiệp của họ để có thể giao tiếp.
Từ năm 1825 (một năm sau khi Anh làm chủ bán đảo này) vua Minh Mạng đã sai phái đoàn sang Singapore để thương lượng độc quyền buôn bán, được người Tây phương ghi nhận:
"Sự buôn bán lớn giữa Singapour và xứ Đàng Trong Việt Nam là do những thần dân người Hoa của nhà vua Việt Nam tiến hành. Tuy nhiên, năm 1825, vua đã gửi hai đội vũ trang và một đoàn quan lại tới Singapour để mua hàng len và hàng thủy tinh. Sau này mới phát hiện là những viên quan này cũng tới để về tường trình [với vua] những điều kiện và quan điểm của những thuộc địa châu Âu ở Eo Malacca. (...) Cuộc viếng thăm của những chuyến thuyền buôn đã kéo theo độc quyền nhà vua về buôn bán với Singapour". (Wong Lin Ken, 1960, t. 155-56, theo chú thích số 14 của Phan Huy Lê, t. 129, Hải Trình Chí Lược).
Ngoài việc gửi sứ sang Tầu dò xét nhà Thanh, năm 1830, Minh Mạng còn gửi Lý Văn Phức (người Tầu) đi Bengale, xem tình hình người Anh ở Ấn Độ, Khi về ông viết ba tác phẩm Tây hành kiến văn kỷ lược, Tây hành thi lược, Tây hành thi kỷ (đều chưa dịch). Năm 1831, vua lại gửi Phan Thanh Giản và Hà Tôn Quyền đi Batavia (Jakarta), dò xét người Anh ở Tân Gia Ba (Singapore) và người Hòa Lan ở Indonesia. Năm 1832-1833, vua gửi phái đoàn Phan Huy Chú đi Singapore và Batavia, trở về ông viết Hải Trình Chí Lược (Phan Huy Lê, Tạ Trọng Hiệp, Claudine Salmon dịch). Qua tác phẩm này, ta thấy rõ nhiệm vụ học hỏi những cơ sở của Tây Phương và dò thám những ý đồ và mục tiêu của họ.
Tháng 11/1839, Minh Mạng cho chế tạo một thuyền lớn chạy bằng máy hơi nước, tốn 11.000 quan tiền, các quan có ý tiếc, vua bảo: ta muốn thợ của ta học hỏi những kỹ thuật mới về máy móc tân tiến, tốn bao nhiêu cũng phải trả.
Riêng trong tháng 11/1839 [là năm bùng nổ chiến tranh nha phiến bên Tầu], Minh Mạng gửi một lúc nhiều phái đoàn ra nước ngoài: Đào Trí Phú, Trần Tú Dĩnh đi Batavia (Jakarta) Cao Hữu Tán đi Tambelan (đảo Indonésia), Nguyễn Đức Long, Lê Bá Tú, Phan Tĩnh đi Tiểu Tây (Ấn Độ), Trần Đại Bản, Nguyễn Du, Lê Văn Thu, Đỗ Mậu Thưởng đi Singapore, và lần đầu tiên, vua sai Trần Viết Xương và Tôn Thất Thường sang Pháp và Anh với hai thông ngôn (Thực Lục V, t. 588).

Linh mục Delvaux, tác giả bài Sứ thần Minh Mạng gửi sang Louis-Philippe1839-1841 (L'Ambassade Minh Mạng à Louis-Philippe 1839 à 1841 (BAVH, 1928, quyển 4, t. 257-264), sau khi kê khai những "tội" mà Louvet và Trương Vĩnh Ký đổ cho Minh Mạng, ông nghiên cứu khá rõ về chuyến đi của phái đoàn VN do Minh Mạng phái sang Pháp năm 1839.
Năm 1839, chiến tranh nha phiến bùng nổ ở Tầu, đã khiến Minh Mạng quyết định, Delvaux viết: "Việc nước Anh đem súng đạn xâm phạm nước Tầu vì quyền lợi thương mại, giáng xuống như một sự đe doạ, như tiếng còi báo động đến từ người Âu".

Thấy Anh thành công một lần nữa nhờ bạo lực, chính phủ Pháp muốn bắt chước và cho sự hiện diện của hải quân Pháp ở Á Đông là cần thiết, bèn gửi nhiều tầu chiến đến biển Đông. Minh Mạng, lo ngại, nghi ngờ ý đồ của Anh, Pháp; ông muốn biết rõ tại sao tầu chiến Pháp lại thường xuyên ghé vịnh Đà Nẵng, bèn lấy cớ muốn tìm hiểu văn minh tập quán của người Tây phương, cuối năm 1839, ông gửi một phái đoàn sang Pháp, Anh để thăm dò sự thực.
Trong thư ngày 25/4/1840, linh mục Régereau, nguyên trợ tá Giám mục Taberd, giáo sư chủng đạo Pinang, viết:
"Ngày 28/2/1840, một chiến thuyền của vua nước Nam đến Pinang... Chiến thuyền này đến Calcutta để kiểm lại vỏ và thân tầu, trình báo tất cả việc quân Anh ráo riết sửa soạn chiến tranh [16 chiến hạm Anh sẽ tấn công Quảng Đông tháng 6/1840]. Một chiến thuyền khác của nhà vua đi Batavia để xem quân Hòa Lan động tĩnh thế nào, bởi Minh Mạng không ngủ yên. Một chiến thuyền thứ ba gửi đi Luân Đôn và nước Pháp. Nhà vua rộng rãi bỏ ra 20.000 quan tiền để chi phí chuyến đi này. Chắc chắn các sứ giả [VN] sẽ chẳng nói với chính phủ Pháp việc họ đối xử [tồi tệ] với người Pháp như thế nào trong xứ họ, v.v... Mà có nói, cũng chỉ nói láo, chứ gì." (Delvaux, bài đã dẫn).
Phái đoàn 4 người: 2 sứ giả: Tôn Thất Thường 40 tuổi và Trần Viết Xương, 45 tuổi, và hai thông ngôn 20 và 22 tuổi, thuộc gia đình Võ Dõng, một người nói tiếng Pháp, một tiếng Anh. Đi từ Singapore đến Locmariaquer (Bretagne) ngày 2/11/1840. Tờ Armoricain ở Brest, số ra ngày 25/11/1840, dành nhiều cột cho phái đoàn, mô tả hình dáng, y phục, phỏng vấn, đưa tin, trong đó có những dòng:"Đội hàng hải thương thuyền của nhà vua thường xuyên giao thiệp với Batavia, Pháp ít có gì để trao đổi thương mại với Việt Nam... Những giáo sĩ, sau thời gian bị đán áp, đã được đón nhận ở Việt Nam, ngay cả ở trong triều..." Điểm này cho thấy vua Minh Mạng đã thay đổi chính sách với giáo sĩ và đã chuẩn bị việc giao thương với Anh, Pháp khi gửi phái đoàn sang Pháp.
Đến Paris, phái đoàn được báo chí đón tiếp nồng hậu, được mời đi xem Opéra, ngồi ghế thượng hạng của các chính trị gia hàng đầu. Ngày 5/1/1841, phái đoàn dự cuộc họp của Thượng nghị viện, hội đàm với Thống chế Soult, Thủ tướng và ông Cunin-Gridaine, Bộ trưởng Thương mại.
Tờ Moniteur Universel ra ngày 5/1/1841 kể: "Hôm tiếp kiến ông Bộ trưởng Thương mại, họ mặc đại triều. Mỗi khi thấy điều gì lạ, họ đều thản nhiên rút bút, mực, giấy, gài ở đai lưng ra ghi chép, dù ở ngoài đường, chẳng phiền hà bận tâm gì cả". Ngày 6/1/1841, tờ báo viết: "Phái đoàn đến Thượng nghị viện ngày 5/1. Tất cả mọi người đều nhìn, họ tỏ ra thản nhiên không hề nao núng trước những con mắt hiếu kỳ."
Nhưng từ ngày 6/1/1841 trở đi, dường như có lệnh của chính phủ Pháp, không báo chí nào đưa tin gì nữa; ngược lại báo chí công giáo tố cáo mạnh mẽ việc "giết đạo" ở Việt Nam. Giám đốc Hội Thừa sai Ngoại quốc viết thư cho vua Louis-Philippe và cho Đức Giáo Hoàng "báo cáo" sự có mặt các sứ giả của Minh Mạng ở Paris, Giáo hoàng lập tức viết thư cho Louis-Philippe yêu cầu dùng thẩm quyền của nhà vua để đòi ngừng việc đán áp đạo. Nhiều giám mục viết thư cho Thống Chế Soult, Thủ tướng và các Bộ trưởng, được họ hứa sẽ can thiệp.
Giám mục Chalons-sur Marne, rồi giám mục Mans viết thư cho Martin du Nord, Bộ trưởng Tư pháp kiêm Tôn giáo của Pháp, với những lời lẽ cực kỳ mạnh mẽ: "Minh Mạng là bạo chúa điên cuồng nhất, vượt qua tất cả những bạo chúa từng được nói đến trong lịch sử" (Nguyên văn: Minh Mạng, le plus furieux tyran qui surpasse tous ceux dont on a parlé dans l'histoire). (Thư của Prilly, Giám mục Chalons sur Marne gửi Bộ trưởng Tư pháp kiêm Tôn giáo ngày 24/1/1841).

Martin du Nord chuyển thư của hai vị giám mục đến Guizot, Bộ trưởng Ngoại giao, là người thật sự làm chủ nước Pháp từ 1840 đến 1848. Không biết Guizot trả lời thế nào. Dường như Guizot cũng không lợi dụng dịp này để đòi triều đình Huế ngừng đàn áp đạo thiên chúa. Chỉ có vua Louis-Philippe không tiếp phái đoàn, lấy cớ sứ bộ không xin bệ kiến theo đúng nghi thức truyền thống, việc đó chắc để trả lời vua Minh Mạng đã không tiếp các phái đoàn Pháp trước đây. Sau đó phái đoàn sang Anh, rồi trở lại Bordeaux lên tầu về Huế, đến nơi thì vua Minh Mạng đã qua đời, vua mất vì ngã ngựa ngày 20/1/1841, ở tuổi 50. Đại Nam Thực Lục không nói rõ lý do, có lẽ là một truyền thống, nhưng những vị thừa sai biết rõ, thông tin của họ chắc là đúng.
Một số thừa sai cũng sắp lên tầu ở Bordeaux, kể lại: "Tại Pouliac chúng tôi gặp những người trong phái đoàn Minh Mạng sửa soạn về nước, họ rất hài lòng về sự tiếp đón của chúng ta. Chúng tôi dẫn anh trẻ tuổi nhất về phòng trò chuyện. Hỏi anh ta về gia đình, về đất nước, về sự tàn sát đạo ở xứ anh. Anh ta trả lời tất cả với sự lanh trí hiếm có và sự ngây thơ thật thà đáng trọng. Anh ta bảo cha mẹ anh theo đạo; rằng từ nhỏ anh đã quen với các quan đại thần; anh ta đợi đến tuổi 25 (hiện mới 19), sẽ đổi địa vị, và theo đạo của cha mẹ... anh vô cùng mừng rỡ nhận những hình ảnh [đạo chúa] mà chúng tôi gửi tặng cha mẹ anh." (Annales de la Propagation de la Foi, XIV, 1842, t. 150-151)
Đăng lại những dòng này, Delvaux phê bình: "Người trẻ tuổi này, con của giáo dân, có thể theo đạo (có thể bỏ đạo). Minh Mạng gửi sang Pháp để tỏ thái độ chiết trung của mình, khôn khéo tính trước ảnh hưởng của anh ta tới những người Pháp, cùng đạo".

Một trong hai vị sứ giả [Tôn Thất Thường hay Trần Viết Xương] sau khi về nước kể rằng: Một vị quan võ hàng đầu trong chính phủ Pháp đã nói với ông: "Tất cả thầy tu đến nước ông toàn bọn khốn nạn vô gia cư vô nghề nghiệp. Nếu vua nước ông thích chặt đầu ai cứ việc, chúng tôi cũng chẳng tiếc gì" [Tous ces prêtes qui vont chez vous ne sont que des misérables sans feu ni lieu. S'il plait à votre Roi de leur trancher la tête, nous ne le regrettons pas]. Những lời này, qua việc dịch lại của cha Miche, đến tai Thống chế Soult, dĩ nhiên ông cải chính, coi như là điều "không thể có", "không thể tưởng tượng được".
Có lẽ lời ông đại tướng Pháp không hoàn toàn dưới dạng "phũ phàng" thế này, nhưng chắc ý không sai: quân đội Pháp chẳng màng gì đến việc can thiệp để "cứu đạo", ta đã thấy thái độ của trung tá Lapierre (xem bài trước) có để ý gì đến việc "cứu" giám mục Lefèbvre đâu, chỉ muốn đánh chiếm thuộc địa cho Pháp mà thôi.
Sự tiếp đón phái đoàn Việt Nam của chính phủ Pháp chứng tỏ uy tín của nước Nam ở Âu châu, mặc dù giới thừa sai tìm đủ mọi cách bôi nhọ vua Minh Mạng, nhưng hầu như họ đã không đạt được kết quả.

Người ta cũng trách vua Tự Đức đủ điều, nhất là không chịu canh tân đất nước, giết đạo, triều đình hủ lậu, khiến người Pháp có cớ để đánh.
Xin thử nhìn lại: Tự Đức lên ngôi, sau vụ Pháp lén tiêu diệt 5 chiến hạm của ta, để lại thư giọng hách dịch, côn đồ, khiến vua Thiệu Trị tức mà chết. Làm sao Tự Đức có thể tin được quân Pháp? Năm 1857, liên quân Pháp-Y Pha Nho tấn công Đà Nẵng, do giám mục Pellerin dẫn đầu. Làm sao vua Tự Đức có thể tin được giáo sĩ để mở cửa cho họ tự do vào giảng đạo?
Rồi vua Tự Đức phải đánh nhau với Pháp trong gần 20 năm. Thì giờ đâu "canh tân đất nước"?
Thử hỏi Việt Nam trong hai mươi năm chiến tranh (1954-1975) hai miền Nam Bắc có "canh tân" được gì không?

Hồi trẻ, tôi được học về Nguyễn Trường Tộ, tôn sùng ông một cách quá đáng, học rằng: ông đã đưa ra hơn 50 bản điều trần mà vua Tự Đức và triều đình ngu muội không nghe.
Nay già rồi, tôi đọc lại những bản điều trần của ông, không thấy điều gì đáng phục cả:
Về chuyện cải cách kỹ thuật và khoa học, vua Minh Mạng đã sai thám tử có hạng đi trinh thám kỹ nghệ tân tiến, về báo cho ông rồi.
Minh Mạng đã cho thợ làm chiếc tầu đầu tiên chạy hơi nước và Tự Đúc đã có sáu chiếc. Ngoài việc gửi sứ giả đi các nuớc lân cận để học kỹ thuật của Anh, Pháp, Hoà Lan... Minh Mạng còn bắt con trai của Chaigneau, là Đức, khi anh ta từ Pháp theo cha về VN, phải kể hết cho ông nghe bên Pháp đang có những phát minh gì? Vậy người Việt thời đó không nhà quê, ngố rừng như người ta tưởng.
Nguyễn Trường Tộ cũng không phải là người đầu tiên sang Pháp, ông đi theo Giám mục Gauthier, từ năm 1859 đến 1861, để làm gỉ? Tôi không tin mấy ông Giám mục chuyên làm mật thám cho Tây. Khi về nước, ông làm thông ngôn cho Pháp. Những bản điều trần của ông, lập luận thiên Pháp rõ rệt, đệ lên vua sau khi nước ta đã mất ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, mà ông vẫn chưa tỉnh ngộ, ông vẫn tin tưởng vào "lòng tốt" của người Pháp, tin rằng chỉ biếu họ vài miếng đất và để họ tự do giảng đạo là xong. Ông khuyên vua nên "hợp tác" với Pháp, dùng giáo sĩ trong việc nội trị. Ông có ngây thơ quá không?
Nếu nghe ông thì bằng dâng nước cho quân đội và giáo sĩ Pháp là xong ư?

 
Lăng Tự Đức
Lăng Tự Đức

Ngày nay, về thăm lăng mộ các vua là niềm đau thương và hân hạnh của người Việt. Vì đó là lịch sử còn mới. Tính tình các vua lộ rõ trong lăng tẩm.
Tự Đức lên ngôi 18 tuổi, khi cha chết bất ngờ vì tình hình đất nước. Lăng Tự Đức rất thơ mộng, đầy vẻ thư sinh, nho nhã, nhẹ nhàng, tượng trưng một tâm hồn cao thượng. Người thanh niên ấy yêu nghệ thuật, chỉ muốn cho dân một cuộc sống thanh bình, có thì giờ chăm sóc từng cành cây ngọn cỏ. Tự Đức là nhà thơ, trong một thế giới khói lửa, giặc đánh phá trong Nam ngoài Bắc, vua tôi quyết tâm giữ nước, nhưng lực bất tòng tâm, tướng tài, can đảm, đều chết cả. Vậy mà người thư sinh đó cũng giữ được nưóc hơn ba mươi năm.
Lăng Minh Mạng
Lăng Minh Mạng
Cửa mộ Minh Mạng
Lăng Minh Mạng, không bề thế, nhưng khiêm cung, cao nhã, khắc kỷ, để lộ oai quyền và tinh thần bất khuất, với cái oai kín đáo của một vị thâm nho có tài cai trị và giữ nước. Ta có thể tưởng tượng dưới thời Minh Mạng không có tham nhũng vì cái gì vua mua, cũng bắt ghi vào sổ cả. Luật pháp nghiêm minh. Vua coi xét tất cả mọi việc, cô đơn, quyết định tất cả mọi việc, xây dựng một mình, một nước giầu mạnh, hoàn toàn chuyên chế, không có quân xâm lăng, không ai dám xâm lăng.


Lăng Gia Long
Mộ Gia Long và Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu
Mộ Gia Long xa nhất, ở trên vùng núi đồi thơ mộng. Lăng vị vua sáng lập lại nhà Nguyễn đơn giản như một "nhà nghèo ", bởi vua khi còn sống cũng rất giản dị, thủa ở Gia Định, ông xắn quần, đắp lũy cùng với thợ, ông tự lái thuyền đi thăm xưởng đóng tầu và ăn trưa với thợ. Gia Long yên nghỉ tại đây với hai người vợ quý.
Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu, là chính hậu, người Thanh Hóa, con gái quan Thái Bảo Tống Phước Khuông, mẹ họ Lê, lấy Nguyễn Ánh năm 1778, hơn Ánh 2 tuồi. Hậu sinh hai trai, trưởng là Chiêu, chết sớm, thứ là Cảnh.
Thừa Thiên cũng bình dân như chồng. Liệt truyện ghi: "Mỗi khi vua đi đánh giặc, Hậu thường đi theo", "khuyên thăm chính sự", "tự dệt vải cho quân lính". Trước kia trong lúc phiêu dạt, phụng dưỡng Hoàng Thái Hậu, nếm trải mọi mùi gian nan hiểm trở, thường thân hành dệt cửi, chính tay may lấy áo trận, để cấp cho quân sĩ. Một hôm thuyền đi gặp giặc, vua đốc quân cố thúc đánh, hậu cũng cầm dùi đánh trống, quân lính tranh nhau phấn khởi thành ra đánh được.". Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu mất ngày 22/2/1814 (3/2 năm Ất Mùi).

Năm hoàng tử Đởm mới lên ba, vua sai Thừa Thiên nuôi, Hậu đòi phải có giấy tờ đâu ra đấy, vua sai Lê Văn Duyệt viết "khế khoán". Từ đó Hậu là mẹ chính thức của Minh Mạng.
Khi Hậu mất, Gia Long bắt hoàng tử Đởm vào tế mẹ, quần thần có người đề nghị hoàng tôn Đán, vua bảo: nó là con hoàng hậu có giấy ký nhận đây này.
Qua sự kiện này ta đoán Gia Long đã quyết định cho hoàng tử Đởm lên làm vua từ khi mới ba tuổi. Ngoài ra còn thêm những sự kiện khác: Gia Long rất do dự, mãi sau này mới phong chức thái tử cho Cảnh, có lẽ ông sợ Cảnh chịu ảnh hưởng Bá Đa Lộc sẽ thiên Pháp. Đởm có thầy học là Đặng Đức Siêu, "Khổng Minh" của Gia Long và vua còn cho con tập đi "hành quân" lúc mới 9 tuổi: năm 1801, theo cha từ Gia Định tiến quân đánh trận Thị Nại 1801, trận Phú Xuân 1801, trận Trấn Ninh 1802 và đánh ra Thăng Long, thống nhất đất nước.
Tất cả đều được chuẩn bị kỹ càng cho một vị vua lớn.  
Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu được chôn cạnh chồng là trường hợp hy hữu.
Khu mộ Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu
Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, con gái Thọ Quốc Công Trần Hưng Đạt, mẹ ruột Minh Mạng, người Huế chính hiệu. 14 tuổi được tuyển vào cung, nhưng bà "giữ gìn" không có con, sợ phải đem con chạy loạn, bận lòng chúa thượng. Đợi đến năm Tân Hợi (1791), sau khi đắp xong thành Gia Định (1790), Hậu 24 tuổi, mới sinh Minh Mạng.
Bà đã nhường con cho Thừa Thiên nuôi, theo ý Gia Long, để con mình sẽ nối nghiệp cha.
Thuận Thiên mất năm 1846, được chôn ở cơ ngơi bên cạnh mộ Gia Long và Thừa Thiên, cảnh đẹp và thơ mộng vô cùng.
Paris tháng 6/2019
Thụy Khuê