Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018



NGÔ THẾ VINH VIẾT VÒNG ĐAI XANH
GIỮA NÚI RỪNG BẤT AN

Phan Tấn Hải

Giới thiệu của HNG - Đây là một cuốn sách mà tác giả mượn hình thức tiểu thuyết để nêu lên một vấn đề rất lớn, nhằm lý giải vì sao người Thượng rủ nhau theo Đạo Tin Lành và xem đạo này như căn cước tín ngưỡng của sắc tộc Rhadé. Hiện tượng tiếp biến văn hóa (acculturation) một chiều có tính áp đặt (forced) nầy ít người Kinh quan tâm và nghiên cứu. Chế độ Ngô Đình Diệm đã thực hiện kế hoạch đẩy các sắc tộc Thượng vào một vị trí bên lề, còn các Mục sư Mỹ thì vào phát phẩm vật cứu trợ để truyền giáo. Quân đội Mỹ đã dựng lên 60 căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt ở vùng cao nguyên, huấn luyện dân quân Thượng, làm hàng rào ngăn Việt Cộng. Họ cũng thả Biệt Kích Mỹ dọc biên giới Miến Điện để truyền giáo và xây dựng các cứ điểm tạo nên “Vòng Đai Xanh” để bao vây Trung Quốc. Tác giả Ngô Thế Vinh là Y Sĩ Trưởng LLĐB. Ông được trao Giải Văn Toàn Quốc năm 1970 nhờ cuốn Vòng Đai Xanh này (nhưng lại bị bị truy tố ra tòa án Sài Gòn năm 1971 vì bài viết Mặt Trận ở Sài Gòn đăng trên tạp chí Trình bày số 34), nên đã nhìn khá thấu đáo những chuyện bí ẩn, kể cả chuyện chính vị Mục sư giúp người Thượng đã ra yêu sách ly khai tự trị khỏi người Kinh để lập quốc riêng.
Chúng tôi xin đăng lại bài điểm sách nầy của nhà văn Phan Tấn Hải, vốn đã được phổ  biến trên Việt Báo Online ngày 8/2/2018. - HNG
Nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết cuốn tiểu thuyết Vòng Đai Xanh bằng tấm lòng ưu tư với dân tộc. Trên các trang giấy, chúng ta đọc được nỗi lo của ông bên cạnh những âm vang cồng chiêng của các sắc dân Thượng, xen lẫn gần xa là tiếng súng giao chiến giữa AK-47 và M-16.
Nơi đó, hiện lên trong các dòng chữ cũng là nỗi lo của giới trí thức Sài Gòn (điển hình với nhân vật chính là họa sĩ tên Triết, xưng tôi) khi nhìn thấy 60 trại lính Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ (LLĐB Hoa Kỳ) trên vùng biên giới cao nguyên Việt Nam có thể tương lai sẽ trở thành một cõi quốc gia tân lập của người Thượng, một đất nước mới manh nha cho các sắc dân thiểu số vùng cao có tên gợi ý là Đông Sơn và viễn ảnh một cuộc chiến mới sẽ bùng nổ giữa dân tộc Kinh và các sắc tộc Thượng – nơi đó, ngòi nổ sẽ bị kích hỏa, hoặc là do chính người Mỹ hay do chính Cộng Sản Bắc Việt gây ra, hay do cả hai cùng bật lên.
Trong tiểu thuyết Vòng Đai Xanh, độc giả có thể thấy phần hư cấu gắn liền với sự thực lịch sử. Nghĩa là, có thể đọc như một cuốn sách biên khảo về Cuộc Nội Chiến Quốc-Cộng trên vùng cao nguyên, nơi đó phía Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) được lính LLĐB Hoa Kỳ hỗ trợ, và nhiều khi phía Mỹ nắm phần chủ lực khi trực tiếp huấn luyện dân quân người Thượng.
Chúng ta cũng có thể đoán rằng nhà sư Pháp Viên có lẽ là Thầy Thích Trí Quang (?),  và tương tự, có thể đoán nhà sư Giác Nghiệp ở Phương Bối Am là một vị nổi tiếng khác. Một nhân vật gay cấn như điện ảnh còn là vị Mục sư truyền giáo (cũng là bác sĩ) Denman, người bị phía CSVN nghi ngờ là bàn tay CIA kích động tư tưởng người Thượng ly khai để lập quốc. Trong truyện, có lẽ tác giả Ngô Thế Vinh hiện ra như một tổng hợp của nhân vật xưng tôi (tức họa sĩ Triết, cũng là phóng viên điều tra về cuộc chiến ở cao nguyên VN) và một nhà báo tài tử sinh viên Đại Học Y Khoa và rồi trở thành Y Sĩ Trưởng một đơn vị LLĐB. Ông Giáo sư Hoàng Thái Trung trong truyện hẳn là một vị giáo sư tên Trung – cũng nên ghi nhận rằng thời cuối thập niên 1960s, có 2 vị giáo sư tên Trung (một vị họ Lý, một vị họ Nguyễn) dạy ở một số đại học Sài Gòn, đều yêu nước nồng nhiệt nhưng lại cũng thiên tả mỗi người một kiểu riêng… Có thể GS Hoàng Thái Trung là ám chỉ một vị, hay tổng hợp từ hai giáo sư đó, hay chỉ hư cấu thêm từ một vị.  Nghĩa là, đối với độc giả từng sống dưới chế độ VNCH trong thời 1960s, 1970s, không khí chính trị của Vòng Đai Xanh hiện lên rất quen thuộc. Lãng đãng, mơ hồ, như thật, như hư cấu…
Có hai cách để độc giả tiếp cận cuốn Vòng Đai Xanh. Hoặc đọc từ trang đầu tới trang cuối. Hoặc đọc các bài giới thiệu phía sau trước, rồi mới đọc truyện sau. Đối với nhiều độc giả, có lẽ nên đọc phần sau trước, để thấy bối cảnh truyện này ra đời, dư luận và ảnh hưởng.
Một điểm cực kỳ quan trọng trong truyện là hiện tượng rất nhiều người Thượng căm thù người Kinh. Người Tù Trưởng Rhadé qua lời kể của Mục sư Denman hiện ra như sau:
Sáng nay tôi tới thăm một buôn Rhadé cách đây chừng tám cây số, tình cờ tôi phải chứng kiến một cuộc mua bán giằng co giữa một người Mỹ và viên tù trưởng. Viên Đại úy LLĐB thì nài nỉ mua cho được ít thớt voi để vận tải tiếp tế cho mấy trại tân lập trong rừng rú, thương lượng giá cả mãi cũng chẳng được, tức mình viên Đại úy phải hằn học hét lên: - Sao ông không chịu giúp chúng tôi diệt hết bọn cộng sản, thì đằng nào tụi nó cũng là người Việt mà ông thì muốn giết bọn họ có phải vậy không? ... Và kết quả thật kỳ lạ không ngờ, các anh có biết sao không, chỉ với một giá rẻ mạt, viên Đại úy có ngay số thớt voi cần thiết.” (Vòng Đai Xanh, trang 25)
Tại sao người Thượng không ưa người Kinh, dù là người Kinh VNCH hay người Kinh CSVN?
Mục sư bác sĩ Denman giải thích:
“Theo tôi trên thực tế vẫn có mối cừu hận thường xuyên giữa đám dân miền núi và số người Việt ở đồng bằng, tất cả bắt nguồn từ một mặc cảm kỳ thị và khinh bỉ; mối tương quan Kinh Thượng hết sức suy đốn do bởi những đối xử tệ hại của đám người Kinh với một thiểu số mà họ khinh miệt quen gọi là Mọi. Thực sự cũng có những người Thượng học thức, họ vẫn chẳng được tham dự chánh phủ, họ không được hưởng thêm một quyền lợi gì khi làm một công dân Việt Nam. Đôi lúc họ lại bị ném lên xe như những con vật, chở về thành phố để đón rước một số ông lớn tới thăm họ. Mỗi lần như vậy là họ phải giết trâu ăn thề làm lễ rửa chân đeo vòng để tỏ sự trung thành và tình thân hữu đối với quan khách. Sau đó họ lại bị ném trả vào rừng núi, tiếp tục cuộc sống đói khát thiếu thốn…
…Theo lịch sử truyền kỳ thì cả miền Trung và cao nguyên xưa kia là của người Thượng với kinh đô ở gần bờ biển phía đông, có lẽ là tỉnh Nha Trang hiện giờ. Những người già cả còn sống sót cũng kể lại rằng quê hương ông cha họ trước kia cũng ở phía mặt trời mọc, cho đến vị vua cuối cùng của họ vì say mê cưới một nàng công chúa người Việt ở phương Bắc, và chính nàng công chúa này đã âm mưu hãm hại nhà vua. Kể từ đấy họ hoàn toàn bơ vơ không ai hướng dẫn và bị người Kinh tàn ác xua đuổi họ vào mãi tận rừng sâu sống khổ cực cho đến ngày nay.” (trang 25, 26)
Nơi phần Phụ Lục, trong bài “Từ Vòng Đai Xanh 1970 tới Người Thượng Đôi Bờ 2017,” nhà văn Ngô Thế Vinh giải thích cội nguồn căm thù đó:
Quy chế Hoàng Triều Cương Thổ riêng biệt dành cho người Thượng có từ thời vua Bảo Đại, đã bị ông Diệm hủy bỏ (từ tháng 3/1955). Có nghĩa là không còn chính sách đãi ngộ và tôn trọng quyền lợi đặc biệt của những người thiểu số. Với chính sách Dinh điền, hàng chục ngàn người dân công giáo di cư từ miền Bắc đã được đưa lên Cao nguyên định cư, xâm phạm cả những vùng đất đai màu mỡ đã từng là sở hữu của người Thượng qua nhiều thế hệ. Cộng thêm với vô số những lỗi lầm khác của chánh quyền thời bấy giờ, như ra lệnh đóng các tòa án phong tục Thượng, ngăn cấm các thổ ngữ và hạn chế số người Thượng có khả năng và có học tham gia vào các cơ cấu hành chánh. Thái độ bất mãn và không hợp tác của người Thượng và cả chống đối nữa là điều rất dễ hiểu.”(trang 220-221)
Tuy nhiên, trong truyện cho thấy, người Thượng phân biệt minh bạch người Kinh VNCH và người Kinh CSVN… và người Cộng sản được người Thượng so sánh như cọp dữ.
Trong truyện, tác giả kể rằng:
"...có hơn sáu trăm đồng bào Thượng ở Dakto bị Việt cộng cưỡng bách đi dân công và sắp bị lùa qua bên kia biên giới chậm nhất là trong vòng ba ngày..." (trang 58)
Và một người Thượng trốn được, băng rừng tới xin quân lực VNCH tới cứu, trích:
"Khi được hỏi về cảm tình của dân chúng đối với cộng sản, gã bảo:
-Nói đến Việt cộng là chúng tôi hết hồn vía, dân làng vẫn thường gọi chúng là chim Dụng tức là con dơi, còn nói về tàn bạo thì chúng tôi sợ họ như cọp dữ. Họ bắt đồng bào chúng tôi đi dân công tải đạn, chúng lại còn thâu thuế cướp bóc gạo và gia súc của dân làng. Nếu chúng tôi có ý định bỏ đi thì họ dọa bắn giết cả làng, không ai có thể đi xa khỏi vùng quá mấy cây số." (trang 58)
Nghĩa là, dưới mắt đa số dân Thượng, chính phủ VNCH vẫn có chính nghĩa  hơn xa so với quân CSVN.
Giữa khói lửa ngút trời như thế, hình ảnh Nguyện hiện ra trong truyện rất mực dịu dàng, rất mực lãng mạn. Nhân vật nữ trong truyện viết thời cuối thập niên (Ngô Thế Vinh viết xong là 1969) lại có lối sống rất mực tha thiết nữ quyền.
Nhân vật tôi (họa sĩ Triết) yêu thương cô Nguyện, một nữ tùy viên văn hóa tại Bộ Ngoại Giao VNCH, và từng nghĩ là sẽ cưới cô.
Trong khi đó, Nguyện quý trọng tài năng họa sĩ Triết:
"...Riêng bức Mèo Đen Trên Thảm Hồng do một người đàn bà tên Như Nguyện hỏi mua..." (trang 21)
Nguyện rất mực lãng mạn, dưới ngòi bút Ngô Thế Vinh:
"...Tôi nghĩ tới Nguyện, dòng sông Hương và khung cảnh sống của những ngày sắp tới. Người đàn bà trụy lạc nhưng không thể đồng hóa với người khác; giữa nàng và đời sống vẫn có một bức tường ngăn cách. Tôi cô đơn khi xa nàng nhưng đồng thời sự gần gũi cuồng nhiệt của dục vọng chính là những phút run rẩy hấp hối của hạnh phúc. Sự cô đơn thật khủng khiếp khi thân thể bị lạm dụng cho mục đích khám phá cảm giác. Tôi hoàn toàn mất Nguyện ở những giây phút giẫy giụa đó."(trang 35-36)
Có lúc chàng nhớ Nguyện rất mực thiết tha, và nghĩ tới rời bỏ cao nguyên để cùng nàng về xứ Huế:
"...tôi chợt nghĩ và nhớ tới Nguyện tha thiết. Phải chi Davis là nàng, tôi sẽ vui sướng để nhận lời mời của mấy vị chủ làng buổi tối. Nguyện cũng sẽ tập uống rượu cần, tôi sẽ chỉ dẫn cho nàng cách nhận một ống triêng bằng tay phải, bởi vì tôi nhớ Nguyện có thói quen dùng bàn tay trái mà người Thượng thì lại không mấy quý bàn tay trái, xử dụng nó được coi như dấu hiệu khiêu khích và khinh bỉ. Cái không biết và vô tình của nàng có thể làm suy giảm mối giao hảo thân hữu giữa chủ và khách. Nhưng tôi hiểu rằng Nguyện không thể nào chọn quê hương là nơi đây và để có được tình yêu tôi và Nguyện, một trong hai người phải hy sinh cái thế giới mộng tưởng của mình. Và dẫu sao, tôi cũng đã có một quyết định dứt khoát bỏ nghề báo và ra Huế." (trang 47-48)
Trong khi Nguyện có sức lôi cuốn chàng như một loài chim lạ, nàng vẫn gặp rất nhiều tai tiếng:
"....Tôi cũng gặp Như Nguyện, người đàn bà mua tranh tôi trong vai trò tùy viên văn hóa của sứ quán và tôi cũng không thể nghĩ rằng sẽ có những ràng buộc định mệnh giữa tôi và nàng sau này. Thực sự cho đến bây giờ tôi không biết gì hơn về người đàn bà ngoài cái hiện tại của một cuộc sống phóng thả và rất nhiều tai tiếng. Nguyện đối với tôi có một sức hấp dẫn kỳ lạ của một loài chim bay rất cao để có một tiếng hót hay. Có lần từ Tokyo, Nguyện viết thư cho tôi, thư khá dài không đề cập tới một chuyện gì rõ rệt nhưng chứng tỏ tâm hồn nàng đang có những dao động. Nguyện bảo, nàng như một con chim nhỏ đi trốn tuyết và rất cô đơn. Phải chi Nguyện được anh giam hãm như anh đã từng giam hãm con mèo đen trên cái ấm áp của một thảm hồng." (trang 53)
Đó là một mối tình đẹp, hiện ra cực kỳ thơ mộng trong một không khí chiến tranh gay gắt ở cao nguyên... Tất cả hiển lộ qua bút pháp tiểu thuyết của Ngô Thế Vinh với hơi văn trầm tĩnh, từ tốn, thoảng hương rượu cần miền núi và ngây ngất hương tình Vỹ Dạ.

Phần Kết Từ do Thế Uyên viết năm 1970, giải thích về hoàn cảnh truyện Vòng Đai Xanh ra đời, gợi ý về các Trung đoàn nông tác VNCH xây dựng mô hình Kibbutzim kiểu người Do Thái có thể giúp người Thượng sống đời định cư và chống Cộng. Nơi đó, tuổi trẻ Kinh Thượng một nhà sẽ gìn giữ núi rừng cao nguyên, đẩy lùi làn sóng Phương Bắc.

Trong phần Phụ Lục, bài “Bách Khoa Đàm Thoại Với Ngô Thế Vinh: Từ Vòng Đai Xanh đến Mặt Trận ở Sài Gòn” sẽ giúp độc giả hiểu về tình hình, vì sao Ngô Thế Vinh với Vòng Đai Xanh được giải thưởng bộ môn Văn trong Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc 1971 trước Tết, thì sau Tết lại nhận trát tòa gọi ra tòa về bài “Mặt Trận ở Sài Gòn”…
Trong Phụ Lục còn có thư của học giả Hoàng Xuân  Hãn nêu về vấn đề Kinh-Thượng…
Nhưng nói đầy đủ chi tiết, nói lên nan đề nhức nhối Kinh-Thượng là nhà văn Nhật Tiến qua bài viết năm 2002 “Mở Lại Cuốn Vòng Đai Xanh của Nhà Văn Ngô Thế Vinh” (trang 245-253) mô tả số phận đau thương của người Thượng và nhu cầu giải quyết tận gốc cho xong vết thương của dân tộc để chung sức ngăn cản Trung Quốc ở cả Biển Đông và phía Đông.
Nguyễn Quốc Trụ có bài viết “Đỉnh Cồn, Vòng Đai Xanh, Ngô Thế Vinh, Và Tôi” (trang 255-258) kể kỷ niệm thời viết Ngô Thế Vinh trong ký túc xá sinh viên.
Phần Phụ Lục cũng có trích một số điểm sách đối với ấn bản tiếng Anh (The Green Belt, NXB Ivy House, 2004)) của Vòng Đai Xanh từ GS Trần Ngọc Ninh, sử gia Gerald C. Hickey, nhà nghiên cứu sắc tộc học Oscar Salemink, nhà hoạt động nhân quyền José Quiroga, GS Nguyễn Văn Tuấn, các nhà văn Phan Nhật Nam, Nguyễn Thuyết Phong, Nguyễn Quỳnh, Mặc Đỗ, Nguyễn Sao Mai, Ánh Nguyệt, Hoàng Mai Đạt.

Tiểu sử  tác giả sơ lược như sau.
Ngô Thế Vinh tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn 1968. Trong ban biên tập, nguyên tổng thư ký rồi chủ bút báo sinh viên Tình Thương truờng Y khoa Sài Gòn từ 1963 tới khi báo đình bản 1967. Nguyên y sĩ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Tu nghiệp ngành Y khoa Phục hồi tại Letterman General Hospital San Francisco. Trở về Việt Nam, làm việc tại trường Quân Y.
Sau 1975, tù ba năm qua các trại cải tạo Suối Máu, Trảng Lớn, Phước Long, Bù Gia Mập… Ra trại, về Sài Gòn, một thời gian sau trở lại làm việc tại Trung Tâm Phục Hồi Bà Huyện Thanh Quan và trường Vật Lý Trị Liệu Sài Gòn.
Tới Mỹ tám năm sau 1983, mất thêm 5 năm để trở lại ngành y: thời gian đầu làm volunteer tại các bệnh viện, rồi clinical fellow Đại học USC trước khi trở lại làm bác sĩ nội trú rồi thường trú các bệnh Đại học SUNY Downstate Brooklyn New York. Tốt nghiệp ngành Nội khoa American Board of Internal Medicine và về làm việc tại một bệnh viện miền nam California.

Tác phẩm Vòng Đai Xanh ấn bản Việt ngữ trải qua nhiều lần in: NXB Thái Độ năm 1970, NXB Văn Nghệ 1987, và bây giờ do Văn Học Press ấn hành năm 2018.
NXB Văn Học Press do nhà thơ Trịnh Y Thư thực hiện, với giải thích:
“-- Mô hình thực hiện xuất bản và phát hành: Amazon…
-- Xuất bản và tái bản những tác phẩm thơ, văn, dịch thuật, biên khảo (văn học, lịch sử, chính trị…) giá trị của các tác giả khắp nơi trong cộng đồng người Việt tự do dưới dạng sách in hoặc eBook hoặc cả hai....
-- Cộng tác với ban chủ biên các trang mạng văn chương để thực hiện những tuyển tập thơ văn hoặc biên khảo do các chủ biên tuyển chọn từ diễn đàn của mình.
-- Thực hiện những tuyển tập thơ, văn hoặc biên khảo lấy ra từ các số VHNT và Văn Học cũ từ số đầu tiên xuất bản năm 1978 cho đến khi tờ tạp chí đình bản."
Các quan tâm về tác phẩm, có thể liên lạc ở: trinhythu2000@yahoo.com

 



Thứ Hai, 15 tháng 1, 2018


ĐI XEM MỘT KỶ NIỆM
Tản mạn về phim “The Post”

Lý Nguyên Diệu

“Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng …”
Trịnh Công Sơn


Chiều hôm qua tôi đi xem phim “The Post” vừa được phát hành với giá vé chỉ 6 đồng cho người lớn tuổi. Ngoài cái lợi tiền bạc, người lớn tuổi còn được xem phim nầy như hồi tưởng về một kỷ niệm không thể quên, dựa trên một câu chuyện có thật đã xảy ra cách đây gần nửa thế kỷ.
Điều đặc biệt đầu tiên của phim “The Post” là, dù đã biết rất rõ kết cuộc sẽ như thế nào, người xem càng lớn tuổi (những người đã sống qua thời kỳ những năm 1960, 70), càng thấy thấm thía cái hay của phim nầy. Một điều đặc sắc khác trong thời buổi nầy là một phim Mỹ dài 1 giờ 56 phút mà không có súng đạn (trừ hai phút đầu tiên về chiến tranh Việt Nam), không có tình dục, áo quần hở hang, … lại được đa số các cơ quan truyền thông Mỹ xếp hạng 1 trong 10 phim hay nhất của năm 2017. Một điều hi hữu để lôi kéo các tay ghiền xi-nê là phim nầy tập họp 3 ngôi sao sáng chói của Hollywood: Đạo diễn Steven Spielberg (14 Oscars & 10 Đề cử), nữ tài tử Meryl Streep (3 Oscars & 17 Đề cử) và nam tài tử Tom Hanks (2 Oscars & 3 Đề cử).

Phim “The Post” bao gồm ba câu chuyện chính. Chuyện chiến tranh Việt Nam, chuyện một người đàn bà can đảm và quan trọng nhất là chuyện tự do ngôn luận. Tựa của cuốn phim là tên cắt ngắn của nhật báo “The Washington Post”. Một trong những tờ nhật báo hàng đầu của miền Đông nước Mỹ đã lấy một quyết định vô tiền khoáng hậu khi bất chấp áp lực của Toà Bạch Ốc, in lại Hồ sơ Ngũ Giác Đài (Pentagon Papers) làm rung động nước Mỹ từ mùa Hè năm 1971 cho đến bây giờ, dưới thời đại “fake news” của Tổng thống Donald Trump đang cố gắng khuất phục một nền báo chí bất trị.

Chuyện thứ nhất về Hồ sơ Ngũ Giác Đài thì với người Việt Nam, 4000 trang của Hồ sơ về nguồn gốc và quá trình tham chiến của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam phải là chuyện quan trọng. Đạo diễn Spielberg cũng ý thức điều nầy khi ông bắt đầu phim bằng hình ảnh một cuộc hành quân bi thảm tại Hậu Nghĩa năm 1966. Kéo theo phản ứng của Daniel Ellsberg, một chuyên viên của Rand Corporation, khi làm việc trên Hồ Sơ Ngũ Giác Đài theo lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng Robert S. McNamara, đã khám phá những dối trá liên tục của 5 chính quyền Mỹ từ thời Tổng thống Truman đến Nixon.
Đáng chú ý nhất là sau khi lấy trộm Hồ sơ để công khai hoá qua báo chí, một nhà báo đã hỏi anh có biết sẽ có thể bị tù vì giải mật một tài liệu quốc gia không? Ellsberg đã trả lời không ngần ngại bằng lương tâm (“tấm lòng” của TCS) của một con người đầy nhân bản: “Nếu đi tù mà (chấm dứt chiến tranh) cứu được bao nhiêu mạng người thì cũng đáng”. Để làm rõ hơn tính chất dối trá của cuộc chiến, đạo diễn Spielberg còn sưu tầm và trình bày lại những đoạn diễn văn lừa bịp của các Tổng thống Eisenhower, Kennedy, Johnson mà bây giờ một người Việt Nam đã đọc qua Hồ sơ Ngũ Giác Đài không thể không thấy chua xót cho thân phận của hai nền Cộng Hoà của miền Nam Việt Nam, từ Tổng thống Diệm đến Tổng thống Thiệu, đã bị làm con cờ thí cho “đồng minh”. Trong năm 2017, tài liệu truyền hình “Chiến tranh Việt Nam” (The Vietnam War) của Ken Burns cũng đã trình bày rất cặn kẽ và rõ ràng bi kịch nầy của dân tộc ta.

Chuyện thứ hai về người đàn bà vai chính trong phim là Katharine “Kay” Graham (qua phần diễn xuất điêu luyện xứng đáng giải Oscar của Meryl Streep). Goá chồng năm 46 tuổi và phải thay chồng cầm đầu một tạp chí lớn. Tám năm sau, 1971, người đàn bà quý phái, mảnh mai đó phải lấy một quyết định sinh tử mang nặng hai hệ quả: Một là quay lưng lại với tình bạn cố cựu giữa gia đình bà và gia đình Tổng thống Lyndon B. Johnson và gia đình Bộ trưởng McNamara. Hai là chính bà và chủ bút Ben C. Bradlee có thể đi tù vì cãi lệnh toà án đang bị áp lực của chính quyền Nixon.
Trong cái thập niên 1960 hỗn loạn, bà “Kay” đã phải ra khỏi chốn khuê phòng để tương tác với những nhà tài phiệt lão luyện của Thị trường Chứng khoán Nữu Ước (NYSE) đã là một điều đáng khâm phục như một khởi đầu của phong trào phụ nữ bình quyền. Để thể hiện tư cách của bà chủ báo, cuốn phim cho thấy khi nghe nhân viên báo cáo một triệu rưỡi Mỹ kim tiền lời cho báo Washington Post, bà nói ngay: “Đó là lương của 25 ký giả giỏi” chứ không nói gì đến tài khoản ngân hàng của bà sẽ gia tăng. Cũng trong tinh thần đó, bà đã nói với chủ bút Bradlee: “Phẩm chất cũng có thể đi đôi với lợi nhuận”. Thật là ngược hẳn với nguyên tắc kinh tế của Trung Cọng bây giờ là hy sinh phẩm chất để đạt lợi nhuận. Năm 1971, sự nghiệp bà lên đến cao điểm tận cùng khi bà dựa vào lương tâm (“tấm lòng” của TCS), dựa vào sự nghiệp báo chí của cha và của chồng, dựa lên bổn phận của một người dân, để quyết định đăng lên báo Washington Post của bà những trang “Tối Mật” của Hồ sơ Ngũ Giác Đài. Đoạn phim đầy xúc động khi bà đến nhà cựu Bộ trưởng McNamara để, nhân danh là một người bạn, một bà mẹ, một người dân, một nhà báo, đặt thẳng câu hỏi: “Vì sao ông biết không thể thắng cuộc chiến từ năm 1965 mà ông vẫn tiếp tục gửi quân qua chiến trường Việt Nam?” Những biện hộ lúng túng của ông cựu Bộ trưởng trong căn nhà vắng vẻ chỉ có hai người cho ta thấy sự thật trần truồng của cuộc chiến bi thảm dài 20 năm đó, không có một “chính nghĩa” nào, một “lý tưởng tự do” nào, mà chỉ có quyền lợi nước Mỹ (“America First”) và thân phận bi thảm của những dân tộc nhược tiểu.

Chuyện cuối cùng và quan trọng nhất, vượt cả thời gian lẫn không gian, của phim “The Post” là cuộc tranh đấu bảo vệ tự do ngôn luận giữa báo chí và quyền lực nhà nước. Ngược lại với những trang sử đen tối của nước Mỹ trong cuộc Nội Chiến chống chế độ nô lệ  năm 1861 hay cuộc “thảm sát Mỹ Lai” năm 1968, những gì đã xảy ra tại Hoa Thịnh Đốn vào mùa Hè năm 1971 phải được coi là trang sử sáng láng nhất của nước Mỹ mà toàn thế giới phải tìm đọc và ráng học lại mỗi ngày. Phần nầy của phim giúp cho chúng ta hiểu vì sao “Tu chính Án số Một” của Hiến Pháp Hoa Kỳ phải là Số Một. Số đầu tiên. Số quan trọng nhất. Hãy cùng nhau đọc lại viên ngọc nầy: “Quốc Hội không được đưa ra bất kỳ luật nào để thiết lập tôn giáo, hoặc để cấm tự do tôn giáo; để giảm bớt quyền tự do ngôn luận, hoặc tự do báo chí; hoặc quyền người dân được tụ tập ôn hoà, và quyền kiến ​​nghị chính quyền phải giải quyết các khiếu nại.” (Congress shall make no law respecting an establishment of religion, or prohibiting the free exercise thereof; or abridging the freedom of speech, or of the press; or the right of the people peaceably to assemble, and to petition the Government for a redress of grievances).
Phân tích một cách cơ bản thì chính Đệ Nhất Tu Chính Án nầy là thành trì bảo vệ Đệ Tứ Quyền đã giúp kiểm soát, quân bằng và yểm trợ ba quyền Lập Pháp, Tư Pháp và Hành Pháp để nước Mỹ trở thành cường quốc như ngày hôm nay theo logic của một bài chính trị học đơn giản: Quốc gia nào cũng phải có một chính quyền. Chính quyền là sản phẩm của con người nên chính quyền nào cũng không hoàn toàn, phải có lỗi lầm, sai trái (bugs in each and every system). Muốn sửa sai trái thì phải biết có sai trái và sai trái như thế nào. Sau khi sửa sai chính quyền mới có thể có tiến bộ. Trong tiến trình chính trị nầy, báo chí lãnh trách nhiệm nặng nề nhất. Đó là dùng quyền tự do ngôn luận để giúp cho chính quyền “biết có sai trái và sai trái như thế nào”.

Chính vì ý thức được tầm quan trọng căn bản đó mà Katharine Graham và Chủ bút Ben Bradlee (với sự hổ trợ tích cực của các ký giả như Meg Greenfield, Ben Bagdikian) đã đứng đầu sóng ngọn gió để vượt qua áp lực chính trị của Tổng thống Nixon, vượt qua áp lực kinh tế của các chủ ngân hàng. Và chính nghĩa của họ đã “tất thắng” chói lọi khi gần 20 nhật báo lớn khác của Mỹ đoàn kết theo gương tờ Washington Post để cùng trích đăng Hồ sơ Ngũ Giác Đài, và nhất là khi Toà Án Tối Cao Liên Bang đã phán quyết bầu thuận cho tờ Post qua đa số phiếu 6-3.
Điều phải nói thêm là cuốn phim cho thấy quyết định xử dụng quyền tự do báo chí của bà chủ nhân Graham và chủ bút Bradlee là một quyết định đầy ý thức trách nhiệm. Trách nhiệm với quốc gia, với dân tộc, dựa trên một quá khứ cách mạng chống thực dân Anh và dựa vào một tin tưởng ở tương lai dân chủ, thịnh vượng của nước Mỹ.
Vì vậy mà giá trị, đáng mua cái vé 6 đồng, của phim “The Post” là đã vẽ được một cách sinh động một kinh nghiệm huy hoàng trong lịch sử nước Mỹ mà người dân Mỹ có thể hãnh diện nhất. Và đó cũng là một bài học về tôn trọng tự do ngôn luận mà nhà nước Việt Nam (và rất nhiều nước khác) phải cho trình chiếu rộng rãi cho đại chúng, và phải học mỗi ngày bằng cách bắt buộc tất cả cán bộ phải xem phim “The Post” mỗi buổi sáng.

LÝ NGUYÊN DIỆU
Đầu năm 2018


                                                                                        

Thứ Năm, 11 tháng 1, 2018


LỊCH SỬ CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM TRONG 999 CHỬ
Sưu tầm và Tổng kết của Kevin Trần

 
Hình bìa số Xuân Canh Tý (1960) của báo Tự Do xuất bản tại Sài Gòn, đăng hình của Họa sĩ Nguyễn Gia Trí, vẽ 5 con chuột gậm nhắm trái dưa hấu, hàm ý tố cáo 4 anh em nhà Ngô (Thục, Diệm, Nhu, Cẩn) và bà Trần Lệ Xuân đang đục khoét miền Nam.  Vừa phát hành, báo tức khắc bị tịch thu, tòa soạn bị đóng cửa và Ban chủ trương bị bắt đi tù.

<START> "Họ Ngô có 4 gian hùng / Diệm ngu, Nhu ác, Cẫn khùng, Thục điên": Đó là câu vè  tại miền Trung vào những năm 1960s của thế kỷ trước. Câu vè đó mô tả nhân cách của 4 người đàn ông dòng họ Ngô Đình đã từng một thời là cấp lãnh đạo chóp bu của miền Nam Việt Nam với ông Ngô Đình Diệm làm Tổng thống. Ông Diệm được Mỹ "bồng" về làm Tổng thống bằng một cuộc bầu cữ gian lận năm 1955 (98.2% số phiếu thắng vua Bảo Đại) để biến miền Nam thành tiền đồn chống Cộng cho Tài phiệt Mỹ và để làm công cụ cho Đế quốc Vatican mở mang nước Chúa.
Bốn “bà mụ” Mỹ đã nuôi và bồng ông Diệm về Việt Nam là Hồng y Spellman, Ngoại trưởng Dulles, Thượng nghị sĩ Mansfield và trùm tình báo Lansdale. Không có họ đở đầu và giúp đở, ông Diệm đã chỉ là một anh chính khách xa-lông “bao năm từng lê gót nơi quê người” như câu đầu của bài hát Suy Tôn Ngô Tổng Thống mô tả mà thôi. Chính nhờ họ mà kinh viện, quân viện và "cố vấn" Mỹ đổ ào ạt vào miền Nam, giúp chế độ ông Diệm đạt được một số thành quả kinh tế xã hội trong vài năm đầu tiên …

Tuy nhiên, đến cuối năm 1959, ông Diệm bắt đầu thiết lập chế độ độc tài với 3 gọng kềm: Gia đình trị, Công giáo trịCông an trị; và đén năm 1960 thì ông Diệm bắt đầu trở thành bù nhìn, để cho ông bà Nhu thao túng quyền lực quốc gia. Vì vậy mà trong 8 năm bạo trị, quân dân miền Nam đã nỗi lên chống đối kịch liệt 8 lần, hầu như mỗi năm một lần: Vụ thảm sát Quốc Dân Đảng tại chiến khu Ba Lòng 1955, vụ mưu sát Ban Mê thuột 1957, vụ Tuyên ngôn Caravelle 1960, vụ binh biến của binh chủng Nhảy Dù 1960, vụ ném bom Dinh Độc lập 1962, vụ tự vẩn của văn hào Nhất Linh 1963, vụ đàn áp Phật Giáo 1963. Đó là chưa kể đông đảo nhân dân miền Nam vì bất mãn với chế độ Diệm nên đã theo ủng hộ "Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam" chống lại chính quyền. Cuối cùng, lần thứ 8 vào năm 1963, đã độc tài bạo trị mất lòng dân như thế, Diệm-Nhu lại còn mưu đồ thỏa hiệp với Cọng sản Hà Nội, phản lại Hiến Pháp Việt Nam Cọng hòa, phản lại gần một triệu đồng bào Công giáo Bắc di cư 1954, phản lại chiến lược chống Cọng của chủ nhân Mỹ, và phản lại biết bao hy sinh xương máu của Quân đội VNCH đã bỏ mạng ngoài chiến trường. Phản như thế nên bị lật đổ là đáng rồi, là đúng rồi!

Thế mà nhóm "hoài Ngô" lại bảo là vì Diệm chống Mỹ đổ quân vào VN nên bị Mỹ lật!!! Thật ra, năm 1963, sau thất bại thê thảm vụ Vịnh Con Heo (1961, Cuba) và trước thềm cuộc tranh cử Tổng thống (1964), Kennedy đã không những không muốn một cuộc phiêu lưu quân sự đầy bất trắc tại Việt Nam (chắc chắn làm mất phiếu) mà còn quyết định, từ tháng 10/1963, sẽ rút hết quân Mỹ về nước vào năm 1965, chỉ để lại 1,000 “cố vấn” (National Security Action Memorandum số 263, ngày 11-10-1963, Xem thêm Hồ Sơ Mật 1963).  Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã gói ghém quan hệ Mỹ-Diệm trong một câu: “Bảo là người Mỹ đã giết Diệm? Không! Diệm đã chết trong lòng dân tộc từ lâu. Mỹ chỉ đến lượm xác chết của y” (Người Việt Đáng Yêu, Sáng Tạo, Sài Gòn, 1965)
Phóng ảnh Bản Ghi nhớ NSAM 263, ngày 11-10-1963

Chế độ gia đình trịCông giáo trị đã bị nhân dân miền Nam quẳng vào hố rác lịch sử năm 1963. Từ lăng kính văn hóa dân tộc, dòng họ Ngô Đình còn bị luật nhân quả báo ứng: Ngô Đình KhôiNgô Đình Huân bị Việt Minh thủ tiêu ở Huế, mộ phần Ngô Đình Khả bị sét đánh ở Thừa Thiên, Ngô Đình Diệm Ngô Đình Nhu bị bắn chết trong thiết vận xa, Ngô Đình Cẩn bị hành hình ở pháp trường Sài Gòn, Giám mục Ngô Đình Thục từng bị Giáo hoàng dứt phép thông công, Ngô Đình Lệ ThủyNgô Đình Lệ Quyên bị tai nạn giao thông chết thảm ở Âu châu, Cha mẹ bà Nhu bị con là Trần Văn Khiêm hạ thủ giết chết ở Mỹ... Có gia đình dòng họ nào vô phước như thế không??? Phải là đại gian đại ác, giết người hại dân quá nhiều, theo cái đạo gì mà chối bỏ cả Tổ tiên và chi mắng cả Trời Phật ... mới bị như vậy!

Thời gian đã trôi qua hơn nửa thế kỷ, bao nhiêu nước đã chảy qua cầu, bao nhiêu tài liệu đã được giải mật … thế mà tàn dư Ngô triều vẫn tìm cách xuyên tạc lịch sử, mạo hóa chứng cớ để rửa mặt cho một gia đình nhân bất nhân bất nghĩa. Và nhóm "Cần lao Công giáo" thì đang dựng lại xác chết Diệm-Nhu để cho Vatican phong Thánh Tử đạo hầu phục vụ cho những mưu đ chính trị tương lai…
Hừm! Bàn tay lông lá của Vatican ghê gớm thật, huy động “cán bộ áo đen” lừa bịp được cả thành phần “sĩ phu Bắc Hà” ở trong nước và lớp “Mỹ con mới lớn” ở ngoài nước, vốn bị mù về lịch sử nên cả tin về một “lá bài Ngô Đình Diệm” ba đời làm Việt gian theo giặc, nay mong sẽ được Mỹ và Vatican bảo kê lên cầm quyền!  <END>

Kevin Trần sưu tầm và tổng hợp.
California, 2/2018

● PHỤ LỤC MỘT: Bốn “Bà mụ” tôn giáo-chính trị Mỹ năn ra và cưu mang chế độ Diệm


Từ trái: Francis Spellman (1889-1967) Hồng y trong quân phục Tổng Tuyên úy –  John Foster Dulles (1888-1959), Ngoại trưởng trong nội các TT Eisenhower – Mike Mansfield (1903-2001), Chủ tịch khối Đa số Thượng viện – Edward Lansdale (1908-1987), Đại tá Không quân làm tình báo  bên cạnh CIA.

PHỤ LỤC HAI: Từ năm 1960, bản chất độc tài của chế độ Diệm bắt đầu lên đến đỉnh điểm nên quân dân miền Nam bắt đầu đáp trả và thách thức quyền lực của gia đình họ Ngô.
Từ trái: 26-4-1960, Trang 6 của Tuyên Ngôn Caravelle, liệt kê tên của 18 nhân sĩ từ nhiều khuynh hướng chính trị, cảnh báo ông Diệm về tình hình nguy kịch của miền Nam để đòi cải tổ cấp lãnh đạo –  11-11-1960, dân chúng thủ đô biểu tình “Đã đảo Chế độ Gia đình trị Ngô Đình Diệm” để ủng hộ binh chủng Nhảy Dù làm đảo chánh chế độ Diệm – 27-2-1962,  hai Trung úy Phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cữ ném bom cánh trái Dinh Độc Lập nhằm mưu sát ông Diệm, vợ chồng ông Nhu và Giám mục Thục.     
     
PHỤ LỤC BA: Năm 1963, năm oan trái của chế độ. 
Từ trái:  8-5-1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối và cảnh tỉnh ông Diệm hầu xin bình đẳng với Công giáo (Một tôn giáo với số tín đồ gần 80% dân số  lại xin được bình đẳng với một tôn giáo mà tín đồ không đến 10% dân số!!!) – 7-7-1963, Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam uống thuốc độc tự vẩn, để lại chúc thư: “Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội những phần tử quốc gia đối lập là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản. Vì thế tôi tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu là để cảnh cáo những ai chà đạp mọi thứ tự do." – Tháng 10-1963: Đêm 20-8, Ngô Đình Nhu tung chiến dịch “Nước Lũ”, dùng Cảnh sát Dã chiến tổng tấn công chùa chiền trên 16 tỉnh miền Nam, bắt giam hơn 1,400 Tăng Ni tại Sài Gòn. Cấp lãnh đạo Phật giáo hoàn toàn tê liệt nên đến phiên đảng phái chính trị, trí thức và học sinh sinh viên Sài Gòn thay Phật giáo đồ xuống đường tiếp tục đấu tranh. Diệm-Nhu điên cuồng cho Mật vụ và Cảnh sát đánh đập, bắt giam và chở về nhốt tại Quân lao Gò Vấp và Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.  

PHỤ LỤC BỐN: Ngày tàn của một chế độ Ngược Lòng Dân, Phản Thời Đại.
Từ trái: Chiều 2-11-1963, đông đảo người dân thủ đô Sài Gòn biểu tình trên đại lộ Thống Nhất (bây giờ là Lê Duẫn) để “… nhiệt liệt ủng hộ cuộc Cách mạng của Quân Đội” (banderole). –    Sáng 3-11-1963, Dân chúng hân hoan tập hợp đông đảo (Jubiliant crowds) trước Thương xá Tax hô to các khẩu hiệu (shout slogans) mừng chiến thắng. – Ngày 3-11-1963, trong lúc chiến hạm HQ401 chở hơn 300 tù nhân chính trị (bị giam ở nhà tù Côn Sơn) được phóng thích sắp trở về thì tại Bến Bạch Đắng, sinh viên kéo giựt sập tượng Hai Bà Trưng, vốn bị ra lệnh phải tạc giống hình hai mẹ con bà Nhu.     



Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2018


 TRUNG QUỐC vs MỸ
(China vs America)
Foreign Affairs, Sept-Oct 2017

Quản lý cuộc xung đột kế tiếp giữa các nền văn minh
Graham Allison
(Người dịch: Huỳnh Hoa)  

Khi người Mỹ  tỉnh ngộ trước một Trung Quốc đang trỗi dậy và giờ đây đang đối địch với Mỹ trên mọi đấu trường, nhiều người đã tự trấn an bằng niềm tin rằng khi Trung Quốc trở nên giàu có hơn, hùng mạnh hơn thì nước này sẽ đi theo dấu chân của Đức, Nhật và nhiều nước khác từng trải qua những cuộc chuyển hóa sâu sắc và nổi lên thành những nền dân chủ tự do tiên tiến. Theo cách nhìn này, một hỗn hợp kỳ diệu của toàn cầu hóa, chủ nghĩa tiêu dùng dựa trên thị trường và sự hội nhập vào một trật tự thế giới dựa trên luật lệ cuối cùng sẽ đưa Trung Quốc trở thành một nền dân chủ ở trong nước và phát triển thành cái mà cựu thứ trưởng ngoại giao Mỹ Robert Zoellick có lần gọi là “một cổ đông có trách nhiệm” ở nước ngoài.
Samuel Huntington không đồng ý như vậy. Trong tiểu luận “Sự xung đột giữa các nền văn minh” (“The Clash of Civiliztions?”xuất bản trên tạp chí Foreign Affairs năm 1993, nhà khoa học chính trị này cho rằng, những đường đứt gãy về văn hóa chẳng những không bị hòa tan vào cái trật tự thế giới có tính tự do toàn cầu mà còn có khả năng trở thành một đặc điểm xác định thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh. Ngày nay, lập luận của Huntington được nhớ tới chủ yếu vì tính tiên tri của nó, soi chiếu sự phân cách giữa “các nền văn minh phương Tây và Hồi giáo” - một sự tách biệt được biểu lộ sinh động nhất bởi những cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 và hậu quả của chúng. Nhưng Huntington còn nhìn thấy vực thẳm ngăn cách giữa văn minh phương Tây do Mỹ dẫn dắt và nền văn minh Trung Hoa cũng sâu rộng, kéo dài và gây ra hậu quả tương tự. “Bản thân ý niệm rằng có một ‘nền văn minh phổ quát’ là ý tưởng của phương Tây, nó mâu thuẫn trực tiếp với chủ nghĩa đặc thù (particularism) của phần lớn các xã hội châu Á và sự nhấn mạnh vào những gì phân biệt dân tộc này với dân tộc khác”, ông khẳng định.      

Từ bấy đến nay năm tháng đã ủng hộ nhận định của Huntington. Những thập niên sắp tới sẽ càng củng cố nó thêm nữa. Mỹ là hiện thân của những gì mà Huntington coi là nền văn minh phương Tây. Và căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc về hệ giá trị, truyền thống và triết lý sẽ làm trầm trọng thêm sự căng thẳng có tính chất nền tảng xảy ra khi một thế lực đang lên, chẳng hạn như Trung Quốc, đe dọa thay thế vị trí của một thế lực đã được thiết lập, chẳng hạn như Mỹ.

Lý do mà những sự chuyển dịch như vậy thường dẫn tới xung đột chính là cái bẫy Thucydides - được đặt theo tên một sử gia Hy Lạp cổ đại, người đã ghi nhận một xung đột nguy hiểm giữa một Athens đang nổi lên với một Sparta đang cai trị. Theo Thucydides, “chính sự trỗi dậy của Athens và mối lo sợ mà điều đó gây ra ở Sparta đã làm cho chiến tranh là không thể tránh khỏi”. Các cường quốc đang lên có ý thức ngày càng mạnh mẽ về quyền lực và đòi hỏi một ảnh hưởng lớn hơn, một sự tôn trọng lớn hơn. Đối mặt với những kẻ thách thức như vậy, các cường quốc đã định hình có khuynh hướng sợ hãi, bất an và phòng thủ. Trong một môi trường như vậy, mọi sự hiểu lầm sẽ được phóng đại, sự đồng cảm trở nên hiếm hoi, những sự cố và hành động của một bên thứ ba nào đó, lẽ ra chỉ là chuyện vặt hoặc có thể xử lý được, lại có thể kích hoạt chiến tranh mà những tay chơi chủ chốt không bao giờ muốn xảy ra.

Trong trường hợp của Mỹ và Trung Quốc, những rủi ro của chiếc bẫy Thucydides kết hợp với tính không tương hợp về văn minh giữa hai quốc gia càng làm cuộc tranh đua thêm trầm trọng và càng khó đạt tới một tình hữu nghị thật sự. Rất dễ nhìn thấy sự bất cân xứng này ở những khác biệt sâu sắc giữa quan niệm của Mỹ và của Trung Quốc về bản chất của nhà nước, kinh tế học, vai trò của cá nhân, quan hệ giữa các quốc gia dân tộc và bản chất của thời gian.
Người Mỹ  coi nhà nước như là một “cái xấu cần thiết” và tin rằng, nhà nước có khuynh hướng trở nên độc tài và lạm dụng quyền lực, một khuynh hướng đáng sợ và cần được chế ngự. Đối với người Trung Quốc, nhà nước là một “cái tốt cần thiết”, là trụ cột căn bản bảo đảm trật tự và ngăn ngừa hỗn loạn. Trong chủ nghĩa tư bản định hướng thị trường kiểu Mỹ , chính phủ thiết lập và thực thi luật pháp; quyền sở hữu của nhà nước và sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế đôi khi vẫn xảy ra nhưng chỉ là những ngoại lệ không mong muốn. Trong nền kinh tế thị trường do nhà nước kiểm soát của Trung Quốc, chính phủ thiết lập các mục tiêu tăng trưởng, lựa chọn và trợ cấp để các ngành công nghiệp phát triển, xây dựng các công ty hàng đầu quốc gia và thực hiện các dự án kinh tế quan trọng, dài hạn để thúc đẩy quyền lợi của đất nước.

Văn hóa Trung Quốc không tôn vinh chủ nghĩa cá nhân kiểu Mỹ  vốn đo lường xã hội theo tiêu chuẩn xã hội đó có làm tốt hay không việc bảo vệ quyền lợi và nuôi dưỡng tự do của cá nhân. Thay vì vậy, thuật ngữ “cá nhân” (gerenzhuyi - cá nhân chủ nghĩa) trong tiếng Trung Quốc có hàm ý là thiên kiến ích kỷ chỉ biết tới bản thân mình hơn là quan tâm tới cộng đồng. Với người Trung Quốc, câu nói “cho tôi tự do hoặc cho tôi án tử” sẽ trở thành “cho tôi một cộng đồng hài hòa hoặc cho tôi cái chết”. Đối với Trung Quốc, trật tự là giá trị cao nhất và sự hài hòa sẽ sinh ra từ tôn ti trật tự, trong đó mọi thành viên phải tuân thủ lời dạy đầu tiên của Khổng Tử: “Hãy tự biết mình”.

Quan điểm này không chỉ áp dụng cho xã hội trong nước mà cả cho các hoạt động toàn cầu, mà người Trung Quốc nghĩ rằng vị trí đúng đắn của Trung Quốc là ở trên đỉnh của kim tự tháp, các quốc gia khác phải được sắp xếp như là những nước chư hầu phụ thuộc. Quan điểm của Mỹ  thì hơi khác. Ít nhất là từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, Washington luôn tìm cách ngăn chặn sự trỗi dậy của một “đối thủ cạnh tranh cùng trang lứa” có thể thách thức sự thống trị về quân sự của Mỹ. Nhưng những quan niệm của Mỹ  thời hậu chiến về trật tự quốc tế cũng luôn nhấn mạnh vào nhu cầu có một hệ thống toàn cầu vận hành theo luật lệ có khả năng chế ngự ngay chính Mỹ.

Cuối cùng, người Mỹ  và người Trung Quốc nghĩ về thời gian và trải nghiệm sự trôi đi của thời gian theo những cách khác nhau. Người Mỹ có khuynh hướng tập trung vào hiện tại và thường đếm thời gian theo ngày hoặc theo giờ. Người Trung Quốc trái lại thường bận tâm tới lịch sử và thường suy nghĩ theo từng thập niên, thậm chí theo từng thế kỷ.
Tất nhiên, đây là những sự khái quát hóa chung chung được tóm gọn và không phản ánh đầy đủ tính chất phức tạp của xã hội Mỹ  và Trung Quốc. Nhưng chúng cũng cung cấp một số gợi ý quan trọng mà các nhà hoạch định chính sách ở cả Mỹ và Trung Quốc cần lưu ý trong việc xử lý cuộc cạnh tranh sao cho không dẫn tới chiến tranh.

Ta là số một!
Những dị biệt văn hóa giữa Mỹ và Trung Quốc đang bị làm trầm trọng thêm bởi một đặc điểm đáng chú ý mà cả hai bên đều chia sẻ: mặc cảm cực kỳ siêu việt. Mỗi nước đều tự thấy mình như một ngoại lệ - nghĩa là vô đối, không có ai cùng hạng. Nhưng chỉ có một con số một mà thôi. Lý Quang Diệu, vị thủ tướng quá cố của Singapore, từng nghi ngờ khả năng của Mỹ có thể thích nghi với một Trung Quốc đang trỗi dậy. “Về mặt cảm xúc, thật rất khó chấp nhận việc Mỹ bị thay thế, không phải trên thế giới mà chỉ trong vùng tây Thái Bình Dương, bằng một dân tộc châu Á từ lâu bị khinh rẻ, bị coi là suy đồi, yếu ớt, tham nhũng và lạc hậu... Ý thức về uy thế văn hóa của người Mỹ  càng làm cho sự thích nghi trở nên khó khăn bội phần”, ông Lý nói trong một cuộc phỏng vấn năm 1999.

Tuy vậy, về nhiều phương diện, chủ nghĩa biệt lệ (exceptionalism) của Trung Quốc còn có ảnh hưởng sâu rộng hơn nhiều so với đối tác Mỹ. “Đế quốc [Trung Hoa] tự coi mình là trung tâm của vũ trụ văn minh,” sử gia Harry Gelber viết như vậy trong cuốn sách Nations Out Of Empires xuất bản năm 2001. Suốt thời kỳ quân chủ chuyên chế, “các học giả-quan chức Trung Hoa thường không nghĩ về một ‘Trung Hoa’ hoặc ‘nền văn minh Trung Hoa’ theo ngữ nghĩa hiện nay. Đối với họ, chỉ có dân tộc Hán và ngoài họ ra thì chỉ còn những kẻ man di (barbarism). Những gì không văn minh, theo định nghĩa, đều là man di.”

Ngày nay, người Trung Quốc vẫn rất hãnh diện về những thành tựu văn minh của mình. “Đất nước chúng ta là đất nước vĩ đại”, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố trong một bài diễn văn năm 2012. “Trong suốt quá trình văn minh hóa và phát triển kéo dài hơn 5.000 năm, dân tộc Trung Hoa đã có những đóng góp không thể phủ nhận được vào nền văn minh và sự tiến bộ của loài người”, ông Tập nói. Thật vậy, trong cuốn sách xuất bản năm 2014 của mình, The Governance of China, ông Tập tuyên bố rằng “Nền văn minh liên tục của Trung Quốc là một thành tựu độc đáo của lịch sử nhân loại, trên trái đất không gì sánh nổi”.

Người Mỹ  cũng tự nhìn mình như là người tiên phong của văn minh, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển chính trị. Niềm say mê tự do đã được trân trọng khắc ghi trong văn bản cốt lõi của tư tưởng chính trị Mỹ, bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố “mọi người sinh ra đều bình đẳng, Tạo hóa cho họ những quyền không thể xâm phạm được”. Những quyền đó, bản Tuyên ngôn xác định, là “quyền Sống, quyền Tự do và quyền Mưu cầu Hạnh phúc”. Bản Tuyên ngôn cũng khẳng định đây là sự thật “hiển nhiên”, không phải bàn cãi. Như nhà viết sử Mỹ Richard Hofstadter viết: “Định mệnh của chúng ta, với tư cách một dân tộc, không phải là có những hệ tư tưởng, mà là một hệ tư tưởng”. Trái lại, giá trị chính trị trung tâm của Trung Quốc là trật tự - trật tự sinh ra từ hệ thống tôn ti, thang bậc. Tự do cá nhân, theo cách hiểu của người Mỹ , sẽ phá hủy tôn ti trật tự; và theo quan điểm của người Trung Quốc, nó sẽ kích hoạt hỗn loạn.

Làm như tôi nói... và như tôi làm?          
Những sự dị biệt về triết lý này sẽ thể hiện trong quan niệm của mỗi nước về chính phủ. Mặc dù có nỗi hoài nghi sâu sắc đối với quyền lực, các nhà lập quốc Mỹ vẫn công nhận rằng, xã hội cần có chính quyền. Nếu không thì ai sẽ bảo vệ các công dân khỏi những mối đe dọa của ngoại bang hoặc của bọn tội phạm vi phạm quyền của họ ở trong nước? Tuy nhiên, các nhà lập quốc bị vướng vào một nan đề: một chính phủ mạnh đủ để thực hiện các nhiệm vụ thiết yếu của mình sẽ có xu hướng trở nên chuyên chế và bạo ngược. Để xử lý thách thức này, họ thiết kế ra một chính phủ có “các định chế riêng biệt cùng chia sẻ quyền lực,” như miêu tả của nhà sử học Richard Neustadt. Kiểu chính phủ này cố tình tạo ra cuộc ganh đua thường xuyên giữa các nhánh hành pháp, tư pháp và lập pháp, dẫn tới sự trì hoãn, bế tắc, thậm chí rối loạn chức năng của chính phủ. Nhưng nó cũng tạo ra cơ chế kiểm tra và cân bằng, chống lại sự lạm dụng quyền lực.

Quan niệm của Trung Quốc về chính quyền và vai trò của chính quyền trong xã hội thì rất khác. Theo ghi nhận của ông Lý, “Lịch sử và văn hóa của nước này cho thấy khi nào có một trung tâm quyền lực hùng mạnh (Bắc Kinh hoặc Nam Kinh) thì đất nước hòa bình và thịnh vượng. Khi trung tâm bị suy yếu thì các tỉnh, các huyện rơi vào tay của các lãnh chúa”. Như vậy, kiểu chính phủ trung ương hùng mạnh mà người Mỹ  chống lại thì đối với người Trung Quốc lại là một nhân tố chủ yếu để duy trì trật tự và lợi ích công cộng, ở cả trong nước và nước ngoài.

Đối với người Mỹ , dân chủ là hình thức công bằng duy nhất của chính quyền: quyền cai trị thoát thai từ tính chính danh (legitimacy), từ sự ưng thuận của người dân bị cai trị. Đây không phải là quan niệm phổ biến ở Trung Quốc, nơi người ta thường tin rằng, chính phủ có được hoặc đánh mất tính chính danh chính trị tùy thuộc vào kết quả điều hành. Tại một diễn đàn TED Talk gây nhiều tranh cãi năm 2013, một nhà đầu tư tài chính tại Thượng Hải là Eric Li đã thách thức cái gọi là tính ưu việt của thể chế dân chủ. “Có lần người ta hỏi tôi, ‘Đảng [Cộng sản Trung Quốc] không được bầu lên qua bầu cử. Thế thì đâu là cội nguồn của tính chính danh?’, ông kể lại. “Tôi nói: ‘Thế năng lực thì sao?’”. Ông nhắc nhở khán giả rằng năm 1949, khi đảng Cộng sản Trung Quốc lên nắm quyền, “Trung Quốc tan hoang vì nội chiến, bị các thế lực xâm lược nước ngoài chia năm xẻ bảy, và tuổi thọ trung bình của người dân lúc ấy chỉ là 41 tuổi. Ngày nay [Trung Quốc] là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, một cường quốc công nghiệp và nhân dân ngày càng giàu có”.

Washington và Bắc Kinh cũng có những cách tiếp cận khác nhau rõ ràng khi  quảng bá các giá trị chính trị nền tảng của họ ra quốc tế. Người Mỹ  tin rằng nhân quyền và dân chủ là những khát vọng có tính phổ quát cho mọi dân tộc, cho nên mô hình của Mỹ cần được thực hiện ở khắp nơi. Mỹ, như Huntington viết trong cuốn sách kế tiếp của ông, The Clash of Civilisations, là “một dân tộc truyền giáo”, được thôi thúc bởi niềm tin “rằng các dân tộc ngoài Tây phương nên tự gắn bó với các giá trị Tây phương và nên tích hợp các giá trị này vào các định chế của họ.” Đa số người Mỹ  tin rằng các quyền dân chủ đem lại lợi ích cho mọi người, ở mọi nơi trên thế giới.

Nhiều thập niên qua, Washington đã theo đuổi một chính sách ngoại giao tìm cách thúc đẩy nguyên tắc dân chủ - thậm chí đôi khi họ gắng áp đặt nó lên những xã hội đã thất bại trong việc tự xây dựng dân chủ. Trái lại, mặc dù người Trung Quốc tin rằng, các dân tộc khác đang nhìn họ, thán phục những thành công của họ, và thậm chí cố gắng bắt chước hành vi của họ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã không khuyến khích người khác đi theo cách tiếp cận của mình. Như nhà ngoại giao kỳ cựu của Mỹ  Henry Kissinger có lần lưu ý: Trung Quốc đế quốc “không xuất khẩu các ý tưởng của mình mà để người khác tự tìm đến chúng”. Và do đó không nên ngạc nhiên khi thấy các nhà lãnh đạo Trung Quốc luôn hoài nghi sâu sắc những nỗ lực của Mỹ nhằm cải hóa họ theo tín điều của người Mỹ. Vào cuối thập niên 1980, Đặng Tiểu Bình - người lãnh đạo Trung Quốc từ năm 1978 đến 1989 và khởi động tiến trình tự do hóa kinh tế của nước này - than phiền với một chính khách đang viếng thăm Trung Quốc lúc ấy rằng phương Tây nói về “nhân quyền, tự do và dân chủ được thiết kế chỉ để bảo vệ quyền lợi của các nước mạnh và giàu có, những nước lợi dụng sức mạnh để dọa nạt các nước yếu kém, để theo đuổi bá quyền và thực hành chính trị sức mạnh”.

Nghĩ nhanh và nghĩ chậm
Ý thức của người Mỹ  và người Trung Quốc về quá khứ, hiện tại và tương lai có sự khác biệt căn bản. Người Mỹ  tự hào chào mừng nước mình chuyển sang tuổi 214 hồi tháng Bảy; còn người Trung Quốc thích nhắc nhở rằng, lịch sử của nước họ trải dài tới 5 thiên niên kỷ. Các nhà lãnh đạo Mỹ thường đề cập tới “những cuộc thử nghiệm của Mỹ ” và những chính sách đôi khi có vẻ ngẫu hứng của họ phản ánh tâm thế đó. Trung Quốc, trái lại, tự thấy mình như cột trụ cố định của vũ trụ, nó đã luôn như thế và cũng sẽ luôn như thế.
Nhờ ý thức về thời gian được mở rộng, các nhà lãnh đạo Trung Quốc rất cẩn thận khi phân biệt cái “ác tính” với cái “mãn tính”, cái “khẩn cấp” với cái chỉ “quan trọng”. Thật khó hình dung một nhà lãnh đạo chính trị Mỹ có thể đề nghị xếp lại một vấn đề chính sách đối ngoại quan trọng để chờ thế hệ sau giải quyết. Tuy nhiên, ông Đặng đã làm đúng như vậy năm 1979 khi ông dẫn đầu phía Trung Quốc trong các cuộc đàm phán với Nhật Bản về nhóm đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư và chấp nhận một giải pháp cuối cùng hơn là một giải pháp trước mắt cho vụ tranh chấp.

Tỏ ra ngày càng nhạy cảm với nhu cầu của vòng xoáy truyền thông và dư luận của công chúng, các chính trị gia Mỹ sử dụng mạng Twitter hoặc công bố chính sách theo kiểu gạch đầu dòng hứa hẹn sẽ có giải pháp nhanh chóng. Ngược lại, các nhà lãnh đạo Trung Quốc thì nhẫn nại hơn về mặt chiến lược: chừng nào các xu hướng vẫn còn chuyển động theo hướng có lợi cho họ thì họ thoải mái chờ cho vấn đề trôi qua. Người Mỹ  nghĩ mình là người giải quyết vấn đề. Cái chủ nghĩa ăn non của người Mỹ  thể hiện ở chỗ họ luôn nhìn thấy vấn đề là những việc riêng lẻ, hữu hạn cần giải quyết ngay bây giờ để chuyển sang các vấn đề khác. Nhà văn và sử gia Mỹ  Gore Vidal có lần gọi nước ông là “Hợp chủng quốc chóng quên” (the United States of Amnesia, thay vì the United States of America) - nơi mà mỗi ý tưởng là một sự canh tân và mỗi cuộc khủng hoảng đều chưa có tiền lệ. Điều này tương phản sâu sắc với ký ức lịch sử và ký ức cộng đồng của người Trung Quốc - những người cho rằng dưới ánh mặt trời thì không có gì mới mẻ cả.

Thật vậy, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có khuynh hướng tin rằng nhiều vấn đề không thể giải quyết được mà chỉ có thể quản lý chúng. Họ nhìn các thách thức như là các vấn đề dài hạn, lặp đi lặp lại - những vấn đề mà họ phải đối mặt hôm nay là kết quả những quá trình đã diễn ra trong năm ngoái, trong thập niên trước hoặc thậm chí trong thế kỷ trước. Các hành động chính sách họ thực hiện hôm nay chỉ đơn giản là góp phần vào cái tiến trình đó. Ví dụ, từ năm 1949, Đài Loan đã được cai trị bởi cái mà Bắc Kinh gọi là những người dân tộc chủ nghĩa Trung Hoa phản bội. Mặc dù các nhà lãnh đạo Trung Quốc luôn nhấn mạnh rằng Đài Loan vẫn là một bộ phận không tách rời của Trung Quốc song họ theo đuổi một chiến lược trường kỳ, áp dụng việc siết chặt dần các mối ràng buộc về kinh tế và xã hội để thu hút hòn đảo này trở về.

Ai là ông chủ?
Cuộc xung đột về văn minh gây khó khăn lớn nhất cho Washington và Bắc Kinh khi tìm cách thoát khỏi chiếc bẫy Thucydides lại nổi lên từ các quan điểm đang cạnh tranh giữa hai bên về trật tự thế giới. Cách đối xử của Trung Quốc với dân chúng của mình cung cấp một kịch bản để hiểu quan hệ giữa Bắc Kinh với các nước láng giềng nhỏ hơn và yếu hơn. Đảng Cộng sản Trung Quốc duy trì trật tự bằng cách cưỡng đặt một hệ thống tôn ti trật tự có tính chất chuyên chế, đòi hỏi dân chúng của họ phải tôn kính và tuân phục. Hành vi của Trung Quốc trên trường quốc tế cũng phản ánh các kỳ vọng tương tự về trật tự thế giới: trong một khoảnh khắc bất ngờ tại hội nghị Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Asean) ở Hà Nội năm 2010, đáp lại những lời than phiền về sự hung hăng của Trung Quốc ngoài Biển Đông, bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc lúc đó là Dương Khiết Trì (Yang Jiechi) đã nói thẳng với những người đồng nhiệm khu vực và ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton rằng “Trung Quốc là một nước lớn, các nước khác là nước nhỏ và đó là một thực tế”.

Trái lại, các nhà lãnh đạo Mỹ mong muốn một hệ thống pháp quyền quốc tế (international rule of law) về căn bản phản ánh rõ ràng pháp quyền nội bộ của Mỹ (U.S. domestic rule of law). Nhưng đồng thời, họ cũng ý thức được thực tế quyền lực trong khu rừng toàn cầu kiểu Hobbesian (*), ở đó làm sư tử bao giờ cũng tốt hơn làm cừu non. Washington thường cố gắng dung hòa mâu thuẫn này qua việc miêu tả một thế giới trong đó Mỹ là một kẻ bá quyền nhân hậu, hành động như một nhà lập pháp của thế giới, một cảnh sát viên, một quan tòa...

Washington thôi thúc các cường quốc khác hãy chấp nhận cái trật tự quốc tế dựa trên luật pháp mà trong đó Mỹ đang ngự trị. Nhưng dưới mắt người Trung Quốc, có vẻ như người Mỹ  làm ra luật và các nước khác phải tuân theo mệnh lệnh của Washington. Đại tướng Martin Dempsey, cựu chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ, là người quá quen thuộc với nỗi ác cảm có thể tiên đoán được mà cách nhìn này gây nên ở Trung Quốc. “Một trong những điều tôi thấy thú vị về người Trung Quốc là bất cứ khi nào tôi nói chuyện với họ về các tiêu chuẩn quốc tế hoặc luật lệ quốc tế trong cách hành xử, họ hầu như đều chỉ ra rằng, các luật lệ đó được hình thành khi họ chưa có mặt trên vũ đài thế giới”, ông Dempsey nhận xét trong một bài trả lời phỏng vấn tạp chí Foreign Affairs năm ngoái.

Bạn có thể đi theo đường của bạn
Mỹ đã trải qua ba thập niên là quốc gia hùng mạnh nhất thế giới. Trong thời gian này, ảnh hưởng to lớn của Washington lên những vấn đề của thế giới đã làm cho nhu cầu hiểu biết văn hóa Mỹ  và cách tiếp cận chiến lược của Mỹ trở nên cấp bách cho giới tinh hoa và lãnh đạo các quốc gia khác. Người Mỹ , trái lại, thường cảm thấy rằng họ không cần phải suy nghĩ cẩn thận về thế giới quan của người nước khác - một sự thiếu quan tâm được khuyến khích bởi niềm tin trong nhiều người thuộc giới tinh hoa ở Mỹ  rằng, dù thế nào đi nữa, phần còn lại của thế giới sẽ chậm rãi nhưng chắc chắn trở nên giống với Mỹ.

Tuy vậy trong những năm gần đây, sự trỗi dậy của Trung Quốc đã thách thức sự dửng dưng đó. Các nhà hoạch định chính sách ở Mỹ đang bắt đầu nhận ra rằng họ phải cải thiện sự hiểu biết của họ về Trung Quốc - đặc biệt là tư duy chiến lược của người Trung Quốc. Các nhà hoạch định chính sách và phân tích chính trị của Mỹ cũng đã bắt đầu nhìn thấy những đặc điểm khác biệt rõ ràng trong cách mà đối tác Trung Quốc nghĩ về việc sử dụng sức mạnh quân sự. Khi quyết định nên hay không nên, lúc nào và cách thức nào để tấn công kẻ thù, các nhà lãnh đạo Trung Quốc phần lớn đều tỏ ra chín chắn và thực dụng. Tuy vậy, các nhà phân tích và hoạch định chính sách của Mỹ đã xác định được năm điều giả định và thiên hướng có thể giải thích cho hành vi chiến lược của Trung Quốc trong các cuộc xung đột.

Thứ nhất, cả trong chiến tranh và hòa bình, chiến lược của Trung Quốc được thúc đẩy bởi sự thực dụng trắng trợn, không bị vướng víu vào bất kỳ nhu cầu nào cần có để biện minh cho hành vi của họ về phương diện luật pháp quốc tế hoặc quy tắc đạo đức. Điều này cho phép chính phủ Trung Quốc hành xử linh hoạt, hoặc tráo trở một cách độc ác, bởi vì họ cảm thấy gần như không bị kiềm chế bởi những tiền lệ và gần như miễn nhiễm với mọi sự phê phán “tiền hậu bất nhất”. Một ví dụ, khi Henry Kissinger tới Trung Quốc năm 1971 để bắt đầu các cuộc hội đàm bí mật về nối lại quan hệ Mỹ -Trung, ông thấy những người đối thoại với mình chẳng mảy may quan tâm tới vấn đề ý thức hệ và họ thành thật một cách kinh hoàng về quyền lợi quốc gia của Trung Quốc. Trong khi Kissinger và tổng thống Mỹ Richard Nixon thấy cần phải biện minh cho sự thỏa hiệp mà cuối cùng họ phải đi đến nhằm chấm dứt chiến tranh Việt Nam như là “hòa bình trong danh dự” thì lãnh tụ Trung Quốc Mao Trạch Đông lại thấy không cần phải giả vờ rằng việc thiết lập quan hệ với Mỹ tư bản chủ nghĩa - để củng cố vị thế của Trung Quốc cộng sản mặt đối mặt với Liên xô – là nhằm thúc đẩy phong trào quốc tế xã hội chủ nghĩa rộng lớn hơn.

Có thể nói rằng cách tiếp cận mang tính thực dụng của Trung Quốc đối với chính trị quốc tế đã giúp Trung Quốc có lợi thế so với Mỹ, và quan điểm chiến lược về thế giới bị ám ảnh bởi sự toàn diện của Trung Quốc cũng vậy. Các nhà kế hoạch Trung Quốc thấy mọi sự việc đều được nối kết với nhau. Cái bối cảnh đang vận động trong đó xảy ra một tình huống chiến lược nào đó sẽ quyết định cái mà Trung Quốc gọi là “thế” (shi). Thuật ngữ này không thể dịch trực tiếp sang tiếng Anh nhưng có thể hiểu như là “năng lực tiềm tàng”, hoặc “động lực” vốn có trong mọi hoàn cảnh tại một thời điểm nào đó. Thế bao gồm cả địa lý và địa hình, thời tiết, cân bằng lực lượng, yếu tố bất ngờ, quy tắc đạo đức và nhiều yếu tố khác nữa. “Mỗi yếu tố có ảnh hưởng tới các yếu tố khác, kích hoạt những sự dịch chuyển tinh vi trong động lực và lợi thế tương đối,” như Kissinger đã viết trong cuốn sách On China xuất bản năm 2011 của ông. Như vậy, một nhà chiến lược tài năng của Trung Quốc sẽ dành phần lớn thời gian của mình để kiên nhẫn “quan sát và nuôi dưỡng những sự thay đổi trong cảnh quan chiến lược” và chỉ hành động khi mọi sự đã được sắp xếp tối ưu. Khi ấy, ông ta sẽ ra tay rất nhanh. Với người quan sát, kết quả rõ ràng là khó tránh khỏi.

Đối với các nhà chiến lược Trung Quốc, chiến tranh trước tiên là chiến tranh chính trị và chiến tranh tâm lý. Trong lối suy nghĩ của người Trung Quốc, cảm nhận của đối phương về những dữ kiện trong thực tế cũng quan trọng không kém bản thân các dữ kiện đó. Trong thời quân chủ Trung Quốc, tạo ra và nuôi dưỡng hình ảnh về một nền văn minh Trung Hoa ưu việt tới mức đại diện cho “trung tâm của vũ trụ” là nhằm ngăn ngừa các kẻ thù dám thách thức sự thống trị của Trung Quốc. Ngày nay, câu chuyện về sự trỗi dậy tất yếu của Trung Quốc và sự suy thoái không thể đảo ngược của Mỹ cũng đang sắm một vai trò tương tự.

Theo truyền thống, người Trung Quốc tìm kiếm chiến thắng không phải trong một trận đánh quyết định mà thông qua hành động gặm nhấm từng bước được thiết kế để cải thiện dần dần vị thế của họ. David Lai, một chuyên gia về các vấn đề quân sự châu Á, đã minh họa cho lối tiếp cận này bằng cách so sánh môn cờ vua với môn cờ tương tự của Trung Quốc, gọi là cờ vây (weiqi), tiếng Anh đôi khi gọi là cờ “Go”. Trong cờ vua, kỳ thủ tìm cách chiếm lĩnh trung tâm của bàn cờ và khuất phục đối phương. Trong cờ vây, kỳ thủ tìm cách bao vây đối phương. Nếu một cao thủ cờ vua nghĩ trước từ năm đến sáu nước đi thì cao thủ cờ vây phải tính trước hai mươi, ba mươi nước đi. Xem xét mọi phương diện của mối quan hệ rộng rãi giữa Trung Quốc với các địch thủ, các chiến lược gia Trung Quốc thường cưỡng lại ý muốn nôn nóng đạt tới chiến thắng kiểu ăn non; thay vì vậy họ nhắm xây dựng lợi thế từng bước một. “Trong truyền thống phương Tây, người ta thường nhấn mạnh vào việc sử dụng vũ lực; binh pháp chủ yếu giới hạn trong hoạt động ở chiến trường và phương thức chiến đấu là lấy vũ lực đối đầu với vũ lực,” ông Lai viết trong một bản phân tích năm 2004 cho Viện nghiên cứu chiến lược của trường Đại học Chiến tranh thuộc bộ Lục quân Mỹ. Trái lại, “triết lý đằng sau môn cờ vây… là giành kết quả tương đối hơn là tìm cách hủy diệt hoàn toàn lực lượng của đối phương.” Và trong một lời nhắn nhủ khôn ngoan, ông Lai cảnh báo “sẽ rất nguy hiểm khi chơi cờ vây bằng não trạng của kỳ thủ cờ vua”.
 

Hãy thương lượng
Washington rất nên để ý tới lời cảnh báo đó. Trong những năm sắp tới, bất kỳ điểm nóng nào cũng có thể gây ra khủng hoảng trong quan hệ Trung Quốc-Mỹ, bao gồm những vụ tranh chấp lãnh thổ ngày càng tăng ở Biển Đông và xung đột về chương trình vũ khí hạt nhân mới manh nha của Bắc Triều Tiên. Bởi vì quân đội Trung Quốc cần có thêm ít nhất một thập niên hay hơn nữa mới có khả năng bắt kịp năng lực của quân đội Mỹ nên Trung Quốc sẽ rất thận trọng và cảnh giác với mọi sự sử dụng vũ lực gây sát thương chống lại người Mỹ. Bắc Kinh vẫn sẽ coi sức mạnh quân sự là công cụ thứ yếu trong chính sách ngoại giao của mình, sẽ không tìm kiếm chiến thắng trên chiến trường mà tìm cách hoàn thành các mục tiêu quốc gia. Trung Quốc sẽ thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế và ngoại giao với các nước láng giềng, làm sâu sắc thêm sự phụ thuộc của các nước này vào Trung Quốc, và sử dụng đòn bẩy kinh tế để khuyến khích (hoặc dọa nạt) sự hợp tác ở các vấn đề khác. Mặc dù người Trung Quốc, theo truyền thống, vẫn coi chiến tranh là giải pháp cuối cùng, nhưng nếu Trung Quốc rút ra kết luận rằng các xu hướng lâu dài không còn chuyển dịch theo hướng có lợi cho họ và họ đang mất dần sức mạnh mặc cả thì Trung Quốc có thể kích động một xung đột quân sự giới hạn để cố gắng đảo ngược các xu hướng ấy.

Lần mới nhất mà Mỹ phải đối mặt với những rủi ro kiểu Thucydides cực kỳ nghiêm trọng là trong thời Chiến tranh Lạnh – đặc biệt là trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba. Hồi tưởng lại cuộc khủng hoảng vài tháng sau khi nó được giải quyết, tổng thống Mỹ John F. Kennedy nhận ra một bài học có giá trị bền vững: “Trên hết, trong khi chúng ta bảo vệ những lợi ích thiết yếu của chúng ta thì các cường quốc hạt nhân phải tránh tất cả những cuộc đối đầu nào có thể buộc địch thủ phải lựa chọn, hoặc rút lui nhục nhã, hoặc chiến tranh hạt nhân.” Bất chấp những tuyên bố cứng rắn của Moscow, thủ tướng Liên Xô Nikita Khrushchev cuối cùng cũng kết luận rằng, ông ta có thể thỏa hiệp về vũ khí hạt nhân ở Cuba. Tương tự như vậy, Kissinger và Nixon sau này phát hiện ra rằng, ông Mao Trạch Đông của Trung Quốc là người rất khôn khéo, sẵn sàng từ bỏ ý thức hệ nếu điều đó phục vụ cho lợi ích của Trung Quốc.

Ông Tập và tổng thống Mỹ Donald Trump đều đưa ra những đòi hỏi tối đa, đặc biệt là trong vấn đề Biển Đông. Nhưng cả hai ông đều là những nhà thương lượng dày dạn. Chính phủ của ông Trump càng hiểu rõ cách thức Bắc Kinh nhìn nhận vai trò của Trung Quốc trên thế giới và các lợi ích cốt lõi của quốc gia, thì họ càng chuẩn bị tốt hơn khi bước vào các cuộc thương lượng. Vấn đề còn lại là nhận thức tâm lý: ngay cả những quan chức dày dạn của bộ Ngoại giao Mỹ vẫn thường quan niệm sai lầm rằng lợi ích cốt lõi của Trung Quốc phản ánh lợi ích của chính Mỹ. Vì vậy, sẽ là khôn ngoan nếu các quan chức giờ đây đang soạn thảo cách tiếp cận của chính phủ Trump với Trung Quốc chịu đọc lại Tôn Tử (Sun Tzu), nhà triết học cổ đại Trung Quốc: “Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng; biết ta không biết địch, có thua có thắng; không biết ta cũng không biết địch, trận nào cũng thua”.

Graham Allison – giáo sư về chính quyền, trường Hành chính Kennedy thuộc Đại học Harvard. Bài này được rút gọn từ cuốn sách của ông “Đi tới chiến tranh: Liệu Mỹ  và Trung Quốc có tránh được bẫy Thucydides?” (Houghton Mifflin Harcourt, 2017)

(*) Khu rừng toàn cầu kiểu Hobbesian: ẩn dụ từ quan điểm của nhà triết học chính trị Anh Thomas Hobbes (1588-1679), được trình bày chủ yếu trong tác phẩm Leviathan (1651). Hobbes coi xã hội như một khu rừng, trong đó mỗi cá nhân đều cho rằng mình có quyền với tất cả mọi thứ, dẫn tới cuộc “chiến tranh tất cả chống lại tất cả”, mạnh được yếu thua. Để thoát ra khỏi tình trạng man rợ này, xã hội cần có một khế ước chung sao cho quyền lợi của người này không mâu thuẫn với người khác và cần có một chính quyền chuyên chính để thực thi khế ước đó… Hobbes được coi là một trong những người đặt nền móng cho triết học chính trị phương Tây hiện đại. (ND)