Thứ Ba, 21 tháng 1, 2020


CHỮ QUỐC NGỮ
CÂY MUỐN LẶNG MÀ GIÓ CHẲNG DỪNG

Viên Như
 
Đáng lý ra ta nên nói “Chữ Việt Bồ là công cụ để xâm lăng” còn“Chữ Quốc ngữ là công cụ để chống xâm lăng”, tức là gậy ông đập lưng ông. Cho nên để cho phần đông giới trẻ dễ phân biệt, tránh nhập nhèm, tôi đề nghị chúng ta nên sử dụng một từ cụ thể cho loại chữ của các giáo sĩ, trong bài tôi dùng từ “chữ Việt Bồ”

  I. CÁC LOẠI CHỮ VIẾT Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ.
Theo dòng lịch sử, nước Việt có ba loại chữ viết đã được lưu hành: Chữ Nho, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Sở dĩ chúng có tên gọi khác nhau vì chúng có vai trò và tiêu chí khác nhau, cũng như khi gọi tên một loài cá cụ thể như cá voi, cá mập và cá thu, nó cung cấp cho người đọc hay nghe một hình ảnh và vai trò khác nhau của từng loại, tuy chúng đều hoạt động trong nước.

   Sở dĩ tôi nêu lên vấn đề này vì lâu nay khái niệm chữ Quốc ngữ được sử dụng ở nước ta mang tính chung chung cho loại chữ Việt ký âm bằng mẫu tự La Tinh, vì vậy người ta xem chữ Việt ký âm bằng mẫu tự La Tinh thời kỳ đầu của các giáo sĩ phương tây, ở đây xin tạm gọi là chữ Việt Bồ, như là chữ Quốc ngữ, từ đó đòi hỏi phải tri ân, tạc tượng, thậm chí tôn vinh lên thành bậc tiên hiền. Vì vậy thiết tưởng rằng việc phân định chức năng, vai trò và chủ thể của các loại chữ viết đã và đang lưu hành ở nước ta là cần thiết, chỉ khi nào ta làm rõ được vấn đề này thì vấn đề “chữ Quốc ngữ” mới may ra có hồi kết; đồng thời từ đó mới quyết định ai là cha đẻ để xứng đáng được tri ân và vinh danh. Tôi tin rằng rất nhiều người quan tâm đến vấn đề này một cách nghiêm túc đã hiểu điều này rồi, tuy nhiên không phải ai cũng hiểu đầy đủ các tiêu chí nào để một loại chữ viết trở thành chữ quốc ngữ. Do đó, với kiến thức giới hạn về ngôn ngữ học, xin được trình bày thiển ý của tôi về vấn đề này ngỏ hầu góp thêm một chút khái niệm về chữ Quốc ngữ, hy vọng rằng những gì trình bày có thể giúp những người không có thời gian tiếp xúc với ngôn ngữ học nhận thức được thế nào là chữ Quốc ngữ.
Về chức năng của chữ viết, thiết nghĩ rằng có lẽ ai cũng biết rồi, ở đây chỉ trình bày về vai trò và chủ thể của nó mà thôi.

   1. Chữ Nho.
Chữ Nho là loại chữ tượng hình, biểu ý, được người Việt sử dụng từ xưa cho đến năm 1918 mới chính thức bị bãi bỏ bởi sắc lệnh của vua Khải Định.
Các văn bản của triều đình bắt buộc phải viết bằng chữ Nho.
Vì vậy các bộ sử của nước trước thời điểm 1918 đều viết bằng chữ Nho; Đồng thời văn học thời kỳ này đều viết bằng loại chữ này.
   Tuy nhiên chữ Nho không phản ảnh toàn bộ tiếng Việt, vì vậy nó chỉ được xem là Quốc tự chứ không phải là chữ Quốc ngữ.
   2. Chữ Nôm.
   Chữ Nôm là chữ do người Việt sáng chế ra dựa vào chữ Nho, theo các nhà nghiên cứu thì chữ Nôm bắt đầu ra đời từ thế kỷ thứ 10.
   Chữ Nôm là chữ ghi lại tiếng Việt (quốc ngữ) nhưng không nằm trong hệ thống giáo dục thời đó, vì vậy không được dùng để viết văn bản của triều đình.
   Tuy nhiên chữ Nôm cũng được xem là Quốc tự một cách mặc nhiên và có nhiều tác phẩm nỗi tiếng viết bằng loại chữ này như truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc v.v.. Nhưng nó chưa phải là chữ Quốc ngữ, vì chưa được hệ thống hay chuẩn hóa và chưa được sử dụng theo một thể thống nhất trên toàn quốc.
 
   3. Chữ Quốc ngữ.
Chữ Quốc ngữ ở là tên gọi loại chữ ký âm tiếng Việt bằng mẫu tự La Tinh.
Chữ Quốc ngữ là loại chữ đã được chuẩn hóa trên mọi mặt của một ngôn ngữ chữ viết theo hệ La Tinh, như:
● Bảng chữ cái.
● Quy tắc đánh vần.
● Quy tắc chính tả.
● Các ký hiệu biểu cảm như: Chấm than, chấm dấu hỏi v.v..
● Các chữ số và ký hiệu để dùng trong toán học như: Cộng, trừ, nhân, chia, căn, lũy thừa v.v..
● Khi thể hiện bằng văn bản, bất cứ người Việt nào có trình độ học vấn trung bình cũng đọc và hiểu được nội dung trên mặt chữ của văn bản đó.
● Chữ Quốc ngữ được dùng chính thức và bắt buộc cho các văn bản nhà nước, là chữ viết duy nhất trong hệ thống giáo dục của Việt Nam từ năm 1918, căn cứ vào sắc lệnh của vua Khải Định, cho tới nay, mặc dù tên gọi chữ quốc ngữ đã xuất hiện từ năm 1867 trên Gia Định Báo. [1] Tuy nhiên trên thực tế chữ Quốc ngữ bắt đầu dùng chính thức và duy nhất vào văn bản nhà nước từ 1945.
Với các tiêu chí trên, chữ Việt ký âm bằng mẫu tự La Tinh hiện nay được gọi là CHỮ QUỐC NGỮ. Tất nhiên đây chưa phải là tất cả, do đó tôi nghĩ rằng các cơ quan có trách nhiệm về tiếng Việt còn phải bổ sung nhiều nữa.
Ở trên tôi chỉ nói ba loại chữ viết đã được sử dụng ở Việt Nam qua các thời kỳ với những tiêu chí cụ thể, riêng chữ Việt Bồ, tôi cho rằng nó là loại chữ không có các tiêu chí đã trình bày trên, nó chỉ là tài liệu để tham khảo về lịch sử chữ Việt ký âm bằng mẫu tự La Tinh mà thôi, do đó tôi không liệt vào mục I này.

II. CHỮ QUỐC NGỮ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ TRANH CÃI.
Như đã nói trên, do không phân định vai trò và chủ thể của từng loại chữ một cách rõ ràng, cho nên nhiều người sử dụng tên gọi chữ Quốc ngữ một cách chung chung trong tư cách là loại chữ Việt ký âm bằng mẫu tự La Tinh. Điều này dẫn đến sự nhầm lẫn và cho rằng chữ Việt Bồ là Chữ quốc ngữ, lí do là vì cả hai đều là loại chữ Việt ký âm bằng mẫu tự La Tinh. Do đó ta cần phải làm rõ điều này, bởi vì nếu không có tiêu chí rõ ràng, cụ thể thì rất có thể rồi đây chữ của cụ Bùi Hiền cũng được xem là chữ Quốc ngữ, vì nó cũng là loại chữ Việt ký âm bằng mẫu tự La Tinh, nghe đâu cụ còn thể hiện bằng Truyện Kiều của Danh nhân văn hóa Nguyễn Du nữa, như thế thì ăn đứt cuốn Phép Giảng Tám Ngày, với nội dung bậy bạ, của A.D. Rhodes rồi.

   1. Chữ Việt Bồ có phải là chữ Quốc ngữ không?
Với các tiêu chí về ngôn ngữ chữ viết mà tôi đã trình bày trên, đặc biệt là CHỮ QUỐC NGỮ, ta thấy chữ VIỆT BỒ không có bất cứ một tiêu chí nào để được gọi là chữ Quốc ngữ. Cụ thể như sau:
● Nó có Bảng chữ cái không? Không.
● Nó có Quy tắc đánh vần không? Không.
● Nó có Quy tắc chính tả không? Không.
● Nó có Các ký hiệu biểu cảm như: Chấm than, chấm dấu hỏi không? Không.
● Các chữ số và ký hiệu để dùng trong toán học như: Cộng, trừ, nhân, chia, căn, lũy thừa không? Không.
● Khi thể hiện bằng văn bản, bất cứ người Việt nào có trình độ học vấn trung bình cũng đọc và hiểu được nội dung trên mặt chữ của văn bản đó không? Không.
   Thậm chí nó cũng không phải là quốc tự như chữ Nho và chữ Nôm, bằng chứng là không có bất kỳ một trường lớp nào dạy chữ ấy, dĩ nhiên là không có bất cứ một văn bản nào của chính quyền hay tác phẩm văn hóa của người Việt viết bằng loại chữ Việt Bồ vào thời điểm đó cả, như thế làm sao gọi chữ Việt Bồ là chữ Quốc ngữ được. Bản thân tôi cũng đã làm một cuộc thăm dò bằng cách nhờ những người có học trung bình, tức là lớp 11, 12 đọc thử, vừa đọc vừa đoán một trang trong sách Phép Giảng Tám Ngày. Kết quả hầu hết không đọc được quá 40% mặt chữ, tất nhiên là không biết nội dung trang sách nói gì một cách tổng thể. Chính vì vậy ngày nay, khi in lại sách Phép Giảng Tám Ngày của A.D. Rhodes, nhà thờ cũng in thành hai phần, phần một in nguyên bản, phần hai in phần chuyển ngữ thành chữ quốc ngữ, thậm chí đưa thêm nội dung vào. Điều này chứng tỏ chính họ đã nhận thức chữ Việt Bồ không phải là chữ Quốc ngữ, nếu không thì DỊCH sang chữ Quốc ngữ làm gì?
Nguyên bản:
Phần dịch ra chữ Quốc ngữ:
Ta cầu cùng Đức Chúa Trời giúp sức cho ta biết tỏ tường đạo Chúa là dường nào. Vì vậy ta phải hay ở thế này chẳng có ai sống lâu; vì chưng kẻ đến bẩy tám mươi tuổi chẳng có nhiều. Vì vậy ta nên tìm đàng nào cho ta được sống lâu, là kiếm hằng sống vậy: thật là việc người quân tử. Khác phép thế này, dù mà làm cho người được phú quý, song le chẳng làm được cho ta ngày sau. [2]

2. Chữ Việt Bồ là một công cụ dành riêng cho các giáo sĩ phương tây dùng  để truyền đạo, nó được tạo ra do lệnh của Vatican.
Việc đầu tiên của bất cứ nhà truyền giáo nào cũng phải tìm cách để truyền thông với người bản xứ, vì vậy việc ký âm tiếng Việt bằng mẫu tự La Tinh là điều bắt buộc, đây là công việc đầu tiên của bất cứ ai muốn tiếp cận với một cộng đồng hay một dân tộc, vì nếu không biết tiếng bản địa thì nói với họ, những đối tượng mà các giáo sĩ muốn cải đạo, bằng cách nào, do đó ý kiến cho đó là công cụ để truyền giáo là hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên ở đây tôi muốn nhấn mạnh rằng nó không những là công cụ để truyền giáo, mà chỉ là công cụ dành riêng cho các giáo sĩ mà thôi. Ta thấy điều này khi xét những phát biểu của A.D. Rhodes trong cuốn Từ Điển Việt - Bồ - La. Trong phần thư gởi các Hồng Y Thánh Bộ Truyền bá Đức tin, A.D. Rhodes viết:
Vậy tôi xin hỏi trong vòng chưa đầy hai mươi lăm năm gần đây, việc ấn hành phương ngữ của nhiều dân tộc xa lạ có ý nghĩa gì nếu không phải là truyền bá và phổ biến khắp trái đất những tư tưởng lời Thiên Chúa mà theo lệnh của Người, Roma là thư viện và kho chứa, vừa để nuôi dưỡng đoàn chiên của vị Mục tử Tối Cao Nhân lành, vừa để ngăn chặn lũ sói lang xông phá? Mà lại để Lời Thiên Chúa xâm nhập dễ dàng hơn tới tận Hoàn cầu, nơi người Đông kinh và Cô sinh, tức là tất cả mọi người An nam đang chiếm cư, thì bây giờ lòng đại lượng bao la của quý vị cũng truyền lệnh thực hiện quyển từ điển An Nam, một cuốn từ điển giúp ích cho những người làm công tác Tông đồ được chỉ định cho phần vườn Nho này của Chúa…” [3]

Và trong Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh, tác giả viết:
Những phương ngữ gần gủi nhau hơn ở phương đông, đặc biệt tiếng Trung Hoa và Đông kinh, kể cả tiếng Nhật nữa, có cách học khác xa tiếng xứ sở của chúng ta; bởi chúng thiếu hẳn giống; đích thực chúng cũng không có biến cách…và những quy tắc phải giữ trong câu nói.” [4]
Với những trích dẫn trên chứng minh rằng chữ Việt Bồ là loại chữ chỉ dành cho các giáo sĩ làm công cụ để truyền đạo mà thôi, nó được thực hiện nằm trong kế hoạch của Vatican, do đó ta thấy A.D. Rhodes phải giải trình như đã trích trên.
Không những thế, chữ Việt Bồ còn có mục đích khác, đó là các giáo sĩ sử dụng nó như một mật mã giữa họ với nhau, tránh các trí thức khác của nước Việt có thể hiểu được những việc làm của họ. Cụ thể tại phần trích trên, A.D. Rhodes viết:
Vậy tôi xin hỏi trong vòng chưa đầy hai mươi lăm năm gần đây, việc ấn hành phương ngữ của nhiều dân tộc xa lạ có ý nghĩa gì nếu không phải là truyền bá và phổ biến khắp trái đất những tư tưởng lời Thiên Chúa mà theo lệnh của Người, Roma là thư viện và kho chứa, vừa để nuôi dưỡng đoàn chiên của vị Mục tử Tối Cao Nhân lành, vừa để ngăn chặn lũ sói lang xông phá?”
Lưu ý rằng đây là lời của A.D. Rhodes trong cuốn Từ điển Việt - Bồ - La, có nghĩa là “lũ sói lang” ấy đang ở nước Việt. Vậy ai là lũ sói lang ở nước Việt? Lũ sói lang này chính là những gì mà ông ta mô tả trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày, “Chẳng phải hiền, chẳng phải thánh, chém cho ngã xuống, Giáo này thì thờ ma quỉ mà làm những phép giả, bọn man rợ (tổ tiên nước Việt) vua, quan”. Rõ ràng vì sợ trí thức bản xứ biết được thực chất của chúng nên chúng không cho họ tiếp cận với loại chữ này (Việt Bồ), vì biết được thì họ sẽ xông phá ngay.

Như thế rõ ràng chẳng có lý do gì mà bảo rằng A.D. Rhodes và các giáo sĩ phương tây sáng chế chữ Việt Bồ cho người Việt, vì vậy mà như ta biết cuốn tự điển này từ ngày xuất hiện tới giờ nó chẳng giúp ích gì cho ai trong việc học tiếng Việt cả, bởi vì nội dung và hình thức cũng như tác dụng của nó đã cho thấy nó được soạn ra cho những nhà truyền giáo chứ không phải cho người Việt như đã nói trên, có nghĩa nó là công cụ để truyền giáo của các giáo sĩ phương tây, như nhận xét của Tiến sĩ Nguyễn Kiều Dung “Từ điển ấy là loại sách TÂY VIẾT CHO TÂY ĐỌC” và trên thực tế nó đúng là như vậy.

Tuy nhiên gần đây, một số người có trình độ trong lãnh vực ngôn ngữ học, đem công trình nghiên cứu về cuốn từ điển này thuyết trình ở Hội thảo về Chữ Quốc ngữ, một hội thảo chủ yếu nói về sự hình thành và phát triển một loại chữ viết, một lãnh vực thuộc ngôn ngữ học, cụ thể là Hình vị học, khiến cho ai cũng nghĩ rằng nhờ có cuốn từ điển đó mà người Việt học và biết chữ Quốc ngữ, đây là một thủ thuật biến xác chết thành người sống. Vì sao tôi cho như vậy? Tại vì Từ điển chủ yếu là để học nghĩa của một từ, một cụm từ, nó thuộc về Ngữ nghĩa học, chứ không phải là để học cái con chữ, tức là cái hình vị, vì nghĩa của con chữ thì nằm trong tiếng nói của người Việt, tức Quốc ngữ rồi, vậy mà đem cái Ngữ nghĩa học, Từ điển học (thống kê bao nhiều từ, loại gì) nói ở nơi đang bàn về lịch sử hình thành chữ, tức thuộc về Hình vị học, có lộn sòng không? Kiểu này cũng giống như bên ngoài ghi Thi thể hình, vào trong hóa ra lại là Thi sắc đẹp vậy. Nếu có đề cập đến cuốn từ điển này chăng nữa, thì chủ yếu là để chứng minh rằng tác phẩm viết bằng chữ Việt Bồ đó đã có mặt tại thời điểm nào đó, tức là nói về lịch sử hình thành chữ Quốc ngữ mà thôi, chứ ai tìm hiểu nội dung cuốn từ điển này, kể cả cuốn Phép Giảng Tám Ngày, chẳng giúp ích gì nhiều cho người Việt trong quá trình La Tinh hóa tiếng Việt.
Tại sao tôi cho như vậy? Tại vì cái quan trọng trong việc ký âm một âm tiết hay một từ là ghép vần (tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm nên âm tiết trùng với từ hay tiếng), mà điều này người Việt đã biết từ 2000 năm trước, họ đã áp dụng điều này vào tự điển để hướng dẩn cho người đọc biết chữ ấy đọc như thế nào. Ngày ấy người ta gọi là Thiết , nghĩa là cắt. Ví dụ âm Tết, cái âm mà bấy lâu nay ta cứ cho đọc trại từ âm TIẾT nên gọi là âm Hán Việt, kỳ thật nó là âm thuần Việt, điều đó cũng có nghĩa là chữ đó (Hán) là chữ của người Việt. Thuyết văn giải tự của Hứa Thận cho:
. 竹約也。从竹即聲。子結切.
Tết. Trúc ước dã, Tùng trúc tức thanh. Tử kết thiết.
Trúc ước vậy. Bộ trúc âm tức. Đọc là Tử kết – Tết.
Thiết là một phương pháp để thành lập một âm mới từ hai chữ cho sẵn, trong trường hợp này là âm TẾT. Chữ đầu thì cắt âm đuôi, như TỬ, cắt âm Ử, còn âm T, chữ đuôi thì cắt âm đầu, như KẾT, cắt K, còn lại âm ẾT, ghép lại hay đánh vần thành TẾT.
Tất cả các cuốn tự điển chữ Hán đều áp dụng phương thức này. Qua đây chứng minh rằng khái niệm chữ biểu âm đã được cha ông nước Việt nhận thức từ lâu, nhưng có lẽ do gánh nặng của quá khứ, cùng sự trói buộc bởi văn hóa khu vực mà không thể rẽ ngang, từ bỏ chữ biểu ý để chuyển sang biểu âm, chứ không phải người Việt thiếu trí tuệ, đợi các ông tây dạy cho mới biết. Sự việc các ông tây dùng chữ biểu âm có giá trị như là chất xúc tác cuối cùng, buộc người Việt phải rẽ ngang lịch sử chữ Viết, thế thôi.
Nói như thế để chứng minh rằng hai cuốn Từ điển Việt – Bồ - La và Phép Giảng Tám Ngày chẳng giúp ích gì nhiều cho người Việt trong quá trình ghép âm thành tiếng. Vì vậy cái duy nhất mà người Việt cần là các mẫu tự, với các âm mặc định (võ đoán) từ đó người Việt, chủ thể của  tiếng Việt,  ghép âm thành tiếng một cách nhanh chóng, vì họ đã biết cách ghép âm từ lâu như đã nêu trên. Cũng chính vì vậy mà ta thấy chữ Quốc ngữ khác xa so với chữ Việt Bồ.
Cho nên cuốn Từ điển Việt - Bồ - La từ ngày nó xuất hiện tới giờ, nó nằm yên đâu đó, chứ có người Việt nào sử dụng cuốn từ điển này đâu, bởi vì nó chỉ có giá trị cho những người Việt học tiếng Bồ hay tiếng La Tinh, chứ không phải là dành cho người Việt học tiếng Việt, mà trước giờ tiếng Bồ và La Tinh có phải là ngôn ngữ mà xã hội quan tâm đâu. Cho nên tôi mới gọi hành động đó là “một thủ thuật biến xác chết thành người sống” hay ta có thể nói đây là một sự đánh tráo giữa chữ Việt Bồ và chữ Quốc ngữ, một việc làm mà bấy lâu nay nhiều người cố bắt ông A.D. Rhodes đẻ cho bằng được.

Xem ra đợt công kích này được chuẩn bị hết sức chu đáo và tốn bộn tiền chứ chẳng phải chơi. Nói công kích là công kích các ông bà ở Viện Sử học, Viện Ngôn ngữ học và Viện Văn hóa, khiến cho họ bối rối mà nhanh chóng tham mưu cho Chính phủ ra văn bản công nhận A.D. Rhodes là ông tổ của chữ Quốc ngữ. Tất nhiên chỉ cần như vậy thôi, còn các thứ khác như lễ vinh danh, tạc tượng thì chắc họ làm từ thiện cho nước Việt. Còn đối với người dân, mấy ai quan tâm thế nào là ngữ nghĩa học, thế nào là hình vị hay ngữ âm học đâu, cho nên họ mới tha hồ múa gậy giữa rừng hoang. Còn nói hết sức chu đáo là vì một mặt họ đánh từ trong đánh ra ngoài, nào GS, PGS, TS Ngôn ngữ học, dạy trường Đại học này, Đại học kia chẳng biết nghe lời ai, có phải Benjamin Franklin không? Phê bình những người Kiến nghị là "tùy tiện". Giấy trắng, mực đen sờ sờ ra đó mà cho là tùy tiện. Còn bên ngoài thì có cái giàn đồng ca, ca bài “Thề quyết vinh danh”, với ông nhạc trưởng núp sau cánh gà trên liên lưới - internet. Tất nhiên họ kêu gọi đứng vào cho đông vậy thôi, chứ nhiều ông chẳng học nhạc gì cả, thấy ông hàng xóm chơi nhạc cho nhà thờ thổi tí te nên cũng biết một chút đồ rê mí, vì vậy mà có ông thổi một đoạn “A.D. Rhodes đã đẻ ra tiếng Việt” khiến cho cả giàn nhạc khựng lại, dĩ nhiên là ông nhạc trưởng thấy không ổn nhưng hy vọng không ai nhận ra. Tất nhiên để thực hiện được kịch bản đó không thể vài ba đồng bạc hay nước miếng được, nhất định phải dùng loại tiền tệ quốc tế US Dollar mới may ra.

Trở lại cuốn Từ điển Việt - Bồ - La, qua cuốn từ điển này ta biết A.D. Rhodes không phải là người ký âm tiếng Việt bằng mẫu tự La Tinh đầu tiên, cụ thể trong phần đầu cuốn Từ Điển Việt - Bồ - La A.D. Rhodes đã viết như sau:
   “Tuy nhiên trong công cuộc này, ngoài những điều mà tôi đã học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần mười hai năm, thời gian mà tôi lưu trú tại hai xứ Cô-sinh và Đông-kinh, thì ngay từ đầu tôi đã học với Cha Francisco de Pina người Bồ Đào, thuộc Hội Dòng Giê-su rất nhỏ bé chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà không dùng thông ngôn, tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều Cha khác cùng một Hội Dòng, nhất là của Cha Gaspar de Amaral và Cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam, ông sau bằng tiếng Bồ-Đào, nhưng cả hai ông đều đã chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng La Tinh theo lệnh các Hồng y rất đáng tôn...”. [5]
Qua những lời này chứng tỏ rằng A.D.Rhodes đã học tiếng Việt trực tiếp với người bản xứ và ba ông Francisco de Pina, Gaspar de Amaral và Antonio Barbosa; đồng thời ông học tiếng Việt gián tiếp thông qua hai cuốn từ điển của các giáo sĩ này, chính vì vậy mà ông có hai cuốn từ điển đó trong tay, từ đó ông mới viết cuốn Phép Giảng tám ngày. Có nghĩa là những kiến thức về chữ Việt Bồ mà ông dùng để viết cuốn Phép Giảng Tám Ngày là do ba giáo sĩ người Bồ và người bản xứ truyền lại. Cho nên nói về chữ Việt ký âm bằng mẫu tự La Tinh thời kỳ đầu là nói đến hai giáo sĩ Gaspar de Amaral và Antonio Barbosa và cuốn Từ điển Annam-Lusitan-Latinh, tức Từ điển Việt-Bồ-La. Ngay cả Francisco de Pina cũng không được chứ nói gì là A.D. Rhodes và cuốn Phép Giảng Tám Ngày như ta vẫn thấy ngày nay. Làm như thế khác nào cướp công của đồng đạo mình. Cho nên nếu cho A.D. Rhodes là cha đẻ chữ Việt Bồ còn chưa được huống gì là cha đẻ chữ Quốc ngữ, cùng lắm là cha ghẻ của chữ Việt Bồ thôi. Bởi vì nội hàm ngữ nghĩa của từ “cha đẻ” là cha với con phải cùng thời, từ chuyên môn là “đồng đại” (hiểu theo nghĩa đời người). Đau đẻ khi nào thì đẻ khi đó, chứ chết từ ba đời, tám kiếp rồi mà còn đẻ nỗi gì? Ngay cả con mình đẻ ra, tức mình là cha đẻ của nó, nhưng con của nó mà mình cứ đi rêu rao mình là cha đẻ của đứa bé ấy thì thiên hạ biết chắc “thằng này loạn luân” những người hiểu biết trên thế giới không ai chấp nhận đâu.
 
  III. SỰ LIÊN QUAN GIỮA CHỮ QUỐC NGỮ VÀ CHỮ VIỆT BỒ 
Theo lý mà nói nếu không có sự kiện các giáo sĩ phương tây ký âm tiếng Việt bằng mẫu tự La Tinh (chữ Việt Bồ) thì chữ Quốc Ngữ chưa đến sớm với người Việt như vậy. Tuy nhiên nói đến chữ Việt Bồ là nói đến cuốn Từ điển Việt-Bồ-La, với những gì trình bày trên, ta thấy từ điển, một việc làm có tính học thuật cao, mà còn như vậy nói gì cuốn Phép Giảng Tám Ngày, cuốn sách đứng hàng thứ ba sau hai cuốn từ điển nói trên. Có nghĩa rằng mối quan hệ giữa chữ quốc ngữ và chữ Việt Bồ là một mối quan hệ lỏng lẻo, tức là không phải mối quan hệ truyền thụ, kế thừa để từ đó phát triển thành một thành quả mới, mà nó chỉ là mối quan hệ có tính tình cờ của lịch sử giữa nhu cầu chữ viết của người Việt và nhu cầu truyền đạo của các giáo sĩ phương tây mà thôi. Nói cách khác đây là sự kiện một bên là vô tình, bên kia là hữu ý, tức là các giáo sĩ phương tây tự ký âm tiếng Việt để dùng trong việc truyền đạo, nhưng vô tình giới thiệu cho người Việt cách ký âm tiếng Việt bằng mẫu tự La Tinh.
Từ đó người Việt hữu ý, chủ tâm nắm bắt cơ hội, học hỏi rồi dần phát triển và hoàn thiện, kết quả là thành chữ quốc ngữ. Do đó những giáo sĩ phương tây nói chung, A.D. Rhodes nói riêng không có công gì trong việc hình thành và phát triển chữ quốc ngữ. Vì vậy chẳng có gì phải vinh danh và tri ân cả. Cũng như nếu không có người bán vé số để kiếm tiền, thì cũng không có người mua vé số để đánh bạc với số phận. Nhưng có ai thấy trong cuộc đời này người bán vé số lại đòi người trúng số vinh danh, tạc tượng để tri ân bao giờ chưa? Cùng lắm, nếu người trúng số tử tế, họ thưởng cho một phần nào đó mà thôi. Nếu người bán vé số mà cố đòi hỏi như vậy thì nhất định tên này có quan hệ mật thiết với bọn lưu manh, ăn cướp chứ không thể khác. Và trên thực tế, người Việt đã mua tấm vé số này quá đắt, nhưng họ đã tử tế tưởng thưởng cho người bán tấm vé số này bằng cách ghi nhận vào lịch sử rằng các giáo sĩ là những người ký âm tiếng Việt bằng mẫu tự La Tinh đầu tiên. Chỉ thế thôi chứ còn đòi gì nữa.

IV. ĐỪNG BIẾN MÌNH THÀNH KẺ VÔ ƠN.
Như vậy đã tri ân thì phải tri ân những người Việt, qua nhiều thế hệ, đã tận dụng hoàn cảnh, cơ hội để dày công tạo ra một công cụ ngôn ngữ đắc lực cho dân tộc mình, họ xứng đáng là những trang tuấn kiệt như người xưa đã nói “Thức thời vụ giả vi tuấn kiệt - 識時務者爲俊傑”. Tuy nhiên ngày nay rất nhiều người, với suy nghĩ rằng chữ Quốc ngữ là do A.D. Rhodes đẻ ra, vì vậy dân tộc Việt Nam phải vinh danh để tri ân ông ta cũng như các giáo sĩ phương tây, tất nhiên nơi cất giữ những vinh danh ấy là Giáo hội Thiên Chúa Việt Nam, họ muốn dùng cái vinh danh ấy để che đậy những vết thương loang lổ trên bức tranh lịch sử Việt Nam mà họ đã gây ra. Trong vấn đề này, bản chất của nó ngược lại với chuyện chữ Việt Bồ và chữ Quốc ngữ, có nghĩa là họ thì hữu ý, còn ta thì vô tình. Ta vô tình vì cứ dùng mãi từ chữ Quốc ngữ song hành cùng với tên A.D. Rhodes, họ tận dụng sự vô tình này để kết luận rằng chính ta thừa nhận chuyện đó, thế là họ hữu ý, chủ động đòi vinh danh, ai có ý kiến khác là họ lên mặt dạy đời “Đừng biến mình trở thành kẻ vô ơn”.

Cho nên hãy trả lại cho chữ Việt Bồ về đúng vị trí của nó trong lịch sử chữ viết của nước ta, đó là: “Chữ Việt Bồ là công cụ để truyền giáo của các giáo sĩ phương tây.”  Lịch sử truyền giáo chứng minh rằng, các giáo sĩ đi truyền giáo thực chất là đi tiền trạm để thăm dò, nắm tin tức, vẽ bản đồ làm cơ sở để quân đội liên minh với Vatican xâm lăng, do đó mọi việc làm của họ chỉ phục vụ cho mục đích duy nhất đó mà thôi, ngay cả cuốn Thánh Kinh, chứ nói gì hai cuốn Từ điển Việt – Bồ - LaPhép Giảng Tám Ngày.
Hãy nghe Giám mục Anh Giáo của Châu Phi  phát biểu khi nhận giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1984 “Khi các giáo sĩ thừa sai (missionaries)[6]  đến Châu Phi, họ có Thánh Kinh và chúng tôi có đất đai, lãnh thổ. Họ bảo “Chúng ta hãy cùng cầu nguyện.” Chúng tôi nhắm mắt (cầu nguyện). Khi mở mắt ra, chúng tôi có Thánh Kinh còn họ có đất đai, lãnh thổ của chúng tôi.” Vì vậy người ta nói “Chữ Việt Bồ là công cụ để xâm lăng” là có cơ sở. Tuy nhiên trước đây khi nói câu này, người ta hay dùng từ chữ Quốc ngữ thay vì chữ Việt Bồ, khiến cho người đọc hiểu không chính xác, có nghĩa là chữ Việt Bồ là công cụ của các giáo sĩ phương tây, còn chữ Quốc ngữ là công cụ của người Việt. Cho nên cái liên hệ duy nhất đối với chữ Quốc ngữ với chữ Việt Bồ đó là người Việt đã tận dụng chất liệu này để chế tác, phát triển thành chữ quốc ngữ, hay ta có thể nói Chữ quốc ngữ là một chiến lợi phẩm đã được cải tiến từ chữ Việt Bồ mà người Việt đã thu được từ những kẻ xâm lăng”. Tuy nhiên chiến lợi phẩm ấy, chữ Việt Bồ, chỉ là một thanh sắt mà thôi, chính người Việt đã mài dũa thanh sắt này thành một con dao sắc bén để dùng vào những mục đích hữu ích cho dân tộc mình, ngay cả dùng nó để đánh đuổi những kẻ đã mang thanh sắt ấy đến, “Gậy ông đập lưng ông.”
Tất nhiên, những người đòi vinh danh A.D. Rhodes không chấp nhận thất bại đâu, bởi vì dù vô tình hay hữu ý thì chữ Quốc ngữ cũng bắt nguồn từ chữ Việt Bồ, đó là điều không cần phải tranh cãi, từ đó lại đòi hỏi phải biết ơn, đã biết ơn tất phải vinh danh với luận điệu “Uống nước nhớ nguồn”. Tuy nhiên họ cứ lập lại câu này một cách vô thức mà không biết rằng nguồn cũng có nguồn trong, nguồn đục, trong trường hợp này là chữ Việt Bồ, đây là cái nguồn duy nhất mà người Việt phải uống trong vấn đề chữ Quốc ngữ, nhưng ngặt nỗi cái nguồn nước này đậm đặc chất Asen, không uống trực tiếp được đâu, uống vào là không chết cũng thành tàn phế, cho nên phải biết ơn những người, bằng tấm lọc yêu nước, thương nòi, đã dày công lọc cái nguồn độc hại ấy thành nguồn nước trong lành “Chữ Quốc ngữ” cho họ dùng hằng ngày, vì vậy câu “Đừng biến mình trở thành kẻ vô ơn” nên áp dụng cho những kẻ sùng A.D. Rhodes và chữ Việt Bồ chứ không phải những người chống vinh danh ông ta.

Nhưng biết làm sao được, tráo trở và gian manh là thuộc tính của những người sùng A.D. Rhodes như chính con người ông ta. Chỉ mới đây thôi, GS. Nguyễn Đăng Hưng, Viện trưởng Viện Vinh Danh Chữ Quốc Ngữ (mới bị xóa tên) sang tận Iran để tôn vinh thầy mình. Tất nhiên thầy sao, trò vậy. Để tri ân thầy mình, A.D. Rhodes, ông làm hai tấm bia ghi bằng tiếng Anh, Pháp và Iran cho quốc tế biết tấm lòng của ông và những người theo ông, nhưng tiếng Anh thì ông ghi “A group of Vietnamese, devoting to honor “Chữ Quốc Ngữ” – Một nhóm người Việt, hiến dâng để tôn vinh “Chữ Quốc Ngữ” còn  tiếng Việt, ông ghi “Người Việt Nam vinh danh chữ Quốc ngữ” như thế không tráo trở và gian manh là gì? Không biết có cơ quan nhà nước nào cho phép ông đại diện cho dân tộc Việt Nam không? Tôi nghĩ là không.
Cũng với hai câu này, ông dùng cụm từ “Chữ Quốc Ngữ” như một đại danh xưng, ở đây là cái ông nằm dưới mộ đó, tức là A.D. Rhodes, trong khi đó ông đang là Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ, thế cũng có nghĩa là Viện Vinh danh A.D. Rhodes, như vậy ông đã dại dột lộ cho thấy cái gian manh khi đặt tên cái Viện mà ông đương chức, cho nên Đại học Duy Tân bỏ của chạy lấy người là phải thôi.


Không dừng lại đó, ông lại lôi cả Nhạc sĩ Phạm Duy vào, bằng cách cho hát bài Tình ca để cúng dường cho A.D. Rhodes, một bài hát ca ngợi tiếng nói của dân tộc rất cảm động, trong đó có đoạn:
“Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi...”
Với sở học của ông, hơn 40 năm lặn lội ở trời Tây, mà không hiểu được thế nào là “Tiếng” thế nào là “Chữ” sao? Nhất định ông hiểu, nhưng ông đã bị nhiễm cái gen di truyền khiến ông không thể làm khác, Nhạc sĩ Phạm Duy giờ đây đang hầu tổ tiên, chắc cũng giật mình mà đính chính “Không, tôi không làm bài đó cho kẻ nằm dưới mộ kia”. Chưa hết, ông lại sửa cả câu nói nổi tiếng của Học giả Phạm Quỳnh “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; Tiếng ta còn, nước ta còn. Có gì mà lo, có gì mà sợ, còn điều chi nữa mà ngờ”[7] thành “Chữ quốc ngữ còn, tiếng ta còn, nước Việt Nam còn”.
 
Ông có biết câu nói này xuất hiện vào hoàn cảnh nào không? Thưa ông, cụ Phạm Quỳnh đã nói câu này để cảnh báo tiếng Pháp sắp thay thế tiếng Việt vào lúc bấy giờ. Nhận xét về câu nói này, năm 2006, nhà văn Mạc Phi đã viết “Cần phải thấy rõ âm mưu hiểm độc của thực dân Pháp là làm cho thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức Việt Nam quên tiếng mẹ đẻ, sùng bái tiếng Pháp, sùng bái văn hóa Pháp, coi thường, thậm chí coi khinh di sản văn hóa Việt Nam...”[8] Nhận xét nầy không những đúng vào thời điểm Phạm Quỳnh phát biểu câu nói trên, mà còn ngay cả vào thời điểm này nữa, nó như căn bịnh mãn tính, đã di căn tới tận mọi ngõ ngách tâm hồn của một số người Việt, vì vậy cứ nói về chữ Quốc ngữ là họ cứ say sưa tung hô các ông Tây, bất chấp rất nhiều tiền nhân nước Việt, cả người dân lẫn chính phủ, đã bỏ ra không biết bao nhiêu công sức để hoàn thiện và truyền dạy cuối cùng mới thành chữ Quốc ngữ ngày nay. Thế đấy, một câu nói có tính chân lý như vậy, mà ông lại đem câu ấy sửa lại một cách tùy tiện để phục vụ cho âm mưu đen tối của mình, đây là một việc làm thiếu kính trọng với tiền nhân, một việc làm của những đứa trẻ con, không phải của người lớn, nhất là trí thức, thế mà còn khắc vào bia đá để lưu danh muôn thuở nữa, lưu phương hay lưu xú đây?
Không phải bỗng dưng mà Học giả Phạm Quỳnh nói như thế đâu, mà bởi vì ông là chứng nhân lịch sử trong giai đoạn thực dân Pháp muốn Pháp hóa tiếng Việt, nhưng cá nhân ông ta bất lực nên mới thốt lên câu ấy. Phạm Quỳnh bất lực nhưng Hồ Chí Minh thì không, chỉ trong một thời gian ngắn, với chính sách “Diệt giặc dốt” chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh, đã vô hiệu hóa chính sách Pháp hóa tiếng Việt mà người Pháp đã ôm ấp trong suốt 80 năm đô hộ, để rồi sau đó tống cổ chúng ra khỏi bờ cõi, để tiếng Việt vẫn là giai điệu ngọt ngào pha lẫn buồn vui theo nỗi thăng trầm của đất nước, như Tình ca của Phạm Duy đã thể hiện cho đến ngày nay. Việc này tôi đã trình bày đầy đủ trong bài Sự ghi nhận và lòng biết ơn tôi nghĩ ông nên đọc để biết thế nào là khí phách Việt.

Với những việc làm trên nhất định A.D. Rhodes nằm dưới mộ cũng hết sức hài lòng, bởi vì các ông đã kế thừa một cách hoàn hảo sự tráo trở và gian trá mà ông ta và các cố đạo đã dày công đào tạo, trao truyền. Tuy nhiên, tục ngữ Việt Nam có câu “Con hơn cha là nhà có phúc”, có nghĩa rằng ngoài cái tố chất tráo trở và gian trá mà ông Viện trưởng đã kế thừa từ bậc thầy vĩ đại của mình, ông còn hơn A.D. Rhodes mấy bậc khi tuyên bố “Tôi là người LƯƠNG”. Đây là một chiêu tuyệt đại thượng thừa, một kiểu lưu manh siêu hạng, nếu ở tấm bia ông ghi “người Việt Nam” chung chung, thì giờ đây ông đã cụ thể hóa bằng từ “người Lương” có nghĩa là tuyệt đại người Việt, Lương hay Giáo (khỏi cần kể) cũng đều cúi đầu trước A.D. Rhodes mà thôi. Viết đến đây tôi chợt nhớ ra chuyện tử hình những năm xưa, sau khi nhận hàng loạt phát súng vào người, nếu tử tù chưa chết, người ta khuyến mãi thêm một phát cuối cùng để kết liểu, hành động này gọi là “phát súng ân huệ”. Cái câu “tôi là người Lương” của ông xem ra có khác gì cái “ân huệ” ấy đâu.
Tuy nhiên, tôi nghĩ ông là người Việt, chảy trong ông vẫn là dòng máu của tổ tiên, hơn nữa ông lại là người có học, tôi mong ông hãy hồi tâm, đừng tiếp tay cho những kẻ đã cướp nước Việt nữa, bởi vì không cướp được nước thì họ lại bày mưu, tính kế cướp văn hóa, cụ thể là chữ Quốc ngữ, cái thành quả văn hóa mà ông đã đem dâng cho một tên tội đồ của dân tộc Việt Nam đang yên nghỉ tại Iran. Ngược lại ông và những người cùng chí hướng với ông nên tri ân các tiền nhân nước Việt đã vận dụng tinh thần tùy duyên, biến một nguồn nước độc hại thành giòng nước trong lành cho người Việt, trong đó có ông và dòng họ tắm mát bấy lâu nay. Đồng thời qua đó nhận thức rằng để có được một đất nước với những mùa xuân đầy hoa trái hôm nay, có máu xương của biết bao nhiêu con người đã đổ xuống mà không một lời than thở, đòi hỏi gì như ông, như Thiền sư Huyền Quang đã viết một cách nhẹ nhàng trong bài thơ:
                  Xuân nhật tức sự.
二八佳人刺繡持      Nhị bát giai nhân thích tú trì,
紫荊花下轉黃鸝     Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.
可憐無限傷春意     Khả lân vô hạn thương xuân ý,
盡在停針不語時.     Tận tại đình châm bất ngữ thì.
Ngày xuân tâm sự
Chầm chậm nàng xuân dệt gấm hoa,
Hoàng li hót dưới tử kinh nhà.
Nỗi lòng xuân đó sao thương quá!
Dâng hết xuân thì chẳng nói ra.

Vâng! Đã có biết bao nhiêu con người vì sự tồn vong của dân tộc, sự tha hóa của giống nòi, vì nền độc lập của đất nước và hạnh phúc của nhân dân mà hy sinh tuổi thanh xuân của mình để làm nên những trang sử hào hùng mà không một lời đòi hỏi, cũng như mùa xuân đã vì nhân thế mà hiến dâng hết nhựa sống của mình, làm nên những đóa hoa tươi thắm tô đẹp cuộc đời cho đến khi tàn tạ mà chẳng một lời thở than. Vì vậy những ai đang hưởng thụ một nền độc lập với bao mùa xuân tươi đẹp trên quê hương, đất nước thân yêu nầy “Đừng biến mình trở thành kẻ vô ơn”.

V. KẾT.
Lịch sử của dân tộc ta mấy trăm năm qua là một lịch sử của sự chia cắt, chia rẻ và hận thù, cho nên khát vọng lớn nhất của người Việt mấy trăm năm qua là làm sao thống nhất được giang sơn, đất nước, làm cơ sở cho sự đoàn kết dân tộc để cùng nhau xây dựng đất nước hùng cường, ngỏ hầu đền đáp công ơn của tổ tiên và sự hy sinh của biết bao tiền nhân, những người có tên và không tên đã xây đắp nên quê hương, đất nước này.
Cũng vì hoài bảo này mà dân tộc Việt Nam, vốn sinh ra trong một nền văn hóa đầy lòng nhân ái và bao dung, cố quên đi những đau thương do các thế lực ngoại bang, kể cả những thế lực trong nước gây ra. Tuy nhiên xem ra tinh thần bao dung và nhân ái đó đã không đủ sức thuyết phục được những con người đã bán linh hồn mình cho quỷ dữ, họ vẫn nuôi mộng biến nước Việt thành một đứa con lai của theo nghĩa hiện đại nhất.

Theo thời gian lòng nhân ái và sự bao dung không được nuôi dưỡng đúng cách, nó bắt đầu biến chất trở thành ba phải, từ đó cứ nào là phải “thoáng” và hãy “bỏ qua” nếu không “thế thì dở quá” phản ứng mạnh thì “có gì mà ầm ỉ”, người sống xem ra muốn thất thủ, nhưng người chết cũng không được yên thân, được nước lấn tới, lại phong cho những kẻ cướp nước, hại dân cái tước hiệu “các bậc tiên hiền” với cái vị trí này thì xem ra trong lịch sử nước nhà còn có ai xứng để dám ngồi chung chiếu với họ, nhất là các vị “Khổng, Lão, Thích và Tổ tiên nước Việt” thì nhất định khó mà tiếp cận, nếu không lo tránh xa thì biết đâu lại rước họa vào thân, bởi vì lần này không cần phải dùng dao chém đâu mà là bằng hỏa tiển, được sản xuất hợp pháp nội địa, cả tầm gần lẫn tầm xa. Tất nhiên, những thứ đó không phải là những khúc củi mục trôi lềnh bềnh trên giòng sông mạng, mà nó là sản phẩm được đánh bóng bằng loại dầu bóng thượng hạng “lobby” chắc phải thêm một chút gia vị “money” cho đậm màu dân tộc, có như thế mới được đem trưng bày ở các cửa hiệu cơ quan ngôn luận chính thống báo nọ, chí kia.

Vâng, quá khứ đau thương của dân tộc chỉ là những thước phim quay thử, để cho các đạo diễn tài ba ngày nay, cắt chổ nọ, dán chổ kia, xây tượng đài cho các “bậc tiên hiền” bằng máu xương của những người dại dột, dám xem đất nước mình quý hơn mấy chữ a, bê, cê. Xin download vài bài gởi theo đám mây hương đến với các nghĩa quân Ba Đình, xin quý vị đọc cho khuây khỏa trong lúc chờ đợi đại ân nhân Pháp tặng cho vài viên đạn hay vài nhát dao (học bài của A.D. Rhodes) để về nơi an nghỉ cuối cùng, để thấy rằng họ khôn ngoan, sâu sắc biết nhường nào, còn các ông thật là quá quê mùa, nông cạn. Xin chắp tay, cúi đầu tạ lỗi với quý vị ./.

Các nam nghĩa quân Ba Đình
P/S.
Thưa quý thức giả.
Từ lâu, những người nghiên cứu chữ Quốc ngữ thường sử dụng cụm từ “chữ Quốc ngữ” cho chữ Việt kí âm bằng mẩu tự La Tinh đầu tiên của các giáo sĩ phương tây, người đại diện là A.D. Rhodes. Theo tôi đây là một cách dùng từ không thích hợp, bởi vì một mặt chúng ta dùng từ “chữ Quốc ngữ” cho chữ của A.D. Rhodes, mặt khác lại ra sức chứng minh rằng đó không phải là chữ Quốc ngữ hiện nay bằng những lí luận hết sức hàn lâm. Điều này khiến cho công chúng, nhất là giới trẻ không phân biệt được thế nào là chữ Quốc ngữ của các giáo sĩ và chữ Quốc ngữ hiện nay, từ đó họ cho rằng (và họ có lí) chữ ấy là chữ Quốc ngữ. Chính các vị nói đấy thôi, cho nên tri ân là phải chứ biện luận quanh co cũng chỉ là ngụy biện mà thôi. Đây là một việc “Thả gà ra bắt” tự mình làm khó mình.
Chính vì vậy khi nói “Chữ Quốc ngữ là công cụ để xâm lăng” nó gây ra dị ứng, vì cả nước đang sử dụng chữ Quốc ngữ mà nói như vậy thì làm sao thuyết phục họ được.
Đáng lý ra ta nên nói “Chữ Việt Bồ là công cụ để xâm lăng” còn“Chữ Quốc ngữ là công cụ để chống xâm lăng”, tức là gậy ông đập lưng ông.

Cho nên để cho phần đông giới trẻ dễ phân biệt, tránh nhập nhèm, tôi đề nghị chúng ta nên sử dụng một từ cụ thể cho loại chữ của các giáo sĩ, trong bài tôi dùng từ “chữ Việt Bồ”, còn quý vị dùng như thế nào là tùy nhưng cần phải tách bạch.
Quần chúng, nhất là tuổi trẻ, họ có quá nhiều thứ để phải học, vì vậy không có thì giờ đâu mà nghe những lí luận hàn lâm, nhưng họ là những chủ nhân của đất nước sau này, do đó mong quý vị hãy quan tâm. Đường dẫn sau đây là một minh họa chứng minh cho việc này.
Cám ơn quý vị đã đọc lời đề nghị này.
____________________
Tham khảo:
[1] Theo Marcucci, Matthew A. (2009). Trong cuốn “Rendering Sinograms Obsolete: Vietnamese Script Reform and the Future of Chinese Characters”
[3] Từ điển Việt-Bồ-La, Nxb KHXH, 1991, phần phiên dịch, tr.1
[4] Sdd, tr.5
[5] Sdd, tr.3
[6] Từ missionaries, có nghĩa là các Giáo sĩ hay Thừa sai, nhưng hầu hết các trang mạng và sách vở ngày nay đều dịch từ này trong đoạn phát biểu của Giám mục Desmond Tutu là “người da trắng”. Qua đây ta thấy bàn tây lông lá của những kẻ sùng Tây thò đến khắp nơi, từ nào bất lợi cho Thiên Chúa giáo là họ dịch lươn lẹo, cũng như ông Nguyễn Đình Đầu và Linh mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên chú thích một cách tùy tiện cụm từ “Plusieurs soldats” là “chiến sĩ Phúc âm, tức là các nhà truyền giáo, chứ không phải binh sĩ đi chiếm cứ xâm lăng”. Thế đấy “Soldats – Các lính chiến” thì dịch là Missionaries – Các giáo sĩ thừa sai, còn “Missionaries – Các giáo sĩ thừa sai” thì dịch thành Người da trắng.
[7] Tạp chí Nam Phong, số 86 (năm 1924)
[8] Phạm Quỳnh và bản án tử hình đối với ông, Mạc Phi. Tạp chí Xưa và Nay số 269 (10/2006)

Viên Như
Nguồn: tác giả gửi
_________________
Bài đọc thêm:


Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019


THƯ GỬI GIÁO SƯ NGUYỄN ĐĂNG HƯNG
Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ và Bảo tồn tiếng Việt,
 trường Đại học Duy Tân, TP. Đà Nẵng

Nguyễn Đắc Xuân

 
Một Cố đạo Pháp bên cạnh tượng Mẹ Maria sau khi đập phá
và liệng xuống đất các khí pháp và ảnh tượng của Phật giáo.
[Caption ghi: “19. TONKIN - Les dieux s’en vont”, Ảnh số 19. BẮC KỲ - Thần thánh bỏ đi]  


Thân gởi GS. Nguyễn Đăng Hưng,
Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ và Bảo tồn tiếng Việt,
trường Đại học Duy Tân, Tp. Đà Nẵng

Anh Hưng thân,

Sau khi anh thấy tên tôi trong bản kiến nghị do một nhóm thầy giáo và các nhà nghiên cứu Văn hóa Lịch sử ở Huế, Hà Nội và TP HCM gởi cho lãnh đạo Thành phố Đà Nẵng, đề nghị không nên lấy tên hai vị Linh mục Francisco de Pina (Pi-na) và Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) đặt tên cho hai con đường mới ở Thành phố Đà Nẵng, anh đã gọi điện thoại cho tôi bảo tôi “sai” rồi và vào ngày 28-11-2019, anh và ông Nguyễn Huy Cường nào đó còn gởi thư cho tôi với nhan đề “Nếu nhầm lẫn thì xin lỗi và im lặng”.

Anh Nguyễn Đăng Hưng,
Với hơn nửa thế kỷ cầm bút, tham gia phản biện hàng chục đề tài với nhiều thể loại, nhiều cấp khác nhau nhưng chưa bao giờ tôi nhận được những lời cảnh báo “sốc” đến như vậy. Thông thường mỗi khi gặp một trường hợp phản biện tôi luôn phản biện lại ngay để bảo vệ ý tưởng của mình. Nhưng đối với lá thư của anh (và ông Nguyễn Huy Cường nào đó), một người bạn thân nhau từ hơn ¼ thế kỷ qua, tôi “im lặng” nhưng không xin lỗi. Xin lỗi ai? Và xin lỗi cái gì?

Với tư cách là một người cầm bút thân thiết với Thành phố Đà Nẵng, năm 1998, tôi đã từng phản biện giúp ông Nguyễn Bá Thanh, lúc đó là Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Nẵng xóa bỏ tên ông Nguyễn Hiển Dĩnh đã đặt cho con đường song song với đường 2 Tháng 9 ở Đà Nẵng ngày nay, nên tôi đã không ngần ngại tham gia vào Bản kiến nghị nói trên. Và lãnh đạo Thành phố Đà Nẵng đã có thư phản hồi cám ơn những người có tên trong “Bản Kiến nghị” và đồng ý (hứa) “chưa đặt tên đường hai vị linh mục lần nầy”. Như vậy, Bản Kiến nghị của chúng tôi có kết quả. Việc kiến nghị như thế đã xong rồi. Nếu sau nầy, Thành phố Đà Nẵng bỏ qua lời hứa với chúng tôi, họ lại dùng tên hai vị linh mục ấy đặt tên đường thì chúng tôi mới cung cấp thêm thông tin và kiến nghị tiếp). Chúng tôi phải lo công việc khác của mình chứ! Vì thế, tôi không biết tôi nhầm chuyện gì và phải xin lỗi ai? Sở dĩ cho đến nay tôi im lặng không phải vì lời cảnh báo rất sốc của các anh mà chính vì những lý do sau đây:
- Con cháu trong gia đình anh Cả tôi, gia đình tôi, gia đình em trai tôi, gia đình em gái tôi đều có người làm dâu trong các gia đình Thiên Chúa giáo. Bây giờ lật lại nói chuyện này, chuyện không hay của các linh mục Thiên Chúa giáo thật không nên chút nào;
- Những trang đen trong lịch sử dân tộc tưởng đã giao cho lịch sử để bây giờ sống trong hiện tại, tự nhiên các anh bươi chuyện Đắc Lộ ra, không khéo lại “tóa lọa lọa” gây mất đoàn kết dân tộc trong lúc giặc Tàu đang rập rình cướp đất, cướp đảo ngoài Biển Đông, giữ được im lặng chuyện Đắc Lộ là phải;
- Bỏ một đời nghiên cứu, học hỏi, trải nghiệm, được học, được gặp gỡ tiếp xúc trao đổi với các bậc thức giả hàng đầu về văn hóa lịch sử, trong đó có nhiều vị là tín đồ Thiên Chúa giáo, nói đâu có tài liệu kèm theo đó,… lẽ nào lại quên hết để đi đôi co với những người mới đầu hôm sáng mai điếc không sợ súng lên mặt dạy đời sao?
Nhưng rồi do hoàn cảnh thúc ép, tôi cũng chỉ có thể giữ im lặng cho đến đây thôi. Tôi viết lá thư nầy gởi đến anh không có ý đề cập đến 6 vấn đề chúng tôi đã nêu lên trong bản Kiến nghị gởi cho Thành phố Đà Nẵng mà chỉ trao đổi với người bạn vừa nhận chức Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc ngữ và Bảo tồn tiếng Việt, Đại học Duy Tân thôi.

Anh Hưng ơi!
Anh có mời tôi xem cuốn phim “Chuyến đi Iran thăm mộ Đắc Lộ” của anh trên Net. Tôi đã xem và giới thiệu với các bạn tôi cùng xem. Cảm tưởng đầu tiên của tôi là các anh đã làm rõ được nơi an nghỉ cuối cùng của một vị linh mục có tên trong lịch sử Chữ Quốc Ngữ [CQN], có công lớn trong việc truyền Đạo Thiên Chúa vào VN. Một người nổi tiếng như thế mà các Giáo hoàng Vatican bỏ rơi ông ở một nơi hiu quạnh như thế thật bất nhẫn. Và không hiểu có biết bao linh mục, giáo dân giàu có mà xưa nay đã có ai đến viếng mộ ông Đắc Lộ chưa (?). Bài diễn văn của anh trong buổi lễ có nhiều chuyện không đúng nhưng đó là chuyện của anh tôi không nhắc lại ở đây.

1.Nhưng tôi thật bất ngờ trong diễn văn anh cho biết các anh đã khắc một tấm bia ghi ơn  đặt ở ngôi mộ linh mục Đắc Lộ với nội dung “CHỮ QUỐC NGỮ CÒN, TIẾNG VIỆT CÒN, NƯỚC VIỆT NAM CÒN”. Như vậy ngày nay tiếng Việt còn, nước Việt Nam còn là nhờ CQN của linh mục Đắc Lộ. Một khám phá vô tiền khoáng hậu. Như vậy bảo vệ CQN của linh mục Đắc Lộ là bảo vệ Việt Nam. CQN của Đắc Lộ có một nhiệm vụ thiêng liêng như thế cho nên anh mới dành cả tuổi già của mình làm “Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ….”. Các nước Lào, Căm-pu-chia, Thái Lan, Miến Điện, Trung Quốc Nhật Bản, Hàn Quốc không dùng chữ nước họ được la tinh hóa như CQN VN, không rõ được thế lực nào đã bảo vệ mà các nước ấy đều sốn ngon lành như ngày nay.
Có hai việc cần nhắc ông Viện trưởng sau đây:
1.1.- Anh đã cóp và sửa ý tưởng khắc ở khu lăng mộ cụ Phạn Quỳnh ở ấp Bình An, phường Trường An, TP Huế - địa điểm có dấu tích Cung điện Đan Dương thân thiết của tôi trên 1/3 thế kỷ qua. Nguyên văn của cụ Phạm Quỳnh trên bia đá là: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”.
Bia đá “Tiếng ta còn ...” ở lăng mộ cụ Phạm Quỳnh

Anh sửa lại “CHỮ QUỐC NGỮ CÒN, TIẾNG VIỆT CÒN, NƯỚC VIỆT NAM CÒN” và khắc lên đá Non Nước đem qua dựng bên mộ linh mục Đắc Lộ ở Iran. Thực hiện việc làm nầy anh mắc hai lỗi trọng: (1) Lỗi ăn cắp ý tưởng của người khác sửa lại làm ý tưởng của anh; (2) Theo anh nước Việt Nam ngày nay còn là nhờ CQN của linh mục Đắc Lộ. Điều đó có nghĩa anh xóa hết công lao xương máu của bao thế hệ trường kỳ kháng chiến từ Ngày thất thủ Kinh đô vua Hàm Nghi xuất bôn với Phong trào cần vương (1885) cho đến ngày thông nhất đất nước (1975) –ròng rã suốt 90 năm. Người ngoại quốc đọc tấm bia làm ô nhục dân tộc VN đó họ sẽ nghĩ như thế nào? Với tư cách là môt công dân VN; tôi đề nghị anh nhờ người hủy tấm bia đá đó kẻo xấu hổ lắm;
1.2.- Anh không phân biệt được “tiếng” và chữ viết. Có ai đó gọi tên anh, người học chữ Hán và chữ Nôm ghi ngay 登興, người học CQN ghi “Đăng Hưng”. Tiếng của một dân tộc không thay đổi, luôn tồn tại và phát triển, nó có âm điệu, có nhạc (nhất là tiếng VN), còn chữ chỉ là hệ thống các ký hiệu để ghi lại ngôn ngữ theo dạng văn bản. Tiếng không thay đổi, chữ viết có thể thay đổi qua thời gian như chữ Hán, chữ Nôm, chữ CQN của ta vậy. Trong ngành bưu điện hay ngành truyền tin quân đội trước đây người ta còn dùng ký hiệu điện báo móoc (morse) nữa.
Tiếng nói mới là tâm hồn dân tộc. Cả một kho tàng ca dao tục ngữ, dân ca khắp ba miền truyền khẩu qua bao đời nay có chữ chiếc gì đâu. Tôi không ngờ anh không phân biệt được hai lãnh vực “tiếng” và “chữ” nên mới đem Tình Ca của Phạm Duy “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…” ra hát bên mộ giáo sĩ Đắc Lộ - tác giả Tự điển Việt Bồ La. Con nít mới ra đời được nghe lời ru của mẹ từ ca dao, dân ca chứ làm gì có chuyện trẻ con còn nằm trong nôi đã biết CQN của linh mục Đắc Lộ của anh? Nếu Phạm Duy biết chuyện nầy sớm có lẽ nhạc sĩ không cho phép tôi đưa anh đến thăm Phạm Duy năm ấy.

2. Trong buổi lễ nhớ ơn Đắc Lộ, các anh đã tôn vinh sách Phép Giảng Tám Ngày của linh mục Đắc Lộ. Nội dung “Ngày thứ tư”, Đắc Lộ đã mạ lỵ, xúc phạm hết sức thô bạo:

Sách Phép Giảng Tám Ngày được GS Nguyễn Đăng Hưng
dâng hiến trong lễ tôn vinh Cố đạo Đắc Lộ ở Iran ngày 5-11-2018

- Ngày Thứ tư, Đạo bụt: “giáo ngoài và giáo trong” (tr.101 và 102). Gọi Phật bằng nó, thóa mạ, miệt thị Đạo Phật là đạo gian, đạo dối trá, đạo Phật dày đặc những truyện giả, xiêu dối thế gian  nên phạm tội lỗi, đạo Phật là đạo “rợ mọi”, theo đạo Phật là quỷ quái, ai theo đạo Phật là ngu, thờ Phật là đứa gian, ai tin  Phật, không tin chúa là phạm mọi tội.v.v.
- Ngày Thứ tư, mục “Những sự dối trá của Thích Ca về linh hồn ta”. (Tr.110-111). Phê phán tục cúng ông bà tổ tiên của Việt Nam.
- Ngày Thứ tư, mục “Những điều lầm lỗi trong việc thờ cúng cha mẹ” (Tr.112, 113). Cúng cha mẹ chết là có lỗi.
Anh tôn vinh Phép Giảng Tám Ngày, tức là anh tôn vinh cho quan điểm trịch thượng bất kính ngạo mạn của linh mục Đắc Lộ đối với giáo chủ của các tôn giáo khác. Trong Phép Giảng Tám Ngày có 9 lần Đắc Lộ nói đến “Thích Ca”, 3 lần dùng chữ “rợ mọi” đối với Đạo Bụt (Đạo Phật), 20 lần nói đến “đạo bụt” với tính cách miệt thị, dạy con chiên gọi những người thờ Bụt (Phật) là “giáo ngoài”, con chiên gọi người khác đạo là “ngoại giáo”.
Anh tôn vinh Phép Giảng Tám Ngày, xóa bỏ hoàn toàn đời sống văn hóa tâm linh Việt Nam của linh mục Đắc Lộ. Từ nay, anh có thể không vào bất cứ nơi nào thờ Phật Thích Ca trên thế giới nầy nữa, nhưng lẽ nào anh đập bàn thờ tổ tiên, không giỗ chạp cúng bái cha mẹ nữa được sao? Anh không biết Cộng đồng Vatican 2 (từ 1962 đến 1965) đã cho phục hồi việc thờ cúng ông bà cha mẹ của giáo dân ở VN rồi sao? Trong HTKH Mừng 400 năm Dòng Tên, …có hai báo cáo, báo cáo thứ hai mang tựa đề “Cái nhìn về các tôn giáo theo sách giáo lý (Cathechismus Phép Giảng Tám Ngày) của cha Đắc Lộ” của linh mục. Anton Nguyễn Cao Siêu S.J. trình bày.

Tác giả đã kết luận tham luận:

Phép Giảng Tám Ngày” là một cuốn sách giáo lý nhằm dạy cho những ai muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh Đức Chúa Trời. Đối với Đắc Lộ, chỉ Kitô giáo mới là đạo thật, giúp con người được ơn tha tội và có sự sống vĩnh hằng. Chính từ xác tín này mà Đắc Lộ nhìn các tôn giáo trên đất An Nam: Đạo thờ ông bà của người Việt, cũng như đạo Nho, đạo Lão, đạo Phật. Khi giảng cho người dự tòng, Đắc Lộ muốn đề cao cái hay của đạo mới, nên nhấn mạnh đến những điều mà Ông cho là không đúng, không hay nơi các tôn giáo khác. Hơn nữa, cái nhìn của Đắc Lộ, một thừa sai Tây phương ở thế kỷ 17, cũng chịu ảnh hưởng của nền thần học thời đó về ơn cứu độ. Đối với chúng ta hôm nay, cái nhìn này có những giới hạn và sai sót, cả trong nội dung lẫn cách trình bày. Chúng ta phải đợi Công Đồng Chung Vaticanô II mới có được cái nhìn tích cực hơn về các tôn giáo ngoài Kitô giáo” (NĐX nhấn mạnh). 
(1)

Như vậy, từ Công đồng Vatican 2 (từ 1962 đến 1965), cách đây trên nửa thế kỷ TCG đã chính thức nhận sai lầm của Đắc Lộ trong Phép Giảng Tám Ngày đối với Việt Nam, sao giờ nầy anh còn tôn vinh Phép Giảng Tám Ngày say sưa đến vậy? Anh có biết nhiều linh mục Thiên Chúa giáo học Phật Thiền Chánh Niệm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh vừa giảng ở các Nhà thờ, vừa làm Giáo thọ ở Trung tâm Phật giáo Làng Mai, Pháp quốc không?

3.- Anh tôn vinh cuốn Tự điển Việt Bồ La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) của linh mục Đắc Lộ. Như anh đã biết phần Việt Bồ là sản phẩm của những người đi trước linh mục Đắc Lộ  như Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa, Francisco de Pina – những bậc thầy của linh mục Đắc Lộ. Phần La tinh Đắc Lộ thêm vào theo lệnh của VaticanTự điển Việt Bồ La là công cụ trang bị cho các Thừa sai Thiên Chúa giáo người Bồ, người sử dụng tiếng La tinh đi truyền giáo ở VN, để cải đạo người VN theo Phép Giảng Tám Ngày.
Ngoài các Linh mục người Việt, những ai trong xã hội VN xưa nay đã biết, đã sử dụng cuốn Tự điển ấy? Sử dụng vào việc gì? Một công cụ giúp cho các Thừa sai Thiên Chúa giáo đánh vào văn hóa, vào đời sống tâm linh của người Việt Nam, tại sao ta phải cám ơn người làm ra công cụ ấy? Đời thuở nào một người có văn hóa đi cám ơn người đã chế tác ra “bom” rải thảm lên nền văn hóa của dân tộc mình như thế? Anh sẽ trả lời con cháu anh như thế nào? Phải chăng như anh đang rao giảng lâu nay vì linh mục Đắc Lộ đã có công “tạo tác chữ quốc ngữ” như lời anh khắc trên bia dựng ở mộ Giáo sĩ Đắc Lộ bên Iran?
3.1. Xét về mặt đạo đức của người biên soạn sách, người làm tự điển của linh mục Đắc Lộ), chúng tôi đã viết trong Kiến nghị gởi Thành phố Đà Nẵng đề ngày 23-10-2019. Nay tôi mách thêm cho ông Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc ngữ cái giá trị đích thực của cái công cụ truyền giáo bằng CQN của linh mục Đắc Lộ hồi ấy như sau:
* GS.TS. Nguyễn Văn Trung – một người tu xuất, nguyên Khoa trưởng ĐH Văn khoa đầu tiên của Viện Đại học Huế, tác giả cuốn sách Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp Ở Việt Nam – Thực Chất Và Huyền Thoại (Nam Sơn, Sài Gòn, 1963), người rất nổi tiếng trước năm 1975 ở miền Nam, ông đã tham khảo hai cuốn sách của Toàn quyền Đông Dương (1891-1894) de Lanesan:
L'Expansion coloniale de la France: étude économique, politique et géographique sur les établissements français d'outre-mer (1886) (Sự mở rộng thuộc địa của Pháp: Nghiên cứu kinh tế, chính trị và địa lý về định cư ở nước ngoài của Pháp (1886).
L'Indo-Chine française, étude politique, économique et adminis -trative sur la Cochinchine, le Cambodge, l'Annam et le Tonkin (1889) (Đông Pháp, nghiên cứu chính trị, kinh tế và hành chính ở Nam Kỳ, Campuchia, Annam và Bắc Kỳ (1889);
Trong mục Thái độ đối xử với người bản xứ, về phương diện tôn trọng người, của cải, tôn giáo, phong tục, tập quán xã hội (tr.114), tác giả Nguyễn Văn Trung viết:
Theo Lanessan, các vị thừa-sai Công-giáo thường nhắm quần chúng, dân quê, bần cùng nghèo khổ, hoặc kẻ trộm cướp để giảng đạo. Nói cách khác, người công-giáo thường thuộc thành phần những giai cấp thấp hèn nhất trong xã-hội. Những người này thường được tập-hợp lại thành làng xóm riêng, tách khỏi đoàn-thể dân-tộc. Lý do cô lập các làng theo đạo ở tại các thừa sai sợ người theo đạo giao-thiệp với người Lương có thể quay lại những phong-tục lễ-nghi ngoại đạo. Cũng vì lý-do sợ đó mà họ đã tạo ra chữ quốc-ngữ, chủ-đích là để giáo dân khi biết đọc chữ quốc-ngữ, thì chỉ biết đọc sách báo đạo mà thôi, trái lại để cho họ học chữ nho, sợ họ có thể thông cảm lại với tư tưởng ngoại-giáo. Thành ra việc sáng lập chữ Quốc-ngữ phải chăng nhằm một mục đích “ngu dân” ly- khai với văn-hóa dân tộc?” (2)

3.2. CQN của linh mục Đắc Lộ là một công cụ truyền giáo “nhằm quần – chúng, dân quê, bần cùng nghèo khổ, hoặc kẻ trộm cướp để giảng đạo”, ngoài ra không có ảnh hưởng, không có tác động gì đối với dân chúng ngoại đạo Thiên Chúa, đối với tầng lớp Nho sĩ, tầng lớp quan lại của hai xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài (dù hai xứ nầy đối nghịch nhau).
Cả hai Đàng đều trục xuất Đắc Lộ ra khỏi nước Nam. Nghiên cứu Lịch Sử Văn học Công Giáo Việt Nam(3) của Võ Long Tê khẳng định: Từ khi có Phép Giảng Tám Ngày  Tự điển Việt Bồ La (1651) cho đến ngày Việt Nam hoàn toàn bị mất vào tay thực dân Pháp (1885 - Thất Thủ Kinh Đô), trên hơn 200 năm ấy không thấy có bất cứ một tác phẩm văn học nào bằng CQN của linh mục Đắc Lộ trong đời sống người dân Việt cả. (Nếu có cũng chỉ phổ biến trong các nhà thờ mà thôi). Các tác giả Việt Nam, trong thời gian hơn 200 năm ấy, không hề biết trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo lớn ở VN đang có Phép Giảng Tám Ngày  Tự điển Việt Bồ La bằng CQN của linh mục Đắc Lộ.
Các tác giả Việt Nam cứ tiếp tục sử dụng chữ Hán Nôm của cha ông mình đã sử dụng, sáng tác nên các tác phẩm bất hủ trong cổ Văn học sử Việt Nam như Truyện Hoa Tiên, Tụng Tây Hồ Phú, Sãi Vãi, Hoài Nam Khúc, Ai Tư Vãn, Nhị Độ Mai, Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm v.v.. Đặc biệt, Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nếu VN không mất nước, không bị thực dân Pháp và Thiên Chúa giáo bắt buộc phải bỏ chữ Hán, bỏ chữ Nôm, thay vào đó bằng CQN thì Đắc Lộ và các sách của ông ấy cũng cùng chung số phận bị lãng quên như các Tự điển La tinh hóa chữ Nhật, chữ Tàu không còn ai nhắc đến nữa.
3.3. Vì sao các nước Nhật Bản, Trung Quốc loại bỏ chữ la-tinh hóa mà VN thì vẫn giữ chữ Việt la-tinh hóa cho đến ngày nay? Để trả lời câu hỏi nầy, Giáo sư Cao Huy Thuần – Giáo sư Đại học ở Pháp, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Liên Hiệp Âu Châu tại Đại học Amiens. Năm 1990, với sự bảo trợ của Đại học Yale, ông đã xuất bản Luận án Tiến sĩ Quốc gia Pháp: Les missionnaires et la politique coloniale francaise au Viêt Nam (1857 1914). Tại Chương IX: Văn thư và tin tức tình báo của Giám mục Puginier (gởi cho thực dân Pháp) (tr. 276-303). Đoạn trích chụp lại nguyên văn dưới đây tại trang 300 và tr. 301:

Có chú thích “Notes sur la question du Tong-King, Mars 1884”. 
Archives du ministère de la F.O.M., AOO (30) ou N.F.54. 
Tác giả Cao Huy Thuần chuyển ngữ văn bản của Giám mục Puginier qua CQN như sau:
Điều thứ hai phải làm, chính là bãi bỏ chữ Nho và thay thế, lúc đầu, bằng tiếng Việt Nam viết theo kiểu người Âu, gọi là Quốc ngữ, rồi sau đó, bằng tiếng Pháp.Không có cách nào hữu hiệu hơn cách này để tiêu diệt tinh thần đạo Nho và uy thế to lớn của nhà Nho trong dân chúng (NĐX nhấn mạnh) Thật vậy, nếu không còn dạy và dùng chữ Nho nữa trong các văn kiện chính thức, thì toàn bộ kiến thức của các nhà Nho nào có ích lợi gì? Và nếu người Việt Nam không còn biết đọc các sách cổ viết bằng chữ Nho hoặc chữ Nôm, họ đã chẳng dần dần bị dẫn đến chỗ không biết được chính văn hóa, văn minh dân tộc họ đó sao? Khi ấy triết học Nho giáo, nền tảng của tổ chức chính trị và xã hội trong nước, chẳng bị chết dần chết mòn sao?
Nhưng công việc này phải tiến hành từ từ, tiệm tiến, đừng nói gì cả vì ngại va chạm đến dân chúng đã quen dùng ngôn ngữ và chữ Nho, và vì lý do chính trị, để tránh làm mích lòng Trung Quốc”.
“Từ lâu, tôi chủ trương dạy tiếng Pháp và dùng mẫu tự Âu châu để viết tiếng An Nam, nhưng khốn thay, tôi không được ủng hộ trong việc thực hiện kế hoạch mà tôi đã đề nghị sáu lần. Tuy nhiên, tôi vui sướng thấy từ hai năm nay, chúng ta làm việc tích cực cho mục tiêu này; ngoài trường dạy tiếng Pháp của Phái bộ truyền giáo, là trường đầu tiên được thành lập ngày 8 tháng 12 năm 1884, chính phủ còn lập nhiều trường khác từ ngày 5 tháng 4 năm 1885”.
“Cần phải dạy càng sớm càng tốt cho người An Nam viết và đọc được tiếng họ bằng mẫu tự Âu châu, việc này dễ hơn tiện hơn nhiều so với việc dùng chữ Nho. Rồi vài năm sau, nên bắt buộc mọi giấy tờ chính thức, thay vì viết chữ Nho như trước, phải được viết bằng tiếng trong nước, và mọi viên chức phải được dạy ít nhất để biết đọc và viết tiếng An Nam bằng mẫu tự Âu châu. Trong thời gian đó việc dạy tiếng Pháp sẽ tiến triển hơn và chúng ta chuẩn bị một thế hệ sẽ cung cấp các viên chức có học ngôn ngữ chúng ta. Thế là, có lẽ trong vòng 20 hoặc 25 năm, chúng ta có thể bắt buộc mọi giấy tờ đều phải được làm bằng tiếng Pháp và, do đó, chữ Nho sẽ dần dần bị bỏ rơi mà không cần phải cấm học”.
“Khi đạt được thành tựu to lớn đó, chúng ta lấy đi một phần lớn ảnh hưởng của Trung Quốc tại An Nam, và đảng nhà Nho An Nam, rất căn thù sự thiết lập thế lực Pháp, cũng dần dần bị tiêu diệt”.
“Vấn để này có tầm quan trọng rất lớn, và sau việc thiết lập Gia-tô giáo, tôi xem việc phế bỏ chữ Nho và việc thay thế nó dần bằng tiếng An Nam trước rồi kế đến bằng tiếng Pháp, là một phương cách rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập lên ở Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ của Viễn Đông”(4).
Như vậy CQN của linh mục Đắc Lộ không những là một công cụ xóa bỏ nền văn hóa Việt Nam mà còn thủ tiêu luôn cả tinh thần ý chí chống Pháp để bảo vệ đất nước của người Việt Nam. Người làm ra CQN và áp đặt buộc người Việt Nam phải học là kẻ thù của dân tộc VN, làm sao anh lại có thể làm ngược lại là tôn vinh Đắc Lộ và Tự điển Việt Bồ La của ông ta? Thực dân Pháp đã thực hiện đúng quy trình của Puginier đưa ra. Lúc đầu, bắt dân học CQN rồi sau đó bước qua học tiếng Pháp dứt hẵn với chữ Nho và chữ Nôm, dứt hẵn với lịch sử, văn hóa Việt Nam.

4.- Thực dân Pháp thực hiện mưu đồ của Giám mục Puginier bắt dân ta học CQN của Đắc Lộ. Học CQN để quên đi quá khứ, quên đi lịch sử, để cải đạo, phục vụ cho thực dân Pháp rồi dần dần trở thành công bộc của thực dân Pháp. Nhà Nho Trần Tế Xương đã phản ảnh tình hình lúc đó qua bài thơ ngắn sau đây:
Nào có nghĩa gì cái chữ Nho
Ông nghè ông cống cũng nằm co
Chi bằng đi học làm thầy phán
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò


Các chí sĩ yêu nước VN, các nhà văn hóa VN thấy rõ cái nhục đó, đứng vào cái thế bị cai trị, không còn cách chọn lựa nào khác họ đã vận dụng ngay cái công cụ phục vụ Thiên Chúa Giáo và thực dân Pháp biến thành công cụ dạy bảo cho dân VN biết được tội ác của giặc, biến cái công cụ thô sơ, hẹp hòi của địch thành một vũ khí sắc bén, vừa để đánh trả địch, vừa để xây dựng ngôi nhà văn hóa của mình. Xây dựng ngôi nhà văn hóa đó không những bằng gỗ giải hạ lấy được của giặc mà  chủ yếu bằng gạch đá của cha ông để lại (chữ Nho) cộng với tri thức của thời đại không qua con đường CQN.


Thực dân Pháp nghe lời Giám mục Puginier loại bỏ chữ Hán, chữ Nôm, nhưng chính trong giai đoạn nầy xuất hiện nhiều người Việt giỏi Hán Nôm. Giỏi Hán Nôm không phải để trở thành khoa bảng như ngày xưa mà thực tế để xây dựng văn hóa Việt Nam. Người Pháp không ngờ các trí thức Hán Nôm (như cụ Đào Thái Hanh ở Sa-đéc, tác giả Ái Châu Danh Thắng,  rất giỏi Hán Nôm và cũng là người giỏi tiếng Pháp) và ngược lại những trí thức rất giỏi tiếng Pháp và cũng rất sành Hán Nôm (như cụ Phạm Quỳnh, cụ Hoàng Xuân Hãn).

Tôi không nghiên cứu ngữ học Việt Nam, chỉ với tư cách là một người cầm bút tôi nghĩ trong tiếng nói và chữ viết tiếng Việt hiện nay có ít nhất từ 70% đến 80% là chữ Hán Việt (chữ Nho), còn lại 30% hay 20% chữ thuần , trong đó có CQN do Giáo sĩ Đắc Lộ chép của các vị Thừa sai người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và chữ thuần Việt xuất phát từ các địa phương khác mà thời các vị Thừa sai người Bồ, người Tây Ban Nha chưa biết. 70% đến 80% dùng chữ Hán Việt (chữ Nho) là gì? Là các chữ do người VN sử dụng (chữ Nho) theo nghĩa của người Việt, hoặc sử dụng những từ mới do các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc mới phát minh sau nầy. 70% đến 80%  chữ Việt dùng Hán Việt trong các lãnh vực Khoa học (Toán học, Vật Lý, Hóa học, Sinh học, Y học, Địa chất học.v.v.), trong lĩnh vực Luật học, trong lĩnh vực Triết học, Kiến trúc, Xây dựng, Nghệ thuật, Thương mại .v.v.. Và ngay bây giờ trong lĩnh vực Công nghệ 4.0.

Ta nói “trí tuệ nhân tạo” có từ nào là thuần Việt đâu? Tôi không nghiên cứu ngữ học tôi không biết hết, nhưng qua quá trình học vấn hạn hẹp của tôi: Tôi đã học khoa học nhờ Danh Từ Khoa Học của Hoàng Xuân Hãn, nghiên cứu  Luật học nhờ từ điển Luật của Vũ Văn Mẫu, học Triết học bằng Danh từ Triết học của Nguyễn Văn Trung. Gia tài CQN ngày nay của VN do biết bao người đóng góp xây dựng nên. Tại sao ông Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc ngữ chỉ vinh danh các Giáo sĩ Pi-na và Đắc Lộ không mà thôi?
Và, chắc anh cũng biết, sau ngày Cách mạng Tháng 8/1945 thành công, cuộc diễn hành mừng Cách mạng ở Hà Nội, bộ đội Việt Minh mặc binh phục của Pháp, đeo súng Pháp. Đến ngày Toàn quốc kháng chiến, vũ khí chống Pháp hầu hết cũng đều của Pháp. Vậy có khi nào ta đặt vấn đề tôn vinh cám ơn những người đã làm ra những vũ khí và binh phục cho ta chống Pháp không? Chắc chắn là không.

Anh là nhà vật lý chắc anh biết Giáo sư Tiến sĩ Trần Chung Ngọc (1931–2014)  là một học giả người Mỹ gốc Việt. Ông tốt nghiệp bằng Tiến sĩ vật lý tại Đại học Wisconsin - Madison, Hoa Kỳ, ông từng giảng dạy tại trường ĐH Khoa học Sài Gòn và các cơ sở giáo dục của VNCH đồng thời có thời gian nhập ngũ làm sĩ quan trong quân đội VNCH. Ông Trần Chung Ngọc sang định cư tại Hoa Kỳ, tiếp tục nghiên cứu vật lý, nghiên cứu các vấn đề lịch sử, văn hóa, tôn giáo Việt Nam. Năm 1994, ông kết luận bài viết Alexandre de Rhodes: Công hay Tội ? như sau:
Một tên giặc tới nhà chúng ta, tạo ra một thứ vũ khí để dễ bề quyến rũ con em nhẹ dạ theo chúng phản lại tổ tiên, chúng ta dùng vũ khí đó để mở mang đầu óc của tất cả những người trong gia đình nhờ đó mà gia đình chúng ta bảo vệ được truyền thống luân lý đạo đức của gia đình, bảo toàn gia sản của tổ tiên khỏi bị cướp đi, vậy chúng ta nên nhớ ơn những người trong gia đình có sáng kiến dùng ngay vũ khí của địch để đánh địch hay là chúng ta nên nhớ ơn kẻ đã mang vũ khí đến nhà chúng ta để cướp đi của cải và gây bất hòa trong gia đình chúng ta?
Tôi hy vọng vấn đề công và tội của Alexandre de Rhodes nay đã sáng tỏ”.(5)
Anh có thể không đồng ý với nhận định của TS Trần Chung Ngọc, nhưng ít ra anh cũng biết được rằng trong xã hội VN hiện nay, không phải ai cũng nghĩ về linh mục Đắc Lộ và CQN của ông như anh. Anh có quyền vinh danh linh mục Đắc Lộ, anh có quyền vinh danh Phép Giảng Tám Ngày nhưng anh không được nhân danh dân tộc VN vinh danh những người anh đang phấn đấu vinh danh như anh đã khắc lên bia đá “ CHỮ QUỐC NGỮ CÒN, TIẾNG VIỆT CÒN, NƯỚC VIỆT NAM CÒN”.

5. Vừa rồi anh nói trên Net: “Đà Nẵng không đặt thì ở Quảng Nam sẽ đặt tên đường hai vị”. Anh là Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc ngữ và Bảo tồn tiếng Việt, trường Đại học Duy Tân chứ đâu phải HĐND tỉnh Quảng Nam mà có thể khẳng định như vậy? Mà nếu là tỉnh Quảng Nam đi nữa thì tỉnh Quảng Nam đâu có thể vượt qua được chủ trương của nhà nước Việt Nam: “Điều 10, Khoản 5 về Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng như sau:
Những nhân vật lịch sử còn có ý kiến đánh giá khác nhau hoặc chưa rõ ràng về mặt lịch sử thì chưa xem xét đặt tên cho đường, phố và công trình công cộng”.
Alexandre de Rhodes là một người có công với Vatican mà có tội với dân tộc Việt, rắc rối như thế làm sao HĐND tỉnh Quảng Nam có thể chọn ông để đặt tên đường được chứ! Nhà thơ, ca sĩ Nguyễn Đăng Hưng mới lãng mạn như thế chứ không phải ông Giáo sư Vật lý phá vỡ ở Bỉ!

6. Có lẽ anh đã cảm thấy bị hố nên anh lại viết lại trên FB rằng “Đặt tên đường hay không đâu quan trọng, bởi trong tâm tưởng người Việt, với nết nghĩ “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” vẫn có Alexandre de Rhodes, bởi chữ quốc ngữ từ ông hiện hữu đang được dùng mỗi ngày”.

Anh lại sai nữa rồi. “Đặt tên đường hay không đâu quan trọng” thế thì anh – một trong những người cổ vũ cho TP. Đà Nẵng lấy tên hai linh mục Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes đặt tên đường phố làm gì để gây nên cuộc tranh luận gây mất đoàn kết đang diễn ra như hiện nay? Anh dẫn đoàn đi Iran vinh danh Đắc Lộ, vinh danh Phép Giảng Tám Ngày, việc Quảng Nam tổ chức Hội thảo CQN, chuyện Quảng Nam thiết kế xây dựng công viên Dinh trấn Thanh Chiêm CQN có ai chính thức phản đối gì đâu. Anh viết : “Bởi trong tâm tưởng người Việt, với nết nghĩ “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” vẫn có Alexandre de Rhodes bởi chữ quốc ngữ từ ông hiện hữu đang được dùng mỗi ngày”. Nhận thức của anh trên đây có hai điều sai:

6.1. Giáo sĩ Đắc Lộ có làm ra CQN đâu, ông ta chỉ là người cóp của các Thừa sai Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa, Francisco de Pina. Cóp xong rồi hủy hết tất cả di cảo mà ông đã sử dụng của các tác giả từng là ân nhân, là thầy của ông để dành cái quyền làm chủ CQN độc nhất là Alexandre de Rhodes? Khối di cảo đó rất lớn mới giúp cho Alexandre de Rhodes khai thác làm nên công trình Tự điển Việt Bồ La, làm sao có thể mất được? Tại sao anh không lên án Alexandre de Rhodes về hành vi hủy di cảo CQN của những người đi trước như đã đề cập mà chỉ vinh danh Alexandre de Rhodes là sao ?
Anh sống ở TP HCM lâu chắc anh biết học giả An Chi. An Chi đã giải thích công việc anh đang theo đuổi là:
Cái  tâm lý đòi dân ta phải mang ơn A.de Rhode chẳng qua là hậu quả của sự nhồi sọ mà bọn thực dân Pháp đã thực hiện trong thời kỳ chúng còn cai trị dân ta, nước ta. Ngoài ra, còn có thể có cả những nguyên nhân khác thuộc tâm thức riêng, và cả...tín ngưỡng riêng nữa.”
Người ta thì làm cuốn tự điển để tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền đạo của người ta mà mình thì cứ nằng nặc đòi người Việt Nam phải ghi công ông cố đạo Alexandre de Rhode, thậm chí có người mà lòng biết ơn cụ cố còn làm tượng nặng đến 43 tấn.” (Theo antg.cand.com.vn)

6.2.- Anh xem thử CQN trong đời sống với công nghệ 4.0 hiện nay có bao nhiêu phần trăm CQN có trong Tự điển Việt Bồ La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) của Đắc Lộ? Có ít nhất 70% đến 80% từ Hán Việt (chữ Nho). Ví dụ “Công trình nghiên cứu chữ quốc ngữ” (cụm từ 1)  của anh gồm 7 từ, chỉ có 1 từ (chữ) Việt và có đến 6 từ  do cha ông chúng ta đã sử dụng Hán Việt (chữ Nho), 6 từ nầy không thể có trong Tự điển Việt Bồ La của Đắc Lộ. “Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng tham gia Hội thảo Khoa học về Chữ Quốc Ngữ” (cụm từ 2) có 15 từ, chỉ có 2 từ Việt (về, chữ) còn có đến 13 từ Hán Việt (chữ Nho).

Chữ viết trong đời sống của chúng ta hiện nay như thế đấy. Tại sao anh không nhớ những người làm ra 6 từ trong cụm từ 1 và 13 từ trong cụm từ 2 ấy mà chỉ nhớ người chép mấy từ “chữ”, “về chữ” trong Tự điển của Đắc Lộ mà thôi? Anh có biết sách Danh Từ Khoa Học của cụ Hoàng Xuân Hãn ra đời năm 1942, đã được Hội Khuyến Học Nam Kỳ tặng thưởng từ năm 1943 không? “Quyển sách “Danh từ khoa học” của cụ Hoàng Xuân Hãn viết năm 1942 bàn về việc “nhập khẩu” thuật ngữ khoa học, ở đó có các chỉ dẫn hữu ích để chọn cách tạo ra từ ngữ mới khi dịch”.

Nếu trước đây không có Danh Từ Khoa Học của Hoàng Xuân Hãn anh có học Toán, học khoa học bằng tiếng Việt được không? Anh có biết  Cái học ban đầu đưa anh lên lấy bằng Tiến sĩ vật lý sao anh không nhớ? Cái quả CQN ngày nay chúng ta đang sử dụng là một công trình góp công góp sức của biết bao người qua hàng trăm năm, các nhà Nho không tên tuổi, các ông Trương Vĩnh Ký với Gia Định Báo, Huỳnh Tịnh Của với Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Đông Kinh Nghĩa Thục, Nhóm Đông Dương Tạp Chí, Nguyễn Văn Vĩnh, Nhóm Nam Phong Tạp Chí, Phạm Quỳnh, Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Tường Tam với Tự Lực Văn Đoàn, Hồ Chí Minh, Phong trào Bình Dân Học Vụ, Phạm Văn Đồng, Nhóm Giáo sư trường Khải Định (sau năm 1956 lấy lại tên Quốc Học) và trí thức Huế (như Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Huy Bảo, Đoàn Nồng, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Thúc Hào, Phạm Đình Ái, Nguyễn Dương Đôn.v.v.), Nguyễn Bạt Tụy, Trương Văn Chình, Lê Ngọc Trụ, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Trung,.v.v. Anh chỉ vinh danh Đắc Lộ - người làm ra công cụ truyền giáo là vô ơn bội nghĩa với những người đã góp công xây dựng nên CQN cho dân tộc ngày nay.

7. Có lẽ đến hôm nay anh đã được đọc nhiều bài viết về linh mục Đắc Lộ và Lịch sử CQN của ông mà trước khi nhận chức Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ và Bảo tồn tiếng Việt, trường Đại học Duy Tân anh chưa đọc. Và chắc anh cũng không ngờ chuyện linh mục Đắc Lộ trước đây nó đã dữ dội đến như vậy và đang diễn ra trên mạng xã hội rầm rộ đến như vậy.

Có người gọi tôi: “Ông X. ơi, chuyện Đắc Lộ tôi tưởng đã giấu được rồi để lo chuyện thời sự, ai ngờ ông Giáo sư Việt kiều Bỉ Nguyễn Đăng Hưng xới lại, phát hiện thêm được nhiều thông tin thú vị quá: Chuyện ông Đắc Lộ xin nước Pháp cấp cho ông nhiều binh sĩ để ông lên đường chinh phục toàn cõi phương Đông, chuyện Lời thề của các giáo sĩ Dòng Tên trước Giáo Hoàng ghê quá. Nhiều giáo dân không thể tưởng tượng được các vị Thừa sai Thiên Chúa giáo truyền bá đạo Chúa vào VN bằng cuốn Phép Giảng Tám Ngày kinh khủng đến như thế!” Chắc cũng đã có người gọi điện thoại thông tin đó đến anh phải không ?

Anh Hưng ơi! Thật tình tôi không muốn nói chuyện nầy: Đã và sẽ, không những người ta đưa ra nhiều thông tin mới (hoặc cũ nhưng ít người biết) về linh mục Đắc Lộ và CQN của ông mà còn lôi ra nhiều thứ nữa như những trường hợp Thực dân Pháp và Thiên Chúa giáo cấu kết với nhau chiếm đất, cướp chùa, phá tượng Phật Việt Nam, về Trần Lục (Cha Sáu) kéo 5.000 giáo dân triệt hạ căn cứ chống Pháp ở Ba Đình, lôi ra các tên tuổi làm gián điệp cho Pháp và đặc biệt là nhắc lại lịch sử Giáo Sĩ Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam (1857-1914).v.v.. Và tôi tin chắc với phương tiện in ấn dễ dàng và mạng xã hội phổ cập hiện nay, trong tương lai sẽ còn nhiều tham luận, nhiều tranh luận, nhiều sách của những người ủng hộ việc vinh danh linh mục Đắc Lộ của anh và những người hạch tội linh mục Đắc Lộ.

Việc vinh danh linh mục Đắc Lộ hay lên án ông cho đến nay không có gì mới. Chỉ xuất hiện những người viết mới thôi. Điều mà những người tử tế trách anh là anh không nắm rõ vấn đề, anh vinh danh linh mục Đắc Lộ hay ho đâu chưa thấy mà lộ ra bao chuyện không hay về Đắc Lộ và những gì liên quan đến ông. Anh không để cho ông nằm yên bên Iran mà lôi ông về VN làm chi để cho thiên hạ nhắc lại những điều không hay dành cho ông đã diễn ra trước đây và đang được bổ sung hiện nay. Từ nay cho đến nhiều đời sau nữa, tên GS Nguyễn Đăng Hưng - Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ và Bảo tồn tiếng Việt, trường Đại học Duy Tân, Tp. Đà Nẵng luôn gắn với linh mục Đắc Lộ. Không biết nên buồn hay nên vui anh Hưng hè?

Chuyện linh mục Đắc Lộ và CQN của ông (chứ không phải CQN của VN ngày nay) còn có thể trao đổi tiếp nhưng dù sao cũng phải tạm dừng ở đây. Nếu anh thấy chưa thỏa đáng lại sẽ trao đổi tiếp.
Tôi gởi lại anh lá thư anh đã vội gởi cho tôi: “Nếu nhầm lẫn thì xin lỗi và im lặng”. Tôi gởi lại để anh thấy tôi hay anh nên thực hiện nội dung lá thư ấy. Tôi chờ quyết định của anh.

Chúc anh “Rày hằng ngày dùng đủ”.
Thân chào anh.


Huế, Lập Đông 2019-2020
Nguyễn Đắc Xuân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Alexandre De Rhodes, Hành trình và truyền giáo –Diverces Voyages et Missions, Bản dịch của Hồng Nhuệ, Bản Pháp ngữ của NXB GRAMOISY 1653,TỦ SÁCH ĐẠI KẾT, Ủy Ban Đoàn Kết Tôn Giáo, TP Hồ Chí Minh -1994.
2. Alexandre De Rhodes, Phép Giảng Tám Ngày (Bản chụp cuốn sách in đầu tiên bằng chữ quốc ngữ *In tại Roma, Italia, 1651)* Sách phục vụ nghiên cứu - không bán)
3. Cao Huy Thuần, LES MISSIONNAIRES ET POLITIQUE COLONIALE  FRANCAISE AU VIETNAM (1857-1914), The Lac Viet Series-No 13, Council On Southeast Asia Studies Yale Center For International And Area Studies.
4. Cao Huy Thuần, Giáo Sĩ  Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam (1857-1914), Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, 2003.
5. Cửu Long Lê Trọng Văn, PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ, TUYỂN TẬP,  Hoa Kỳ, 1996.
6. Hội thảo HTKH Mừng 400 năm Dòng Tên do Học viện Dòng Tên Việt Nam tổ chức tại P. Linh Trung, Q. Thủ Đức ngày 12-7-2014.
7. Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, Tome I và Tome II, SAIGON, Imprimerie Rey,Curiol &Cie, 4 Rue d’Adran, 1895.
8. Nguyễn Sinh Duy, “Cuốn sổ bình sinh của Trương Vĩnh Ký, Nxb. Nam Sơn, Sài Gòn, 1975.
9. Nguyễn Văn Kiệm (Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo), Sự Du Nhập Của Đạo Thiên Chúa Giáo Vào Việt Nam Từ Thế Kỷ XVII Đến Thế Kỷ XIX, Hội KHLSVN, Hà Nội, 2001.
10. Nguyễn Văn Trung, Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp Ở Việt Nam – Thực Chất Và Huyền Thoại, Nxb. Nam Sơn, Sài Gòn, 1963.
11. Nguyen Xuan Tho, Histoire de la Pénétration Francaise Au Viet Nam (1858-1897), Giáo hội Phật giáo Linh Sơn Thế Giới, Trung Tâm Văn Hóa Linh Sơn 98-847, ILEE ST., AIEA, HI 96701, Tel : 808-488-3425.
12. Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam (1858-1897), Nxb. Hồng Đức, TP HCM 2016.
13. Nhiều tác giả, A. De Rhodes – Người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam và Chữ Quốc NgữGiao Điểm, Hoa Kỳ, 1998.
14. Phan Phát Huồn C. SS.R, Việt Nam Giáo Sử,  Quyển I (1533-1933), In lần thứ hai, Copyright, 1965 By CỨU THẾ TÙNG THƯ - SAIGÒN.
15. Trần Tam Tỉnh, Thập giá và lưỡi gươm, Sudestasie, Paris 1978.
16. Trên 35 tác giả, Từ Chùa Báo Thiên Đến Tòa Khâm Sứ, Giaodiemonline.com và Sachhiem.net, 4-2006.
17. Võ Long Tê, Lịch Sử Văn học Công Giáo Việt Nam, Nxb. Tư Duy, Sài Gòn, 1965.
18. Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam Đối Diện Với Pháp Và Trung Hoa, Ban KHXH Thành ủy TP HCM, 1990./.

(1) Hội thảo HTKH Mừng 400 Dòng Tên do Học viện Dòng tên Việt Nam tổ chức tại P. Linh Trung Q. Thủ Đức ngày 12-7-2014.
(2) Nguyễn Văn Trung , Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp Ở Việt Nam – Thực Chất Và Huyền Thoại (Nam Sơn xuất bản, Sài Gòn 1963, tr.116
(3) Võ Long Tê, Lịch Sử Văn học Công Giáo Việt Nam), Nxb. Tư Duy, Sài Gòn, 1965),
(4) Cao Huy Thuần, Giáo Sĩ Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam (1857-1914), Nxb. Tôn Giáo, HN, 2003, tr. 442-443).
(5) Cửu Long Lê Trọng Văn, PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ, TUYỂN TẬP, Hoa Kỳ, 1996, tr.161-162.

NGUYỄN ĐẮC XUÂN
Nhà Huế Học