Hiển thị các bài đăng có nhãn CHIÉN TRANH VIỆT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CHIÉN TRANH VIỆT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013


 

 
TỪ THÁNG 4/1960,
NHÓM CARAVELLE ĐÃ CẢNH CÁO ÔNG DIỆM

 
CỎ THƠM - Sau khi dẹp Bình Xuyên và giáo phái, truất phế Bảo Đại trong cuộc trưng cầu dân ý ngày 23.10.1955, bác bỏ ngày 20.7.1956 việc tổng tuyển cử hai miền quy định bởi Hiệp ước Genève, ông [Diệm] tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa ngày 26. 10.1956. Từ 1956 cho đến nửa năm 1959, tình hình an ninh trong xứ được vãn hồi tương đối nhờ những cải cách xã hội, tảo thanh của Quân đội quốc gia và vì một phần quân đội Bắc Việt rút về trên vĩ tuyến 17.

Tuy nhiên một thời gian sau, Việt cộng xây dựng lại được cơ sở hạ tầng tại nông thôn với các cán bộ không tập kết. Ngày 26.1.1960, cách tỉnh lỵ Tây ninh lối 12 cây số, chúng chiếm đồn Trảng Sập, gây thiệt hại nặng về nhân mạng và võ khí cho sư đoàn 21. Mặt khác, sự lộng quyền của một số đảng viên Cần lao và chính sách đàn áp của Chính phủ bắt đầu gây bất mãn trong quần chúng. Nhóm “Tự do Tiến bộ” xuất hiện - gồm nhiều nhà trí thức đối lập - trong đó Trần Văn Văn là một người đầu đàn vì giao thiệp rộng, có uy tín và mưu trí. Sau nhiều tuần thảo luận và tiếp xúc trong vòng bí mật, sáng ngày 26.4.1960, hai ông Phan Khắc Sửu và Trần Văn Văn, âu phục chỉnh tề, bất thần đến trước cổng Dinh Độc Lập, đại lộ Thống Nhứt Sài Gòn, nhờ quân phòng vệ chuyển đến Tổng thống Ngô Đình Diệm một bản tuyên ngôn mang chữ ký của 18 nhân sĩ thưộc nhiều khuynh hướng chính trị, xong họ đi thẳng đến khách sạn Caravelle, ở trung tâm Saigon, họp báo. Báo giới ngoại quốc và các Tòa Đại sứ được mời tham dự nhưng không cho biết trước địa điểm, hẹn sẽ được hướng dẫn khi đến giờ. Caravelle được chọn vì an toàn. Để đánh lạc hướng cảnh sát, báo chí Việt được mời nhóm riêng tại một khách sạn Chợ lớn.

Theo bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, hiện ở Virginia, tiết lộ, ông được giao phó thảo ra bản tuyên cáo (dựa vào các ý kiến thu thập trong nhóm Tự do Tiến bộ) với sự giúp đỡ của giáo sư Trần Văn Hương và ông Trần Văn Văn. Trần Văn Tòng, trưởng nam của cố dân biểu Trần Văn Văn, hiện giữ trong tay bản chính được (cố) ký giả Bernard Fall dịch ra ngoại ngữ để phổ biến. Nội dung văn kiện này chỉ trích quyết liệt các sai lầm của chính quyền Diệm về chính trị, hành chính, xã hội và quân sự, gây ra tình trạng bất mãn trong dân chúng, suy thoái của chế độ và làm giãm tiềm lực đấu tranh chống cộng. Tuy nhiên, ngoài việc đòi hỏi thực thi dân chủ và chấm dứt gia đình trị, những đề nghị cải cách tương đối khiêm tốn. 18 nhân vật ký tên bản tuyên ngôn gồm có : Trần Văn Văn, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Nguyễn Lưu Viên, Lê Ngọc Chấn, Huỳnh Kim Hữu, Phan Huy Quát, Trần Văn Đổ, Trần Văn Tuyên, Trần Văn Lý, Nguyễn Tăng Nguyên, Nguyễn Tiến Hỷ, Lê Quang Luật, Phạm Hữu Chương, Tạ Chương Phùng, Trần Lê Chất, Lương Trọng Tường và linh mục Hồ Văn Vui. Mười trong số đó là cựu ân nhân, đồng chí, bạn thân và Bộ trưởng từng hợp tác với ông Diệm. Cố vấn Ngô Đình Nhu mỉa mai gọi họ là «
chính khách xa-lông, chính khách phòng trà ». Lời kêu gọi của các trí thức đối lập này, tiếc thay, không được chính phủ xét đến.

Tuy nhiên, bản tuyên cáo báo động Caravelle có tiếng vang ở quốc ngoại và trong quân đội. Một chuỗi biến cố liên tiếp xảy ra sau đó: Cuối tháng 10.1960, Tổng thống Diệm cải tổ nội các vì có bất đồng nội bộ, bốn bộ trưởng ra đi: Nội vụ (Lâm Lễ Trinh), Quốc phòng (Trần Trung Dung), Thông tin (Trần Chánh Thành) và Tư pháp (Nguyễn Văn Sĩ) sau một thủ tục điều tra do các bộ này khởi xướng về những lạm quyền của đảng Cần lao. (đọc Hoàng Lạc & Hoàng Mai Việt trong tác phẩm Blind Design, Why America lost the VN War?, chương The Lottery scandal, trang 131, và trong hồi ức Đỗ Mậu « VN máu lửa, quê hương tôi », trang 259}. Lối hai tuần sau, ngày 11.11.1960. nhóm Vương Văn Đông, Nguyễn Triệu Hồng, Nguyễn Chánh Thi, Hoàng Cơ Thụy Phan Quang Đán đảo chính nhưng thất bại. Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên xác nhận : nhóm Caravelle không có liên hệ gì đến vụ mưu loạn nhưng cơ quan an ninh Nhà nước thừa cơ hội để câu lưu nhiều thành viên của tổ chức này tại trại Ô Ma (Aux Mares). Ngày 20.12.1960, Mặt trận Giải phóng Miền Nam được thành lập. Tháng 2.1961, lực lượng võ trang Giải phóng Miền Nam chính thức hoạt động. Ngày 27.2.1962, hai phi công Phạm Phú Quốc Nguyễn Văn Cử dội bom Dinh Độc lập và cuối cùng, ngày 1.11.1963, Quân đội lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm, đưa Miền Nam Việt Nam vào một cuộc phiêu lưu hỗn loạn.

 

TUYÊN NGÔN CỦA 18 NHÂN VẬT
THUỘC NHÓM "TỰ DO TIẾN BỘ"
GỞI TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA, SÀI GÒN

 

Thưa Tổng thống,

Chúng tôi ký tên dưới đây, đại diện cho một nhóm đồng bào, nhân vật và trí thức tên tuổi thuộc mọi xu hướng, nhóm những người thiện chí nhận thấy rằng đối diện với sự trầm trọng của tình hình chính trị hiện nay, chúng tôi không thể cứ bàng quan với những thực tế của nước ta.

Vì vậy, chúng tôi chính thức gửi đến Tổng thống hôm nay lời kêu gọi, với mục đích phơi bày với Tổng thống tất cả sự thật trong niềm hy vọng là chính quyền sẽ lưu tâm để gấp rút thay đổi chính sách, hầu cứu vãn tình hình hiện nay để đưa quốc dân ra khỏi cơn nguy biến.

Chúng ta hãy nhìn lại dĩ vãng thời Tổng thống còn ở nước ngoài. Đã 8, 9 năm qua, dân tộc Việt Nam trải qua nhiều thử thách do chiến tranh mang lại; từ sự độ hộ của Pháp đến việc chiếm đóng của Nhật, từ cách mạng cho đến kháng chiến, từ việc Cộng Sản núp sau chiêu bài quốc gia để gạt gẫm cho đến nền độc lập giả tạo che dấu nền thực dân, từ kinh hoàng này đến kinh hoàng khác, hy sinh liên tục - nói tóm lại từ hứa hẹn này đến hứa hẹn khác, cuối cùng cho đến khi niềm hy vọng kết thúc bằng một sự thất vọng chua cay.

Vì vậy, khi Tổng thống sắp sửa hồi hương, toàn dân đã nuôi mối hy vọng là dưới sự lãnh đạo của Tổng thống, toàn dân sẽ lại tìm thấy được nền Hòa bình cần thiết để đem lại ý nghĩa cho cuộc sống, để dựng lại ngôi nhà đã bị phá hủy, để đặt lại được cái cày trên những mảnh đất từng bị bỏ hoang. Nhân dân hy vọng rằng không còn bị bắt buộc buổi sáng hoan hô một chế độ, buổi chiều hoan hô một chế độ khác, không còn là con mồi cho sự tàn bạo và áp lực của một phe phái nào, không còn bị đối xử như cu-li, không còn một nền độc quyền nào thao túng, không còn bị sự cướp bóc của công chức tham nhũng và độc đoán. Nói tóm lại, nhân dân ước mong được sinh sống trong sự an ninh, dưới một thể chế sẽ đem lại cho họ một chút công lý và tự do. Toàn dân nghĩ rằng Tổng thống sẽ là con người của thời thế và sẽ đáp ứng được nguyện vọng của họ.

Lúc Tổng thống mới về nước thì tình trạng quốc gia như thế đó. Hiệp ước Genève năm 1954 chấm dứt cuộc chiến và sự tàn phá của chiến tranh. Quân đội viễn chinh Pháp tuần tự rút đi và nền độc lập cho miền Nam Việt Nam trở thành một sự thật. Ngoài ra, nước nhà còn được sự khích lệ tinh thần và được hưởng sự viện trợ đáng kể của thế giới tự do. Với nhiều yếu tố chính trị thuận lợi như thế thêm vào những điều kiện địa dư may mắn có được đất đai màu mỡ về nông lâm sản và thặng dư về hải sản, đáng lẽ miền Nam Việt Nam đã phải đủ sức để bắt đầu đi đến thắng lợi cuối cùng trong cuộc chiến đấu với miền Bắc, để có thể thỏa mãn được ý dân và đưa đất nước đến hy vọng, tự do và hạnh phúc. Ngày này, sáu năm sau, sau khi hưởng được nhiều lợi điểm không thể chối cãi đến như thế, Chính phủ đã làm được những gì? Chính phủ đã đưa miền Nam đi về đâu? Những ước vọng tha thiết nào của nhân dân đã được thành tựu?

Chúng ta thử tổng kết tình hình một cách khách quan, không xu nịnh mà cũng không buộc tội sai lầm, theo đúng đường hướng xây dựng mà chính Tổng thống vẫn hay nói đến với ước vọng là Chính phủ sẽ thay đổi chính sách để tự đưa mình ra khỏi một tình trạng hết sức hiểm nghèo cho sự sinh tồn của quốc gia.

 VỀ CHÍNH TRỊ

 Mặc dù chế độ ngoại lai do thực dân tạo ra và che chở đã bị lật đổ và nhiều phe nhóm từng đàn áp nhân dân đã bị triệt hạ, dân chúng vẫn chưa tìm thấy được một cuộc sống khá hơn hay có nhiều tự do hơn dưới chế độ Cộng Hòa do Tổng thống thành lập. Một hiến pháp đã được lập ra nhưng chỉ có hình thức. Và Quốc hội tuy có đấy nhưng những cuộc thảo luận luôn luôn được diễn ra chỉ theo đường hướng của chính quyền. Và những cuộc bầu cử phản dân chủ. Toàn là những phương pháp và “trò hề” bắt chước các chế độ Cộng Sản độc tài và lẽ tất nhiên là không thể đem ra để so sánh với miền Bắc được.

Những vụ bắt bớ liên tục tiếp diễn làm cho nhà giam và khám đường đầy đến tận nóc như hiện nay đang xảy ra; dư luận quần chúng và báo chí phải câm lặng. Cũng thế, ý dân bị khinh nhục và chà đạp trong những cuộc đầu phiếu (ví dụ trường hợp xảy ra trong cuộc bầu cử nhiệm kỳ 2 mới đây). Tất cả những điều này đã gây ra sự nản chí và bất mãn của dân chúng.

Các chính đảng và giáo phái đã bị loại bỏ. Thay vào đấy là các “Nhóm” và “Phong trào”. Nhưng sự thay thế này chỉ đem đến những điều áp bức mới cho dân chúng mà không che chở được cho dân chúng của các giáo phái từ trước vẫn là những vùng tử địa của Cộng Sản thì nay không những đã mất hết an ninh (cho người Quốc gia) mà còn trở thành những đại lộ cho du kích Việt Cộng mà tình trạng chung như thế xảy ra khắp nơi.

Đây là chứng cớ cho thấy rằng các giáo phái tuy nhỏ nhoi không đáng kể đã là những thành phần chống Cộng hữu hiệu. Việc triệt hạ các giáo phái đã mở lối cho Việt Cộng và vô tình dọn đường cho kẻ thù, trong khi một chính sách thực tế và uyển chuyển hơn đã có thể liên kết họ về chung thành một khối để tiếp sức cho trận tuyến chống Cộng.

Ngày nay, nhân dân muốn được tự do. Đáng lẽ Tổng thống nên mở rộng chế độ, khuyến khích nền dân chủ, bảo đảm các quyền công dân tối thiểu và công nhận đối lập hầu dân chúng được nói lên tiếng nói của mình mà không sợ hãi để dẹp được sự bất mãn và căm thù, vì đối với dân chúng, thế đối lập là lý do độc nhất cho họ tồn tại. Khi Tổng thống thực hiện xong được những điều này thì nhân dân miền Nam Việt Nam có thế đứng của mình đối với miền Bắc mà nhận ra được giá trị của một nền tự do thật sự và một nền dân chủ chân chính. Chỉ đến lúc đó dân chúng mới sẽ nỗ lực và hy sinh tối đa để bảo vệ sự tự do và nền dân chủ ấy.

 VỀ CHÍNH QUYỀN

 Lãnh thổ thu hẹp lại, số công chức lại tăng lên mà việc quản trị lại không chạy. Ấy là vì chính quyền giống như Cộng Sản, đã để cho các đoàn thể chính trị (của chính quyền) kiểm soát người dân, tách rời nhóm ưu tư ra khỏi hạ tầng và gieo rắc sự nghi ngờ giữa những kẻ liên hệ với “đoàn thể” và những người “ngoài đoàn thể”. Thực quyền không còn ở trong tay của những người đáng lý có trách nhiệm của “gia đình”, nơi từ đó các mệnh lệnh được truyền ra. Điều này làm cho guồng máy hành chánh bị chậm lại, làm tê liệt mọi sáng kiến và làm nản lòng mọi người có thiện chí. Đồng thời, không một tháng nào trôi qua mà báo chí không đăng đầy những chuyện hối lộ không thể che dấu được, những chuyện này trở thành một chuỗi dài những giao dịch phi pháp hằng triệu bạc.

Guồng máy hành chánh, vốn đã bị đình trệ bây giờ hầu như hoàn toàn trở nên tê liệt. Nền hành chánh cần được cải tổ gấp rút. Những người có khả năng phải được đặt đúng vào những chức vụ từ trên xuống dưới, hệ thống hành chánh và kỷ luật phải được tái lập, quyền lực và trách nhiệm phải đi đôi với nhau; sự hữu hiệu, sáng kiến, lòng ngay thẳng và tính cần kiệm phải là những tiêu chuẩn để dùng vào việc thăng thưởng, khả năng nghề nghiệp phải được tôn trọng. Phải loại trừ tình trạng ban phát ân huệ bằng vào những liên hệ gia đình hay phe phái. Những kẻ buôn bán quyền hành, tham nhũng và lạm dụng quyền thế phải bị trừng trị.

Có như thế thì mọi chuyện vẫn còn có thể cứu vãn được, nhân phẩm còn có thể phục hồi, và có thể dựng lại niềm tin vào một chính quyền thành thật và công bình.

 VỀ QUÂN ĐỘI

 Quân đội viễn chinh đã ra khỏi nước và một quân đội Cộng Hòa đã được thành lập; nhờ vào viện trợ Hoa Kỳ quân đội này đã được trang bị với quân trang quân cụ tối tân. Tuy nhiên ngay cả trong lực lượng thanh niên kiêu hãnh như Quân đội Việt Nam - nơi mà đáng lý tinh thần danh dự phải được vun xới, gồm những kẻ mà bầu nhiệt huyết và những cánh tay phải được tận dụng vào việc bảo vệ quốc gia, nơi mà đáng lẽ phải vắng bóng đầu óc phe phái - thì tinh thần “Phong trào Cách mạng Quốc gia” hoặc tinh thần “Nhân vị” đã chia rẽ những kẻ cùng chung một đơn vị, gây ngờ vực giữa những bạn đồng ngũ đồng cấp và lấy “sự trung thành với một đảng để tùng phục mù quáng những kẻ lãnh đạo đảng” làm tiêu chuẩn thăng thưởng. Điều này đã tạo ra những điều kiện cực kỳ nguy hiểm, như trong vụ vừa xảy ra ở Tây Ninh. (Bernard Fall ghi chú: Vụ sư đoàn 21 bị Việt Cộng tấn công đầu năm 1960).

Nhiệm vụ của quân đội, rường cột của việc bảo vệ quê hương, là chận đứng những cuộc ngoại xâm và tiêu diệt các phong trào nổi loạn. Quân đội chỉ phục vụ quốc gia và không nên để cho một phe nhóm hay đảng phái nào lợi dụng. Việc cải tổ toàn diện quân đội là một điều cần thiết. Đầu óc phe phái và sự trung thành với một đảng phải được loại bỏ; tinh thần quân đội phải được tái phục hồi cho mạnh lên, phải tạo ra một truyền thống cao đẹp về niềm hãnh diện quốc gia; và tinh thần chiến đấu, lương tâm nghề nghiệp và lòng can trường phải là những tiêu chuẩn dùng trong việc thăng thưởng. Phải khuyến khích binh sỹ biết kính trọng cấp trên và phải khuyến khích sĩ quan phải biết yêu thương binh sĩ. Phải loại bỏ lòng ngờ vực, ganh tỵ và đố kỵ giữa những kẻ đồng đội, đồng ngũ.

Có như thế, gặp thời nguy biến quốc gia sẽ có được một quân đội hào hùng thúc đẩy bởi một tinh thần và có cùng một lý tưởng: bảo vệ cho cái sở hữu chúng ta: quê hương Việt Nam.

 
Sĩ quan Quân đội VNCH bị xem như gia nhân, lội nước đẩy thuyền cho Tổng thống

 VỀ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI

 Một xứ sở giàu có và phì nhiêu với thực phẩm dư thừa, một ngân sách không cần phải đối phó với những chi phí Quốc phòng, (chi phí Quốc phòng của miền Nam Việt Nam do kinh viện và quân viện của Hoa Kỳ đài thọ: ghi nhận thêm của Bernard Fall) những ngân khoản bồi thường chiến tranh lớn lao, mức lời cao đẻ ra từ công khố phiếu quốc gia, một chương trình ngoại viện khổng lồ, một thị trường bành trướng và đủ sức nhận vốn đầu tư của ngoại quốc. Đó là nhiều điều kiện thuận lợi có thể biến Việt Nam thành một quốc gia sản xuất cao và thịnh vượng. Thế mà hiện nay nhiều người không có việc để làm, không có nhà để ở và không có tiền bạc. Gạo nhiều nhưng bán không được, các tiệm đầy hàng mà hàng hóa lại không di chuyển - nguồn lợi nằm trong tay những kẻ đầu cơ, dùng phe nhóm, đoàn thể của chính quyền để che dấu việc buôn bán độc quyền đem lợi về cho một thiểu số tư nhân. Trong lúc đó, hằng ngàn dân bị huy động đi làm việc cực nhọc, bị ép buộc phải rời bỏ công ăn việc làm, nhà cửa gia đình của mình để tham gia vào công tác xây dựng những “Khu Dinh Điền” tuy đồ sộ nhưng vô ích. Điều này làm họ mỏi mệt và mất thiện cảm với chính quyền càng làm cho mối bất mãn thêm trầm trọng và tạo một môi trường lý tưởng cho công tác tuyên truyền của địch.

Kinh tế là nền móng của xã hội và lòng dân là yếu tố sống còn của chế độ. Chính quyền phải phá tan mọi chướng ngại cản trở việc mở mang kinh tế. Phải hủy bỏ sự độc quyền và đầu cơ dưới mọi hình thức; phải tạo môi trường thuận tiện cho việc đầu tư đến từ phía các quốc gia thân hữu cũng như từ chính nhân dân của ta; phải khuyến khích kinh doanh thương mại, khuếch trương kỹ nghệ và tạo công ăn việc làm để giảm thiểu tình trạng thất nghiệp. Đồng thời, chính quyền phải chấm dứt sự bóc lột con người dưới mọi hình thức trong các công trường lao động của những “Khu Dinh Điền”.

Có thế nền kinh tế mới lại phát triển, người dân mới tìm lại được cuộc sống an bình và mới được thụ hưởng đời sống của mình, xã hội mới được tái thiết trong một bầu không khí tự do và dân chủ.

Thưa Tổng thống, có lẽ đây là lần đầu tiên Tổng thống mới được nghe lời phê bình gắt gao và khó chịu ngược lại với ý muốn của Tổng thống. Tuy nhiên, thưa Tổng thống, những lời trình bày ở đây là sự thật hoàn toàn, một sự thật cay đắng nặng nề mà Tổng thống chưa bao giờ biết được vì dù vô tình hay chủ ý, một khoảng trống quanh Tổng thống đã được tạo ra và chính vì cái địa vị cao cả của Tổng thống mà không ai để cho Tổng thống nhận ra được thời kỳ nghiêm trọng khi mà sự thật sẽ tràn tới như những làn sóng căm hờn không cưỡng nổi, sự căm hờn của nhân dân đã từ rất lâu phải nhận chịu sự đau khổ khủng khiếp đến một lúc sẽ vùng lên bẻ gẫy những ràng buộc từng cột chặt mình, đè mình xuống. Làn sóng này sẽ quét sạch sự ô nhục và bất công vốn bao quanh người dân đã áp bức họ.

Vì chúng tôi hoàn toàn thành thật không muốn thấy Quê Cha Đất Tổ phải trải chịu những ngày tháng hiểm nghèo đó nên chúng tôi - không kể đến những hậu quả do hành động của chúng tôi sẽ mang lại cho chúng tôi - hôm nay gióng lên tiếng chuông báo động trước mối nguy cơ cấp thiết đang đe dọa chính quyền.

Cho đến nay, chúng tôi đã giữ im lặng và để cho chính quyền mặc ý hành động. Nhưng bây giờ đã đến lúc khẩn thiết, chúng tôi cảm thấy rằng bổn phận của chúng tôi - và trong lúc nước nhà gặp cảnh rối loạn thì ngay cả những kẻ hèn kém nhất cũng phải chia xẻ bổn phận này - là phải nói lên sự thật, thức tỉnh dư luận, báo động với nhân dân, và liên kết những kẻ đối lập, để cho thấy lối thoát.

Chúng tôi thỉnh cầu chính quyền gấp thay đổi chính sách để cứu vãn tình thế, bảo vệ chế độ Cộng Hòa và bảo vệ sự sống còn của quốc gia. Chúng tôi giữ vững niềm hy vọng là dân tộc Việt Nam sẽ có một tương lai sáng lạn để được hưởng thanh bình và thịnh vượng trong Tự Do và Tiến Bộ.

Trân trọng

   Ngày 26 tháng 4 năm 1960

1. Trần Văn Văn (1907-1973), quê Long Xuyên. Học trung học ở Lycée Chasseloup Laubat, Sàigòn. Năm 1926, vì tham gia bãi khóa nhân đám tang cụ Phan Châu Trinh ở Sàigòn nên bị đuổi học. Cụ thân sinh gởi qua Pháp để tiếp tục thi xong tú tài. Sau đó tốt nghiệp trường Cao Đẳng Thương Mãi (HEC) Paris và đại học Oxford (Anh quốc).
Tham gia kháng chiến chống Pháp để dành độc lập cho nước nhà (bản thảo viết tay trả lời phỏng vấn đài tiếng nói Hoa Kỳ, VOA, tháng 9,1966). Tháng 5 năm 1945, ra Huế làm Đổng Lý Văn Phòng cho bác sĩ Hố Tá Khanh, Bộ trưởng Kinh Tế trong chánh phủ Trần Trọng Kim (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi). Sau khi chánh phủ Trần Trọng Kim giải tán, cụ trở về Nam tham gia kháng chiến chống Pháp dành độc lập với tư cách Ủy viên Kinh tế.
Lúc chánh quyền Ngô Đình Diệm mở chiến dịch tiêu diệt các giáo phái và Bình Xuyên, vì biết ông là người được tướng Lê Văn Viễn, thường gọi Bãy Viễn, thủ lãnh Bình Xuyên, đặc biệt nể trọng, nên ông Ngô Đình Nhu yêu cầu ông cùng ngồi xe qua tổng hành dinh của Bình Xuyên, thuyết phục Bảy Viễn dẹp bỏ ý định pháo kích phá hủy Sàigòn.
Cuối 1959, nhận thấy tình thế ngày càng nguy ngập của Miền Nam trước hiểm họa xâm lăng ngày càng rõ rệt của Cộng Sản Bắc Việt, ông thiết kế hành động để thúc đẩy chánh quyền Ngô Đình Diệm cải tồ.
Ông ra ý kiến, rồi cùng cụ Trần Văn Hương và bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, ba người thảo ra bản điều trần kêu gọi chánh quyền Ngô Đình Diệm cải tổ.
Ông phối hợp với ông Phan Thông của Việt Nam Quốc Dân Đảng để tổ chức một cuộc biểu tình lớn ở Sàigòn, và đi thuyết phục 15 nhân sĩ khác, thuộc mọi khuynh hướng và tiêu biểu cho 3 miền đất nước, từng người một, ký tên vào bản điều trần.
Ngày 26 tháng 4 năm 1960, cụ Phan Khắc Sửu và ông mang bản điều trần đưa vào dinh Độc Lập rồi đến khách sạn Caravelle hợp báo. Ông đề nghị gọi nhóm 18 nhân sĩ ký vào bản điều trần là nhóm Tự Do Tiến Bộ, gọi tắt là Cấp Tiến, để thành tựu đối lập hợp hiến với chánh quyền ( về sau có một phong trào do 2 Gs Nguyễn Văn Bông và Nguyễn Ngọc Huy sáng lập cũng lấy tên là Cấp Tiến).
Ông Ngô Đình Nhu gọi mỉa mai nhóm nầy là nhóm Caravelle, để rêu rao đây là thành phần trưởng giả rất xa lạ với nguyện vọng của quần chúng (Từ đó bản điều trần được biết đến như là bản tuyên ngôn Caravelle. Bản dịch tiếng Anh có đăng trong Vietnam Reader của Bernard Fall, và trong The Pentagon Papers. Về sau có một số người mạo nhận đã sáng lập ra nhóm Caravelle, hay đã ra ý kiến hoặc đã đóng góp vào việc soạn thảo bản điều trần. (Xem Nguyễn Ngọc An, chung quanh vụ Caravelle.)
Thừa cơ hội nhóm Nguyễn Chánh Thi, Vưong Văn Đông, Phan Quang Đán, Hoàng Cơ Thuỵ, đảo chánh thất bại ngày 11/11/1960, chánh quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh bắt giam một số nhân sĩ trong nhóm Tự Do Tiến Bộ gồm các ông Trần Văn Văn, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Nguyễn Lưu Viên, Huỳnh Kim Hữu, Tạ Chương Phùng, Trần Văn Đổ, Lê Ngọc Chấn, Nguyễn Tăng Nguyên,Trần Văn Tuyên mặc dù họ hoàn toàn không can dự vào cuộc đảo chánh. Ông bị giam giữ từ 12/11/1960 đến 07/04/1961, được thả ra cùng lúc với cụ Trần Văn Hương (Trần Văn Hương, Lao Trung Lãnh Vận).
Tháng 7 năm 1963, một tòa án quân sự đặc biệt do đại tá hải quân Phạm Gia Hẹ chủ tọa chánh án đem 18 nhân sĩ của nhóm Tự Do Tiến Bộ ra xét xử. Trong phiên tòa, công tố viện trưng bằng chứng cụ thể để cho thấy chính ông cố vấn Ngô Đình Nhu đã đích thân tổ chức giám thị và lũng đoạn nội bộ nhóm "Tự Do Tiến Bộ" (hay Caravelle) như thế nào. Báo chí Việt Nam đều có đại diện tham dự phiên tòa cùng một số ký giả ngoại quốc trong đó có 2 ký giả Pháp, François Nivolon của nhật báo Le Figaro và Jean Lacouture của tuần báo Le Nouvel Observateur. Tòa tuyên án tha bổng tất cả các bị can.
Ngày 7 tháng 12 năm 1966 trên đường đi vào Quốc Hội, lúc 9g05 sáng, ông bị ám sát tại góc đường Phan Kế Bính – Phan Đình Phùng.

2. Phan Khắc Sửu (1905-1970) quê Cân Thơ, tín đồ Cao Đài, tốt nghiệp Kỹ sư Canh Nông tại Pháp, cựu Tổng trưởng Canh nông và Cải cách Điền địa dưới thời Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, không lâu sau, ông nhận thấy được sự thiếu thực tâm và những mầm mống độc tài của chế độ Diệm nên đã từ chức sau khi nhậm chức không bao lâu.
Tháng 2 năm 1959, ông đắc cử dân biểu (đơn vị bầu cử Sài Gòn) rồi gia nhập Mặt trận Đại đoàn kết Quốc dân cùng với Nguyễn Tường Tam đối lập với chính phủ. Ngày 26 tháng 4 năm 1960, ông cùng 17 nhân sĩ ký tên vào bản tuyên cáo, về sau nổi tiếng với tên gọi "Tuyên cáo Caravelle", chỉ trích các sai lầm của chính quyền và yêu cầu Tổng thống phải cải tổ. Việc làm này càng làm ông trở thành cái gai trong mắt chính quyền. Nhân cuộc đảo chính ngày 11 tháng 11 năm 1960 thất bại, ông bị chính quyền quy tội ủng hộ đảo chính và bắt giam. Đêm 11 tháng 7 năm 1963, ông bị tòa án quân sự đặc biệt Sài Gòn kết án 8 năm cấm cố cùng với Phan Quang Đán, Vũ Hồng Khanh, Bùi Lương... Lúc tự biện hộ trước tòa, ông đã nói: “Nếu tôi có tội, thì tôi chỉ có mỗi một tội, là tội đuổi Pháp ra khỏi Sài Gòn, tội vì Dân tộc mà thôi!”.Ngày 31 tháng 7 năm 1963, ông bị đày ra Côn Đảo thụ án. Tuy nhiên, chỉ sau đó 3 tháng, một cuộc đảo chính khác nổ ra, lật đổ Ngô Đình Diệm, ông được đón về Sài Gòn.
Sau nầy, ông từng giữ chức Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 19641965 .

3. Trần Văn Hương (1902-1982), quê Vĩnh Long.  Tốt nghiệp Cao đẳng Sư Phạm Hà Nội. Giáo sư Trung học tại Mỹ Tho. Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia chính quyền Việt Minh với tư cách nhân sĩ tự do. Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ông được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên, năm 1946, do không đồng tình với việc lực lượng Việt Minh quy chụp cho nhiều trí thức là Việt gian rồi đem thủ tiêu, ông bỏ về quê sống ẩn dật và tuyên bố bất hợp tác với cả chính quyền Việt Minh lẫn Pháp. Sau đó, ông vào Sài Gòn mở hiệu thuốc cho đến năm 1954[1]. Trong thời gian đó ông lập đảng Phục Hưng, nhóm họp một số nhân vật chính trị như Tổng trưởng Kinh tế và Kế hoạch Trần Văn Văn.[2]
Sau Hiệp định Genève, năm 1955, ông ra làm đô trưởng Sài Gòn trong chính quyền của Thủ tướng Ngô Đình Diệm một thời gian ngắn. Sau đó, ông từ chức để phản đối chính sách độc tài gia đình trị của Ngô Đình Diệm thời Đệ nhất Cộng hòa. Năm 1960, ông cùng 17 nhân sĩ thành lập nhóm Tự do Tiến bộ, tổ chức họp báo tại khách sạn Caravelle (thường được gọi là "nhóm Caravelle"), chính thức xác nhận địa vị đối lập với chính quyền. Khi cuộc đảo chính của đại tá Nguyễn Chánh Thi đứng đầu nổ ra, nhóm đã tuyên bố ủng hộ. Vì thế ông cùng 17 vị nhân sĩ nhóm Caravelle bị chính quyền bắt giam. Trong tù (Phòng biệt giam P42), ông có viết một tập thơ lấy tên là Lao trung lãnh vận (tức "Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù").

4. Nguyễn Lưu Viên (1919- ) quê ở Trà Vinh. Bác sĩ Y khoa, từng là Quân y trưởng tại Sư đoàn 320 trong mặt trận Việt Minh. Tham gia nội các Ngô Đình Diệm rồi từ chức Phó Tổng ủy Di cư và đã tham gia nhóm Caravelle thập niên 50 để phản đối độc tài gia đình trị của nhà Ngô. Trong chính phủ Nguyễn Cao Kỳ, ông làm Phó Thủ tưóng kiêm Bộ trường Văn hóa Giáo dục. Tham gia Hoà đàm Ba Lê (1968-1973) với tư cách là Quan sát viên và sau đó  được chọn làm trưởng đoàn tại Hội nghị Hiệp thương La Celle Saint Cloud cho đến 5/1974.

5. Huỳnh Kim Hữu quê Nam phần, Tam giáo, một lãnh tụ thuộc nhóm Tinh Thần. Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Y tế. Tháng 4 năm 1955, tham gia Ủy ban Cách mạng Quốc gia (sau đổi tên là Hội đồng Nhân dân Cách mạng Quốc gia) mà Chủ tịch Ủy ban là Nguyễn Bảo Toàn thuộc đảng Dân Xã; Phó Chủ tịch là Hồ Hán Sơn thuộc Việt Nam Phục quốc Hội (Cao Đài) và Thư ký là thiếu tá Nhị Lang (Cao Đài) để ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Hai ông Nguyễn Bảo Toàn và Hồ Hán Sơn, sau nầy, bị ông Diệm thủ tiêu.

6. Phan Huy Quát (1908-1979), quê Trung phần, một lãnh tụ thuộc đảng Đại Việt. Khi Quốc gia Việt Nam được thành lập, ông làm Tổng trưởng các bộ Giáo dục (1949), Quốc phòng (1950, 1954) trong các chính phủ Quốc gia Việt Nam thời Quốc trưởng Bảo Đại. Sau đó ông lui về hành nghề bác sĩ tại Sài Gòn.
Năm 1964, vì áp lực của Hội đồng Quân lực, tướng Nguyễn Khánh phải rút khỏi chính trường và chính phủ dân sự được thành lập do ông đứng đầu với cương vị Thủ tướng. Phó thủ tướng là Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 25 Tháng Năm năm 1965 ông quyết định cải tổ Nội các, thay thế một số tổng trưởng nhưng phe giáo dân Thiên Chúa giáo phản đối. Ngày 11 Tháng Sáu, ông triệu tập hội đồng chính phủ để giải quyết nhưng không đạt được thỏa hiệp nào nên ông ra lệnh giải tán chính phủ và từ chức thủ tướng.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông và gia đình bị kẹt lại ở Việt Nam do không kịp di tản. Ông không ra trình diện theo lệnh của chính quyền mới và sống trốn tránh trong một thời gian ngắn. Trên đường đi trốn, ông bị bắt giam cùng con trai út là Phan Huy Anh và chết tại nhà giam Chí Hòa vì bệnh gan và không được cứu chữa kịp thời ngày 27 tháng 4 năm 1979.

7. Trần Văn Lý (1901-1970) quê Quảng Trị, tín đồ Thiên Chúa giáo, có quan hệ bà con với Giám mục Lê Hữu Từ. Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Hành chánh Hà Nội, ông làm Tham tá tại Qui Nhơn trong ngạch quan lại Pháp. Sau khi Nhật đảo chính, Pháp mở đường cho học giả Trần Trọng Kim thành lập chính phủ đã mời ông giữ chức Tổng đốc cai trị 4 miền cực Nam Trung Việt như là một Tiểu Khâm Sai. Ông có tiếng là một vị quan nổi tiếng liêm chính, sống giản dị, quan tâm đến dân chúng.
Từ năm 1947, để đảm bảo an ninh trật tự tại miền Trung ông cho thành lập Nha Cảnh sát và Công An Trung Phần, phát triển lực lượng Bảo vệ quân (năm sau đổi là Việt Binh đoàn Trung phần) do đại úy Nguyễn Ngọc Lễ làm chủ huy. Ông cũng cho thành lập Nha Văn hóa Trung phần mời linh mục Cao Văn Luận làm Giám đốc. Ông là cựu đồng chí của Tổng thống Diệm trong phong trào Cường Để) cựu Thủ hiến Trung-Việt.
Sau năm 1954 ông sống ở Sài Gòn, tham gia hàng ngũ nhân sĩ đối lập chính phủ Ngô Đình Diệm.
Năm 1960 ông tham gia nhóm Caravelle kiến nghị lên Tổng thống Ngô Đình Diệm dòi cải cách thể chế.[5] Năm 1967 ông tham gia ứng cử chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa trong liên danh Cái Lư cùng ông Huỳnh Công Đương.
Năm 1970 ông mất tại Viêt Nam , thọ 69 tuổi.

8. Nguyễn Tiến Hỷ, quê Bắc phần, Tam giáo, một lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng. Bác sĩ Y khoa.

9. Trần Văn Đỗ * (1903-1990) sinh ở Hà Nam, nhưng nguyên quán ở Nam Kỳ. Gia đình của ông rất có tiếng tăm. Thân phụ của ông là Trần Văn Thông, từng làm Tổng đốc Nam Định trong 17 năm. Ông gọi chính khách Bùi Quang Chiêu, người sáng lập Đảng Lập hiến Đông Dương, bằng cậu.[2] Ông cũng là em ruột của luật sư Trần Văn Chương. Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân gọi ông là chú.
Ông du học tại Pháp, đậu bằng bác sĩ y khoa của Đại học Paris.
Năm 1954, ông được bổ nhiệm làm Trưởng phái đoàn đại diện Quốc gia Việt Nam ở Genève, thay cho ông Nguyễn Quốc Định. Ông nhất quyết không ký vào Hiệp định Genève vì không chấp nhận việc chia cắt Việt Nam[3] và nhân danh phái đoàn Quốc gia Việt Nam ra một tuyên bố riêng. Sau đó ông được bổ làm Tổng trưởng Ngoại giao nhưng chỉ được một năm thì rút lui vào năm 1955. Thời Đệ nhất Cộng hòa, ông phản đối chính sách của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông là một trong 18 người thuộc nhóm Caravelle ký tên vào thỉnh nguyện thư, còn gọi là Tuyên cáo Caravelle gửi Ngô Đình Diệm đòi chính phủ cải tổ vào tháng 4 năm 1960.[5]
Năm 1965, ông nhận làm Phó thủ tướng trong nội các của Thủ tướng Phan Huy Quát rồi Tổng Ủy viên Ngoại giao, tức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (1965-1967) trong Nội các chiến tranh của tướng Nguyễn Cao Kỳ.
Sau năm 1975, ông sang tỵ nạn tại Pháp và mất ngày 20 tháng 12 năm 1990 ở Paris.

10. Lê Ngọc Chấn ( - 1986) quê Bắc phần. Ông là một Luật sư, lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng, cựu Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời ông Diệm nhưng từ chức để phản đối chính sách độc tài của gia đình họ Ngô. Ông ký tên vào “Tuyên ngôn” Caravelle và bị đi tù hơn 3 năm. Chức vụ cuối cùng trước 1975 là Đại sứ tại Vương quốc Anh..
Tháng 6.1986, ông bị bệnh và chết trên đường đến bệnh viện, quàn xác tại nhà thi sĩ Hà Thượng Nhân, thiêu và hũ cốt để tại chùa Vĩnh Nghiêm, hương linh ở chùa An Lạc, Sài Gòn.

11. Lê Quang Luật, quê Bắc phần, Thiên Chúa giáo, lãnh tụ Phong trào Liên hiệp Dân chúng ủng hộ ông Ngô Đình Diệm khi ông Diệm còn ở hải ngoại. Ông là một Luật sư, nhà báo, cựu đại diện Chính phủ tại Bắc Việt sau khi Hiệp ước Genève ra đời, lãnh đạo việc đưa 800.000 dân di cư vào Nam, và cựu Bộ trưởng Thông tin. Ông là một trong những người Công giáo chống ông Diệm sớm nhất và quyết liệt nhất.

12. Lương Trọng Tường* , quê Nam phần, là lãnh tụ của một trong ba hệ phái Hòa Hảo (hai hệ phái kia do hai ông Huỳnh Văn Nhiệm và Lê Quang Liêm lãnh đạo). Ông tốt nghiệp Kỹ sư công chánh, và đã từng là cựu Thứ trưởng Kinh tế Quốc gia dưới thời ông Diệm.

13. Nguyễn Tăng Nguyên* , quê Trung phần, Phật giáo, một lãnh tụ thuộc nhóm Tinh Thần, một sáng lập viên Đảng Cần Lao Nhân Vị. Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Lao Động và Thanh Niên.

14. Phạm Hữu Chương, quê Bắc phần. Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Y tế và Công tác Xã hội.

15. Trần Văn Tuyên (1913-1976) quê Tuyên Quang, tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội. Ông là phụ tá cho Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam trong Chính phủ Liên hiệp năm 1946. Thành viên của phái đoàn Quốc gia Việt Nam đi dự Hội nghị Genève,
Tháng 6 năm 1960, ông sinh hoạt trong tổ chức Tự do Tiến bộ (nhóm Caravelle) cùng với Phan Khắc Sửu, Trần Văn Văn, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, Lê Ngọc Chấn và một số chiến hữu. Ông là đồng tác giả bản tuyên ngôn của nhóm. Ông bị giam giữ 3 năm tại trại mật vụ Võ Tánh. Tháng 7 năm 1963 tòa án quân sự Sài Gòn thụ lý truy tố ông nhưng sau khi Nguyễn Tường Tam tuẫn tiết, tòa tha bổng cho tất cả 19 bị cáo.
Từ 1964, ông là tổng bí thư Việt Nam Quốc dân Đảng (hệ phái miền Nam). Phó thủ tướng Đặc trách Kế hoạch trong chính phủ Phan Huy Quát. Trưởng Khối Đối lập Dân tộc Xã hội tại Hạ nghị viện.
Năm 1975 sau khi Sài Gòn sụp đổ, ông bị bắt ngày 16 tháng 5, đưa vào trại cải tạo. Ông mất trong trại giam.

16. Tạ Chương Phùng, quê ở Trung phần. Ông đỗ Cử nhân Hán học, nhà hoạt động phong trào độc lập dân tộc thập niên 1940 - 50 cùng với ông Ngô Đình Diệm, sau làm Tỉnh trưởng tỉnh Bình Định và trở thành thành viên nhóm Caravelle. Ông là thân phụ của chuyên gia sử học và dân tộc học Tạ Chí Đại Trường; và là vai trên của ông Tạ Chí Diệp, một người bị chính quyền Diệm thủ tiêu từ những ngày đầu.

   17. Trần Lê Chất (quê Bắc phần, Tam giáo) Tiến sĩ Hán học.

18. Hồ Văn Vui, quê Nam phần. Linh mục, cựu Cha sở một họ đạo thuộc địa phận Sài Gòn và hiện nay là Cha sở tại Tha La, Tây Ninh. “Linh mục Hồ Văn Vui được coi là một tu sĩ có nhiều uy tín trong giới Thiên Chúa giáo miền Nam. dạo năm 1958, Linh mục đã nhiều lần công khai phê phán chế độ và trong một bài thuyết giảng tại nhà thờ Đức Bà, Linh mục Hồ Văn Vui đã lên tiếng phê bình chính phủ một cách vô tư thẳng thắn


 Ghi Chú :

(*) Các Bộ trưởng trong Nội các đầu tiên của ông Ngô Đình Diệm (từ ngày 24-9-1954).
- Nhân thân của 18 nhân vật nầy chủ yếu được trích từ Wikipedia và lấy trên Internet.
- Trích, dịch từ “The Two Vietnam” của Bernard Fall, phụ bản II trang 435-441-Hoa Kỳ 1967.

 

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013


HÒA THƯỢNG THÍCH TÂM CHÂU NÓI RÕ
VỀ CUỘC TỰ THIÊU CỦA BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC
Phan Hoàng

Video dưới đây là Phiên bản dài 8.51 phút trích đoạn từ bản gốc 15.22 phút ở YouTube "Vườn Lam" http://www.youtube.com/watch?v=e7eFkc5XWr4 , thu hình Hòa Thượng Thích Tâm Châu ban đạo từ  (về cuộc Tự thiêu của Bồ Tát Thích Quảng Đức) tại Trung tâm Văn hóa Phật giáo Chùa Bảo Quang, thành phố Santa Ana, tiểu bang California, nhân mùa An cư Kiết hạ năm Quý Tỵ (đầu tháng 7 năm 2013).
Hòa Thượng cho biết cuộc đấu tranh của Phật giáo Việt Nam bắt nguồn từ “đạo dụ bất bình đẳng về tôn giáo” và lên đến cao điểm vào năm 1963, khi chính quyền Ngô Đình Diệm quyết định cấm treo cờ vào ngày Phật Đản tại Huế. Hòa Thượng nhấn mạnh đến mục đích đòi hỏi “bình đẳng tôn giáo” của cuộc đấu tranh “để cứu nguy cho Phật giáo Việt Nam chứ không nhằm gây hận thù.
Riêng động thái Tự thiêu của Ngài Thích Quảng Đức, Hòa Thượng cho biết thêm nhiều điều, trong đó có những điểm đáng chú ý sau đây:
-          Có tất cả 7 đơn xin tự thiêu” [phút thứ 3:22’] nhưng Hòa Thượng Tâm Châu, với tư cách là Chủ tịch Ủy ban Liên Phái Bảo vệ Phật giáo, đã từ chối.
-          Cuối cùng, vì tình hình Phật giáo bị đàn áp thêm trầm trọng tại Huế, và vì “chính Ngài tự phát tâm nhất định cách nào cũng tự thiêu" [4:13], nên "Cuối cùng, chính tôi là Chủ tịch Ủy Ban Liên Phái, phải đồng ý quyết định cho sự tự thiêu nầy” [4:43]
-          Cũng “chính Ngài yêu cầu Đại Đức Chân Ngữ hỗ trợ cho Ngài tưới xăng để Ngài tự thiêu”.[5.11]
-          “… Tự Ngài bật diêm quẹt để lửa bốc cháy [5.37]" và "…. Chính tôi đứng tại đó, tất cả chư Tăng Ni đều khóc lóc …”[6:24]

Trong phần kết thúc, Hòa thượng Tâm Châu nhấn mạnh hai điểm khiến Hòa Thương quyết định công bố những điều trên vào dịp tưởng niệm 50 năm nầy (2013): Thứ nhất, từ nhiều năm nay, đã có những người tìm cách xuyên tạc bóp méo sự thật về vụ tự thiêu lịch sử nầy nên nay Ngài chính thức công bố những thông tin nầy ra; và thứ nhì, tái xác nhận rằng Phật giáo chỉ đấu tranh để đòi hỏi bình đẳng tôn giáo, không hận thù Thiên Chúa giáo hay bất cứ ai.
Thế là sau 5 nhân chứng bất khả phủ bác và minh danh kể lại biến cố bi hùng nầy, gồm hai nhà sư (TT Thích Đức Nghiệp và ĐĐ Thích Chân Ngữ), hai nhà báo Mỹ (Malcolm BrowneDavid Halberstam), và một nhân viên mật vụ của chế độ Diệm (nhiếp ảnh gia Nguyễn Văn Thông), bây giờ lại đến lượt Hòa Thượng Thích Tâm Châu, người cho phép và, vào ngày 11-6-1963, đích thân có mặt ở hiện trường để chứng kiến, để rồi 50 năm sau, kể lại chi tiết cuộc tự thiêu nầy.
Trong một thời gian dài, có một nhóm tàn dư của chế độ Ngô Đình Diệm tại hải ngoại đã từng xuyên tạc đủ cách cuộc tự thiêu: Từ chuyện bịa đặt Ngài Quảng Đức bị lãnh đạo Phật giáo ép buộc "nướng sống", nhưng sau đó thấy không lừa được ai thì họ lại xão ngôn rằng Ngài không bị ép buộc mà bị chích thuốc mê. Từ chuyện tung tin Ngài bị một người khác thiêu sống chứ không phải tự mình bật lữa, rồi sau đó không đưa được nhân chứng thì lại vu khống cho một cán bộ Cọng sản tên là Nguyễn Công Hoan tưới xăng lên thân thể Ngài. Mới đây nhất, sau khi mọi chuyện dựng đứng đều bị vạch mặt bác bỏ,  có người (7/2013-Mathew Trần trên các diễn đàn Internet) cho rằng có “ai đó” đã bật diêm quẹt rồi từ sau ném vào vũng xăng …. Nghĩa là đám tàn dư nầy  đã vận dụng tối đa lòng độc ác và óc gian trá để tìm đủ mọi cách (dù vô lý nhất và không có một chứng cớ nào) phủ nhận cái chết cao cả và đại bi đại hùng của Ngài Quảng Đức.
Vì sao vậy ? Vì cái chết đó, cũng như cái chết của văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, và bao nhiêu chứng tích lịch sử khác trong suốt những năm bạo trị tại miền Nam Việt Nam, đã chứng tỏ một cách rõ ràng rằng chế độ độc tài Công giáo trị và Gia đình trị của con chiên Ngô Đình Diệm là vừa phi dân tộc vừa phản dân tộc. Thế mà bất cần Công lý, bất cần Sự thật và bất cần Lịch sử, cứ con chiên đồng đạo thì dù có tồi tệ đến mấy, nhóm tàn dư hoài-Ngô nầy vẫn bênh vực nhau !
Nhưng càng mạo hóa lịch sử thì sự thật lịch sử lại càng hiển lộ. Đó là quy luật !

Phan Hoàng
(Tác giả gửi trực tiếp đến Blog HoangNamGiao)  

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013

ĐỐI THOẠI VỀ BẤT BẠO ĐỘNG VỚI AUNG SAN SUU KYI


ĐỐI THOẠI VỀ BẤT BẠO ĐỘNG VỚI AUNG SAN SUU KYI

Cao Huy Thuần
 

I
Ngay khi khởi đầu cuộc tranh đấu chống chính sách kỳ thị tôn giáo của ông Ngô Đình Diệm, các vị lãnh đạo đã ra một bản Tuyên ngôn đọc ngày 10-5-1963 tại chùa Từ Đàm, trong đó phương pháp bất bạo động được long trọng xác định:
Phương pháp tranh đấu mà chúng tôi áp dụng là bất bạo động. Chúng tôi phải thể hiện tư tưởng của Phật giáo ngay trong cuộc tranh đấu của chúng tôi. Chúng tôi chấp nhận một sự hy sinh đến cùng độ và lấy sự hy sinh ấy làm sức mạnh để rung chuyển tận lòng người chứ không phải chỉ rung chuyển chính sách mà thôi. Ngay từ bây giờ chúng tôi có thể tuyên bố minh bạch rằng những người Tăng sĩ của Phật giáo là những người sẵn sàng noi gương Gandhi - vị Thánh của sức mạnh bất bạo động”.
     Cảnh sát chế độ Ngô Đình Diệm ngăn chặn bà con Phật tử đến chùa Ấn Quang
Và quả thật như vậy, thế giới đã chứng kiến thế nào là sức mạnh bất bạo động. Ngày hôm nay, hồi tưởng lại những hy sinh đã đổ ra trong cuộc tranh đấu bất bạo động ấy, chúng ta thật không thể tưởng tượng được Phật giáo Việt Nam đã viết được một trang sử vinh quang như vậy về sức mạnh tâm linh cho cả dân tộc và cho cả thế giới. Phật giáo Việt Nam đã thắp lên được một ngọn lửa sáng rực huyền vi để cả thế giới biết thế nào là Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ bi.
Tưởng niệm 50 năm Bồ-tát Quảng Đức vị pháp thiêu thân, chúng ta hãnh diện về gia tài tâm linh được thừa hưởng. Nhưng dường như Bồ-tát đang nói với chúng ta: hãy lấy ngọn lửa đó để thắp sáng hành động thường ngày, bởi vì bất bạo động không phải là chuyện gì cao xa, nó nằm sẵn trong huyết mạch của tư tưởng Phật giáo. Đó là đề tài nói chuyện của tôi hôm nay. Tư tưởng ấy là gì? Nó khác với tư tưởng của các tôn giáo khác như thế nào? Đâu là điểm chung, đâu là điểm riêng? Cái gì là đặc thù của Phật giáo?
Trả lời những câu hỏi này, riêng kinh nghiệm Việt Nam không đủ, vì kinh nghiệm 1963 là kinh nghiệm hành động, không phải kinh nghiệm lý thuyết. Ngày nay, khi thế giới tìm hiểu về lý thuyết bất bạo động, ai cũng chỉ nghĩ đến Gandhi, và sau đó là Martin Luther King. Có một nhân vật thứ ba nữa được nhắc đến là Nelson Mandela, cựu Tổng thống Nam Phi. 1963 của Việt Nam không để lại lý thuyết cho nên sách vở về bất bạo động trên thế giới không nhắc đến cũng là dễ hiểu. Sách vở thế giới đặt 1963 vào một chương khác, chương nói về chiến tranh. Bởi vậy, nếu muốn tìm trong sách vở thế giới mối liên quan giữa bất bạo động và tư tưởng Phật giáo, tôi bắt buộc phải nhìn qua một nước khác, Phật giáo như chúng ta, với một kinh nghiệm tranh đấu bất bạo động lâu hơn chúng ta, rất đáng kính và rất trung thực với tư tưởng Phật giáo: đó là nước Miến Điện của người phụ nữ Phật tử gương mẫu, bà Aung San Suu Kyi.
Tôi sẽ đọc một quyển sách của bà. Nhưng trước khi đi vào tư tưởng Phật giáo, tôi muốn nêu lên ngay ở đây hai điểm vì lát nữa chúng ta sẽ gặp phải, một điểm có liên quan đến lý thuyết, một điểm có liên quan đến hành động.
Về lý thuyết, Gandhi và Phật giáo rất gần nhau, chỉ khác ở một chỗ thôi là Gandhi tin ở Thượng đế vì ông là tín đồ của Ấn Độ giáo. Niềm tin ấy tất nhiên ảnh hưởng rất nhiều trên tư tưởng của ông. Tuy vậy, quan điểm của ông về Thượng đế không ngăn cản ai khác tôn giáo của ông chấp nhận tư tưởng bất bạo động của ông. Ông nói: “Thượng đế là một cái gì không định nghĩa được, ta chỉ cảm thấy nhưng ta không thể biết. Đối với tôi, Thượng đế là sự thật và tình thương”. Ở một nơi khác, ông nói: “Tôi thờ phụng Thượng đế như là sự thật mà thôi. Tôi chưa tìm được Thượng đế, nhưng tôi đang tìm Thượng đế. Tôi chuẩn bị hy sinh tất cả những gì thân yêu nhất của tôi để đi tìm Thượng đế. Dù cho tôi phải hy sinh mạng sống của tôi, tôi hy vọng rằng tôi có thể chuẩn bị để cho”. Thêm một định nghĩa nữa: “Tôn giáo của tôi đặt căn bản trên sự thật và bất bạo động. Sự thật là tôn giáo của tôi. Bất bạo động là phương tiện để thực hiện Thượng đế”. Có ai cảm thấy xa xôi gì với các định nghĩa đó đâu? Bởi vậy, Mục sư Tin Lành Martin Luther King, người lãnh đạo cuộc tranh đấu đòi bình đẳng cho người da đen ở Mỹ trong những năm 60, tuy có một quan niệm khác về Thượng đế, dễ dàng tự nhận mình là tiếp nối truyền thống của Gandhi không chút vướng ngại. Gandhi là của chung của nhân loại.
Điểm thứ hai là về hành động. Câu hỏi thường đặt ra cho các cuộc tranh đấu bất bạo động là: nếu phương pháp bất bạo động không đưa đến thành công thì sao? Gandhi nói: “As the means, so the end” (“phương tiện thế nào, cứu cánh thế ấy”). Vững chắc như thành đồng. Nhưng Malcolm X, lãnh tụ da đen chủ trương bạo động đối nghịch với King, cũng cả quyết như thành đồng vững chắc: tự do phải đến với người da đen “bằng mọi phương tiện cần thiết”. Sau khi King bị ám sát năm 1968, Malcolm X đòi chỉnh lý lại thuyết bất bạo động của King như thế này: “Nếu bất bạo động có nghĩa là tiếp tục dời lại vô thời hạn không giải quyết vấn đề dân da đen với cái giá là từ chối bạo động, thì, vâng, tôi chọn bạo động”. Bạo động hay bất bạo động, như vậy, là được đánh giá trên tiêu chuẩn thành công hay không. Đó là vấn đề đã đặt ra cho ông Nelson Mandela, lãnh tụ cuộc tranh đấu chống chính sách kỳ thị chủng tộc ở Nam Phi cũng vào thời gian những năm 60. Đây là nhân vật thứ ba được thế giới vinh danh là lãnh tụ bất bạo động, cụ thể hóa bằng Giải thưởng Nobel về hòa bình năm 1993, giống như Luther King năm 1964. Thế nhưng có thật Mandela là chiến sĩ trung thực của bất bạo động không? Ông chịu ảnh hưởng của Gandhi, đúng vậy, và khi ra tù, thắng trận, ông không ngớt kêu gọi hòa giải và tha tội để tránh cho nước của ông hận thù đẫm máu, không ngớt viện dẫn Gandhi để chứng minh cho thế giới thấy rằng nước của ông có thể xây dựng một nền dân chủ hòa bình sau cả mấy thế kỷ cai trị dưới tàn bạo chủng tộc. Thậm chí, ông nhận được Giải thưởng Gandhi/Luther King năm 1999 từ bàn tay của người cháu gái của Gandhi. Thế nhưng, từ 1954, ông đã tuyên bố: “Giai đoạn của chống cự thụ động đã chấm dứt, bất bạo động chỉ là một chiến lược vô hiệu, sẽ không bao giờ lật đổ được thiểu số da trắng sẵn sàng nắm giữ quyền lực với bất cứ giá nào...”. Ông giải thích: “Tranh đấu bất bạo động chỉ hiệu quả khi đối thủ của ta thừa nhận những nguyên tắc như ta. Nhưng khi tranh đấu hòa bình chỉ gặp phải bạo lực, hiệu quả chấm dứt. Đối với tôi, bất bạo động không phải là một nguyên tắc đạo đức mà là một chiến lược. Không có một sự tốt lành đạo đức nào để sử dụng một khí giới vô hiệu”. Bị nội bộ chỉ trích, ông thú nhận: “Tôi chấp nhận chỉ trích và sau đó tôi trung thực chấp hành chính sách bất bạo động trước công chúng. Nhưng tự trong thâm tâm, tôi biết rằng bất bạo động không phải là giải đáp”. Năm 1960, khi chính quyền Nam Phi cho tắm máu cuộc biểu tình hòa bình ở Sharpeville và Langa, Mandela tuyên bố giai đoạn bất bạo động chính thức chấm dứt. Đáng để suy nghĩ, Martin Luther King công khai ủng hộ Mandela và đảng ANC của ông từ 1961, bởi vì, King nói, Mandela không còn đường lối nào khác. Như vậy, phải chăng, như Mandela tự biện hộ, “bạo động và bất bạo động chẳng hề loại bỏ nhau”?

II

Đó là những vấn đề gai góc luôn luôn được đưa ra trong các tranh luận. Bây giờ, tôi đi vào quyển sách của bà Aung San Suu Kyi để xem tư tưởng Phật giáo đã được áp dụng cụ thể như thế nào trong cuộc tranh đấu bất bạo động của bà. Quyển sách nhan đề “The Voice of Hope” (Tiếng nói của hy vọng), ghi lại nhiều buổi đối thoại giữa bà với một học giả người Mỹ, Alan Clements, cũng là một Phật tử. Đây là câu hỏi đầu tiên:

- Thưa bà, tôi muốn hỏi thêm bà về “đạo Phật dấn thân”. Năm nay, tôi đã sống vài tháng ở Việt Nam và đã viếng thăm, trong một vùng ngoại ô thành phố Huế, ngôi chùa của một vị sư Việt Nam đã tự thiêu năm 1963... Một nhà sư trẻ đã cắt nghĩa cho tôi rằng “tự thiêu không phải là hành vi tự hủy hoại hay tự tử mà là một hành động của từ bi: đó là cách của Ngài làm cho thế giới chú ý đến sự đau khổ mà dân chúng Việt Nam đang chịu đựng trong chiến tranh”. Hiển nhiên một hành động như vậy của đạo Phật dấn thân là đã đạt đến cực điểm. Nhưng hình ảnh đó khiến tôi phải hỏi bà làm thế nào để đạo Phật dấn thân có thể sinh động hơn ngày nay, nhất là trong một triệu Tăng và một trăm ngàn Ni trong nước của bà?
Tôi dịch gần như nguyên văn câu hỏi, chỉ giản lược bớt vài chữ để câu văn nhẹ nhàng thôi. Và tôi cũng dịch như thế câu trả lời. Ngắn, gọn, thẳng như mũi tên bắn. Và thật là bất ngờ:
- Đạo Phật dấn thân là từ bi tích cực.
Và thế nào là từ bi tích cực? Là như kinh đã dạy: “Như mẹ hiền yêu thương con một / Dám hy sinh bảo vệ cho con...” Bà không nói cái gì khác với chúng ta hồi 1963: bất bạo động là từ bi và vô úy. Là không sợ. Là dám hy sinh. Và không sợ vì tâm đã tràn đầy từ bi, không còn chỗ nào nữa cho sợ hãi. Giữa từ bi và vô úy có sự liên hệ mật thiết. Bà nói: “từ bi toàn vẹn thì đuổi sợ hãi”. Bà không nói gì khác, nhưng xác quyết của một người hành động làm ta vững tin hơn. Bà nói thêm, rất cụ thể: “Tôi chưa bao giờ học ghét những người đã cầm tù tôi, bởi vậy tôi không bao giờ cảm thấy sợ họ”. Hơn thế nữa, “mẹ tôi không bao giờ dạy tôi ghét ngay cả những người đã giết cha tôi”.
Nữ Phật tử gương mẫu, bà Aung San Suu Kyi
Và đây là câu hỏi thứ hai có liên quan đến vấn đề lý thuyết mà tôi đã nêu lên trong phần trước:
- Thưa bà, có một sự phân biệt lớn giữa những người lãnh đạo các phong trào chính trị bất bạo động. Có thể nói là có hai quan niệm chính về bất bạo động. Một quan niệm có cội rễ từ lòng tin Thượng đế, lấy hứng và sức mạnh từ tín ngưỡng độc thần, như Gandhi, như Martin Luther King, như Nelson Mandela, như Václav Havel... Trong khi đó, quan niệm thứ hai của Phật giáo có cội rễ ở niềm tin vào vô ngã, không có thần nào trong đó cả. Ngài Đạt Lai Lạt Ma là một ví dụ. Và bây giờ là bà. Khi bà suy nghĩ về những ví dụ đó, tất cả những quan niệm hữu thần đều thành công trong tranh đấu của họ, còn Phật tử thì không thành công trong việc mang lại những thay đổi chính trị. Ngài Đạt Lai Lạt Ma cũng phải công nhận: “mỗi giờ phút trôi qua, Tây Tạng mất đi một ít”. Tôi có thể hỏi bà: bà nghĩ thế nào về sự phân biệt giữa hai trường phái bất bạo động ấy?
Câu hỏi rất hóc búa, buộc người trả lời phải đi vào thực tế của hành động, chứ không phải chỉ quả quyết trên lý thuyết.Tôi cũng xin nói thêm rằng khi người hỏi đề cập đến sự “thất bại” của bất bạo động ở Việt Nam là nói về giai đoạn sau 1963, khi ông Nguyễn Cao Kỳ đem quân ra đánh Huế và bắt HT.Trí Quang cầm tù trong một bệnh viện tư ở Sài Gòn. Bởi vậy câu trả lời của bà Aung San Suu Kyi bắt đầu bằng nhận xét này, tôi dịch nguyên văn:
- Ở miền Nam Việt Nam ngày trước có quá nhiều người Thiên Chúa giáo, và quá nhiều người trong họ nắm giữ những chức vị then chốt trong chiến tranh. Tôi nghĩ một trong những lý do tại sao phong trào Phật giáo thất bại là vì có quá nhiều người không phải Phật giáo nắm quyền. Phong trào Phật giáo không vận động được những người cốt cán của tình thế.
Câu trả lời không làm thỏa mãn người hỏi. Vì vậy, người hỏi nhấn mạnh một lần nữa:
- Trở về lại với câu hỏi khi nãy, có thể nói gì về niềm tin của người có Thượng đế trong linh hồn đối với những người thấy vô ngã trong chân lý?
Tôi dịch nguyên văn câu trả lời, vẫn phân tích thực tế hơn là đi vào lý thuyết:
- Tôi nghĩ có một lý do gì thực tế hơn chăng. Các phong trào của những người Thiên Chúa giáo được tổ chức chặt chẽ, điều đó là cốt yếu. Nhà thờ của họ được tổ chức như thế, trong khi Phật tử không được tổ chức thực sự trong các chùa. Mặc dầu người ta có thể đi đến một chùa địa phương, hoặc quen đi đến chùa của mình, người ta không nhất thiết chỉ giới hạn trong chùa đó. Còn người Thiên Chúa giáo thì khác: họ đi lễ ở một nhà thờ năm này qua năm khác, và vì vậy mà làm phát triển những quan hệ tín hữu. Có thể cha mẹ của họ cũng đã từng đi lễ cùng một nhà thờ ấy và nhờ vậy mà họ làm quen với nhiều người đã từng quen biết cha mẹ họ trước đây. Tôi nghĩ đó là cách để các phong trào tổ chức cơ sở. Tôi thường nghĩ cũng có thể đó là một trong các lý do tại sao các phong trào chính trị của người Thiên Chúa giáo cất cánh nhanh chóng và hiệu quả. Tổ chức đã có sẵn đấy rồi. Cứ xem các nước ở Nam Mỹ: nhiều phong trào chính trị chống đối các chính thể độc tài, mặc dầu không phải bất bạo động, đều có cơ sở là nhà thờ, khiến các phong trào ấy cất cánh rất nhanh. Ngay cả trong các nước Hồi giáo, họ cũng có nhà thờ của họ, được tổ chức chặt chẽ, với hội họp đều đặn mỗi tuần. Trong các nước Phật giáo, cách tổ chức có quy mô hình thức như vậy không có.
Đọc câu trả lời, tôi nhận thấy à ra vậy, tưởng các chùa ở nước Phật giáo Miến Điện tổ chức chặt chẽ hơn, hóa ra cũng “nhẹ nhàng” như ở ta! Nhưng câu trả lời vẫn chưa làm hài lòng người phỏng vấn. Ông này nhấn mạnh lần nữa:
- Vậy thì rõ ràng bà không nghĩ rằng các phong trào đó thành công là có cái gì đó liên quan đến niềm tin ở Thượng đế?
Tôi cho rằng câu hỏi chứng tỏ người phỏng vấn rất am hiểu vấn đề. Nhưng câu trả lời vẫn tiếp tục triển khai ý nghĩ như cũ:
- Tôi nghĩ rằng đó chỉ vì họ có thể gặp nhau đều đặn. Ngay cả ở Ấn Độ, chính quyền cũng không thể nói rằng dân Hồi giáo không được đi nhà thờ. Họ phản ứng ngay lập tức. Chính quyền phải để cho họ đi, và như vậy họ luôn luôn gặp nhau đều đặn, ít nhất mỗi tuần một lần. Trong khi đó thì, Phật tử gặp nhau ở đâu? Nếu Phật tử bắt đầu gặp nhau mỗi tuần một lần tại một chùa nào đó, cảnh sát sẽ đến hỏi họ ngay các bạn thân mến gặp nhau làm gì vậy? Nhưng cảnh sát không thể ngăn dân đạo đến nhà thờ. Trong các nước Đông Âu ngày trước, cảnh sát cũng đã từng ngăn người ta đến nhà thờ, nhưng khi các nước Tây Âu sẵn sàng phản đối, và khi các nước Đông Âu ấy cần mượn tiền của Tây Âu, chính quyền không thể nói: “Này, không được đi lễ”. Nước Ba Lan ngày trước là như vậy. Hoạt động chính trị có nhà thờ làm cơ sở. Còn bây giờ, nếu lấy Miến Điện làm ví dụ thì...
Tôi không cần dịch thêm, quý vị cũng biết bà nói gì. Sức mấy mà bọn quân phiệt để yên. Nhưng, hồi tưởng lại năm 63 nghiệt ngã, tại sao Phật tử chúng ta đã làm được sơ thất, nhị thất, tam thất, chung thất cho các Thánh tử đạo? Tại sao ông Diệm không giập tắt được bất bạo động của chúng ta? Bà Aung San Suu Kyi trả lời giùm tôi: tại vì kẻ yếu có “sức mạnh của kẻ yếu”.
- Sức mạnh đến từ bên trong - bà nói thế. Nếu ta tin tưởng vào việc ta làm, nếu ta vững chắc trong niềm tin của ta rằng việc mà ta đang làm là đúng, chỉ vậy thôi là đã có đủ sức mạnh, và sức mạnh đó là rất quan trọng khi ta muốn hoàn thành một công việc gì. Nếu ta không tin ở việc ta làm, hành động của ta sẽ thiếu xác quyết. Ta có cố gắng bao nhiêu đi nữa, nhược điểm thiếu chính xác, minh bạch ấy vẫn sẽ xảy ra.
Một cách gián tiếp, bà đã trả lời câu hỏi hóc búa về Thượng đế hay vô ngã. Thượng đế hay vô ngã không quan trọng bằng niềm tin vào việc mình làm. Chính vì niềm tin đó mà 1963 là vô địch.
Riêng bản thân tôi, tôi có câu trả lời trực tiếp. Vâng, đúng thế, dưới danh nghĩa Thượng đế, động viên người ta dễ hơn là dưới đề tài vô ngã, nhưng sự khác nhau không phải nằm ở đó. Hãy xem các nước Hồi giáo ngày nay: dưới danh nghĩa Thượng đế, bao nhiêu máu đã chảy? Bao nhiêu bạo lực! Còn dưới danh nghĩa vô ngã... chỉ có thể là bất bạo động mà thôi! Bồ-tát Quảng Đức, đúng là hiện thân của vô ngã. Không có ta, không có kẻ thù. Hay như ngài Đạt Lai Lạt Ma nói: kẻ thù là ông thầy tốt nhất của ta. Có điều là: dưới danh nghĩa Thượng đế, nói lên một tiếng, hàng vạn người theo, còn nói vô ngã... khó có ai biểu tình để nói rằng tôi vô ngã.
Bất bạo động khó khăn là vì thế. Nhưng chính vì thế mà ta phải suy nghĩ cho tương lai. Chẳng lẽ vì bất bạo động khó khăn mà không có tương lai? Bởi vậy, tôi đặc biệt chú ý đến đối thoại sau đây:
- Nelson Mandela viết trong hồi ký “Long Walk to Freedom”(“Trường hành vào tự do”) rằng “năm 1961, chúng tôi ngưng cuộc tranh đấu bất bạo động... Chúng tôi không có cách nào khác hơn là phải bạo động”. Để tạo cơ sở cho cuộc chuyển hướng từ bất bạo động qua bạo động, ông trích một câu tục ngữ của Phi châu: “Khi một con thú dữ tấn công, ta không thể chống lại bằng tay không”. Tuy vậy có vài người trong đảng ANC của ông lý luận rằng bất bạo động là một nguyên tắc không thể vi phạm được, không phải là chiến thuật để mà bỏ qua khi không còn hiệu nghiệm. Ông Mandela trả lời: “Tôi nghĩ hoàn toàn ngược lại... bất bạo động là một chiến thuật phải gác qua một bên khi không còn hiệu nghiệm... Và quả là sai lầm và vô đạo đức nếu ta đặt dân chúng của ta trước tấn công vũ lực của chính quyền mà không mang đến cho họ một biện pháp gì khác để thay thế”. Thưa bà, nếu tôi nghĩ đúng, bà cho rằng hành động chính trị bất bạo động là một nguyên tắc đạo đức và tâm linh chứ không phải là một chiến thuật chính trị?
Giáo sư Cao Huy Thuần tại Hội thảo khoa học "50 năm phong trào Phật giáo ở miền Nam", Bình Dương, 2013 - Ảnh: V.G
Là con người hành động và đồng thời có niềm tin sắt đá vào đạo Phật, câu trả lời của bà Aung San Suu Kyi rất quả quyết nhưng khá mềm dẻo để không xa rời thực tế:
- Không, không hẳn thế. Đó cũng là một chiến thuật chính trị. Đảo chánh quân sự đã diễn ra nhiều lần ở Miến Điện là những biện pháp để thay đổi tình thế bằng bạo lực. Nhưng tôi không muốn khuyến khích, cũng không muốn tái diễn cái tập tục ấy. Bởi vì tôi sợ rằng nếu chúng tôi thực hiện dân chủ bằng cách ấy, chúng tôi sẽ chẳng bao giờ gạt bỏ được ý nghĩ rằng ta mang lại những thay đổi cần thiết bằng bạo lực. Chính cái phương pháp ấy sẽ đe dọa chúng tôi mãi hoài. Bởi vì lúc nào mà chẳng có người không đồng ý với dân chủ? Và nếu chúng tôi thực hiện dân chủ bằng bạo lực, bao giờ cũng sẽ có những người cực đoan trong số những người chống lại dân chủ ấy nói: “Chúng nó đã thay đổi hệ thống bằng bạo lực, vậy nếu chúng ta làm bạo lực hay hơn, ta sẽ chiếm lại chính quyền”. Và như vậy là chúng ta rơi vào cái vòng luẩn quẩn. Đối với tôi, bạo lực không phải là đường lối đúng đắn, dù như là một chiến thuật chính trị hay như là một niềm tin tâm linh. Đơn giản là nó chẳng giúp ích gì được cho chúng tôi xây dựng một nền dân chủ mạnh mẽ.
Câu trả lời rất khéo nhưng thiếu khẳng định. Thoạt đầu, bà nói: bất bạo động không hẳn không phải là một chiến thuật chính trị, nhưng cuối cùng, bà đưa về lại hoàn cảnh chính trị thực tế của Miến Điện để gạt bỏ bạo động, dù được áp dụng như một chiến thuật, vì không lợi ích gì cho việc xây dựng dân chủ. Nghĩa là câu trả lời vẫn dựa trên thực tế, chưa đi vào lý thuyết trừu tượng. Cho nên, người đối thoại xoáy sâu thêm vào lý thuyết:
- Nhưng khi bà thấy rằng những phương pháp bất bạo động không còn hiệu nghiệm nữa, với tư cách là người lãnh đạo, bà có thấy bổn phận phải thay đổi chiến thuật bất bạo động hay không để mài lại cho sắc cuộc đấu tranh của bà, hay là bà vẫn chấp thủ bất bạo động dù bất cứ chuyện gì xảy ra, bởi vì đó là một nguyên tắc đạo đức mà bà gần gũi? ... Hay là, tôi hỏi bà thế này, vì tôi muốn hiểu bà: có phải bất bạo động là một nguyên tắc đạo đức và tâm linh bất di bất dịch, không bao giờ biến chuyển được trong đường lối tranh đấu của bà?
Câu trả lời bắt buộc phải rõ hơn:
- Chúng tôi luôn luôn nói rằng chúng tôi sẽ không bao giờ phủ nhận các sinh viên và các người khác đã chọn bạo động. Chúng tôi biết rằng mục đích của họ cũng giống như mục đích của chúng tôi. Họ muốn dân chủ và họ nghĩ rằng cách hay nhất để đi đến dân chủ là thông qua tranh đấu vũ lực. Chúng tôi cũng không nói rằng chúng tôi có độc quyền trên những phương pháp đúng nhất để thực hiện điều chúng tôi mong muốn... Chúng tôi chọn đường lối bất bạo động chỉ vì chúng tôi nghĩ rằng điều đó tốt hơn về phương diện chính trị cho đất nước tôi về lâu về dài để chứng minh rằng ta có thể mang lại thay đổi mà không cần đến khí giới. Chính sách của đảng tôi rõ ràng từ đầu là như vậy. Ở điểm này, chúng tôi không nghĩ đến vấn đề tâm linh gì cả. Có thể, với ý nghĩa như vậy, chúng tôi không giống Gandhi, Gandhi có lẽ sẽ kết án tất cả những phong trào nào không phải là bất bạo động. Tôi không dám chắc nói như vậy là đúng. Nhưng Gandhi có lần nói rằng nếu ông phải lựa chọn giữa bạo động và hèn nhát, ông sẽ chọn bạo động. Như vậy, ngay cả Gandhi, người được xem là tiêu biểu cao cả nhất của bất bạo động, cũng không phải là người không biết ngoại lệ.
Đối thoại đi sâu hơn nữa:
- Nhưng giữa lựa chọn bạo động vì từ bi và lựa chọn bạo động thay vì hèn nhát, có gì khác nhau? Nelson Mandela viết: “Lãnh đạo sẽ phạm một tội ác đối với dân tộc nếu ngần ngại không chịu mài giũa cho sắc những khí giới chính trị ở chỗ nào đã trở thành kém hiệu quả”. Như vậy, chẳng phải ông ấy nói rằng chấp chặt bất bạo động sẽ trở thành một hành động bạo động trên thực tế đối với dân tộc ấy khi đường lối bất bạo động không còn hiệu nghiệm nữa?
Vẫn không rời thực tế, câu trả lời soi sáng đường đi cho chúng ta, những người cư sĩ tầm thường, sống trong một thế giới tầm thường, nhưng luôn luôn muốn vươn lên để xứng đáng với danh nghĩa là người Phật tử, hơn thế nữa, người “Phật tử dấn thân”. Dấn thân, người Phật tử có lý tưởng, nhưng người Phật tử phải sáng suốt trước thực tế. Trên thế giới ngày hôm nay, cũng như những ngày vừa qua, không ai khác cho chúng tôi một cái nhìn chính trị trung thành với lý tưởng đạo Phật hơn là bà Aung San Suu Kyi. Bởi vì lẽ đơn giản, bà là người làm chính trị Phật tử duy nhất xứng đáng để chúng ta chiêm nghiệm, theo dõi. Giữ hay bỏ bất bạo động khi không còn hiệu nghiệm? Đây là câu trả lời:
- Điều này tùy thuộc vào hoàn cảnh, và tôi nghĩ rằng trong hoàn cảnh Miến Điện hiện nay, đường lối bất bạo động là tốt nhất để thực hiện mục đích của chúng tôi. Nhưng chắc chắn tôi không kết án những người tranh đấu cho cuộc “đấu tranh chính nghĩa”, như người ta thường nói. Cha tôi đã tranh đấu như thế, và tôi rất thán phục cha tôi vì thế... Chúng tôi để mở ra mọi cánh cửa - mọi lựa chọn. Điều rất quan trọng là chúng tôi phải mềm dẻo, uyển chuyển. Chúng tôi đã chọn bất bạo động bởi vì đó là phương pháp tốt nhất để bảo vệ người của chúng tôi, và về lâu về dài bảo đảm cho sự bền vững của dân chủ trong tương lai. Chính vì vậy mà cha tôi đã thay đổi từ bạo động qua bất bạo động. Cha tôi biết rằng, vì tương lai của dân tộc, thực hiện một nước dân chủ bằng những phương thức chính trị và thương thuyết thì tốt hơn nhiều bằng phương thức quân sự. Với ông Mandela cũng vậy. Ông đã trở lại với bất bạo động khi tình thế cho phép. Tất nhiên trước đó ông dùng bạo động vì bất bạo động không thích hợp và còn bị xem là yếu đuối hơn là sức mạnh. Nhưng trong thời gian ấy, sự việc khác hẳn. Khi Nelson Mandela và nhiều người Nam Phi khác lần đầu tiên thử dùng phương pháp bất bạo động, thế giới đang còn quá bận rộn với chiến tranh ý thức hệ giữa Đông và Tây, không mấy ai tha thiết với nhân quyền. Trong một thế giới bạo tàn, Nelson Mandela và các vị Nam Phi khác cảm thấy rằng họ phải chọn lựa những phương tiện nào có khả năng gây ra chấn động để làm thế giới biết lập trường của họ hơn. Còn bây giờ, trong thời đại này, chúng ta có thể dùng những phương tiện chính trị bất bạo động để thực hiện cứu cánh của chúng ta. Nhưng nếu ta có thể có một sự lựa chọn và nếu ta cảm thấy có triển vọng thành công bằng nhau, tôi nghĩ rằng chắc chắn ta phải chọn đường lối bất bạo động, bởi vì phương pháp đó sẽ làm ít người bị thiệt hại hơn.
Như vậy, phải chăng bà đã trả lời rằng bất bạo động không phải là nguyên tắc bất di bất dịch? Người đối thoại chắc đã hiểu như thế nên dồn bà vào một câu hỏi cuối cùng:
- Trở về lại với Nelson Mandela, tôi đặc biệt lý thú khi ông kể về một ray rứt của ông, lúc các nhà báo Mỹ phỏng vấn ông trong nhà tù. Họ có ý dán cho ông cái nhãn hiệu cộng sản và khủng bố, cũng như không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo. Họ nói: Martin Luther King không bao giờ dùng đến bạo động. Mandela cãi lại: ông là tín đồ Thiên Chúa giáo và ngay cả Chúa Giê-su, người làm hòa bình, khi không có lựa chọn nào khác, đã dùng bạo lực để đuổi kẻ cho vay ra khỏi đền thờ.
Trả lời của bà Aung San Suu Kyi lần này có thể xem như kết luận:
- Đúng vậy. Ngài cầm gậy mà đuổi. Tôi nghĩ rằng ta không thể chấp chặt tín điều trong chính trị. Chấp chặt tín điều là một trong những nguy hiểm của chính trị.
Gần đây, mới năm ngoái, 2012, trong một đối thoại với Stéphane Hessel, ngài Đạt Lai Lạt Ma đã được hỏi về một nhận xét có liên quan đến việc bảo vệ nhân quyền. “Bảo vệ nhân quyền phải được thực hiện bằng bất bạo động. Nhưng nhân quyền bị chà đạp thì có thể làm dấy lên bạo động”. Phải chăng như thế?
Đây là câu trả lời của ngài Đạt Lai Lạt Ma: “Nếu các trường hợp xảy ra mà dữ dội đến nỗi phải có những hành động cứng rắn, nếu không có lựa chọn nào khác hết thảy, thì ngay những hành động ấy, dù có vẻ bạo động, trong bản chất vẫn chính yếu là bất bạo động. Đứng về phương diện lý thuyết, có thể quan niệm như vậy. Nhưng trên bình diện thực tiễn, không đơn giản như thế. Biên giới duy nhất để phân biệt bạo động và bất bạo động là ý định. Riêng về vấn đề tham nhũng, bây giờ đã trở nên đại họa truyền nhiễm trên thế giới hiện đại, tôi thường nói rằng đó là một hình thức bạo động. Bởi vì ý định của tham nhũng là lừa gạt, dối trá. Đó là một hành động cực kỳ bạo động trong bản chất”.
Ngài được hỏi tiếp: “Vậy thì người ta có thể làm một hành động bạo lực với một trái tim bất bạo động?”
Trả lời: “Về lý thuyết thì vậy, nhưng về thực tế, như tôi đã nói, không đơn giản”.
Thú thật, riêng tôi, chưa bao giờ tôi thấy vấn đề là đơn giản. Không những khó nói, lại còn rất dễ bị lợi dụng để biện minh cho hành động này hay hành động ngược lại. Đúng như ngài Đạt Lai Lạt Ma nói, tiêu chuẩn duy nhất là ý định. Nhưng ý định là chủ quan, một mình mình biết một mình mình hay.
Đức Dalai Lama
Bởi vậy, ngài lại được hỏi tiếp: “Gandhi cũng đi khá xa, đến độ nói thế này: “Thực sự, tôi tin rằng nếu nhất thiết phải làm một sự lựa chọn giữa hèn nhát và bạo động, tôi khuyên làm bạo động”. Và để ví dụ, ông kể rằng người con trưởng của ông một hôm hỏi ông đáng lẽ anh ta phải làm gì khi ông bị mưu sát năm 1908, ông đã trả lời: ‘bổn phận của con đáng lẽ là phải dùng đến bạo động’.
Gandhi đưa ra một tiêu chuẩn hành động có thể áp dụng được trong cách xử thế: giữa hèn hạ và bạo động, ông chọn bạo động. Nhưng, nói cho cùng, hèn hạ hay không vẫn là một tiêu chuẩn chủ quan. Bởi vậy, ngài Đạt Lai Lạt Ma vẫn giữ tiêu chuẩn của mình, mà cũng là tiêu chuẩn của Phật giáo, là ý định. Ngài trả lời bằng cách kể lại câu chuyện sau đây mà Phật tử ở đây chắc ai cũng biết. Dù vậy, tôi vẫn dịch nguyên văn:
Trong đạo Phật có một ẩn dụ mà ý nghĩa cũng giống như vậy. Trong một tiền kiếp, Đức Phật là một thuyền trưởng của một chiếc thuyền gồm 500 thủy thủ; thuyền trưởng biết một người trong đoàn thủy thủ đang âm mưu giết 499 người kia để chiếm đoạt tài sản. Ba lần, thuyền trưởng tìm cách can ngăn, nhưng anh kia không nghe. Thuyền trưởng bèn suy luận như sau: Nếu ta không giết anh thủy thủ này, 499 người kia sẽ chết. Nhưng mặt khác, giết anh này, ta sẽ bị nghiệp xấu vì đã giết người. Nhưng nếu ta không giết kẻ đang âm mưu, ta gián tiếp phạm tội để cho 499 người kia chết. Thuyền trưởng bèn giết tên thủy thủ ấy”.
Tôi không bình luận gì thêm ở đây, chỉ nhắc lại câu nói khi nãy của bà Aung San Suu Kyi: trong chính trị, chấp chặt tín điều là rất nguy hiểm. Người hành động chỉ có thể chân thành tự vấn lương tâm để xét ý định của mình là gì. Ý định của viên thuyền trưởng trong chuyện tiền thân khi nãy là tình thương, là từ bi.

III

Tôi muốn kết luận bài nói chuyện của tôi hôm nay bằng một vấn đề lý thuyết mà bất cứ ai học môn xã hội học đều biết: lý thuyết của nhà xã hội học danh tiếng Max Weber về sự phân biệt giữa hai loại đạo đức: đạo đức của niềm tin và đạo đức của trách nhiệm. Người hành động không thể nào không theo đạo đức của trách nhiệm. Đó là thứ đạo đức buộc họ phải thấy rõ thực tế, thấy họ đứng ở đâu, trong hoàn cảnh nào, đâu là những hậu quả nếu họ quyết định thế này hay thế khác, và như vậy thì phải quyết định thế nào để đạt được những hậu quả hay kết quả mong muốn; đạo đức trách nhiệm xét hành động trong tương quan giữa cứu cánh và phương tiện. Nếu xét cho đến tận cùng thì dù phải nói láo hay làm ác, nghĩa là chịu phạm tội xuống địa ngục, vẫn làm nếu đất nước được vinh quang.
Ngọn lửa vô úy, lửa từ bi của Bồ-tát Thích Quảng Đức
Tôi nghĩ, trong lịch sử Việt Nam, người làm chính trị tiêu biểu cho thứ đạo đức này là Trần Thủ Độ. Lợi ích của đất nước siêu việt cá nhân riêng tư của người lãnh tụ. Đó là nói cho rốt ráo, cho đến cực điểm, chứ thông thường thì đạo đức của trách nhiệm chỉ là đạo đức khiến người hành động lo nghĩ đến hiệu quả, suy tính làm thế nào để lựa chọn phương tiện gì phù hợp với kết quả mong muốn. Đạo đức của trách nhiệm buộc phải hy sinh, hy sinh một giá trị vì một giá trị lớn hơn. Tôi nhắc lại: đạo đức của trách nhiệm không đi đến mức xem mọi phương tiện đều tốt miễn là đạt được kết quả. Cực đoan kiểu đó thì không còn đạo đức, luân lý, giá trị gì nữa, thì qua bên Tàu làm con cháu Tào Tháo.
Giá trị, và sự lựa chọn giữa những giá trị: đó là tiêu chuẩn để nhận ra đạo đức của niềm tin. Đây là thứ đạo đức buộc ta phải hành động theo đúng niềm tin của ta, tình cảm của ta, không cần để ý gì đến hệ quả, dù xa dù gần, dù trực tiếp dù gián tiếp. Ví dụ: tín đồ của chủ nghĩa hòa bình nhất quyết không cầm súng, không giết ai. Ví thử nước của họ bị ngoại xâm, cũng vậy, họ nhất thiết không cầm súng. Họ có thể xung phong vào đội cứu thương, làm y tá, nhưng họ không bắn. Mặc ai chỉ trích với bất cứ lý luận gì, họ vững như bàn thạch, vì người duy nhất có thể phán đoán thái độ của họ là lương tâm của họ và lương tâm của họ chỉ có một tiêu chuẩn để phán đoán thôi là họ có trung thành với niềm tin của họ hay không.
Chắc chắn đạo đức của niềm tin không thể là đạo đức của người làm chính trị. Thế nhưng có phải giữa hai thứ đạo đức có một biên giới rõ ràng, dễ dàng phân biệt trắng đen hay không? Đến một mức nào đó, một tình thế nào đó, đạo đức của niềm tin cũng vấp phải vấn đề hợp lý, cũng bị lý trí soi ánh sáng vào, để thấy một thái độ tuyệt đối có khi là bất hợp lý.
Cũng vậy, đâu có phải đạo đức của trách nhiệm là hoàn toàn không lấy hứng từ niềm tin? Tôi nghĩ đến hiệu quả của hành động, đúng vậy, nhưng đâu có phải tôi chỉ nghĩ đến hiệu quả, tôi còn nghĩ đạt đến hiệu quả ấy vì mục đích gì. Mục đích ấy liên quan đến niềm tin của tôi, đến những giá trị mà tôi theo đuổi. Bởi vậy, xét cho kỹ, đạo đức của niềm tin và đạo đức của trách nhiệm không trái ngược nhau mà bổ túc cho nhau, và đã làm người thì ai cũng phải có cả hai, nhất là người làm chính trị.
Và chính vì vậy mà tôi chọn đề tài này để tưởng niệm 50 năm Bồ-tát Quảng Đức vị pháp thiêu thân. Trong cuộc tranh đấu bất bạo động của Việt Nam, Ngài là bậc siêu nhân, vượt lên trên sự phân biệt giữa niềm tin và trách nhiệm. Ngài là hình ảnh lý tưởng của tư tưởng bất bạo động trong Phật giáo, là hiện thân cụ thể của vô úy và từ bi. Phật tử chúng ta chiêm ngưỡng Ngài để luôn luôn thắp sáng niềm tin trong lòng. Nhưng để làm người Phật tử trong hành động, tôi phải mượn kinh nghiệm và con người của bà Aung San Suu Kyi, một người cư sĩ như chúng ta, đã biết hòa hợp khéo léo đạo đức của niềm tin và đạo đức của trách nhiệm, xứng đáng để chúng ta theo dõi như một người làm chính trị đích thực Phật tử duy nhất trên thế giới hiện nay.

Cao Huy Thuần

________________

Chú thích:
- Các câu trích dẫn Gandhi là lấy từ: “Gandhi’s Views on God”, www.gandhi-manibhavan.org/gandhiphilosophy/philosophy_god_god.htm và “My religion is based on truth and non violence. Truth is my God. Non violence is the means of realising Him” www.brainyquote.com/quotes/m/mahatmagan160725.html
- Các câu trích dẫn Nelson Mandela là lấy từ Sylvie Laurent, La non-violence est-elle possible? www.laviedesidees.fr/la-non-violence-est-elle-possible.html
- Về đối thoại với ngài Đạt Lai Lạt Ma, lấy từ: Dalaï-Lama et Stéphane Hessel, Déclarons la paix! Pour un peogrès de l’esprit, Indigène éditions, Avril 2012.
- Quyển sách của bà Aung San Suu Kyi: The Voice of Hope, Conversations with Alan Clements, Penguin Books, 1997.