Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014


Góp ý về việc giải thích
“CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG”

Cao Huy Thuần


Thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Ngoại trưởng Chu Ân Lai ngày 14-9-1958 tạo lý lẽ pháp lý cho phía Trung Quốc để quả quyết rằng Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Bắc Kinh trên Hoàng Sa và Trường Sa. Lý lẽ pháp lý căn bản để Việt Nam bác bỏ luận điệu của Trung Quốc là: nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không có tư cách pháp lý để nhường cho Trung Quốc một quyền mà mình không có ở thời điểm 1958. Ở thời điểm ấy, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa. Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục lịch sử chiếm giữ từ bao đời và hành xử chủ quyền toàn vẹn trên hai đảo ấy. Lý lẽ rất xác đáng này, nhiều người đã nói rồi, tôi không nhắc lại ở đây nữa. Ở đây, tôi chỉ góp thêm chút ít ý về những vấn đề phụ, để bổ túc cho lý lẽ chính vừa nói ở trên.

Trước khi đi vào những chi tiết lịch sử và những lập luận pháp lý rườm rà, tôi bắt buộc phải làm cái chuyện rườm rà đầu tiên là đăng lại nguyên văn bức thư mà ngày nay người ta thường gọi là “công hàm Phạm Văn Đồng”. Bức thư rất đơn giản, nhưng chính vì đơn giản mà phải giải thích, hơn thua nhau trong vụ kiện là tùy thuộc lớn vào việc giải thích này. Tôi không dám làm công việc rất khó khăn này của luật sư chuyên nghiệp, đòi hỏi một kiến thức về học thuyết và án lệ quốc tế thấu đáo hơn, cập nhật hơn, chỉ xin nhắc lại là cốt góp thêm chút ý mà thôi. Góp thêm chút ý mà cũng đã khó khăn rồi, vì phía Trung Quốc còn đưa ra thêm nhiều bằng chứng khác, nào bản đồ của Bộ Quốc Phòng, của Phủ Thủ Tướng, nào báo Nhân Dân, nào sách giáo khoa, để làm vững chắc hơn nữa lý luận của họ. Mong rằng chính quyền Việt Nam thu thập được thêm bằng chứng để phản bác. Chỉ có chính quyền mới làm được việc này thôi. Không có trong tay những bằng chứng khác, lý luận duy nhất trên một “công hàm” là không đủ tý nào. Nhưng biết làm sao !

Đây là nguyên văn bức thư, và vấn đề pháp lý đặt ra là giải thích bức thư :

“Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ :

Chính phủ nước Việt-nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung-Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt-nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958”


I. Theo ngôn ngữ của luật quốc tế, bức thư đó được gọi là một  “hành vi đơn phương”, tiếng Pháp là một “acte unilatéral”. Vấn đề pháp lý tổng quát đầu tiên đặt ra là: một hành vi đơn phương có giá trị pháp lý quốc tế không ? Có tính cách ràng buộc không ? Có phải là một nguồn gốc của luật quốc tế không ?

Điều 38 của Quy chế Tòa Án Tài phán quốc tế ghi rõ ba nguồn gốc: hiệp ước quốc tế, tập tục quốc tế, và những nguyên tắc luật pháp tổng quát được các nước văn minh chấp nhận. Ngoài ba nguồn gốc chính ấy, còn có thêm một nguồn gốc bổ túc thứ tư : các quyết định tài phán và học thuyết của các luật gia được công nhận là có thẩm quyền. Vậy, những “hành vi đơn phương” thì sao ? Điều 38 không nói, nhưng trong thực tế của đời sống quốc tế, các hành vi này càng ngày càng nhiều, càng đa dạng, cho nên rốt cuộc, án lệ cũng như học thuyết đều công nhận giá trị pháp lý. Trong 5 loại “hành vi đơn phương” được liệt kê, lời hứa là loại liên quan đến vấn đề đặt ra ở đây. Lời hứa là một cam kết đơn phương có hiệu lực ràng buộc tác giả của nó. Như vậy, đứng trên mặt lý thuyết tổng quát, phía Trung Quốc có lý do để buộc ta phải công nhận tính cách ràng buộc của “công hàm Phạm Văn Đồng”. Ta phản ứng thế nào ?

Trước hết, học thuyết buộc phải hiểu chữ « lời hứa » một cách hạn chế, phải siết chặt từ ấy một cách chính xác 1. Nghĩa là : phải định nghĩa chính xác thế nào là một lời hứa có giá trị pháp lý. Thế nào ? Học thuyết trả lời : đó phải là một lời hứa xuất phát từ một ý muốn tạo ra hậu quả pháp lý, chứ không phải chỉ là một lời tuyên bố hàm chứa một ý định chính trị 2. Làm sao phân biệt thế nào là “ý muốn tạo ra luật”, thế nào là không phải ? Không thể có tiêu chuẩn tổng quát, mỗi hành vi đơn phương phải xét riêng từng trường hợp để giải thích. Và việc giải thích này tuân theo những nguyên tắc được áp dụng cho việc giải thích các hiệp ước, trong đó hai nguyên tắc chính là : phải thực lòng (bonne foi) và phải chú ý đến đối tượng và mục đích của hiệp ước. Thực lòng, nghĩa là phải tìm xem hai bên ký hiệp ước muốn nói gì thực sự. Đây là yếu tố tâm lý và đạo đức khó tìm vì nằm trong nội tâm. Cho nên phải làm sáng tỏ ra bằng cách tìm hiểu đối tượng và mục đích, nghĩa là những yếu tố bên ngoài dễ thấy hơn. Điều 31 và 32 của Công ước Vienne về việc giải thích hiệp ước nói rõ như thế : “Hiệp ước phải được giải thích theo thực lòng với nghĩa thông thường mà các từ trong đó thường được hiểu, và trong bối cảnh và ánh sáng của đối tượng và mục đích của hiệp ước” 3. Nhiều án lệ đã căn cứ trên nguyên tắc này.

Áp dụng nguyên tắc trên vào việc giải thích các hành vi đơn phương, học thuyết nhấn mạnh : phải tìm ý định của tác giả lời hứa, hơn thế nữa, phải đặt ưu tiên trên giải thích ít có hại nhất cho tác giả ấy 4.

Đó là nguyên tắc tổng quát. Còn về phương pháp giải thích, học thuyết cũng như án lệ đều nhấn mạnh trên sự cần thiết phải xét kỹ bối cảnh, ngữ cảnh, cho rằng đó là cách hiệu nghiệm nhất để tìm ra ý định thực sự 5. Án lệ đi rất xa trong phương pháp tìm kiếm này, đề nghị : 1. phải căn cứ trên toàn câu để giải thích một chữ trong đó ; 2. phải căn cứ trên nhiều đoạn để giải thích một điều khoản ; 3. phải căn cứ trên một phần của hiệp ước trong đó có điều khoản phải giải thích ; 4. phải căn cứ trên toàn thể hiệp ước ; 5. phải căn cứ trên lời mở đầu ; 6. phải căn cứ trên một loạt hiệp ước tùy thuộc lẫn nhau. Kể rườm rà như vậy để thấy rằng bối cảnh, ngữ cảnh là vô cùng cần thiết để tìm hiểu ý định thực sự, dù là để giải thích hiệp ước hay là để giải thích một hành vi đơn phương. Nhiều lần, án lệ của Tòa án Tài phán quốc tế thường trực, tiền thân của Tòa án Tài phán quốc tế hiện nay, đã chú trọng đến hậu trường, nghĩa là bối cảnh đằng sau của việc ký kết hiệp ước, về mặt pháp lý, chính trị, xã hội, đặt hiệp ước vào không khí của thuở soạn thảo, để nắm bắt thấu đáo hơn ý tưởng đầu tiên và khám phá ra những hoàn cảnh thực tế trong đó ý tưởng được bày tỏ 6.

Tòa án Tài phán quốc tế hiện tại cũng lấy cùng một thái độ như vậy. Hậu ý của hai bên ký kết hiệp ước hoặc những quan tâm chính trị của họ lắm khi cũng khác với mục đích nêu ra trên giấy tờ, nhất là khi hiệp ước có nội dung chính trị 7.


II. Vậy thì, áp dụng những quy tắc trên, hãy đặt “công hàm Phạm Văn Đồng” vào ngữ cảnh của bức thư và bối cảnh chính trị và lịch sử khi thư được gửi đi để giải thích mục đích và ý định thực sự của tác giả.

Trước hết là bối cảnh. Cho đến bây giờ, độc giả Việt Nam chỉ thấy thư của Phạm Văn Đồng đáp lại tuyên bố của Chu Ân Lai mà chẳng thấy tuyên bố của Trung Quốc là thế nào, tuy rằng đó là cái chìa khóa để mở cánh cửa đầu tiên. Vậy, xin bắt đầu nói đến bối cảnh của tuyên bố ấy, về mặt pháp lý rồi về mặt chính trị, quân sự.

Về mặt pháp lý, cho đến khi thành lập Cộng Hòa năm 1911, Trung Hoa không có nhận định gì rõ ràng về vấn đề hải phận cũng như hải lý. Bắt đầu quan tâm thực sự đến vấn đề từ 1912, lập trường chính thức của Trung Hoa Dân Quốc vẫn là 3 hải lý. Phái đoàn Trung Hoa đề nghị 3 hải lý tại Hội nghị Hague về san định luật quốc tế năm 1930. Như ai có chút kiến thức về luật biển đều biết, ấn định hải phận là vấn đề nóng bỏng của luật quốc tế sau khi các nước trong Thế giới thứ ba bành trướng ảnh hưởng và xác nhận tư cách độc lập của mình. Nhiều nước, nhất là ở châu Mỹ La tinh, nới độ rộng của hải phận (tính từ bờ) một cách vô độ, có khi đến cả 200 hải lý. Theo chiều hướng đó, phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc, trong buổi họp thứ 308 của Ủy Ban Luật quốc tế của LHQ, đòi nới độ rộng của hải phận ra 12 hải lý. Trớ trêu thay, đề nghị đó trái ngược với lập trường của Mỹ (3 hải lý) mà Trung Hoa là đồng minh, lại trùng hợp với lập trưởng của Liên Xô (12 hải lý) mà Trung Hoa là thù nghịch. Bị anh cả nhắc nhở, phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc, trong buổi họp thứ 361 (1956) của Ủy Ban vừa nói, đề nghị một tu chính mềm dẻo về điều 3 của công ước đang soạn thảo :

“1. Hải phận có thể do mỗi quốc gia cận bờ biển ấn định phù hợp với nhu cầu kinh tế và chiến lược trong giới hạn từ 3 đến 12 hải lý ; điều này phải được các quốc gia chủ trương một hải phận hẹp hơn chấp nhận.
2. Trong trường hợp bất đồng ý kiến, vấn đề sẽ được đưa ra trọng tài”.

Tu chính đó bị bác bỏ trong phiên họp lần thứ 363 (8-6-1956) với một tỷ số phiếu chống rất cao : 9 chống, 3 thuận, 2 không bỏ phiếu.

Vậy là trong lần họp năm 1956, vấn đề hải lý không được giải quyết. Ủy Ban kết luận một cách lừng khừng : “Luật quốc tế không cho phép nới rộng hải phận quá 12 hải lý”.

Hai năm sau, tại Hội nghị Genève về luật biển, họp từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1958, phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc không đưa ra một đề nghị nào nữa về hải phận. Trung Quốc lục địa không được mời tham dự, nhưng theo dõi rất kỹ. Bằng chứng là chỉ vài tháng sau, Bắc Kinh lấy một thái độ dứt khoát, trái ngược với Đài Loan.

Rườm rà như trên là để nhấn mạnh bối cảnh lịch sử quan trọng của năm 1958. Trước đó, ngay cả Trung Quốc cộng sản cũng không có lập trường rõ ràng về hải lý. Một quyển sách giáo khoa về hình luật xuất bản năm 1957 hãy còn nói một cách tổng quát rằng độ rộng của hải phận có thể là 3 hoặc 12 hải lý. Mãi cho đến đầu 1958, các tác giả Trung Quốc mới bắt đầu hoài nghi về sự khôn ngoan của quan điểm 3 hải lý chật hẹp. Chỉ bắt đầu từ đó, họ mới chỉ trích kịch liệt lập trường của Mỹ và Anh mà họ cho là “hoàn toàn vô căn cứ”. Nhưng đó là các bài viết của giới luật gia. Chính quyền Trung Quốc chưa có lập trường chính thức lúc Hội nghị Genève kết thúc.

Năm tháng sau, ngày 23 tháng 8 năm 1958, Trung Quốc thình lình mở một trận pháo kích dữ dội, với yểm trợ của không quân và hải quân, vào đảo Kim Môn do Đài Loan chiếm giữ, ngoài khơi bờ biển Trung Quốc. Mỹ trợ giúp hậu cần cho đồng minh bằng cách hộ tống các tàu tiếp tế của Đài Loan cho đến giới hạn 3 hải lý ngoài khơi Kim Môn. Ngày 4-9-1958, đài Bắc Kinh loan báo một “Tuyên Bố về hải phận Trung Quốc” nguyên văn như sau, chỉ trích những đoạn có liên quan đến vấn đề và dịch từ tiếng Anh :

“1. Độ rộng của hải phận của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ là 12 hải lý. Điều khoản này áp dụng cho tất cả lãnh thổ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, gồm lục địa Trung Hoa và đảo cận bờ biển của lục địa, cũng như cho Đài Loan và các đảo bao quanh, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và tất cả các đảo khác thuộc về Trung Hoa mà đại dương chia cách khỏi lục địa và các đảo cận bờ biển của lục địa.
4 § 2. Vùng Đài Loan và Bành Hồ hãy còn bị Mỹ chiếm giữ bằng vũ lực. Đó là vi phạm bất hợp pháp sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đài Loan, Bành Hồ và những vùng khác như thế sẽ được thu hồi lại, và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền thu hồi những vùng ấy bằng mọi biện pháp thích hợp vào thời điểm thích hợp. Đây là nội bộ của Trung Quốc, không can thiệp nào ở bên ngoài được dung thứ”.

Bản “Tuyên Bố” thâu trọn gói, đặt tất cả các đảo do Đài Loan chiếm giữ và Hoàng Sa, Trường Sa vào hải phận Trung Quốc. Mỹ bác bỏ việc gia tăng hải phận của Bắc Kinh, cho đó là “âm mưu che giấu những mục tiêu xâm lược”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ nhắc lại lập trường cố hữu của Mỹ, “đã có từ thời tổng thống Jefferson, và lập trường ấy là 3 hải lý”. Ngày 7-9-1958, hải quân Mỹ tiếp tục hộ tống như thế các tàu tiếp tế của Đài Loan. Bắc Kinh cảnh cáo nghiêm khắc : “một hành động như vậy, xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc, là nguy hiểm”. Ngày 6-10, bộ trướng quốc phòng Bành Đức Hoài ra một công bố cho “đồng bào Đài Loan”, cho biết Trung Quốc sẽ ngưng nã pháo trong một thời gian 7 ngày, với điều kiện Mỹ chấm dứt hộ tống tàu tiếp tế đến Kim Môn. Ngày 13-10, Trung Quốc gia hạn việc ngưng pháo kích thêm 2 tuần nữa. Ngày 20-10, hôm trước khi ngoại trưởng Mỹ Foster Dulles viếng thăm Đài Bắc, Trung Quốc lại nã pháo, viện cớ Đài Loan cho phép hải quân Mỹ hộ tống vào “vùng biển” của Kim Môn. Sau đó, ngày 25-10, Bắc Kinh tuyên bố “ngưng chiến vào ngày chẵn”. Khủng hoảng dần dần kết thúc 8.

Cần nói thêm lý lẽ pháp lý mà Mỹ đã viện dẫn để bác bỏ “tuyên bố” của Trung Quốc, không phải vì có gì mới, mà là để thấy rằng các phản ứng tiếp theo quyết định của Bắc Kinh đều liên quan đến vấn đề 12 hải lý là chủ yếu. Trong một bài diễn văn đọc trước Hiệp hội luật sư ngày 20-11-1958, Phụ tá cố vấn pháp lý của Viễn Đông sự vụ Bộ Ngoại giao, ông Maurer, nói : “Huống nữa, Hoa Kỳ chủ trương rằng luật quốc tế chỉ thừa nhận giới hạn 3 hải lý; một quốc gia không thể bằng hành động đơn phương, quyết định đâu là sở hữu chung của tất cả mọi quốc gia ; điều đó lại còn vi phạm nguyên tắc đã được quốc tế công nhận về tự do lưu thông trên biển. Quan điểm của Hoa Kỳ đặt cơ sở trên báo cáo của Ủy Ban luật quốc tế của LHQ, báo cáo ấy nói rằng ‘luật quốc tế không đòi hỏi các quốc gia phải nhận một giới hạn hải phận vượt quá 3 hải lý’” 9.

Cũng vậy, tiếp theo bác bỏ của Mỹ là bác bỏ của Bộ Ngoại giao Anh, cũng liên quan đến con số 12, chỉ sau Mỹ một ngày, ngày 6-9-1958. Xin nhắc lại một lần nữa : vấn đề nóng bỏng lúc đó là vấn đề 12 hải lý.

Phe tư bản phản ứng đi, tất nhiên phe cộng sản phản ứng lại. Như một tiếng dội. Như một luật chơi của chiến tranh lạnh. Và cũng trên vấn đề 12 hải lý. Liên Xô tức tốc gửi một công hàm đến Bắc Kinh, tuyên bố “hoàn toàn tôn trọng quyết định của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” và “đã chỉ thị cho các cơ quan liên hệ của Liên Xô triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa » 10. Hãy so sánh ngữ văn này của Liên Xô với “công hàm Phạm Văn Đồng” : chữ nào chữ nấy gần như bản chính với bản sao. Đây là một điểm quan trọng góp phần vào việc giải thích bản văn của Hà Nội.

Tất cả những chi tiết rườm rà kể ra ở trên là cốt đưa đến mấy nhận xét sau :

1. Phải phân biệt cho rõ hai vấn đề mà Trung Quốc muốn cột vào với nhau nhưng bối cảnh của năm 1958 về luật biển buộc phải tách riêng ra : vấn đề hải phận và vấn đề chủ quyền. Vấn đề hải phận là pháp lý. Vấn đề chủ quyền là chính trị. Tranh chấp không giải quyết được tại Hội nghị Genève 1958 là tranh chấp trên vấn đề hải phận. Bác bỏ hay tán thành tuyên bố của Trung Quốc là bác bỏ hay tán thành cái chuyện 12 hải lý ấy, một chuyện pháp lý nóng bỏng vào thời buổi ấy. Không phải vì bác bỏ hay tán thành cái chuyện 12 hải lý là bắt buộc phải bao hàm việc bác bỏ hay tán thành cái chuyện chủ quyền -- chuyện này ở bên lề, hạ hồi phân giải. Nguyên tắc giải thích một cách hạn chế, chặt chẽ, buộc phải gạt cái gì thừa thãi ra, cái thừa thãi ở đây là chủ quyền.

2. Nguyên tắc thực lòng cũng bắt buộc như vậy. Cái chuyện tranh chấp chủ quyền đã xảy ra từ 1909 về Hoàng Sa và từ những năm 1930 về Trường Sa. Sau thế chiến 1945, hễ có chính quyền là chính quyền nào ở Việt Nam cũng đều khẳng định hai quần đảo ấy là thuộc chủ quyền Việt Nam. Thủ tướng Trần Văn Hữu của Quốc gia Việt Nam thời Bảo Đại chẳng hạn đã long trọng tuyên bố như thế năm 1951 tại Hội nghị San Francisco11. Một chính quyền chưa hoàn toàn độc lập đối với Pháp mà còn cương quyết như thế, lẽ nào, thực lòng, một chính quyền đã hy sinh xương máu để bảo vệ độc lập, chủ quyền như chính quyền Phạm Văn Đồng, lại có thể từ khước chủ quyền một cách dễ dàng như vậy trong một bức thư ? Cả hai phía, Việt Nam và Trung Quốc, đều coi lãnh thổ là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, làm sao, với thực lòng, có thể nghĩ rằng ý định thực sự của ông Phạm Văn Đồng là nhường đảo cho Trung Quốc ? Với thực lòng, làm sao phía Trung Quốc có thể đọc bức thư mà nghĩ rằng thế là xong, mọi tranh chấp chủ quyền gay go từ hơn một thế kỷ đã xóa sạch trong mấy hàng chữ của một bức thư ?

3. Thêm nữa, mới đây, phía Việt Nam viện dẫn Bị Vong Lục của Trung Quốc (12-5-1988) trong đó, sau khi lặp đi lặp lại luận điệu “Trung Quốc có đầy đủ tài liệu chứng minh quần đảo Tây Sa và Nam Sa từ xưa đến nay thuộc lãnh thổ Trung Quốc”, đã nói thêm rằng “với nguyên tắc thông qua hiệp thương hữu nghị để giải quyết bất đồng, đã tỏ ý sau này có thể đàm phán”. Câu ấy là của chính miệng Đặng Tiểu Bình nói ra với bí thư thứ nhất Lê Duẩn khi ông Lê Duẩn thăm viếng Bắc Kinh ngày 14 tháng 9 năm 1975. Phía Việt Nam nói rõ : năm 1958, Đặng Tiểu Bình là bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn to hơn cả Chu Ân Lai, biết rõ sự việc liên hệ, vậy mà còn xác nhận “bất đồng” và “đàm phán”, thế thì, với thực lòng, sao chính quyền Trung Quốc bây giờ lại đọc ngược bức thư Phạm Văn Đồng theo nghĩa là không còn vấn đề chủ quyền gì nữa để bàn cãi ? 12. Thực lòng ở đâu ?

4. Thực lòng ở về phía Việt Nam. Bởi vì ý định thực sự của bức thư lại còn rõ ràng hơn nữa khi đặt vào hai bối cảnh lịch sử đặc biệt : bối cảnh của chiến tranh lạnh nói chung và bối cảnh pháo kích ở Kim Môn nói riêng.

Về chiến tranh lạnh, việc ủng hộ lập trường của Liên Xô hay Trung Quốc khi lập trường này chống lại lập trường của khối “thế giới tự do” dưới sự lãnh đạo của Mỹ là một thái độ chính trị quá thông thường trong suốt thời gian lịch sử ấy. Phía Mỹ đã cứng rắn giữ nguyên lập trường 3 hải lý (ngay cả Đài Loan cũng không dám làm trái ý) thì phía Liên Xô hầu như đương nhiên hỗ trợ Trung Quốc trong lập trường 12 hải lý. Chính yếu, đây là một ủng hộ chính trị. Sự việc thư Phạm Văn Đồng lặp lại nguyên văn công hàm của Liên Xô chứng tỏ điều đó. Hai bức công hàm phải được hiểu trong cùng một tinh thần ấy.

Huống hồ, bối cảnh chính trị ấy lại càng nổi bật hơn nữa với việc pháo kích Kim Môn. Miền Bắc lúc ấy đang sợ Mỹ can thiệp. Mà chiến hạm Mỹ công khai vượt qua hải phận 12 hải lý để tiến vào vùng biển chỉ cách Kim Môn 3 hải lý. Bênh vực lập trường 12 hải lý của Trung Quốc là chuyện quá dễ hiểu giữa hai “đồng chí”. Miền Bắc cũng không muốn hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương xé rào 12 hải lý để tiến vào sát bờ biển miền Nam như tiến vào sát Kim Môn.

Bối cảnh quân sự và chính trị này, ngay cả các tác giả người Hoa cũng đều nêu rõ. Chỉ trích một ví dụ thôi : “Trung Hoa cộng sản ra một tuyên bố chính thức về hải phận lúc khủng hoảng 1958 trên Kim Môn và Mã Tổ lên đến cao độ ; như thế rõ ràng rằng những biến cố ấy đã phát động ảnh hưởng trên bản tuyên bố” 13. Ai cũng thấy, lúc đó Mỹ là kẻ thù chung, làm sao, với thực lòng, không thấy rằng văn thư của Hà Nội nhắm việc chống kẻ thù chung ? Trong bối cảnh quân sự và chính trị của năm 1958, chống Mỹ tức là ủng hộ 12 hải lý. Đông Đức ủng hộ, Rumania ủng hộ tiếp theo Liên Xô 14. Công hàm Phạm Văn Đồng cũng ủng hộ như vậy thôi. Nếu muốn tìm đối tượng, mục tiêu đích thực của hành vi đơn phương này, thì bối cảnh ấy cho đủ ánh sáng.

Bài viết nhỏ này được viết trong thời gian tác giả nằm trong bệnh viện, không có phương tiện tìm thêm tư liệu ở các thư viện. Với mục đích nhỏ bé là làm sáng tỏ những gì đã nói từ lâu bằng một ngôn ngữ và một lập luận pháp lý, tác giả không mong gì hơn là được bạn bè có thẩm quyền chỉnh sửa và bổ túc thêm.

Cao Huy Thuần

1-  Charles Rousseau, Droit international public, Tome 1, Paris, Sirey, 1970, trang 423.
2-  Nguyen Quoc Dinh, Droit international public, Paris, LGDJ, 1975, trang 325 ; Charles Rousseau, sđd, từ trang 418.
3-   Charles de Visscher, Théories et Réalités en Droit international public, A. Pedone, 4è édition, 1970, trang 281.
4-  Charles Rousseau, sđd, trang 424, dẫn Carbone, Promessa e affidamento nel diritto internazinale, Milan, 1967.
5-   Charles Rousseau, sđd, trang 284.
6-    Cùng tác giả, trang 291, trích nhiều án lệ.
7-    Charles de Visscher, sđd, trang 282.
8- Tất cả lịch sử kể ở mục này là lấy từ Hungdah Chiu, China and the Question of Territorial Sea, Maryland Journal of International Law, Vol. 1, N° 1, 1975.
9-   Tao Cheng, Communist China and the Law of the Sea, The American Journal of International Law, Vol. 13, N° 1, Jan. 1969.
10-  Tao Cheng, như trên.
11-  Tất cả lịch sử về vấn đề này được giải thích rất rõ trong Lê Minh Nghĩa, Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam và các nước láng giềng, Kỷ Yếu Hội Thảo phát triển khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và tranh chấp biển Đông, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2000, từ trang 300. (có thể đọc toàn văn bài này trên mạng Thời Đại Mới )
12-  Nội dung cung cấp cho phóng viên tại Họp báo ngày 23-5-2014.
13-  Tao Cheng, đã dẫn.
14-  Như trên .


Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2014


CHẤT ĐỘC ẤY,
CUỘC CHIẾN ĐẤU CỦA BÀ NGA

Philippe Broussard

Gần 40 năm sau khi cuộc chiến tranh ở Việt Nam kết thúc, một người Pháp gốc Việt khởi kiện chống lại những công ti hóa dầu khổng lồ… Bà lên án họ đã sản xuất Chất Da Cam, một loại thuốc diệt cỏ vô cùng độc hại, mà các máy bay Mỹ đã rải và đến ngày nay vẫn còn nhiều nạn nhân.
Bài viết của Philippe Broussard – phóng sự ảnh : Jean-Paul Guilloteau / tuần báo L’EXPRESS số 3283 (tuần lễ từ 4 đến 11.6.2014). Toàn văn tiếng Pháp: xem ở cuối bài.


NGOAN CƯỜNG : Hồ sơ, chứng từ, hình ảnh…
những vật chứng mà bà Trần Tố Nga sẵn sàng
trình bày trước tòa án.

Người phụ nữ ấy nói dối. Nói dối vì khiêm tốn, bằng một giọng dịu dàng và chân thành, nhưng bà nói dối. “ So với chuyện của hàng triệu người Việt Nam, câu chuyện của tôi thật quá bình thường ”, bà nói “phủ đầu” như vậy. Nhưng xin đừng cả tin : điều ấy hoàn toàn sai.

Không có gì có thể gọi là bình thường khi lớn lên trong một đất nước chiến tranh, khi phải làm quen với rừng sâu và bom đạn, với nhà tù và tra tấn. Càng không bình thường khi ở tuổi 72, bà lao vào cuộc chiến đấu của cả một đời người : đưa ra ánh sáng công lý 26 công ty Mỹ sản xuất hóa đầu. Những kẻ mạnh, giàu tiền tỷ, bị lên án đã từng sản xuất chất độc da cam, một loại thuốc diệt cỏ gây hại cho thiên nhiên và con người.
TRẠI : Tháng bảy 1968, một khóa báo chí do
Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam tổ chức.
Ngồi hàng đầu, bà Nga bế con (chết lúc 17 tháng).

Bà Trần Tố Nga, một người phụ nữ Pháp gốc Việt không rõ cuộc thách đố này sẽ đưa bà đi về đâu. Càng không biết cái cơ thể đang mang nhiều bịnh tật này có thể kham nổi không. Nhưng trong ngôi nhà yên tĩnh tại ngoại ô phía Nam Paris, bà chuẩn bị vượt qua với tất cả nghị lực của một người mẹ và một người bà. Từ quá khứ phóng viên chiến trường (1966 – 1974) rồi hiệu trường trường học (1975 – 1992), bà vẫn giữ nguyên cái “ cứng đầu ” như bà tự trào, và một óc tổ chức rành rọt. Nếu tòa án cần những bằng chứng thì hồ sơ của bà đã sẵn sàng, đặt trên mặt bàn phòng ăn. Bên phải là kết quả các cuộc giám định sức khỏe, những văn bản khoa học cho thấy chất “ khai quang ” mà quân đội Mỹ trút xuống nguy hại hơn nhiều so với những gì người ta tưởng vào thời chiến tranh ấy. Bên trái là các tập album cho thấy những gương mặt, biên niên sử của một thảm kịch phi thời gian.

Cuộc đời của bà lướt qua theo từng trang ảnh : sinh ra tại đồng bằng sông Cửu Long vào tháng 3 năm 1942. Tuổi thơ ở Saigon, sống với mẹ là cô giáo nhưng vắng bóng người cha – sĩ quan trong quân đội Pháp lìa trần quá sớm. Những năm học trường Marie Curie chủ yếu bằng tiếng Pháp. Rồi đến tuổi thanh niên sôi động trong một đất nước bị chia cắt giữa một miền Bắc cộng sản và một miền Nam được bảo trợ bởi nước Mỹ của Kennedy.


NGƯỜI NỮ KHÁNG CHIẾN : 1982, Trần Tố Nga và hai cô con gái
(một ra đời trong chiến khu, một trong tù)

Vào giữa thập niên 60, Nga (có nghĩa là chim Thiên Nga) tốt nghiệp khoa Hóa Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (miền Bắc) và tình nguyện – như mẹ và bố dượng đã làm trước bà, tham gia vào cuộc chiến đấu « giải phóng » miền Nam. Cùng với hàng trăm thanh niên cộng sản khác, bà đã thực hiện một cuộc đi bộ để về với hàng ngũ kháng chiến. Họ đã đi cả ngàn cây số đường có khi là sình lầy, hoặc qua những con đường rừng nhỏ hẹp, qua núi, qua đèo... Bốn tháng trời ngủ dưới một miếng ‘tăng’, thức ăn là một ít gạo với những lá rau rừng hái vội trên đường đi, luôn phải cảnh giác với những đội biệt kích và trực thăng địch.

Về tới miền Nam năm 1966, Nga ở trong rừng sâu, trong căn cứ kháng chiến nơi hàng trăm người sống dưới những mái nhà tranh. Xuất thân sinh viên và bản tính năng động của bà đã tạo điều kiện cho bà trở thành phóng viên chiến trường của Thông tấn xã thuộc Mặt Trận dân tộc Giải phóng miền nam Việt Nam. Đã có lúc, bà chỉ huy dàn đồng ca ở trong rừng. Bà thành hôn với một cán bộ làm việc tại ban đối ngoại.

Một buổi sáng, Nga nghe tiếng máy bay khoanh tòn trong vùng bà đang đóng quân. Bà chui ra khỏi hầm, và thấy máy bay trải xuống rừng một loại bột. Bà nhớlại : « Tôi bắt đầu ho, và gãi. Sau đó, chúng tôi hiểu rằng đó là một loại thuốc diệt cỏ, nhưng chúng tôi không hề tưởng tượng được rằng nó độc hại đến cỡ nào. Chính các người lính Mỹ cũng chưa hiểu điều nguy hiểm họ phải hứng chịu ». Hơn mười nhân chứng đã xác nhận rằng bà Nga đã nhiều lần bị phơi nhiễm bởi các chất này. Một trong các nhân chứng gọi đó là «  những trận mưa hóa chất », người khác gọi là «  sương mù » làm ngạt thở.

TÀN PHÁ : 1966, một máy bay vận tải Fairchild C-123
rải chất độc da cam trên một cánh rừng Việt Nam.

Thực ra, quân đội Mỹ muốn tiêu diệt những vùng cây cỏ rậm rạp nơi quân địch ẩn náu. Họ muốn phá hủy tất cả những nơi trú ngụ của kẻ thù, cắt đứt nguồn lương thực, ép họ lộ diện hoặc ẩn núp trong địa đạo. Các máy bay Mỹ giống như những chiếc Canadair lượn đi lượn lại rất thấp trên những vùng nghi có kẻđịch, kéo theo sau chúng những dải mây dài các chất độc. Chất có tính độc hại mạnh nhất được gọi là « chất Da Cam » là màu các thùng phuy, được sử dụng từ năm 1965. Các công ty hóa dầu đã sản xuất chất này với số lượng khổng lồ mà không quan tâm đến những yêu cầu cẩn thận trong sưe dụng. Kết quả là : hàm lượng dioxine (thành phần nguy hại nhất) quá cao. Tác động đến thiên nhiên vô cùng nguy hiểm. Đối với con người cũng vậy.

Ngày 30 tháng 6 năm 1968, khi bà Nga hạ sinh đứa con gái đầu lòng tên Việt Hải, bà nhanh chóng nhận thấy sức khỏe đứa bé rất kém. Cháu không lên cân, tim của cháu rất yếu, da của cháu bị tróc ra từng mảng. Do không biết được nguồn gốc của bịnh, các bác sĩ không thể cứu cháu bé. Việt Hải chết khi được 17 tháng. « Nhiều năm trời, tôi luôn thấy mình có tội với con. Tôi tự trách mình đã không quan tâm, không biết giữ gìn khi mang thai. Cũng như bao nhiêu nạn nhân da cam khác, tôi không tưởng tượng đựợc rằng tất cả những nỗi đau kia là do các chất độc rớt từ trên trời xuống ».

Những năm sau, bà Nga đã cho ra đời hai đứa bé gái. Cháu đầu tiên sinh năm 1971 trong rừng. Cháu thứ hai chào đời năm 1974 khi người phụ nữ trẻ bị giam cầm ở miền Nam Việt Nam. Sau chiến tranh, chia tay với chồng, bà một mình nuôi hai con, và bắt đầu sự nghiệp hiệu trưởng đầy hứa hẹn. Đến khi về hưu, bà dành thời gian giữa hai nước Việt Nam và Pháp, không ngừng hoạt động cho sự gắn kết của hai nước. Năm 2004, bà được tặng Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh, tôn vinh những hoạt động nhằm gìn giữ ký ức về nạn nhân và cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh Đông Dương.

Và hôm nay, Trần Tố Nga lao mình vào một cuộc chiến pháp lý chống lại những công ty Hóa dầu khổng lồ của nước Mỹ « không uất hận và không mảy may ý chí phục thù ». Chỉ riêng những con số cũng đủ làm cho ta thấy buồn nôn : trong thời gian chiến tranh từ 1961 đến 1975, 80 triệu lít chất độc đủ loại đã được rải xuống Việt Nam.  Chỉ riêng chất da cam đã chiếm 60 % của tổng số chất độc. Ở một số vùng, nó phá hủy toàn bộ cây cối. Ở những vùng khác, trái lại, nó làm cho các loại cỏ mọc lên cao vọt, và nhiều loại quả, nhất là quả dứa, cho những trái có hình thù kỳ quái. Chất Dioxine đã nhiễm một cách dai dẳng, vào các lớp đất và lớp nước ngầm. Dây chuyền thực phẩm còn bị nhiễm độc trong nhiều năm tháng nữa.

Tại Hoa Kỳ, cũng phải trải qua nhiều năm ròng rã và nhiều cuộc giám định mới có thể làm cho các nhà cầm quyền nhận thức được tác hại của Chất Da Camđối với chính những binh lính của họ. Còn bà Nga thì từ năm 2012 nhận thấy cơ thể của mình mang những dấu tích qua vô số những hạt nổi ở khắp người. Bấy giờ bà hiểu vì sao các con của bà có những chứng bệnh đáng lo ngại. Người con gái đầu, định cư ở Úc, mang một chứng bịnh về máu – alpha-thalassémie. Người con thứ hai, nhà thiết kế thời trang đang sống ở Mỹ, mang bịnh vẩy sừng, một bịnh về da. Cả các cháu của bà cũng có sức khỏe yếu. Bà có nhận xét « các bịnh tật truyền từ đời này qua đời khác và ngày càng nặng thêm »

Hơn 15 chứng bịnh, trong đó có nhiều loại ung thư

Đơn kiện mà luật sư của bà, ông William Bourdon đã đệ lên tòa đại tụng (tribunal de grande instance) thành phố Evry (tỉnh Essonne) liệt kê ra các bệnh lý mà chính chính quyền Mỹ thừa nhận là hậu quả của dioxine. 15 bệnh lý trong đó có nhiều loại ung thư (tiền liệt tuyến, phổi, vòm họng … ) đã được nêu ra, bên cạnh hơn hai mươi chứng bịnh bẩm sinh. Sau một cuộc đấu tranh lâu dài, các cựu chiến binh quân đội Mỹ, từ năm 1984, đã nhận được tiền bồi thường. Những thường dân Việt Nam cũng đã nhiều lần thử kiện, nhưng các cuộc đấu tranh ngoại giao và sau đó, đấu tranh pháp lý tại Mỹ không đem lại kết quả nào, mặc dầu được sự ủng hộ của cựu chiến binh Mỹ, những kẻ thù hôm qua. Người ta cũng hứa tài trợ, và nơi này nơi kia cũng đã bắt đầu cuộc tẩy độc, nhưng đây là một công trường vô cùng to lớn, và theo nhà đương cục, thì số nạn nhân chất độc da cam, lớn bé trẻ già, lên tới hàng triệu.


DI TRUYỀN : bốn mươi năm sau ngày chiến tranh kết thúc,
một em bé dị tật, nạn nhân của chất độc dioxin

Khởi kiện tại nước Pháp, ý định của bà Nga là mở ra một đột phá khẩu. Luật sư William Bourdon cho biết « Đây là một bước đi có suy nghĩ, và đã được chuẩn bị rất lâu. Với tư cách là một công dân Pháp, thân chủcủa tôi có thể được chấp nhận (recevable) để tiến hành kiện các công ty mà từ trước tới nay luôn luôn biết tìm cách tránh né trách nhiệm của họ trong thảm họa vĩnh cữu (eternel) này. Cá nhân bà Nga có thể được bồi thường thiệt hại và cũng qua đó, có thể mở đường cho những cuộc vận động khác, lần này là ở nước ngoài cho các nạn nhân da cam Việt nam ». Đơn khởi tố (assignation) đã được gởi đi từ đầu tháng 5 và đã đến tay 26 công ty Mỹ có liên quan trong đó có Monsanto và Dow Chemical. Đối với bà Trần Tố Nga và những người ủng hộ bà, các công ty ấy không thể không biết sự độc hại của các chất diệt cỏ ấy. Để trả lời sự công kích, Dow và Monsanto nói họ chỉ những thực hiện những đơn đặt hàng có tính cách bó buộc của chính phủ Mỹ. Họ một mực cãi rằng không có gì chứng tỏ những bệnh lí được chẩn đoán ở trên là do sản phẩm của họ gây ra.
Nếu một ngày kia, công lý để cho người phụ nữ hơn 70 tuổi này đối chất với họ trước tòa án, thì trước tiên chắc bà sẽ mở tập album hình ảnh của bà. Ở những trang cuối, ngay sau những bức ảnh nhuốm màu thời gian của những năm tháng chiến đấu, là một loạt những con người, những khuôn mặt khiến ta phải sửng sốt. Những em trai em gái thiếu niên, bị khuyết tật nặng nề nhưng vẫn tươi cười. Một số người có thân hình quặt quẹo, những cánh tay bé tẹo, những bàn chân không lành lặn. Bà Nga thường hay đến thăm họ mỗi khi bà về Việt Nam. Tại làng An Phúc, một trong những cơ sở tiếp đón các nạn nhân da cam trong cảnước, các em có nhiều sinh hoạt, trong đó có cả ca hát. Họ làm ra những sản phẩm với sự khéo léo đáng kinh ngạc, trong đó có cả những loại hoa bằng nhựa. Bà Nga khuyến cáo : « Không nên nhìn các em bằng con mắt thương hại, không nên. Tốt hơn, hãy cảm thông và nhìn nhận sự dũng cảm và nhân cách của họ.Ước mơ của tôi là xây dựng một trường dạy nghề cho các trẻ em khuyết tật và các nạn nhân da cam. Khi những nạn nhân thế hệ của tôi qua đời, ai sẽ là người tiếp tục giúp đỡ cho các thế hệ tiếp sau ? Ai sẽ là người chăm sóc các con, các cháu của các nông dân ? Chính bởi lẽ đó mà tôi tranh đấu ».

Philippe BROUSSARD

[Bản dịch của Diễn Đàn]

Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014


ĐỌC “THIỀN TẬP” CỦA CƯ SĨ NGUYÊN GIÁC:
Bản Đồ Tu Thiền Hữu Ích Cho Mọi Căn Cơ

Huỳnh Kim Quang

Đạo Phật là đạo giác ngộ. Giác ngộ là thấy tánh. Muốn thấy tánh thì tu thiền, như đức Thích Ca Mâu Ni do thiền dưới gốc cây Bồ Đề mà giác ngộ thành Phật. Cho nên, mục đích tối hậu của thiền Phật Giáo là thành Phật, là giác ngộ chân tánh. Vì vậy, Thiền Tông chỉ nói đến “kiến tánh thành Phật,” không nói gì khác.
Nhưng không phải ai cũng có đủ căn cơ để tu thiền mà kiến tánh thành Phật ngay trong sát na hiện tiền, hay chí nữa cũng là trong đời này. Cho nên, trong Thiền Tông cũng có đốn ngộ và tiệm tu, cũng có Nam Năng và Bắc Tú. Thậm chí thâm tín Phật Pháp như Vua Lương Võ Đế thì có mấy ai, vậy mà trước câu nói trực chỉ của Tổ Sư Đạt Ma “Xây chùa, tạo tượng đều không có công đức,” cũng không thể tự mình mở lối lên Thiếu Thất! Vì lẽ đó, để độ người hữu duyên theo căn cơ sai biệt, thiền cũng khai mở nhiều cửa phương tiện từ sơ cơ tiệm thứ điều tức, điều thân, điều tâm, đến hốt nhiên đại ngộ ngay nơi chiếc lá rơi.
Ngày nay thiền trở thành liệu pháp trị bệnh thân tâm một cách hữu hiệu được phổ biến khắp mọi nơi trên thế giới, từ bệnh viện y khoa, công ty thương mại đến trường học và quân đội. Có thể nói chưa bao giờ thiền được đại chúng hóa như bây giờ. Tuy nhiên, theo quy luật xã hội, cái gì được đại chúng hóa thì không tránh khỏi trở thành sản phẩm xã hội, mà đã là sản phẩm xã hội thì khó giữ được phẩm chất tinh ròng và nguyên vị của nó. Đó chính là trong cái được có cái mất! May thay, còn có những người ngày đêm âm thầm gìn giữ tinh yếu của thiền như các thiền sư chân truyền trong các thiền viện thâm nghiêm, hay như cuốn “Thiền Tập” của Cư Sĩ Nguyên Giác.


“Thiền Tập” và tác giả (2012)
Tác phẩm “Thiền Tập” được Cư Sĩ Nguyên Giác biên dịch cách nay vài năm và lâu nay được đăng trong trang nhà của Thư Viện Hoa Sen tại địa chỉ: http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-44_4-15163_5-50_6-1_17-81_14-2_15-2_10-426_12-1/thien-tap.html ; hoặc trên trang nhà Quảng Đức ở địa chỉ: http://quangduc.com/a29746/thien-tap-cu-si-nguyen-giac-bien-dich và nhiều trang mạng Phật Giáo khác.
Một trong những đặc điểm của cuốn “Thiền Tập” của Cư Sĩ Nguyên Giác là tác phẩm này chứa đựng một bản đồ toàn diện về pháp môn thiền từ bước đầu căn bản chỉ dạy cách ngồi thiền, cách điều tức, điều thân và điều tâm, đến những phương thức thiền tập diệu dụng cao siêu của cả ba truyền thống Phật Giáo: Tây Tạng, Nam Truyền, và Bắc Truyền. Đó là đặc điểm bởi vì có rất ít hay đúng hơn rất hiếm sách viết về tu thiền bằng tiếng Việt mà có đầy đủ pháp môn từ sơ cơ đến thượng thừa như vậy.
Điểm đặc biệt khác nữa là người biên dịch “Thiền Tập” là Cư Sĩ Nguyên Giác không phải chỉ là một học giả trên lý thuyết mà chính là một hành giả thiền trên bốn mươi năm và được truyền thụ trực tiếp từ những bậc thiền sư đạo cao đức trọng trong chốn thiền môn như Thiền Sư Tịch Chiếu, Viện Chủ Chùa Tây Tạng ở Bình Dương, Việt Nam. Cư Sĩ Nguyên Giác cũng là tác giả của cuốn “Vài Chú Giải Về Thiền Đốn Ngộ,” được xuất bản trên hai mươi năm trước tại Hoa Kỳ, và hàng chục tác phẩm nghiên cứu và dịch thuật khác về Phật Giáo.
Trong “Thiền Tập” của Cư Sĩ Nguyên Giác đề cập đến ba truyền thống thiền của Phật Giáo Tây Tạng, Nam Tông và Bắc Tông, với những pháp môn tinh yếu và phổ truyền nhất của mỗi hệ thống. Trong đó, với Phật Giáo Tây Tạng thì có pháp môn Đại Thủ Ấn, Đại Toàn Thiện; với Phật Giáo Nam Truyền thì có pháp môn Thiền Minh Sát; với Phật Giáo Bắc Truyền thì có pháp môn Thiền Mặc Chiếu, Thiền Công Án.
Đôi khi người mới tu thiền nghĩ rằng phép thở là bước đầu vào thiền nên không có công dụng mầu nhiệm gì lắm. Nhưng không, trong “Thiền Tập” cho chúng ta thấy về diệu dụng bất khả tư nghì của phép thở như sau:
“Mặc dù thiền tập hơi thở chỉ là bước đầu thiền tập, nó có thể rất là mãnh liệt. Chúng ta có thể thấy từ pháp tu này là chúng ta có thể đạt được an tĩnh nội tâm và sự an lạc chỉ bằng cách kiểm soát tâm, mà không dựa vào bất kỳ điều kiện bên ngoài nào. Khi dòng niệm lắng xuống, và tâm chúng ta tịch tĩnh, một niềm hạnh phúc sâu thẳm và sự an lạc tự nhiên khởi lên. Cảm thọ về sự an lạc và sự sung mãn giúp chúng ta đối phó với sự bận rộn và khó khăn của đời sống thường nhật.”
Khai thị về pháp đốn ngộ, “Thiền Tập” trích dẫn lời dạy của Thiền Sư Hám Sơn chỉ thẳng cội rễ của mọi pháp chỉ là “ảo giác và vô tự tánh,” tất cả đều “phóng hiện từ chân tâm,” như sau:
“Để thiền tập, ngươi trước tiên phải dẹp bỏ hết mọi kiến thức và hiểu biết, và chỉ nhất tâm đưa tòan lực của ngươi đặt lên một niệm. Tin vững chắc vào [chân] tâm của ngươi rằng, nguyên thủy nó thanh tịnh và sáng rõ, không một chút trì trệ nào hết – nó thì sáng và hoàn thiện, và bao trùm khắp Pháp giới. Trong tự tánh, thì không hề có thân, không hề có tâm, không hề có thế giới, mà cũng không hề có vọng niệm nào, không hề có bất kỳ thọ tưởng nào. Ngay trong khoảnh khắc này, chính ngay một niệm này tự nó đã là vô sinh. Tất cả mọi pháp đang hiển lộ trước ngươi bây giờ thực ra là ảo giác và vô tự tánh – tất cả vạn pháp đó đều là phản chiếu phóng hiện từ chân tâm của ngươi.”
Phần cuối của “Thiền Tập” Cư Sĩ Nguyên Giác giới thiệu và trích dịch bài Kinh “Bahiya Sutta” trong Tiểu Bộ Kinh kể chuyện Đức Phật dạy bài pháp khẩn cấp cho Người Áo Vỏ Cây chứng A La Hán ngay tức thì khi nghe Phật dạy và đã viên tịch không lâu sau đó. Bài pháp này cho thấy người nghe pháp Phật có thể đốn ngộ thánh quả tức thì ngay trong lời dạy của vị đạo sư. Xin trích lại đoạn Kinh mà Đức Phật dạy cho ngài Bahiya để độc giả tường lãm:
“Thế này, Bahiya, ông nên tu tập thế này: Trong cái được thấy sẽ chỉ là cái được thấy; trong cái được nghe sẽ chỉ là cái được nghe; trong cái được thọ tưởng sẽ chỉ là cái được thọ tưởng; trong cái được thức tri sẽ chỉ là cái được thức tri.’ Cứ thế mà tu tập đi, Bahiya.
“Khi với ông, này Bahiya, trong cái được thấy chỉ là cái được thấy… [nhẫn tới]… trong cái được thức tri chỉ là cái được thức tri, thì rồi Bahiya, ông sẽ không là ‘với đó.’ Này Bahiya, khi ông không là ‘với đó,’ thì rồi Bahiya, ông sẽ không là ‘trong đó.’ Này Bahiya, khi ông không ‘trong đó,’ thì rồi Bahiya, ông sẽ không ở nơi này, cũng không ở nơi kia, cũng không ở chặng giữa. Thế này, chỉ thế này, là đoạn tận khổ đau.”

Cư Sĩ Nguyên Giác viết trong “Thiền Tập” về sự chứng đắc qủa vị A La Hán tức thì của Người Áo Vỏ Cây:
“Nhưng, làm cách nào ngài Bahiya -- một người đời thường, chưa từng quy y hay thọ giới gì cả… mà lúc tìm nghe pháp thì vẫn còn mang phong thái ngọai đạo, với kiểu lấy vỏ cây làm áo, và được gọi tên bằng Bahiya Áo Vỏ Cây -- sau khi nghe bài pháp yếu vài câu lại có thể “hốt nhiên đốn ngộ” và xóa sạch ác nghiệp muôn đời ngàn kiếp để vừa khi bị bò húc chết là nhập Niết Bàn vô dư ngay? Có nghĩa là, ngay khi tâm vừa đốn nhập được, thì vô lượng nghiệp tội sẽ không còn ràng buộc được nữa? Như vậy, khỏang cách giữa một người đời thường cho tới ngôi vị Thánh Quả A La Hán thực ra chỉ cách nhau vài sát na tâm? Thực ra, ngài Bahiya đã tu từ vô lượng kiếp rồi, đã là một tỳ kheo từ thời Phật Ca Diếp. Không có gì là tự nhiên cả, và ngài Bahiya sau này được Đức Phật nói là trường hợp chứng đạo mau nhất, xuất sắc nhất.”
Có được khoảnh khắc “hốt nhiên đốn ngộ” thì phải tu từ vô lượng kiếp cho nên, thiền là phải tập, phải tu tinh tấn mỗi sát na, mỗi giờ, mỗi ngày trong đời sống. “Thiền Tập” là cuốn sách rất bổ ích cho mọi người, mọi căn cơ. Xin hãy vào các trang mạng trên để đọc “Thiền Tập” của Cư Sĩ Nguyên Giác và học cách thực tập thiền.
Xin cảm niệm công đức của tác giả và trân trọng giới thiệu đến bạn đọc.


[Nhà Xuất bản Thien Tri Thuc Publications, P.O. Box 4805, Garden Grove, CA.92842-4805, USA]