Hiển thị các bài đăng có nhãn phan tấn hải. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phan tấn hải. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018



NGÔ THẾ VINH VIẾT VÒNG ĐAI XANH
GIỮA NÚI RỪNG BẤT AN

Phan Tấn Hải

Giới thiệu của HNG - Đây là một cuốn sách mà tác giả mượn hình thức tiểu thuyết để nêu lên một vấn đề rất lớn, nhằm lý giải vì sao người Thượng rủ nhau theo Đạo Tin Lành và xem đạo này như căn cước tín ngưỡng của sắc tộc Rhadé. Hiện tượng tiếp biến văn hóa (acculturation) một chiều có tính áp đặt (forced) nầy ít người Kinh quan tâm và nghiên cứu. Chế độ Ngô Đình Diệm đã thực hiện kế hoạch đẩy các sắc tộc Thượng vào một vị trí bên lề, còn các Mục sư Mỹ thì vào phát phẩm vật cứu trợ để truyền giáo. Quân đội Mỹ đã dựng lên 60 căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt ở vùng cao nguyên, huấn luyện dân quân Thượng, làm hàng rào ngăn Việt Cộng. Họ cũng thả Biệt Kích Mỹ dọc biên giới Miến Điện để truyền giáo và xây dựng các cứ điểm tạo nên “Vòng Đai Xanh” để bao vây Trung Quốc. Tác giả Ngô Thế Vinh là Y Sĩ Trưởng LLĐB. Ông được trao Giải Văn Toàn Quốc năm 1970 nhờ cuốn Vòng Đai Xanh này (nhưng lại bị bị truy tố ra tòa án Sài Gòn năm 1971 vì bài viết Mặt Trận ở Sài Gòn đăng trên tạp chí Trình bày số 34), nên đã nhìn khá thấu đáo những chuyện bí ẩn, kể cả chuyện chính vị Mục sư giúp người Thượng đã ra yêu sách ly khai tự trị khỏi người Kinh để lập quốc riêng.
Chúng tôi xin đăng lại bài điểm sách nầy của nhà văn Phan Tấn Hải, vốn đã được phổ  biến trên Việt Báo Online ngày 8/2/2018. - HNG
Nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết cuốn tiểu thuyết Vòng Đai Xanh bằng tấm lòng ưu tư với dân tộc. Trên các trang giấy, chúng ta đọc được nỗi lo của ông bên cạnh những âm vang cồng chiêng của các sắc dân Thượng, xen lẫn gần xa là tiếng súng giao chiến giữa AK-47 và M-16.
Nơi đó, hiện lên trong các dòng chữ cũng là nỗi lo của giới trí thức Sài Gòn (điển hình với nhân vật chính là họa sĩ tên Triết, xưng tôi) khi nhìn thấy 60 trại lính Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ (LLĐB Hoa Kỳ) trên vùng biên giới cao nguyên Việt Nam có thể tương lai sẽ trở thành một cõi quốc gia tân lập của người Thượng, một đất nước mới manh nha cho các sắc dân thiểu số vùng cao có tên gợi ý là Đông Sơn và viễn ảnh một cuộc chiến mới sẽ bùng nổ giữa dân tộc Kinh và các sắc tộc Thượng – nơi đó, ngòi nổ sẽ bị kích hỏa, hoặc là do chính người Mỹ hay do chính Cộng Sản Bắc Việt gây ra, hay do cả hai cùng bật lên.
Trong tiểu thuyết Vòng Đai Xanh, độc giả có thể thấy phần hư cấu gắn liền với sự thực lịch sử. Nghĩa là, có thể đọc như một cuốn sách biên khảo về Cuộc Nội Chiến Quốc-Cộng trên vùng cao nguyên, nơi đó phía Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) được lính LLĐB Hoa Kỳ hỗ trợ, và nhiều khi phía Mỹ nắm phần chủ lực khi trực tiếp huấn luyện dân quân người Thượng.
Chúng ta cũng có thể đoán rằng nhà sư Pháp Viên có lẽ là Thầy Thích Trí Quang (?),  và tương tự, có thể đoán nhà sư Giác Nghiệp ở Phương Bối Am là một vị nổi tiếng khác. Một nhân vật gay cấn như điện ảnh còn là vị Mục sư truyền giáo (cũng là bác sĩ) Denman, người bị phía CSVN nghi ngờ là bàn tay CIA kích động tư tưởng người Thượng ly khai để lập quốc. Trong truyện, có lẽ tác giả Ngô Thế Vinh hiện ra như một tổng hợp của nhân vật xưng tôi (tức họa sĩ Triết, cũng là phóng viên điều tra về cuộc chiến ở cao nguyên VN) và một nhà báo tài tử sinh viên Đại Học Y Khoa và rồi trở thành Y Sĩ Trưởng một đơn vị LLĐB. Ông Giáo sư Hoàng Thái Trung trong truyện hẳn là một vị giáo sư tên Trung – cũng nên ghi nhận rằng thời cuối thập niên 1960s, có 2 vị giáo sư tên Trung (một vị họ Lý, một vị họ Nguyễn) dạy ở một số đại học Sài Gòn, đều yêu nước nồng nhiệt nhưng lại cũng thiên tả mỗi người một kiểu riêng… Có thể GS Hoàng Thái Trung là ám chỉ một vị, hay tổng hợp từ hai giáo sư đó, hay chỉ hư cấu thêm từ một vị.  Nghĩa là, đối với độc giả từng sống dưới chế độ VNCH trong thời 1960s, 1970s, không khí chính trị của Vòng Đai Xanh hiện lên rất quen thuộc. Lãng đãng, mơ hồ, như thật, như hư cấu…
Có hai cách để độc giả tiếp cận cuốn Vòng Đai Xanh. Hoặc đọc từ trang đầu tới trang cuối. Hoặc đọc các bài giới thiệu phía sau trước, rồi mới đọc truyện sau. Đối với nhiều độc giả, có lẽ nên đọc phần sau trước, để thấy bối cảnh truyện này ra đời, dư luận và ảnh hưởng.
Một điểm cực kỳ quan trọng trong truyện là hiện tượng rất nhiều người Thượng căm thù người Kinh. Người Tù Trưởng Rhadé qua lời kể của Mục sư Denman hiện ra như sau:
Sáng nay tôi tới thăm một buôn Rhadé cách đây chừng tám cây số, tình cờ tôi phải chứng kiến một cuộc mua bán giằng co giữa một người Mỹ và viên tù trưởng. Viên Đại úy LLĐB thì nài nỉ mua cho được ít thớt voi để vận tải tiếp tế cho mấy trại tân lập trong rừng rú, thương lượng giá cả mãi cũng chẳng được, tức mình viên Đại úy phải hằn học hét lên: - Sao ông không chịu giúp chúng tôi diệt hết bọn cộng sản, thì đằng nào tụi nó cũng là người Việt mà ông thì muốn giết bọn họ có phải vậy không? ... Và kết quả thật kỳ lạ không ngờ, các anh có biết sao không, chỉ với một giá rẻ mạt, viên Đại úy có ngay số thớt voi cần thiết.” (Vòng Đai Xanh, trang 25)
Tại sao người Thượng không ưa người Kinh, dù là người Kinh VNCH hay người Kinh CSVN?
Mục sư bác sĩ Denman giải thích:
“Theo tôi trên thực tế vẫn có mối cừu hận thường xuyên giữa đám dân miền núi và số người Việt ở đồng bằng, tất cả bắt nguồn từ một mặc cảm kỳ thị và khinh bỉ; mối tương quan Kinh Thượng hết sức suy đốn do bởi những đối xử tệ hại của đám người Kinh với một thiểu số mà họ khinh miệt quen gọi là Mọi. Thực sự cũng có những người Thượng học thức, họ vẫn chẳng được tham dự chánh phủ, họ không được hưởng thêm một quyền lợi gì khi làm một công dân Việt Nam. Đôi lúc họ lại bị ném lên xe như những con vật, chở về thành phố để đón rước một số ông lớn tới thăm họ. Mỗi lần như vậy là họ phải giết trâu ăn thề làm lễ rửa chân đeo vòng để tỏ sự trung thành và tình thân hữu đối với quan khách. Sau đó họ lại bị ném trả vào rừng núi, tiếp tục cuộc sống đói khát thiếu thốn…
…Theo lịch sử truyền kỳ thì cả miền Trung và cao nguyên xưa kia là của người Thượng với kinh đô ở gần bờ biển phía đông, có lẽ là tỉnh Nha Trang hiện giờ. Những người già cả còn sống sót cũng kể lại rằng quê hương ông cha họ trước kia cũng ở phía mặt trời mọc, cho đến vị vua cuối cùng của họ vì say mê cưới một nàng công chúa người Việt ở phương Bắc, và chính nàng công chúa này đã âm mưu hãm hại nhà vua. Kể từ đấy họ hoàn toàn bơ vơ không ai hướng dẫn và bị người Kinh tàn ác xua đuổi họ vào mãi tận rừng sâu sống khổ cực cho đến ngày nay.” (trang 25, 26)
Nơi phần Phụ Lục, trong bài “Từ Vòng Đai Xanh 1970 tới Người Thượng Đôi Bờ 2017,” nhà văn Ngô Thế Vinh giải thích cội nguồn căm thù đó:
Quy chế Hoàng Triều Cương Thổ riêng biệt dành cho người Thượng có từ thời vua Bảo Đại, đã bị ông Diệm hủy bỏ (từ tháng 3/1955). Có nghĩa là không còn chính sách đãi ngộ và tôn trọng quyền lợi đặc biệt của những người thiểu số. Với chính sách Dinh điền, hàng chục ngàn người dân công giáo di cư từ miền Bắc đã được đưa lên Cao nguyên định cư, xâm phạm cả những vùng đất đai màu mỡ đã từng là sở hữu của người Thượng qua nhiều thế hệ. Cộng thêm với vô số những lỗi lầm khác của chánh quyền thời bấy giờ, như ra lệnh đóng các tòa án phong tục Thượng, ngăn cấm các thổ ngữ và hạn chế số người Thượng có khả năng và có học tham gia vào các cơ cấu hành chánh. Thái độ bất mãn và không hợp tác của người Thượng và cả chống đối nữa là điều rất dễ hiểu.”(trang 220-221)
Tuy nhiên, trong truyện cho thấy, người Thượng phân biệt minh bạch người Kinh VNCH và người Kinh CSVN… và người Cộng sản được người Thượng so sánh như cọp dữ.
Trong truyện, tác giả kể rằng:
"...có hơn sáu trăm đồng bào Thượng ở Dakto bị Việt cộng cưỡng bách đi dân công và sắp bị lùa qua bên kia biên giới chậm nhất là trong vòng ba ngày..." (trang 58)
Và một người Thượng trốn được, băng rừng tới xin quân lực VNCH tới cứu, trích:
"Khi được hỏi về cảm tình của dân chúng đối với cộng sản, gã bảo:
-Nói đến Việt cộng là chúng tôi hết hồn vía, dân làng vẫn thường gọi chúng là chim Dụng tức là con dơi, còn nói về tàn bạo thì chúng tôi sợ họ như cọp dữ. Họ bắt đồng bào chúng tôi đi dân công tải đạn, chúng lại còn thâu thuế cướp bóc gạo và gia súc của dân làng. Nếu chúng tôi có ý định bỏ đi thì họ dọa bắn giết cả làng, không ai có thể đi xa khỏi vùng quá mấy cây số." (trang 58)
Nghĩa là, dưới mắt đa số dân Thượng, chính phủ VNCH vẫn có chính nghĩa  hơn xa so với quân CSVN.
Giữa khói lửa ngút trời như thế, hình ảnh Nguyện hiện ra trong truyện rất mực dịu dàng, rất mực lãng mạn. Nhân vật nữ trong truyện viết thời cuối thập niên (Ngô Thế Vinh viết xong là 1969) lại có lối sống rất mực tha thiết nữ quyền.
Nhân vật tôi (họa sĩ Triết) yêu thương cô Nguyện, một nữ tùy viên văn hóa tại Bộ Ngoại Giao VNCH, và từng nghĩ là sẽ cưới cô.
Trong khi đó, Nguyện quý trọng tài năng họa sĩ Triết:
"...Riêng bức Mèo Đen Trên Thảm Hồng do một người đàn bà tên Như Nguyện hỏi mua..." (trang 21)
Nguyện rất mực lãng mạn, dưới ngòi bút Ngô Thế Vinh:
"...Tôi nghĩ tới Nguyện, dòng sông Hương và khung cảnh sống của những ngày sắp tới. Người đàn bà trụy lạc nhưng không thể đồng hóa với người khác; giữa nàng và đời sống vẫn có một bức tường ngăn cách. Tôi cô đơn khi xa nàng nhưng đồng thời sự gần gũi cuồng nhiệt của dục vọng chính là những phút run rẩy hấp hối của hạnh phúc. Sự cô đơn thật khủng khiếp khi thân thể bị lạm dụng cho mục đích khám phá cảm giác. Tôi hoàn toàn mất Nguyện ở những giây phút giẫy giụa đó."(trang 35-36)
Có lúc chàng nhớ Nguyện rất mực thiết tha, và nghĩ tới rời bỏ cao nguyên để cùng nàng về xứ Huế:
"...tôi chợt nghĩ và nhớ tới Nguyện tha thiết. Phải chi Davis là nàng, tôi sẽ vui sướng để nhận lời mời của mấy vị chủ làng buổi tối. Nguyện cũng sẽ tập uống rượu cần, tôi sẽ chỉ dẫn cho nàng cách nhận một ống triêng bằng tay phải, bởi vì tôi nhớ Nguyện có thói quen dùng bàn tay trái mà người Thượng thì lại không mấy quý bàn tay trái, xử dụng nó được coi như dấu hiệu khiêu khích và khinh bỉ. Cái không biết và vô tình của nàng có thể làm suy giảm mối giao hảo thân hữu giữa chủ và khách. Nhưng tôi hiểu rằng Nguyện không thể nào chọn quê hương là nơi đây và để có được tình yêu tôi và Nguyện, một trong hai người phải hy sinh cái thế giới mộng tưởng của mình. Và dẫu sao, tôi cũng đã có một quyết định dứt khoát bỏ nghề báo và ra Huế." (trang 47-48)
Trong khi Nguyện có sức lôi cuốn chàng như một loài chim lạ, nàng vẫn gặp rất nhiều tai tiếng:
"....Tôi cũng gặp Như Nguyện, người đàn bà mua tranh tôi trong vai trò tùy viên văn hóa của sứ quán và tôi cũng không thể nghĩ rằng sẽ có những ràng buộc định mệnh giữa tôi và nàng sau này. Thực sự cho đến bây giờ tôi không biết gì hơn về người đàn bà ngoài cái hiện tại của một cuộc sống phóng thả và rất nhiều tai tiếng. Nguyện đối với tôi có một sức hấp dẫn kỳ lạ của một loài chim bay rất cao để có một tiếng hót hay. Có lần từ Tokyo, Nguyện viết thư cho tôi, thư khá dài không đề cập tới một chuyện gì rõ rệt nhưng chứng tỏ tâm hồn nàng đang có những dao động. Nguyện bảo, nàng như một con chim nhỏ đi trốn tuyết và rất cô đơn. Phải chi Nguyện được anh giam hãm như anh đã từng giam hãm con mèo đen trên cái ấm áp của một thảm hồng." (trang 53)
Đó là một mối tình đẹp, hiện ra cực kỳ thơ mộng trong một không khí chiến tranh gay gắt ở cao nguyên... Tất cả hiển lộ qua bút pháp tiểu thuyết của Ngô Thế Vinh với hơi văn trầm tĩnh, từ tốn, thoảng hương rượu cần miền núi và ngây ngất hương tình Vỹ Dạ.

Phần Kết Từ do Thế Uyên viết năm 1970, giải thích về hoàn cảnh truyện Vòng Đai Xanh ra đời, gợi ý về các Trung đoàn nông tác VNCH xây dựng mô hình Kibbutzim kiểu người Do Thái có thể giúp người Thượng sống đời định cư và chống Cộng. Nơi đó, tuổi trẻ Kinh Thượng một nhà sẽ gìn giữ núi rừng cao nguyên, đẩy lùi làn sóng Phương Bắc.

Trong phần Phụ Lục, bài “Bách Khoa Đàm Thoại Với Ngô Thế Vinh: Từ Vòng Đai Xanh đến Mặt Trận ở Sài Gòn” sẽ giúp độc giả hiểu về tình hình, vì sao Ngô Thế Vinh với Vòng Đai Xanh được giải thưởng bộ môn Văn trong Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc 1971 trước Tết, thì sau Tết lại nhận trát tòa gọi ra tòa về bài “Mặt Trận ở Sài Gòn”…
Trong Phụ Lục còn có thư của học giả Hoàng Xuân  Hãn nêu về vấn đề Kinh-Thượng…
Nhưng nói đầy đủ chi tiết, nói lên nan đề nhức nhối Kinh-Thượng là nhà văn Nhật Tiến qua bài viết năm 2002 “Mở Lại Cuốn Vòng Đai Xanh của Nhà Văn Ngô Thế Vinh” (trang 245-253) mô tả số phận đau thương của người Thượng và nhu cầu giải quyết tận gốc cho xong vết thương của dân tộc để chung sức ngăn cản Trung Quốc ở cả Biển Đông và phía Đông.
Nguyễn Quốc Trụ có bài viết “Đỉnh Cồn, Vòng Đai Xanh, Ngô Thế Vinh, Và Tôi” (trang 255-258) kể kỷ niệm thời viết Ngô Thế Vinh trong ký túc xá sinh viên.
Phần Phụ Lục cũng có trích một số điểm sách đối với ấn bản tiếng Anh (The Green Belt, NXB Ivy House, 2004)) của Vòng Đai Xanh từ GS Trần Ngọc Ninh, sử gia Gerald C. Hickey, nhà nghiên cứu sắc tộc học Oscar Salemink, nhà hoạt động nhân quyền José Quiroga, GS Nguyễn Văn Tuấn, các nhà văn Phan Nhật Nam, Nguyễn Thuyết Phong, Nguyễn Quỳnh, Mặc Đỗ, Nguyễn Sao Mai, Ánh Nguyệt, Hoàng Mai Đạt.

Tiểu sử  tác giả sơ lược như sau.
Ngô Thế Vinh tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn 1968. Trong ban biên tập, nguyên tổng thư ký rồi chủ bút báo sinh viên Tình Thương truờng Y khoa Sài Gòn từ 1963 tới khi báo đình bản 1967. Nguyên y sĩ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Tu nghiệp ngành Y khoa Phục hồi tại Letterman General Hospital San Francisco. Trở về Việt Nam, làm việc tại trường Quân Y.
Sau 1975, tù ba năm qua các trại cải tạo Suối Máu, Trảng Lớn, Phước Long, Bù Gia Mập… Ra trại, về Sài Gòn, một thời gian sau trở lại làm việc tại Trung Tâm Phục Hồi Bà Huyện Thanh Quan và trường Vật Lý Trị Liệu Sài Gòn.
Tới Mỹ tám năm sau 1983, mất thêm 5 năm để trở lại ngành y: thời gian đầu làm volunteer tại các bệnh viện, rồi clinical fellow Đại học USC trước khi trở lại làm bác sĩ nội trú rồi thường trú các bệnh Đại học SUNY Downstate Brooklyn New York. Tốt nghiệp ngành Nội khoa American Board of Internal Medicine và về làm việc tại một bệnh viện miền nam California.

Tác phẩm Vòng Đai Xanh ấn bản Việt ngữ trải qua nhiều lần in: NXB Thái Độ năm 1970, NXB Văn Nghệ 1987, và bây giờ do Văn Học Press ấn hành năm 2018.
NXB Văn Học Press do nhà thơ Trịnh Y Thư thực hiện, với giải thích:
“-- Mô hình thực hiện xuất bản và phát hành: Amazon…
-- Xuất bản và tái bản những tác phẩm thơ, văn, dịch thuật, biên khảo (văn học, lịch sử, chính trị…) giá trị của các tác giả khắp nơi trong cộng đồng người Việt tự do dưới dạng sách in hoặc eBook hoặc cả hai....
-- Cộng tác với ban chủ biên các trang mạng văn chương để thực hiện những tuyển tập thơ văn hoặc biên khảo do các chủ biên tuyển chọn từ diễn đàn của mình.
-- Thực hiện những tuyển tập thơ, văn hoặc biên khảo lấy ra từ các số VHNT và Văn Học cũ từ số đầu tiên xuất bản năm 1978 cho đến khi tờ tạp chí đình bản."
Các quan tâm về tác phẩm, có thể liên lạc ở: trinhythu2000@yahoo.com

 



Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015


IM LẶNG VÀ LÊN TIẾNG

Nguyên Giác

  
Chúng ta biết rằng cõi này không phải lúc nào cũng thuận thảo với những ước muốn của chúng ta. Chúng ta bước ra phố vào một ngày nắng đẹp, và đột nhiên một trận mưa rào ào xuống, làm  chúng ta ướt mem. Dĩ nhiên, cõi này là bất như ý, Đức Phật đã dạy như thế.

Thậm chí, ngay tới gần nhất, chúng ta muốn thân này đừng bệnh, thế là ăn kiêng, tập thể dục, ngồi thiền, dưỡng sinh, khí công, và vân vân. Vậy mà vẫn bệnh, vẫn đau chân, vẫn nhức răng, vẫn tai mờ, vẫn mắt yếu… Cõi này là thế.

Trong chuyện đời, đôi khi chúng ta ước muốn rằng những biểu tượng lớn của dân tộc, của xã hội, của cộng đồng… phải nói được tiếng nói  vì quyền lợi của dân tộc, của người dân. Vậy mà, rất nhiều và rất nhiều vị giữ im lặng trong những hoàn cảnh, mà nhiều người trong chúng ta muốn là phải lên tiếng. Chúng ta thắc mắc, tại sao im lặng trước bất công? Thậm chí, có khi lại có vẻ như về hùa với các thế lực trần gian.  Dĩ nhiên, im lặng hay lên tiếng là quyền riêng của mỗi người; trong hoàn cảnh riêng, đó là lưạ chọn riêng nhưng bất kỳ lựa chọn nào rồi cũng sẽ bị phán đoán, trước tiên là tự tâm mình, rồi tới dư luận quần chúng…

*  *  *

Trong bản tin RFI tuần qua, có ghi nhận về sự im lặng của bà Aung San Suu Kyi:
Vào lúc thông tin về thảm cảnh mà người thiểu số Rohingya tại Miến Điện phải chịu đựng ngày càng nhiều, Đức Đạt Lai Lạt Ma, vào hôm nay, 28/05/2015 đã lên tiếng một lần nữa. Ông đã kêu gọi lãnh tụ đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi, người cũng được giải Nobel Hòa bình như ông, là nên làm nhiều hơn để giúp đỡ người Rohingya.
Trong bài phỏng vấn dành cho nhật báo Úc The Australian, một tuần trước chuyến thăm Úc, lãnh tụ tinh thần của Phật giáo Tây Tạng đã cho rằng bà Aung San Suu Kyi cần phải lên tiếng mạnh mẽ để bênh vực người Hồi giáo Rohingya đang bị kỳ thị, ngược đãi ở Miến Điện, một quốc gia Phật giáo.
Đức Đạt Lai Lạt Ma còn nói rõ là từ năm 2012 đến nay, ông đã hai lần đích thân cầu cứu bà Aung San Suu Kyi khi nổ ra những vụ bạo động đẫm máu tại bang Rakhine giữa người Rohingya và cư dân điạ phương theo Phật giáo.
Trong thời gian gần đây, lãnh tụ đối lập Miến Điện hầu như đã im hơi lặng tiếng trước thảm cảnh đang diễn ra đối với hàng ngàn người Rohingya, đã phải vượt biển qua các nước khác để thoát khỏi cảnh đói nghèo và phân biệt đối xử mà họ phải gánh chịu tại Miến Điện.
Giới quan sát cho rằng sở dĩ bà Aung San Suu Kyi không lên tiếng, đó là vì bà không muốn làm phật lòng cử tri mà đa số theo Phật giáo, trước cuộc bầu cử dự kiến vào tháng Mười Một.
Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng công nhận tình thế tế nhị của bà Aung San Suu Kyi, nhưng tin rằng trong tư cách một người đoạt giải Nobel Hòa bình, bà «có thể làm một cái gì đó»….” (hết trích)

*  *  *

Đức Đạt Lai Lạt Ma và bà Kyi đều là những nhân cách lớn. Họ đều là những Phật tử tu học thuần thành, tâm của họ rất mực từ bi. Nhưng chỗ này cho thấy rằng hai vị có những lựa chọn dị biệt nhau: Đức Đạt Lai Lạt Ma lên tiếng vì ngài muốn ngưng mọi kỳ thị với sắc tộc Rohingya.
Thế nhưng, tại sao bà Kyi im lặng? Không mấy người trong dân tộc Miến Điện nghĩ rằng bà Kyi quý trọng các chức vụ dân cử tương lai tới nổi phải làm trái nghịch lương tâm. Có phải bà Kyi nhìn thấy sắc tộc Rohingya như một hiểm họa Hồi Giáo từ Bangladesh đang lấn vào biên giới Miến Điện? Hay những lý do nào khác? Và chúng ta có nên tôn trọng quyết định im lặng của bà Kyi không?

*  *  *

Nhìn lại quá khứ, sẽ thấy bà Kyi không phảỉ là người sợ hãi cường quyền. Bà Kyi là một nhân vật như dường không có thực trên đời, nhưng sự can đảm của bà đã được chứng kiến bởi hang trăm ngàn người dân, chiến binh, và báo chí quốc tế.
Bà về nước tháng 3 năm 1988 vì mẹ trở bệnh nặng.  Ngày 8 tháng 8-1988, nhiều cuộc nổi dậy ở nhiều nơi tại Miến Điện để đòi dân chủ; Chính quyền dùng vũ lực đàn áp, rất nhiều người chết và bị thương. Ngày 15 tháng 8-1988: Bà Kyi bắt đầu hoạt động chính trị, gửi thư cho chính phủ, kêu gọi thành lập ủy ban cố vấn độc lập về vấn đề bầu cử đa đảng.
24 tháng 9: Đảng Liên kết Quốc gia Dân chủ (NLD) thành lập do Suu Kyi làm tổng thư ký. Chủ trương bất bạo động. Mặc dù bị nhà nước cấm, Suu Kyi tiếp tục đi khắp nơi phát huy, cổ động nhân dân về phong trào tự do, dân chủ.
Xin nhớ rằng, năm 1989 khắp thế giới là phong trào đòi dân chủ, gây tiếng vang nhất là biểu tình Thiên An Môn ở Bắc Kinh, trong đó có một tấm hình một sinh viên đứng chận đoàn xe tăng.
Cùng năm 1989, một hình ảnh tương tự nổi tiếng ở Miến Điện, khi bà  Kyi bước thẳng về phía những người lính đang chĩa sung vào bà.

Xin mời xem tấm hình này:



Tấm hình trên là năm 1988, khi quân đội nổ súng, giảỉ tán biểu tình, xác người nằm la liệt trên phố. Tấm hình dưới là 1989, khi bà Kyi dẫn đầu biểu tình, ôm hoa bước thẳng tới trước họng súng của hàng quân Miến Điện đã dàn ra để ngăn chận biểu tình. Từ đó về sau, báo chí quốc tế vẫn ưa nêu câu hỏi, vì sao 400,000 người lại sợ một phụ nữ? Hàng chữ in trên hình là chỉ tác quyền của thông tấn nhiếp ảnh Getty Images.

Hình ảnh này được đưa vào phim “The Lady,” trong đó nữ diễn viên Michelle Yeoh đóng vai bà Kyi. Tấm hình trong phim này có thể xem ở báo WJS ngày 8 tháng 2-2012, xin mời vào link này:

Vâng, và bây giờ bà Kyi im lặng. Và Đức Đạt Lai Lạt Ma trách bà.

*  *  *

Bản thân tôi, người đang viết bài này, không bao giớ dám đặt vấn đề với bất kỳ ai là tại sao im lặng, hay tại sao lên tiếng thế này mà không lớn tiếng thế kia.
Và ngay cả khi đang viết những dòng chữ này, quan tâm lớn của tôi là có phải chữ này, chữ kia… là từ tham sân si, hay các chữ đó không  hề phát xuất từ tham sân si.
Tôi không dám nổi sân vì người này im lặng, hay vì người kia lên tiếng thế này mà không lớn tiếng thế kia. Những dòng chữ này của tôi được viết từ sự bình lặng của tâm mình.
Nói như thế, để dẫn thêm rằng, lòng tôi rất mực tôn kính Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Từ những ngày thơ ấu, khi chưa đọc nhiều về Tây Tạng, và cả khi chưa hề bước lên Chùa Tây Tạng Bình Dương, tôi luôn thấy rung động lớn khi nhìn trên báo những hình ảnh các vị lạt ma và các biểu tượng Phật Giáo Tây Tạng như chuông, tháp… Và vẫn luôn giữ cảm giác mình đã từng kiếp nào gánh nước, chẻ củi cho các tu viện Tây Tạng.

*  *  *

Vâng, vẫn giữ mãi cảm giác đó ngay cả khi sau này đọc và nhìn thấy nhiều hình ảnh về Đức Đạt Lai Lạt Ma và Đức Ban Thiền Lạt Ma đứng bên cạnh  Mao Trạch Đông, một người rất là thế tục.
Đức Đạt Lai Lạt Ma trong năm 1954 đã gửi một phái đoàn tới Bắc Kinh, phê chuẩn Hiệp Định 17 Điểm Về Giải Phóng Ôn Hòa Tây Tạng (Seventeen Point Agreement for the Peaceful Liberation of Tibet). Tháng 9-1954, Đức Đạt Lai Lạt Ma và Đức Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 10 tới Bắc Kinh để gặp Mao Trạch Đông, tham dự Quốc Hội Nhân Dân Trung Quốc với tư cách đại biểu quốc hội, thảo luận về Hiến pháp Trung quốc.
Ngày 27-9-1954, Đức Đạt Lai Lạt Ma trở thành Phó chủ tịch Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Nhân Dân Trung Quốc (Standing Committee of the National People's Congress)…
Dân tộc Tây Tạng vẫn tin nơi Ngài rằng Ngài không bao giờ bán đứng đất nước Tây Tạng. Tuyệt nhiên không một ai (hay rất ít) chất vấn rằng tại sao, thí dụ, “tôn thờ tội ác”…

Xin mời xem 2 tấm hình, hai bên họ Mao là Đức Đạt Lai Lạt Ma (phải) và Đức Ban Thiền Lạt Ma (trái):

Làm sao mà nghi ngờ dị tâm của Ngài được, đối với những người đã nguyện đời đời, kiếp kiếp trụ thế cõi này để cứu hết cùng tận chúng sinh… Nếu Đức Đạt Lai Lạt Ma không vượt Hy Mã Lạp Sơn để đào thoát sang Ấn Độ, hẳn là nhiều sử gia đời sau sẽ đặt vấn đề với Ngài.

*  *  *
Đó là hình ảnh. Bây giờ tới ngôn ngữ.

Tạp chí Newsweek ngày 15 tháng 1-2015 ghi rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma tử nhận là người Marxist (theo chủ nghĩa Marx) trong một bài thuyết giảng về hòa bình thế giới tại Kolkata, Ấn Độ. Cũng báo này nói, mấy năm trước đó, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói trong một hội nghị năm 2011 tại Minneapolis, Hoa Kỳ, rằng Ngài là Marxist khi kêu gọi một lý thuyết kinh tế xã hội nhân đạo hơn.

Bạn hãỹ hình dung, khi một nhà sư Việt Nam nói rằng vị sư này theo chủ nghĩa Marx. Sóng gió tất nhiên là kinh khủng. Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma nói như thế, ngay cả những người cực đoan cũng không phóng câu nói này của Ngài lên các mạng email để truy vấn.

*  *  *

Tới đây, chúng ta sẽ nói về một vài điểm, mà tôi tin là ngộ nhận từ nhà văn Trần Trung Đạo qua bài viết gần đây. Bài này có tựa đề “Khi lãnh đạọ tôn giáo tôn thờ tội ác” và đã ngay lập tức được phóng khắp các mạng email.

Xin mời xem hình từ bài của nhà văn họ Trần:



Tôi đi tìm bản tin gốc. Và thấy ở đây, trên báo Giác Ngộ, bản tin ngày 18/05/2015 có tựa đề: “Khai mạc Lễ hội Văn hóa Phật giáo "Hương sen xứ Nghệ"…” (link: http://giacngo.vn/mobile/default.aspx?CategoryID=110&GroupID=1100&ContentID=176041)

Đọc kỹ bản tin, sẽ thấy: tấm hình kia cho thấy buổi lễ dựng ở ngoài sân. Tấm hình ông Hồ để ở ngoàì sân là tác phẩm nghệ thuật, “kết bằng hàng vạn bông hoa sen,” nghĩa là hoa trên tấm ảnh này chỉ vài tuần hay vài tháng là sẽ tàn, và nên hiểu là tấm hình sẽ quăng đi – cũng là một ý nghĩa vô thường. Việc dựng tấm tranh ông Hồ ngoaì sân chùa cho buổi lễ là bình thường, vì khắp phố phường không có tượng này thì có ảnh kia.

Cần ghi nhận: không hề thấy có chánh điện nào của chùa nào thờ ông Hồ cả.
Trước kia, có chuyện ông Dũng Lò Vôi để tượng ông Hồ trong chánh điện một nơi ở Bình Dương, rồi dư luận phản đối, thế là ông Dũng xoay ngang tượng ông Hồ, và kiến trúc trông như ngôi chùa ấy trở thành khu du lịch có bán vé vào cửa. Không phải là chuyện chánh điện nào thờ tượng ông Hồ.

Những ngộ nhận và chỉ trích trong đời cứ mãi có thôi. Cũng như trước đây, tấm hình các vị sư đi thăm Trường Sa, đầu đội nón cối bộ đội. Hay như tấm hình nhà sư làm lễ cầu siêu năm 2014 ở Vị Xuyên, Hà Giang, nơi cuộc chiến biên giới bùng nổ năm 1984 trước một dãy nón cối tượng trưng cho các chiến binh tử trận; lúc đó, 30 năm sau báo chí nhà nước mới công khai đăng tin về cuộc chiến chống quân TQ năm 1984, và lúc đó Việt Nam mất ngọn Lão Sơn.

Người ta có thể chất vấn rằng nhà sư phảỉ có tăng tướng, không nên đội mũ bộ đội, và vân vân. Hay, nhà sư cầu siêu làm gì trước những dãy nón cối tượng trưng người đã khuất, hẳn vì các tử sĩ đã siêu thăng từ lâu rồi, và vân vân.

Tôi không bao giờ dám khởi tâm nói như thế. Bởi vì, tôi biết, khi một cuộc chiến lớn bùng nổ lần nữa, và lần này hẳn là lớn nhiều lần hơn quá khứ và sẽ có những đợt tổng động viên… phải thấy trong máu thịt những người hy sinh để giữ quê hương kia sẽ hòa lẫn máu thịt bộ đội và máu thịt các nhà sư đang ở Trường Sa, đang ở các ngôi chùa biên giới… Tôi lòng dạ nào mà đi nói lý, nói sự với những người đang giữ biển, giữ đất bằng chính sinh mệnh của họ.

Tôi cũng không dám có lòng nào chất vấn tại sao bà Kyi im lặng, khi trong quá khứ bà dám ôm hoa bước thẳng tới trước những họng súng. Và cũng hệt như một thần dân Tây Tạng, tôi không bao giờ nêu thắc mắc với Đức Đạt Lai Lạt Ma tại sao ngồi bên ông Mao, tại sao giữ chức Phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quóc Hội Nhân Dân TQ, và vân vân.

*  *  *

Tới đây cũng nên nói rằng, tôi không hề dám nêu thắc mắc về sự im lặng của một Đức Giáo Hoàng khi lãnh tụ Hitler thảm sát dân Do Thái.


Nhiều thập niên sau Thế Chiến 2, nhiều sử gia thế giới vẫn nêu vấn đề này. Đối với tín đồ Thiên Chúa Giáo La Mã, họ tin rằng sự im lặng của Đức Giáo Hoàng Pius XII là có lý do hợp lý, vì họ tin rằng Ngài thay mặt Thượng Đế và có đặc tính “bất khả sai lầm.”
Một số sử gia gọi Ngài là “Giáo Hoàng của Hitler.”

Bài viết ngày 6 tháng 5-2010 trên báo Foreign Policy có tựa đề “Why Did the Pope Keep Quiet About Hitler?” (Tại Sao Đức Giáo Hoàng Im Lặng về Hitler?) đã mở ra thêm một số hồ sơ mới cho thấy những gì Ngài biết và khi nào biết.




Tôi không chất vấn sự im lặng của bà Kyi, không chất vấn những lời của Ngài Đạt Lai Lạt Ma, và cũng không dám thắc mắc về sự im lặng của Ngài Pius XII khi 5.9 triệu người Do Thái bị Hitler giết. Ngắn gọn, im lặng hay lên tiếng là lựa chọn riêng của mỗi người.

Trong bài này, tôi chỉ muốn nêu lên ngộ nhận của tác giả Trần Trung Đạo trong tấm hình để một cách diễn giải chệch đi, và về ngôn ngữ quy chụp “tôn thờ tội ác” cho một sự kiện ở quê ông Hồ.

Nguyên Giác






Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014


ĐỌC “THIỀN TẬP” CỦA CƯ SĨ NGUYÊN GIÁC:
Bản Đồ Tu Thiền Hữu Ích Cho Mọi Căn Cơ

Huỳnh Kim Quang

Đạo Phật là đạo giác ngộ. Giác ngộ là thấy tánh. Muốn thấy tánh thì tu thiền, như đức Thích Ca Mâu Ni do thiền dưới gốc cây Bồ Đề mà giác ngộ thành Phật. Cho nên, mục đích tối hậu của thiền Phật Giáo là thành Phật, là giác ngộ chân tánh. Vì vậy, Thiền Tông chỉ nói đến “kiến tánh thành Phật,” không nói gì khác.
Nhưng không phải ai cũng có đủ căn cơ để tu thiền mà kiến tánh thành Phật ngay trong sát na hiện tiền, hay chí nữa cũng là trong đời này. Cho nên, trong Thiền Tông cũng có đốn ngộ và tiệm tu, cũng có Nam Năng và Bắc Tú. Thậm chí thâm tín Phật Pháp như Vua Lương Võ Đế thì có mấy ai, vậy mà trước câu nói trực chỉ của Tổ Sư Đạt Ma “Xây chùa, tạo tượng đều không có công đức,” cũng không thể tự mình mở lối lên Thiếu Thất! Vì lẽ đó, để độ người hữu duyên theo căn cơ sai biệt, thiền cũng khai mở nhiều cửa phương tiện từ sơ cơ tiệm thứ điều tức, điều thân, điều tâm, đến hốt nhiên đại ngộ ngay nơi chiếc lá rơi.
Ngày nay thiền trở thành liệu pháp trị bệnh thân tâm một cách hữu hiệu được phổ biến khắp mọi nơi trên thế giới, từ bệnh viện y khoa, công ty thương mại đến trường học và quân đội. Có thể nói chưa bao giờ thiền được đại chúng hóa như bây giờ. Tuy nhiên, theo quy luật xã hội, cái gì được đại chúng hóa thì không tránh khỏi trở thành sản phẩm xã hội, mà đã là sản phẩm xã hội thì khó giữ được phẩm chất tinh ròng và nguyên vị của nó. Đó chính là trong cái được có cái mất! May thay, còn có những người ngày đêm âm thầm gìn giữ tinh yếu của thiền như các thiền sư chân truyền trong các thiền viện thâm nghiêm, hay như cuốn “Thiền Tập” của Cư Sĩ Nguyên Giác.


“Thiền Tập” và tác giả (2012)
Tác phẩm “Thiền Tập” được Cư Sĩ Nguyên Giác biên dịch cách nay vài năm và lâu nay được đăng trong trang nhà của Thư Viện Hoa Sen tại địa chỉ: http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-44_4-15163_5-50_6-1_17-81_14-2_15-2_10-426_12-1/thien-tap.html ; hoặc trên trang nhà Quảng Đức ở địa chỉ: http://quangduc.com/a29746/thien-tap-cu-si-nguyen-giac-bien-dich và nhiều trang mạng Phật Giáo khác.
Một trong những đặc điểm của cuốn “Thiền Tập” của Cư Sĩ Nguyên Giác là tác phẩm này chứa đựng một bản đồ toàn diện về pháp môn thiền từ bước đầu căn bản chỉ dạy cách ngồi thiền, cách điều tức, điều thân và điều tâm, đến những phương thức thiền tập diệu dụng cao siêu của cả ba truyền thống Phật Giáo: Tây Tạng, Nam Truyền, và Bắc Truyền. Đó là đặc điểm bởi vì có rất ít hay đúng hơn rất hiếm sách viết về tu thiền bằng tiếng Việt mà có đầy đủ pháp môn từ sơ cơ đến thượng thừa như vậy.
Điểm đặc biệt khác nữa là người biên dịch “Thiền Tập” là Cư Sĩ Nguyên Giác không phải chỉ là một học giả trên lý thuyết mà chính là một hành giả thiền trên bốn mươi năm và được truyền thụ trực tiếp từ những bậc thiền sư đạo cao đức trọng trong chốn thiền môn như Thiền Sư Tịch Chiếu, Viện Chủ Chùa Tây Tạng ở Bình Dương, Việt Nam. Cư Sĩ Nguyên Giác cũng là tác giả của cuốn “Vài Chú Giải Về Thiền Đốn Ngộ,” được xuất bản trên hai mươi năm trước tại Hoa Kỳ, và hàng chục tác phẩm nghiên cứu và dịch thuật khác về Phật Giáo.
Trong “Thiền Tập” của Cư Sĩ Nguyên Giác đề cập đến ba truyền thống thiền của Phật Giáo Tây Tạng, Nam Tông và Bắc Tông, với những pháp môn tinh yếu và phổ truyền nhất của mỗi hệ thống. Trong đó, với Phật Giáo Tây Tạng thì có pháp môn Đại Thủ Ấn, Đại Toàn Thiện; với Phật Giáo Nam Truyền thì có pháp môn Thiền Minh Sát; với Phật Giáo Bắc Truyền thì có pháp môn Thiền Mặc Chiếu, Thiền Công Án.
Đôi khi người mới tu thiền nghĩ rằng phép thở là bước đầu vào thiền nên không có công dụng mầu nhiệm gì lắm. Nhưng không, trong “Thiền Tập” cho chúng ta thấy về diệu dụng bất khả tư nghì của phép thở như sau:
Mặc dù thiền tập hơi thở chỉ là bước đầu thiền tập, nó có thể rất là mãnh liệt. Chúng ta có thể thấy từ pháp tu này là chúng ta có thể đạt được an tĩnh nội tâm và sự an lạc chỉ bằng cách kiểm soát tâm, mà không dựa vào bất kỳ điều kiện bên ngoài nào. Khi dòng niệm lắng xuống, và tâm chúng ta tịch tĩnh, một niềm hạnh phúc sâu thẳm và sự an lạc tự nhiên khởi lên. Cảm thọ về sự an lạc và sự sung mãn giúp chúng ta đối phó với sự bận rộn và khó khăn của đời sống thường nhật.”
Khai thị về pháp đốn ngộ, “Thiền Tập” trích dẫn lời dạy của Thiền Sư Hám Sơn chỉ thẳng cội rễ của mọi pháp chỉ là “ảo giác và vô tự tánh,” tất cả đều “phóng hiện từ chân tâm,” như sau:
Để thiền tập, ngươi trước tiên phải dẹp bỏ hết mọi kiến thức và hiểu biết, và chỉ nhất tâm đưa tòan lực của ngươi đặt lên một niệm. Tin vững chắc vào [chân] tâm của ngươi rằng, nguyên thủy nó thanh tịnh và sáng rõ, không một chút trì trệ nào hết – nó thì sáng và hoàn thiện, và bao trùm khắp Pháp giới. Trong tự tánh, thì không hề có thân, không hề có tâm, không hề có thế giới, mà cũng không hề có vọng niệm nào, không hề có bất kỳ thọ tưởng nào. Ngay trong khoảnh khắc này, chính ngay một niệm này tự nó đã là vô sinh. Tất cả mọi pháp đang hiển lộ trước ngươi bây giờ thực ra là ảo giác và vô tự tánh – tất cả vạn pháp đó đều là phản chiếu phóng hiện từ chân tâm của ngươi.”
Phần cuối của “Thiền Tập” Cư Sĩ Nguyên Giác giới thiệu và trích dịch bài Kinh “Bahiya Sutta” trong Tiểu Bộ Kinh kể chuyện Đức Phật dạy bài pháp khẩn cấp cho Người Áo Vỏ Cây chứng A La Hán ngay tức thì khi nghe Phật dạy và đã viên tịch không lâu sau đó. Bài pháp này cho thấy người nghe pháp Phật có thể đốn ngộ thánh quả tức thì ngay trong lời dạy của vị đạo sư. Xin trích lại đoạn Kinh mà Đức Phật dạy cho ngài Bahiya để độc giả tường lãm:
Thế này, Bahiya, ông nên tu tập thế này: Trong cái được thấy sẽ chỉ là cái được thấy; trong cái được nghe sẽ chỉ là cái được nghe; trong cái được thọ tưởng sẽ chỉ là cái được thọ tưởng; trong cái được thức tri sẽ chỉ là cái được thức tri.’ Cứ thế mà tu tập đi, Bahiya.
“Khi với ông, này Bahiya, trong cái được thấy chỉ là cái được thấy… [nhẫn tới]… trong cái được thức tri chỉ là cái được thức tri, thì rồi Bahiya, ông sẽ không là ‘với đó.’ Này Bahiya, khi ông không là ‘với đó,’ thì rồi Bahiya, ông sẽ không là ‘trong đó.’ Này Bahiya, khi ông không ‘trong đó,’ thì rồi Bahiya, ông sẽ không ở nơi này, cũng không ở nơi kia, cũng không ở chặng giữa. Thế này, chỉ thế này, là đoạn tận khổ đau.”

Cư Sĩ Nguyên Giác viết trong “Thiền Tập” về sự chứng đắc qủa vị A La Hán tức thì của Người Áo Vỏ Cây:
Nhưng, làm cách nào ngài Bahiya -- một người đời thường, chưa từng quy y hay thọ giới gì cả… mà lúc tìm nghe pháp thì vẫn còn mang phong thái ngọai đạo, với kiểu lấy vỏ cây làm áo, và được gọi tên bằng Bahiya Áo Vỏ Cây -- sau khi nghe bài pháp yếu vài câu lại có thể “hốt nhiên đốn ngộ” và xóa sạch ác nghiệp muôn đời ngàn kiếp để vừa khi bị bò húc chết là nhập Niết Bàn vô dư ngay? Có nghĩa là, ngay khi tâm vừa đốn nhập được, thì vô lượng nghiệp tội sẽ không còn ràng buộc được nữa? Như vậy, khỏang cách giữa một người đời thường cho tới ngôi vị Thánh Quả A La Hán thực ra chỉ cách nhau vài sát na tâm? Thực ra, ngài Bahiya đã tu từ vô lượng kiếp rồi, đã là một tỳ kheo từ thời Phật Ca Diếp. Không có gì là tự nhiên cả, và ngài Bahiya sau này được Đức Phật nói là trường hợp chứng đạo mau nhất, xuất sắc nhất.”
Có được khoảnh khắc “hốt nhiên đốn ngộ” thì phải tu từ vô lượng kiếp cho nên, thiền là phải tập, phải tu tinh tấn mỗi sát na, mỗi giờ, mỗi ngày trong đời sống. “Thiền Tập” là cuốn sách rất bổ ích cho mọi người, mọi căn cơ. Xin hãy vào các trang mạng trên để đọc “Thiền Tập” của Cư Sĩ Nguyên Giác và học cách thực tập thiền.
Xin cảm niệm công đức của tác giả và trân trọng giới thiệu đến bạn đọc.


[Nhà Xuất bản Thien Tri Thuc Publications, P.O. Box 4805, Garden Grove, CA.92842-4805, USA]