Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao thế dung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao thế dung. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

TỪ KENNEDY ĐẾN NGÔ ĐÌNH DIỆM:
MỘT HUYỀN THOẠI PHẢI DẸP BỎ

Hoàng Nam Giao


Ngày thứ Sáu, 22 tháng 11 năm 1963, đoàn xe chở Tổng thống Kennedy và phu nhân là bà Jacqueline rẽ trái vào đường Elm và bắt đầu chạy vòng quanh quảng trường Dealey Plaza thuộc thành phố Dallas - Fort Worth, bang Texas. Chiếc xe Limousine qua khỏi tòa nhà Texas School Book Depository vừa đúng 12 giờ 30 trưa thì 3 tiếng súng vang lên. Và vị Tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ tử nạn. Năm đó ông John Fitzgerald Kennedy 46 tuổi và là vị tổng thống Mỹ thứ tư bị ám sát lúc đang tại chức.

Trước đó đúng 20 ngày, cách trọn nửa trái cầu, một vị tổng thống Công giáo khác là ông Ngô Đình Diệm, người đã từng được hai chính quyền Mỹ hết lòng yểm trợ nhưng rồi lại bị bỏ rơi khi chánh quyền Kennedy quyết định ủng hộ một cuộc chính biến lật đổ ông ta. Một ngày sau đó, ông Diệm bị hạ sát.



Trong bối cảnh đó, để kỷ niệm 50 năm ngày Tổng thống Kennedy bị hạ sát (1963-2013), trong số nhiều tài liệu và sách báo Mỹ đề cập đến cuộc đời và sự nghiệp của ông Kennedy, có một số tài liệu nối hai cái chết nghiệt ngã nầy với nhau. Một trong những tài liệu đó đã được nhật báo Người Việt ở California giới thiệu với độc giả [1] . Tài liệu nầy ghi lại cuộc phỏng vấn Sử gia Edward Miller [2] ngày 18-11-2013 quanh câu hỏi “Nếu Tổng thống Kennedy không bị ám sát thì điều gì sẽ xãy ra cho Chiến tranh Việt Nam ?” [Vietnam War: What If JFK Hadn’t Been Assassinated ?] [3]  

Cuộc phỏng vấn quay quanh ba đề mục: (i) Tại sao người Mỹ quyết định ủng hộ một cuộc thay đổi chế độ ?, (ii) Điều gì đã xảy ra sau chính biến 1-11-1963 ?, và (iii) Điều gì sẽ xảy ra nếu TT Kennedy không bị ám sát ?
Đặc biệt ngay trong cuộc phỏng vấn, sau khi nghe xong đoạn băng từ tính (vừa được giải mật hôm 4-11-2013 [4]) về buổi nói chuyện của TT Kennedy 2 ngày sau khi ông Diệm bị giết, một câu trả lời của ông Miller trong đề mục (iii) làm tôi lưu ý:

-          Ông Young (hỏi): Nhưng ông nghỉ sao về trường phái cho rằng Chiến tranh Việt Nam đáng lẽ đã không trở thành một thảm họa như ta thấy nếu TT Kennedy không bị giết ?

-          Ông Miller (trả lời): Tôi không nghỉ rằng TT Kennedy sẽ chọn con đường leo thang ồ ạt như TT Johnson đã làm; tuy nhiên, tôi cũng không nghỉ rằng ông ta sẻ chọn rút quân tức khắc đâu. Tôi đoán rằng TT Kennedy sẽ chọn một loại giải pháp trung dung, và có thể sẽ hành động như TT Obama tại Afghanistan sau đó vào năm 2009. Dĩ nhiên, tại Afghanistan, TT Obama đã leo thang chiến tranh trong ngắn hạn, rồi sau đó là rút quân theo từng giai đoạn. Một khi thực hiện điều nầy, tôi có thể tưởng tượng được TT Kennedy sẽ tìm một giải pháp qua đàm phán, một loại dàn xếp như thế nào để cho phép điều gọi là trung lập hóa Nam Việt Nam. [5]

…[không] leo thang ồ ạt” và  “rút quân theo từng giai đoạn” ! Như vậy thì cái luận điểm của những người binh vực ông Diệm, nhất là những người Công giáo ở hải ngoại, rằng ông bị giết vì chống lại chính quyền Mỹ muốn đưa quân vào Việt Nam có còn đúng không ?
Câu hỏi đó dẫn tôi đến một bài viết của ông Đinh Từ Thức mà tôi muốn giới thiệu hôm nay.

*        *
*
Bài viết gồm 2 phần và có tên là “50 năm sau biến cố 1 tháng 11, 1963: xét lại nguyên nhân và hậu quả”. Bài được đăng trên Kho lưu trử của “Tạp chí Da Màu”:
-          http://damau.org/archives/29801 (Phần 1, đăng ngày 1-11-2013)
-          http://damau.org/archives/29843 (Phần 2, đăng ngày 4-11-2013)
(Bài viết rất dài nên tôi không in lại ở đây, xin độc giả cùng hai phe “lên án” cũng như “bênh vực” ông Diệm / chế độ Diệm chịu khó đọc hai phần của bài viết rất cần đọc nầy).

Đây là một bài viết công phu của một người thuộc phe bênh vực ông Diệm, với lập luận chặt chẻ và tài liệu khá cập nhật, vốn là một điều rất hiếm hoi khi so sánh với những bài viết của các ông viên chức Đệ nhất Cọng hòa cũ như Tôn Thất Thiện, Lâm Lễ Trinh, Cao Xuân Vỹ, Huỳnh Văn Lang, v.v…

■ Bài viết chủ yếu nhằm xét lại một cách rốt ráo chính biến 1-11-1963 vì, theo ông Đinh Từ Thức, “về nguyên nhân của cuộc đảo chánh, có một “huyền thoại” cần xét lại.”.
Và huyền thoại đó là [nhấn mạnh là của HNG]:
Trong suốt 50 năm qua, đã có rất nhiều người, nhiều đến nỗi không thể liệt kê hết ở đây, gồm cả những “bình luận gia”, “học giả” hay “sử gia”, hầu như ai cũng nói giống nhau, như một sự thật hiển nhiên, không cần dẫn chứng, Mỹ đảo chánh để có thể mang quân vào trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, vì ông Diệm chống lại việc này. Theo “huyền thoại” này, Mỹ phải lật ông Diệm như loại bỏ một chướng ngại vật, để có thể đổ quân vào VN. Đặc biệt là khẳng định này thông dụng trong dư luận người Việt, nhưng hầu như không được nhắc tới trong tài liệu và sách báo của Mỹ. Tôi chỉ được biết vài ba cuốn sách của Mỹ nói tới điều này, nhưng lại căn cứ từ sách báo Việt ngữ.

■ Rồi trong số “nhiều người đến nỗi không thể liệt kê”, ông đã chọn những người mà ông cho là chứng nhân có thẩm quyền để nói về vấn đề nầy là linh mục Cao Văn Luận, bác sĩ Trần Kim Tuyến, đại sứ Ngô Đình Luyện, đại tá Nguyễn Hữu Duệ; và về người ngoại quốc thì có bà Helen Hammer (tác giả của A Death in November) và một Linh mục Jesuit Mỹ không nêu tên …

Ông Đinh Từ Thức viết [nhấn mạnh là của HNG]:
Trong cuốn A Death in November (ADIN) xuất bản năm 1987, nói về cuộc đảo chánh năm 1963, bà Ellen J. Hammer viết nơi trang 121: “Một người Việt quen thuộc nói: ‘Mọi người gần gũi ông Ngô Đình Diệm đều biết rằng với ông, vấn đề chủ quyền của Việt Nam là tối quan trọng, không có vấn đề nhượng bộ chuyện này với viện trợ ngoại quốc.’” Và “Diệm nói trong riêng tư rằng người Mỹ đã từng đòi quyền thiết lập căn cứ không và hải quân tại Vịnh Cam Ranh hay Đà Nẵng, được điều hành bởi một cơ sở quân sự thường trực, và rằng họ đã tăng gia áp lực kể từ năm 1961. Vào tháng Bảy năm 1962, trong một cuộc kinh lý tại Vịnh Cam Ranh, ông đã chỉ một ngọn núi ở gần, nói với các cận vệ rằng, ‘Người Mỹ muốn lập một căn cứ ở đấy nhưng tôi sẽ không bao giờ chấp nhận điều đó.’ Cho đến tháng Tám 1963, ông đã nói với Đại Sứ Pháp rằng ông sẽ không bao giờ làm theo những đòi hỏi đó. Một số thành viên đảng Cần Lao của ông coi sự từ chối này là một trong những lý do chính cho việc lật đổ ông Diệm.”
Trong phần chú thích ở trang 336 về trang 121 có đoạn trích dẫn trên, bà Hammer cho biết bà đã căn cứ từ bài viết của Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, trên báo Hòa Bình, ngày 8 tháng 8, năm 1970.

Là Tổng Thư Ký tòa soạn báo Hòa Bình vào thời gian này, tôi biết về nguồn thông tin của bà Hammer. Bài báo bà cho là Bác Sĩ Tuyến viết, là loạt bài được mệnh danh “bút ký lịch sử” kéo dài nhiều tháng, mang tựa đề Làm thế nào để giết một tổng thống,” sau khi chấm dứt, đã được xuất bản thành sách ở Sài Gòn. Tôi là người đặt tựa cho loạt ký sự này. Khi bắt đầu đăng báo, Bộ Thông Tin không chịu, yêu cầu đục bỏ, một phần sợ gây “sốc” trong dư luận, phần khác do áp lực từ các tướng chủ chốt trong cuộc đảo chánh, sau khi bị Nguyễn Khánh cho đi an trí một thời gian, đã trở lại là những nhân vật có thế lực, như Nghị Sĩ Quốc Hội. Lúc ấy chế độ kiểm duyệt báo chí mới chấm dứt theo Luật 019/69, do Quốc Hội thông qua, và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ký ban hành ngày 30 tháng 12, 1969. Theo luật này, báo có quyền chỉ trích chính phủ, không bị kiểm duyệt, và chỉ có thể bị tịch thu theo lệnh của tòa án. Dựa vào luật mới, tòa soạn nhất quyết giữ y nguyên cả tên lẫn nội dung ký sự, không chịu đục bỏ hay thay đổi, với lập trường là nếu Bộ Thông Tin thấy nhà báo phạm luật, cứ việc truy tố ra toà. Ngày thứ hai, rồi ngày thứ ba liên tiếp, Bộ Thông Tin vẫn yêu cầu đục bỏ. Từ ngày thứ tư, Bộ để yên.

Tác giả ký sự là hai bút hiệu: Cao Vị Hoàng và Lương Khải Minh. Tuy hai bút hiệu, thực ra chỉ có một người viết, trong khi dư luận, kể cả bà Hammer, nghĩ rằng Lương Khải Minh là bút hiệu của Bác Sĩ Tuyến, nguyên giám đốc sở Nghiên cứu Chính trị Phủ Tổng Thống; ngôn ngữ bình dân gọi là “Trùm mật vụ”. Ông Tuyến không viết chữ nào trong ký sự này, nhưng có giúp một cách gián tiếp. Với uy tín thời Đệ Nhất Cộng Hòa, ông đã giới thiệu để người mang bút hiệu Cao Vị Hoàng [6] có thể tới phỏng vấn các nhân vật quan trọng của chế độ cũ. Lời kể của họ về anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Đệ Nhất Cộng Hòa được ghi lại là chất liệu cho nội dung ký sự, không được kiểm chứng về độ chính xác, nên khó có thể coi như sự thật lịch sử. Có thể nói Lương Khải Minh chỉ là “bút hiệu danh dự” dành cho ông Tuyến, cũng như chiếc ghế trống trong buổi lễ phát giải Nobel Hòa Bình năm 2010, được gọi là chiếc ghế của ông Lưu Hiểu Ba, nhưng ông này chưa bao giờ ngồi ở đó.
Khi cuốn sách của bà Hammer xuất bản ở Mỹ, qua câu chuyện điện thoại từ Mỹ với ông Tuyến ở Cambridge, Anh, tôi đã có dịp cho ông biết về sự sai lầm của tác giả, và hỏi ông có định lên tiếng đính chính không. Bác Sĩ Tuyến trả lời rằng ông không muốn lên tiếng, sợ nhà báo kéo tới phỏng vấn ầm ỹ, trong khi ông chỉ muốn sống ẩn dật. Tuy nhiên, ông Tuyến cũng nói khi nào tôi có dịp gặp bà Hammer, thì nhờ nói với bà ấy về chuyện sai lầm, để sửa lại khi sách có dịp tái bản.

Gần đây, Finding the Dragon Lady, một cuốn sách mới xuất bản vào tháng Chín 2013 nói về cuộc đời bí mật của bà Ngô Đình Nhu, tác giả là bà Monique Demery, đã trích một đoạn từ cuốn sách A Death in November,nhưng ngay cuốn ADIN lại trích từ hồi ký “Bên Dòng Lịch Sử” của Linh Mục Cao Văn Luận, trong đó Cha Luận kể lại cuộc gặp Tổng Thống Ngô đình Diệm tại Dinh Gia Long vào ngày 24 tháng 06, 1963. Cha Luận mới gặp nhiều chính khách quan trọng ở Mỹ, như Bộ Trưởng Tư Pháp Robert Kennedy, Nghị Sĩ Mike Mansfield trở về, khuyên ông Diệm nên nhượng bộ những đòi hỏi của Mỹ để tránh đảo chánh, nhưng ông Diệm không chịu, đáp:
- Nếu bây giờ chúng ta nhượng bộ một bước thì Mỹ sẽ lại đòi thêm, biết nhượng bộ đến bao giờ cho vừa lòng họ? Tôi muốn võ trang đầy đủ cho Bảo an, Dân vệ, thanh niên chiến đấu. Mỹ không chịu. Tôi muốn tăng cường quân đội, Mỹ từ chối không cấp vũ khí và phương tiện, Mỹ chỉ muốn đưa quân qua Việt Nam mà thôi.
Có lẽ Tổng Thống Diệm đã đề cập tới nội dung cuộc họp gữa phái đoàn Mỹ do tướng Taylor cầm đầu và ông Diệm vào mùa Thu năm 1961 (sẽ nói thêm sau này) trong đó ông Diệm có yêu cầu Mỹ tăng viện để tăng quân số, và Tướng Taylor đề nghị gửi một đạo quân Mỹ từ sáu đến tám ngàn người tới VN – dưới danh nghĩa cứu lụt, nếu cần – và ông Diệm đã đồng ý, nhưng ông Kennedy không chấp thuận.
Vào năm 2003, Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ, vốn là Thiếu Tá Tư Lệnh Phó kiêm Tham Mưu Trưởng Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống khi xẩy ra cuộc đảo chánh 1963, nhờ tôi biên tập bản thảo cuốn “Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm”. Ông Duệ viết sở dĩ Mỹ đảo chánh, vì ông Diệm không chịu cho Mỹ đem quân chiến đấu vào Việt Nam và lập căn cứ ở Vịnh Cam Ranh. Tôi hỏi ông Duệ đã căn cứ vào đâu để viết như vậy, ông trả lời “chuyện đó ai chả biết”. Tôi xin ông cố nhớ lại để có thể kể tên đích xác một vài người, sau giây lát suy nghĩ, ông nêu tên ông Trần Sử, bí thư của Tổng Thống Diệm, lúc ấy đã qua đời. Trong cuốn sách đã dẫn, khi xuất bản, ông Duệ viết trong phần nói về Đại Sứ Ngô Đình Luyện rằng ông Luyện đã kể với ông Duệ:
Trước cuộc đảo chính mấy tháng, có một linh mục thuộc Dòng Jesuit Hoa Kỳ đã bí mật sang Anh gặp ông Luyện, muốn ông báo cho ông Diệm biết là sớm muộn gì Mỹ cũng giúp cho cuộc đảo chánh lật ông Diệm. Khi ông Luyện hỏi có thể làm cách nào để tránh được không, vị Linh Mục này khuyên ông Diệm:
“Nên nhượng bộ chính phủ Hoa Kỳ, đồng ý tất cả những gì người Mỹ muốn qua Đại Sứ Hoa Kỳ. (Theo ông Luyện thì người Mỹ muốn Việt Nam nhường cảng Cam Ranh cho người Mỹ trong một thời gian, như Phi Luật Tân nhường cảng Subic, và để cho người Mỹ một thời gian vào Việt Nam)”.
Ông Luyện đã cấp tốc từ London về Sài Gòn gặp anh mình, Đại Tá Duệ kể tiếp:
“Tổng Thống Diệm nói sẽ nghiên cứu kỹ việc này và bảo ông Luyện sang gặp ông Nhu để bàn thêm. Ông Luyện gặp ông Nhu và ông Nhu có vẻ chú ý và cũng đồng ý nhưng ông lo rằng người Mỹ đòi mang quân vào và xử dụng Cam Ranh thì khó đựơc tổng thống chấp thuận. Ông cũng lo rằng nếu ngừơi Mỹ mang quân vào thì Nga và Tầu sẽ giúp miền Bắc nhiều hơn và có thể cũng đem quân vào nữa. Như vậy, Việt Nam sẽ là bãi chiến trường đẫm máu.”
Đó là tất cả những gì tôi được biết từ phía người Việt về chuyện người Mỹ muốn mang quân chiến đấu vào Việt Nam và muốn xử dụng cảng Cam Ranh, tất cả đều do những lời kể lại gián tiếp, không được chứng minh bằng tuyên bố hay văn kiện chính thức.
Sau đó, tác giả Đinh Từ Thức đã chịu khó “lặn lội” trong các ngõ ngách của bộ máy quyền lực của chính quyền Kennedy xem có dấu tích nào nhắc đến kế hoạch tăng quân và/hoặc thuê nhượng Cam Ranh không, nhưng ông đã không tìm ra được tài liệu nào. Ngược lại, ông lại tìm ra những sự kiện sau đây:
- Quyết định của chính quyền Mỹ ủng hộ cuộc chính biến 1-11-1963 khá phức tạp, không chỉ đến từ Tổng thống Kennedy mà thôi.
- Lý do họ ủng hộ cuộc chính biến không phải vì bị ông Diệm từ chối việc đổ quân Mỹ vào Nam Việt Nam mà vì cách cai trị thiếu dân chủ của ông Nhu [7].
- Sau vụ đổ bộ thất bại thê thảm ở Bay Of Pigs tại Cuba, và trước viễn ảnh của cuộc bầu cử Tổng thống sắp tới, ông Kennedy không muốn có những cuộc phiêu lưu chính trị tại nước ngoài nữa. Ông có ý định bỏ rơi miền Nam.
- Chính quyền Kennedy không có ý định đổ quân vào miền Nam (ngoài 16,000 “cố vấn” hiện hữu), lại càng không muốn chiếm đóng lâu dài như Cọng sản tuyên truyền. [8] 
Từ đó, ông đưa ra một nhận định chiến lược tất yếu [nhấn mạnh là của HNG]:
Sau đảo chính 1 tháng 11, 1963, phe chủ chiến Mỹ và phe chủ chiến Cộng Sản Bắc Việt đã gặp nhau ở một điểm: Cả hai bên đều muốn Mỹ trực tiếp tham chiến ở VN; Mỹ muốn sớm chiến thắng bằng quân sự, Bắc Việt muốn Nam VN mất chính nghĩa để cũng sớm chiến thắng bằng quân sự. Vụ Maddox ở Vịnh BV là hành động khiêu khích của cả hai bên.
Bộ Quốc Phòng và các tướng lãnh Mỹ chống lại, hoặc ít nhất không đồng ý đảo chánh, vì vào trước cuộc đảo chánh, tuy tình hình chính trị suy sụp, nhưng tình hình quân sự tương đối còn tốt đẹp. [9]
Ngược lại, nhóm người tích cực thúc đẩy đảo chánh thuộc Bộ Ngoại Giao, tất cả đều chống lại việc đem quân chiến đấu vào Việt Nam.
Do đó, Việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam không phải là nguyên nhân, mà là hậu quả của cuộc đảo chánh 1-11, 1963.
Và để kết bài, ông Đinh Từ Thức khuyên phe “bênh vực” ông Diệm rằng [nhấn mạnh là của HNG]:
Những người yêu mến ông không cần hun đúc tình cảm của mình dựa trên một huyền thoại, là ông đã hy sinh chỉ vì chống lại chủ tâm của Mỹ đưa quân chiến đấu vào Việt Nam. Chính nghĩa chỉ tồn tại khi dựa trên sự thật. Chính nghĩa dựa trên huyền thoại, cũng chỉ là huyền thoại
*        *
*
Dù xét toàn bộ, ông Đinh Từ Thức và tôi không đồng ý với nhau về đánh giá “công và tội” của gia đình ông Diệm (tôi nhấn mạnh chử “gia đình”) cũng như của chế độ Đệ nhất Cọng hòa trong bối cảnh lịch sử của nước ta, nhưng tôi lại tâm đắc với thái độ lương thiện và can đảm của ông trong lời kết nhắn nhủ những “đồng chí” của ông ở trên. Chỉ xin được thay chử “huyền thoại” bằng “sự dối trá”: Chính nghĩa mà dựa trên sự dối trá, thì cái gọi là chính nghĩa đó cũng chỉ là sự dối trá.


Và tôi chỉ xin ghi lại một số suy nghỉ để kết bài:

1-      Đây là lần đầu tiên tôi được biết một trí thức Công giáo, một người pro-Diệm, chấp nhận rằng nguyên nhân của chính biến 1/11/63 không phải là vì "huyền thoại" TT Diệm chống Mỹ gửi thêm quân. Thái độ chấp nhận nầy thật là hiếm và thật là chậm, nhưng chậm và hiếm còn hơn không !

2-      Đây cũng là lần đầu tiên trong lãnh vực nghiên cứu về chủ đề Ngô Đình Diệm mà tôi được biết một trí thức Công giáo “lật tẩy” lời nói láo của các trí thức Công giáo nổi tiếng khác như Cao Văn Luận, Cao Xuân Vỹ, Cao Thế Dung, ... và một cách gián tiếp, như một hệ luận, điểm mặt luôn những người Công giáo khác đã từng khai thác lời nói láo nầy như Lâm Lễ Trinh, Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Hữu Duệ, Tú Gàn Lữ Giang, Huỳnh Văn Lang, ... và vô số âm binh lãi nhải điệp khúc “ông Diệm bảo vệ quyền tự quyết quốc gia nên bị Mỹ giết” trên các diễn đàn Internet.

3-      Quan trọng hơn cả, bài viết nầy của ông Đinh Từ Thức đã chứng minh một cách đầy thuyết phục rằng ông Diệm không chống việc Mỹ đem thêm quân mà còn xin thêm quân Mỹ. Nghĩa là cuộc chính biến 1-11-1963 không vì lý do người Mỹ muốn đưa thêm quân. Vậy thì lý do gì đã làm cho người Mỹ ủng hộ cuộc chính biến nầy?
Tài liệu trong bài của ông Đinh Từ Thức cũng như trong rất nhiều tài liệu khác cho thấy consensus của chính khách Mỹ năm 1963 là chính phủ ông Diệm bất lực, không thể thắng Cọng Sản như họ muốn dù đã được yểm trợ nhân lực, vật lực nhiều như vậy trong một thời gian lâu như vậy. Bản phúc trình của Thượng nghị sĩ Mike Mansfield sau chuyến viếng thăm để tìm hiểu và đánh giá tình hình Việt Nam đầu năm 1963 chính là lời ai điếu báo hiệu ngày tàn của chế độ Ngô Đình Diệm. Bản phúc trình đó chỉ rõ hai điểm quan trọng: chế độ ông Diệm không thắng trên chiến trường VÀ không có khả năng thu phục được lòng quân dân miền Nam. Từ đó, vị Thượng Nghị sĩ Dân Chủ đã từng ủng hộ ông Diệm từ ngày đầu, khi ông Diệm mới chỉ là một chính khách vô danh tiểu tốt "lê gót" ở Washington, đã đặt một câu hỏi cốt lõi: “Chúng ta có thể thắng Cọng sản với Diệm không?

4-     Nhưng theo tôi, hậu quả chính trị của câu hỏi đó cũng chưa phải là “nguyên nhân” nếu ông Đinh Từ Thức thật sự muốn “xét lại” sau 50 năm. Tại vì giản lược hóa chỉ còn một nguyên nhân cho một biến cố phức tạp và to lớn như chính biến 1-11-1963 thì hoặc là không hợp lý hoặc là không lương thiện. Trước hết, và nỗi cộm hơn cả, là tinh thần cai trị quốc gia phi dân tộc và phản dân chủ của anh em gia đình ông Diệm. Đó phải là nguyên nhân chính. Các nguyên nhân khác như áp lực của đồng minh Mỹ, phá hoại của đối thủ Cọng sản, chống đối của các lực lượng quốc gia khác, hay uất ức của quân đội khiến họ đã hai lần phản ứng bằng võ lực… chỉ là những nguyên nhân to hay nhỏ, vần vũ chung quanh một nguyên nhân trục: Trong khung cảnh hoàng hôn của phong trào giải thực và dưới gọng kềm của cuộc chiến tranh lạnh, miền Nam Việt Nam đã bất hạnh bị cai trị bởi một gia đình có bản chất phong kiến độc tài nặng tính Ky tô giáo Trung cổ. Đó là một nguyên nhân văn hóa, nên có nhiều khả thể đúng là nguyên nhân chính.

Hoàng Nam Giao
22-11-2013


CƯỚC CHÚ:


[2] Ông Edward Miller là Phó Giáo sư khoa Sử tại Đại học Dartmouth College. Ông cũng là tác giả của cuốn “Misalliance: Ngo Dinh Diem, the United States, and the Fate of South Vietnam”, Harvard University Press, 5/2013. Người phỏng vấn là ông Robin Young của chương trình Here & Now thuộc đài phát thanh WBUR trong hệ thống NPR (National Public Radio), Boston.


[4] Được giới thiệu trên BBC-Việt Ngữ: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/11/131104_kennedy_ung_ho_lat_diem.shtml  Cậ̣p nhật: 02:27 GMT - thứ hai, 4 tháng 11, 2013

[5] YOUNG: But what about the school of thought that the Vietnam War wouldn't have turned into the calamity it did if Kennedy hadn't been killed? Your thoughts on that.
MILLER: I don't think that he would have taken the path of massive escalation that Johnson did; however, I don't think he would have opted for an immediate withdrawal either. I suspect that Kennedy would have chosen some kind of middle course, and I think that he might well have done something not unlike what Barack Obama would later do in Afghanistan in 2009.In Afghanistan, of course, Obama chose short-term escalation, followed by a phased withdrawal of U.S. troops. Having done this, I can also imagine Kennedy trying to seek some kind negotiated deal, some sort of settlement that would have allowed for the so-called neutralization of South Vietnam.

[6] Chú thích của HNG: Sau 1975, tại hải ngoại, rất nhiều người biết Cao Vị Hoàng là bút hiệu của ông Cao Thế Dung, một nhân viên cũ của bác sĩ Tuyến và cũng là một người gây rất nhiều tranh cải trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Ông cũng là người “nặn” ra một Đại úy Mỹ CIA tên là James Scott (trong tác phẩm Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống?) mà ông khẳng định chính là người ném bom tại Đài Phát thanh Huế đêm 8-5-1963, mở đầu cuộc đấu tranh của Phật giáo. Và dĩ nhiên, bà Ellen Hammer lại nhắc đến sự kiện “đại úy Scott” nầy trong tác phẩm A Death in November như một sự kiện lịch sử … có thật !. [Trần Lâm, Làm thế nào để dựng đứng một nhân vật lịch sử, @Talawas]

[7] Chú thích của HNG: Điều nầy hoàn toàn phù hợp với rất nhiều công điện và tờ trình của Bộ Ngoại Giao Mỹ trong năm 1963, khi ông Nhu bắt đầu tiếm quyền lãnh đạo của ông Diệm và có những biểu hiện tâm thần bất bình thường. [Foreign Relations of the United States, FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 256 và FRUS 1961-1963, Vol IV, Doc.110 ]

[8] Chú thích của HNG: Ngược lại là khác, đã có lúc TT Kennedy đồng ý lập kế hoạch để rút 1,000 “cố vấn” ra khỏi miền Nam Việt Nam trong khuôn khổ triệt thoái toàn bộ lực lượng võ trang Mỹ. [Ngô Đắc Triết, Tổng thống Ngô Đình Diệm và Quân đội Mỹ, 11/2002, http://www.sachhiem.net/LICHSU/N/NgoDacTriet.php]

[9] Chú thích của HNG: Tác giả Đinh Từ Thức dùng cụm từ “nhưng tình hình quân sự tương đối còn tốt đẹp” là để vớt vát chút nào cho chế độ ông Diệm thôi. Thật ra, ngay từ năm 1961, trong lúc nền kinh tế quốc gia vẫn còn phụ thuộc nặng nề vào kinh viện Mỹ [Bernard C. Nalty, Rival Ideologies in Divided Nations (Vietnam War), tr. 62; và Frances Fitzgerald, Fire in the Lake, tr. 101-104] thì tình hình an ninh hầu như bị suy sụp một cách đáng quan ngại, nhất là ở nông thôn, nơi Việt Cọng kiểm soát 80% [Robert Scigliano, Vietnam, A Country At War] đến nỗi ngày 10-10-1961, ông Diệm phải ban bố “tình trạng khẩn cấp trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. [Sắc lệnh số 209-TTP của Tổng Thống Phủ - Đoàn Thêm, Những ngày Chưa quên” Đại Nam, 1967 – Nam Chi Tùng Thư tái bản]  Và hai tháng sau, ngày 7-12-1961, ông Diệm đã gửi thư cho Tổng thống Kennedy xin tăng thêm viện trợ vì “Việt Nam Cọng Hòa đang phải đối đầu với một thảm họa lớn nhất trong lịch sử” [Marvin E, Gettlemen, Vietnam History, Documents and Opinionsm và Đoàn Thêm, Những ngày Chưa quên” Đại Nam, 1967 – Nam Chi Tùng Thư tái bản].





Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013


LÀM THẾ NÀO ĐỂ DỰNG ĐỨNG
MỘT NHÂN VẬT LỊCH SỬ ?
SƠN - SẾN – SAWYER - SỬ… VÀ SCOTT 

Trần Lâm
Sau khi được cụ Đinh Từ Thức trả lời câu hỏi liên quan đến một biến cố quan trọng trong lịch sử miền Nam Việt Nam, tôi lại được đọc trên diễn đàn talawas bài “Sơn – Sến – Sawyer – Sử“, một bài bàn luận về cách (không nên) viết sử do Nguyễn Hoàng Văn ở Sydney chấp bút. Câu trả lời của cụ Thức đã giúp tôi có thêm dữ kiện để nhận ra rằng tựa đề của bài này còn thiếu ít nhất là một tên: Scott. Scott đây tất nhiên là đại uý Scott, người mà theo Cao Thế Dung chính là hung thủ gây ra vụ đổ máu tại đài phát thanh Huế vào tháng 5 năm 1963.

Câu chuyện về đại uý Scott đã được ông Dung kể lại lần đầu tiên trên một tờ báo phát hành ở miền Nam trước tháng 4 năm 1975. Bây giờ bạn đọc có thể đọc chuyện này từ trang 326 đến trang 330 trong thiên bút ký lịch sử Làm thế nào để giết một Tổng thống? do Cơ sở Văn hóa Đông Phương tái bản tại Hoa Kỳ năm 1988. Theo ông Dung thì việc Scott đặt chất nổ ở Huế được chính đương sự kể lại cho đại uý Bửu nghe. Ngoài lời kể đó ra, ông Dung không cung cấp bằng chứng nào khác. Chỉ có bao nhiêu đó thôi cũng đủ làm cho chúng ta nghi ngờ sự khả tín của câu chuyện này. Tuy nhiên, sự khả tín của nó có thể sẽ rơi xuống dưới mức zero nếu chúng ta biết rằng ông Dung là người có trí tưởng tượng rất phong phú. Các bạn chỉ cần đọc những gì ông ta đã khai trước Tòa Thượng thẩm hạt Santa Clara, Bắc California năm 1994, để biết được ông ta có óc tưởng tượng phong phú đến cỡ nào và từ đó lượng định mức khả tín của ông ta cao hay thấp đến bao nhiêu. Bạn nào hiếu kỳ thì có thể đọc lời khai này từ trang 133 đến trang 135 trong cuốn Một ngày có 26 giờ của Nguyễn Vũ Vũ Ngự Chiêu, người có mặt trong Toà cùng một lúc với ông Dung.

Có lẽ câu chuyện hoang tưởng về đại uý Scott hợp với khẩu vị chính trị của một thành phần nào đó trong xã hội miền Nam trước tháng Tư 1975 và tại hải ngoại sau đó, nên nó đã tạo được một ảnh hưởng rất sâu đậm ngay cả với những người có học vấn tương đối cao hay rất cao. Đại uý Scott không những đã xuất hiện nơi trang 24 của một assignment paper do một sinh viên gốc Việt tại một đại học Hoa Kỳ viết, mà còn được một nhà khoa bảng và trí thức hàng đầu của miền Nam Việt Nam đối đãi như một nhân vật lịch sử. Trong một loạt bài được đăng trên trang nhà của nhóm Thông Luận năm 2007, loạt bài mà nhóm này “trân trọng gửi đến bạn đọc… như những chứng tích hiếm hoi còn lại do một người chứng đương thời của một thời kì trăm hoa đua nở đã thực sự có mặt trên phần đất nước bị chia cắt,” Giáo sư Nguyễn Văn Trung đã hạ bút chép: “Vụ nổ plastic ở đài phát thanh Huế, do đại uý cố vấn đơn vị Biệt động Quân tên là Scott, xác nhận thừa lệnh trên trao cho trung uý Thiều, thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh ở Huế ném vào đám đông.”

Trong giới nghiên cứu Mỹ thì đại uý Scott đã được ít nhất là hai học giả có cảm tình với cố Tổng thống Ngô Đình Diệm đưa vào những trang sử do họ viết. Năm 1987, Ellen Hammer còn e dè thú thật rằng bà không thể chứng minh hay phủ nhận sự khả tín của câu chuyện về viên đại uý này, nhưng đến năm 2001 thì Arthur Dommen có vẻ không còn bận tâm với những chuyện lẻ tẻ như vậy nữa. Trong một cuốn sử dày gần 1200 trang do Indiana University Press xuất bản, ông dường như đã chấp nhận rằng Scott đích thực là thủ phạm đặt chất nổ giết người tại đài phát thanh Huế vào đêm ngày 8 tháng 5 năm 1963. “Lịch sử… chính là một cô ả bán trôn bởi nếu có quyền hay có tiền trong tay là người ta có thể sở hữu cái… trôn của cô ả được.” Đây là định nghĩa mà Nguyễn Hoàng Văn đã mượn của một sử gia Trung Hoa. Không biết nó có thể được áp dụng vào việc chép sử về đại uý Scott hay không. Dù sao đi nữa, chỉ trong vòng ba mươi năm mà viên sĩ quan người Mỹ này đã có thể vượt qua một đoạn đường dài, bỏ lại sau lưng trang báo Việt ngữ, nơi chôn nhau cắt rún của ông, để bước vào một công trình nghiên cứu nguy nga đồ sộ, đầy hàn lâm tính, được nhà xuất bản của một đại học có tầm vóc tại Hoa Kỳ đưa đến tay bạn đọc!

Nguyễn Hoàng Văn viết: “Cái khó là khi đối diện với những vấn đề của lịch sử chúng ta hiếm khi đối diện với một cái nhìn công bằng, ngay thẳng và không tránh né… Chúng ta vẫn ngây ngô ngờ ngệch trước ‘bảy chữ tám nghề’ của mấy ả điếm lịch sử.” Trường hợp của đại uý Scott cho thấy việc ngụy tạo lịch sử không phải là việc thuộc độc quyền của người cộng sản. Bởi vậy khi đăng đàn thuyết giảng về phương pháp viết sử, một vị pháp sư không nên chỉ triệu những cô hồn quen thuộc, mà người Tây phương thường gọi là the usual suspects, như Dương Vân Nga, Trần Dân Tiên hay Lê Văn Tám đến đàn tràng để nghe “thuyết pháp.” Với một bảng phong thần đơn điệu và một chiều như vậy tôi e rằng thính giả sẽ nghĩ vị pháp sư này chưa cao tay ấn.

Cách đây hai mươi năm về trước, Tạ Chí Đại Trường đã chê việc ông Viện trưởng Viện Sử học ở Hà Nội đem cái tên Vân Nga đẹp đẽ của tuồng cải lương gán cho bà Dương Thái Hậu của thế kỷ X. Ông chê việc làm này trong khi còn sống dưới một chế độ toàn trị, thiếu thông tin, thiếu tự do tư tưởng, nơi mà “học giả” ăn lương nhà nước thường mượn thế lực chính trị để bịt miệng đối thủ của mình. Thế nên lời nói của ông vào lúc đó mới có giá trị khai phá, phản ảnh khả năng chuyên môn và, quan trọng hơn, cái khí phách ngang tàng được thừa hưởng từ các sử quan thời Xuân Thu Chiến Quốc. Đó có lẽ là lý do tại sao sách do ông viết được người trong nước chuyền tay nhau để ngấu nghiến đọc. Sự đón tiếp nồng nhiệt mà độc giả tại quốc nội đã dành cho tác phẩm của vị sử gia bị vô sản hóa này cho thấy một tập đoàn toàn trị như chế độ cộng sản chưa phải là một mối nguy đe dọa khả năng tiếp cận lịch sử của quần chúng Việt Nam. Sau bao năm sống dưới chế độ này, họ rõ ràng còn có dư sức để phân biệt được thế nào là chính sử và thế nào là ngụy sử. Cho nên, mối nguy đáng sợ hơn CSVN có lẽ chính là thái độ thờ ơ, thiếu cảnh giác của chúng ta đối với việc dựng đứng một nhân vật lịch sử trong một xã hội tự do hay tương đối tự do. Nếu chúng ta không coi chừng thì một ngày nào đó đa số người Việt có thể sẽ tin rằng phong trào Phật giáo 1963 thật ra chỉ là một biến động do Mỹ giựt dây, với đại uý Scott trong vai trò người châm ngòi nổ.

 
và Bác sĩ TrẦn Kim TuyẾn

Trần Lâm

 

Vụ đổ máu tại Đài Phát thanh Huế trong đêm ngày 8 tháng 5 năm 1963 là một biến cố quan trọng trong lịch sử miền Nam Việt Nam. Nếu chúng ta không tìm hiểu biến cố này một cách tường tận thì chúng ta khó có thể đánh giá một cách chính xác phong trào Phật giáo đấu tranh nổi lên sau đó. Căn cứ vào sự lưu tâm mà các độc giả đã dành cho bài Làm thế nào để dựng đứng một nhân vật lịch sử? (1) – Sơn – Sến – Sawyer – Sử …và Scott” do tôi viết, tôi thấy vẫn còn có người chưa muốn hoặc chưa có thể chấp nhận rằng đại uý Scott là sản phẩm của trí tưởng tượng rất phong phú của Cao Thế Dung. Vì nghĩ rằng ngày nào còn có người tin rằng viên sĩ quan người Mỹ này là hung thủ gây ra vụ đổ máu nói trên, thì ngày ấy chúng ta chưa có thể đối diện những vấn nạn của lịch sử Việt Nam Cộng hoà “với một cái nhìn công bằng, ngay thẳng và không tránh né,” nên tôi quyết định viết một bài thứ hai về nhân vật này để giải đáp một cách thấu đáo những nghi vấn cuối cùng mà hình như một số độc giả đang dựa vào để khỏi phải công nhận rằng đại uý Scott chỉ là một nhân vật được dựng nên.

■ Bác sĩ Trần Kim Tuyến

Câu chuyện về đại uý Scott được kể lại lần đầu tiên trên một tờ báo phát hành ở miền Nam trước tháng Tư năm 1975. “Bởi là người sinh sau đẻ muộn tại một thị xã hẻo lánh cách các trung tâm văn hóa như Sài Gòn hay Huế rất xa,” nên tôi chưa bao giờ được đọc tờ báo này. Nhưng căn cứ vào thông tin do cụ Đinh Từ Thức và cố học giả Ellen Hammer cung cấp, tôi có thể kết luận độc giả miền Nam đã làm quen với đại uý Scott lần đầu tiên qua một loạt bài được đăng trên báo Hòa Bình. Chính cụ Thức là người đặt cho loạt bài này cái tên “Làm thế nào để giết một Tổng thống?” quen thuộc với chúng ta hôm nay. “[S]au khi loạt bài đăng báo chấm dứt, tác giả cho in thành sách, vẫn dùng tên cũ.” Như đã nói trong bài trước, thiên bút ký lịch sử này được Cơ sở Văn hóa Đông Phương tái bản lần thứ ba tại Hoa Kỳ năm 1988 và bạn đọc bây giờ có thể theo dõi những cuộc phiêu lưu của đại uý Scott trên chiến trường Việt Nam từ trang 326 đến trang 331 trong sách đó.

 
 

Tuy trên bìa sách lúc nào cũng ghi Cao Thế Dung và Lương Khải Minh, tức BS Trần Kim Tuyến, là tác giả, nhưng lúc tôi hỏi cụ Thức về đại uý Scott thì cụ chỉ nhắc đến ông Dung mà thôi. Cụ viết: Tôi đặt tên cho bút ký ‘Làm thế nào để giết một Tổng thống’ trước khi lọat bài này được đăng báo. Tác giả viết tới đâu, đăng tới đó. Khi đặt tên, tôi không được biết Scott là ai. Đến khi đọc thấy nói Scott là người đặt chất nổ, tôi hỏi tác giả, thì ông CTD xác nhận chuyện đó là thật, và hứa hôm nào sẽ đưa Scott lại tòa báo giới thiệu.” Chính ông Dung cũng viết ở trang 606 của cuốn sách nói trên rằng BS Tuyến chỉ là người cung cấp tài liệu, còn ông mới thật sự là người chấp bút.

Có ít nhất là một độc giả trên diễn đàn Talawas, độc giả Binh, đã vin vào vai trò đồng tác giả của BS Tuyến trên bìa sách để phủ nhận tính chất hoang tưởng của câu chuyện về đại uý Scott. Ông (hay bà) Binh biện bạch: “[C]ùng viết chung với ông CTD là tác giả Lương Khải Minh. Ông này là ai? … Theo tôi biết thì Lương Khải Minh là bút danh của BS Trần Kim Tuyến, nhân vật có quyền uy rất lớn trong chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm, thành lập cơ sở ‘tình báo’ của chế độ. BS Tuyến biết gì về Scott? Như vậy, vụ Scott không thể bác bỏ một cách ‘cảm tính’ … được.”

Điều đáng nói ở đây là việc chính BS Tuyến đã phủ nhận vai trò người cung cấp tài liệu hoặc đồng tác giả mà Cao Thế Dung đã cố gắng gán cho ông. Sự phủ nhận này được Vũ Khánh Thành ghi lại trong một bài viết về BS Tuyến đăng trên trang Việt ngữ của đài BBC ngày 18 tháng 9 năm 2007. Vũ Khánh Thành: “Tôi chỉ quen Bác sĩ Tuyến từ năm 1980 do Cha Gastine (tên Việt là Bùi Đức Tín), nguyên Giám đốc Đại Chủng viện Xuân Bích Vĩnh Long, thầy dạy của tôi và tôi đã quen ngài trước đó. Cha Gastine thấy tôi được tầu Anh vớt, được ở bên Anh và tôi đang làm cho chương trình định cư của Bộ Nội vụ Anh đưa 25 ngàn người Việt từ Hồng Kông qua định cư ở Anh Quốc nên ngài giới thiệu Bác sĩ Tuyến cho tôi vì Bác sĩ Tuyến cũng học Đại Chủng viện Xuân Bích Hà Nội trước năm 1954 và là học trò của ngài.”

Ông Thành cho biết ông có hỏi BS Tuyến nhiều về thiên bút ký lịch sử nói trên và đã được BS Tuyến chia sẻ cảm nghĩ của ông về cuốn sách này. “Bác sĩ Tuyến có nói, Cao Thế Dung có gặp tôi đề nghị viết chung hay cho tài liệu để viết về cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm do phe đảo chính của Dương Văn Minh, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính, Đỗ Mậu… chủ mưu với sự cộng tác của Hoa Kỳ. Bác Sĩ Tuyến nói, viết sách làm chi…” Và BS Tuyến kết luận: “Cao Thế Dung viết lăng nhăng, có nhắc đến tôi trong sách, tôi rất bực nhưng cũng chẳng làm ầm lên làm gì.”

BS Tuyến bây giờ đã là người thiên cổ, nên không thể xác nhận (hay phủ nhận) được những gì Vũ Khánh Thành viết về mình, mặc dù chúng ta hiện giờ không có lý do cụ thể nào để hoài nghi sự xác tín của những gì ông Thành đã viết. Tuy nhiên, để nói cho hết lý, chúng ta hãy thử giả định rằng BS Tuyến quả thật là người cung cấp tài liệu để cho Cao Thế Dung viết sách. Trong trường hợp đó, chúng ta có được phép tin những điều mà BS Tuyến có thể đã nói với ông Dung về việc Scott đặt chất nổ giết người tại Đài Phát thanh Huế hay không?

Muốn tìm được câu trả lời, chúng ta trước tiên phải biết rằng vào năm 1963 BS Tuyến đã bị thất sủng. William Colby, một chuyên viên tình báo cao cấp hoạt động lâu năm tại miền Nam Việt Nam, có kể lại ở trang 150 trong tập hồi ký Lost Victory rằng sau khi phong trào Phật giáo đấu tranh dấy lên, BS Tuyến cùng một số người khác mưu tính thay thế Tổng thống Diệm, vì họ kết luận ông Diệm đã đánh mất sứ mệnh mà người Mỹ trao cho ông. Còn cố học giả Hammer thì viết nơi trang 249 của cuốn A Death in November rằng BS Tuyến cùng với đại tá Phạm Ngọc Thảo, Tổng Thanh tra Chương trình Ấp Chiến lược, và đại tá Đỗ Mậu, Giám đốc Nha An ninh Quân đội, âm mưu lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Một số tài liệu CIA được giải mật (và được lưu trữ tại trang nhà www.cia.gov) cũng xác nhận những hoạt động chống chế độ của BS Tuyến mà Colby và Hammer đã cho chúng ta biết trong sách của họ. Tuy nhiên đến năm 1971 thì BS Tuyến, theo bà Hammer trong trang sách nói trên, lại viết một loạt bài đăng trên báo để biện bạch cho chế độ Ngô Đình Diệm và để thanh minh thanh nga cho vai trò mờ ám của chính mình trong năm 1963…

Chính vì những lý do vừa được nêu ra, nên ngay trong trường hợp chúng ta tạm chấp nhận giả thuyết BS Tuyến là người đã cung cấp tài liệu về đại uý Scott cho Cao Thể Dung, chúng ta vẫn phải nhận định rằng dù cho việc đó có thật sự xảy ra đi nữa thì BS Tuyến rỏ ràng cũng không phải là một nguồn tài liệu vô tư và khả tín. Căn cứ vào sự phân tích này, tôi kết luận chúng ta phải loại yếu tố Trần Kim Tuyến ra khỏi việc thẩm định tính khả tín của câu chuyện về đại uý Scott. Chúng ta chỉ cần phải lưu ý đến ông khi có người chứng minh được rằng:  a. BS Tuyến thật sự là người đã cung cấp tài liệu cho Cao Thế Dung và b. ông ta là một người hoàn toàn vô tư khi làm việc đó.

 
■ Tiến sĩ Cao Thế Dung

Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh.
Nguyễn Du

Khi tôi bác bỏ câu chuyện về đại uý Scott như một chuyện không đáng tin, vì Cao Thế Dung, người kể lại nó, là một người có trí tưởng tượng rất phong phú, thì độc giả Binh nói trên có bảo rằng tôi chỉ căn cứ vào sự phỏng đoán của tôi để đưa ra lời phản bác đó. Nhưng thật sự thì sức tưởng tượng vô cùng dồi dào của ông Dung là một sự kiện không ai có thể chối cãi được.

Sau khi sang Hoa Kỳ, ông Dung thường tuyên bố ông đã đậu bằng tiến sĩ tại Đại học Georgetown hay Columbia vào năm 1980 hoặc 1981, với một luận án mang tên là “The role of the Chinese merchants in Vietnam’s rice market 1865-1965.” Có lẽ để thanh toán một mối ân oán giang hồ nào đó, nên Cửu Long Lê Trọng Văn đã bỏ ra công sức và thời gian để điều tra lời tuyên bố nói trên của Vị Hoàng Cao Thế Dung. Kết quả của cuộc điều tra này được ông Văn công bố trong cuốn Lột mặt nạ những con thò lò chính trị, do Mẹ Việt Nam xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1991. Ông Văn cho biết ông đã viết thư cho Đại học Georgetown và Đại học Columbia để hỏi về mảnh bằng PhD của ông Dung, nhưng Georgetown không trả lời, còn Columbia thì cho biết ông Dung không có tên trong hệ thống computer của họ. Theo lời chỉ dẫn của một ông tiến sĩ thứ thiệt, Lê Trọng Văn sau đó ra thư viện tìm bộ DISSERTATION ABSTRACTS INTERNATIONAL của năm 1980 và 1981 để tham khảo, vì “trong đó có ghi tất cả danh sách những người đỗ tiến sĩ tất cả mọi ngành cùng với tên luận án, tên trường đại học trên toàn thế giới tự do.” Tuy tìm đi kiếm lại rất kỹ lưỡng, nhưng cuối cùng vẫn không thấy tên Cao Thế Dung đâu, cả nơi vần C lẫn vần D trong mấy quyển sách đồ sộ đó. Như thế thì Lê Trọng Văn đã mở đường cho độc giả kết luận rằng cái mà ông gọi là “văn bằng tiến sĩ lúa gạo” của Cao Thế Dung thật sự chỉ hiện hữu trong óc tưởng tượng rất phong phú của ông này mà thôi.

Cuốn sách của Lê Trọng Văn có thể là yếu tố khiến Cao Thế Dung phải tưởng tượng một câu chuyện ly kỳ hơn, khi ông bị trát đòi ra hầu toà tại Toà Thượng thẩm hạt Santa Clara, Bắc California năm 1994. Theo lời tường thuật của Nguyên Vũ Vũ Ngự Chiêu, người có mặt trong toà cùng một lúc với Cao Thế Dung, thì ông Dung đã khai trước toà rằng sau khi tốt nghiệp bằng cử nhân Việt Hán tại Đại học Văn khoa Sài Gòn năm 1967, ông “tiếp tục ghi danh học hàm thụ chương trình Tiến sĩ của trường Ecole Universelle de Paris, và năm 1974 thì tốt nghiệp. Nhận bằng xong, ông mang ra mồ bà mẹ nuôi, đốt đi cúng mẹ, vì bà không những đã nuôi dưỡng Cao Thế Dung từ nhỏ mà còn khuyến khích họ Cao kiếm cho được mảnh bằng Tiến sĩ.”

Câu chuyện đốt bằng trước mộ mẹ nuôi này đã có một tác dụng khả đoán nơi người nghe. Nguyên Vũ Vũ Ngự Chiêu kể tiếp: “Lời khai của Cao Thế Dung khiến không khí phiên tòa sôi động hẳn lên, phá vỡ bầu không khí nặng nề suốt 8 ngày qua. Thẩm phán Biafore cũng phải bật cười, nhưng cố tạo vẻ nghiêm chỉnh trở lại. Bồi thẩm đoàn che miệng cười – và, sau khi xuống phòng nghỉ giải lao – còn mang theo tiếng cười ròn rã trở lại phòng xử. ... Tôi cũng cười chảy nước mắt, xen lẫn trong những cơn ho vì chớm cảm lạnh.”

Như có nói trong bài trước, tác phẩm ứng khẩu độc đáo mà Vị Hoàng Cao Thế Dung trình làng tại Toà Thượng thẩm hạt Santa Clara năm 1994 đã được Nguyên Vũ Vũ Ngự Chiêu ghi lại từ trang 133 đến trang 135 trong cuốn Một ngày có 26 giờ, do Văn Hoá xuất bản tại Houston năm 1995. Chính quyển bút ký này và cuốn Lột mặt nạ những con thò lò chính trị của Cửu Long Lê Trọng Văn đã dọn sân cho tôi khẳng định đại úy Scott chỉ là một nhân vật do ông Dung dựng nên. Làm sao chúng ta có thể tin rằng viên sĩ quan bí ẩn này là một nhân vật có thật, khi hành trạng của ông ta chỉ được kể lại bởi một người giàu trí tưởng tượng như Cao Thế Dung? Xin nhắc lại, ngoài lời tường thuật của Cao Thế Dung, chúng ta không có bất cứ dấu hiệu cụ thể nào khác về việc đại úy Scott đặt chất nổ giết người tại Đài Phát thanh Huế.

Tại sao lại vẫn còn có người tin một câu chuyện hoang đường như thế này vào đầu thế kỷ thứ 21? Có thể vì nó phù hợp với khẩu vị của một số đông người đang cố bám vào quan niệm cho rằng phong trào Phật giáo 1963 vốn chỉ là một biến động chính trị do Mỹ giựt dây chứ không phải là một vận động xã hội bộc phát từ những lý do chính đáng. Có lẽ vì không tìm được bằng chứng thuyết phục, nên có người đã đành phải dựng nên bằng chứng để làm nền tảng cho sử quan của mình. Và đại úy Scott hình như đã trở thành một nhân vật không thể thiếu trong việc đó. Cựu chính trị gia Nguyễn Trân, tác giả tập hồi ký Công và Tội mà cụ Trần Văn Tích nhắc đến khi cụ cho ý kiến về bài viết trước của tôi, là một ví dụ điển hình khác cho phương pháp thu thập bằng chứng lịch sử theo kiểu Cao Thế Dung.

Ông Trân chép từ trang 415 đến trang 416 của tập hồi ký này rằng những gì mà Cao Thế Dung đã viết về đại uý Scott trong cuốn Làm thế nào để giết một Tổng thống? đều “đúng với tin mà chính tôi, tác giả, đã đọc trong một tập san Mỹ vào tháng 6 hay 7 năm 1975, tại nhà con gái tôi ở Arcadia sau khi gia đình tôi di tản đến ở đó. Người ký tên dưới cột báo ấy là James Scott, tự nhận đã ném plastic làm chết người trước Đài Phát thanh Huế trong đêm 8-5-1963.” Khổ nỗi là Nguyễn Trân không còn có thể cho chúng ta biết ông đã đọc bài báo đó trong tập san nào. “[L]úc bấy giờ tôi ở trong thảm trạng bỏ nước ra đi để lại đứa con trai duy nhứt còn lại, tôi buồn phiền không nghĩ đến việc viết lách gì hết, nên rất tiếc đã không giữ tập san ấy làm tài liệu. Song tôi quả quyết là tôi đã đọc rõ ràng, không thể có nghi ngờ gì hết.”

Nếu James Scott nào đó quả thật có đăng lời tự thú nói trên trong một tập san Mỹ năm 1975 thì chuyện động trời này phải được nhiều người biết, nhất là những người chuyên nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thời cận đại nói chung và lịch sử thời Đệ Nhất Cộng hòa nói riêng. Nhưng thậm chí những học giả Mỹ và Việt có cảm tình đặc biệt với cố Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng không bao giờ nhắc đến bài báo do James Scott ký tên mà Nguyễn Trân quả quyết ông đã đọc. Năm 1987, cố học giả Ellen Hammer nói bà lấy tin về Scott từ báo Hoà Bình. Đến năm 2001 thì Arthur Dommen ghi chú trong quyển The Indochinese Experience of the French and the Americans rằng ông tham khảo cuốn Làm thế nào để giết một Tổng thống? để viết về Scott. Trong cuốn Những ngày cuối cùng của Tổng thống Ngô Đình Diệm, được in lại lần thứ 5 năm 2003, hai tác giả Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Đức hoàn toàn không đả động gì đến bài báo nói trên khi họ nhắc đến Scott chỉ có vỏn vẹn một lần một trong cuốn sách dày hơn 600 trang của họ. Điều này có thể có nghĩa là sau trên 25 năm kể từ ngày ông Trân đọc bài báo do James Scott ký tên, các nhà nghiên cứu nói trên vẫn chưa tìm ra được dấu vết nào của bài báo đó! Bên cạnh một đại uý ma, bây giờ chúng ta lại có thêm một bài báo ma nữa.

■ Đại uý James Scott

Chúng ta bây giờ có thể kết luận đại uý Scott đích thực là một nhân vật thuộc cõi Việt Nho của huyền sử gia Lương Kim Định. Đó chính là lý do tại sao cụ Đinh Từ Thức, một người nơi trần thế, “không bao giờ có cơ hội gặp Scott,” tuy Cao Thế Dung có “hứa hôm nào sẽ đưa Scott lại tòa báo giới thiệu.” Kết luận này lại cho phép chúng ta (tái) khẳng định rằng, trái với lời quả quyết có tính cách khôi hài của cụ Tôn Thất Tuệ, Giáo sư Nguyễn Văn Trung hoàn toàn nói sai sự thật khi ông tuyên bố trên thongluan.org: “Vụ nổ plastic ở Đài Phát thanh Huế, do đại uý cố vấn đơn vị Biệt động Quân tên là Scott, xác nhận thừa lệnh trên trao cho trung uý Thiều, thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh ở Huế ném vào đám đông.” Viết đến đây tôi chợt thấy ra một điều vô cùng ngộ nghĩnh: Trần Dân Tiên, Trần Huy Liệu và các môn sinh của họ nhất định không phải là những người độc nhất biết hành động trên nguyên tắc Geschichtsschreibung ist die Fortsetzung der Politik unter Einbeziehung anderer Mittel (viết sử là tiếp nối chính trị bằng những phương tiện khác).

© 2009 Trần Lâm

© 2009 talawas blog